c
-
Kinh Hiền
Ngu
-
Thích
Trung Quán dịch
-
Phẩm
thứ mười bảy
-
ƯU
BA TƯ NA
MUỐN thành Phật phải tôn trọng Phật,
phải khao khát giáo lý của Ngài, phải đọc tụng thọ trì,
phải diễn thuyết kinh pháp. Chính những người cư gia tụng
kinh thuyết pháp, chư thiên quỷ thần còn ham nghe, phương chi
người xuất gia cho đến người đi đường tụng kinh đọc
kệ thường thường vẫn có chư thiên theo nghe.
Là Phật tử phải chăm niệm Phật,
tụng kinh, trì chú, thuyết pháp thì đời vị lai sẽ được
quả báo trang nghiêm rực rỡ.
Thuở đó đức Thế Tôn ở nước
Xá Vệ, tại Kỳ Hoàn tinh xá cùng với vô lượng vô biên.
Các người lương thiện nghe thấy danh đức của Phật, họ
đều hoan hỷ và tán dương. Trái lại những kẻ ác, nghe thấy
người lương thiện thì sinh lòng thù ghét.
Người hiền thiện không bao giờ
bới xấu người, mà chỉ đem những điều lành của người
ra nói thôi, vì muốn điều lành ấy lan ra cho nhiều người
được nghe, thấy kẻ làm ác biết sự hành động ấy của
nghiệp kết sử thì thương họ và tha thứ cho họ không chấp
nhặt sự ngu si của họ.
Như vậy những người cõi nhân,
cõi thiên đã đầy thiện duyên gặp Phật xuất thế thì họ
tán dương, và đem giáo pháp của Ngài tuyên truyền cho các
nước.
Thuở đó có một nước nhỏ thuộc
quyền cai trị của vua Ba Tư Nặc, phần nhiều những người
tà kiến vì không có giáo lý của Phật truyền bá, song thôn
xóm kia có một người con gái tên là Ưu Ba Tư Na, hôm ấy
đi sang nước Xá Vệ, nơi vua Ba Tư Nặc ở, công việc đã
xong, ra về cùng người thân tín đạo Phật, trọ tại bên
nhà người Ưu Bà Tắc. Sau được nghe họ nói công đức của
Phật cô liền theo họ, đến rừng Kỳ Hoàn để yết kiến
Phật, tới nơi thấy Phật tướng hảo đoan nghiêm, uy nghi
lẫm liệt quang minh sáng lạn, tâm sinh vui vẻ khát ngưỡng,
cúi đầu lễ sát đất rồi lui ngồi về một bên.
Lú đó đức Thế Tôn thuyết công
đức của năm giới cho đại chúng nghe như sau:
-
- Không sát sinh, được quả báo sống
lâu, không bệnh tật.
-
- Không trộm cướp, được quả báo
giàu sang, không bị ngũ gia cướp đoạt.
-
- Không tà dâm, được quả báo nhân
thiên kính trọng, thân người tốt đẹp.
-
- Không nói dối, được quả báo người
đời kính trọng yêu mến, nói ai cũng tin theo.
-
- Không uống rượu, được quả báo
thông minh.
Cô Ưu Ba Tư Na nghe xong tâm rất hoan
hỷ! Cảm mến đức Phật, tới trước quỳ bạch rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Con không
biết có phúc duyên gì hạnh ngộ, hôm nay tới đây, được
chiêm ngưỡng Ngài và được nghe công đức của năm giới,
con thành tâm cúi xin năm giới của Thế Tôn, xin Thế Tôn trao
cho con, con nguyện suốt đời vâng giữ, dẫu cho chết mất
thân mạng con quyết không hủy phạm. Năm giới đối với
con, cũng như người đói giữ cơm, người khát giữ nước,
như người bệnh giữ mạng, con giữ năm giới cũng thế.
Phật dạy: - Con biết tuân hành
thọ trì năm giới là người có phước lành đã trồng nhiều
kiếp, con hãy lắng lòng nghe cho kỹ và ghi vào tâm thức chớ
quên, ta nói đến đâu con lãnh thọ đến đó.
Ưu Ba Tư Na bạch: - Dạ kính lạy
đức Thế Tôn, con xin chú ý lãnh thọ!
