Lời Giới
Thiệu
He's
Leaving Home, quyển tự truyện của tác giả Kiyohiro Miura, đã
được giải thưởng đặc biệt AKUTAGAMA của Nhật. Quyển
sách miêu tả về sự mâu thuẩn trong tình cảm của các bậc
cha mẹ có con xuất gia: Họ tự hào vì con đường cao
quí con mình đã chọn, đồng thời đau khổ vì sự chia ly,
vì quyết định quá sớm, quá đột ngột của con mình.
Quyển
sách này tôi dịch năm 1999, giờ hiệu đính lại để tái
bản. Do duyên lành, một lần tôi được tổ chức Thiện
Nguyện Quốc Tế Nhật Bản – Niigata International Volunteer Centre
(NVC) mời sang thăm Niigata, Nhật Bản. Rồi một buổi
lang thang trong nhà sách, tôi đã ‘bắt gặp’ quyển tự truyện
này. Dĩ nhiên phải cảm ơn Jeff Shore đã chuyển ngữ
qua tiếng Anh.
Mỗi
khi nhìn một bóng áo nâu, áo lam, áo vàng, tôi vẫn thường
tự hỏi do duyên gì, hoàn cảnh nào, họ đã chọn con đường
xuất gia. Vì đối với tôi, đó là một sự chọn lựa
cao cả, đáng ngưỡng vọng và đầy ‘huyền bí’. Tự
truyện của Kiyohiro Miura, dầu cá biệt, cũng phần nào chia
sẻ với độc giả về một cơ duyên của người xuất gia.
Một câu chuyện cảm động, chân thực.
Diệu
Liên Lý Thu Linh
9/2007
VỀ
TÁC GIẢ
Tác
giả Kiyohiro Miura, sinh năm 1930 tại Hokkaido. Sau khi
ghi danh học Sư phạm tại Ðại Học Tokyo, ông lại sang Mỹ,
tốt nghiệp ngành Sáng Tác (Creative Writing) ở Ðai học
Iowa. Hiện là giáo sư ở Ðại học Meiji, ngành kỹ sư.
Oâng cũng sáng tác nhạc, có một số tác phẩm như: Bài Ca
California (California Song), Trong Sương Mù Anh quốc (Into the English
Fog), Nước Mỹ Và Tôi (Literary Training for The Spirit: America
and Me).
VỀ
DỊCH GIẢ TIẾNG ANH
Jeff
Shore, sinh ra và lớn lên ở Philadelphia, đã nghiên cứu
và hành Thiền trong hai mươi lăm năm, mười lăm năm cuối
là ở Nhật. Hiện ông là Giáo sư Anh văn và Thiền Phật
giáo ở Ðại học Hanazono ở Kyoto. Oâng đã viết nhiều
sách và thuyết giảng nhiều về Thiền. Các bài dịch
ra Anh ngữ của ông xuất hiện trên các tờ bào Phật giáo
và văn hóa Nhật uy tín như tờ Chanoyu Quarterly và tờ The Eastern
Buddhist.
Phần I
Lần
đầu tiên, khi con trai tôi nói muốn đi tu, tôi rất ngạc nhiên.
Ðó là một buổi sáng chủ nhật, đầu xuân, khi chúng tôi
như lệ thường đang trên đường đến thiền viện.
Năm học mới sắp khai giảng, và nó sửa soạn vào lớp Ba.
Khi đang đi với nhau, nó bỗng ngước lên nhìn tôi và nói:
"Cha, làm ơn xin với Thầy dùm con".
Ðó
là lần đầu tiên con trai tôi hỏi xin một điều gì giống
như thế. Thường nó chẳng nói gì, trừ khi được hỏi
đến. Mà hình như ý nghĩ muốn xuất gia không phải vừa
chợt thoáng qua đầu nó. Tôi có cảm tưởng như nó đã
nghiền ngẫm về điều đó một thời gian, và bây giờ mới
nói ra.
Tuy
nhiên, tôi cũng không coi điều yêu cầu đó là nghiêm chỉnh.
Trước hết là vì tôi bất ngờ. Dầu tôi vẫn dắt nó
theo trong các buổi tọa thiền, nhưng tôi chưa bao giờ bắt
nó ngồi thiền. Tôi dẫn nó theo giống như là hai cha
con đi chơi công viên nào đó. Hai nữa là vì nó đang
theo dõi chương trình "Ikkyu-san" trên truyền hình, một chương
trình hoạt hình về một thiền sư Nhật. Vì thế sau
đó tôi quên khuấy đi lời yêu cầu của nó.
Nhưng
con trai tôi thì không. "Thưa cha, cha đã thưa với Thầy
về chuyện đó chưa?”
Lần
đó cũng vào một buổi sáng chủ nhật, hai hay ba tuần sau,
cũng vào lúc chúng tôi đang trên đường đến chùa. Tôi
chợt nhận ra cũng cái nhìn van xin, lo lắng như lần trước.
Mỗi chủ nhật, sau giờ tọa thiền, chúng tôi hay ở lại,
thọ trai, trò chuyện thân mật với vị trụ trì. Những
lúc như thế, gương mặt phụng phịu của con tôi như thúc
giục, "Kìa cha. Sao cha không hỏi Thầy đi?"
Vì
thế, hôm ấy ở bàn ăn, tôi nói, trong tiếng cười, "Hình
như con trai con muốn xin xuất gia!". Làm được vậy, tôi
coi như đã tròn lời hứa với con.
"Vậy
sao?" Vị trụ trì nói, rồi quay nhìn con tôi, nở nụ
cười thân thiện, "Con sẽ là một tu sĩ tốt chứ?"
"Dạ
có," con trai tôi trả lời với cái gật đầu sốt sắng.
Tôi
hơi sững lại; không ngờ câu chuyện lại xoay theo chiều hướng
đó. Tôi ngỡ là vị trụ trì cũng coi đó là chuyện
trẻ con, một câu nói đùa thôi. Nhưng đối với Ni Sư
trụ trì, chuyện đó không phải chuyện đùa. Tôi đã
quên là Sư trụ trì luôn nghiêm chỉnh trước mọi việc, kể
cả những chuyện của trẻ con. Tôi vội vàng nói đỡ:
"Thưa Thầy, nhưng nó còn đang học tiểu học, ai mà biết
nó sẽ thay đổi lúc nào? Chắc là vì nó đang xem chương
trình hoạt hình gì đó mà. Thôi, ta hãy bàn đến chuyện
đó sau khi nó học xong tiểu học".
"Có
phải vì con đang coi phim hoạt hình Ikkyu-san không?", vị trụ
trì hỏi, dịu dàng nhìn vào mắt đứa trẻ. Nó lắc
chiếc đầu nhỏ bé của mình, nói Không.
"Hay!
Hay lắm! Nhưng con còn nhỏ lắm. Hãy chờ khi con
lớn hơn". Rồi Ni Sư trụ trì nói với nó về các bổn
phận của người tu trong chùa, nhưng trong cách nói của người,
không phải là của một người lớn nói xuống với đứa
trẻ.
Từ
đó, mỗi khi nói về con trai tôi, Ni Sư hay nhìn vào mắt con
tôi, rồi trêu chọc, nói những lời như "Này Ryota, con chắc
chắn sẽ làm tu sĩ chứ?" hay, "Nè, chú tiểu nhỏù! Con
có siêng học không?"
Sau
đó, tôi bắt đầu nói, "Phải đợi đến sau khi nó xong trung
học, Thầy ạ".
Nhưng
tôi vẫn lo vì thấy Ni Sư trụ trì có vẻ nghiêm chỉnh quá
về chuyện này.
Một
ngày kia trên đường từ thiền viện về, tôi nói: "Nếu con
trở thành một tu sĩ, con phải làm hết mọi thứ trong chùa,
từ quét dọn, lau chùi, cọ rửa -nhiều việc lắm đó.
Nếu phải làm những thứ đó, con còn muốn đi tu không?"
Nhưng
con trai tôi, thích làm các công việc nặng nhọc, thể thao,
hay mỹ thuật hơn là học hành, gật đầu, mặt làm nghiêm,
nói: "Dạ muốn".
Khi
nó lên lớp bốn, năm rồi sáu, tôi tiếp tục hỏi nó về
việc đó. Nhưng câu trả lời của nó không hề thay đổi.
Lúc nào cũng "Dạ muốn". Không nói gì hơn.
Sau
khi nói muốn trở thành một tu sĩ, vào năm thứ ba bậc tiểu
học, con trai tôi nói muốn bắt đầu ngồi thiền như các
người lớn. Chúng tôi thường ngồi thiền ba buổi, mỗi
buổi bốn mươi lăm phút, nhưng chỉ sau vài phút là con tôi
bắt đầu xoay trở không ngừng, sau nó bỏ đi ra ngoài. Nhưng
rồi nó có thể ngồi lâu hơn: đầu tiên là một buổi, sau
đó hơn lên, cho đến lớp sáu thì nó có thể ngồi hết các
buổi lâu như người lớn. Nó ngồi trong tư thế kiết
già, và có thể xếp chân mà không cần dùng đến tay.
Có lẽ các vị thiền sư đầy kinh nghiệm cũng có thể ngồi
như thế, nhưng với những người như tôi, bắt đầu tu thiền
khi đã trung niên, không thể ngồi kéo chân lên mà không dùng
đến tay, mà ngay cả khi dùng tay, chúng tôi cũng phải thường
sửa đổi thế ngồi tới lui.
Tôi
nghĩ cơ thể con tôi dẻo dai vì nó còn quá nhỏ. Nhưng
ngoài chuyện làm sao nó có thể ngồi kiết già, chuyện lạ
hơn cả là, làm sao đứa trẻ này -con trai tôi, đứa mà lúc
nào cũng nhảy nhót, là đầu đảng của đám học trò phá
phách ở trường, nhưng lúc ở chùa, nó lại có thể trở
thành một người hoàn toàn khác như thế.
"Thì
cũng nhờ cha nó," mọi người nói. Một người cô thường
chăm sóc cho nó từ khi nó mới lọt lòng, nói với tôi giọng
đầy trách móc, "Nó trở thành như thế cũng do em đi chùa
hay dẫn nó theo!"
Ðiều
cô ấy nói cũng đúng, nhưng việc nó luôn vui vẻ đi theo tôi,
cũng đúng. Ngay chính việc đó cũng là lạ. Chưa
có bao giờ nó nói không muốn đi vì bận chơi với bạn bè.
Mỗi chủ nhật, nó đều cầm cái giỏ xách, trong đó có phần
cơm trưa của nó, giống như một ngày đi học, rồi trong khi
mẹ và em gái còn đang ngủ, nó ra đi với tôi. Tôi nghĩ
có lẽ vì nó thích được ngừng lại giữa đường ăn sáng
ở tiệm McDonald (Một loại tiệm bán thức ăn nhanh, chuyên
bán bánh mì hamburger nổi tiếng ở Mỹ) hay ở tiệm hủ tíu
cạnh nhà ga, nơi chúng tôi 'hút' những cọng bún gạo tròn,
nóng. Dầu vậy, khi đã đến chùa, đối với một đứa
trẻ cả ngày phải ở chùa như thế sẽ dài, và nhàm chán
biết bao!
