LỜI
ĐẦU SÁCH
Bao
nhiêu năm rồi còn mãi lang thang
Đi
đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên
hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi
suốt trăm năm một cõi đi về.
…Trăm
năm vô biên chưa từng hội ngộ
Chẳng
biết nơi đâu là chốn quay về.
(Một
Cõi Đi Về - Trịnh Công Sơn)
Đúng
thế! Chẳng phải trăm năm mà trăm ngàn muôn năm, muôn kiếp,
chúng ta lang thang, loanh quanh trong sáu cõi luân hồi[1]
thật là mỏi mệt mà không có nhân duyên nào để tỉnh ra
và chẳng biết nơi đâu là chốn quay về.
Đức
Phật đã từ bi dặn dò ngài Mục Kiền Liên rằng để cảnh
tỉnh hậu thế về sự vô thường biến đổi sanh diệt, mỗi
nhà khách trong tự viện nên vẽ bức tranh của con quỷ vô
thường hay còn gọi là vòng luân hồi (The Wheel of Life) do kinh
Avadàna minh họa. Và phải cử những tỳ kheo, tỳ kheo ni có
khả năng để giải thích cho khách thập phương vãng lai về
ý nghĩa của bức tranh này.
Mạng
sống chúng ta ngắn ngủi. Nội phiền não tham sân si, tứ đại
sanh tử luân hồi báo chướng từ trong đánh ra. Thầy tà bạn
ác, sáu trần cám dỗ, buộc ràng, hoàn cảnh từ ngoài đánh
vào. Giữa thì bị nghiệp lực sát đạo dâm vọng, các tập
khí si loạn lôi cuốn. Dòng nghiệp lực còn được cung cấp
bằng những khối nước bùn lầy của những trạng thái tâm
tham sân si thì còn tiếp tục chảy. Tái sanh là kết quả tất
nhiên của nghiệp lực.
Luân
hồi chỉ ngừng khi chúng ta không còn tạo nghiệp. Chúng ta
tin Hành là chủ động nghiệp tái sanh. Tin 12 vòng nhân duyên
xoay vần như bánh xe từ vô thủy và đến vô chung, bởi lẽ
trong khi già bịnh vẫn ngậm vô minh, để rồi lại chuyển
vần đủ 12 vòng. Cứ xoay quanh mãi mãi thành vòng tròn không
có đầu đuôi, làm nhân làm quả lẫn nhau không cùng không
tận.
Quả
khổ chuyển theo nghiệp. Nghiệp chuyển theo tâm. Chỉ cần
soi sáng tâm là hết khổ. Vì thế, bức tranh của Vòng luân
hồi hay Con quỷ vô thường này rất quan trọng sẽ giúp chúng
ta hiểu được “Hoặc - Nghiệp - Khổ”, tin chắc lý nhân
quả, luân lý đạo đức nhà Phật căn bản ở giới luật
phòng phi chỉ ác, chuyển hoá thân tâm giúp chúng ta biết được
chốn quay về chân thật.
Tin,
hiểu và chứng thấu những ý nghĩa sâu sắc và thực tiễn
này, mới có thể hoàn thành chí nguyện giải thoát và mang
lại hạnh phúc an vui cho mình và người.
Đó
là ước mơ và lý do cho quyển sách nhỏ này được ra đời.
Con
xin kính cẩn đảnh lễ Thầy - Tôn sư Hải Triều Âm - Người
đã từ bi hết lòng chỉ dạy và truyền trao cho chúng con ý
nghĩa thâm sâu của cuộc đời qua bức tranh này khi chúng con
vừa mới đến cửa chùa đồng chơn học đạo.
Sức
kém, tài mọn, chưa kinh nghiệm nhiều, nên chắc chắn quyển
sách này sẽ có nhiều lỗi lầm, kính xin các bậc thiện tri
thức hoan hỉ chỉ lỗi để lần tái bản sau được hoàn
hảo hơn.
Xin
thành thật tri ân rất nhiều.
Milwaukee,
ngày 20 tháng 4 năm 2008
Thích
Nữ Giới Hương
(thichnugioihuong@yahoo.com)
MỤC LỤC
CHƯƠNG
I
DUYÊN KHỞI
Trong
kinh Nhân Duyên (Avadana sutta) kể rằng lúc bấy giờ Đức Thế
Tôn đang ngự tại vườn Trúc Lâm, trong thành Vương Xá.
Tôn giả Mục Kiền Liên có đại thần thông thấy được
những cảnh khổ ở địa ngục, ngạ quỷ và bàng sanh. Bao
nhiêu vị trời hết tuổi thọ đọa xuống ba đường ác.
Ngài hay kể cho tứ chúng nghe để sách tấn. Ai có bất mãn,
thối đạo tâm hay buông lung không giữ tròn phạm hạnh thường
đem đến để ngài khuyên nhủ. Ngài Mục Kiền Liên đã cảm
hoá nhiều vị trở lại đời sống tinh tấn tu tập và đạt
đạo quả.
Đức
Thế Tôn dạy: Cao tăng Mục Kiền Liên không thể ở khắp
mọi nơi cùng một lúc để nhắc nhở các phật tử. Vậy
từ nay mỗi chùa nên vẽ một bánh xe luân hồi (the wheel of
life) treo ở phòng với lời khuyến cáo rằng:
Hãy
gom tâm chăm chú vào giáo pháp Như Lai.
Hãy
chiến thắng thần chết!
Sống
đúng giới luật, luôn luôn giác tỉnh,
kiên
trì cố gắng, có thể chấm dứt khổ đau.
Bức
tranh này vẽ hình con quỷ vô thường với khuôn mặt dữ tợn,
phun lửa xung quanh. Hai tay và hai chân đầy móng vuốt đang
ôm lấy một vòng bánh xe có bốn lớp hoặc bốn vòng (vòng
trung tâm là hoặc; vòng hai là nghiệp; ba là khổ và bốn là
12 nhân duyên). Toàn bộ bánh xe này đang bị lửa đốt cháy
phừng phực và cái đuôi của con quỷ dài vô tận, không có
đầu và đuôi (vô thủy và vô chung).
Vì
vòng thứ bốn là 12 nhân duyên nên bức tranh này cũng gọi
là kinh Nhân Duyên (Avadana sutta). Vì bánh xe xoay chuyển liên
tục không dừng nên gọi là Vòng luân hồi. Vì có hình quỷ
và lửa cháy đỏ nên tranh này cũng gọi là Con quỷ vô thường.
Vì do tâm vận hành tạo nghiệp mà có sáu cõi sống chết
khổ não nên bức tranh này cũng gọi là Dòng vận hành của
tâm.
Ở
Tây Tạng và Bắc Ấn, mỗi khi nhiệt độ xuống thấp, băng
tuyết trắng xoá bao phủ lạnh như cắt da, buốt xương. Người
dân Tây Tạng hiểu rằng cuộc sống của họ thật mỏng manh
và liên tục bị hăm dọa dưới cái giận dữ của thiên nhiên.
Thế nên từ nhiều thế kỷ, họ đã thường tu tập thiền
định và quán tưởng về sự vô thường, luân hồi và cái
chết. Tính tất nhiên của vô thường, của sự chết, thường
là đề tài trung tâm cho những buổi thiền quán đều đặn
ở mỗi buổi sáng và chiều trong đời sống hàng ngày của
họ. Tây Tạng có câu:
“If
you do not meditate on death,
on
permanence in the morning,
you
will waste the day.
If
you do not meditate on death,
on
permanence in the evening,
you
will waste the night”.
Tạm
dịch: “Nếu bạn không quán về sự vô thường, về cái
chết trong buổi sáng thì bạn phí ngày đó. Nếu bạn không
quán về sự vô thường, về cái chết trong buổi tối thì
bạn phí đêm đó. ”
Đó
là lý do vì sao Đức Phật khuyến cáo chúng ta:
“Hãy
gom tâm chăm chú vào giáo pháp Như Lai.
Hãy
chiến thắng thần chết!”.
Cũng
như trong kinh Pháp Cú[2] , ngài đã tha thiết cảnh tỉnh và
khuyên chúng ta tự hỏi lại mình:
“Làm
sao cười thích thú,
Khi
đời mãi bị thiêu.
Sống
trong cảnh tối tăm,
Sao
không tìm ánh sáng?”
CHƯƠNG
II
VÒNG HOẶC
(PHIỀN NÃO)
Đây
là vòng hay vị trí trung tâm điều đình chỉ huy toàn bộ
bức tranh. Trong tranh vẽ hình con gà (thỉnh thoảng vẽ hình
bồ câu), rắn và heo. Ba con vật này chỉ huy và điều khiển
cho bánh xe chuyển quay, nên nó là điểm trung tâm quan trọng.
Gà
là tượng trưng lòng tham, tham đủ thứ, lòng tham vô đáy.
Màu đỏ của lông gà trống dễ liên tưởng đến lửa tham
nung nấu những ai ôm và nuôi lấy lòng tham.
Hoặc
vẽ bồ câu là chỉ cho tham ái, dễ yêu, thấy là vuốt ve,
ngã ái nên những gì ngã thích thì tâm muốn vơ lấy để
nhiễm, tăng trưởng lòng nhiễm, lòng thuận, mền mại, dễ
chịu, hấp dẫn và ngọt lịm (giống mía lau), thế nên khó
thoát, khó chịu ngóc đầu lên.
Đức
Phật dạy: Tham dục là một hố than hầm, người bịnh tưởng
lầm là ấm áp sung sướng, nên đâm đầu vào.
Rắn
là biểu hiện cho tâm sân giận. Khi chúng ta bực bội, khó
chịu, tức giận, thù hằn thì mặt mày chúng ta xanh lét, không
có chút máu, giống như màu xanh xám của da rắn vậy. Và cứ
nuôi dưỡng lòng sân giận thì chúng ta sẽ đi đến trả thù,
hãm hại người, giết người, giống như rắn sẽ mổ và
cắn hại những ai xâm phạm chúng.
Tâm
chúng ta nếu không biết ‘thiểu dục tri túc’, thì chúng
ta ít khi nào hoan hỉ và vừa lòng với ai lắm. Việc gì cũng
càm ràm và khó chịu. Đây cũng là một dạng chủng tử của
sân giận, không hoan hỉ như Ca dao Việt Nam có câu:
“Ở
sao cho vừa lòng người
Ở
rộng người cười, ở hẹp người chê
Cao
chê giống ngỗng, thấp chê lùn.
Mập
chê béo trục béo tròn
Gầy
chê xương sống, xương sườn phơi ra.”
Sân
hận mất bình an, nặng quá thì đi đến căm thù là chất
liệu của địa ngục ở cả hiện tại và vị lai. Nguy hiểm
của sân là kích thích thân miệng ý đi về đường ác. Sân
làm bực bội là thọ ấm, dấy lên suy nghĩ là tưởng ấm,
chuyển biến tâm địa là hành ấm, bản chất chủng tử của
hành ấm là thức ấm, các tướng mạo hiện ra là sắc ấm.
Thế là từ sân giận mà chuyển hoá đầy đủ cả năm ấm
xí thịnh. Đây là một trong tám khổ. Và vì muốn thoát khỏi
tám khổ này mà thái tử Sĩ Đạt Đa đã từ bỏ cuộc sống
vinh hoa nơi cung điện để xuất gia học đạo.