Khi cô lãnh giới xong, lại bạch
Phật rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Con ở
nước xa xôi, giờ đây con phải trở về, cúi xin trao cho con
một bài kinh để hằng ngày tụng đọc và thờ kính. Các
đức Phật quá khứ, các đức Phật đời vị lai cũng một
kinh pháp ấy.
Theo lời cầu nguyện của cô, Ngài
trao cho cô một quyển kinh "Pháp Cú" và đặn rằng:
- Con mang kinh này về, chiều sớm
ban hôm chăm chỉ thụ trì đọc tụng, sẽ được công đức
vô lượng.
Cô cúi đầu lễ ba lễ, nhiễu ba
vòng rồi trở ra về.
Từ khi được thấm nhuần giáo
lý đạo Phật, cô coi đời như giấc chiêm bao, tất cả gia
đình sự nghiệp chỉ là trò huyễn ảo gây ra trong thời gian
vô định, nên cô chỉ chăm chú vào quyển kinh sớm hôm đọc
tụng, suy nghĩ giáo pháp cao siêu của tam thế chư Phật. Một
buổi nọ lúc giữa canh khuya cô ngồi tụng kinh trên lầu cao,
văng vẳng nghe trên không gian có tiếng nói rằng:
- Hay lắm! Hay lắm! Chị tụng kinh
hay lắm! Chúng em muốn tặng chị một chút bảo vật song không
thích hợp với tư tưởng của chị, vậy xin giới thiệu một
lời để dâng chị. Hiện nay Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn
giả Mục Kiền Liên tới đây đương nghĩ trong rừng, sáng
ngày mai chị mời hai Tôn giả cúng dàng thì được phúc vô
lượng, khi Tôn giả chú nguyện thì hô đến tên của chúng
tôi.
Ưu Ba Tư Na nghe xong ngửa mặt lên
hỏi:
- Ông là ai? Xin cho tôi được biết
quý danh.
Đáp: - Tôi là Quỷ Vương tức là
Tỳ Sa Môn Thiên Vương nhân sang nam phương qua đây vì muốn
nghe tụng kinh nên đứng lại!
Cô trả lời: - Người cõi Thiên
không bao giờ nói lầm như vậy, ông là người trời, tôi
là người thế, tuyệt không có nhân do, tại sao gọi tôi là
chị.
Tỳ Sa Môn đáp: - Đức Phật là
ngôi Pháp Vương cũng là cha lành cõi nhân cõi thiên, tôi là
Ưu Bà Tắc, chị là Ưu Bà Di cùng chung một cha lành tu học
một pháp vị, cho nên cũng có thể kêu là chị em được.
Cô vui vẻ hỏi tiếp: - Khi cúng
dàng xưng tên của ông thì được lợi ích gì.
Thiên Vương đáp: - Tôi là Thiên
Vương, tai nghe được rất xa, xưng tên tôi nghe thấy thì thêm
thế lực của tôi và uy đức của tôi, khi đó tôi dùng thần
lực sai khiến các quỷ thần ủng hộ người đó được phước
lộc nhiều, và khiến cho họ thoát khỏi khổ nạn.
Thiên Vương nói xong rồi từ biệt.
Ưu Ba Tư Na trong lòng vui vẻ! Và thầm nghĩ như vầy:
- Đức Phật trăm kiếp ngàn đời,
chăm tu khổ hạnh cũng là vì ta, và tất cả chúng sinh. Hôm
nay cũng do uy đức của Phật nên ông Thiên Vương đối với
ta một cách thận trọng, lại còn xưng tên ta là chị, đức
Phật là một đấng cha lành cho muôn loài.
Cô ngồi tư duy nhận xét đạo lý
mãi đến gần sáng mới thiu thỉu ngủ; trời vừa tang tảng,
các cô gái vào rừng kiếm củi trèo lên cây cao chặt những
cành cây khô, xa xa nhìn thấy hai vị Thánh Tăng, một vị là
Xá Lợi Phất, một vị là Mục Kiền Liên, với năm trăm thầy
Tỷ Khưu đương ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây, cô gái ở
nhớ rằng "độ nọ được đi hầu bà sang nước Xá Vệ,
gặp hai vị Thánh Tăng này một lần bà chủ ta tôn kính lắm".
Ngừng lấy củi cô lại tận nơi
lễ bái thưa rằng:
- Kính thưa Tôn giả, chúng con là
gia nhân của Ưu Ba Tư Na tới đây để bái mừng và đến
thăm Tôn giả.
