THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 MỤC LỤC.
 Tuyển Tập Vu Lan.
 
.
THẤY GÌ QUA HÌNH ẢNH VU LAN BỒN 
Chân Hiền Tâm 

Cách đây mấy ngàn năm, ngài Mục Kiền Liên đã thỉnh cầu Thánh chúng cầu siêu cho mẹ. Nhờ lễ cầu siêu ấy, bà thoát kiếp ngạ quỉ, sinh vào thiên giới. Nói chính xác, nhờ lòng hiếu hạnh và nội lực của hàng Thánh chúng tác động, bà mở lòng buông bỏ tham sân, nên mới thoát được kiếp ngạ quỉ. Sự buông bỏ và mở lòng đó là NHÂN khiến bà sanh thiên. Những thứ còn lại chỉ là trợ DUYÊN. Nhân duyên hội đủ quả mới thành hình. 

“Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Ba cõi không ngoài tâm. Vạn pháp đều do phân biệt tạo tác mà có. Một thế giới tranh tàn đau thương hay hạnh phúc ấm no, tùy thuộc vào những gì mà người ở thế giới đó tạo ra trong quá khứ. Ai tạo nhân, đủ duyên người ấy gặt quả. Không tạo nhân, dù duyên nhiều bao nhiêu, cũng không có quả để gặt. Vì thế, khủng bố tràn lan nhưng không phải ai cũng bị tai họa vì khủng bố. Không phải có sóng thần thì ai cũng chết vì sóng thần. Y học tiến triển rất mực, nhưng không phải vì thế mà mọi bệnh tật đều được cứu chữa. Vẫn có người chết vì sự tiến bộ của khoa học. Khoa học mang lại rất nhiều lợi ích, nhưng tác hại từ nó cũng không nhỏ. Bởi mọi thứ còn tùy thuộc vào suy nghĩ và hành động của từng người. Cái quả mình nhận được luôn tương thích với cái nhân mình đã rạo ra trong quá khứ. Có thể là trong hiện đời, có thể là trong tiền kiếp. Ðã có quả tức phải có nhân, không có chuyện tự nhiên. Từ mình mà ra, nên phải tự mình giải quyết vận mệnh của mình. Các thứ bên ngoài chỉ là trợ duyên giúp mình giải quyết cái nhân, mình đã gầy tạo trong quá khứ.  

Một lần đi dạo cùng thiền sư Phật Ấn, Tô Ðông Pha thấy tượng Quán Thế Âm cầm chuỗi niệm Phật, ông hỏi : 

- Quán Thế Âm là người để ta lễ bái, vì sao trên tay còn cầm chuỗi niệm Phật?

- Ðó phải hỏi chính ông

- Sao con biết niệm ai?

- Niệm Quán Thế Âm chứ ai!

- Sao lại phải niệm mình?

- Vì cầu người không bằng cầu mình. 

Cầu người không bằng cầu mình, vì mình là kẻ gieo nhân mà cũng là kẻ thừa hưởng cái nhân ấy. Không có gì thay đổi, khi tâm mình còn đầy tham dục và sân hận. Mọi thứ chỉ thay đổi khi suy nghĩ và hành động của mình thay đổi. Không thể có một hoàn cảnh tốt đẹp, khi thân khẩu ý của mình hoàn toàn bất thiện. Niệm Phật cầu tha lực, là lấy một niệm Phật trừ đi một niệm ác. Niệm niệm niệm Phật là để niệm niệm hành thiện. Tha lực mới hiển. Cầu tha lực, mà không niệm Phật cũng không dừng ác hành thiện, thì chưa từng có tha lực nào ứng được. 

Nhận ra được điều ấy, mình sẽ hạn chế bớt những đổ thừa trách cứ, cũng như hạn chế bớt những tư tưởng và hành động vị kỷ. Chư Tôn đức có lập đàn tràng tế độ nhân sinh, thì cũng như Mục Kiền Liên, vì hiếu từ mà thỉnh cầu chư Tăng độ mẹ, hy vọng thế giới bình an, người sống hạnh phúc, người chết siêu thăng. Nhưng nếu mỗi người, sống cũng như chết, không tự buông bỏ tâm vị kỷ của chính mình, như bà Thanh Ðề buông bỏ tâm tham hận, thì mọi thứ vẫn y nguyên, không có gì thay đổi. DUYÊN cầu nguyện bên ngoài dù đủ mà NHÂN bên trong của mỗi người không tốt, thì mọi thứ vẫn hoàn không. 