Heo
là biểu tượng của sự ít quan tâm đến sự sạch sẽ của
tâm hồn. Thân thể nặng nề, màu da xám tối.
Nếu
thân mình nhơ bẩn liền đi tắm. Ngày mai lại mồ hôi cáu
bẩn, lại đi tắm, như thế người này được coi là sạch
sẽ. Đó là thân, còn tâm của chúng ta? Mỗi khi nói lỡ một
câu sai, lỡ một hành động quấy, lỡ sân thì ta lại sám
(rửa) hối (tiếc), sám hối là làm mới lại, là tắm rửa
tâm đó, còn ngược lại là si, ít quan tâm đến tâm tư trong
sáng; cứ để cho các phiền não, buồn phiền, ghen ghét, bực
bội… nặng nề bao phủ.
Đức
Phật dạy cái khổ ngu si là đáng sợ hơn cả. Vì ngu si là
mê muội, không biết tránh ác, làm lành để đến nỗi tự
đọa đầy.
Chúng
ta thấy ba con này cắn đuôi nhau. Gà ngậm đuôi rắn. Rắn
ngậm đuôi heo. Heo ngậm đuôi gà nghĩa là ba độc tham, sân
và si mật thiết dính liền nhau. Vì si mới tham, tham bị chướng
ngại liền sân. Ngày đêm ba con này không ngừng hoạt động
trong tâm, kích thích chúng ta tạo nghiệp để cảm luân chuyển
chịu báo.
Trong
kinh Pháp Cú [3] có dạy:
“Không
lửa nào bằng tham,
Không
chấp nào bằng sân,
Không
lưới nào bằng si,
Không
sông nào bằng ái.”
Đức
Phật với Phật tuệ biết được một trận mưa có bao nhiêu
giọt. Nhưng vòng luân hồi đắng cay, biển khổ trầm luân
của tham, sân, si và ái này, khổ nhiều quá gọi là biển
khổ, không đếm được.
Cũng
trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy chúng ta điều phục tham
dục và sân giận:
“Khó
nắm giữ giao động,
Tâm
phàm dục chi phối,
Lành
thay điều phục tâm,
Tâm
điều hưởng an lạc.” [4]
“Hận
thù diệt hận thù,
Đời
này không thể có,
Từ
bi diệt hận thù,
Là
định luật thiên thu.” [5]
Cố
Hoà Thượng Thiện Siêu đã viết trên tấm sáo hoành rằng:
“Một
chút giận, hai chút tham,
lận
đận cả đời ri cũng khổ.
Trăm
điều lành, ngàn điều nhịn,
thong
dong tấc dạ rứa mà vui.”
Người
ngu si thấy dưới lòng nước có trăng, lao đầu xuống mò
kiếm. Nhọc sức luống uổng mà còn phải chịu cái khổ chết
chìm. Chúng sanh từ lịch kiếp lầm nhận vọng tưởng phân
biệt duyên theo sáu trần làm tâm. Suốt đời vất vả mưu
cầu hạnh phúc hảo huyền, kết cuộc chẳng nắm bắt được
gì. Tâm phan duyên nuôi ba độc tham sân si, đưa đến sát đạo
dâm vọng để trầm nịch (chìm đắm) luân hồi, không biết
bao giờ mới ngóc đầu ra.
Gió
giác quan nếu không theo dõi sẽ gây bão tố tham sân si, nuôi
gà rắn heo. Tham sân khiến miệng nói, thân làm sai quấy. Si
mê thấy thiện ra ác, ác ra thiện. Ba thứ phiền não này vừa
như lửa nung nấu, vừa như nước nhận chìm.
Chúng
ta nghe lời Phật dùng hơi thở (thân niệm xứ, quán sổ tức)
để trở về với chánh niệm, không bận lòng đến đối
phương. Hành động xấu xa, lời nói độc ác, vừa nói đã
tan theo bản chất vô thường của nó, vì cứ vơ lấy nghĩ
ngợi nên mình tự đốt nhà mình. Chính sân hận của mình
hại mình, nên tập mát mẻ. Tổ Huệ Khả xưa kia bị chặt
tay mà không sân giận. Thân ta là đất nước gió lửa nên
chẳng có nhục nào để nhẫn. Nhớ tâm từ để diệt trừ
ác ý. Nhớ tâm bi để trừ tàn nhẫn. Nhớ tâm hỉ để trừ
phiền hận. Nhớ tâm xả để trừ thù oán là các chủng loại
họ hàng của con rắn.
Chúng
ta thấy ba con gà, rắn và heo chạy trên màu xanh da trời là
màu hư vọng. Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến… là căn bản
phiền não, là gốc của tái sanh, gốc của sanh tử luân hồi.
Chúng ta nuôi ba con này trong lòng nên bồi đắp mãi cảnh luân
hồi. Vị trí trung ương điều khiển bánh xe, là tạo hoá
bày ra vũ trụ, nhưng thể chất là hư vọng, tỉnh là tan ngay.
Ví
dụ như chàng Dasá vốn là một công tử giàu có tham mê tửu
sắc. Bên cạnh chàng biết bao là cung phi mỹ nữ. Một đêm
đó, sau buổi yến tiệc tan, các công nương, kỹ nữ mỹ miều
nằm lăn ra ngủ vì quá mệt. Các nàng tóc tai rối bù, xiêm
y xốc xếch, nước miếng từ miệng chảy ra, miệng mớ nói
lảm nhảm, phấn son loè loẹt… trông gớm ghiếc như những
bóng ma. Chàng hoảng sợ chạy khỏi cung đình và đến quỳ
sụp dưới chân Phật thưa rằng chàng muốn thoát khỏi địa
ngục sống đó. Đức Phật diễn thuyết một bài pháp, sau
đó Dasá liền tan lòng ái nhiễm, tâm không còn lợn cợn bợn
nhơ của dục nhiễm sắc đẹp nữa mà trong sáng thanh tịnh
như một tấm lụa trắng. Như vậy lòng ái nhiễm là
cái chợt đến và chợt đi, chớ không thật.
Hay
tên giết người Vô Não đã rượt đuổi để chặt ngón tay
Phật, cho đủ 100 ngón để dâng lên tà sư cầu khẩn được
thần thông. Đức Phật vẫn đi từ từ, nhưng Vô Não chạy
hoài đến mà bắt không kịp được Phật. Vô não la lên:
“Này Cồ Đàm hãy dừng lại!” Đức Phật trả lời: “Ta
đã dừng từ lâu rồi. Chỉ có ngươi là nên dừng lại thôi!”.
Vô Não tỉnh ngộ về sự ‘đứng lại’ tức ‘đình chỉ
ác tâm này’, và chàng quăng gươm xuống, xin quy y làm đệ
tử Phật. Thế là tan lòng sát, bỏ con dao trong tâm. Như thế
tâm ác cũng tan.
Chúng
ta hàng ngày đang thương hay ủng hộ một vị nào đó nhưng
khi biết người đó không đồng lòng, không trung thành, chung
thủy, không tốt với mình… thì tự nhiên tình thương biến
mất và bắt đầu lòng căm thù ghen ghét nổi lên. Nếu
gặp bạn lành khuyên nhắc hoặc nghe bài pháp, thì lòng căm
thù, bực bội liền tan.
Thế
nên, tham sân si là cái không có mà chúng ta nhận là mình,
chúng ta tạo nghiệp. Lồng mình vào nó khiến nó dựa vào
mình mà bốc lên. Tỉnh thì thành không. Vâng theo Phật thì
ra khỏi luân hồi, còn nuôi ba con này trong tâm thì chúng ta
xây dựng bồi đắp mãi cảnh trầm luân không biết bao giờ
mới cạn.
Ngài
Huệ Khả bạch tổ Đạt Ma: “Tâm con không an. Xin ngài an
tâm giùm con!” Tổ bảo: “Đem tâm ra đây ta an cho”. Ngài
Huệ Khả quay lại tìm tâm hoài mà không thấy, mới biết
bản lai không, nào có ai trói buộc mình. Tâm mình vốn không
có con gà, rắn và heo.
Ngài
A-nan trong kinh Lăng Nghiêm tìm tâm ở bảy chỗ [6] là tâm trong
thân, ngoài thân, tâm núp sau con mắt, nhắm mắt thấy tối
là tâm, hợp chỗ nào thì tâm có chỗ nấy, tâm ở giữa căn
và trần, không dính vào đâu hết là tâm.[7] Tìm ở bảy
chỗ mà vẫn không thấy cái tâm yêu thích (yêu thích 32 tướng
đẹp của Phật mà xuất gia) của A nan ở đâu? Vì vọng nên
tìm hoài không được. Con bồ câu trên nền xanh dương. Thế
cho nên tâm tham, sân và si vốn bản là hư vọng, là màu xanh
hư vọng là vậy.
Đức
Phật trong kinh Pháp Cú đã nói lên sự tịch lạc của việc
tan tham ái (tức không nuôi con bồ câu nữa), đã thấy tham
ái là vọng, là có thể làm chủ được mình như sau:
“Lang
thang bao kiếp sống,
Ta
tìm nhưng chẳng gặp,
Người
xây dựng nhà này,
Khổ
thay sống luân hồi.” [8]
“Ôi!
người làm nhà kia,
Nay
ta đã thấy ngươi,
Ngươi
không làm nhà nữa,
Rui
mè ngươi bị gẫy,
Kèo
cột ngươi bị tan,
Tâm
ta đạt tịch diệt.
Tham
ái thảy tiêu vong”. [9]
Đức
Phật xác chứng lại cho điều này khi ngài đang nhập hạ
an cư tại Kausambi (sau chín năm giác ngộ). Có một gia đình
bà-la-môn đang đi tìm phò mã cho cô con gái tiểu thư xinh đẹp.
Ngày nọ, Đức Phật khất thực đi ngang. Ông Bà-la-môn thấy
dung nghi 32 tướng [10]của Đức Phật sáng ngời và đỉnh
đạc khác thường, bèn mời vào cúng dường thanh trai. Sau
đó ngỏ lời muốn Đức Phật ở lại đây làm phò mã. Nhưng
Đức Phật từ chối bằng bài kệ như sau:
“Đã
nhận thấy ái dục, bất mãn và tham vọng,
Ta
không thích thú gì trong dục lạc của ái tình.
Thể
xác đầy ô trược này là chi?
Ta
chẳng bao giờ muốn sờ đến nó dù chỉ bằng chân.”
CHƯƠNG
III
VÒNG NGHIỆP
Vòng
nghiệp chia hai: Nửa bên nền đen có những người trần truồng
ngã nghiêng té nhào đầu hướng xuống. Đây là những người
đáng thương đi vào tăm tối. Sát sanh, trộm cắp, tà dâm…
là nghiệp đen, là hành động của thú tánh, cảnh dưới,
cảnh tam đồ nên đưa về cảnh thú. Nửa bên nền trắng
có bốn chúng đệ tử tay cầm đèn sáng đi lên. Tỳ kheo,
tỳ kheo ni đang cầm đuốc soi đường cho các ưu bà tắc và
ưu bà di. Đây là hình ảnh của những người đi vào ánh
sáng, thế nên trên nền trắng.