Nó
sẽ làm gì từ lúc đến chùa cho đến khoảng hai giờ, khi
buổi tọa thiền chấm dứt để chúng thọ trai? Lúc đầu,
nó ngồi vẽ hình trên giấy bằng bút chì. Có lần, nó
bị rầy vì vẽ lên cửa kéo. Ðôi khi bác già phụ việc
trong chùa dẫn nó đi chợ hay đi bắt các con ve sầu.
Nhưng phần lớn thời gian nó phải ở một mình. Không
lẽ nó chỉ chơi với con dế quẩn quanh chỗ ở của vị trụ
trì, nơi có các ngôi mộ, các cây dại bao quanh mà không cảm
thấy buồn, cô đơn sao?
Nó
cũng có lấy mấy đồng tiền kẽm trong hộp công quả ra chơi,
hoặc đem giấu mấy tượng Phật nhỏ đâu đó, nhưng tôi
nghĩ những việc đó xảy ra cũng vì nó buồn chán. Nhưng
dầu nó có buồn chán bao nhiêu, với tư cách người làm cha,
tôi cũng chẳng giúp được gì. Người cha chỉ có việc
dẫn con đi về như một bổn phận. Và mỗi chủ nhật,
đứa con lại lẻo đẻo theo, không mảy may nghĩ ngợi gì.
Trong
một lần đi bách bộ, vợ tôi và tôi đã khám phá ra thiền
viện Zenkaiji. Sau gần mười năm lang thang ở Mỹ, tôi
quay trở về Nhật ở lứa tuổi ba mươi, cưới vợ và bắt
đầu sống trong khu chung cư mới được xây dựng ở ngoại
ô Tokyo. Sau khi dọn về chỗ mới, chúng tôi hay đi bách
bộ để biết thêm về các khu vực quanh đó.
Một
lần, khi lang thang đến một vùng đồi đã được san bằng,
chuẩn bị cho một công trình xây dựng nào đó, chúng tôi
chợt nhận thấy mình đang đứng trong khuôn viên một ngôi
chùa. Ðàng kia những bức tượng Jizo (Ðịa Tạng) nấp
dưới những sườn hoa huệ thoai thoải. Ở đấy, cũng
có các bức tượng Ðịa Tạng mất đầu, gãy tay bị chôn
lấp dưới đám cỏ dại. Sau chúng tôi được biết là
các bức tượng này đã bị đem vứt bỏ ở đây từ thời
kỳ Nhật hoàng chống Phật giáo, thời đại Meiji (1868 - 1912).
Dưới
chân đồi có một cây chérie to. Một túp lều nhỏ ở
dưới cây chérie, và xa hơn nữa là cổng chính vào chùa, có
lớn hơn, nhưng mái vẫn lợp bằng tranh.
Ngôi
chùa cổ dường như đã bị bỏ quên từ khi được xây đụng
khoảng bảy trăm năm về trước vào thời Kamakura (1185-1333).
May nhờ có các công trình xây dựng đang phát triển, ngôi
chùa như được làm mới lại. Ðồng thời cũng chính
những mảnh đất mênh mông đang được khai phá để xây dựng
nhà cửa lại làm cho ngôi chùa có nguy cơ bị "xóa sổ".
Thật là một quang cảnh lạ lùng.
"My
goodness! An old temple!" (Trời ơi! Một ngôi chùa cổ!) , tôi
buột miệng kêu lên bằng tiếng Anh, vì những lúc ngạc nhiên
hay thú vị bất ngờ hình như ngôn ngữ này lại dễ dàng
bật ra ở cửa miệng tôi, hơn là tiếng Nhật.
Vợ
tôi chỉ một mảnh gỗ mỏng đóng ở cột vào chánh điện,
nói: "Một thiền viện".
"Look
at it!" (Nhìn kìa!), tôi nói trong sự ngạc nhiên, vẫn dùng
tiếng Anh. Các nét chữ Hán trên mảnh gỗ gãy góc bạc
màu, gần như lẫn trong các thớ gỗ, khắc chữ: "Thiền đường
Zenkaiji".
"Khó
thể tưởng nổi !" Tôi kêu lên, ghé mặt nhìn qua khe
hở của cánh cửa đóng lỏng lẽo. Sự tăm tối làm
người ta nghĩ tới nơi ẩn náu của các giống chồn tinh.
Lần
khác chúng tôi trở lại, đi vào khu hậu đường của chùa,
nơi chúng tôi tưởng là bỏ hoang, bỗng một trong những cánh
cửa giấy rách bỗng vụt mở, và trước mắt chúng tôi, không
phải là một con chồn, mà là hình dáng một người trong chiếc
kimono cũ rách. Như vợ tôi miêu tả là "Một vị Jizo
hiện hình" -một sự mô tả rất chính xác cho khuôn mặt tròn
trĩnh, bầu bĩnh như trẻ con, với đôi mắt nhỏ, dài.
Ngay chính nước da nâu đen cũng giống như của một vị Ðịa
Tạng.
"Các
người định làm gì đó?", bóng người choàng chiếc áo cũ
nói lớn. Mới gặp lần đầu đã bị la, sau này chúng
tôi biết đó không phải là chuyện lạ, vì "vị thần" này
nổi tiếng hay la.
Bà
(vị Jizo này là một vị sư nữ) nghĩ là chúng tôi đến phá
cây cối hay gì đó. Thầy trụ trì (đáng lý tôi phải gọi
là Ni sư, nhưng vì bà quá năng nổ, mạnh mẽ đến nỗi không
có ai gọi bà như thế) rất quí cây kiểng, và đã sưu tầm
rất nhiều loại, trồng quanh trong chùa. Vì ai cũng có
thể đi vào khuôn viên chùa bằng nhiều lối, nên dầu không
phải để trộm cắp thứ gì, họ cũng thường dẫm đạp
lên cây cỏ. Những gã lang thang trên các xe gắn máy cũng
đã đặt chân đến đây, Ni Sư kể khi đã mời chúng tôi
bước vào khoảng sân đầy bóng nắng, nơi người pha trà,
hút ống điếu khi tiếp chuyện với chúng tôi.
Mấy
phút trước đó, khi Ni Sư vừa mở cửa ra, người đã nhìn
chúng tôi bằng cặp mắt nẩy lửa. Nhưng giờ, khi nói
cười với chúng tôi, khuôn mặt đó biến thành khuôn mặt
của một Jizo hiền hòa, thân thiện. Tôi không khỏi lo
ngại cho việc một sư nữ sống ở nơi hẻo lánh như thế
này một mình.
Nhưng
rồi tôi thấy khó thể tin đó là một vị sư nữ, khi bà
kể: "Có một gã thanh niên vào đây trên xe gắn máy, ta la
cho hắn một trận, đến nỗi hắn chạy bò càng, vứt cả
xe mà chạy, chắc là hắn tưởng gặp ma quỷ gì đó! Hì hì,"
Ni sư cười thành tiếng, giọng đục, rổn rảng.
Trước
đây một ngôi chùa cổ kính, đã được xây dựng trên mảnh
đất này từ thời Heian (794-1185) bởi Ðại sư Bodhisattva Gyoki.
Diện tích chùa trước đây mênh mông bao gồm cả vùng đất
này, nhưng nông dân cứ lấn đất làm ruộng. Sau thế
chiến thứ II, không có giấy đất hay sơ đồ đất chính
thức, vì thế khi có cuộc cải cách ruộng đất, phạm vi
đất chùa đã bị thu hẹp lại. Không có người trụ
trì, ngôi chùa dần đổ nát, vì thế dân trong vùng đã yêu
cầu Ni sư đến trụ trì, chăm sóc chùa. Ni sư đã thề
quyết phải trùng tu lại chùa trước khi nhắm mắt.
Trên
bức tường nham nhở vì mưa nắng, treo một tấm biển gỗ
với dòng Hán tự: "Hãy nhìn ngay dưới chân mình!".
Chậm
rãi, buông ra từng tiếng, Ni sư nói: "Hãy nhìn ngay dưới chân
mình - đó là cốt lõi Thiền". Rồi bà tiếp thêm: "Thời
bây giờ, ai cũng chăm chăm nhìn tới phía trước, lúc nào
cũng phía trước. Nhưng phải nắm mũi họ lại, bắt
họ phải chú tâm ngay dưới chân mình. Ðó là thiền
định, chẳng có gì hơn". Nói xong, Ni sư gõ gõ ống điếu
của mình trên khay thuốc.
"Thiền
là gì?"
Câu
hỏi đó đã luôn ám ảnh trong đầu tôi kể từ khi tôi còn
ở Mỹ. Ở nước ngoài, người ta dễ cảm thấy hụt
hẫng khi không hiểu biết về chính quê hương của mình.
Một lần tôi bị một người Mỹ hỏi thiền là gì, và tôi
không thể trả lời. Không, còn tệ hơn thế nữa, tôi
đã chế nhạo ông ta. Bởi thế câu hỏi đó đã đọng
lại tâm trí tôi mãi mãi.
Lúc
đó, tôi đang làm phiên dịch ở thành phố New York. Sống
gần Greenwich Village, tôi có thói quen vào các cuối tuần lang
thang từ các tiệm cà-phê nhạc jazz, đến các vũ trường,
các hộp đêm thoát y, hay những chỗ đại loại như thế.
Sống một mình ở Manhattan dễ làm người ta thấy rất cô
đơn. Nếu người ta có thể đo lường sự cô đơn như
thời tiết, thì ở Tokyo, nếu mặc áo quần dầy đủ, tôi
có thể chịu đựng được nhiệt độ thấp dưới mức đông
lạnh một chút. Nhưng ở Manhattan, tôi cảm thấy nhiệt
độ âm dưới số không rất nhiều. Ðút tay túi quần để
tìm chút hơi ấm truyền từ thân thể, tôi cảm thấy sức
sống thoi thóp trong tôi. Hình như người ta đã chôn giấu
sự cô đơn ngay trong lòng thành phố, nên dù quanh tôi có bao
nhiêu người, dù tôi đang ở đâu tôi luôn luôn cảm thấy
lạnh lẽo từ trong xương tủy. Và nếu tôi không giã
từ nó, có lẽ những bức tường xám đó sẽ chôn vùi tôi
không thương tiếc. Tôi thường lang thang như thể người
mộng du, đôi khi, cặp bồ với đám đàn bà. Có lẽ
tôi thèm hơi ấm của đồng loại.