Tôn giả đáp: - Ưu Ba Tư Na có được
vui vẻ không, có được an lạc giải thoát không?
- Thưa Tôn giả: - Ưu Ba Tư Na vẫn
được an vui kể từ ngày được thọ giáo đức Thế Tôn,
Ưu Ba Tư Na xin thỉnh hai Tôn giả tới nhà dùng bữa cơm hôm
nay.
Tôn giả đáp: - Ngươi hãy về nói
với Ưu Ba Tư Na. Hay lắm! Hay lắm! Ưu Ba Tư Na, là Ưu Bà Di
khéo biết thời và khéo biết việc thích ứng, Phật vẫn
thường khen năm pháp thí được phúc vô lượng.
Một là, bố⠴hí cho người ở
nơi xa tới,
Hai bố, thí cho người đi xa.
Ba là, bố thí cho bệnh nhân.
Bốn là, bố thí thức ăn cho người
đang bị đói.
Năm là, bố thí pháp cho người
biết pháp.
Năm pháp bố thí này nếu ai thực
hành làm ngay, thì được phúc báo hiện tại.
Các cô nghe xong, vâng lời lễ tạ
lui ra, về nhà gặp cô gái ở nhỏ bèn hỏi:
- Bà chủ ở đâu mày?
- Bà đang ở trên gác, đem qua bà
ngủ không được, vừa mới ngủ đấy.
- Mày đi lên gọi bà dậy.
Đáp: - Em không dám!
- Không dám gọi thì để chị gọi.
- Tùy ý.
- Bà ơi! Mời bà dậy!
- Ngươi hỏi gì?
- Thưa bà, Tôn giả Xá Lợi Phất
và Tôn giả Mục Kiền Liên đến rừng này con đã mời Ngài
đến nhà dùng bữa cơm ngọ hôm nay.
Cô Ưu Ba Tư Na vui vẻ! Lấy bộ
khoen vàng thưởng cho cô gái ở.
- Thưa bà, Tôn giả có những lời
rất hay giáo hóa cho con.
- Con nhớ không? Nói cho ta nghe!
- Thưa bà, Tôn giả nói rằng: -
Ưu Ba Tư Na là người Ưu Bà Di, khéo biết thời và khéo biết
việc thích ứng. Phật vẫn thường khen năm pháp thí được
phục vô lượng.
Thứ nhất là thí cho người ở
xa tới.
Thứ hai là cho người đi đường
xa.
Thứ ba là thí cho người có bệnh
hoạn.
Thứ tư là bố thí thức ăn cho
người đương bị đói.
Thứ năm là bố thí pháp cho người
biết pháp.
Năm pháp thí này nếu ai thực hành
làm ngay, thì được phúc báo hiện tại.
Ưu Ba Tư Na nghe xong sung sướng quá,
cũng như hoa sen khi gặp ánh nắng của mặt trời mà tung nở,
trong lòng sáng tỏ tự nhiện phấn khởi tinh thần cũng như
hoa sen kia đua nở vậy.
Ưu Ba Tư Na tháo chuỗi hột vàng
trên cổ tặng thêm cho cô gái ở.
Cô gái ở vui mừng, đỡ lấy rồi
nói:
- Mời bà dậy đi! Rửa tay, rửa
mặt sửa soạn các món ăn mà cúng dàng, con sẽ đi mời các
Ngài hầu bà.
- Ta vui lòng lắm! Nếu con đã vì
ta làm việc này, hãy cứ làm đi, không phải nói nữa, ta cho
tùy ý, và cũng không riêng gì cho ta, nếu cho làm việc tốt
lành ấy, bất luận tại gia, hay xuất gia, nơi tụ lạc, thành
ấp đều được sáng thịnh yên vui.
Nói xong đứng lên đi rửa tay bảo
gia nhân và các người lân cận, người nấu cơm kẻ đốt
lửa, gánh nước hái rau, kê bàn, trải chiếu, hái hoa phân
phó các việc xong, còn mình lấy thuốc giã rây hòa luyện
cẩn thận. Khi các thứ đã đầy đủ rồi sai người đi mời
hai Tôn giả và các thầy Tỳ Khưu.
Được tin mời, hai Tôn giả và
các thầy Tỳ Khưu mặc áo tề chỉnh đi phó trai. Các vị
tới nhà thăng tòa ngồi yên tĩnh.