Chúng
ta có những địa ngục trong nhà với những cảnh: sáng chặt
đầu cá, moi ruột, róc vẩy; trưa bát canh cua, luộc ốc nấu
sống trên bếp, tối cắt cổ gà, lấy huyết. Tiệc tùng lớn
thì giết trâu, mổ lợn… Chúng ta tạo địa ngục từ ngày
này đến ngày khác, năm này đến năm khác, không ngày nào
tha chúng sanh. Trẻ làm quỷ sứ để hầu chồng, hầu con;
lớn lên hầu cháu hầu chít, lo làm vừa lòng những bữa cỗ
trong gia đình.
Con
gà, có cá, con trâu, con heo… chúng cũng thở bằng mũi, ăn
bằng miệng, cũng hai lá phổi, cũng nhìn bằng mắt, nghe bằng
tai, cũng da bọc thịt, thịt bọc xương, cũng một lá gan như
mình mà sao mình lại cứa cổ nó, cướp da, cướp thịt nó
để nuôi miệng mình. Thết đãi khách chúng ta cứ cho là có
gà vịt mới sang, mới quý. Vì thế, làm ác mà không biết
là ác, không hổ thẹn. Một đời sát hại như vậy. Rồi
đến lúc hấp hối, chúng ta mời chư tăng ni đến tụng kinh
gõ mõ cầu siêu một, hai giờ để đưa chúng ta về cực lạc
thì chúng ta nghĩ có dễ không?
Còn
trong lúc giao thiệp buôn bán, mình xoay sở dối trá cầu lợi
quá đáng, thành mình vẫn mặc áo đẹp, vẫn nhung, vẫn gấm
mà vẫn phạm giới ăn cắp. Khổ nỗi lại vương vương tự
đắc cho là khôn, là tài. Cho nên chúng ta vẫn cứ ở trong
vòng đen, vẫn sai quấy, vẫn trần truồng (không biết hổ
thẹn) mà không tự biết và nằm nghiêng ngửa (ác nghiệp
là ngã té).
Vì
thế, chỉ khi nào có chư tăng ni dẫn đường, quý vị mới
đi trên đường trắng, tạo những nghiệp lành. Đức Phật
không bắt chúng ta làm những điều khó. Chỉ cần đừng làm
ác là lành rồi. Không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối…
đó là lành rồi. Đi trên con đường trắng, chúng ta đi về
cõi trời, người. Nếu cứ sát sanh, trộm cắp, dối láo,
hai lưỡi, nói lời độc ác và những thói xấu là ở trong
vòng đen, trần truồng không biết. Sai quấy mà không tự biết.
Đức
Phật dạy từ cõi thú trở về cõi người khó hơn con rùa
mù tìm được bọng cây nổi.
Có
một con rùa mù ở đáy biển. Một trăm năm mới có cơ duyên
ngóc đầu lên mặt nước một lần. Rùa ao ước được chui
đầu vào một bọng cây đang bị sóng vỗ đẩy trôi khắp
nẻo đại dương bao la.
Rùa
mù: mù là vì còn ngã, pháp chấp. Trăm năm: thời gian dài
đọa lạc trong ác đạo. Đây nói tượng trưng trăm năm, chứ
thật ra mình trăm ngàn vạn kiếp rồi, từ vô thủy không
đếm nổi. Ngóc đầu: thoát thân ác thú. Bọng cây: tử cung
của người nữ (chứ không phải là con thú cái). Nơi bào
thai thành tựu thân người. Sóng vỗ đẩy trôi: Trùng trùng
nhân duyên biến đổi, kiếp này sang kiếp khác.
Trong
Quy sơn cảnh sách cảnh tỉnh chúng ta về sự vô thường,
hãy quay về đường lành giác tỉnh qua câu chuyện ‘người
bị voi dữ đuổi’.
Chuyện
rằng có người chạy thục mạng vì bị voi điên rượt. Gặp
giếng nước cạn liền nắm vội rễ cây đa tuột xuống.
Nào ngờ dưới đáy giếng có bốn con rồng đói khát, mắt
đỏ rực đang ngửa lên phun lửa. Bốn bên thành giếng lại
có bốn con rắn độc thè lưỡi nhe nang phà hơi độc. Sợ
quá! chỉ còn trông cậy ở hai sợi dây đa tòn teng để tạm
sống. Khốn nổi! sợi giây yếu quá! khô quá! sức nặng của
người đó trì xuống. Lại oái ăm thay! có hai con chuột, một
trắng và một đen bên thành giếng cứ thay nhau gặm và nghiền
rễ đa, khiến sợi dây mòn dần, cứa dần… Giữa lúc mạng
sống tòn teng mỏng manh sắp chết đó, trong lúc bối rối,
người ấy ngửa mặt lên trời, bỗng đâu có năm con ong bay
qua giếng và để rơi xuống năm giọt mật. Mãi liếm mật
ngọt, vị này ngây ngất và khoái chí hưởng thụ, quên hết
những sự nguy hiểm, nguy nan đang rình rập lấy mình.
Trong
chuyện, voi đuổi là tượng trưng cho sự vô thường bức
bách, con người đi đến cái chết. Rễ đa tòn teng trong giếng:
Mạng sống mong manh của kiếp người tức kiếp trược. Ba
con rồng: tham sân si nung đốt kích thích chúng ta tạo nghiệp.
Chỉ chờ mạng sống đứt là rơi vào ba cõi. Bốn rắn: ổ
bịnh hoạn. Chuột đen và trắng: Ngày và đêm trôi qua, sanh
mạng mòn dần, cái chết sập đến. Năm giọt mật: mãi say
mê liếm mật ngọt lịm của năm dục, năm trần, quên cả
nguy nan, lo âu nguy hiểm. Thế nên, vô thường vội vàng, mệnh
trong hơi thở, nỗ lực tiến tu, chớ nhàn nhã qua ngày, qua
tháng như cá cạn nước còn mong mỏi thú vui gì.
Có
một người tù biết ba ngày nữa sẽ đưa ra ải để tử
hình. Vị thầy vào thăm và hỏi con sẽ làm gì trong những
ngày còn lại? Đáp: Con chỉ có một việc là niệm Phật và
cầu nguyện cho được vãng sanh về cõi Cực Lạc.
Chúng
ta ai cũng phải chết. Đó là cái chắc chắn, nhưng vì không
biết được ngày chết nên chúng ta cứ nhởn nhơ như cá cạn
nước mà không biết. Người tử hình kia may mắn biết được
ngày giờ nên có sự chuẩn bị tư lương.
Niệm
niệm lìa trần, tâm tâm xuất thế. Chúng ta từ vô thủy kiếp
mê đắm sắc thân bốn đại, luân chuyển chịu báo. Mê càng
chứa mê từ khổ vào khổ. Gió cảnh thuận nghịch dậy sóng
yêu ghét, khiến chúng ta càng chìm sâu trong vô minh phiền não.
Các tổ cảnh sách để chúng ta tỉnh mộng thế gian. Nương
pháp thuyền từ qua bến sanh tử.
Kinh
Pháp Cú dạy làm ác (đen) và thiện (trắng):
“Nay
buồn, đời sau buồn,
Kẻ
ác hai đời buồn.
Buồn
nản tự diệt mình,
Thấy
việc ác mình làm”. [11]
“Nay
vui, đời sau vui,
Người
thiện hai đời vui,
An
vui quá an vui,
Thấy
việc thiện mình làm.” [12]
Kinh
Lăng Nghiêm [13] khai thị về phận trong và phận ngoài của
chúng sanh như sau:
Đức
Phật dạy: A-nan, tất cả chúng sanh thật vốn chân tánh thanh
tịnh, nhân những vọng kiến mà có tập khí hư vọng sinh
ra, vì thế chia ra có phận trong và phận ngoài.
1)
A-nan nhân lòng ái nhiễm phát khởi ra vọng tình, tình chứa
mãi không thôi, có thể sinh ra ái thủy. Vậy nên chúng sanh,
tâm nhớ thức ăn ngon thì trong miệng nước chảy ra, tâm nhớ
người hoặc giận, hoặc thương thì trong con mắt lệ tràn,
tâm tham cầu của báu thì trong tâm phát ra ái diên, cả mình
đều trơn láng, tâm nghĩ việc ái ân thì hai căn nam nữ tự
nhiên dịch khí chảy ra.
A-nan
các cái ái đó tuy khác nhau nhưng kết quả chảy nước là
đồng.
Thẩm
ướt không lên được, tự nhiên theo đó mà sa đọa, ấy
gọi là phận trong, tức những ham muốn dục vọng thấp kém
bên trong của chúng ta. Những lòng ái nhiễm, tham dục đều
là những vọng tình thấm vào trong tâm thức, làm cho càng
thêm nặng nề, do đó phải bị sa đọa, đó là phận trong.
2)
Nhân các lòng phát ngưỡng, phát minh ra những lý tưởng, tưởng
chứa mãi không thôi, có thể sinh ra những thắng khí, vậy
nên chúng sanh tâm giữ cấm giới cả mình nhẹ nhàng trong
sạch; chúng sanh tâm trì chú ấn, con mắt ngó hùng dũng nghiêm
nghị; tâm muốn sinh lên trời, chiêm bao thấy bay lên; để
tâm nơi cõi Phật, thánh cảnh thầm hiện ra; thờ vị thiện
tri thức, tự khinh rẽ thân mệnh mình.
A-nan,
các tưởng đó tuy khác nhưng nhẹ nhàng cất lên thì đồng
nhau, cất bay không chìm xuống, tự nhiên vượt lên, đó là
phận ngoài, tức nhàm chán kiếp khổ của chúng sanh và mơ
ước được giải thoát, chúng sanh phát ra những tư tưởng
thanh cao nhằm thoát ly các sự mê lầm, ô nhiễm. Những tư
tưởng ấy, thuận theo lý trí, chống lại vọng tình, làm
cho tâm thức nhẹ nhàng, vượt lên các cõi trên, đó là phận
ngoài.
Việc
ác thuộc về phận trong. Việc thiện thuộc về phận ngoài.
Hai thứ này đua nhau lôi kéo tâm thức đi lên hoặc đi xuống.
Như thế tất cả lục đạo đều do chúng sanh tự mình gây
ra nghiệp nhân, rồi tự mình chịu lấy quả báo.
Quả
báo giống nhau thì thọ cảnh giới giống nhau.
Quả
báo khác nhau thì thọ cảnh giới khác nhau.
Do
phận trong và ngoài tạo nghiệp mà đưa đến vòng kế tiếp
là vòng khổ của sáu đạo.
CHƯƠNG
IV
VÒNG KHỔ
Không
gian không ngằn mé gọi là vũ. Thời gian không cùng tận gọi
là trụ. Ở trong khoảng không gian vô cùng và thời gian vô
tận đó, theo quan điểm của Phật giáo có vô lượng vô biên
các loài chúng sanh đang tồn tại. Mỗi loại đúng theo tâm
thể nhiễm tịnh, nghiệp duyên thiện ác sai khác, khiến sự
thọ dụng cảnh giới của họ cũng có khổ đau hay hạnh phúc
bất đồng.