Một
đêm kia, sau khi đã qua một vài hộp đêm, tôi khá say vì đã
phải kêu rượu mạnh thay vì trả tiền vào cửa. Bước
ra đường, tôi gặp hai thanh niên Mỹ.
"Thiền
là gì?", một người hỏi. Có lẽ vì tôi đang ngất ngưỡng
đi với một vẻ cô đơn xa vắng, giống như hình ảnh thiền
trong tâm trí họ. Mệt mỏi vì đã lang thang qua những
mê lộ ồn ào các hộp đêm, nơi da thịt được phơi bày
lộ liễu, giờ tôi bước đi trên đường với cảm giác chán
nản ngay cả cuộc đời.
Ðáng
lý ra tôi phải nói: "Tôi không biết," nhưng bỗng nhiên cái
ý nghĩ muốn trêu đùa với họ nổi lên. Lúc đó là
thời kỳ Thiền đang phát triển mạnh trong giới thanh niên
trẻ ở Mỹ. Tôi biết thiền rất thịnh hành nhất là
đối với các nghệ sĩ tụ họp ở Village, gần trường đại
học. Hai thanh niên trẻ này có vẻ như dân quê vừa từ
ruộng đồng của họ ở Iowa hay Nebraska ra, và họ sốt sắng
muốn hỏi về phong trào thiền này với bất cứ người Á
đông nào họ chộp được đầu tiên. Tôi muốn chọc
phá họ một chút. Vì ngay chính tôi cũng đang cô đơn,
muốn có ai đó để chuyện trò.
Giả
bộ như vừa từ Nhật đến, bập bẹ chút ít tiếng Anh.
Tôi làm như đang nặn óc tìm chữ trong mớ từ ngữ giới
hạn của mình, và với cách phát âm rất tồi tệ tôi nói
với họ về Thiền. Chỉ vào người hỏi, vào chính tôi,
vào tất cả mọi thứ tôi nói: "Jis is Zen, Jis is Zen". (Ðây
là Thiền, đây là Thiền). Người thanh niên thứ hai hình
như cảm thấy điều gì không ổn. Trong khi gã hỏi tôi
thì đang ngóng cổ lên, nhìn tôi chăm chú.
Cuối
cùng bạn hắn nói: "Thôi đi, ông ấy đang chọc ghẹo mày
đấy", và đẩy hắn đi. Hắn nhìn lại tôi lần nữa,
nói: "Ông đùa tôi sao?"
"Ðâu
có", tôi nói, "Jis is Zen".
"Ðược,
vậy thì để tôi cho ông biết thiền là cái gì". Vừa
nói, hắn vừa cung tay thủ thế.
"Thôi
đi", bạn hắn nói, kéo tay hắn lại.
Tôi
lại nói "Jis is Zen".
Hắn
dứ dứ nắm tay làm như sắp đấm vào mặt tôi. Nhưng
rồi hắn xuôi tay xuống, nói: "Thôi chào 'Jis is Zen'".
Khi họ quay đi, bạn hắn nói: "Cảm ơn đã chọc cười nhé,
ông bạn!"
Hoàn
hồn, tôi cũng bỏ đi. Trên đường về, tôi lại vào
uống rượu, nhưng tôi cảm thấy hối hận, tôi muốn chạy
theo họ để nói vài lời xin lỗi. Hay là xin họ địa
chỉ để sau này viết thư cho họ biết thật sự Thiền là
gì. Kể từ lúc đó, tôi cảm thấy như mình nợ hai người
bạn ấy một điều gì.
Cuối
cùng tôi quyết định tham dự khóa tu Thiền vào mùa Ðông,
năm con trai tôi ra đời. Sau này nghĩ lại, tôi thấy điều
đó còn hơn là một bước ngoặc của định mệnh. Mùa
đông năm đó tuyết rơi nhiều. Tuyết rơi ngày tôi bắt
đầu tu Thiền. Và tuyết trắng xóa ngày con trai tôi chào
đời. Ngắm những hạt tuyết rơi lả tả, tôi có cảm
giác như con tôi đã theo tuyết, rơi xuống cuộc đời.
Gương mặt nó tỏa rạng vẻ im lặng thánh thiện ẩn giấu
sau đôi mắt nhắm, giống như gương mặt của một vị Jizo.
Ngắm
nhìn nó nằm lặng im trong nôi, đôi mắt nhìn bâng quơ, đôi
lúc tôi thấy nó bất chợt mỉm cười. Tôi nghĩ không
biết có phải vì nó nhớ lại ánh mắt thương yêu của ai
đó nhìn nó từ trên bầu trời đầy tuyết cái ngày đầu
tiên của đời nó.
Vị
trụ trì, Ni sư Gukai cho tôi một công án về "Không" (Mu) để
suy gẫm. Có lần một nhà sư hỏi thầy mình con chó có
Phật tánh không? Dầu trong các kinh tạng của Phật viết
rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, vị thiền sư
Trung Hoa tên Triệu Châu (778–897), dưới đời Ðường, trả
lời ngược lại. Ðó là, ông chỉ đơn giản nói "Không".
"Bắt
đầu từ bây giờ, con phải suy gẫm về công án Không", Ni
sư nói. Mình mặc y vàng, ngồi trên sàn nhà, với cây
gậy thiền (kyosaku) để trên đùi, Ni sư có vẻ rất nghiêm
trang, hoàn toàn khác với lần đầu tiên chúng tôi gặp.
"Bất
cứ lúc nào, dầu là con đang đi trên đường, ngồi tàu hỏa
hay đang chơi đùa với con cái, cũng phải nghĩ đến Không.
Chỉ có Không. Người nhìn, người được nhìn, cái nhìn,
tất cả đều là Không. Hãy nhớ lấy!" Nói xong,
Ni sư dùng gậy thiền đánh vào vai tôi.
Vào
một dịp khác Ni sư lại nói với tôi: "Con phải biết, thiền
không chỉ là suy gẫm về cái Không. Thiền không chú
trọng vào những chuyện nhỏ nhặt như thế. KHÔNG chỉ
là một phương tiện. Nếu con quá bám víu vào cái Không,
đó là thiền chết. Ði cũng là thiền, ngồi trên tàu
hỏa cũng là thiền, chơi đùa với con cái cũng là thiền.
Cả vũ trụ này không có gì ngoài thiền, không có gì ngoài
công án. Ðó là Genjo-koan, nghĩa là sự “Tĩnh thức ngay
trong giờ phút hiện tại".
Vợ
tôi không mấy vui lòng khi tôi bắt đầu hành thiền.
Vì tôi bắt đầu tu tập mà không mời rủ cô ấy. Một
lần khi chuyện này được khơi ra, cô ấy nói: "Anh chỉ đi,
làm theo ý mình. Chưa bao giờ anh hỏi em có muốn theo
không?"
Lần
đầu nghe như thế, tôi hoảng kinh. Cô ấy đã sống ở
Mỹ năm năm, và tôi chẳng bao giờ nghĩ người đàn bà thích
sống trong các khách sạn, ăn ở các nhà hàng sang trọng, lại
muốn hành thiền. Lần khác, cô ấy bảo tôi: "Hãy nhìn
lại xem anh là người thế nào. Tám năm ở Mỹ, anh đã
làm gì? Luôn cặp kè với đàn bà con gái, la cà ở các
hộp đêm, quán bar. Nếu người như anh mà còn tu thiền
được, thì có gì lạ nếu tôi cũng muốn học thiền?"
"Không
giống như học đánh tennis hay học nhảy đầm đâu đấy.
Mà đó cũng không phải là chuyện của đàn bà. Ðó là
việc căn bản dành cho đàn ông".
"Cái
gì? Vậy chứ Ni sư không phải là đàn bà sao?"
Ðó
là một câu hỏi khó trả lời. Ni sư, ừ, thật ra bà
cũng không phải là một người đàn bà bình thường.
Hình như xương cốt bà không phải của đàn bà. Mà cũng
không phải của loại đàn ông bình thường, cuối tuần chỉ
lo dắt vợ con đi chơi. Bà đã thụ giáo Judo, và kiếm
thuật Nhật Bản, trên trán bà còn hằn một vết sẹo kỷ
niệm một lần đụng độ với đám du đảng.
Khi
bà sống ở vùng Hokuriku, bà nổi tiếng phá phách trong đám
thiền sinh ở thiền đường, được mệnh danh là "Con quỷ
ở Dojo", và quá khác thường đến nỗi sư phụ bà phải cho
bà ra khỏi tu viện. Riêng bà, coi đó là một cơ hội
để đi hành hương chiêm bái khắp nơi, thăm viếng các vị
cao tăng. Vì quen thuộc với lối sống đó, bà chẳng
ngại ngùng gì đến trụ trì ở ngôi chùa đã xuống cấp
này. Tôi tưởng tượng ban đêm bà lẻn ra ngoài, đi theo
tiếng cười của lủ quỷ lùn, mũi dài trong các câu chuyện
dân gian của Nhật. (Bà chẳng bảo đã từng thấy chúng
đi từng đàn qua thung lũng đó sao?) Có lẽ bà đã tu
luyện được các phép thuật, như ngồi thiền dưới thác
nước, và tiếp tục thiền định dưới các gốc cây hay trên
những mõm đá.
Có
lẽ tất cả những thứ đó đã biến đổi giới tính của
bà. Tôi không thể nghĩ ra điều gì khác hơn thế.
Nhìn Ni sư, tôi thấy sự khác biệt giữa hai phái nam nữ rất
nhỏ.
"Tôi
không phải là đàn bà!", Ni sư cũng thường tự nói. Rồi
bà kể chuyện đã làm náo động cả chúng khi bà đi vào nhà
vệ sinh của một tu viện dành chỉ cho tăng.
Bà
thường tuyên bố: "Ðàn bà vô tích sự. Tôi hiểu điều
đó, tôi hiểu họ không phù hợp cho việc tu hành. Lúc
đầu, tôi cũng nghĩ là phụ nữ cần được giải thoát, cứu
rỗi, nên tôi rèn luyện cho họ rất nhiều. Nhưng họ
luôn luôn bỏ cuộc giữa chừng. Dầu lúc đầu họ có
mục đích, ý hướng rõ ràng, nhưng sau đó rồi nhạt đi.
Phụ nữ là như thế đó. Phụ nữ có rất nhiều tham vọng.
Tu thiền là phải buông bỏ tất cả. Trong khi bản tính
phụ nữ là bám víu, giống như khi họ thấy cái gì rơi rớt,
họ không thể không lượm lên. Và nỗi đam mê nhất
của phụ nữ là con cái họ. Nói tới con họ rồi, là
họ hoàn toàn u mê, không biết phải quấy gì nữa".
"Này
Kimura," Ni sư quay sang tôi, "con là đàn ông mà lo cho con cái
nhiều quá". Với cái nhìn chán nản, Ni sư tiếp thêm
:"Con cũng hơi khác thường đó".