Ưu Ba Tư Na ra lễ bái mừng! Cầm
thau món ăn sẻ vào các bát, sắc hương thơm ngát một lòng
thành kính dâng lên.
Sự cúng dàng được phúc báo tùy
theo lòng thành kính:
Làm thức ăn ngon, lại đẹp thì
được nhan sắc đẹp, mùi ngon thơm tốt thì được phúc danh
thơm đồn xa, món ăn đầy đủ, được phúc báo tuỳ ý muốn
gì được nấy, thân người vạm vỡ khỏe mạnh.
Chúng Tăng độ xong, Ngài Tôn giả
Xá Lợi Phất làm phép chú nguyện.
Ưu Ba Tư Na thưa: - Kính xin Tôn giả
hô đến tên ông Tỳ Sa Môn Thiên Vương.
Ngài chú nguyện, xong, hỏi:
- Con đối với Tỳ Sa Môn Thiên
Vương có nhân duyên gì mà hô tên ông ấy?
- Kính bạch Tôn giả! Thực là một
việc ly kỳ quá! Tối hôm qua con đương tụng kinh, ông Thiên
Vương ấy đứng ở trên hư không, khen con và gọi con là chị.
Lúc ấy con hỏi ông là ai nghe tiếng, mà không thấy người,
ông ấy nói: - Tôi là Quỷ Vương Tỳ Sa Môn Thiên Vương thấy
người tụng kinh tôi đứng đây nghe, tôi muốn lấy trân bảo
cõi Trời tặng nhưng không phải một thứ mà chị ưa muốn,
nên xin tặng một lời đó thôi! – Con lại hỏi, ông muốn
bảo gì?
Ông ta nói:
- Sáng mai Tôn giả Xá Lợi Phất
và Tôn giả Mục Kiền Liên, đến rừng này, chị nên sửa
trai cúng dàng, khi cúng thì hô đến tên tôi.
Con lại hỏi: - Xưng tên ông thì
được lợi ích gì?
Ông ta nói:
- Tai tôi nghe được rất xa, nếu
xưng tên tôi thì thêm thế lực của tôi, và uy đức của
họ hàng tôi, tôi sẽ dùng thần lực sai quỷ thần ủng hộ
cho người đó, thoát khỏi những khổ nạn, bởi nhân duyên
ấy nên xưng tên.
Tôn giả nói: - Đấy, cũng là một
việc lạ, con ở đạo người, kẻ kia ở đạo trời, họ
đối với con có lòng kính trọng lại còn nhận là chị em.
- Kính thưa Tôn giả! Còn một việc
lạ nữa: Trong nhà con thường có thần nhân đi lại viếng
thăm một cách thân mật và cũng như một bạn gái vậy, khi
con bố thí, thì vị thần bảo con rằng: Vị này là A La Hán,
vị này là Tu Đà Hoàn, vị này là Tư Đà Hàm, kẻ này là
phàm phu, người này là trì giới, kẻ này phá giới, người
này trí tuệ, kẻ này ngu si. Con tuy nghe thấy nhưng ý của
con không phân biệt phá giới hay trì giới, trí tuệ hay ngu
si, bất luận vị nào con đều coi như một vị La Hán.
Tôn giả nói: - Cũng hay lắm, ngay
đấy con có tâm bình đẳng không phân biệt.
- Bạch Tôn giả! Con lại có một
việc lạ nhất: Con là phận nữ nhi tại gia mà tiêu diệt
được hai người thân kiến, đắc quả Tu Đà Hoàn!
Tôn giả nói: - Đấy con có phước
lớn làm thân gái mà chứng được quả Tu Đà Hoàn!
- Bạch Tôn giả: - Con lại có một
việc kỳ nữa, con sinh hạ được bốn đứa con đều ác kiến,
chồng con cũng là tà ác quá đỗi, đối với Phật Pháp Tăng
chẳng biết tin kính, con cúng dàng Tam Bảo, hoặc cho kẻ bần
cùng, lại sinh lòng giận tức tiếc của, và nói rằng: - Ta
làm khổ sở mới có tiền, lại đem làm việc vô ích, tuy
thế, nhưng đạo tâm bố thí cúng dàng tu thiện của con, không
hề thay đổi và cũng không buồn hận gì!