Theo
bánh xe luân hồi này thì tùy quả báo mà chia ra thành có sáu
cảnh giới, sáu loài, hay sáu cõi như cõi trời, a-tu-la,
người, bàng sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Theo kinh Lăng Nghiêm
thì chúng ta có thêm một cõi nữa là cõi tiên. Nên nơi đây
sẽ giảng thêm cảnh tiên thành ra có bảy cảnh giới.
1/
CÕI TRỜI
Do
phước báo bố thí và thiền định, nên cõi trời có chánh
báo và y báo như cảnh vật vui tốt, mọi người vui sướng,
căn thân đẹp đẽ, thọ mạng lâu dài, đặng phép thần thông,
dạo đi tự tại, những đồ y phục sẵn có, những cuộc
du hí đủ bày, trăm thức tự nhiên thọ dụng đủ điều
khoái lạc, không có những sự khổ như ở nhân gian. Các phước
báu trong cõi đó, tuy là mỹ mãn như thế nhưng còn thuộc
về hữu lậu, có hư có mất, không có chắc chắn, đó chính
là sự vô thường, tướng vô định… Thế nên dẫu có sống
đến mấy ngàn năm đi nữa, cũng không khỏi con ma sanh tử
lôi kéo.
Kinh
Tăng chi dạy: Nữ nhân mạng chung được sanh lên trời và
tự tại trong ba địa hạt (nhan sắc, âm thanh và lạc thọ)
là do vị ấy có tám điều như:
1.
Tận tâm thương quý gia đình
2.
Tôn trọng sư trưởng và thân quyến
3.
Hết lòng quán xuyến việc nhà
4.
Đối xử thích hợp với người giúp việc
5.
Kỹ càng bảo quản tài sản
6.
Quy y Tam bảo
7.
Giữ năm giới
8.
Hoan hỉ bố thí.
Thường
ta nghe nói hiện tiền giữ 10 giới thì khi mạng chung được
sanh lên cõi trời. Tròn năm giới thì được làm người. Nhưng
ở đây kinh Tăng Chi chỉ ra giữ năm giới cũng được sanh
lên trời và tự tại trong ba địa hạt (nhan sắc, âm thanh
và lạc thọ) là nhờ do công đức tròn bổn phận của mình
đối với gia đình và xung quanh.
Như
vậy, thật ra ở cương vị nào cũng được, chỉ cần thiện
chí, có trí tuệ tháo vác mong đem an vui cho người, không cầu
tư lợi. Cử chỉ săn sóc, ánh mắt ưu ái, lời nói ân cần,
hoà nhã lịch sự, siêng năng phụng sự xung quanh là nhân thiết
yếu để sanh thiên.
Những
chúng sanh hưởng thụ cảnh giới tốt hơn người gọi là
trời. Có ba cõi trời:
1.
Có những loài trời còn nghĩ ít nhiều đến sự ái ân thì
gọi là loài trời Dục giới.
2.
Có những loài trời thoát ly ngũ dục nhưng còn sắc thân thì
gọi là loài trời Sắc giới.
3.
Còn thoát ly ngũ dục và không sắc thân thì gọi là loài trời
Vô Sắc giới.
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm[14] dạy rằng:
I/
Dục Giới Thiên (có 6 cõi trời Dục giới)
1.
Tứ Thiên Vương: vẫn ái ân với vợ hoặc chồng nhưng không
tà hạnh, tâm sáng suốt, mạng chung sống gần mặt trời và
mặt trăng.
2.
Đao Lợi Thiên: ít ái ân với vợ hoặc chồng và thường
tịnh cư, tâm sáng suốt, mạng chung vượt lên mặt trời
và mặt trăng, ở trên chóp nhân gian.
3.
Tu Diêm Ma Thiên: ít nhớ nghĩ việc ái ân, sống động ít,
tĩnh nhiều, tâm sáng suốt, sáng rỡ ở cõi hư không mà ánh
sáng mặt trời và mặt trăng không soi đến được.
4.
Đâu suất đà thiên: lúc nào cũng tĩnh, nhưng khi có cảm xúc
vẫn bị chi phối, mạng chung sanh lên chỗ tinh vi, những hoại
kiếp và tam tai của nhân thiên cõi dưới không đến được.
5.
Lạc biến hoá thiên: không còn ân ái dù có phải đáp ứng
nhưng thấy vô vị như ăn sáp. Mệnh chung sanh vào cảnh biến
hóa.
6.
Tha hóa tự tại: không có tâm thế gian, chỉ đồng với thế
gian
mà làm ngũ dục, khởi tâm chán bỏ (chánh nhân khiến lên
vô sắc giới). Mạng chung vượt lên những cảnh biến hoá
và không biến hoá.
Sáu
cõi trời như thế hình thức tuy khỏi động, nhưng tâm tính
còn dính dấp ngũ dục. Từ các cõi trời ấy trở xuống gọi
là Dục giới.
Trong
Nhị khoá hiệp giải và Thắng pháp tập yếu luận nói rằng:
tuổi thọ của cõi trời bằng mấy trăm ngàn tỷ năm con người.
Cõi
Lục Dục thiên này cùng với loài người, súc, quỷ, địa
ngục… là ở trong Dục giới.
II/
Sắc giới: các trời này thoát ly ngũ dục thường ở trong
định, không dính dáng với trần cảnh, song chưa hết cái
lụy hình hài nên gọi là sắc giới. Có 18 loài trời như
1.
Trời Phạm chúng
2.
Trời Phạm Phụ
3.
Trời Đại Phạm -> Sơ Thiền (ly sinh hỉ lạc địa)
4.
Trời Thiểu Quang
5.
Trời Vô Lượng
6.
Trời Quang Âm ->Nhị Thiền (Định sinh hỉ lạc địa)
7.
Trời Thiểu Tịnh
8.
Trời Vô Lượng
9.
Trời Biến Tịnh -> Tam Thiền (Ly hỉ diệu lạc địa)
10.
Trời Phúc Sinh
11.
Trời Phúc Ái
12.
Trời Quảng Quả
13.
Trời Vô Tưởng
14.
Trời Vô Phiền
15.
Trời Vô Nhiệt
16.
Trời Thiện Kiến
17.
Trời Thiện Hiện
18.
Trời Sắc Cứu cánh -> Tứ thiền (Xả niệm thanh tịnh địa)
Theo
dòng vận hành của tâm, nếu xả bỏ tham sân si, mạn, tà
kiến (10 triền, 10 sử)[15] thay vào đó cho hiện khởi
hỉ, định, lạc xả thì tùy khả năng tâm đạt, tùy sức
mạnh điều ngự tâm của mình mà có cảnh giới khác. Như
pha ly cafê sữa vậy, tùy sữa nhiều hay ít mà lạt màu.
III/
Trời Vô Sắc: không có sắc pháp ở trong và ngoài nên gọi
vô sắc
1.
Trời Không Vô Biên Xứ
2.
Trời Thức Vô Biên Xứ
3.
Trời Vô Sở Hữu Xứ
4.
Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
Thắng
Pháp Tập Yếu luận cũng trình bày khá đặc biệt về kiết
sanh thức hay kiết sanh tâm liên hệ giữa đời này và đời
sau của nhiều cảnh giới từ địa ngục cho đến cõi cao
nhất của vô sắc giới. Như kiết sanh thức có bốn loại:
a.
Ác thú (địa ngục, ngạ quỷ và bàng sanh) kiết sanh thức
b.
Dục giới thiên sanh thức
c.
Sắc giới thiên sanh thức
d.
Vô sắc giới thiên sanh thức.
Ở
các cõi trời này do phước báo nên y báo và chánh báo đều
tốt hơn cõi người, nhưng phải biết sau một thọ mạng dài
lâu huởng vui, nghĩa là sáu căn bị gây mê tham luyến các
dục (dục giới), an hưởng trạng thái an lạc của thiền
(sắc giới và vô sắc giới) trụ vào tư thực [16] kéo dài
mạng sống, số đông chết đều đọa ác thú. Nên chư Phật
thường thành đạo ở cõi người và khuyên đệ tử coi cõi
trời là hiểm nạn chướng ngại sự giải thoát, không nên
cầu về.
2/
ĐẠO TIÊN HAY CÕI TIÊN
Thật
ra nói đủ là bảy cõi. Sáu cõi cộng thêm cõi tiên.
Tiên
là một loài chúng sanh nửa trời và nửa người. Kinh Thủ
Lăng Nghiêm [17] dạy có những chúng sanh từ loài người, không
tu theo giới định tuệ mà tu theo vọng niệm, vọng tưởng
luân hồi lưu chuyển để củng cố hình hài vào trong rừng
núi, ăn trái cây sống, hoặc trên đảo giữa bể, tâm tĩnh
lặng luyện thân, không vướng vào những vinh nhục thế gian,
nên thành mười thứ tiên sống lâu ngàn vạn tuổi, nhưng
cuối cùng rồi cũng chết, vì không tránh được quy luật
sống chết.
Ở
đây cho thấy tư tưởng, có thể thay đổi lối sống bình
thường của con người, kéo dài sự sống đến một thời
gian rất lâu. Những phim chưởng của Trung Hoa, Đại hàn xuất
phát từ nguồn gốc đạo tiên này rất nhiều.
Có
10 loại tiên:
1.
Có loại chúng sanh dùng đồ bổ không dừng nghỉ, kiên cố
và đạo ăn thành tựu thành Địa hành tiên.
2.
Có loại chúng sanh dùng cỏ cây không dừng nghỉ, kiên cố
và đạo thuốc thành tựu thành Phi hành tiên.
3.
Có loại chúng sanh dùng kim thạch không dừng nghỉ, kiên cố
và hóa chất thành tựu thành Du hành tiên.
4.
Có loại chúng sanh dùng luyện những động tác không dừng
nghỉ, kiên cố và đạo khí tinh thành tựu thành Không hành
tiên.
5.
Có loại chúng sanh dùng nước bọt không dừng nghỉ, kiên
cố và đạo nhuận đức thành tựu thành Thiên hành tiên.
6.
Có loại chúng sanh dùng tinh hoa không dừng nghỉ, kiên cố
và đạo hấp thụ thành tựu thành Thông hành tiên.
7.
Có loại chúng sanh dùng phù chú không dừng nghỉ, kiên cố
và đạo thuật pháp thành tựu thành Đạo hành tiên.
8.
Có loại chúng sanh dùng chú tâm chuyên niệm không dừng nghỉ,
kiên cố và đạo chuyên niệm thành tựu thành Chiếu hành
tiên.
9.
Có loại chúng sanh dùng quán về thủy hoả giao cấu không
dừng nghỉ, kiên cố và đạo cảm ứng thành tựu thành Tinh
hành tiên.
10.
Có loại chúng sanh dùng tập luyện biến hoá không dừng nghỉ,
kiên cố và đạo biến hoá thành tựu thành Tuyệt hành tiên.
3/
A-TU-LA
Đây
cũng là một loại có phước nhưng hay tranh chấp. Anh hùng
nghĩa khí có làm nhiều phước thiện mà hay tranh đấu sát
phạt nhau, hơn thua lẫn nhau, lấy nghĩa khí thắng hung tàn,
không khuất phục, đấu tranh không ngừng nghỉ… những loại
chủng tử đó sẽ sanh về cõi đây.
Có
bốn loại a-tu-la:
1.