Tôi
dẫn con trai theo đến chùa không phải vì tôi lo cho con quá
như Ni sư đã nghĩ; ngược lại thì có. Hay ít nhất đó
cũng là điều suy nghĩ của vợ tôi. Các ông chồng khác
ở nhà ngày cuối tuần để chơi đùa hay đi câu với con cái.
Tôi thường bỏ thằng con trai đang học tiểu học và đứa
con gái mới học mẫu giáo của tôi ở nhà, và ra đi trước
khi mọi người thức dậy. Tệ hơn nữa, đêm trước
đó, tôi còn nhờ vợ tôi làm bánh mì đủ cho năm người
ăn. (Cô ấy phải làm thế vì chúng tôi, các thiền sinh
thọ trai chung với nhau).
Chẳng
bao lâu có sự phản kháng trong gia đình. Nhưng không phải
là từ vợ tôi, mà là từ con trai tôi. Nó chun vô nhà
hàng xóm, ăn bánh kẹo của người ta hay đi với bạn bè vào
các shopping ăn cắp đồ. Con trai tôi là loại người
dám đâm đầu xuống núi nếu như có ai bảo nó làm thế.
"Nó
thiệt là một đứa trẻ nghịch ngợm. Ôi, nó phá bằng
ba đứa con trai tuổi nó. Một mình em không thể coi nó
nỗi đâu. Mà em còn phải lo cho Rie nữa". Khi vợ
tôi báo cho tôi biết về các hành động ngang bướng của
con trai, tôi rất giận.
Trong
buổi ngồi thiền sau đó, tôi tuyên bố phải vắng mặt một
khoảng thời gian để lo cho con trai tôi. Ni sư đề nghị
ngay rằng: "Ðem nó theo con. Nó muốn phá phách thế
nào cũng được ở chùa này. Trẻ con thường ngang bướng
vì cứ bị la rầy: 'Ðừng sờ thứ này, đừng mó thứ kia'.
Con còn cấm nó ăn thứ này, thứ khác nữa có phải không?
Lúc nào cũng bắt nó ăn ba thứ đồ ăn kiêng như thể con
đang nuôi thỏ. Nếu con không nuôi con nít đang lớn bằng
thứ đồ ăn nó thích, thì nó sẽ qua hàng xóm ăn chực thôi.
Nếu nó đến đây, thầy sẽ để nó muốn ăn gì thì ăn.
Ở đây này, thầy có bao nhiêu kẹo bánh để đến hư luôn.
Nếu trẻ con được ăn bao nhiêu tùy thích, chúng sẽ không
còn thèm thuồng nữa".
Tôi
không thể làm gì khác hơn là cúi đầu, lúng búng nói: "Cảm
ơn thầy".
Khi
tôi hỏi ý con trai xem nó có muốn đi chùa với tôi, nó vui
lắm. Có lẽ nó đang tò mò không biết tôi đến chỗ
vui thú nào mà mỗi chủ nhật đều đi. Tôi nghĩ là không
lâu sau nó sẽ chán thôi, nhưng thay vì thế, nó bắt đầu
đánh thức tôi dậy vào những ngày chủ nhật.
Chẳng
bao lâu lại có chuyện. Một trong các vị thâm niên ở
thiền đường phàn nàn: "Ðây không phải là nhà trẻ.
Thằng bé phá rối việc tham thiền của chúng tôi".
Ni
sư gọi người cư sĩ đại diện của khóa tu thiền, giám
đốc của một công ty hải sản bán sỉ. Bà chất vấn:
"Ở đây ai là thầy, ai là đệ tử? Thầy đã cho phép
mà. Thầy đã có tính toán cho nó rồi. Hành thiền
kiểu gì như thế, chỉ có một đứa trẻ cũng bị phân tâm?"
Tôi nghe được những lời này từ người đàn bà phụ việc
trong chùa cho Ni sư.
Tôi
đã có tính toán cho nó rồi. Không biết Ni sư nói vậy
với ý gì? Tôi hơi thắc mắc, nhưng không hỏi Ni sư.
Nếu Ni sư đã nhìn thấy được nó sẽ trở thành một tu
sĩ, thì quả bà có đôi mắt tinh đời. Nhưng cũng có
thể Ni sư nghĩ điều gì khác nữa, vì bà chẳng bao giờ bảo
tôi bắt nó ngồi thiền. Nhiều lúc Ni sư làm chúng tôi
ngạc nhiên với những ước đoán chính xác của bà, có lẽ
đó là do công lao tu thiền của bà.
Ðôi
khi lúc kết thúc các buổi tham vấn giữa Ni sư và tôi, bà
thường nói đại khái như: "Gần đây con hay lo ra. Ðó
là lý do tại sao con không thấy tiến bộ", hay "Khi ngồi thiền,
đừng để tâm con đi lang thang". Rồi Ni sư gõ gõ cây
gậy thiền xuống mặt chiếu.
Và
Ni sư đã nói đúng. Ðáng lý ra khi ngồi thiền, phải
chú tâm, thì tôi mơ mộng về việc tậu một dàn máy nghe
nhạc mới, hay nghĩ về những nơi chốn tôi sẽ đi chơi với
gia đình lúc nghỉ phép. Ðể bù đắp lại, trong các
buổi tham vấn, tôi ráng lạy rất nghiêm trang hay la hét hết
mình. Nhưng chẳng ích lợi gì.
Lúc
đầu khi con trai tôi nói muốn đi tu, tôi đã suy nghĩ về những
diễn biến lạ lùng của mọi việc. Tôi chỉ tình cờ
khám phá ra ngôi chùa trong một lần đi dạo, sau đó tôi lại
học Thiền. Rồi con trai tôi, lúc đầu bị bỏ ở nhà,
sau theo tôi đến chùa và dần dần nó đòi đến chùa ở luôn.
Tất cả mọi việc xảy ra một cách bình thường thôi.
Nhưng ngẫm lại câu chuyện từ đầu tới cuối, tôi không
thể nghĩ được điều gì khác hơn để diễn tả là do bàn
tay của định mệnh đã xếp đặt trước.
Một
điều nữa tôi cần phải nói thêm về Ni sư trụ trì Gukai
-mà nhiều người dưới phố coi là khác thường là Ni sư
rất yêu thú vật. Nhưng không có nghĩa là Ni sư nuông
chiều chúng quá. Ðúng ra thì vì các loài vật hay quấn
quít quanh Ni sư nên bà cũng sinh lòng quyến luyến chúng.
Ðó là cách Ni sư thương loài vật. Hay nói đơn giản
hơn, Ni sư rất 'hiểu' chúng.
Ðủ
loại súc vật lang thang trong chùa, lẩn quẩn bên Ni sư một
lát, rồi lại đi: gà vịt, chim chóc, sóc thỏ, dê không kể
chó và mèo. Phần đông là do các Phật tử của chùa,
hay các gia đình nông dân trong vùng mang đến. Họ nói
không thích nuôi chúng nữa hay nhờ Ni sư nuôi hộ dùm một
thời gian.
Ni
sư không bao giờ nuông chiều chúng giống như kiểu người
đời thương thú vật, coi chúng hơn con người. Ðối
với Ni sư, thú vật là thú vật. Chúng muốn đến hay
đi tùy ý. Ni sư chỉ việc chuyện trò với chúng.
Và
hình như chúng cũng hiểu được Ni sư. Vài năm trước
đây, một đàn vịt xuất hiện, chúng ồn ào ỏm tỏi.
Khi có con mèo nào lại gần, chúng càng quạt quạt to hơn để
báo hiệu cho nhau và xua đuổi gã mèo đi. Rồi bỗng đàn
vịt biến mất, Ni sư trụ trì la gã mèo một trận, nghĩ rằng
nó đã trả thù đám vịt. Gã mèo hình như rất buồn
lòng và sau đó cũng đi mất. Ni sư trụ trì bảo chúng
tôi có lẽ là gã mèo đi lang thang ra khỏi chùa đã bị con
chó hoang nào cắn chết rồi.
Bỗng
một ngày kia, Ni sư trụ trì có việc ra khỏi chùa, trên đường
đi, Ni sư bỗng nghe tiếng mèo kêu. Ni sư nhìn quanh quất
cũng chẳng thấy gì. Nhưng khi Ni sư định cất bước,
thì tiếng kêu lại trổi lên. Lúc ấy Ni sư nhận ra đó
là tiếng kêu của chú mèo đã thất lạc. Tìm kiếm trong
các bụi cây gần đó, Ni sư thấy cái xác thối rữa của
một chú mèo. Bà đào hố chôn xác mèo và tụng kinh Trái
tim cho nó.
Ni
sư là như thế đó. Tôi cảm thấy rằng việc con trai
tôi không thấy chán chơi đùa ở chùa, mà còn muốn đến
sống ở đấy, có lẽ phần nào cũng do cá tính của Ni sư.
Ðiều tôi lo sợ nhất là không biết con tôi có trở thành
một vị tu sĩ được không. Theo tôi, người tu phải
là người có tấm lòng đại từ bi đối với người khác,
không màng đến những tiện nghi vật chất hay của cải, không
ngại cúi xuống lau chùi sàn nhà. Và khi rảnh rỗi, họ
phải đọc bao nhiêu kinh sách của Ðức Phật. Về lòng
từ bi, có thể con trai tôi sẽ phát từ tâm khi nó lớn lên.
Nhưng tôi cũng không thể nói là nó thờ ơ với việc ham muốn
của cải vật chất; nó muốn có tất cả những thứ bạn
bè nó có: xe đạp, giày lăn, radio Walkman, vân vân. Gần
đây, nó còn để mắt đến các chiếc xe máy kiểu cọ.
Khi tôi lái xe, nó ngồi kế bên và bắt chước tôi lái.
Nó nói: "Con muốn học lái xe quá cha".
Tôi
không lo ngại mấy việc một vị tu sĩ phải lau chùi, quét
dọn vì con tôi cũng thích hoạt động. Tôi mà biểu nó
quét dọn gì đó thì nó còn làm, chứ biểu cầm quyển sách
lên học thì đừng hòng. Tôi lo sợ rằng nó sẽ chẳng
bao giờ đụng tới các kinh sách của Ðức Phật, chứ đừng
nghĩ tới việc nó sẽ là một nhà sư uyên thâm qua tận Aán
độ để nghiên cứu kinh điển hay thuyết giảng về thiền.
Nhìn
nó ngồi kế bên tôi làm điệu bộ như đang lái xe, tai thì
gắn chặt vào cái Walkman, tôi nghĩ không biết cái quỷ gì
đã xui khiến nó nói muốn xuất gia. Tôi chỉ biết nhìn
nó sợ hãi. Chắc nó tưởng khi làm nhà sư rồi nó còn
có thể vừa lái xe vừa nghe nhạc như thế à? Ni sư trụ
trì sẽ không bao giờ cho phép nó làm như vậy, vì thế tôi
thấy thương cho nó quá.