Tôn giả nói: - Làm thân đàn bà
suốt đời không bao giờ được tự tại, khi còn bé nhỏ
ở với cha mẹ, thì cha mẹ cấm đoán, khi có chồng thì chồng
đàn áp dưới ách di nô, khi già thì con cái ngăn đón, riêng
đối với phúc lực của con thì không bị chồng cấm đoán,
tùy ý tu thiện, này Ưu Ba Tư Na, tối hôm nay đức Thế Tôn
sang rừng Tỳ Nữu Can Đặc, con lại viếng thăm Ngài.
Nói xong hai Tôn giả và các thầy
Tỳ Khưu ra về. Ưu Ba Tư Na thầm nghĩ:
- Tôn giả mách bảo thật là một
việc rất hay, ta sắm sửa vật thực để cúng dàng.
Ngày mai Ưu Ba Tư Na gọi các người
thân tín đi viếng thăm Phật, tới nơi rừng Tỳ Nữu Can Đặc,
thấy đức Thế Tôn dung nhan tươi sáng như vừng nhật nguyệt,
uy phong lẫm liệt. Cô và mọi người thụp lạy trước Ngài,
dâng hoa lên cúng rồi lui ngồi về một bên.
Hôm đó đức Thế Tôn thuyết pháp
nói về công đức bố thí trì giới, sinh thiên, đoạn dục
và Niết Bàn, nghe thuyết pháp xong nàng bạch Phật rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Thôn
xóm con thuần những người tà kiến, không biết Phật Pháp
Tăng, và không ưa việc bố thí. Cho nên những vị Sa Môn,
Bà La Môn, có vào làng không ai biết cúng dàng, nên các vị
chỉ vào nhà con. Kính xin Ngài có thời gian nào đến ấp làng
con giáo hóa cho mọi người biết tín ngôi Tam Bảo, hơn nữa
chúng con lại được cúng dàng.
Bạch xong lễ tạ lui ra, lần lượt
đi thăm các vị Tỳ Khưu, cuối cùng thấy một vị mang bệnh
nằm trong hang cỏ, liền hỏi:
- Đại Đức bệnh hoạn thế nào?
Đau lâu mau thế nào? Phải dùng những thức gì điều trị,
xin cho con được rõ.
Đáp: - Tới đây thủy thổ bất
hòa, tôi không hợp nên phải thụ bệnh, giờ đây nếu được
thứ thịt tươi ăn thì khỏi.
- Bạch Đại Đức, ngày mai con xin
dâng Đại Đức dùng, việc ấy không khó!
- Hay lắm! Quý hóa lắm!
Ưu Ba Tư Na lễ sát dưới chân xin
phép ra về, đi đường thầm nghĩ rằng:
- Ta có phước đức lớn, hôm nay
được yết kiến Phật và các Tôn giả.
Ngày mai sai người ở đi chợ mua
thịt, không mua được trở về thưa rằng:
- Thưa bà, hôm nay ngày rằm chợ
không bán thịt, và hôm nay ngày quốc cấm, nếu ai sát sinh
bán thịt sẽ bị trọng phạt!
- Thế à! Mày cầm một ngàn đi
mua, chỉ lấy số thịt giá một trăm đồng thôi, hoặc có
kẻ nào ham lợi thì họ bán!
Kẻ đó mang tiền đi chợ lần nữa,
nhưng vì luật nhà vua quá nặng nên không ai giết lợn bán,
vế thưa rằng:
- Thưa bà, hôm nay ngày quốc cấm
không ai dám giết thịt bán.
- Mày cầm tiền vàng đi các nhà
đồ tể mua một giá rất đắt!
Vâng lời bà chủ đi mua, nhưng các
nhà sát sinh cũng không ai dám mổ heo bán, về thưa cùng bà
chủ rằng:
- Thưa bà con đã hết lời năn nỉ
họ, nhưng luật nước quá nặng, không ai dám giết heo bán,
xin bà liệu cách khác.
- Thôi để ta liệu!
