Phần
1
Lời
nói đầu
Kinh
Di Giáo là một tác phẩm đúc kết những gì cần thiết nhất
cho người xuất gia, văn chương đẹp đẽ, ý tứ rõ ràng.
Ðây là những lời dạy sau cùng của Ðức Phật, đầy tình
thương và sự khích lệ.
Thời
còn hành điệu tôi được học kinh này bằng Hán văn, giờ
học vào ban đêm. Chùa tôi ở giữa núi rừng bao la tịch mịch,
những lời kinh đơn giản nhưng đầy xúc cảm đã tác động
rất mạnh vào tâm hồn thơ ngây của tôi, nhất là những
đoạn như "Ư Sa la song thọ gian, tương nhập Niết bàn, thị
thời trung dạ tịch nhiên vô thanh, vị chư đệ tử lược
thuyết pháp yếu"; "Nhữ đẳng thả chỉ, vật đắc phục
ngữ. Thời tương dục quá, ngã dục diệt độ ... Thị ngã
tối hậu chi sở giáo hối". Niềm xúc động lan tỏa trong
tâm hồn non trẻ, đã tạo dấu ấn và niềm tin thanh tịnh
đối với Tam bảo, điều đó đã dẫn tôi vượt qua bao chướng
ngại trên con đường tu học sau này.
Khi
được nghe Ban giáo dục tăng ni Trung ương mời các giảng
sư đóng góp giáo án cho chương trình giáo dục Phật giáo
các cấp, dù khả năng giới hạn, tôi cũng muốn góp phần
mình trong sự nghiệp chung. Ðược Thượng tọa Chơn Thiện
gợi ý về kinh Di giáo, tôi nhận soạn giáo trình kinh Di giáo
một cách nhanh chóng vì ấn tượng của tuổi thơ hiện về
trong tôi.
Giờ
đây tầm nhìn về kinh Di giáo có khác xưa, hệ thống hơn,
sâu sắc hơn và rộng rãi hơn, nhưng không hơn được hình
ảnh đẹp đẽ của Ðức Phật trong tâm thức tôi thời kỳ
hành điệu.
Khi
soạn giáo trình này tôi dựa vào bản dịch và lời chú giải
của Hòa thượng Trí Quang về kinh Di giáo, kinh tạng Nikàya
và A hàm. Giáo trình có hai phần chính: một là phần nhận
thức tổng quát, hai là phần lược giải nội dung kinh. Có
thêm phụ lục nguyên văn bản dịch kinh Di giáo của Hòa thượng
Trí Quang cho người dạy và tăng, ni sinh tham khảo.
Với
khả năng có giới hạn, kinh nghiệm tu tập còn non yếu, chắc
chắn không tránh khỏi sai lầm và thiếu sót. Kính mong chư
tôn đức, thiện hữu tri thức hoan hỷ bổ khuyết để giáo
án được hoàn bị hơn.
Nam
mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Tp
Hồ Chí Minh ngày 15 tháng 10 năm 1997
Tỳ
kheo Thích Viên Giác
Kinh
Di Giáo Lược Giải
Chương
1
Nhận
Thức Tổng Quát
I.
Xuất
Xứ
Kinh
di giáo là một bộ kinh ghi chép những lời dạy cuối cùng
của đức Phật, những gì tiêu biểu nhất, tinh tuý nhất
của giáo pháp. Vì vậy kinh này được coi là căn bản và
cần thiết cho người xuất gia.
Kinh
di giáo xuất hiện ở Trung Hoa vào đời Diêu Tần (384-417),
bản kinh do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Căn cứ vào bản dịch
đó, nhiều nhà nghiên cứu và chú giải về kinh này làm cho
kinh Di Giáo càng phong phú và sâu sắc hơn, các luận bản như
là: Di Giáo Kinh Luận, Di Giáo Kinh Luận Pháp Trú Ký, Di Giáo
Kinh Luận Ký, Phật Di Giáo Kinh Luận Sớ Thiết Yếu, Phật
Di Giáo Kinh Giải...(Dịch giải kinh giáo huấn để lại của
Phật, Trí Quang).