"Trẻ
con đòi hỏi thứ này, thứ kia, cũng là tự nhiên thôi", Ni
sư trụ trì nói. "Nhưng đầu tiên cũng là do cha mẹ mà
ra. Một đứa trẻ lớn lên ham muốn được có mọi thứ.
Còn bổn phận của cha mẹ là phải dạy cho con cái biết cái
gì là cần thiết và cái gì không".
Một
người bạn nói với tôi: "Bộ các người tu không có lòng
tham sao? Còn việc chẳng kể đến tánh mạng vẫn đi đến
tận Aán độ thỉnh kinh -thì chắc chỉ có một nhà sư trong
mười ngàn nhà sư và chỉ có một trong cả trăm năm.
Anh bạn thật quá lý tưởng. Thêm nữa, có ham muốn cũng tốt
chứ. Vì có lòng ham muốn, con người mới đạt được Giác
Ngộ. Nếu không có lòng ham muốn, khó mà thành thầy tu giỏi
được".
Vợ
tôi nói: "Anh muốn thứ gì là thằng Ryota muốn thứ đó".
Tôi
nói: "Anh đã suy nghĩ nhiều về việc thằng Ryota sẽ làm gì
khi nó lớn lên. Lúc đầu anh nghĩ nó sẽ là một kịch sĩ
hay một tay trống jazz. Nó hay diễn tả mọi thứ bằng cử
chỉ, thích nhún nhảy theo điệu nhạc. Lần nhà trường tổ
chức lễ hội, nó đã chơi trống thật xuất sắc, dầu đó
chỉ là một sinh hoạt phụ. Nhưng anh cũng đã nghĩ là
nó sẽ làm việc trong một ngân hàng hay công ty kinh doanh, làm
chủ một cửa hàng hay làm công nhân viên, nhưng hình như không
có gì hợp với nó cả. Anh có một người bạn, một
nhà kinh doanh rất thành công với các cửa tiệm sang trọng
ở Tokyo và New York, vợ ông ta là Á hậu kỳ thi Hoa Hậu Nhật.
Vậy
đó, mà rồi giữa khi cuộc đời đang phất lên như thế,
một ngày kia anh ấy bỗng bỏ hết mọi thứ, đi tìm cái chết".
"Anh
lúc nào cũng bi quan quá. Làm cho các công ty thương mại
hay ngân hàng không phải là việc tầm thường đâu. Tất cả
các bà vợ trong khu chung cư đang được xây cất đều
rất tự hào về các ông chồng của họ. Anh lúc nào cũng
bóp méo sự thật hết".
"Anh
còn nhìn sự việc qua ống kính lịch sử nữa. Có bao
nhiêu triệu, bao nhiêu tỉ người đã có mặt trên quả địa
cầu, rồi cũng biến mất. Mọi người đều có thời
là đứa trẻ con như Ryota, suy nghĩ, lo lắng không biết mình
sẽ làm gì khi cha mẹ họ cũng lo lắng. Cuối cùng rất
ít người có thể sống cuộc đời họ đã chọn, trong khi
phần lớn không có sự lựa chọn nào. Và trong con số ít,
rất ít đó, có mấy ai còn để lại dấu vết gì trong lịch
sử. Nhưng có phải họ mới là những người đáng kể không?
Nếu Ryota có chọn lựa sai lầm đi nữa, thì cũng chỉ có
nó hay chúng ta là kẻ phải lãnh hậu quả thôi".
Dầu
vợ tôi tỏ vẻ khó chịu ra mặt, tôi vẫn tiếp tục nói:
"Tóm lại, làm sao ai có thể thật sự biết con đường nào
đúng để chọn lựa? Chừng nào họ đã đi qua con đường
rồi, họ mới biết. Và cũng chỉ có họ phải đi con đường
đó thôi.
Dựa
vào lịch sử, anh chắc rằng sự cường thịnh của nước
Nhật rồi cũng đi đến đường cùng. Hãy nhìn nước
Mỹ đó; nước Nhật rồi cũng giống như thế. Trong lúc
các tệ nạn về tình dục, hút sách tăng lên, ở các vùng
núi California vẫn có những thiền viện được tạo dựng
lên và rất nhiều người trẻ tuổi đã tìm đến đó . .
. . Mà cũng không chỉ những người trẻ tuổi. Em
có biết là cựu thống đốc tiểu bang California bỏ làm thống
đốc, đi đến một ngôi chùa ở Kyoto để tu thiền không?"
"Thì
ra vì các người Mỹ tu thiền, rồi con trai em cũng phải trở
thành thiền sư, có phải vậy không?", vợ tôi cắt ngang.
"Không,
điều anh muốn nói là chúng ta đang ở thời đại của tôn
giáo. Khoa học, kinh tế, chính trị không thể tiếp tục
bỏ qua tôn giáo. Oâng Fritzof Capra, một nhà vật lý ở
Mỹ đã nói những gì bây giờ các nhà vật lý đang nghiên
cứu, những điều đó đã có trong các tôn giáo ở Á châu.
Khi anh trao đổi với Ni sư trụ trì về vấn đề này, Ni sư
nói đã biết điều đó từ lâu".
Vợ
tôi trả lời: "Em không biết gì về thiền, vật lý hay những
thứ rắc rối khác. Chúng không ảnh hưởng gì tới em
cả. Không thành vấn đề với em nếu con trai mình sẽ
trở thành một nhà kinh doanh hay một vị tăng sĩ. Nếu
nó có thể sống theo ý nó muốn mà không làm hại gì ai, em
đủ thấy hạnh phúc rồi. Trước sau gì nó cũng phải
rời bỏ gia đình để sống tự lập. Nếu mỗi tuần
nó ghé thăm mình cũng được rồi. Ở chùa, nó vẫn làm
được chuyện đó, có phải không? Hoặc là dịp năm
mới, nó có thể về thăm. Rồi hè nữa. Em sẽ giữ
phòng nó nguyên như vậy, ghế bàn gì cũng giữ y nguyên, để
những khi nó về thăm nhà có mà sử dụng. Nó sẽ buồn
nếu đồ vật của nó bị mất mát, hay nó không còn có phòng
riêng".
Tôi
tưởng tượng ra con trai tôi trở về nhà trong mùa hè ngắn
ngủi hay dịp lễ đầu năm, đi dọc hành lang nhà, mặc áo
tu sĩ với cái đầu đã cạo. Ðiều đó gợi tôi nhớ
đến yabu-iri, một từ ngữ tôi thường nghe lúc còn trẻ để
chỉ thời gian nghỉ phép của người đi học nghề ở xa về.
Tôi không biết từ ngữ đó có áp dụng cho các chú điệu
học tu không. Nếu có bà nội trợ nào trong chung cư gặp
nó, chắc là bà sẽ xoe tròn mắt vì kinh ngạc. Rồi người
ta sẽ xì xào: "Tại sao đứa con trai phải bỏ nhà đi tu, trong
khi cha nó không phải là trụ trì. Cha mẹ nó còn bắt
nó phải đi vòng quanh phố, mặc chiếc quần đen cổ lổ ấy.
Trước đây nó đâu có gì khác lạ trong chiếc áo thể
thao màu tươi rói, quần trắng và giày thể thao. Có lẽ
do ác nghiệp gì đó, mà cha mẹ nó bắt nó phải xuất gia".
Nó
sẽ đứng ở cửa phòng, cúi chào như một người khách.
Nó sẽ thưa lớn lên, giống như Ni Sư trụ trì đã dạy: "Cha
mẹ, xin thứ lỗi cho sự phiền rộn này".
Và
nếu chúng tôi có hỏi han về sức khỏe nó hay về tu viện,
tôi biết cũng chỉ được nó trả lời một cách bài bản
như "Dạ", và "Dạ, đúng".
Tôi
cũng hình dung ra cảnh gia đình bốn người -Mẹ, cha, con trai
và đứa con gái nhỏ Rie ngồi trước bàn thờ Phật ở nhà,
và nó sẽ hướng dẫn chúng tôi tụng kinh. (Thật ra,
'chánh điện' ở nhà chúng tôi gồm một tượng nhỏ của
ngài Jizo -quà của Ni sư trụ trì- để trên kệ cao nhất,
một chén trà nhỏ dùng làm bát hương và một bình hoa không
đẹp lắm với đủ loại hoa). Hình ảnh chúng tôi quần
tụ như thế vừa có vẻ buồn bã, vừa có vẻ hấp dẫn lạ
kỳ.
Còn
về đời sống khắc khổ với những luật lệ khắc khe thì
sao? Tôi đã có lần xem một chương trình truyền hình
về sinh hoạt ở tu viện Eiheiji: Trước khi mặt trời
lên, một chú tiểu chạy qua những dãy hành lang dài, và tối,
tay rung một cái chuông nhỏ để đánh thức mọi người dậy.
Rồi mọi người cùng ngồi thiền trong buổi bình minh giá
lạnh, với hơi sương như tỏa ra từ các đỉnh đầu trọc.
Những đôi chân trần, lau nhà với các mảnh giẻ ướt.
Một thế giới hoàn toàn biệt lập với thế giới bên ngoài,
và khổ hạnh không tưởng được. Nhưng Ni sư trụ trì
bảo một khi con là người ở trong chúng rồi, con sẽ không
thấy giống như thế. Bao nhiêu việc tưởng chừng như
khó khăn đều có thể thực hiện được với chúng tu đông
đảo. Không biết đó có phải là nơi con tôi nên sống
không, vì nó dễ kết bạn, nhưng cũng hay bị bạn bè ảnh
hưởng dễ dàng?
Một
khi người ta đã bước vào thế giới đó, có dùng cây thước
đo của thế giới bên ngoài để đo lường cũng chỉ là vô
ích. Có lẽ rồi nó cũng thôi đòi hỏi phải có dàn
máy stereo hay xe gắn máy.
Trong
chương trình truyền hình, một trong các tu sĩ ở tu viện Eiheiji
được hỏi: "Thầy thích gì về đời sống ở đây?"
Người phỏng vấn hỏi với giọng đầy nghi ngờ như thể
muốn hỏi tại sao mà người ta có thể từ bỏ thế giời
đầy lạc thú để chui vào đây, sống khổ như thế nầy.
Tôi vẫn còn nhớ câu trả lời của tu sĩ trẻ, lúc đó đang
đảm nhiệm công việc ở nhà bếp từ sáng tới tối, chuẩn
bị bữa ăn cho các huynh đệ khác. Hơi nghiêng chiềc
đầu không tóc một tí, tu sĩ trả lời: "Có lẽ là niềm
vui được làm tốt hơn những điều hôm qua chưa làm tốt".