Ưu Ba Tư Na thầm nghĩ rằng:
- Ta đã hứa dâng Ngài dùng mà không
có thì Ngài mong ta, hoặc vì thế mà Ngài chết thì lỗi tại
ta. Song lại nhớ tới vị Bồ Tát ngày xưa vì một con chim
bồ câu, còn cắt thịt để cứu mạng sống của nó, phương
chi đây là một vị Tỳ Khưu ta không nên quá yêu thân ta,
ta nên cắt thịt của ta để cứu lấy bịnh của Ngài. Nghĩ
xong đi tắm rửa sạch sẽ gọi một người thân tín nhất
vào phòng nói rằng:
Ngươi làm ơn lấy dao này cắt thịt
bên vế đừi cho ta một cân.
Người đó cầm dao cắt, trong lúc
xẻo thịt, mặc lòng đau đớn khổ não; nhưng cứ bấm gan
chịu, đứa ở gái lấy băng buộc chặt lấy chỗ đau. Sau
mang ra nhào các thứ dược thảo nấu chín, bỏ vào cà mèn,
đưa đến rừng dâng lên vị Tỳ Khưu có bệnh.
Tỳ Khưu ăn thịt xong, thân thể
an lạc các bệnh đều khỏi, lành mạnh như xưa.
Đoạn này chồng của Ưu Ba Tư Na
về, không thấy vợ liền hỏi gia nhân rằng:
- Chúng bây đâu!
- Dạ! Ông chủ hỏi gì ạ.
- Chúng bây có biết Ưu Ba Tư Na
đi đâu không?
- Dạ! Thưa ông, bà đương nghỉ
trong phòng!
Vào phòng thấy vợ nhan sắc biến
đổi, có vẻ đau đớn, hỏi:
- Em đau à? Coi vẻ ủ rũ đấy!
Bước ra sai người gọi thầy lang
về chẩn mạch.
Thầy lang đế⮮
- Thưa bác nhà tôi bị đau, nhờ
bác chẩn mạch cho thuốc.
- Vâng! Chị ấy nằm đâu?
- Trong nhà, mời bác vào!
- Thế nào, bác đau sao?
- Bệnh tôi lúc nào cũng đau, hiện
đang đau lắm không ngớt đau chút nào.
Thầy lang chẩn mạch không biết
bịnh gì, yên lặng lui ra.
Thầy lang nói: - Bác ạ, tôi không
rõ bác gái bệnh gì!
Anh chàng hỏi:
- Bệnh em làm sao nói cho tôi biết?
Thầy lang có giỏi cũng không biết
được bệnh tôi! Thôi anh không phải lo, ít ngày em sẽ khỏi
bệnh.
Anh chàng lui ra, gọi gia nhân hỏi:
- Lũ bây có biết Ưu Ba Tư Na bệnh
gì không?
- Thưa ông bọn tôi không biết,
ông hỏi người hầu cận bà thì biết.
Anh chàng gọi đứa ở gái ra chỗ
vắng hỏi:
- Mi có biết Ưu Ba Tư Na bệnh gì
không, nói thực cho ta biết.
- Thưa ông! Bà cắt thịt đừi ra,
nấu cúng dàng cho một vị Tỳ Khưu ăn, nên bà bị đau đó!
Anh chàng nghe nói, hầm hầm nổi
giận ra ngoài đường lớn tiếng nói:
- Làm Sa Môn Thích Tử mà ăn thịt
người, có khác gì Đồ Bác Túc Vương ngày xưa không?
Chàng lê la nói mãi, khiến cho những
người tín đồ của Phật vừa tủi thẹn vừa tức bực!
Anh chàng dám mạ Phật, Pháp, Tăng, rồi một số đông đến
chỗ Phật lễ xong lui ngồi một bên.
Phật hỏi: - Các ngươi tại sao
buồn thế.
- Kính lạy đức Thế Tôn! Có một
chành dòng Phạm Chí ra chỗ đông người lớn tiếng phỉ báng
Phật, Pháp, Tăng rằng: - Trước đây Đồ Bác Túc Vương ăn
thịt người, ngày nay thầy Sa Môn đệ tử của Phật cũng
ăn thịt người, cúi xin đức Thế Tôn ra lịnh cho các vị,
từ nay không được ăn thịt nữa.
Đức Phật đánh chuông họp chúng
rồi gọi vị Tỷ Khưu có bệnh lên hỏi.
Vị Tỷ Khưu lên lễ Phật xong lui
ngồi về một bên.
Phật hỏi:
- Quý tử bệnh gì?
- Kính lạy đức Thế Tôn, vài hôm
trước con mắc chứng bệnh sốt, nhưng hôm nay đã bớt nhiều.