Bối
cảnh thuyết kinh là trong rừng Sa la Song Thọ, trước giờ
đức Phật nhập Niết bàn. Các nhà nghiên cứu Phật học
Trung Hoa xếp kinh Di Giáo này vào hệ thống kinh Niết Bàn,
gồm những kinh tạng của Nguyên thủy và Ðại thừa, là những
kinh nói về trạng thái Ðức Phật lúc nhập Niết bàn và
những lời giảng dạy của ngài (LSPGTH, Thanh Kiểm)
Truyền
thống Nikàya và Ahàm có 2 kinh: Trường bộ kinh có kinh Ðại
Bát Niết Bàn, Trường Ahàm có kinh Du Hành. Cả hai kinh này
nội dung giống nhau (khi trích dẫn chỉ trích kinh Ðại Bát
Niết Bàn là đủ). Kinh ghi chép lại chuyến du hành cuối đời
của Ðức Phật vào khoảng thời gian (6 đến 10) tháng trước
khi ngài nhập Niết bàn. Lộ trình đi bắt đầu từ thành
Vương Xá cho đến xứ Kusinara.
Truyền
thống Ðại thừa cũng có nhiều kinh, nhưng tiêu biểu nhất
là kinh Ðại Bát Niết Bàn, 40 quyển do ngài Ðàm Vô Sấm dịch
(kinh này trùng tên với kinh Trường bộ). Nội dung nói về
"pháp thân thường trú" mang tính triết học bản thể.
Ðể
cho sự nghiên cứu được dễ dàng, chúng ta không bàn đến
quan điểm "pháp thân thường trú" của kinh Ðại Bát Niết
Bàn hệ Ðại thừa.
II.
Liên
hệ Kinh Di Giáo với Kinh Ðại Bát Niết Bàn.
Sau
khi đọc hai kinh Ðại Bát Niết Bàn và kinh Du Hành trong Trường
Bộ kinh và Trường Ahàm, đối chiếu với bản kinh Di Giáo
này, một số nhận định có thể rút ra như sau:
1.
Về mặt hình thức:
Kinh
Ðại Bát Niết Bàn và kinh Du Hành thuộc loại văn tường
thuật, ký sự. Kể lại chuyến du hành cuối đời Ðức Phật
đi từ Vương Xá đến Kusinara, đi qua từ 14 đến 17 địa
danh khác nhau. Qua mỗi địa phương Ðức Phật và đại chúng
dừng lại nghỉ ngơi một thời gian, mỗi nơi Ðức Phật đều
thuyết pháp độ sinh, những thời pháp ấy đều được ghi
lại.
Kinh
Di Giáo bản Hán dịch có hình thức một tác phẩm văn học,
được sắp xếp hệ thống hóa những lời dạy của Ðức
Phật thành một thời thuyết pháp từ đầu cho tới cuối
và đặt ngay vào thời điểm Ðức Phật sắp nhập Niết bàn.
2.
Về
mặt bố cục nội dung:
Kinh
Du Hành và kinh Ðại Bát Niết Bàn trình bày nội dung trải
dài theo con đường mà Ðức Phật và đại chúng đi qua, những
gì xảy ra, những gì được thuyết giảng đều ghi chép, cho
đến thời điểm Ðức Phật nhập Niết bàn tại rừng Sa
La Song Thọ.
Giáo
lý được Ðức Phật nhấn mạnh và lặp đi lặp lại là
phương pháp hành trì Giới-Ðịnh-Tuệ. Giáo lý được Ðức
Phật xác định rằng đó là nội dung chứng ngộ, giảng dạy
và truyền bá là 37 phẩm trợ đạo. Một số lời dạy mang
tính di huấn 3 lần qua 3 thời điểm khác nhau trong chuyến
du hành cuối cùng ấy.
Kinh
Di Giáo bản Hán trình bày bố cục nội dung rất mạch lạc
và có hệ thống, nghĩa là đúc kết những gì Ðức Phật
dạy trong kinh Du Hành và Ðại Bát Niết Bàn thành một bản
văn, ý tứ rõ rệt, có thêm hoặc bớt so với hai kinh trên
một số vấn đề. Nội dung được trình bày tuần tự Giới
– Ðịnh – Tuệ và những lời khích lệ tu tập sau cùng.
3.
Những
điểm giống nhau:
a)
Pháp môn tu tập Giới Ðịnh Tuệ
Ở
kinh Du Hành và Ðại Bát Niết Bàn, pháp môn Giới Ðịnh Tuệ
được Ðức Phật lặp đi lặp lại từ đầu kinh cho đến
cuối kinh 8 lần, điều đó cho thấy Giới Ðịnh Tuệ là những
gì cần thuyết, là cốt lõi của sự tu tập: "Ðây là Giới,
đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ
đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ
sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức
là dục lậu , hữu lậu và vô minh lậu" (ÐBNB).