Cho nên, lập đàn tràng tế độ nhân sinh không phải để cầu cho khủng bố thiên tai hay hoạn nạn hết hoành hành, mà chính là cầu cho mọi người chúng ta có cái nhìn đúng đắn về thực lý Nhân Duyên đang chi phối thế giới này, cầu cho tất cả chúng ta phát tâm hướng thiện và hành thiện. Tâm bớt bạo tàn tham dục, thì khủng bố thiên tai mới có ngày chấm dứt. Khủng bố dẹp rồi mà tâm con người không hết tham sân, sẽ có các loại nạn tai khác xảy ra cho tương thích với những gì mà nhân loại đã gieo ...
 

 XIN MỘT CHÚT TỪ TÂM 
Chân Hiền Tâm 

Nhân duyên giữa mẹ chồng và chị không thuận chiều. Chị nói chuyện đâu đâu với thiên hạ, bà cũng đùng đùng nổi giận rồi chì chiết chị. Bà tiếc từng trái cam, gói mứt với chị. Biết cái duyên giữa mình và bà không thuận. Phận dâu con, chị làm được gì cho bà thì làm, không thì thôi. Nín nhiều hơn nói. Chuyện người ta đặt điều cho chị, bà nói bóng nói gió, chị cũng cho qua không màng đính chánh để miệng khỏi mở. Cực chẳng đã mới phải mở miệng. Ðã cực chẳng đã mới mở miệng, thành mở miệng ra là trăm phần trăm có chuyện …

Trước khi đi chùa, bà còn lớn tiếng đay nghiến “Nhớ lại quá khứ mày ra sao đi!”. Biết duyên không thuận, nhưng vì từ lâu chị coi ông bà như cha mẹ ruột, thành cái gọi là “nhân duyên không thuận” chị cũng quên tuốt. Nhưng quên, không có nghĩa duyên nghịch giữa chị và bà đã hết. Thành ra chuyện không dính gì đến bà, bà cũng đùng đùng nhập cuộc to tiếng. Bà đã mở miệng đuổi chị liên tục. Chị vẫn bình thường. Nhưng đến cái câu nhớ lại quá khứ … mọi thứ tan hoang. Nó như công án của vị thiền sư khai tâm đệ tử. Bùng vỡ tất cả. Chị thấy mọi thứ nguội lạnh. Không còn có gì để nói và làm. Vô tác ngay từ suy nghĩ cho đến hành động. Ðương nhiên không phải theo kiểu thiền sư đại ngộ. Ðược vậy thì còn gì bằng!

Mới biết vì sao Phật dạy tha thứ. Nếu không tha thứ, duyên nghịch giữa mình và người không bao giờ hết. Bởi còn ứ đó, nên người ta nói gì về chị bà cũng tin, chị nói cái gì ra bà cũng thấy khó chịu.  

Chị không thể hiếu hạnh theo kiểu cung cấp tiền bạc nuôi dưỡng ông bà. Bởi tiền nuôi con chật vật. Có khi em chồng còn phải cho thêm. Ông bà lại quá dư giả. Chị chỉ biết gói gọn công việc hằng ngày để có thời gian thăm hỏi, phụ ít công sức khi ông bà đau, an ủi tinh thần khi nhà có chuyện. Chị làm những gì có thể, đến khi hết sức. Quá khứ như thế chắc không đến nỗi để phải nhắc nhở. Nhất định không phải cái khoảng quá khứ đó rồi. Chắc là khoảng trước ... 

Cái khoảng chị mới lấy chồng làm dâu, sinh con đầu lòng. Cái khoảng Cần Ðước nước dâng theo mùa. Không nhớ sáng nước lên, chiều nước xuống hay chiều nước lên, sáng nước xuống. Chỉ nhớ nước bữa xuống bữa lên. Nước xuống đi bộ. Nước lên đi thuyền. Cái khoảng non ngày non tháng thăm chồng tù tội, nước lội buốt xương. Cái khoảng cặm cụi cực nhọc từ Long An sang Cần Ðước, lúc một mình, lúc với mẹ chồng. Chắc khoảng này đây. Cái khoảng chị khổ không sao kể xiết. Tiền bạc không có. Tinh thần thê lương. Khổ nếu từ trước, có khi lại ít thấy khổ. Con gái nhà lành chưa từng lặng lội, khổ tăng rất nhiều. 