Phật hỏi:
- Hôm nay ngươi ăn món gì?
- Bạch lạy Thế Tôn! Con ăn thịt
và uống nước thịt.
- Ăn thịt tươi hay thịt khô?
- Dạ con ăn thịt tươi!
- Thịt tươi tức là thịt không
để cách đêm.
Phật nói: - Nghe đây! Bất luận
tươi hay kho trước khi ăn ngươi có hỏi tịnh hay bất tịnh
không?
- Dạ! Lạy đức Thế Tôn, bệnh
con đau quá, được thịt thì ăn ngay chứ không kịp hỏi.
Phật nói: - Tỷ Khưu tại sao lại
dùng món ăn bất tịnh? Phép của Tỷ Khưu những món ăn của
thí chủ, trước khi ta ăn phải hỏi, đây là thịt gì? Nếu
thí chủ nói: Đây là tịnh nhục, thì phải xem xét có thể
tin được mới ăn, nếu không tin được thì không ăn.
Từ đấy Phật cấm các vị Tỷ
Khưu không được ăn thịt bất tịnh như sau:
-
Nếu Tỷ Khưu nhìn thấy họ giết
con vật ấy, thì không được ăn.
-
Nghe thấy tiếng nó kêu khi bị người
giết, cũng không được ăn.
-
Nghi ngờ không được ăn.
Như thế là phân biệt nên ăn hay không,
khi đó Ưu Ba Tư Na được tin Phật cấm các vị Tỷ Khưu không
được ăn thịt, chính bởi tại mình, trong lòng phát sinh đau
khổ, buồn phiền, bởi vì mình mà các vị sư không được
ăn thịt liền kêu chồng đến nói rằng:
- Anh mạ Phật, Pháp, Tăng có tội
lớn, ngày mai anh mời Phật và chư Sư về nhà cúng dàng và
sám hối, nếu anh nghe lời tôi thì đi ngay, bằng không thì
tôi sẽ tự sát thân tôi trước mặt anh cho biết.
Anh chàng vốn không có lòng kính
tin Phật, sau cũng vì sợ vợ tự tử, đáp rằng:
- Vâng! Tôi xin tuân lời của cô,
xin cô đừng nói nữa, tôi sẽ đi mời Phật ngay bây giờ!
Nói xong anh chàng đi ngay, tới thưa
rằng:
- Thưa Ngài Cồ Đàm Sa Môn, ngày
mai chúng tôi xin mời Ngài, và mấy vị đệ tử đến nhà
dùng cơm.
Đức Phật thấy anh lỗ mãng vô
lễ, Ngài từ bi lẳng lặng tỏ ý nhận lời.
Anh chàng cũng biết Ngài nhận lời
của mình, vái tạ ra về, khi tới nhà nói với vợ rằng:
- Ông Cô Đàm đã nhận lời mời
của tôi rồi đấy!
Ưu BaTư Na sai gia nhân sửa soạn
các món ăn, hương hoa, ghế ngồi trang trí trong nhà rất tôn
nghiêm, sớm mai sai người vào rừng mời Phật.
Khi Phật và các vị Tỷ Khưu đến
nhà ngồi an tĩnh, không thấy Ưu Ba Tư Na Ngài hỏi:
- Ưu Ba Tư Na đâu? Không thấy ra
chào?
Anh chàng đáp:
- Dạ! Đương bị đau bệnh nằm
trong giường.
Nói xong chạy vào phòng gọi:
- Thầy cô gọi cô đó!
- Anh ra bạch rằng: - Ưu Ba Tư Na
lễ dưới chân Phật và các vị Thánh Tăng, vì có bệnh đau
quá không thể ra được, cúi xin xá tội. Nhưng anh ăn nói
cho có lễ độ mới được!
Anh chàng ra thưa rằng:
- Dạ! Thưa Ngài, Ưu Ba Tư Na lễ
dưới chân Phật, Pháp, Tăng, vì mang bệnh đau quá không thể
ra chào được.
Phật kêu: - A Nan
- Dạ!
Ông vào phòng gọi Ưu Ba Tư Na ra
ta hỏi.
- Dạ!