Kinh
Di Giáo cũng trình bày pháp môn Giới Ðịnh Tuệ nhưng đề
cập chi tiết và dài dòng hơn.
b)
Những
lời di huấn:
-Xác
định giới pháp là thầy, trong kinh ÐBNB, Phật dạy: "Này
Anan, pháp và luật ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi ta
diệt độ thì pháp và luật ấy sẽ là đạo sư của các
ngươi"(Trường bộ kinh II, T. 663).
Kinh
Di Giáo Phật dạy: "các thầy tỳ kheo, sau khi Như Lai diệt
độ phải trân trọng tôn kính tịnh giới...phải biết tịnh
giới là đức thầy cao cả của các ngươi. Nếu Như Lai có
ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy" (Trí Quang
dịch).
-Lời
dạy cuối cùng:Trong kinh Ðại Bát Niết Bàn, Phật dạy:"Này
các tỳ kheo, nay ta dạy các ngươi: các pháp hữu vi là vô
thường, hãy tinh tấn lên chớ phóng dật" (sđd).
Kinh
Di Giáo Phật dạy: "Này các tỳ kheo hãy thường nhất tâm
nỗ lực cần cầu tuệ giác giải thoát, toàn thể vũ trụ
là pháp biến động hay không biến động đều là trạng thái
bất an và tan rã (vô thường)" (Trí Quang dịch).
c)
Những
lời khích lệ
Kinh
Ðại Bát Niết Bàn đức Phật dạy: "Này các tỳ kheo, nếu
có tỳ kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về Phật, Pháp, Tăng,
con đường hay phương pháp thì các thầy hãy hỏi đi. Sau khỏi
hối tiếc rằng: Bậc đạo sư có mặt trước chúng ta mà
chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn" (sđd). Sau đó đại
chúng phát biểu không có gì thắc mắc.
Kinh
Di Giáo đức Phật dạy: "Các thầy tỳ kheo, đối với bốn
chân lý các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất
vấn tức khắc không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải
đáp" (sđd). Sau đó đại chúng cũng không thắc mắc.
Qua
những liên hệ trên, chúng ta có thể kết kuận rằng mối
quan hệ giữa hai kinh Ðại Bát Niết Bàn (ÐBNB) và Du Hành
với kinh Di Giáo có mối quan hệ chặt chẽ. Có thể nói rằng
kinh Di Giáo đã đúc kết lại hệ thống hóa nội dung của
hai kinh trên. Tất nhiên kinh Di Giáo được trước tác về
sau.
III.
Nội
Dung Tổng Quát Kinh Di Giáo.
Nội
dung kinh Di Giáo được xây dựng trình tự Giới, Ðịnh, Tuệ.
Phần Giới được nói đến nhiều nhất, hơn một nửa dành
cho Giới. Ðây chính là phần nền tảng của kinh cũng là căn
bản của Ðịnh, Tuệ và giải thoát.
1)
Giới học:
Sự
quan trọng của giới được xác định ngay từ đầu kinh rằng:
"Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy,
nếu Như Lai có ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới
ấy". Xác quyết như vậy để đề cao vai trò của giới luật,
nhưng dễ gây ngộ nhận về giá trị tuyệt đối của giới,
vì vậy có những hành giả chỉ tu tập giới, chấp thủ giới
điều như là những nguyên tắc bất di bất dịch.
Kinh
ÐBNB nói rõ hơn một chút: "Này Anan pháp và luật ta đã giảng
dạy và trình bày..." bao hàm cả giáo pháp và giới luật,
là chỗ nương tựa cho chúng tỳ kheo sau khi Ðức Phật nhập
diệt.
Có
người coi giới là phụ thuộc của thiền định và trí tuệ
họ coi những hình thức giữ giới có vẻ tiểu tiết, thuộc
căn cơ trình độ thấp, họ coi thiền và tuệ phóng khoáng
và siêu thoát hơn. Thực ra giới hạnh là nền tảng cho thiền
và tuệ. Mối quan hệ của 3 phần này không thể phân ly. Giới
hạnh không chỉ thực hành những qui định trong giới bổn
mà còn là công phu gạn lọc, kiểm soát, ngăn ngừa và đoạn
trừ các ô nhiễm của tâm lý. Từ đó tạo điều kiện cho
thiền định được vững chãi, phát triển trí tuệ được
dễ dàng.
Giới
hạnh là một phần của định và tuệ. Do vậy nên hiểu giới
trong kinh Di Giáo qua 3 chi phần của bát chánh đạo: chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng. Vậy giới hạnh không chỉ tác dụng
trong phạm vi cá nhân mà còn tạo ảnh hưởng về mặt xã
hội.