Như
không để ý đến câu trả lời đó, chương trình quay qua
một cảnh khác. Nhưng câu trả lời đó gây ấn tượng
mạnh mẽ trong tôi. Con người có thể tìm thấy niềm
vui trong mọi hoàn cảnh. Và chính những niềm vui nhỏ
bé đó truyền sức để ta tiếp tục vươn lên. Có lẽ,
hơn cảø “niềm vui”, chúng ta nên gọi đó là “sự cảm
nhận” -lòng biết ơn. So sánh với những niềm vui này,
ta thấy niềm vui của dục lạc hay được trúng số trở nên
phù du, thoảng chốc biết bao. Niềm vui càng lớn, càng
chóng qua. Tóm lại, mọi niềm vui đều thoáng qua, vì thế
chúng ta không nên bám víu vào chúng. Một ngày kia, có
lẽ con trai tôi sẽ hiểu ra điều đó.
Niềm
vui được làm tốt hơn những điều hôm qua chưa làm tốt.
Khi
con trai tôi hiểu được như thế, có lẽ nó sẽ thực sự
trở nên một người tu. Khi tôi suy gẫm về tất cả
những chuyện như thế này, tôi bắt đầu thấy việc con trai
tôi muốn xuất gia trở nên có lý hơn.
Tuy
nhiên khi lên trung học, con trai tôi bắt đầu có những hành
vi khác thường. Tôi tìm thấy các điếu thuốc hút dûở
trong hộp viết chì, các tạp chí nhảm nhí trong cặp
sách của nó. Nó bắt đầu đến trường với áo thì
dựng cổ lên, không cài nút, đầu dây nịt để vắt vẻo,
thay vì cài vào lưng. Nó mang giày bít như thể giày sandals
-nghĩa là phần gót không xỏ vào mà đi đạp lên và thay vì
mang cặp sách, nó vác cái túi đi chợ màu sắc lòe loẹt đến
trường.
Tôi
tưởng đó chỉ là những thay đổi tạm thời để thích ứng
với trường mới hay gì đó, nhưng rồi thầy giáo chủ nhiệm
đến thăm để báo cho chúng tôi biết là nó la cà với đám
học trò phá phách nổi tiếng ở trường. Khi tôi vừa
hiểu ra sự nghiêm trọng của vấn đề thì có cuộc ấu đả
giữa học sinh của hai trường. Vợ tôi được mời đến
và nhà trường thông báo kẻ cầm đầu của cuộc ấu đả:
đó là con trai tôi.
Suốt
thời gian đó, nó vẫn tiếp tục đi theo tôi đến chùa để
tọa thiền mỗi chủ nhật, mang theo hộp đồ ăn trưa khá
to trong một cái túi, và đi theo tôi với cái vẻ bất cần
bình thường như thể đã chẳng có gì xảy ra. Nó ít
khi chuyện trò với tôi trong suốt thời gian chúng tôi ở chùa
làm cỏ, hành thiền, thọ trai rồi trở về nhà. Nhưng
theo luật lệ ở Thiền viện thì trong suốt thời gian này
dù là người trong gia đình cũng không được nói những chuyện
không cần thiết, nên tôi cũng chẳng quan tâm lắm.
Chỉ
có một điều thay đổi là bây giờ nó muốn về nhà sớm
hơn để đi chơi với bạn bè. Thỉnh thoảng nó thọ
trai sớm, rồi lấy tàu hỏa về trước một mình. Suốt
những năm tiểu học, chưa có chủ nhật nào nó bỏ đi chơi
banh, đi câu hay cặp kè chúng bạn dù bị rủ rê. Khi
nó bắt đầu vào trung học đệ nhất cấp, tôi nghĩ là nó
cũng cần đi chơi với chúng bạn, nên tôi vui vẻ tiễn nó
ra khỏi chùa, còn bảo nó đi chơi vui vẻ. Vậy mà rồi
nó đi đánh lộn.
"Sao
mà con có thể đi đánh lộn sau khi ngồi thiền?", tôi rầy
nó. Thiệt là vô tâm. Tôi đoán có lẽ sau buổi
tọa thiền, nó trở về đi hút thuốc, coi sách báo nhảm nhí
với chúng bạn.
Thứ
hạng của nó tụt xuống hẳn, bây giờ nó đứng thứ hai
hay thứ ba cuối sổ. Thầy chủ nhiệm bảo là trong lớp
nó hay làm trò để chọc cả lớp cười. Tôi tra vấn
nó: "Tại sao con không ngồi yên được trong lớp? Nếu
tụi bạn có cười, cũng chỉ vì họ nghĩ con là đứa
ngốc nghếch".
Nó
có thể ngồi thiền cả hai giờ không động đậy, tại sao
không thể ngồi yên ở lớp học. "Con không thể", nó
trả lời.
Bữa
nọ, tôi răn đe nó về việc lười học "Làm nhà sư, không
phải chỉ có lau chùi, dọn dẹp không thôi, con có biết không?
Con còn phải học kinh nữa".
Cuối
cùng nó bắt đầu nói: "Con không thành nhà sư đâu".
"Vậy
con sẽ trở thành gì?", tôi hỏi.
Nó
có vẻ không tìm ra câu trả lời. "Con sẽ tìm cái gì
đó thích hợp với con".
Tôi
hét lên, "Ðồ ngốc! Con còn dám nói sẽ tìm 'cái gì
thích hợp' khi con không muốn học hành".
Ðêm
đó tôi trăn trở trong giường, lo lắng về việc bây giờ
nó không muốn đi tu nữa. Không thể ngờ là tôi đã
đặt quá nhiều hy vọng vào việc đó, đã trông mong việc
đóù xảy ra đến thế nào. Giờ nhận ra rằng có thể
nó sẽ không xuất gia, làm tôi thấy được làm một nhà sư
thật là tuyệt vời. Ðó là một việc chỉ số ít người
phát nguyện, và chỉ số ít người có thể thực hiện được.
Một kẻ tầm thường như con trai tôi còn ước mong gì hơn
thế nữa. Hình như có ai đó đã đưa lối cho nó đi
vào con đường đó. Có lẽ nó đã có căn tu từ lúc
sinh ra, có lẽ vị Jizo trên bàn thờ nhà tôi đã dẫn dắt
nó. Không biết có phải vị thần Jizo đó đã hết linh
nghiệm, hay vì các ảnh hưởng xấu quanh nó quá mạnh?
Tôi nghĩ là bằng mọi cách, tôi phải đưa nó ra khỏi vòng
vây của lũ quỷ. Ðiều đó phải làm trước tiên, rồi
mới tính tới việc nó có thành một tu sĩ hay không?
Nếu cuối cùng nó có bỏ ý định đi tu, để theo con đường
của người thế gian, thì cũng đành thôi. Nhưng nếu
nó cứ tiếp tục sống như hiện giờ, thì nó sẽ chiến bại
trước các ảnh hưởng xấu xa.
Tôi
bàn với vợ chuyển con trai tôi qua trường khác học.
Chúng tôi định đổi nó sang một trường tư với luật lệ
nghiêm khắc hơn trường công nó đang học. Là học sinh
chuyển trường, nó phải qua một kỳ thi tuyển, nhưng gay go
nhất là bảng xếp hạng của nó. Trường tư loại nào
lại nhận học sinh đứng thứ hai, thứ ba cuối lớp?
Nếu có trường nào nhận nó, trường đó chắc phải vào
loại thứ ba, thứ tư, nên không có đủ học sinh. Trường
hợp đó có thể nó còn trở nên tệ hơn nữa. Dầu sao
cũng còn hy vọng, nó có thể theo học ở các trường tôn
giáo. Nó có thể có hy vọng được vào học trường
Phật giáo.
Vợ
tôi và tôi đến gặp Ni sư trụ trì. "Chao ôi. Cả
hai người! Hẳn phải có việc gì hệ trọng lắm", Ni
sư nói vẻ chế nhạo khi chúng tôi cúi chào Ni sư .
Tôi
kể cho Ni sư nghe mọi chuyện, kể cả chuyện con trai
tôi nói bây giờ nó không muốn xuất gia nữa.
"Nó
đã sống trong một thế giới quá trong sạch. Giờ thì
đủ loại vi trùng muốn bám vào nó, nhưng thầy không lo gì
những chuyện đó. Nó sẽ thay đổi ngay thôi", Ni sư trụ
trì thản nhiên nói, một nụ cười chợt nở trên khuôn mặt
đầy nét trẻ thơ của bà.
Tôi
nói ý định chuyển trường học cho nó. Ni sư trụ trì
tán đồng: "Ý kiến hay lắm. Con phải tách nó ra
xa các ảnh hưởng xấu càng xa càng tốt".
Rồi
tôi hỏi về trường Sendan, Ni sư nói "Ðó là trường
Phật học, dầu có nhiều con cái của các cư sĩ cũng theo
học. Con cái của các vị trụ trì chùa có thể được
nhập học không phải thi, nhưng thầy nghe hình như bây giờ
điều đó cũng thay đổi".
Tôi
nói tôi nghĩ là nếu nó có trở thành tu sĩ cũng được.
Ðó là điều nó muốn thực hiện ngay khi vừa lên tiểu học.
Nhưng vì cha mẹ nó chần chừ, nên giờ nó cũng đổi ý.
Tôi nhấn mạnh rằng nếu nó được đổi đến trường này
học, và trở lại muốn đi tu thì cũng được.
"Thế
à," Ni sư nói, đôi mắt sáng lên nhìn tôi. Rồi
quay sang vợ tôi: "Con có đồng ý như thế không?"
"Dạ",
vợ tôi cúi đầu xuống nói.
"Quyết
định thế nhé!", Ni sư trụ trì nói lớn, bằng giọng
nói tôi chưa bao giờ nghe Ni sư dùng. "Giờ, để
mọi chuyện cho thầy lo".
Tôi
nghĩ mọi việc xảy ra nhanh chóng quá. Cách Ni sư
giải quyết vấn đề thật bất ngờ. Tôi quen nhìn Ni
sư ngồi uống trà tiếp khách hằng giờ, tưởng chừng
như Ni sư đã mọc rễ trên chiếc thảm tatami.
Tôi
nghe kể là chủ nhật sau đó, khi con trai tôi vào phòng tham
vấn, Ni sư đã hỏi nó: "Con có còn muốn xuất gia không?"
Con
trai tôi trả lời: "Dạ con...nhưng...", nó ngập ngừng.
"Chuyện
gì vậy", Ni sư hỏi.
"Con
không có tự tin".
"Tại
sao?"
"Vì
cha con nói là người như con không bao giờ có thể trở thành
tu sĩ". (Tôi thật đau lòng nghe con tôi nói thế, vì tôi
biết rất rõ lý do ngại ngùng của nó).
Rồi
Ni sư trụ trì nói với nó: "Thầy sẽ giúp con trở thành một
vị tu sĩ đức hạnh".
Giờ
thọ trai, Ni sư nói: "Thầy có một việc quan trọng cần
tuyên bố", rồi Ni sư tuyên bố thẳng luôn với mọi
người đang có mặt ở thiền viện việc Ryota sẽ trở thành
một tu sĩ. Ni sư trụ trì nhấn mạnh: "Ðó là quyết
định riêng của nó".