Có chúa a-tu-la trời, biến hoá sanh (thuộc loài trời), sức
mạnh, tranh quyền với Đế thích và Tứ thiên vương, nên
trong tranh vẽ các vị này tối ngày cầm cung, súng sát phạt
lẫn nhau.
2.
A-tu-la người (thuộc người), thai sanh, ở gần mặt trời,
mặt trăng. Từ trời đọa xuống vì do kém phước đức
1.
A-tu-la quỷ (thuộc quỷ ở trời), từ trứng sanh ra. Sống
ở hư không. Có vị phát tâm bảo hộ chánh pháp. Nên cuối
mỗi buổi tụng kinh, ở chùa hay tán bài:
2.
“Trời,
A-tu-la, Dạ xoa thảy
Đến
nghe pháp đó nên chí tâm
Ủng
hộ Phật pháp khiến thường còn
Mỗi
vị siêng tu lời Phật dạy.
Bao
nhiêu người nghe đến chốn này
Hoặc
trên đất liền hoặc hư không
Thường
với người đời sanh lòng từ
Ngày
đêm tự mình nương pháp ở.
Nguyện
các thế giới thường an ổn
Phước
trí vô biên lợi quần sanh
Bao
nhiêu tội chướng thảy tiêu trừ
Xa
lìa các khổ về viên tịch.
Hằng
dùng giới hương xoa vóc sáng
Thường
trì định phục để giúp thân
Hoa
mầu bồ đề khắp trang nghiêm
Tùy
theo chỗ ở thường an lạc.
Nam
mô Tam châu cảm ứng
Hộ
Pháp Vi đà Tôn Thiên Bồ Tát ma ha tát.”
4.
A-tu-la bàng sanh (thuộc bàng sanh), nhân thấp khí sanh ra, ở
trong biển lớn lặn trong thủy huyệt. Ngày đi chơi trong hư
không, đêm ngủ dưới nước.
4/
CÕI NGƯỜI
Trên
hành tinh trái đất này chúng ta có năm châu là Châu Á, Châu
Âu, Châu Úc, Châu Mỹ, Châu Phi, Nam và Bắc cực.
Đức
Phật đã bảo ngài Mục Kiền Liên minh hoạ bức tranh của
kiếp người có tám khổ như sanh, lão, bịnh, tử, ái biệt
ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ và ngũ ấm
xí thịnh. Nào là có cảnh chiến tranh, xe tăng, súng đạn,
có nạn lũ lụt, cháy nhà, lũ lụt, cảnh em ra đời, lớn
lên, nằm ở giường bịnh, già yếu chống gậy và quan tài
chờ đợi.
Khi
tinh trùng của người cha kết hợp với tiểu noãn của người
mẹ, thần thức gá vào và lúc đó bắt đầu một kiếp sống
mới. Và tùy theo nghiệp lực của mình mà tinh trùng hay trứng
đó là của loài người hay loài thú.
Cũng
như loài vật, con người sanh từ bụng mẹ (bụng của con
người). Chỗ sanh bất tịnh là tử cung, cạnh vòng ruột già
non, trong máu tanh, nước nhớt và vừa là thức ăn. Đây là
nơi bắt đầu thành thân, thật chẳng đáng tự hào chút nào!
Đức
Phật dạy sắc thân chúng ta từ bất tịnh nghiệp đời trước
mà sanh. Nghiệp chuyển nơi thức đem vào thai mẹ và có năm
trùng không tịnh. Năm trùng không tịnh là:
1.
Chỗ sanh bất tịnh: thân này chẳng phải hoa sen, chiên đàn,
mà được nuôi lớn trong máu mủ. Ở bên cạnh phân uế từ
đường tiểu tiện dơ dáy mà ra.
2.
Chủng tử bất tịnh: vơ hai giọt tinh cha, huyết mẹ làm thể
chất.
3.
Tướng bất tịnh: Thân này không gì ngoài chín lỗ ( hai lỗ
mắt, hai lỗ mũi, miệng, tai…) và 32 thể trược (tóc, lông,
móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành
cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật,
đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ
da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước
tiểu).
4.
Tánh bất tịnh: Từ dâm dục uế nghiệp mà sanh, lấy ái dục
làm thể chất. Nếu không tu các pháp quán để cải biến
thì lấy hết nước biển cả để rửa cũng không thể sạch.
5.
Cứu cánh bất tịnh: Nghiệp tận mệng chung có chín tướng
đáng chán hiện ra gọi là cửu tưởng:
i.
Trướng tưởng (sau khi tắt hơi rồi, không còn thức thứ
tám trì giữ mạng căn nên thi thể bắt đầu phồng lên)
ii.
Thanh tưởng (rồi xanh tái đen)
iii.
Hoại tưởng (da thịt bắt đầu bở toét như bánh mì nhúng
nước nứt nở và mềm bủng ra)
iv.
Huyết đồ tưởng (các thứ nước, máu mủ trong thân chảy
ra)
v.
Nồng lãng tưởng (thi thể nát bét rồi, nên mùi hôi thối
xông ra)
vi.
Hám tưởng (da thịt rục rã)
vii.
Tán tưởng (thịt tan, còn xương)
viii.
Cốt tường (xương cũng mòn dần)
ix.
Thiêu tưởng (tro bụi của xương cũng tan theo hư không và
không còn để lại dấu vết gì)
Chúng
ta có năm trùng bất tịnh đó nhưng chui ra thai mẹ lại quên
hết. Ra đời chỉ biết khóc, rồi lớn lên bao nhiêu bất
tịnh khổ sở của thân cũng quên hết, tranh đấu cực nhọc
cho cuộc sống để rồi chuẩn bị đi đến già bịnh. Thân
bằng cơm gạo rốt cuộc trả về cho đất, chết là dấu
chấm cuối cùng. Nhưng chúng ta không phải làm dấu chấm,
hay chấm phẩy mà là dấu phảy liền. Vì đâu đã hết liền,
đâu phải chết là hết. Tinh thần lại mê muội lại đi đầu
thai, lại vào bào thai, để lại ở bụng mẹ ra gọi là sanh,
rồi bỏ vào quan tài gọi là tử; hoặc vào trứng gà, bụng
cá… gọi mình là gà, cá. Khi ở địa ngục, ngạ quỷ, bàng
sanh, khi ở cõi trời, cõi người, cứ thế xoay vần trong ba
vòng ‘Hoặc-Nghiệp-Khổ’, xoay vần sanh tử luân hồi như
đã từng trải qua từ lịch kiếp.
Chúng
ta thường ở trong tam đồ, bát nạn từ lịch kiếp. Tam đồ
là: địa ngục, ngạ quỷ và bàng sanh. Bát nạn là:
1.
Nạn trời vô tưởng (vì sống lâu mà không gặp Phật)
2.
Bắc câu lư châu: Phiá bắc của núi tu-di. Giữ thập thiện
được an vui, nhưng không chịu khó tu học nên chẳng gặp
Phật.
3.
Nạn sanh trước và sau Phật: Phật trước đã qua. Phật Di
lặc lại chưa đến. Lại ở chỗ chẳng có Phật nào truyền
bá.
4.
Nạn thế trí biện thông: Tâm trí lanh lợi, chỉ ưa đắm
kinh sách ngoại đạo, ngoại điển, chẳng tin chánh pháp xuất
thế. Thế là bị chướng nạn đối với Phật pháp.
5.
Nạn si, lung, âm và á: điếc, đui, câm và ngọng.
6.
Súc sanh
7.
Ngạ quỷ
8.
Địa ngục.
Tập
quan sát chúng ta đang ở trong những nạn và những báo chướng
bất tịnh như thế. Tập quan sát sự thật và biết thân phận
chúng ta như thế để tránh không bị ảo kiến đánh lừa
(kiến trược). Lo luyện tâm, khôi phục quyền tự chủ, để
kiến tạo đạo nghiệp.
Cũng
đồng nghiệp làm kiếp người, nhưng có nhiều biệt nghiệp
riêng. Có chúng sanh bần tiện, cao sang, xinh đẹp, xấu xí
và may mắn, bất hạnh… đều do hạnh nghiệp chánh kiến
hay tà kiến, thiện hạnh hay ác hạnh ở thân, miệng và ý.
Trong Tăng chi bộ kinh, Đức Phật dạy Mạt Lợi, hoàng hậu
của vua Ba Tư Nặc rằng:
Này
Mạt Lợi phu nhân! kẻ hay phẫn nộ, hễ trái tai gai mắt liền
nổi nóng sừng sộ gây sự sẽ tái sanh với hình dung xấu
xí. Hiện tại keo kiệt không bố thí, mai sau chịu nghèo khổ
túng thiếu. Thấy ai được lợi dưỡng cung kính hơn mình,
thì tức tối ganh tị, cảm quả báo làm người hèn hạ, không
uy tín.
Này
Mạt Lợi phu nhân! nếu người hay bất mãn phẫn nộ nhưng
chăm bố thí thì tái sanh tuy dung sắc xấu mà giàu sang.
Những
ai tâm từ hoà lại chăm bố thí, không ganh tị tật đố sẽ
tái sanh dung sắc thù thắng, giàu sang và có uy tín lớn.
Này
Mạt Lợi, bố thí đem phước báu thế gian. Quả báo đến
có hai cách. Có người phải bôn ba mới kiếm ra tài vật (do
người đến xin, cầu khẩn mình mới bố thí hay giúp đỡ).
Có người ngồi mát ăn bát vàng (vì xưa kia đã tận tình
đích thân đi tìm những khổ nạn để cứu vớt, không phải
đợi người đến tận nơi cầu xin mới giúp). Người có
tâm vị tha luôn nghĩ đến nhu cầu của xung quanh, mong giải
quyết hộ. Những người này đời sau mơ ước điều gì đều
như ý. Như vậy, tuy đồng nghiệp là người nhưng theo biệt
nghiệp từng người mà có khác. Đây là những nhân quả sai
biệt của loài chúng sanh gọi là con người.
Đây
là những việc làm bố thí của trời người, hưởng phước
của trời người, nhưng nếu bố thí có trí tuệ Bát Nhã,
quán tam luân không tịch[18] sẽ chuyển phước này thành
bồ tát hạnh, để viên mãn biển phước trang nghiêm của
tuệ giác.
Cũng
trong Tăng Chi Bộ kinh, Đức Phật giảng lý nhân quả cho ngài
Xá Lợi Phất rằng nếu chúng ta hứa hẹn với ai một điều
gì mà không giữ thì mai sau sẽ bị thất vọng. Nếu đúng
như lời hứa thì mai sau sự nghiệp sẽ thành tựu như ý.
Nếu mình bố thí nhiều hơn lời mình đã hứa thì quả báo
khó nghĩ bàn. Hứa là tạo niềm hy vọng. Thất hứa là đem
thất vọng nên quả báo sẽ bị tuyệt vọng.
Thọ
giới là hứa với tam bảo ban cho chúng sanh nơi nương tựa,
niềm an ủi. Nếu chúng ta thất hứa thì hậu quả sẽ vô
cùng nặng nề. Ngược lại hẳn công đức vô biên.