Trên
cơ sở đó phần giới của kinh di giáo ngoài những điều
mang tính qui định của giơí bổn, còn thêm các phần: chế
ngự các giác quan, chế ngự tâm ý, tiết chế ăn uống, thực
hành đức tàm quí, nhẫn nhục, khiêm tốn, không dua nịnh,
thiểu dục, tri túc và hạnh độc cư. Những đức tính này
cũng có trong kinh Du hành và kinh Ðại Bát Niết Bàn.
2)
Ðịnh
học:
Như
trên đã nói giới là nền tảng, không có giơí hạnh thì
hành vi bất thiện, tâm lý bất an, tâm không sẵn sàng để
thực hành thiền định. Chúng ta không nên hiểu thiền định
như là pháp môn của một tông phái, danh từ thiền tông dễ
gây ngộ nhận như vậy. Thiền định là con đường tu tập
của đạo Phật, không có thiền tất cả các pháp môn đều
bế tắc, thiền là xương sống của Phật giáo.
Tâm
lý chúng ta luôn luôn bị tác động bởi các đối tượng
giác quan và đối tượng tâm ý. Những tham lam, sân hận, si
mê, sợ hãi, phiền muộn ... làm tâm ta náo động, bất an.
Ðịnh là làm cho tâm không bị náo động, tán loạn. Tâm bình
lặng thì mới sáng suốt, do vậy thấy rõ hơn về bản chất
của đời sống, như mặt nước có lặng mới phản chiếu
sự vật, kinh Di Giáo Phật dạy: "Tập trung tâm lại thì tâm
sẽ ở trong thiền định. Tâm ở trong thiền định thì có
thể thấu triệt trạng thái chuyển biến của vũ trụ " (HT
Trí Quang dịch). Nhờ thiền định những hoạt động của
tình cảm (thất tình, lục dục) lắng dịu, tâm lý thoát ly
được sự ức chế của cảm giác và tư duy , thói quen chấp
ngã được chuyển hóa, trí tuệ càng sắc bén, tâm càng thanh
tịnh . Không có thiền định thì không có tuệ, đồng thời
giữ giới cũng khó.
Phần
định trong kinh Di Giáo có 3 tiết: tiết 1 thuyết minh về hạnh
tinh tấn, tiết 2 nói về công đức chánh niệm và tiết 3
nói về công đức thiền định . Như vậy phù hợp với 3
chi phần trong bát chánh đạo:chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh
định. Tinh tấn trong phần thiền định là sự nỗ lực duy
trì sự an trú tâm trong thiện pháp đưa đến an trú chánh
niệm làm cơ sở cho tâm định. Ðức Phật dạy: "Ta tinh cần,
tinh tấn không lười biếng. Ta an trú chánh niệm, không có
loạn, thân được khinh an, không có giao động, tâm được
định tĩnh chuyên nhất" (Trung bộ kinh I, T. 53). Tinh tấn là
sự duy trì tâm, chuẩn bị tâm trong trạng thái sẵn sàng để
tâm vào định.
3)
Tuệ
học:
Trí
tuệ cũng là chánh kiến, chánh tư duy, vừa là nhân vừa là
quả của giới hạnh và thiền định. Có giới phải là do
tuệ, nhưng mức độ tuệ chưa đạt đến viên mãn có thể
đoạn tận các lậu hoặc, có định cũng do tuệ ở mức độ
cao hơn.
Khi
tâm định mọi cấu uế của tâm đều lắng dịu, tâm trở
nên thuần nhất, nhu nhuyến dễ sử dụng, do đó tâm hướng
về bất cứ đối tượng nào đều trực nhận bản chất
của đối tượng đó. Ðức Phật dạy: "Với tâm định tĩnh,
thuần tịnh, không cấu nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững
chắc, bình thản như vậy, ta dẫn tâm hướng tâm đến túc
mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh" (Trung bộ kinh I. T
56).
Trí
tuệ theo quan điểm của đạo Phật khác với quan niệm thông
thường, trí tuệ là sự thấy biết đoạn trừ phiền não,
ô nhiễm, tác dụng của trí tuệ là đoạn được, ví như
lưỡi gươm cắt đứt mối dây ràng buộc. Có ngươì học
cao, địa vị lớn , trí thức lớn nhưng chưa chắc có trí
tuệ như người ta thường nói học vị cao chưa hẳn đã có
văn hóa. Trong kinh Di Giáo đức Phật dạy: "Các thầy tỳ kheo,
có trí tuệ thì hết đam mê" sự thấy biết mà hết được
đam mê ấy Phật giáo gọi là trí tuệ hay liễu tri – cái
biết rốt ráo.