"Ồ",
mọi người kêu lên thán phục.
"Và
nó phải chịu trách nhiệm về việc đó", Ni sư nói,
hướng về con trai tôi đang nhấp nhỏm trên ghế ngồi, nó
rụt rè gật đầu.
Ni
sư trụ trì gọi điện cho trường Sendan, xin cái hẹn gặp
thầy hiệu trưởng, rồi cùng đến trường với tôi.
Học sinh mặc đồng phục túa ra cổng trường, đi dọc theo
con đường đầy bóng cây ginkgo. Khi chúng thấy Ni sư
trụ trì mặc y vàng, chúng dở nón chào. Trường con tôi
đang học đâu có thế, tôi vui mừng nhận ra sự khác biệt
đó.
Thầy
hiệu trưởng bước vào phòng tiếp khách mặc đồ vest, nhưng
có áo tràng choàng ngoài. Oâng chấp tay lại và cúi đầu
chào Ni sư trụ trì. Ni sư trụ trì giới thiệu tôi: "Ðây
là cha của Kimura Ryota, đứa học trò phải thi chuyển trường".
Rồi Ni sư tiếp: "Tôi đã quyết định nhận nó vào chùa,
và sau này sẽ để nó thay tôi trụ trì chùa Zenkaiji.
Ðó là lý do chúng tôi có mặt ở đây hôm nay".
Thầy
hiệu trưởng có vẻ thích thú với việc một đứa trẻ từ
gia đình cư sĩ lại muốn trở thành tu sĩ. Ông hỏi Ni
sư trụ trì: "Thưa, nó có liên hệ với thầy không?"
"Không,
chúng tôi không làm như thế để giữ chùa cho gia tộc mình.
Ðó là ý nguyện của đứa trẻû. Nó đã đến chùa
tôi từ ngày mới vào lớp một, đến khi lên lớp ba, nó nói
muốn trở thành tu sĩ. Chúng tôi đã bảo nó còn quá
nhỏ, phải chờ đến lên trung học. Trong thời gian đó,
chúng tôi chờ xem thằng bé có đổi ý không, nhưng nó không
thay đổi. Cuối cùng chúng tôi đồng ý", Ni sư nói,
nụ cười Thiền không kiềm hãm nở rộng trên khuôn mặt
người.
"Vậy
à, vậy à", thầy hiệu trưởng nói vẻ thích thú. "Nó
cóù ngồi thiền không?"
"Y
như người lớn. Tâm nguyện của nó rất thành khẩn.
Không giống như người lớn. Nó quá trong trắng, nó hành
thiền với tất cả tấm lòng. Thật là đặc biệt".
"Vậy
sao? Ngày nay khó mà tìm được ai ngồi thiền với tấm
lòng thành như thế, kể cả các vị tu sĩ", thầy hiệu trưởng
than thở. Rồi ông đổi đề tài "Nhưng nó đã làm lễ
xuất gia chưa? Nếu nó được nhận, nó phải tham gia
vào các sinh hoạt tăng đoàn, mà muốn thế nó phải làm lễ
thọ giới", ông nói nhìn Ni sư trụ trì, rồi nhìn tôi.
"Quí vị có thể không tin, nhưng gần đây càng ngày càng nhiều
các gia đình Phật tử nhờ các chùa giới thiệu đến trường
chúng tôi, hầu tách con cái họ ra khỏi các trường trung học
công lập đầy dẫy các thanh thiếu niên tội phạm. Tuy
nhiên việc này tôi chỉ nói riêng với quí vị thôi đấy...
"
"Nó
sẽ thọ giới xuất gia ngay", Ni sư trụ trì bình tĩnh trả
lời.
Ni
sư quay qua tôi mỉm cười nói: "Thầy định làm chuyện
đó sau, nhưng giờ thì càng sớm càng tốt". Ni sư
chưa nói gì với tôi về chuyện đó, thành thử tôi chỉ có
thể ậm ừ theo bà.
"Vậy
thì, sau lễ xuân phân của chùa được không?"
"Không
cần phải vội vã thế", thầy hiệu trưởng đỡ lời.
Rồi thầy tiếp thêm: "Nếu nó đã quyết định thọ giới
xuất gia thì lúc nào cũng được, miễn là trước kỳ nghĩ
hè. Trong khóa hè, các học sinh sẽ được huấn luyện
cùng lúc với nhau, miễn là tới lúc đó nó đã xuống tóc...."
"Trước
sau gì cũng phải làm, thôi làm sớm tốt hơn. Kimura, con
nghĩ sao?"
"Dạ,
sao cũng được", tôi chỉ có thể trả lời như thế, vì tôi
chẳng biết gì về các thủ tục xuất gia.
Thầy
hiệu trưởng dẫn chúng tôi đi dọc hành lang ra cửa.
Không giống như ở các trường công lập, ở đây các mặt
sàn bằng gỗ được đánh bóng loáng đến nỗi tôi sợ mình
sẽ trượt ngã. Thầy hiệu trưởng tán thán việc Ryota
xuất thân từ gia đình cư sĩ nhưng lại xin vào học trường
này và lại có ý muốn xuất gia.
Tôi
cảm thấy lo lắng quá, nên bày tỏ sự lo lắng không biết
con trai tôi có thể hoà hợp được với con cái của các gia
đình tu sĩ không, nhưng thầy hiệu trưởng lại bảo thầy
sợ ngược lại thì có. Tôi hỏi ý thầy nghĩa là sao,
với vẻ mặt đầy âu lo thầy nói có vài đứa trẻ của
gia đình tu sĩ rất hư, thầy sợ chúng sẽ làm cản trở chí
nguyện cao cả của con trai tôi. Tôi định nói thầy không
cần phải lo âu nhu thế, nhưng kiềm lại kịp.
"
Thôi,
thầy nghĩ mọi chuyện đã dàn xếp xong," Ni sư trụ trì
nói khi tôi quay xe trở về.
Tôi
trả lời: "Nhưng vẫn còn kỳ thi nhập học, sợ rằng kết
quả kỳ thi sẽ làm thầy hiệu trưởng vỡ mộng về hình
ảnh của Ryota trong ông".
Ni
sư trụ trì có vẻ không để ý gì đến chuyện đó.
Hình như Ni sư còn đang lo nghĩ đến chuyện bỗng nhiên
được có kẻ thừa kế mình. Bỏ giày ra, Ni sư
xếp chân ngồi, nói không ngừng trong khi hút thuốc cũng không
dứt, luôn gạt tàn thuốc vào cái gạt Ni sư cầm để
trên đùi. Cứ như thế suốt đoạn đường trở về
chùa, một đoạn đường dài chín mươi phút. Ni sư
quả thật là người lưu loát. Thỉnh thoảng tôi mới
nói chèn được vài câu, ngoãi việc lo quay cửa xe lên xuống
để cho khói thuốc bay ra ngoài.
"Thầy
định buông bỏ hết mọi việc, nhưng giờ thì đã có việc
cho thầy phải lo đây, phải không Kimura? Có lẽ Ðức
Phật đã sắp bày mọi thứ. Thầy có ít tiền dành để
dưỡng già, với số tiền đó có thể để lo cho nó đến
xong đại học. Ðó có lẽ cũng là sự sắp bày của
Ðức Phật nữa. Chuyện gì sẽ xảy ra sau này, sau này
hãy lo".
Tôi
nói với Ni sư tôi sẽ lo chi phí ăn học của nó.
"Không,
không, con không được làm như thế. Bổn phận của người
tu là phải tự lo cho mình. Một người tu mà nhận tiền
của Phật tử để lo cho riêng mình thì thật không tốt.
Nhận đồ cúng dường hay cúng lễ - thì lại là việc khác,
đó là cho việc làm lễ ở các đám tang hay các thứ khác.
Nghĩ đến chuyện đưa tiền cho một nhà sư là ngã mạn.
Hãy lập tức bỏ lối suy nghĩ đó đi".
"Nếu
Thầy đã dạy như thế", tôi đáp.
"Này
Kimura, ta muốn đứa trẻ đó trở thành một nhà sư giống
như Dogen Zenji, người đã tạo lập nên dòng thiền Soto trong
Phật giáo Thiền. Con có thể cười, nhưng ta mong nó có
thể lãnh hội được cái tối thượng của Ngài Dogen càng
nhiều càng tốt. Ðó là ý nguyện của mỗi vị thiền
sư Soto. Thầy nghĩ là có hai loại thầy tu: loại chạy
đuổi theo các cấp bậc trong giáo hội, và loại thầy chuyên
tu. Các vị thầy ở các chức vị cao trong giáo hội thường
phải lo nhiều việc đời; các vị thầy chuyên tu chỉ chú
tâm vào việc tu tập, để được giác ngộ sâu xa. Con
chọn loại thầy tu nào?"
"Dĩ
nhiên là các vị thầy chuyên tu".
"Ðúng
vậy. Nhưng các vị này thường nghèo!", Ni sư cười
to. "Thầy quyết phải rèn luyện nó. Không có chuyện
nữa người nữa ngợm. Trên thế giới ngày nay, con có
thấy toàn là nửa người nửa ngợm. Ngày nay, ngay các
thầy, cũng không ít người là như thế. Các thầy thường
được chứng nhận giác ngộ dễ dàng. Không thể tin
vào các việc như thế. Gần đây, hình như người ta
cứ chịu khó ngồi thiền, rồi sẽ được giấy chứng nhận
là đã giác ngộ. Ðó cũng là lỗi của các bậc sư phụ.
Riêng thầy, thầy sẽ rất nghiêm đó. Này Kimura, hãy
nghe đây, con phải giữ bình tĩnh và không được can thiệp
ngay cả khi sự việc có vẻ như tàn nhẫn quá. Con có
làm thế được không?"
"Dạ
được".
"Ðiều
ta lo sợ nhất là sức khỏe của mình. Nó hãy còn trẻ.
Mà đâu chỉ có bảo nó làm là được, ta phải theo nó từng
bước từ sáng sớm, bằng không, ta khó thể rèn
luyện nó được. Ta đã già yếu và bịnh tật. Không
biết khi nào đến lượt mình ra đi. Nhưng cũng không
sao. Ta coi đây như là Phật sự cuối cùng của mình".
Ni
sư bập thuốc, rồi nói tiếp: "Cuộc đời còn lại của
thầy sẽ dành trọn cho việc rèn luyện nó. Nó sẽ không
giúp gì được cho thầy, nhưng nó sẽ phục vụ nhà chùa.
Số tử vi của thầy nói thế. Nhưng không sao.
"Thầy
đang chọn Pháp danh cho nó, thầy còn nhờ đến một ông thầy
hay chữ để tên sao cho hợp với người. Con nghĩ thế
nào về tên Ryokai? Hán tự Kai là từ tên thầy, Gukai,
và Ryo thì từ tên Ryota của nó".