Tôi vào tới phòng, Ưu Ba Tư Na cố
gượng ngồi dậy chắp tay nói:
- Kính bạch Đại Đức, con xin lễ
dước chân Phật, Pháp, Tăng, rất muốn ra yết kiến đức
Thế Tôn, như kẻ đói được cơm, kẻ rét được áo mặc,
như khi nóng nực được mát mẻ, như kẻ lạc đường muốn
về lối cũ. Con muốn ra lễ kính Phật cũng như thế, tâm
con khao khát, nhưng thân con hiện giờ đau lắm không ra được!
Kính xin Đại Đức ra bạch Phật hộ con.
Tôi đi ra trình Phật những lời
của Ưu Ba Tư Na vừa nói, thì Phật bảo tôi rằng:
- Ông cho người khiêng Ưu Ba Tư
Na ra đây!
- Dạ! Con xin tuân lệnh.
Tôi bảo gia nhân khiêng đến trước
Phật.
Khi đó đức Như Lai phóng quang minh,
ánh sáng chiếu vào chúng sinh nào thì chúng sinh ấy được
phần lợi ích, kẻ điên rồ được an chính, kẻ loạn tâm
được bình tĩnh, kẻ bệnh hoạn được hết bệnh hoạn.
Ưu Ba Tư Na nhờ oai thần của Phật ánh hào quang soi tỏ cõi
lòng, ngay giờ phút đó được lành mạnh hết đau.
Ưu Ba Tư Na kính sợ vui mừng giao
cảm, đứng lên thụp lễ dưới chân đức Thế Tôn, lui ra
cầm một cái bình bằng vàng lấy nước rửa chân Phật, đặt
các món ăn, sắc đẹp mầu thơm ngào ngạt dâng cúng đức
Thế Tôn và các hàng Thánh Tăng. Dùng cơm xong Phật thuyết
về luận "Bố thí", luật "Trì Giới", tu "Thập
Thiện", quả báo sinh thiên, sinh tử là tội lỗi của tham
dục, muốn xuất ly sinh tử phải tu "Tịch Diệt", diệt
khổ được an vui, nói về Mười Hai Nhân Duyên luân
duyển không dứt.
Ưu Ba Tư Na nghe Phật thuyết pháp
xong thì đoạn tuyệt được lòng tham dục, giận tức, si mê,
chứng quả "A Na Hàm". Người chồng cô tự bỏ được tà
kiến, biết tôn kính ngôi Tam Bảo, và xin thụ giới Ưu Bà
Tắc, tất cả họ hàng quyến thuộc đều xin thụ Tam Quy Ngũ
Giới.
Bốn chúng đệ tử Phật, khi đó
có người đắc quả Tu Đà Hoàn, có người đắc quả Tư
Đà Hàm, có người đắc quả A La Hán, mọi người ai nấy
đều vui vẻ khát ngưỡng Pháp Bảo Vô Lượng.
Ngoài ra còn có nhiều người nghĩ
như vầy:
- Kẻ nữ nhân dám cả gan cắt thịt
cúng dàng Sa Môn, thực là một chuyện chưa từng thấy bao
giờ! Chúng ta nếu bỏ quê hương nhà cửa, cũng là một việc
khó.
Sau đó những người dân bản xứ,
có nhiều người bỏ nhà cửa họ hàng đi xuất gia, chăm chỉ
tư hành đoạn trừ kết lậu, thành ngôi a La Hán từ đó nơi
thôn dã ấy nhiều người biết tin theo đạo Phật, giáo pháp
được lan rộng khắp nơi.
Cũng bởi thế, những người có
trí tuệ sáng suốg cho đến kẻ nữ nhân cũng chăm tụng đọc
kinh Phật, tinh siêng không biết mỏi mệt, nên cũng nhiều
người đắc quả. Kẻ trượng phu lòng chăm tu đạo, há lại
không thành công sao?
Coi đây, các thiện nam tử, thiện
nữ nhân cần phải tu đạo nghiệp, sợ sinh tử khiến cho
kết sử nhẹ bớt, có ngày sẽ lìa được sinh tử, tuy đời
mạt pháp chưa được độ song công đức ấy cũng được
sinh nhân thiên, hưởng phúc vô cùng tận.
Ngài Di Lặc Thế Tôn cách năm mươi
sáu ức bảy ngàn muôn năm sẽ thành Phật thuyết pháp độ
sinh, bấy giờ tùy lòng cầu nguyện của mình muốn chứng
đạo quả nào sẽ được đạo quả ấy.