Trước
kia chúng ta có thể là người có nhân cách kém cỏi. Bản
ngã chúng ta thường phình to cho đây là ta, của ta, tôn giáo
ta, chùa của ta, Phật tử của ta; kia là tôn giáo khác, người
khác… rồi không có cái ta nào chịu thua cái ta nào. Như thế
là tạo sự phân hoá, chia rẽ cộng động và thù ghét lẫn
nhau. Nếu giờ biết thoát khỏi sự kềm tỏa của bản ngã
thì chúng ta trở nên cao thượng, độ lượng. Trước kia nhỏ
mọn ích kỷ, bây giờ rộng rãi, bố thí, dễ tha thứ hơn.
Trước kia hay nổi nóng và bây giờ thì dễ trầm tĩnh hơn.
Trước kia hay xúc động và bây giờ thì dễ bình thản hơn.
Từ đây tâm từ bi của chúng ta được tăng trưởng, xem nhẹ
của cải vật chất và biết quý trọng những giá trị tinh
thần. Những vị biết tự điều như thế này thường sống
thuận theo ý kiến của mọi người, giống như lời bày tỏ
của tôn giả A-nậu-lâu-đà: “Con không sống bằng tâm của
con mà con sống bằng tâm của huynh đệ”.
Đây
cũng chứng minh hệ quả của văn minh nhân loại. Khi tư duy
chúng ta càng phát triển cao hơn, lý trí dần dần vượt khỏi
sự kềm toả của bản ngã và nhận ra sự đồng thể tướng
và tánh chung của tất cả, nên lấy vạn pháp làm mình, lấy
tâm huynh đệ, tâm chúng sanh làm tâm mình ‘vạn pháp duy tâm’.
Thân
ta có tướng cứng là địa đại, thẩm ướt là thuỷ đại,
hơi ấm là hoả đại và lay động là phong đại. Do bốn cái
này ràng buộc mà chia cái tâm tính diệu minh vắng lặng cùng
khắp (Phật tánh bản lai) của chúng ta thành hạn định trong
cái thấy nghe hay biết. Xét từ đầu đến đuôi tạo thành
năm thứ ô trược, nghĩa là loài người chúng ta bị buộc
trong năm lớp vô minh này:
1)
Hiện đang ở trong kiếp trược, quyết định đang bị vô
lượng khổ áp bức. 2) Kiến trược là đang bị cái xảo
trá chỉ huy.
3)
Phiền não trược là tham dục, sân hận các thứ tâm độc
kích thích.
4)
Chúng sanh trược là cứ cam phận sống đắng cay, chết đọa
đày, không bao giờ ngờ rằng mình có đường lối thoát ly,
thoát khổ, vì bản tánh mình vốn tự chân thường, chân lạc,
chân ngã và chân tịnh.
5)
Mạng trược là bị ma lực vô thường như lửa cháy bốn
bên mà cứ rong chơi nô đùa, đâu có tỉnh ngộ.
Chúng
ta không biết rằng dầu cõi người đang bị năm trược bao
phủ nhưng trong sáu cõi hay bảy cõi thú chỉ có lòai người
mới có thể ra được vòng lửa sanh tử nghĩa là có duyên
nghe Phật pháp, hiểu và biết phương pháp để đi ra khỏi
nhà lửa, trong khi cõi trời thì bị gây mê hưởng phước
nên không có lo tu; còn các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh thì đau khổ quá không có tinh thần đâu để hiểu và
để tu. Thế nên, trên bức tranh ta thấy lửa đỏ bao phủ
xung quanh không có lối thoát, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy một
đường đi nhỏ như sợi chỉ trắng nhỏ từ vòng nghiệp,
có bốn chúng cầm đèn đi lên ngang qua cõi người và thoát
ra khỏi bánh xe lửa đỏ. Trong khi năm cõi khác hoàn toàn kín
mít chìm trong lửa.
5/
BÀNG SANH
Súc
sanh là một trong những loài chúng sanh trú trong vũ trụ bao
la này. Có nhiều loại súc sanh như:
A.
Loài có xương sống:
1.
Bốn chân: Bò, trâu, sư tử, gấu, voi, hươu, nai, bò tót mọc
sừng, lừa, lạc đà, khỉ, vượn, ròng rọc, đười ươi,
cọp, beo, báo, sói, thỏ, mang (con đỏ), nhím, chồn, cáo, ngựa,
heo, dê, mèo, chó, chuột, tắc kè, thằn lằn, kỳ nhông, thạch
sùng, rắn mối, kỳ đà, hoang, rái nước, heo rừng, tê giác,
trâu nước, nhái, cóc, ếch, chằng hiu…
2.
Hai chân: Gà, vịt, ngỗng, ngan, chim…
3.
Không chân: Rắn, trăn, trùng, giun, lăng quăn, dòi, sâu, lải…
B.
Loài không xương sống: Cuốn chiếu, bọ chét, rết, nhện,
sâu, bọ nẹt, kiến, gián, mối, sùng, bò cạp, chấy, rận,
ve sầu, tằm, giun, nhộng, ong, tò vò, phù du, mọt, rệp…
C.
Loài không xương sống có cánh: Bướm, chuồn chuồn, đom đóm,
bù xoè, châu chấu, cào cào, muỗm, bọ ngựa, ong, mối, nắc
nẽ, dế, ve sầu, muỗi, ruồi, rầy, thiêu thân, cánh cam, bọ
hung…
D.
Loài dưới nước: Cá, sứa, mực, cua, sò, tôm…
Giới
Bồ tát dạy chúng ta mỗi khi gặp một loài thú nào cũng nên
quy y và chúc nguyện cho chúng.
Nguyện
tình thương của chúng ta lan toả đến các loài bàng sanh đang
có mặt trên khắp hành tinh này.
Nguyện
chúng sớm bỏ thân thú thành người gặp Tam Bảo[19]
tu hành.
Chúng
ta đọc tên từng loài, quán tưởng những hình tướng khốn
khổ của chúng với một tấm lòng tận thân tâm thương xót
chúng, ban rải tình thương đến chúng, kết thắng duyên Tam
Bảo để sau này chúng gặp được nhân duyên tam bảo mà tỉnh
ra. Một con chim xinh xắn, chúng ta vuốt ve yêu mến và đâu
biết rằng sau chúm lông xanh, vàng, đỏ, tía đó là chất
chứa vô vàn đau đớn, khốn khổ chập chùng.
Trong
vòng sanh tử vô tận biết bao nhiêu lần chúng ta đã mang những
lớp da thú này. Phải né, phải tránh, không nên gieo những
chủng tử gà, rắn, heo để đừng tái sanh vào cõi bàng sanh.
Đức
Phật dạy cái khổ ngu si là đáng sợ hơn cả. Ngu si là mê
muội, không biết tránh ác làm lành để đến nỗi tự đọa
đày, đọa vào thân thú, địa ngục và ngạ quỷ.
Tranh
minh họa hình con giun đang bị cắc kè cắn. Con rắn thì nuốt
cắc kè. Con kên kên nuốt mồi rắn ngon. Anh thợ săn đang
ngắm bắn kên kên. Bức tranh của thế giới ỷ mạnh hiếp
yếu. Loài lớn ăn loài nhỏ. Sự sống ăn nuốt sát hại lẫn
nhau vì bản năng duy trì mạng sống của mình. Cảnh thú sống
trong sợ hãi, hoảng hốt và hãi hùng vì đồng loại thú và
cả loài người luôn tìm cách giết lấy mạng chúng.
Trên
cạn, ngựa kéo xe đói khát, chở nặng, đi xa, roi vọt. Dưới
nước, cá lớn nuốt cá bé. Trâu cày bừa sớm chiều nắng
mưa quần quật làm việc. Tối về chuồng là nơi chủ tích
trữ phân và nước tiểu của nó để bón ruộng. Suốt đêm
trâu chịu các thứ muỗi mòng tấn công mà nào có tay để
xua đuổi. Sáng ra tiếp tục cày bừa dưới nắng mưa cực
nhọc. Lỡ đau ốm không làm việc được thì chủ vội vàng
đem giết thịt bán để gỡ vốn. Một đời như vậy liệu
tinh thần có đi lên không? Một đời như vậy liệu chúng
ta giảng pháp, thú có hiểu không? Thế nên bàng sanh là một
ổ phiền não, một ổ khổ và một ổ đọa lạc.
Một
khi đã đọa mang lớp da thú thì trăm kiếp ngàn đời khó
ngóc đầu ra. Muôn loài vạn vật, sống đọa đầy, chết
đắng cay. Một con bọ chét chạy trong người, ta không chịu
được thế mà chó mèo gà vịt ngày đêm hàng trăm bọ mạt
rúc rỉa mà cứ phải chịu trọn đời, không một lúc nào
ân xá. Cho nên, chúng đọa lạc và chịu đầy đau khổ thương
tâm lắm.
Thông
thường tội nào nặng lắm mới đọa làm thú. Dưới ánh
mắt của con người thì loài thú không có nhiều giá trị
và xem như thuộc ‘đẳng cấp’ thấp so với loài người.
Thường
thì con người dùng thú vật có nhiều lý do như để làm thức
ăn khoái khẩu cho người, thực hiện các thí nghiệm khoa học
hay phục vụ con người… Mặc dù thời gian gần đây ở các
nước tiên tiến có luật bảo vệ thú vật hoặc có luật
bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng, nhưng nói chung,
thú vật vẫn thuộc ‘đẳng cấp’ thấp kém so với loài
người.
Vì
sao đọa mang thân thú? Ai tạo những nghiệp bỉ ổi, thấp
hèn, mất giá trị, mất nhân phẩm sẽ bị đọa làm thú và
ở thân thú này chúng bị coi thường và khinh rẻ.
Những
nghiệp nào là hèn hạ và mất nhân phẩm? đó là tà dâm,
loạn luân, phá vỡ luân thường đạo lý loài người, dục
vọng không biết kềm chế, không có lý trí hướng dẫn, rõ
ràng tương đương với dục vọng của loài thú. Hạnh nghiệp
giống với loài thú đưa tác giả đi đến kiếp thú về sau.
Hoặc lòng ích kỷ tột độ biến thành hành vi tranh giành
xâu xé đồng loại không thương tiếc cũng rất giống với
loài thú; dùng thủ đoạn để bức hại kẻ khác, sống cho
bản năng ích kỷ chỉ nghĩ đến mình thì sẽ đọa làm thú
là điều không tránh khỏi.
Kinh
dạy: Nhất thiết duy tâm tạo. Mang lông đội sừng hay thành
Phật làm tổ cũng chỉ do tâm ta. Loài vật cũng bẩm ngũ hành[20]
, cũng ngậm tứ tượng[21] cũng biết đau ngứa, no đói,
cũng yêu ghét sợ hãi, nơm nớp sợ chết, lo lắng tham sống,
tránh khổ cầu an như ta. Vậy mà chúng ta nỡ nào ăn thịt
nó, giết nó chỉ để ngon miệng trong chốc lát nơi tấc lưỡi,
nuốt xuống cuống họng là hết. Đặt mồi lập mưu, khiến
sa lưới mắc bẫy, thật là độc ác, tàn nhẫn. Lại nói
‘thiếu tiền của ta, làm thú trả ta’ hoặc ‘ta hưởng
lộc trời’ hoặc ‘vật dưỡng nhân’ ‘chết là hết,
tha hồ ăn, không sợ gì’. Cứ thế mà luân chuyển oán thù,
cùng nhau đi mãi trên đường đau khổ.