Ðầu năm, chị sửa soạn cho con và cả cho mình. Gắng vui, gắng cười, đè nén cảm nhận lẽ loi khi thấy người người vui cười chúc tết lẫn nhau. Hy vọng năm mới bắt đầu tốt đẹp. Hy vọng mọi thứ buồn phiền năm cũ qua đi. Anh rồi sẽ về. Nhưng cha chồng không chịu. Ông không muốn con dâu vui cười dù chỉ là nụ cười gượng khi con ông đang còn trong tù. Mùng một, ông làm bài thơ tặng cháu. Chị hăm hở đọc thơ. Mọi dồn nén trong lòng vỡ ùa. Chị ôm con khóc suốt...

Da lành, muối xát bao nhiêu cũng không rát. Da đang lỡ, muối rát vô cùng.

Mẹ chồng lại càng khó chịu. Chị phải lãnh những chuyện chị không hề làm. Bà nói “Nó quăng tả lót con nó sai tui phải giặt”. Bà kêu “Tại nó mà tui bị chửi” v.v... Chị phải lãnh những chuyện không phải do lỗi của chị. Cứ như chồng khổ là do ở chị. Cứ như thất bại của anh là do lỗi chị làm. Những gì anh tình nguyện làm cho chị, trở thành cái gai trước mắt ông bà. Khổ này chồng khổ kia, chị như con trâu điên, vùng mình phản khán. 

Người ta chỉ thấy được sự phản khán của chị, mà không thấy vì sao chị trở thành như thế. Nếu công bình bác ác một chút, liệu chị có thế không? Chị đã hỏi đức Phật vạn lần. Nhưng chẳng có gì ngoài ánh mắt hiền từ và nụ cười đỏ chói nửa như an ủi, nửa như giễu cợt của ngài. 

Mọi người nói với chị “Những gì mình phải chịu trong hiện tại là do nghiệp mình đã tạo ra trong quá khứ”. Chị không biết nghiệp là gì. Nhưng dù là gì, chị cũng không chấp nhận điều đó. Vì sao phải bắt con cái  hiếu hạnh khi cha mẹ không có tình thương và xử sự thiếu công bằng với chúng? Chị không tin Phật dạy những điều bất công như thế. Nhưng chị không biết làm sao hỏi Phật, khi Phật chỉ nhìn chị cười mà không trả lời. 

Chỉ có một câu trả lời khiến chị an lòng: “Cha mẹ con thiếu từ tâm. Giá mà ông bà có chút từ tâm thì chắc con không đến nỗi đau khổ như thế. Mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn”. Lời nói đi kèm với một ánh mắt thương yêu, khiến chị càng thấy tin tưởng. Nỗi đau của chị vừa được xoa dịu Không có từ tâm thì nói không có từ tâm. Ðừng nói do nghiệp của chị. Ít nhất cũng có một người nói đúng “sự thật” với chị. 

“Thử nhớ lại coi, trước đây đã có khi nào con đối với ai thế không. Trong một hoàn cảnh khốn khó, nhưng con lại hơi thẳng tay chẳng hạn”. Chị nhớ. Không cần phải moi móc nhiều. Bà mợ của chị một tay nuôi ba đứa con thơ. Chồng đi học tập. Thay vì để bà nương nhờ tiếp tục. Chị đã nói mẹ phát gạo cho bà nấu cháo, tạo sự tự lập. Không thể cứ sống nương nhờ vào mẹ khi mẹ đang sắp cạn kiệt. Cái lý thì đúng, nhưng tình thì không. Việc đó xảy ra nếu sớm một chút hay trễ một chút chắc không đến nỗi. Nhưng ngay lúc đó thì quả tàn nhẫn. Cái lúc người ta cần mình, mình lại đối xử vứt bỏ. Nhưng thường mình hay như thế. Giải quyết sự việc sao cho theo lý của mình, mà ít quan tâm đến nỗi đau khổ của người. 