"Dạ
nghe cũng được".
"Ryokai
là một cái tên rất thanh nhã. Rất hợp với cá tính
của nó. À, mà tên với họ Kimura Ryokai nghe không hay.
Bản chất của nó là ngỗ nghịch, đặt tên như thế có khác
gì châm dầu vào lửa. Tâm tánh nó thì tốt, nhưng hoang
đàng quá. Tử vi còn bảo là nó còn có thể trở nên
một gã rù quyến đàn bà nữa đấy".
Tôi
không khỏi phì cười. "Dạ, cũng có thể lắm chứ!".
"Ừ.
Vị thầy bói số tử vi rất giỏi, đã hay đoán cho ta điều
này, điều nọ. Thầy đã hỏi có nên lấy họ thầy
là Gyokusen để đặt cho nó không, thì ông bảo rất tốt,
rất nên -điều đó sẽ giúp hãm dây cương nó lại.
Là con trai nó cần có nhiều bạn bè, nhưng cũng không nên
bừa bãi quá. Con thấy sao: Gyokusen Ryokai?"
"Dạ
cũng được".
'Nếu
con không bằng lòng, cứ nói ra, thì không thay đổi họ nó
nữa. Nhưng thầy thấy nó không đi với cái tên mới
kia".
Tôi
nghĩ là dầu gì nó sẽ ở chùa thôi. Tôi đâu thấy vị
tăng sĩ nào sống ở nhà với cha mẹ. Và nếu nó sẽ
sống ở đó suốt đời, thì cũng nên chọn cho nó một Pháp
danh. Ðiều đó giúp nó dễ hòa nhập vào cuộc sống
mới hơn. Việc đổi tên đâu thể biến nó thành một
con người khác. Sao cũng được miễn là vì lợi ích
của con tôi.
Tay
cầm lái, tôi cúi đầu nói: "Nhờ thầy chăm sóc cho nó".
"Dầu
có đổi tên, cha mẹ vẫn là cha mẹ. Sự thật con là
cha nó, có bao giờ thay đổi được. Cái tên chỉ là
tiếng gọi thôi. Con có biết cái họ ta đang dùng, Gyokusen,
đã được người khác đặt cho không? Ta vốn là con
gái của một người chủ trọ ở Hokurikudo, họ là Ichinoseki".
Cuộc
đời của Ni sư hình như đầy sóng gió. Thỉnh thoảng
Ni sư cũng nói về chúng, nhưng sóng gió trong đời Ni
sư có lẽ quá nhiều đến nỗi tôi không thể hình dung ra
hết. Hình như Ni sư được đặt tên Gyokusen bởi
những người có tranh chấp về việc ai sẽ làm chủ một
gia đình tiếng tăm ở vùng Chugoku. Khi Ni sư hành
hương qua đó, bà đã giúp họ hòa giải ổn thỏa. Và
họ đã yêu cầu Ni sư mang dòng họ đó để ban phước
lành cho họ, và Ni sư đã nhận lời. Ngay như nếu
con tôi cũng mang họ đó, không có nghĩa là gia đình đó đã
nhận nuôi nó. Ðó chỉ là tên gọi thôi mà.
Có
tám thí sinh dự kỳ thi chuyển trường đến trường trung
học đệ nhất cấp Sendan, nhưng chỉ có hai được vào.
Con trai tôi là một trong hai trò đó. Chúng tôi đợi trong
một văn phòng ở trường khi các thí sinh lần lượt từ người
một được gọi vào. Tôi lo lắng tự hỏi, kế đến
là chúng tôi chứ, hay kế đến là ai? Cuồi cùng chỉ
còn lại hai thí sinh, nên tôi nghĩ thôi chắc chẳng còn hy
vọng gì. Không ngờ hai em còn chót lại là thí sinh trúng
tuyển. Khi tôi đưa cho con trai tôi xem tấm giấy báo trúng
tuyển, nó nhìn trân trối.
"Con
đã đậu", tôi nói.
"Con
đã đậu!" nó la lớn.
Nhìn
mặt nó, tôi nhận ra rằng dù nó đã học lết bết ở trường
trung học trước, nó vẫn vui mừng được nhận vào trường
học mới. Còn tôi vui mừng vì sự thành công của nó
còn hơn khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy tấm giấy được
nhận vào đại học của chính tôi.
Em
học sinh trúng tuyển thứ hai mang kiếng dầy cộm, có vẻ
là loại học sinh chăm chỉ, đón nhận tin mừng với vẻ bình
thản. Nhưng cha nó, người mập mạp, là nhân viên bưu
điện trong tỉnh, thật sung sướng khi ông trao đổi danh thiếp
với tôi. Tôi có cảm tưởng là trong hai thí sinh trúng
tuyển hôm nay, một người có điểm cao nhất, và người kia
điểm thấp nhất.
Sau
đó đến lễ thọ giới xuất gia.
Ni
sư trụ trì muốn dành cho con tôi mọi thứ tốt nhất, nên
khi không thể mua được áo tràng và các thứ vật dụng khác
ở Tokyo. Ni sư liền gửi mua tận Kyoto. Ni sư
nhờ một huynh đệ ở chùa khác đến giúp lễ, mời hòa thượng
chánh đại diện của giáo hội, tất cả thiền sinh trong khóa
tu Thiền hằng tuần đến dự, và cố hết sức mình để
buổi lễ được diễn ra theo truyền thống cổ truyền tốt
đẹp nhất. Con tôi ngủ lại chùa đêm trước buổi lễ.
Vị thầy phó chuẩn bị một lễ tắm gội để rửa sạch
hết các bụi bậm của cuộc đời trần tục, cũng như mọi
thứ phiền não đã tích tụ trong con tôi từ bấy lâu.
Ngày hôm đó, đã có một việc hệ trọng xảy ra, ít nhât
là đối với chúng tôi, cha mẹ của nó. Ông bà nội
ngoại và chúng tôi sẽ tham dự buổi lễ, nhưng vợ tôi còn
muốn mời cả người cô đã chăm sóc, nuôi nấng nó từ thuở
nhỏ. Vợ tôi đã gọi hỏi, và cô nó hứa chắc chắn
sẽ đến. Khi tôi hay tin này, tôi nói tốt hơn hết là
chúng tôi phải gọi xin phép trên chùa trước.
Ni
sư trụ trì gạt ngang: "Ðừng có đi mời đủ loại người
như thế! Thầy còn có bao nhiêu người khác nữa thầy
muốn mời. Con phải biết, đây đâu phải đám hát tuồng.
Ðây là buổi lễ để đứa trẻ chính thức cắt đứt dây
liên hệ với cha mẹ nó. Nói đúng ra, ta còn không muốn
con mời các ông bà của nó nữa, nhưng thôi lần này ta cũng
ngó lơ cho. Nhưng đâu có thể như thế với tất cả
mọi thân bằng quyến thuộc" .
Khi
vợ tôi biết tin, cô ấy nói cô không thể nào báo lại cho
người cô thân yêu tin ấy được. Tôi đành phải tự gọi
để cắt nghĩa đây là buổi lễ để cắt đứt mọi ràng
buộc.
"Có
phải em muốn nói là sợi dây ràng buộc với tôi nữa, đúng
không?", người cô nói với giọng mai mỉa
Ðúng
vậy, buổi lễ bắt đầu với việc con tôi nói lời từ biệt
với chúng tôi, cha mẹ nó. Con trai tôi, mặc đồ đồng
phục, bước vào chánh điện, hai tay chắp lại, đi bên cạnh
vị thầy phó. Vợ tôi và tôi ngồi bên nhau, ở tuốt
đằng sau.
Nó
một mình tiến đến gần, ngồi trước mặt tôi. Rồi
đặt ngữa hai bàn tay ra trên tấm chiếu, nó nói: "Cha, người
đã chăm sóc con từ thuở bé. Con xin cảm tạ".
Rồi
nó đứng lên, đến ngồi trước mặt vợ tôi: "Mẹ, người
đã chăm sóc cho con từ thuở bé. Xin cảm tạ".
Nó
cúi đầu lạy.
Ðoạn,
nó tiến đến Ni sư trụ trì, quỳ gối xuống, hai tay chắp
lại. Ni sư trụ trì xướng từng giới một, và mỗi
lần đều hỏi nó có giữ được không. Bằng một giọng
sang sảng, nó trả lời mỗi lần được hỏi: "Dạ, con xin
giữ".
Sau
đó, Ni sư trụ trì đọc kinh, khi nó được phát từng thứ
một: áo, mũ và các thứ vật dụng. Nó đi ra khỏi phòng
khi mọi thứ đã xong xuôi.
Khoảng
mười lăm phút sau, nó trở lại, mặc áo trắng và đầu đã
cạo. Sự chuyển đổi từ tóc, áo quần đồng phục,
đến đầu cạo láng, và y áo trắng thật khá bất ngờ, giống
như trong xiếc 'úm ba la' đổi.
Giờ
thì mắt vợ tôi đỏ lên. Nhìn nó trong quần áo trắng,
tôi thật sự có cảm tưởng như nó đã bước vào một thế
giới khác vượt khỏi tầm với của chúng tôi. Nhưng
tất cả dường như quá đột ngột, hình như không phải là
sự thật. Có thật sự là sợi dây ràng buộc cha mẹ
và con cái đã bị cắt đứt? Sự liên hệ ấy giờ chỉ
là trống không?
"Cảm
ơn cha, cảm ơn mẹ" -chỉ nói vậy là đủ phủ nhận mọi
thứ từ bấy lâu nay? Sự liên hệ giữa cha mẹ, con cái
là gì? Hay sợi dây ràng buộc giữa cha mẹ và con cái
chỉ là ảo tưởng? Chỉ là một ý nghĩ sản sinh do thói
quen? Có phải cha mẹ và con cái chỉ là những vai trò
giả tạo?
Ngồi
lắng nghe tiếng tụng kinh, tôi có cảm tưởng như mình vừa
được trao cho một công án để suy gẫm. Nhìn Ni sư trụ
trì bước vào chánh điện, vừa tụng kinh, trên gương mặt
Jizo này, hình như chỉ có đôi môi chuyển động như những
sinh vật nhỏ bé.
Ðôi
môi đó hình như đang nói: "Mu, M...u".
Lễ
thọ giới xuất gia đã qua, nhưng con trai tôi vẫn sống ở
nhà. Chúng tôi đã thỏa thuận với Ni sư trụ trì là
nó sẽ sống ở nhà cho đến khi xong trung học đệ I cấp.
Ðiều đó cũng tốt cho nhà chùa nữa, vì thật sự phải trông
coi một đứa trẻ ở tuổi đó tại chùa thật phiền toái.
Vì thế tất cả chúng tôi đều quyết định cho nó ở lại
nhà trong lúc nầy.
Lễ
thọ giới đã qua. Giờ