Nhà
nho nói: Thấy con thú đương sống, chẳng nở thấy nó chết.
Nghe tiếng nó sợ hãi kêu la, chẳng nỡ ăn thịt. Cho nên đã
là quân tử đâu có sát sanh. Nhà nho còn nói thế, huống chi
chúng ta là Phật tử, con nhà họ Thích.
Bởi
vì tất cả đều có Phật tánh, nên tất cả loài noãn, thai,
thấp, hoá đều là chư Phật vị lai. Bởi vì cùng nhau ở
trong vòng luân hồi nên tất cả các loài bay, chạy, bơi, lội
đều đã từng là cha mẹ quyến thuộc lẫn nhau với ta. Phải
có lòng tin bất động với điều này thì chúng ta sẽ có
sự chuyển đổi ở cách nhìn và cách sống.
Thấy
mũi tên con vượn hồn bay. Thấy giương cung con nai rơi mật.
Nỗi chua cay nát óc bể đầu, niềm đau khổ suốt lưng qua
bụng. Dùng tim gan nó để ngon miệng mình trong khoảnh khắc.
Mai đây chịu rừng núi kiếm dao, cả trăm ngàn kiếp trong
địa ngục. Còn dư báo lên làm thân heo gà để chịu mổ
đâm quay nướng, mang yên ngậm sắt ngựa lừa, tôi tớ phận
chó, cày bừa thân trâu…
Chúng
ta cứ lấy thống khổ làm trò vui chơi. Giết hại sinh linh
thết khách bày tiệc mời người ăn. Con gà, con heo, con trâu
bị cắt cổ giãy giụa kêu la, lại đem thêm nước sôi dội
xối; trong khi trên thềm nhóm họp bạn bè, dưới thềm âm
nhạc vui vầy đờn ca, bàn chuyện thị phi thiên hạ. Đình
thần đền miếu đều là những đàn tràng gây oán. Thui ngan,
nướng vịt, mổ heo, thịt dê khác gì quỷ la-sát, dạ-xoa…
Phải
500 con tằm mất mạng mới thành một chiếc khăn. Mấy chục
con thỏ chết mới có chiếc áo ấm. Người có tâm hãy suy
nghĩ, nỡ nào an lòng mặc dùng. Chúng ta cứ ăn thịt mà không
biết nỗi đau của một con vật bị giết hay bị đưa lên
lò sát. Xin được kể một câu chuyện minh hoạ rằng:
Có
một anh thanh niên nọ có thói quen săn thú. Một hôm rượt
đuổi theo dấu máu của con nai bị trúng tên, cuối cùng anh
thấy nai nằm thở thoi thóp dưới chân một nhà ẩn sĩ đang
toạ thiền trên tảng đá. Nhà ẩn sĩ khuyên anh nên bỏ thú
vui này vì hãy thương nổi đau đớn của nai khi trúng tên
như nỗi đau của mình. Anh đứng im lặng.
Nhà
ẩn sĩ liền dùng ngón tay của ngài ấn vào mình con nai đã
chết, còn tay kia nắm lấy tay của chàng thợ săn, truyền
nỗi thống khổ của con nai lúc chết cho chàng. Vừa đụng
vào thì anh biến sắc, anh như cảm nhận được nổi đau khổ
về thể xác và tâm linh của con nai lúc chết. Anh như thể
nghiệm được toàn bộ quá trình cái chết của con nai, toàn
thân toát mồ hôi lạnh, nhịp tim dần dần ngưng lại. Anh
đau đớn và hiểu được săn bắn là một hành động ngu
xuẩn, từ đó anh không dám săn bắn nữa.
Nhân
có nhân quyền, còn thú? Khi văn minh nhân loại tiến bộ, khi
tư duy con người phát triển cao hơn, khi thế giới tâm linh
con người phát huy tuyệt đối đến mức cao nhất, ta và chúng
sanh bình đẳng, lý trí dần dần vượt khỏi sự kềm tỏa
của bản ngã, sẽ thấy tha và tự giống nhau và ngay cả thú
cũng bình đẳng, thì lúc đó hy vọng thú cũng được tôn
trọng, thương yêu và đối xử như con người.
Có
chuyện kể một bà già Tây Tạng sau khi trải qua bão tuyết
mấy ngày trời liên tục, nhà đã hết lương khô, bà chống
gậy lần xuống núi để mua thực phẩm. Dọc sườn núi, các
nông trại, vườn rau, đồng lúa đều một màu trắng lạnh
tang tóc không có sức sống. Quá đói và mệt, bà ngồi xuống
tảng băng để nghỉ chân và lôi trong giỏ khúc bánh mì khô
cuối cùng ra để gặm. Chợt ngó lên, bà thấy một con chó
đói đang lết thết bò đến gần bà. Nó lạnh run lập cập,
lông của nó không đủ cho nó ấm. Bao tử của nó xẹp lép
ôm lấy xương sườn vì quá đói, ai đâu cho nó ăn? Bà vội
cởi bớt một tấm vải choàng cũ trùm nó lại và khúc bánh
mì, bà bẻ hai, chia đều để trước mặt nó một phần, bà
một phần. Rồi cả bà và nó cùng nhau mỉm cười ăn ngon
lành.
Câu
chuyện chỉ đơn giản như vậy. Nhưng để lại ý nghĩa thật
sâu sắc. Bà già cũng đã thấy được mình và chó bình đẳng
như nhau, nên dù đang đói, khúc bánh mì cũng sẵn sàng chia
đôi, manh áo sẵn sàng bớt một cái. Nếu như tâm lý bình
thường của mình, có thể chúng ta cho vị trí của chó là
thấp kém, nên nếu có thương, cho nó ăn thì ta chỉ bẻ khúc
đuôi và bẻ một ít thôi vì để dành còn ngày mai mình ăn
nữa chứ… Vì thế lòng từ chúng ta có giới hạn.
Luật
Sa-di kể chuyện rằng có một tam tạng pháp sư lên chánh điện,
thấy một lão tăng tụng kinh, liền nói đùa: “Sư tụng kinh
giọng ồ ề như chó sủa”. Vì lời khinh mạn bông đùa ấy,
vị sư phải chịu 500 đời làm thân chó. Đời cuối cùng,
con chó ăn vụng thịt, bị chủ chặt cả bốn chân, vứt xuống
hố.
Ngài
Xá Lợi Phất đi qua cho chó ăn cơm, thuyết pháp và chúc nguyện.
Con chó chết, đầu thai làm con một trưởng giả tên Quân
Đề. Quân Đề mới lên bảy tuổi đang chơi ngoài cửa, thấy
Xá lợi phất khất thực đi qua liền xin cha cho xuất gia. Sau
khi xuất gia, dưới sự hướng dẫn của tôn giả Xá lợi
phất, Quân Đề đã chứng A la hán.
Thế
đó, một lời nói bông đùa mà nguy hại phải 500 đời làm
chó. Nếu không phải là tam tạng pháp sư có công phu tu hành
thì làm sao gặp được thánh tăng để chấm dứt con đường
đọa lạc.
Kinh
Địa tạng dạy: Chúng sanh trong cõi diêm phù, cất chân dấy
niệm đã phạm tội. Gặp việc thiện thì dễ thoái tâm. Gặp
ác duyên lại càng thêm mạnh. Nếu không gặp thiện tri thức
sẽ khổ mãi không cùng.
Tóm
lại, từ chỗ bản lai thanh tịnh, một niệm bất giác sinh
sở năng mà có y báo, chánh báo, có sinh vật xuất hiện, rồi
sau đó động vật chính thức ra đời có tâm thức phức tạp,
có tạo nghiệp nhân để thọ quả báo.
Ai
đã làm thành động vật có tâm thức để cho động vật
đó phải lăn lóc đấu tranh vì sự sống một cách cực khổ?
Chính những tâm thức của chúng ta tạo ra.
Trong
sự đấu tranh sinh tồn đó, các động vật khi thì giúp đỡ
lẫn nhau (thiện), khi thì xâu xé lẫn nhau (ác) để tạo thành
vô số nghiệp thiện ác lẫn lộn thúc đẩy chúng trôi lăn
trong luân hồi mai sau.
6/
NGẠ QUỶ
Ngạ
quỷ cũng là một trong vô số các loài chúng sanh trong vũ trụ
này. Loài chúng sanh này có sự thọ dụng cảnh giới thuần
khổ và bị đói khát liên tục. Nguyên nhân căn bản là do
những chúng sanh này khi sanh tiền tâm chứa đầy những ý
niệm tham lam, bỏn xẻn, không thích làm những việc lành,
bố thí, cúng dường, sau khi chết đọa vào cảnh giới ngạ
quỷ.
Quỷ
thường chịu hai báo chướng:
1)
Nội chướng: Cổ như cây kim, miệng như ngọn đuốc, bụng
to như cái trống và toàn lửa, rất khó uống ăn. Đây là
quả báo của những tâm hồn khô khan, bỏn sẻn không biết
bố thí. Có quỷ ăn được nhưng thức ăn vào bụng liền
biến thành gươm đao, đâm lại vào da thịt mình. Đây là
vì đã bố thí với độc tâm hoặc ác khẩu.
Buổi
chiều là giờ ăn của quỷ,[22] nên trong chùa khuyên tránh
ăn chiều tối. Nếu có ăn thì xem đó như dược thực (thuốc
để chữa bịnh đói khát, khô gầy) và tránh đừng khua đũa
bát khiến quỷ thấy sự ăn uống, vì thèm khát miệng phực
ra lửa.
Như
ngài Mục Kiền Liên dâng cơm cho mẹ. Bà Thanh Đề đói quá,
một tay bốc ăn, một tay che, sợ quỷ khác giành ăn. Nhưng
cơm vừa đưa đến miệng liền hoá than hồng. Bà đói khát
cùng cực mà không thể thọ dụng thức ăn được.
2)
Ngoại chướng: Quỷ ở trong cảnh lửa hoặc máu mủ, bị
dao đâm gậy đánh liên tục. Dòng sông đối với quỷ nếu
không là máu mủ thì cũng khô cạn toàn là cát nóng. Có ngạ
quỷ ở trong sông nước cả ngàn năm mà không sao hớp được
một ngụm cho đỡ khát, chỉ thấy toàn sạn cát nóng. Cảnh
trăng thanh gió mát thì do nghiệp báo quỷ thấy thành mặt
trời nóng bức và ngược lại. Cây trĩu đầy quả thì thấy
khô cằn héo hon không có trái nào và ngược lại.
Quỷ
có bốn loại:
1/
Có phước: nên được ăn uống nhiều: a) Có thế lực lớn,
cung điện trang nghiêm; b) Trông mong thờ cúng, đi trên hư không
hoặc ở nhà xưa của mình hoặc ở mộ địa được bà con
cúng (vì trước có bố thí); c) Ăn đờm dãi, phân uế và
các thứ thiu thối.
2/
Ít phước: được ăn chút ít: a) Lông kim: tự đâm, đâm thân
mình, đau đớn cuồng chạy, lâu lắm mới được ăn chút
nhơ bẩn; b) Lông thối: Cào vốc nhổ lông vì mùi hôi thối
khiến rách da xé thịt, đau đớn ngày đêm, lâu lâu mới được
ăn chút nhơ bẩn; c) Bướu lớn: Nhức nhối, chảy mủ máu
hôi thối, bốc lấy ăn cho đỡ đói.