Kinh
Di Giáo phần tuệ học có 2 tiết. Tiết đầu nói về công
đức thành tựu trí tuệ, tiết 2 nói về công đức không
hý luận. Không hý luận tức không đam mê hý luận, coi trọng
lý thuyết, học thuyết, ưa chuộng huyền đàm, bề ngoài có
vẻ thông minh trí tuệ, nhưng bên trong thì rỗng; hý luận
làm rối loạn tâm thức. Vì vậy không hý luận được đưa
vào nhóm tuệ là hợp lý . Trí tuệ ở trong bát chánh đạo
là chánh kiến, chánh tư duy. Chánh kiến tương đương tiết
1, chánh tư duy tương đương với không hý luận ở tiết 2.
4)
Những
lời khích lệ và dặn dò cuối cùng:
Gồm
6 tiết cuối cùng, ghi những lời dạy khích lệ tinh thần
tu tập của đại chúng. Con đường chân lý đã có, bậc đạo
sư hướng dẫn cũng đã có, còn lại là phần thực hành của
người đệ tử có nỗ lực tu tập hay không mà thôi.
Ðức
Phật cho phép đại chúng được trình bày chỗ hoài nghi của
mình đối với giáo pháp, để sau này khỏi hối tiếc nhưng
đại chúng không nghi ngờ gì về giáo pháp, bày tỏ niềm
tin vững chắc của mình.
Ðức
Phật khuyên đệ tử không nên buồn rầu, những gì cần làm
Ngài đã làm, những người đáng độ Ngài đã độ, các đệ
tử cần tiếp tục chí hướng mà bậc đạo sư đã vạch
sẵn thì pháp thân của Như Lai sẽ thường trú bất diệt.
IV.
Kết Luận
Toàn
bộ hệ thống giáo lý Phật giáo đều nhắm đến mục đích
giải thoát. Ðức Phật dạy: "Nước trong bốn biển chỉ có
một vị là vị mặn, giáo pháp của ta chỉ có một vị đó
là vị giải thoát". Suốt cuộc đời của đức Phật, hoạt
động không ngừng nghỉ chỉ để thực hiện mục tiêu giải
thoát khổ đau cho con người.
Phương
pháp thực hiện mục tiêu thoát khổ này, được đức Phật
giảng dạy rõ ràng và nhất quán: Giới, Ðịnh, Tuệ. Ðiều
này không có gì bàn cãi, nó đã được thực hiện cụ thể
hay bàng bạc trong tất cả kinh điển Nguyên thủy lẫn Ðại
thừa. Vấn đề ở chỗ giới thiệu trình bày như thế nào,
nhấn mạnh khía cạnh nào mà thôi.
Ðối
với kinh Di Giáo, Giới Ðịnh Tuệ được giảng dạy trong
bối cảnh Ðức Phật sắp nhập Niết bàn, tạo ấn tượng
sâu sắc đối với người đọc. Lời dạy cuối cùng của
một bậc đạo sư bao giờ cũng là điều thiết yếu, mặc
dù lời lẽ đơn giản ngắn ngủi nhưng đấy là những lời
tâm huyết của một đời người. Cho nên có tác dụng rất
lớn về mặt tâm lý.
Kinh
Di Giáo rất coi trọng phần giới, nên trình bày chi tiết.
Vì vậy có người cho kinh này là pháp của người sơ cơ mới
học. Ðó là một cái nhìn vội vã. Luận sư Thế Thân trong
Di Giáo kinh luận đã nhận định rằng kinh Di Giáo là đạo
phương tiện của Bồ Tát:
"Luận
này còn xây dựng, giải thích nghĩa kinh Phật là để các
Bồ Tát biết được đạo phương tiện. Biết được đạo
phương tiện ấy thì Phật pháp trường tồn diệt trừ lỗi
phàm thánh, thành tựu tự lợi tự tha" (Trí Quang dịch}.
Và
kinh Pháp Hoa, một bộ kinh lớn của Ðại thừa, coi phẩm An
lạc hạnh là hạnh của Bồ Tát, nội dung phẩm An lạc hạnh
không khác phần giới của kinh Di Giáo . Vì vậy phải biết
tác dụng của kinh Di Giáo là lớn lao vô cùng.