Chỉ trừ Bồ tát. Còn lại, một người khỏe mạnh, khó hiểu được nỗi mệt nhọc của kẻ đau yếu. Một người hạnh phúc khó hiểu được nỗi khổ đau của kẻ bất hạnh. Mình theo lý riêng của mình nên mình đánh mất cái tình. Chị nhớ không mấy khó khăn những việc như thế. Chị thiếu một sự cảm thông. Chị ít đặt mình vào chỗ của người khi phải giải quyết sự việc. Sự thiếu từ tâm chị phải trả giá.

Buồn phiền uất hận tan theo lời nói nhẹ nhàng “Nỗi đau của người rất lớn. Trải qua một chút để biết thương yêu và biết cảm thông”. Chị hết thấy hận. Nếu không biết đạo, con người sẽ như con tằm làm kén. Tự nhả tự trói không biết ngày nào mới thôi. Nỗi oán hận này kéo theo nỗi oán hận kia, không biết bao giờ mới hết. Thành tâm cảm ơn trời Phật đã cho chị gặp hoàn cảnh như thế để mà tỉnh ngộ. 

Ừ! Trải qua một chút để biết cảm thông ... 

Chị không đòi hỏi con cái hiếu thảo với mình. Chỉ luôn tự hỏi mình đã làm gì cho chúng? Chị không còn trách sao con không thích gần mẹ. Chị chỉ tự hỏi vì sao nó không thích gần? Luôn có câu trả lời cho những vấn đề như thế để chị thay đổi. Nếu không, chị cũng không buồn, vì đã làm hết sức mình.

Ừ! Trải qua một chút để biết thương yêu ... 

Hai tiếng mẹ cha trở nên lớn lao, là do sinh thành dưỡng dục. Không có công sinh công dưỡng, đức Phật đã không ca ngợi hai tiếng mẹ cha như vậy. Cũng không nói đến hiếu hạnh như việc bắt buộc. Cho nên, khi dâu hay rễ gọi chị tiếng mẹ, chị thấy mình có bổn phận với chúng nhiều hơn chúng có bổn phận với mình. Bởi chị không sinh không dưỡng. Chị muốn xứng đáng với một từ mẹ thiêng liêng mà chúng đã dành gọi chị.

Người ta tưởng dâu là con gái chị. Bởi chị không muốn giẫm chân vào vết mà người đã đi. Con trai mình nhậu không sao, nhưng con rễ nhậu thì chì chiết khó chịu vô cùng. Chị sợ cái cảnh nhà chồng hay nhà vợ xúm lại hội đồng xua đuổi dâu rễ. Chị sợ cái cảnh ta thán con dâu trong khi con mình cũng chẳng hơn ai. Chị không muốn thế. Chị muốn hiện tại mọi thứ tương đối công bằng. Mọi thứ phải được giải quyết trong sự cảm thông yêu thương dù chỉ tương đối.

Và rồi chị hiểu, dù cha mẹ có như thế nào, đức Phật cũng khuyên mình phải hiếu hạnh và khuyên cha mẹ yêu thương dạy bảo con cái. Không phải đức Phật bênh vực cha mẹ. Chỉ là vì muốn giúp người chấm dứt những vòng nhân quả khắc nghiệt.    

Do thời mạt pháp, con người dễ vướng vào tham, sân, si. Thứ gì cũng chỉ tập trung cho mình và cái mình thích. Cái gì thích thì thứ gì cũng cho. Cái gì không thích thì xua thì đuổi. Từ tham chấp đó, quan hệ cha mẹ con cái trong một gia đình có khi không phải “máu huyết thâm tình” mà là một sự trả vay oan nghiệt. Nếu mình không tỉnh, cứ theo cái đà oan nghiệt mà đi, thì vòng nhân duyên oán ghét lẫn nhau cứ thế luân hồi. Kiếp sau gặp nhau lại oán lại ghét, ngày càng không thuận, đưa đến kết quả đáng thương như nay vẫn thấy: Con giết cha, vợ giết chồng… 

Viết ra điều này, tôi cũng đang làm một chuyện không nên: Khơi lại quá khứ của người. Nhưng dù không khơi, nó vẫn âm thầm hiện diện đó thôi. Chẳng qua một bên sống đạo, thành không có duyên để nó phát khởi, không phải duyên nghịch đã hết. Chi bằng khơi lại đầy đủ để hiểu nhân duyên nhân quả trong đời. Không phải chỉ để chị hiểu hay mẹ chị hiểu, mà để tất cả mọi người chúng ta cùng hiểu. Ðể thấy đến chùa, cúng dường làm phước không thôi chưa đủ. Cần hiểu giáo pháp Phật dạy. Bố thí cúng dường thì được phước báu giàu sang. Nhưng thiếu trí tuệ, có khi chính cái giàu sang giúp mình tạo nghiệp. Bởi nghèo có khi là duyên giúp mình an phận hiền lành, không dám mở miệng. Nhờ vậy mà ít tạo nghiệp. Giàu sang quyền hành, tha hồ miệng lưỡi, tạo nghiệp không ít. Cho nên, cúng dường bố thí chưa đủ mang lại hạnh phúc cho mình. Cần hiểu nhân duyên nhân quả chi phối cuộc đời thế nào mà tránh. 

Duyên nếu không thuận, việc gì cũng buồn. Cái tốt mình làm trong đời đều thành công cóc với người. Nhưng trên phương diện âm đức thì không. Nó đang âm thầm hóa giải nghịch duyên cho mình. Ðừng nản! Kiếp này chưa xong, kiếp sau cũng hết. Hy vọng cái khoảng “tan hoang nguội lạnh” của chị sẽ được ánh đạo sưởi ấm như từng giúp chị đánh tan uất hận trước đây của mình. Ðể khoảng nghịch duyên chấm dứt. Kiếp này ấm áp. Kiếp  sau an bình. 

Thôi thì, tùy duyên tiêu nghiệp cũ và xin … một chút từ tâm, há chị !
 
 

QUÁ KHỨ MÀ CHI! 
Chân Hiền Tâm 

Hồi chưa tới chùa, tôi gặp sư Hưng. Sư tu Nam Tông. Thương con cứng đầu này lắm. Cứ dạy: “Con phải quán người nam như cha, người nữ như mẹ”. Chắc trừ ái dục và sinh lòng từ. Nhưng quán cách mấy nam vẫn là nam, nữ vẫn là nữ. Thương ghét vẫn cứ rõ ràng. Mọi thứ ù lỳ như cũ. Như nước đem đổ đầu vịt, trôi tuốt tuồn tuột. 

Một lần có chuyện. Trong chuyện, người nam người nữ nhỏ tuổi hơn mình. Bỗng nghĩ chúng như con gái của mình. Mọi thứ xả hết, lòng từ chan hòa. Trò này coi bộ xài được. Từ đó, hở cái là quán “hắn” như con trai con gái của mình. Mọi thứ êm xuôi. Mới thấy mình thương cha mẹ không bằng cha mẹ thương con. Thành cha mẹ còn, gắng thương cho tròn. Cái gì thấy ngon mà không hại vật hại người thì cho ăn đi. Ðừng đợi chết rồi làm cỗ cho lớn. Ăn uống chi được mà cúng cho lớn. Mọi thứ thịnh soạn mà ăn không được, thêm buồn!

Cha chết tôi không thấy buồn. Thấy bà con khóc, khóc theo cho vui. Không biết có phải vì tuổi 12 quá nhỏ, hay vì khi còn sống cha quá nghiêm khắc, lũ tôi phải ăn đúng giờ ngủ đúng giấc, hết phải học cái này rồi đến học cái khác mà cớ sự ra vậy hay không. Chỉ biết cha chết tôi không hứng khóc. Ðêm đêm nằm canh quan tài, ruột cứ quặn lên từng hồi không có duyên cớ. 

Mẹ mất, tôi cũng không buồn. Vài giọt nước mắt đồng hành cùng với người thân, nhưng lòng thì vẫn dững dưng. Thiêu bà xong, tôi đi khắp các chùa gởi bì thơ cầu siêu. Kinh nói tụng tám vạn biến chú vãng sanh, cha mẹ được siêu thăng. Tôi cắm đầu cắm cổ tụng cho hết tám vạn biến. Dư chút đỉnh, phòng cho thiếu sót … 

Mọi thứ qua đi bình thản như chưa từng có việc gì xảy ra. Trừ lúc tiếng còi cứu thương đâu đó ngoài phố vọng vào. Ruột lại quặn lên như thời nằm canh ông bô trong chùa. “Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay”. “Trường” này có phải là “dồi trường heo” không nữa? Chắc là nó quá! Cái ruột quặn lên quặn xuống như bị cắt ra từng khúc, nên gọi đoạn trường? Chắc cũng đâu đó.   

Ăn cái gì ngon, chợt thấy xót xa. Kinh tế gia đình ngày trước khó khăn, mọi thứ đều phải chắt bóp nuôi con, lấy đâu ra tiền mà ăn đồ ngon, đồ bổ. Nghĩ tới, nước mắt muốn trào ...
 
Nghĩ quanh nghĩ quẩn thêm buồn. Quá khứ đã qua. Người chết đã chết. Hiện tại chỉ còn cái tưởng của mình. Hết nhớ cái này rồi đến cái khác. Nước mắt tuôn rơi cũng do cái tưởng của mình. Xót xa cho lắm cũng từ cái tưởng của mình. Thực tế, mọi sự chấm dứt đã lâu. Hiện tại đều chỉ do tưởng. Nhưng không mấy ai chú ý điều đó. Thành tưởng tự do. Hoài niệm thật nhiều. Thọ, tưởng, hành, thức, Phật nói hư vọng, nhưng nhờ tài năng tơ tưởng của mình, thành có chân rết, lòng thòng rối rắm gỡ mãi không ra. Lấy đó mà sống. Vui buồn theo đó mà đi, có khi tự tử. 

Mẹ nếu còn đó, thấy con xót xa mẹ vui hay buồn? Thường thì chẳng mấy ai vui. Cha mẹ ít khi đòi hỏi con cái phải khổ hay khóc vì mình. Nụ cười của con chính là sức sống của mẹ. Vậy buồn ích chi? Ừ, thật chẳng ích chi khi sống với cái quá khứ không mấy sáng sủa của mình. Thử làm cái gì để mình không buồn mà cha mẹ vui? 

Cúng dường làm phước hồi hướng cho mẹ cho cha. Trong nhà thuận hòa thì cha mẹ vui. Một niệm niệm Phật hồi hướng một niệm. Một thời tọa thiền hồi hướng một thời tọa thiền. Niệm niệm niệm Phật hồi hướng niệm niệm niệm Phật. Niệm niệm tọa thiền hồi hướng niệm niệm tọa thiền. Ðược chút gì hồi hướng chút đó. Tích lâu thành nhiều. Giống như tạng thức của mình. Cũng nhờ tích lâu mà thành tạng thức. Bây giờ không tích mấy thứ “bậy bạ” nhiễm ô mà tích công đức trí tuệ thì kho tạng thức biến thành kho tàng Như Lai. Ba cõi khổ nạn liền thành cõi giới Phật Tổ. 

Một ngọn đèn dầu của người không của, quí gấp vạn lần mấy cây vàng ròng của người muôn của. Thành cứ yên tâm mà tích. Ðừng nghĩ nó ít mà “Thôi cúng chi!” hay “Ðợi đủ duyên rồi tu luôn thể”. Uổng lắm! Trí tuệ công đức tu hành tính trên từng niệm, đợi chi mà đợi. Không nghe Tổ nói “Niệm trước mê là chúng sinh, niệm sau giác là Phật” sao? Ðợi chi mà đợi. Bòn được chút nào hay chút đó. Ðừng hẹn ngày mai. Tu được lúc nào hay lúc đó. Ðừng đợi “đủ duyên”. Chịu tu thì duyên liền đủ. 

Bòn rồi hồi hướng. Hồi hướng không chỉ cha mẹ một đời. Hồi hướng khắp tất cả thời. Hồi hướng không chỉ cho cha mẹ mình. Mà cho tất cả. Mình vui và cha mẹ vui, không chỉ một thời mà tất cả thời. Cúng ít nhưng nhờ cái tâm bao dung rộng lớn mà trở thành nhiều. Hiện tại mà sống. Quá khứ mà chi? 
 
 

08-09-2008 12:13:34
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx