THẤY
GÌ QUA HÌNH ẢNH VU LAN BỒN
Chân
Hiền Tâm
Cách
đây mấy ngàn năm, ngài Mục Kiền Liên đã thỉnh cầu Thánh
chúng cầu siêu cho mẹ. Nhờ lễ cầu siêu ấy, bà thoát kiếp
ngạ quỉ, sinh vào thiên giới. Nói chính xác, nhờ lòng hiếu
hạnh và nội lực của hàng Thánh chúng tác động, bà mở
lòng buông bỏ tham sân, nên mới thoát được kiếp ngạ quỉ.
Sự buông bỏ và mở lòng đó là NHÂN khiến bà sanh thiên.
Những thứ còn lại chỉ là trợ DUYÊN. Nhân duyên hội đủ
quả mới thành hình.
“Tam
giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Ba cõi không ngoài tâm.
Vạn pháp đều do phân biệt tạo tác mà có. Một thế giới
tranh tàn đau thương hay hạnh phúc ấm no, tùy thuộc vào những
gì mà người ở thế giới đó tạo ra trong quá khứ. Ai tạo
nhân, đủ duyên người ấy gặt quả. Không tạo nhân, dù
duyên nhiều bao nhiêu, cũng không có quả để gặt. Vì thế,
khủng bố tràn lan nhưng không phải ai cũng bị tai họa vì
khủng bố. Không phải có sóng thần thì ai cũng chết vì sóng
thần. Y học tiến triển rất mực, nhưng không phải vì thế
mà mọi bệnh tật đều được cứu chữa. Vẫn có người
chết vì sự tiến bộ của khoa học. Khoa học mang lại rất
nhiều lợi ích, nhưng tác hại từ nó cũng không nhỏ. Bởi
mọi thứ còn tùy thuộc vào suy nghĩ và hành động của từng
người. Cái quả mình nhận được luôn tương thích với cái
nhân mình đã rạo ra trong quá khứ. Có thể là trong hiện
đời, có thể là trong tiền kiếp. Ðã có quả tức phải
có nhân, không có chuyện tự nhiên. Từ mình mà ra, nên phải
tự mình giải quyết vận mệnh của mình. Các thứ bên ngoài
chỉ là trợ duyên giúp mình giải quyết cái nhân, mình đã
gầy tạo trong quá khứ.
Một
lần đi dạo cùng thiền sư Phật Ấn, Tô Ðông Pha thấy tượng
Quán Thế Âm cầm chuỗi niệm Phật, ông hỏi :
- Quán
Thế Âm là người để ta lễ bái, vì sao trên tay còn cầm
chuỗi niệm Phật?
- Ðó
phải hỏi chính ông
- Sao
con biết niệm ai?
- Niệm
Quán Thế Âm chứ ai!
- Sao
lại phải niệm mình?
- Vì
cầu người không bằng cầu mình.
Cầu
người không bằng cầu mình, vì mình là kẻ gieo nhân mà cũng
là kẻ thừa hưởng cái nhân ấy. Không có gì thay đổi, khi
tâm mình còn đầy tham dục và sân hận. Mọi thứ chỉ thay
đổi khi suy nghĩ và hành động của mình thay đổi. Không
thể có một hoàn cảnh tốt đẹp, khi thân khẩu ý của mình
hoàn toàn bất thiện. Niệm Phật cầu tha lực, là lấy một
niệm Phật trừ đi một niệm ác. Niệm niệm niệm Phật là
để niệm niệm hành thiện. Tha lực mới hiển. Cầu tha lực,
mà không niệm Phật cũng không dừng ác hành thiện, thì chưa
từng có tha lực nào ứng được.
Nhận
ra được điều ấy, mình sẽ hạn chế bớt những đổ thừa
trách cứ, cũng như hạn chế bớt những tư tưởng và hành
động vị kỷ. Chư Tôn đức có lập đàn tràng tế độ nhân
sinh, thì cũng như Mục Kiền Liên, vì hiếu từ mà thỉnh cầu
chư Tăng độ mẹ, hy vọng thế giới bình an, người sống
hạnh phúc, người chết siêu thăng. Nhưng nếu mỗi người,
sống cũng như chết, không tự buông bỏ tâm vị kỷ của
chính mình, như bà Thanh Ðề buông bỏ tâm tham hận, thì mọi
thứ vẫn y nguyên, không có gì thay đổi. DUYÊN cầu nguyện
bên ngoài dù đủ mà NHÂN bên trong của mỗi người không
tốt, thì mọi thứ vẫn hoàn không.
Cho
nên, lập đàn tràng tế độ nhân sinh không phải để cầu
cho khủng bố thiên tai hay hoạn nạn hết hoành hành, mà chính
là cầu cho mọi người chúng ta có cái nhìn đúng đắn về
thực lý Nhân Duyên đang chi phối thế giới này, cầu cho tất
cả chúng ta phát tâm hướng thiện và hành thiện. Tâm bớt
bạo tàn tham dục, thì khủng bố thiên tai mới có ngày chấm
dứt. Khủng bố dẹp rồi mà tâm con người không hết tham
sân, sẽ có các loại nạn tai khác xảy ra cho tương thích
với những gì mà nhân loại đã gieo ...
XIN
MỘT CHÚT TỪ TÂM
Chân
Hiền Tâm
Nhân
duyên giữa mẹ chồng và chị không thuận chiều. Chị nói
chuyện đâu đâu với thiên hạ, bà cũng đùng đùng nổi giận
rồi chì chiết chị. Bà tiếc từng trái cam, gói mứt với
chị. Biết cái duyên giữa mình và bà không thuận. Phận dâu
con, chị làm được gì cho bà thì làm, không thì thôi. Nín
nhiều hơn nói. Chuyện người ta đặt điều cho chị, bà nói
bóng nói gió, chị cũng cho qua không màng đính chánh để miệng
khỏi mở. Cực chẳng đã mới phải mở miệng. Ðã cực chẳng
đã mới mở miệng, thành mở miệng ra là trăm phần trăm
có chuyện …
Trước
khi đi chùa, bà còn lớn tiếng đay nghiến “Nhớ lại quá
khứ mày ra sao đi!”. Biết duyên không thuận, nhưng vì từ
lâu chị coi ông bà như cha mẹ ruột, thành cái gọi là “nhân
duyên không thuận” chị cũng quên tuốt. Nhưng quên, không
có nghĩa duyên nghịch giữa chị và bà đã hết. Thành ra chuyện
không dính gì đến bà, bà cũng đùng đùng nhập cuộc to tiếng.
Bà đã mở miệng đuổi chị liên tục. Chị vẫn bình thường.
Nhưng đến cái câu nhớ lại quá khứ … mọi thứ tan hoang.
Nó như công án của vị thiền sư khai tâm đệ tử. Bùng vỡ
tất cả. Chị thấy mọi thứ nguội lạnh. Không còn có gì
để nói và làm. Vô tác ngay từ suy nghĩ cho đến hành động.
Ðương nhiên không phải theo kiểu thiền sư đại ngộ. Ðược
vậy thì còn gì bằng!
Mới
biết vì sao Phật dạy tha thứ. Nếu không tha thứ, duyên nghịch
giữa mình và người không bao giờ hết. Bởi còn ứ đó,
nên người ta nói gì về chị bà cũng tin, chị nói cái gì
ra bà cũng thấy khó chịu.
Chị
không thể hiếu hạnh theo kiểu cung cấp tiền bạc nuôi dưỡng
ông bà. Bởi tiền nuôi con chật vật. Có khi em chồng còn
phải cho thêm. Ông bà lại quá dư giả. Chị chỉ biết gói
gọn công việc hằng ngày để có thời gian thăm hỏi, phụ
ít công sức khi ông bà đau, an ủi tinh thần khi nhà có chuyện.
Chị làm những gì có thể, đến khi hết sức. Quá khứ như
thế chắc không đến nỗi để phải nhắc nhở. Nhất định
không phải cái khoảng quá khứ đó rồi. Chắc là khoảng
trước ...
Cái
khoảng chị mới lấy chồng làm dâu, sinh con đầu lòng. Cái
khoảng Cần Ðước nước dâng theo mùa. Không nhớ sáng nước
lên, chiều nước xuống hay chiều nước lên, sáng nước xuống.
Chỉ nhớ nước bữa xuống bữa lên. Nước xuống đi bộ.
Nước lên đi thuyền. Cái khoảng non ngày non tháng thăm chồng
tù tội, nước lội buốt xương. Cái khoảng cặm cụi cực
nhọc từ Long An sang Cần Ðước, lúc một mình, lúc với mẹ
chồng. Chắc khoảng này đây. Cái khoảng chị khổ không sao
kể xiết. Tiền bạc không có. Tinh thần thê lương. Khổ nếu
từ trước, có khi lại ít thấy khổ. Con gái nhà lành chưa
từng lặng lội, khổ tăng rất nhiều.
Ðầu
năm, chị sửa soạn cho con và cả cho mình. Gắng vui, gắng
cười, đè nén cảm nhận lẽ loi khi thấy người người vui
cười chúc tết lẫn nhau. Hy vọng năm mới bắt đầu tốt
đẹp. Hy vọng mọi thứ buồn phiền năm cũ qua đi. Anh rồi
sẽ về. Nhưng cha chồng không chịu. Ông không muốn con dâu
vui cười dù chỉ là nụ cười gượng khi con ông đang còn
trong tù. Mùng một, ông làm bài thơ tặng cháu. Chị hăm hở
đọc thơ. Mọi dồn nén trong lòng vỡ ùa. Chị ôm con khóc
suốt...
Da
lành, muối xát bao nhiêu cũng không rát. Da đang lỡ, muối
rát vô cùng.
Mẹ
chồng lại càng khó chịu. Chị phải lãnh những chuyện chị
không hề làm. Bà nói “Nó quăng tả lót con nó sai tui phải
giặt”. Bà kêu “Tại nó mà tui bị chửi” v.v... Chị phải
lãnh những chuyện không phải do lỗi của chị. Cứ như chồng
khổ là do ở chị. Cứ như thất bại của anh là do lỗi chị
làm. Những gì anh tình nguyện làm cho chị, trở thành cái
gai trước mắt ông bà. Khổ này chồng khổ kia, chị như con
trâu điên, vùng mình phản khán.
Người
ta chỉ thấy được sự phản khán của chị, mà không thấy
vì sao chị trở thành như thế. Nếu công bình bác ác một
chút, liệu chị có thế không? Chị đã hỏi đức Phật vạn
lần. Nhưng chẳng có gì ngoài ánh mắt hiền từ và nụ cười
đỏ chói nửa như an ủi, nửa như giễu cợt của ngài.
Mọi
người nói với chị “Những gì mình phải chịu trong hiện
tại là do nghiệp mình đã tạo ra trong quá khứ”. Chị không
biết nghiệp là gì. Nhưng dù là gì, chị cũng không chấp
nhận điều đó. Vì sao phải bắt con cái hiếu hạnh
khi cha mẹ không có tình thương và xử sự thiếu công bằng
với chúng? Chị không tin Phật dạy những điều bất công
như thế. Nhưng chị không biết làm sao hỏi Phật, khi Phật
chỉ nhìn chị cười mà không trả lời.
Chỉ
có một câu trả lời khiến chị an lòng: “Cha mẹ con thiếu
từ tâm. Giá mà ông bà có chút từ tâm thì chắc con không
đến nỗi đau khổ như thế. Mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn”.
Lời nói đi kèm với một ánh mắt thương yêu, khiến chị
càng thấy tin tưởng. Nỗi đau của chị vừa được xoa dịu
Không có từ tâm thì nói không có từ tâm. Ðừng nói do nghiệp
của chị. Ít nhất cũng có một người nói đúng “sự thật”
với chị.
“Thử
nhớ lại coi, trước đây đã có khi nào con đối với ai thế
không. Trong một hoàn cảnh khốn khó, nhưng con lại hơi thẳng
tay chẳng hạn”. Chị nhớ. Không cần phải moi móc nhiều.
Bà mợ của chị một tay nuôi ba đứa con thơ. Chồng đi học
tập. Thay vì để bà nương nhờ tiếp tục. Chị đã nói mẹ
phát gạo cho bà nấu cháo, tạo sự tự lập. Không thể cứ
sống nương nhờ vào mẹ khi mẹ đang sắp cạn kiệt. Cái
lý thì đúng, nhưng tình thì không. Việc đó xảy ra nếu sớm
một chút hay trễ một chút chắc không đến nỗi. Nhưng ngay
lúc đó thì quả tàn nhẫn. Cái lúc người ta cần mình, mình
lại đối xử vứt bỏ. Nhưng thường mình hay như thế. Giải
quyết sự việc sao cho theo lý của mình, mà ít quan tâm đến
nỗi đau khổ của người.
Chỉ
trừ Bồ tát. Còn lại, một người khỏe mạnh, khó hiểu
được nỗi mệt nhọc của kẻ đau yếu. Một người hạnh
phúc khó hiểu được nỗi khổ đau của kẻ bất hạnh. Mình
theo lý riêng của mình nên mình đánh mất cái tình. Chị nhớ
không mấy khó khăn những việc như thế. Chị thiếu một
sự cảm thông. Chị ít đặt mình vào chỗ của người khi
phải giải quyết sự việc. Sự thiếu từ tâm chị phải
trả giá.
Buồn
phiền uất hận tan theo lời nói nhẹ nhàng “Nỗi đau của
người rất lớn. Trải qua một chút để biết thương yêu
và biết cảm thông”. Chị hết thấy hận. Nếu không biết
đạo, con người sẽ như con tằm làm kén. Tự nhả tự trói
không biết ngày nào mới thôi. Nỗi oán hận này kéo theo nỗi
oán hận kia, không biết bao giờ mới hết. Thành tâm cảm
ơn trời Phật đã cho chị gặp hoàn cảnh như thế để mà
tỉnh ngộ.
Ừ!
Trải qua một chút để biết cảm thông ...
Chị
không đòi hỏi con cái hiếu thảo với mình. Chỉ luôn tự
hỏi mình đã làm gì cho chúng? Chị không còn trách sao con
không thích gần mẹ. Chị chỉ tự hỏi vì sao nó không thích
gần? Luôn có câu trả lời cho những vấn đề như thế để
chị thay đổi. Nếu không, chị cũng không buồn, vì đã làm
hết sức mình.
Ừ!
Trải qua một chút để biết thương yêu ...
Hai
tiếng mẹ cha trở nên lớn lao, là do sinh thành dưỡng dục.
Không có công sinh công dưỡng, đức Phật đã không ca ngợi
hai tiếng mẹ cha như vậy. Cũng không nói đến hiếu hạnh
như việc bắt buộc. Cho nên, khi dâu hay rễ gọi chị tiếng
mẹ, chị thấy mình có bổn phận với chúng nhiều hơn chúng
có bổn phận với mình. Bởi chị không sinh không dưỡng.
Chị muốn xứng đáng với một từ mẹ thiêng liêng mà chúng
đã dành gọi chị.
Người
ta tưởng dâu là con gái chị. Bởi chị không muốn giẫm chân
vào vết mà người đã đi. Con trai mình nhậu không sao, nhưng
con rễ nhậu thì chì chiết khó chịu vô cùng. Chị sợ cái
cảnh nhà chồng hay nhà vợ xúm lại hội đồng xua đuổi
dâu rễ. Chị sợ cái cảnh ta thán con dâu trong khi con mình
cũng chẳng hơn ai. Chị không muốn thế. Chị muốn hiện tại
mọi thứ tương đối công bằng. Mọi thứ phải được giải
quyết trong sự cảm thông yêu thương dù chỉ tương đối.
Và
rồi chị hiểu, dù cha mẹ có như thế nào, đức Phật cũng
khuyên mình phải hiếu hạnh và khuyên cha mẹ yêu thương dạy
bảo con cái. Không phải đức Phật bênh vực cha mẹ. Chỉ
là vì muốn giúp người chấm dứt những vòng nhân quả khắc
nghiệt.
Do
thời mạt pháp, con người dễ vướng vào tham, sân, si. Thứ
gì cũng chỉ tập trung cho mình và cái mình thích. Cái gì thích
thì thứ gì cũng cho. Cái gì không thích thì xua thì đuổi.
Từ tham chấp đó, quan hệ cha mẹ con cái trong một gia đình
có khi không phải “máu huyết thâm tình” mà là một sự
trả vay oan nghiệt. Nếu mình không tỉnh, cứ theo cái đà
oan nghiệt mà đi, thì vòng nhân duyên oán ghét lẫn nhau cứ
thế luân hồi. Kiếp sau gặp nhau lại oán lại ghét, ngày
càng không thuận, đưa đến kết quả đáng thương như nay
vẫn thấy: Con giết cha, vợ giết chồng…
Viết
ra điều này, tôi cũng đang làm một chuyện không nên: Khơi
lại quá khứ của người. Nhưng dù không khơi, nó vẫn âm
thầm hiện diện đó thôi. Chẳng qua một bên sống đạo,
thành không có duyên để nó phát khởi, không phải duyên nghịch
đã hết. Chi bằng khơi lại đầy đủ để hiểu nhân duyên
nhân quả trong đời. Không phải chỉ để chị hiểu hay mẹ
chị hiểu, mà để tất cả mọi người chúng ta cùng hiểu.
Ðể thấy đến chùa, cúng dường làm phước không thôi chưa
đủ. Cần hiểu giáo pháp Phật dạy. Bố thí cúng dường
thì được phước báu giàu sang. Nhưng thiếu trí tuệ, có
khi chính cái giàu sang giúp mình tạo nghiệp. Bởi nghèo có
khi là duyên giúp mình an phận hiền lành, không dám mở miệng.
Nhờ vậy mà ít tạo nghiệp. Giàu sang quyền hành, tha hồ
miệng lưỡi, tạo nghiệp không ít. Cho nên, cúng dường bố
thí chưa đủ mang lại hạnh phúc cho mình. Cần hiểu nhân
duyên nhân quả chi phối cuộc đời thế nào mà tránh.
Duyên
nếu không thuận, việc gì cũng buồn. Cái tốt mình làm trong
đời đều thành công cóc với người. Nhưng trên phương diện
âm đức thì không. Nó đang âm thầm hóa giải nghịch duyên
cho mình. Ðừng nản! Kiếp này chưa xong, kiếp sau cũng hết.
Hy vọng cái khoảng “tan hoang nguội lạnh” của chị sẽ
được ánh đạo sưởi ấm như từng giúp chị đánh tan uất
hận trước đây của mình. Ðể khoảng nghịch duyên chấm
dứt. Kiếp này ấm áp. Kiếp sau an bình.
Thôi
thì, tùy duyên tiêu nghiệp cũ và xin … một chút từ tâm,
há chị !
QUÁ
KHỨ MÀ CHI!
Chân
Hiền Tâm
Hồi
chưa tới chùa, tôi gặp sư Hưng. Sư tu Nam Tông. Thương con
cứng đầu này lắm. Cứ dạy: “Con phải quán người nam
như cha, người nữ như mẹ”. Chắc trừ ái dục và sinh lòng
từ. Nhưng quán cách mấy nam vẫn là nam, nữ vẫn là nữ.
Thương ghét vẫn cứ rõ ràng. Mọi thứ ù lỳ như cũ. Như
nước đem đổ đầu vịt, trôi tuốt tuồn tuột.
Một
lần có chuyện. Trong chuyện, người nam người nữ nhỏ tuổi
hơn mình. Bỗng nghĩ chúng như con gái của mình. Mọi thứ
xả hết, lòng từ chan hòa. Trò này coi bộ xài được. Từ
đó, hở cái là quán “hắn” như con trai con gái của mình.
Mọi thứ êm xuôi. Mới thấy mình thương cha mẹ không bằng
cha mẹ thương con. Thành cha mẹ còn, gắng thương cho tròn.
Cái gì thấy ngon mà không hại vật hại người thì cho ăn
đi. Ðừng đợi chết rồi làm cỗ cho lớn. Ăn uống chi được
mà cúng cho lớn. Mọi thứ thịnh soạn mà ăn không được,
thêm buồn!
Cha
chết tôi không thấy buồn. Thấy bà con khóc, khóc theo cho
vui. Không biết có phải vì tuổi 12 quá nhỏ, hay vì khi còn
sống cha quá nghiêm khắc, lũ tôi phải ăn đúng giờ ngủ
đúng giấc, hết phải học cái này rồi đến học cái khác
mà cớ sự ra vậy hay không. Chỉ biết cha chết tôi không
hứng khóc. Ðêm đêm nằm canh quan tài, ruột cứ quặn lên
từng hồi không có duyên cớ.
Mẹ
mất, tôi cũng không buồn. Vài giọt nước mắt đồng hành
cùng với người thân, nhưng lòng thì vẫn dững dưng. Thiêu
bà xong, tôi đi khắp các chùa gởi bì thơ cầu siêu. Kinh nói
tụng tám vạn biến chú vãng sanh, cha mẹ được siêu thăng.
Tôi cắm đầu cắm cổ tụng cho hết tám vạn biến. Dư chút
đỉnh, phòng cho thiếu sót …
Mọi
thứ qua đi bình thản như chưa từng có việc gì xảy ra. Trừ
lúc tiếng còi cứu thương đâu đó ngoài phố vọng vào. Ruột
lại quặn lên như thời nằm canh ông bô trong chùa. “Ðoạn
trường ai có qua cầu mới hay”. “Trường” này có phải
là “dồi trường heo” không nữa? Chắc là nó quá! Cái ruột
quặn lên quặn xuống như bị cắt ra từng khúc, nên gọi
đoạn trường? Chắc cũng đâu đó.
Ăn
cái gì ngon, chợt thấy xót xa. Kinh tế gia đình ngày trước
khó khăn, mọi thứ đều phải chắt bóp nuôi con, lấy đâu
ra tiền mà ăn đồ ngon, đồ bổ. Nghĩ tới, nước mắt muốn
trào ...
Nghĩ
quanh nghĩ quẩn thêm buồn. Quá khứ đã qua. Người chết đã
chết. Hiện tại chỉ còn cái tưởng của mình. Hết nhớ
cái này rồi đến cái khác. Nước mắt tuôn rơi cũng do cái
tưởng của mình. Xót xa cho lắm cũng từ cái tưởng của
mình. Thực tế, mọi sự chấm dứt đã lâu. Hiện tại đều
chỉ do tưởng. Nhưng không mấy ai chú ý điều đó. Thành
tưởng tự do. Hoài niệm thật nhiều. Thọ, tưởng, hành,
thức, Phật nói hư vọng, nhưng nhờ tài năng tơ tưởng của
mình, thành có chân rết, lòng thòng rối rắm gỡ mãi không
ra. Lấy đó mà sống. Vui buồn theo đó mà đi, có khi tự tử.
Mẹ
nếu còn đó, thấy con xót xa mẹ vui hay buồn? Thường thì
chẳng mấy ai vui. Cha mẹ ít khi đòi hỏi con cái phải khổ
hay khóc vì mình. Nụ cười của con chính là sức sống của
mẹ. Vậy buồn ích chi? Ừ, thật chẳng ích chi khi sống với
cái quá khứ không mấy sáng sủa của mình. Thử làm cái gì
để mình không buồn mà cha mẹ vui?
Cúng
dường làm phước hồi hướng cho mẹ cho cha. Trong nhà thuận
hòa thì cha mẹ vui. Một niệm niệm Phật hồi hướng một
niệm. Một thời tọa thiền hồi hướng một thời tọa thiền.
Niệm niệm niệm Phật hồi hướng niệm niệm niệm Phật.
Niệm niệm tọa thiền hồi hướng niệm niệm tọa thiền.
Ðược chút gì hồi hướng chút đó. Tích lâu thành nhiều.
Giống như tạng thức của mình. Cũng nhờ tích lâu mà thành
tạng thức. Bây giờ không tích mấy thứ “bậy bạ” nhiễm
ô mà tích công đức trí tuệ thì kho tạng thức biến thành
kho tàng Như Lai. Ba cõi khổ nạn liền thành cõi giới Phật
Tổ.
Một
ngọn đèn dầu của người không của, quí gấp vạn lần
mấy cây vàng ròng của người muôn của. Thành cứ yên tâm
mà tích. Ðừng nghĩ nó ít mà “Thôi cúng chi!” hay “Ðợi
đủ duyên rồi tu luôn thể”. Uổng lắm! Trí tuệ công đức
tu hành tính trên từng niệm, đợi chi mà đợi. Không nghe
Tổ nói “Niệm trước mê là chúng sinh, niệm sau giác là
Phật” sao? Ðợi chi mà đợi. Bòn được chút nào hay chút
đó. Ðừng hẹn ngày mai. Tu được lúc nào hay lúc đó. Ðừng
đợi “đủ duyên”. Chịu tu thì duyên liền đủ.
Bòn
rồi hồi hướng. Hồi hướng không chỉ cha mẹ một đời.
Hồi hướng khắp tất cả thời. Hồi hướng không chỉ cho
cha mẹ mình. Mà cho tất cả. Mình vui và cha mẹ vui, không
chỉ một thời mà tất cả thời. Cúng ít nhưng nhờ cái tâm
bao dung rộng lớn mà trở thành nhiều. Hiện tại mà sống.
Quá khứ mà chi?
08-09-2008
12:13:34