3/
Không phước: Chẳng được ăn uống, đói khát cuồng chạy:
a) Miệng thối; b) Toàn thân là lửa như cây đuốc; c) Họng
kim, bụng lớn như cái núi.
Có
rất nhiều quỷ như:
1.
Quỷ bị vạc nước sôi nung nấu (làm nghề sát sanh hoặc
có nợ không trả mà còn chống cự)
2.
Miệng nhỏ như trôn kim
3.
Ăn đồ mửa
4.
Ăn phân
5.
Ăn lửa
6.
Ăn hơi
7.
Ăn pháp (xưa kia nói pháp cầu lợi, nay đói khát, chỉ nhờ
nghe pháp mà mạng được tồn tại)
8.
Khô khan thèm nước uống
9.
Hy vọng trông mong bà con cúng vái (buôn bán dối trá lấy vật
của người)
10.
Ăn đồ khạc nhổ (đã đem đồ bất tịnh cúng tăng)
11.
Ăn tràng hoa (đã ăn trộm hoa của tam bảo)
12.
Ăn máu (hay sát sanh)
13.
Ăn thịt
14.
Ăn nhang (hay ngửi và trộm nhang của chùa)
15.
Đi nhanh, lửa cháy đốt thân
16.
Mỗi lông trong mình đều tuôn lửa
17.
Hắc ám: ở chỗ tối tăm có rắn cắn mổ (xưa kia vì mưu
cầu tiền bạc mà vu oan)
18.
Đại lực thần thông nhưng chịu nhiều khổ não (ăn trộm
của người này, đem cho người khác)
19.
Lúc nào cũng có cảm giác bị phừng cháy (giết người, cướp
của)
20.
Rình con nít đại tiện, tiểu tiện để ăn hơi khí bất tịnh
21.
Dâm dục (quyến rũ người làm việc này để lấy tiền sinh
lợi như tú bà tức chủ chứa gái)
22.
Ở cồn biển (do lừa gạt người bịnh lấy tiền)
23.
Cầm gậy hầu (làm quan nịnh vua tạo ác)
24.
Ăn thịt con nít
25.
Ăn tinh khí người
26.
La sát (sát sanh)
27.
Ăn lửa (tham ăn vật của tăng và Tam Bảo)
28.
Ở các đường hẻm ăn đồ bất tịnh
29.
Ăn gió (ưa hứa xuông, rồi không làm)
30.
Ăn than (hành hạ tội nhân không cho ăn uống)
31.
Ăn chất độc
32.
Ở cánh đồng
33.
Ăn tro nóng, chỗ thiêu thây người chết
34.
Ở dưới gốc cây (người trồng cây để bố thí, mình ác
tâm chặt đi)
35.
Ở các nẻo đường giao thông (bóc lột khách đi đường)
36.
Mara: Ma quỷ phá hoại người tu hành
Trong
Ngạ Quỷ sự (kinh Petakhatha) liệt kê tên và hình tướng của
các quỷ như:
1.
Atthisankhalika: Chỉ có bộ xương bay trong hư không khóc la thảm
thiết, chim đuổi theo mổ vào những kẽ xương
2.
Mainsapesi: Quỷ hình như khối thịt bị chim mổ xẻ (sát sanh
làm kế sanh nhai)
3.
Mainsapinda: Quỷ hình như cục thịt (lúc sống làm thợ săn)
4.
Vicchavi: thịt đỏ trùng rúc rỉa
5.
Asloma: Lông như lưỡi dao nhọn bay lên, bay xuống đâm vào
thân
6.
Sattiloma: Lưỡi kiếm bay lên, bay xuống đâm vào thân
7.
Usuloma: Mũi tên lên xuống
8.
Suciloma: kim lên xuống (đã dùng sắt nhọn đâm thúc ngựa,
bò, trâu chạy nhanh)
9.
Cumbhanda: Ngọc hành thật to không ngồi được, cứ phải đi,
chim mổ rỉa (xử oan người để đòi hối lộ)
10.
Gidhakhadi: Ăn ở trong phân (đem đồ bất tịnh cúng dường
tăng ni)
11.
Okilini: Than nóng xối thân
12.
Ansakabandha: Quỷ không đầu, mắt mũi miệng ở giữa ngực
(làm nghề đao phủ)
13.
Pabbazila: thân lửa (xuất gia phá giới)
Những
quỷ kể trên đã phải trả quả trong địa ngục, nay chịu
dư báo trong 10 kiếp đến 500 kiếp. Trai tăng hồi hướng phước
báo có thể siêu thoát.
14.
Vantasa: Lông tóc xồm xoàm, chân tay cong queo, bụng to phềnh,
răng lởm chởm, chân hôi thối, ghẻ lở, ăn đồ khạc nhổ,
ở chỗ dơ bẩn (do xả bẩn, nhổ bẩn trên nền chùa)
15.
Xumpa: Bụng phệ, mắt to bằng cái chén, răng bằng lưỡi cuốc,
tóc phết gót, đầu to hơn thân, hôi thối tanh nồng, ăn ròng
máu mủ và tử thi, nhưng càng ăn càng đói (cúng dường những
thứ cấm cho người tu)
16.
Gutha: Ở gần cầu tiêu, ăn phân máu (xấc xược với người
tu, bỏn xẻn với cha mẹ)
17.
Aggisala: Thân lửa bốc khói, đói khát mà không thể chết
(khinh báng tăng ni)
18.
Sucimlbkha: Miệng nhỏ dài nhọn như cây kim, thân to lớn, trọn
đời đói khát ở rừng sâu (keo rít để cha mẹ đói khát
hoặc đến phá hoa, lá, vườn ruộng nhà chùa)
19.
Xanhaji: Uống thì nước hoá lửa, ăn thì món ăn thành lửa
20.
Nijjha: Miệng mọc đuôi dài hôi thối, chẳng bao giờ ăn uống
(ác khẩu với tăng ni, chế giễu người tàn tật, ly gián
người giới hạnh)
21.
Sabbanka: Mình đầy ghẻ lở, ruồi nhặng bu khắp. Đói quá
lấy móng tay nhọn như dao tự móc thịt ăn. Vừa ăn, vừa
khóc, càng ăn càng đói. Loài quỷ này rất nhiều ở các thung
lũng, núi non và cồn bãi. (bất hiếu cha mẹ, phản bội ân
nhân)
22.
Pappanka: thịt cứng như đất, lửa cháy đỏ, đói khát cả
triệu năm ở trên (chửi oan người đức hạnh)
23.
Ajagara: Thân dài như con trăn, mình lớn bằng con voi, nhiều
đầu… khắp mình lửa cháy, đói khát trường kỳ, ngày đêm
kêu khóc. Ở núi rừng cồn bãi có rất nhiều loài này (hung
dữ mắng chửi cha mẹ và những bậc đức hạnh)
24.
Vemanika: Nửa tháng thọ vui như cõi trời. Nửa tháng thọ khổ
như ở địa ngục tra khảo chúng sanh. Đói khát đau khổ vô
cùng (si mê nên ai rủ làm ác thì làm ác. Ai rủ làm phước
thì làm phước)
25.
Mahiddhika: Thân đẹp như Thiên Tử thần thông, có thần thông
bay trong hư không, y phục toàn ngọc báu nhưng thân thể hôi
thối, đói khát cả vạn năm. Món ăn cứ đặt vào miệng
liền biến thành sắt nóng nung đỏ, cháy xém mồm miệng ruột
gan (xuất gia, tà mạng, cầu danh lợi, phá giới)
26.
Ahi: Mình rắn đầu người. Lớn như trái núi, giãy dụa khóc
la, sống lâu trong rừng núi (sân giận phá chùa am)
27.
Nimygga: Cứ phải cắm đầu xuống hầm phân, ăn đầy bụng
mới trồi lên được, rồi lại cắm đầu xuống cứ thế
trọn đời (tà dâm để thống khổ cho vợ con. Tội ở địa
ngục, nay là dư báo)
28.
Sukara: Đầu heo, miệng lở thối (ác khẩu)
29.
Manguhi: Lác, cùi, hôi thối, trôi nổi trong hư không, diều
hâu mổ cắn (mưu mô bóc lột người)
30.
Chataka: Không quần áo, không ăn uống, sống lâu 90 kiếp. Giống
quỷ này rất đông (do khi sống không kính ngôi Tam Bảo)
31.
Surruta: Ban ngày cầm buá đập nhau bể sọ, sưng nát mình mẩy.
ban đêm lửa cháy toàn thân. Đến sáng lửa tắt, lại cầm
búa đập nhau. (buông lung uống rượu, chơi chọi trâu, chọi
gà…)
Từ
Bi Sám Pháp dạy:
1.
Mỗi bên nách đều có vành sắt nóng đốt thân cháy rực
(sadi chia bánh cúng chúng, ăn trộm hai chiếc kẹp nách)
2.
Trên vai có bình nước sôi, tự tay lấy gáo múc xối trên
đầu, đau đớn than khóc (Duy na nấu sữa nhưng không chia đều.
Đợi khách tăng đi rồi mới chia cho chúng trong chùa. Những
tội báo trên đều là hoa báo. Quả ở địa ngục).
Kinh
Địa Tạng: Các quỷ vương có các hình tướng và tánh khí
như mắt ác, ăn thai trứng, hành hình, ác độc, đa ác, đại
tránh, huyết hổ, xích hổ, tán vương, phi thân, điện quang,
lang nha, ăn thú vật, đội đá, chủ hao, chủ họa, chủ phước,
chủ tài, chủ súc, chủ cầm, chủ mị, chủ sản, chủ tật,
chủ mạng, chủ hiểm, ba mắt, bốn mắt, năm mắt, kỳ lợi
thất, đại kỳ lợi thất, kỳ lợi xoa, đại kỳ lợi xoa,
a na tra và đại a na tra.
Có
bốn Thiên vương thống lãnh tám bộ quỷ thần:
1.
Càn thát bà (nhạc thần)
2.
Cưu bàn trà (hung dữ)
3.
Tỳ xá dà (ăn tinh khí)
4.
Tiết lệ đa (quỷ đói)
5.
Phú đơn na (hôi thối)
6.
Dạ xoa
7.
Quỷ truyền thống
8.
La sát (ăn thịt người)
Tương
Ưng Bộ kinh kể tôn giả Mục Kiền Liên thấy ở trên hư
không có một bộ xương vừa đi, vừa kêu khóc. Vô số kên
kên xúm nhau mổ rỉa. Đức phật dạy đó là một tên đồ
tể giết trâu ở thành Vương Xá. Nó đã bị nung nấu trong
địa ngục nhiều ngàn năm, nay chỉ là dư báo làm con chim
kên kên.
Có
người ăn mới có người giết. Đồ tể giết trâu quả báo
như thế, còn người ăn thịt thì sao, chúng ta nên suy nghĩ
việc này.
Đó
là quỷ, còn ma thì thế nào? Ma tiếng Phạn là Mara nghĩa là
hay cướp mạng, làm chướng ngại, làm rối rắm, làm phá
hoại, não hại
Có
bốn loại ma: