(Xem: 1339)
Bộ Tỳ Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu nầy là nền tảng của người phát ĐẠI ĐẠO TÂM, tu hạnh Bồ Tát, tự lợi, lợi tha. Nếu muốn trên cầu Phật Đạo, dưới cứu độ chúng sanh, công hạnh tròn đủ, thì phải giữ NHẤT TÂM. Vì vậy, bộ Tỳ Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu nầy, gồm những lời phát nguyện, đi theo trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc.
(Xem: 2263)
Phật qui định, người xuất gia 5 hạ về trước phải chuyên học và tinh tường về giới luật, 5 hạ về sau mới học hỏi giáo lý, tham cứu thiền học. Thế nên các vị sa di xuống tóc rồi, trước hết phải lãnh thọ 10 giới, kế đó mới bước lên giới đàn lãnh thọ cụ túc giới.
(Xem: 2158)
Trong quyển sách nhỏ bé này, người viết nhằm vào lợi ích của cả hai đàng, cư sĩ lẫn tỳ khưu, và những tài liệu sau đây có lẽ không tìm thấy ở sách nào khác. Bhikkhu Khantipālo
(Xem: 7703)
Có những khi đức Phật phải nghiêm khắc, rất nghiêm khắc nhưng đó lại là một khía cạnh khác của lòng từ bi. Trong một dịp ở thị trấn Catuma trong rừng cây Kha-lưu-lạc (Myrobalan), xứ của người Sakya (Thích Ca), đức Điều Ngự đang ở trong tịnh thất thì nghe tiếng ồn ào náo động ở trong tịnh xá. Ngài gọi ngài Ananda – lúc đó là thị giả vào hỏi xem có chuyện gì
(Xem: 4512)
Trước tiên, chúng tôi xin trình bày nhân duyên chọn tên cuốn sách nầy. Kỷ niệm thời trẻ là kỷ niệm khó quên. Mỗi lần nhớ Huế là mỗi lần tôi nhớ hoa ngọc lan. Một hôm viếng chùa, một đại đức đã đọc và giảng bài thơ chữ nho trên vách cho tôi nghe. Tác giả bài thơ là nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Bài thơ ca ngợi đức hạnh của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết qua hoa ngọc lan.
(Xem: 5692)
Dung lượng của quyển sách này tuy khiêm tốn nhưng hiệu dụng của nó khi áp dụng hành trì thật lớn lao không ngằn mé. Vì người mới bước chân vào đạo nếu không có sự tỉnh thức thì làm sao đạt đến con đường của Giới – Định – Tuệ. Nếu không nhờ oai nghi phép tắc trợ duyên thì làm sao bước vào con đường vô lậu được?
Kinh
(Xem: 1972)
Bạch đức Thế Tôn! Nếu có người con trai hay người con gái gia đình hiền thiện nào, đã khởi hành trên cỗ xe Bồ-tát, thì họ phải an trú như thế nào? Phải tu tập như thế nào? Và phải nhiếp hộ tâm như thế nào?
(Xem: 1792)
20 bài kinh được tuyển chọn trong bộ Kinh này là kho tàng trị liệu tâm linh không thể thiếu với những ai mưu cầu hạnh phúc và quý trọng giá trị an lạc đạt được từ lối sống tôn trọng nhân quả, đạo đức. Hãy cùng nhau truyền bá bộ Kinh này để con đường tâm linh Phật giáo trở nên gần gũi và được nhiều người trải nghiệm. Xin đem tất cả công đức từ việc soạn dịch và ấn hành kinh này hồi hướng đến pháp giới chúng sanh được an lạc.
(Xem: 2328)
Toàn bộ lời kinh là giáo pháp thực hành, do chính Đức Phật giảng dạy vào những năm đầu hoằng pháp, nên nội dung kinh không được sắp xếp theo từng chủ đề, tuy nhiên mỗi bài kinh là một pháp hành và tất cả không ngoài nghĩa giải thoát và giải thoát ở đây chính là vô sở trụ, là xa lìa mọi khái niệm, mọi kiến thức, mọi nghi lễ… là người không tạo tác gì, là người buông bỏ hết, kể cả tâm buông bỏ. Có thể nói Kinh Nhật Tụng Sơ Thời là kinh cốt tủy của Đạo Phật mà tất cả kinh điển Nam Truyền, Bắc Truyền, Tạng truyền, và các luận giải đều xuất nguồn từ tư tưởng kinh này.
(Xem: 2387)
Kinh Phật căn bản là tuyển tập 13 bài kinh, trong đó 11 bài có xuất xứ từ kinh điển Pali và 2 bài thuộc kinh điển Đại thừa. Các bài kinh này, trong mười năm qua, tôi thường sử dụng trong các chuyến hành hương chiêm bái Phật tích Ấn Độ và Nepal do tôi hướng dẫn. Thay vì mang theo nhiều bài kinh riêng biệt, trong ấn bản này, tôi quyết định gộp chung thành một tuyển tập, theo đó người đọc tụng sẽ tiện sử dụng khi ngồi trên xe, lúc có mặt tại các Phật tích hoặc đọc tụng tại chùa hay tại tư gia.
(Xem: 1823)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng đó là theo bản Pali của Thái Lan, Sri Lanka và PTS, nhưng bản Pali Miến Điện viết khác, dịch ra Anh văn là “Vị này không có tự ngã, cũng không có cái đối nghịch lại tự ngã” (“He has no self, nor what’s opposed to self.”); nghĩa là, không gọi là ngã, cũng không gọi là phi-ngã. Trong khi đó, Bhikkhu Bodhi dịch thêm phần luận về chú giải kinh này, nói rằng với người đã buông bỏ 62 kiến giải, sẽ không còn thấy gì để nắm giữ hay buông bỏ nữa.
(Xem: 2242)
Nhận thấy, Pháp cú Bắc truyền có 39 phẩm, 759 bài kệ, không những chứa đủ nội dung Pháp cú Nam truyền (gồm 26 phẩm, 423 bài kệ), mà còn nhiều hơn 13 phẩm, 336 bài kệ với nhiều ý nghĩa sâu xa, thí dụ sinh động, chúng tôi mạo muội chuyển dịch tác phẩm này ra tiếng Việt với tựa đề KINH PHÁP CÚ BẮC TRUYỀN để Tăng Ni và Phật tử có cơ hội tiếp xúc, đối chiếu kinh điển giữa hai truyền thống, ngỏ hầu hái được những đóa hoa sắc hương trong vườn hoa Tuệ giác, làm đẹp cho đời.
(Xem: 1951)
Luận Duy thức tam thập tụng này được viết với mục đích khiến cho những ai có sự mê lầm ở trong nhân vô ngã và pháp vô ngã mà phát sinh nhận thức không điên đảo đối với nhân vô ngã và pháp vô ngã. Trong đây, do nhận thức không điên đảo về nhân pháp vô ngã, mà phiền não chướng và sở tri chướng được đoạn trừ.
(Xem: 1364)
Một thời, Thế Tôn du hành ở Lực sĩ sinh xứ[2], rồi đi dần đến ấp Ba-bà[3], trụ tại rừng Chiết-lộ-ca[4]. Bấy giờ, trong ấp ấy, chúng lực sĩ ở tại khoảng đông tâycủa thôn là nơi thường tụ họp giải trí, chỗ ngôi đền Ôn-bạt-nặc-ca[5], mới dựng một đài quán thanh nhã, chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn v.v… cùng các lực sĩ từng thọ dụng đài quán ấy.
(Xem: 1897)
Thế nào là Mười đại địa pháp?1. Thắng giải; 2. Niệm; 3. Tư; 4. Xúc; 5. Tác ý; 6. Dục; 7. Thắng giải; 8. Niệm; 9. Tam-ma-địa; 10. Tuệ. Thế nào là mười đại phiền não đại pháp? 1. Bất tín; 2. Giải đãi; 3. Thất niệm; 4. Tâm loạn; 5. Vô minh; 6. Bất chánh tri; 7. Phi lí tác ý; 8. Tà thắng giải; 9. Trạo cử; 10. Phóng dật.
(Xem: 1331)
Trong đây, thế nào là sắc uẩn? Bất cứ sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại; thuộc nội phần hay ngoại phần, thô hay tế, hạ liệt hay thắng diệu, xa hay gần, mà dồn chung lại, tổng hợp thành một khối. Gọi chung là sắc uẩn.
(Xem: 1822)
Vì muốn khiến cho những người ấy đối với vực thẳm trong biển pháp tướng của A-tì-đạt-macó thêm phương tiện để thể nhập một cách dễ dàng và vui thích, do đó tạo ra Luận này.
(Xem: 5209)
"Pháp Uẩn Luận là phần quan trọng nhất trong các tác phẩm A Tỳ Đàm và cũng là khởi nguyên của hệ thống giáo lý Hữu Bộ. Bộ luận này do ngài Đại Mục Liên biên soạn. Hữu Bộ là trường phái dẫn đầu của mọi trường phái Phật Giáo và sở hữu một di sản kinh điển đồ sộ từ Phát Trí Luận, Tỳ Bà Sa Luận, Thuận Chánh Lý Luận, Hiển Chân Tôn Luận.
CHUYÊN ĐỀ
“Cụ nhất thế công đức | Từ nhãn thị chúng sanh | Phước tụ hải vô lượng | Thị cố ưng đảnh lễ” | Đây là lời tán thán Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, trong kinh Phổ Môn. Bài tán dạy rằng, với công đức đầy đủ, Ngài nhìn khắp chúng sanh bằng đôi mắt từ ái, sẵn sàng đáp lại tiếng kêu thương.
Mẹ hiền Quán Thế Âm là vị Bồ-tát có hạnh nguyện đại từ, đại bi, thương yêu tất cả chúng sinh muôn loài như người mẹ thương yêu đứa con duy nhất của mình. Ngài luôn quán sát, lắng nghe âm thanh kêu cứu, cầu nguyện của chúng sinh từ những nơi đau khổ để kịp thời ứng hiện cứu giúp.
Viết về mẹ tôi mà bắt đầu bằng Thúy Kiều, mẹ tôi chắc chắn không ngạc nhiên. Bởi vì mẹ tôi quá biết tính nết con trai mình : cả đời hụt chết mấy lần vì nhan sắc. Ít ra mẹ tôi cũng rộng lượng với con: nó đâu có phải là phường ham mê nữ sắc, chỉ mê cái đẹp thôi. Mà Thúy Kiều thì đẹp, quá đẹp.
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.
Cả tuần lễ trước rằm tháng 7, rất nhiều chùa và rất nhiều cơ quan, gia đình tổ chức lễ vu lan. Mừng thay, lễ vu lan ngày nay được quan tâm và điều đó giúp cho đạo đức con người tốt hơn, xã hội bình an hơn, tình người được trân trọng hơn.
Công sinh thành, dưỡng dục / Đã cạn lời ca dao / Cha mẹ như trăng sao / Mãi sáng ngời ân đức.
Mỗi năm ngày giỗ Mẹ | Sóng kỷ niệm dập dồn | Vỗ tâm con ghềnh đá | Nhớ thời Mẹ còn bên | Những ngày xa xưa ấy
Tháng bảy mùa thu lá rụng vàng | Ấy mùa báo hiếu lễ Vu-lan | Bâng khuâng nhớ đến ân sinh dưỡng | Thổn thức tâm con ngấn lệ tràn.
Vu Lan là ngày tri ân, tưởng niệm, nghĩ về, truyền thông, nối kết giữa con cái và cha mẹ.[1] Nghĩa là ngày báo hiếu. Để làm được trọn vẹn ý nghĩa của ngày Vu lan, người con Phật cần biết phương pháp báo hiếu theo lời dạy của Phật trong cả hai truyền thống Nguyên thủyĐại thừa. Nói cách khác nghĩa là nhằm nhận diện được những điểm dị và đồng của hai truyền thống, qua đó có thể hiểu rõ hơn đâu là cách báo hiếu tốt nhất.
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹcông ơn mang nặng đẻ đau và dưỡng dục của cha mẹ vô ngần, không thể tính kể. Cho nên trong Tăng Chi Bộ, Thế Tôn gọi Cha MẹPhạm Thiên, và những con cháu trong gia đình nào mà kính dưỡng cha mẹ được xem ngang bằng với Phạm Thiên
24 giờ bên người bệnh bị liệt toàn thântai biến mạch máu não là quãng thời gian tưởng chừng như vô tận đối với tôi. Vậy mà cô em gái của bạn tôi, rõ ràng hơn là một cô ni nhỏ, đã ở bên và chăm sóc mẹ gần 24.000 giờ mà không hề chép miệng thở than! Một quãng thời gian có thể làm cho bao con tim khô héo, dù là kẻ hiếu thảo thường tục hay người chuyên nuôi bệnh cũng phải kính phục, nghiêng mình.
“Có hai hạng người khó gặp trong đời? Thế nào là hai? Đầu tiên là người có lòng tử tế, và thứ là người biết ơn hành động tử tế của người đã làm cho mình”
NEW POSTING
Sự trải nghiệm trong suốt quá trình tụ tập của biết bao nhiêu bậc hiền Thánh đã đi trước, để lại cho chúng ta những lời chỉ dạy rất bổ ích, chúng tôi xin chân thành trình bày ra đây bằng tất cả tấm lòng với trái tim yêu thươnghiểu biết.
Tam vô lậu học, Giới – Định – Tuệ là pháp môn thù thắng của đạo Phật, giúp hành giả đoạn trừ dần phiền não, an lạc, hạnh phúc cho đến chấm dứt tất cả các lậu hoặc, chứng nhập niết bàn, hoàn toàn giải thoát. Trí tuệ giải thoát được xây dựng trên nền tảng của Định, và Định có được trên căn bản của Giới. Như vậy Giới là gốc rễ của trí tuệ giải thoát.
Tuệ Trung Thượng Sỹ (1230 - 1291) tên thật Trần Tung, con trai trưởng của An sinh vương Trần Liễu. Trần Tung là anh ruột Trần Hưng Đạo và hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, phu nhân của vua Trần Thánh Tông. Thuở thiếu thời, Tuệ Trung Thượng Sỹ nhân từ, bẩm chất mẫn tuệ, thông minh. Sớm học đạo với thiền sư Tiêu Dao, bậc đạo cao đức trọng, lãnh hội, thấu triệt mau chóng gia phong, yếu chỉ Thiền tông
Trước hết, quyển sách “Hào quang Vật lý trong bầu trời Phật học” không có ý định giới thiệu thành tựu nào của Vật lý hay Toán học, dù chỉ là nói về ý nghĩa hay tính thời sự của chúng. Tác giả chỉ mong tìm được trong đó nguồn cảm hứng khoa học, làm giá đỡ cho những suy nghĩ luôn đeo bám gần trọn cuộc đời mình từ hồi còn là một sinh viên, những câu hỏi “tại sao” vẫn chưa có lời giải về một bức tranh thực tại thế giới đang chịu sự lưỡng phân Vật chất - Tinh thần suốt hàng ngàn năm nay.
Có rất nhiều sách về nuôi dạy con, nhưng gần như không có cuốn nào dựa trên nền tảng nguyên lý Phật giáo. Phật giáo, suy cho cùng, là về quy luật nhân quả. Nếu chúng ta làm điều thiện, kết quả mang lại sẽ tốt đẹp. Đó là một triết lý lạc quan trong đó chúng ta có thể loại trừ hoàn toàn được sự vô minh (thiếu hiểu biết) và từ đó là toàn bộ khổ đau nữa.
Bất cứ ai cũng muốn mình hạnh phúc, không ai muốn mình gặp phải bất hạnh khổ đau. Nhưng không phải ai cũng được như ý mình. Cuộc sống có muôn mặt, muôn sắc thái, muôn hình vạn trạng mà đâu đâu cũng không giống nhau. Sự thành công hay vấp ngã, giàu có hay nghèo khổ...đều có sự khác biệt nhau. Nên nói mỗi người có mỗi hoàn cảnh, không ai giống ai, có chăng chỉ có phần ít giống nhau về hình thức, nhưng nội sự lại khác hoàn toàn. Và hạnh phúc là sự xây dựng dựa trên niềm tin, thái độ tích cực đối với cuộc sống.
Thương là một cảm xúc tốt đẹp, một tình cảm gắn bó tha thiết mà ta dành cho ai đó. Khi thương ai, ta sẽ cố gắng không làm tổn thương người đó, đối xử với họ một cách tử tế và đem đến cho họ những điều tốt đẹp nhất. Trong cuộc sống, chúng ta thương rất nhiều người nhưng có một người mà chúng ta đừng bao giờ quên, đó là bản thân.
Cuộc đời vốn đục trong, đen trắng, Thánh phàm, vàng thau lẫn lộn, nói chung các cung bậc đều đủ. Nếu ta nói về ai, việc gì với thật ngữ, không hư vọng, đúng sự thật mắt thấy tai nghe, thiết nghĩ cũng chẳng có gì phải sợ. Chỉ sợ là ta nói không đúng với sự thật, nghe theo số đông mà dèm pha đàm tiếu, hùa với kẻ mạnh mà kích bác phỉ báng người thiện lương.
Những năm gần đây, danh từ “chánh niệm” được xuất hiện tràn ngập khắp sách vở, báo chí, học thuyết, các khóa học, và nó được đề xướng hai học thuyết về sự thực tập chánh niệm (Sati). Học thuyết thứ nhất cho rằng: đức Phật sử dụng thuật ngữ chánh niệm có nghĩa là “vô niệm” hay “không dính vào có hay không”, “sự thuần chú tâm, không pha tạp” (bare attention): trạng thái của sự tiếp nhận thuần khiết - không phản ứng - không phán xét - không can thiệp đối với hiện tượng vật lýtrạng thái của tâm khi chúng tiếp xúc với sáu giác quan (thức là giác quan thứ sáu).
“Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng” là một câu thơ của Thầy Tuệ Sỹ mà tôi cứ đọc đi đọc lại mãi trên những chuyến phiêu bạt, giang hồ khắp đó đây. Ngày đi, tháng đi, năm đi và đời mình cũng đang chuyển dịch đi qua. Đi trên nhịp bước sương lồng sông núi lặng: “Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng. Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu.”* Phiêu lưu, phiêu lãng ngàn phương, theo cách điệu tiêu dao du chơi giữa vô thường:
Phương pháp tu tiến thiền dạy tại Tu Viện Pa Auk Tawya dựa trên bản giải về thiền được tìm thấy trong chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). Hệ thống phương pháp này liên quan đến những giai đoạn tu tập phức tạpvi tế. Những giai đoạn này bao gồm sự phân tích tỉ mỉ cả hai ‘danh pháp’ (nāma) và ‘sắc pháp’ (rūpa) theo tất cả những loại đã liệt kê trong Vô Tỷ Pháp (Abhidhamma). Xa hơn nữa, thiền sinh sẽ dùng trí này để thấy biết rõ, xác định tiến trình của pháp ‘Liên quan tương sinh’ (paṭiccasamuppāda) sinh khởi trong quá khứ (atītā), hiện tại (paccuppannā) và vị lai (anāgatā).
Buổi sớm mai ngày cuối tuần. Đang đọc sách và thưởng trà. Tự nhiên nhớ đến thầy Vạn Lợi, một vị tu sỹ đang giảng dạy tại Học viện Phật giáo Việt Nam trên Sóc Sơn và tại viện Trần Nhân Tông. Nhấc máy gọi cho thầy.
Để có được một cảnh tượng của bốn giai đoạn cuối của sự chết diễn tiến, thì thật cần thiết để thấu hiểu những trình độ của thức cũng như cấu trúc của những kinh mạch, các luồng gió,các hạt của chất lỏng (gồm nước và khí) bên trong thân thể. Đây là triết lý và tâm lý học quan trọng của Mật thừa.
New Posting Chương II. Suy tư về các bối cảnh trong cuộc sống: - Đàn ông và đàn bà (49 - 53) - Cuộc sống trong gia đình (54 - 70)
Cuộc sống là sự tiếp nối thời không của quy luật định nghiệp tạo ra bởi nghiệp báo mỗi người. Có lúc ta lại gặp không may, không tốt, gặp những điều bất hạnh mà có khi lại gặp may mắn tốt lành. Nhưng sự bất hạnh hay niềm hạnh phúc đó được xây dựng trên cơ sở tâm chấp ngoại cảnh lục trần của thế gian nên nó cũng không thực có. Chỉ có sự buông xả hai trạng thái trên mới thực sự đem lại niềm hạnh phúc chân thực.
Với người học thiền bình thường, phần nhiều cứ nghĩ: thiền phải ở nơi núi cao rừng thẳm hay hang vắng, bởi họ tưởng tượng theo danh từ “thiền lâm” là rừng thiền, thì phải ở trong rừng. Hoặc có người cho rằng, thiền chỉ có trong thiền đường, trong thiền viện, trên bộ đoàn, tọa cụ…, song nếu Thiền như thế thì Thiền quá cục bộ, chưa phải Thiền tròn khắp, chỉ có chỗ này mà không có ở chỗ kia, tức thành sanh diệt mất rồi.
Chúng ta phải tập cởi mở hận thù, không kết oan trái với nhau để chịu khổ lâu dài đời này qua đời kia không đem lại lợi ích gì. Phải thực hành lòng từ, đem tình thương đến với mọi người, đó là cách hay nhất để giết hận thù, là con đường tốt đẹp nhất cho mọi người cùng chung bước.
Học thuyết đồng nhất (nhận dạng) tâm (trí/ý thức) và não (The Mind/Brain Identity Theory) cho rằng trạng thái tinh thần là trạng thái não, quá trình não bộ đồng nhất với các trạng thái của tâm ý. Lý thuyết này được một số nhà Duy vật thuần túy ủng hộ. Khi người ta nói “cô ấy có tâm trí tốt, hay cô ấy có bộ óc tốt” là để thay thế cho nhau.
“Việt Nam là đất nước đa tôn giáođạo Phậttôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, hỷ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời phấn đấu vì hạnh phúc an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời, hộ quốc, an dân. Đặc biệt lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của vị vua anh minh Trần Nhân Tông có công lớn lãnh đạo nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
… Cô đang giảng bài cả lớp đang im thin thít lắng nghe. Chợt có hai người đàn bà mặc đồ bộ bông hoa lòe loẹt từ bên ngoài bước xồng xộc vào lớp. Không hiểu hai bà này đã lọt qua cổng bác bảo vệ bằng cách nào, mà vào đến đây với thái độ hiên ngang. Thập thò thập thụt ngoài cửa lớp là Hưng. Một bà hung tợn đứng chống nạnh trấn ngay đầu lối lên xuống giữa hai dãy bàn, hét tướng lên: “Ngồi im hết. Đứa nào rục rịch liệu hồn tao!” Cả lớp trố mắt sửng sốt, ngồi trơ ra như đá, chẳng hiểu việc gì đang xảy ra. Còn bà kia, ung dung chắp hai tay sau lưng bước lại bên cô giáo Thanh. Cô giáo giật mình biết chuyện chẳng lành, vội bước lùi ra sau mấy bước, đến đứng tựa vào bàn của cô.
Khi chúng ta làm điều gì, chúng ta nên biết rõ điều đó có ý nghĩa gì, hoặc ít nhất nó có nhu cầu thật sự hay không. Việc xây dựng nhà hát giao hưởng ở thành phố Hồ Chí Minh, theo thiển ý của tôi, thì không cần thiếtý nghĩa, ít nhất là lúc này
Chúng ta đang sống trong một xã hội mà mỗi người ngày càng co rút lại, chỉ muốn được yên thân, còn thì sống chết mặc ai. Một xã hội như thế có đáng sống không? Và nó sẽ đi về đâu? Và nguyên nhân vì đâu mà con Lạc cháu Hồng ta lại nên cơ sự này? Ôi câu ca dao xưa vẫn còn vang vọng đâu đây trong lòng ta da diết: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước thì thương nhau cùng/ Bầu ơn thương bí lấy cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn”.
Hạnh phúc chính là mục tiêu của cuộc sống. Và điều này đang còn thiếu. Để đạt được hạnh phúc thì tri ân là điểm mấu chốt. Chúng ta thường nghĩ rằng tri ân phải xuất phát từ hạnh phúc, từ cảm giác hạnh phúc nhưng thực ra không phải như vậy. Cảm nhận hạnh phúc xuất phát từ niềm tri ân. Nhưng đa số mọi người thường hiểu ngược lại: tức là hạnh phúc đem lại sự hài lòng. Theo tôi trước tiên bạn phải có được sự hài lòng và kết quả sẽ là hạnh phúc.
Sáu tùy niệm hay còn gọi là ‘lục niệm’ là sáu đối tượng để hành giả hồi tưởng, tưởng niệm, suy nghĩ. Niệm (Sati) là nhớ nghĩ, là sự chú tâm vào một đối tượng duy nhất, sự đặt để tâm trên đối tượng mà không bị xao lảng hay phân tán trong giây phút hiện tại. Chánh niệm là nhớ nghĩ chơn chánh, là an trú tâm, nương vào hơi thở, đưa thân tâm về một mối để cảm thụ hạnh phúc đích thực.
Chúng ta cần giáo dục để mọi người biết được rằng việc sử dụng bạo lực đã bị lỗi thời như thế nào. Hòa bình trên thế giới sẽ không thể đạt được trừ khi mọi người phát triển hòa bình bên trong nội tâm. Đây là những ý kiến của Đức Đạt Lai Lạt Ma về các vấn đề khoa học hiện đại và khoa học Phật giáo, được tổ chức tại Nhật Bản ngày 16.11 vừa qua, về hoà bình, về não bộ và tâm thức con người.
Chúng tôi được một người cháu dẫn đến một nơi được gọi là Phật Đường tại quận 11 TP. Hồ Chí Minh để tham dự một buổi lễ truyền đạo do một vị Cư sĩ mà cháu tôi gọi là Thầy đến từ đảo quốc Đài Loan. Sau khi dùng cơm chay xong, chúng tôi được mời lên tầng lầu xem chính điện và được một vị nữ cư sĩ trẻ người Việt gốc Hoa nói thông thạo tiếng Hoa và tiếng Việt thuyết về vị sư phụNhất Quán Đạo. Chúng tôi được mời đăng ký để vị Thầy truyền đạo điểm huyệt (họ gọi là điểm huyền quang). Cô thông dịch viên nói không ép buộc sau khi chúng tôi khước từ với lý do cần nghiên cứu thêm về Nhất Quán Đạo. Đây là lần đầu tiên chúng tôi được nghe và biết đến giáo phái này có mặt tại Việt Nam. Vậy xin quý thầy và ban biên tập Thư Viện Hoa Sen cho biết Nhất Quán Đạo có phải là Phật Giáo Không?
Nhà kinh tế học Clair Brown của trường đại học UC Berkeley, nói về một hệ thống kinh tế đặt nền tảng trên lòng vị tha, tính bền vững và một cuộc sống có ý nghĩa. Bởi kinh tế không chỉ có nghĩa là tiền. Triển vọng của nền kinh tế theo tinh thần Phật giáo Điểm khởi đầu trong quyển sách mới của ông, Kinh tế Phật giáo, nói rằng mục tiêu của bất kỳ hệ thống kinh tế nào cũng nhằm tạo ra hạnh phúc cho con người. Vậy thì nền kinh tế thị trường tự do định nghĩa hạnh phúc như thế nào và có khác gì với định nghĩa về hạnh phúc của nền kinh tế Phật giáo hay không?
NHẠC LỄ Hò vè, điệu lý, đồng dao Mẹ ru Thầy tụng xôn xao đất trời Kệ kinh lưu thủy nhập đời Chơn ngôn lộng điệp chuyển dời nghiệp duyên.
Tĩnh Lặng là pháp duy nhất trên đời không thuộc về thế gian. Nếu nói tĩnh lặng là ngôn ngữ của chân lý thì chân lý ‘vô ngôn’ ‘vô âm’ ‘ngoài thời gian’ này có mặt ở khắp mọi nơi. Bất luận ở đâu, bất kể lúc nào, chúng ta vẫn luôn luôn hiện hữu một bên cùng với pháp bất biến, vĩnh hằng của cội nguồn vô tướng này. Hư Không cũng là một khái niệm khác để chỉ cho chiều kích vô vi, không sinh không diệt của Tĩnh Lặng.
Trong Kinh Tăng Chi, cố lời Phâ ̣t “Tâm này, này các Tỷ-khêô, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngôài vào. Kẻ phàm phu ít nghê, không như thật rõ biết tâm ấy. Dô vậy, Tâ nói rằng tâm kẻ phàm phu ít nghê, không được tu tập. Bậc hiền trí nghê nhiều, như thật rõ biết tâm ấy. Dô vậy, Tâ nói rằng tâm bậc hiền trí nghe nhiều, có được tu tập”
Thực tại hiện tiền rất huy hoàng và kỳ diệu. Khi buông bỏ hết quá khứ và tương lai, bạn như thể đã hồi sinh. Bạn ở tại đây, bạn đang tỉnh thức. Đó là giai đoạn thứ nhất của hành thiền, sự tỉnh thức được nuôi dưỡng trong giây phút hiện tại. Đạt đến đấy, bạn đã thực hiện rất nhiều điều. Bạn đã buông bỏ được gánh nặng đầu tiên, vốn cản trở mức thiền định thâm sâu.
Thiền là đường lối để thực hiện sự buông bỏ. Khi hành thiền, ta buông bỏ thế giới phức tạp bên ngoài, để có thể vươn đến thế giới an nhiên bên trong. Trong tất cả các hệ thống huyền học và trong nhiều truyền thống, hành thiền được biết đến như là con đường đi đến tâm thanh tịnh và uy lực. Kinh nghiệm về tâm thanh tịnh này, giải thoát ra khỏi thế giới, rất là vi diệuhỷ lạc.
Phật Thích Ca Mâu Nilòng bi mẫn vô biên dành cho mỗi chúng sinh. Người ta nói rằng chính lòng bi mẫn vô biên này đã thúc đẩy Ngài phát khởi năm trăm ‘đại nguyện’ vì hữu tình chúng sinh, kết quả trực tiếp của chúng là việc Ngài đạt giác ngộ viên mãn – điều chỉ ra cho chúng ta tầm quan trọng của việc phát khởi những nguyện ước. Bạn có thể thọ nhận một khẩu truyền ở bất cứ đâu, nhưng bạn chỉ có thể trở thành một vị ‘Phật’ nhờ sức mạnh của nguyện ước.
Thầy biết tinh thầnsuy sụp, chao đảo, nên đã vừa châm chước bỏ qua rất nhiều lỗi lầm của nó, vừa hết lòng động viên nâng đỡ cho nó yên tâm tiếp tục học hành. Vậy mà nó chẳng cần hiểu thầy, chẳng màng nghe một lời khuyên bảo của thầy, lại bướng bĩnh phản ứng xấc láo với thầy trước cả lớp học, khiến cho thầy không kiềm được cơn bực tức nên đã tát tai nó một cái ngoài ý muốn. Thầy biết thầy sai, một sai lầm lớn khi trừng phạt học trò kiểu ấy, và thầy sẵn sàng xin lỗi nó trước cả lớp mà không sợ bất cứ ai chê cười. Nhưng nó đã bỏ tiết học cuối, chạy đi đâu mất rồi. Bây giờ thầy sẽ tạt thử vào nhà nó để hai thầy trò trò chuyện tâm sự, và xin lỗi nó…
Ở nước Mỹ có một người ngày đêm miệt mài đưa văn hóa Phật Giáo phương Đông bằng tiếng Tây Tạng, tiếng Sanskrit ra tiếng anh giúp phần hoằng dương Phật pháp khắp nước Mỹ và để người phương Tây hiểu rõ hơn về Phật giáo Tây Tạng
Kho tàng thư tịch Hán Nôm là một trong những di sản Phật giáo quý báu mà các thế hệ tiền nhân đã để lại. Trên tinh thần trân trọng những giá trị đó, Thư viện Huệ Quang trực thuộc Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang sẽ lần lượt giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm Hán Nôm tiêu biểu, như là một phương cách giữ gìntôn trọng di sản Phật giáo Việt Nam.
Từ xưa đến nay, khi nào đưa tay lấy của ai, vật gì mà chưa được phép mới gọi là kẻ trộm. Tòa án khi phân xử, luận tội trộm cắp cũng cần có tang chứng vật chứng rõ ràng. Nào ngờ thú thưởng sen tao nhã, lặng lẽ nhìn ngắm và đón nhận làn hương tinh khiết trong trời đất mà cũng bị quy vào tội trộm hương.
New Posting: Chương VI. Lợi Lạc Cho Mình Và Lợi Lạc Cho Người Khác - Giới Thiệu 1. Người Ngu Và Người Trí 2. Người Bất Chánh Và Người Chơn Chánh 3. Gốc Rễ Của Tổn HạiLợi Lạc Cho Mình Và Cho Người Khác 4. Bốn Hạng Người Trong Đời 5. Tỷ-Kheo 6. Cư Sĩ / Phật Tử Tại Gia 7. Bậc Đại Trí Tuệ
Người học đạo, hành đạo, không để bị rơi vào tâm cảnh hối tiếc quá khứ hay vọng tưởng tương lai. Hạnh phúc chỉ có thể hiển hiện ngay nơi thực tại hiện tiền. Nhưng hạnh phúc thực sự không phải là thứ hạnh phúc có được tất cả, mà chính là buông được tất cả. Người nào không buông được tất cả sẽ không bao giờ nếm được hương vị của tịch nhiên, giải thoát. Không buông xả được có nghĩa là vẫn ôm mấy chục năm quá khứ, thậm chí vô số đời kiếp quá khứ, để dợm chân từ hiện tại bước vào tương lai.
Khi Zopa Rinpoche ở Singapore vào tháng Năm 1988, ngài trú ngụ tại nhà của một gia đình may mắn và rất sùng mộ. Trước khi rời đi, với lòng bi mẫn vĩ đại, Rinpoche đã đọc những lời này cho tôi nhằm biên soạn cho gia đình Lim, đặc biệt là cho bà mẹ, để thực hành. Ngài đã đề nghị nó cũng được bao gồm trong quyển sách này, khiến cho những người khác có thể học cách chuyển hóa các hoạt động trong đời sống hàng ngày thành con đường dẫn tới giác ngộ.
New Posting: Tập san Chánh Pháp số 85 tháng 12 năm 2018
"SỰ ĐỜI THỈNH MỜI PHÁP ĐẠO" Đó là tên gọi của "dự án" mới tinh toanh của Tâm Không - Vĩnh Hữu, sẽ gồm những câu chuyện ngắn thú vị nhưng hàm chứa nhiều điều để suy ngẫm về cuộc sống đa sắc màu luôn sống động bất trắc, cũng như luôn bình lặng an vui, khi tu họcứng dụng Phật pháp. Mục đích là khuyến tu, là nhắc nhở những người con Phật hãy Thực Hành, chứ đừng mãi Thuyết Suông!
Ban điều hành CLB Trái Tim Thiện Nguyện Hoa Tạng tổ chức Khóa tu Thiền chính niệm tại chùa An Phước trong 4 ngày. Khóa tu là cơ hội giúp mỗi người chúng ta trở về chăm sóc nuôi dưỡng đời sống chính niệm tỉnh thức, trải nghiệm hạnh phúc, an lạc trên từng bước chân dưới sự hướng dẫn thiền tập từ chư Tôn đức Tăng.
Khi loài người đã biết hợp quần, sản xuất, sống thành xã hộimọi người lao động để tạo thu nhập thì các hình thức lao động và sản phẩm lao động, nói chung là lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất, được hình thành theo từng nhóm, dù người lao động có thể không ý thức đến những người khác có liên hệ đến mình (và ngược lại) hay không. Sự sản xuất của một số người lao động dần dần được người khác biết đến; và khi xã hội đã quen thuộc với thể cách lao động, sản phẩm lao động, thì thể cách lao động được công nhận như một nghề. Nghề nghiệp là từ dùng để gọi chung các hoạt động có thể tạo ra thu nhập trong xã hội.
Là một nước kém phát triển sau một thế kỷ chiến tranh, một số người trong xã hội ta không nhìn thấy đạo đức có chỗ đứng nào trong cuộc đời của mình. Chúng ta dễ nghĩ rằng đạo đức là một thứ mà xã hội, nhất là qua pháp luật, gán ghép vào thân tâm chúng ta. Nó không cần thiết, nó xưa rồi, lỗi thời rồi. Thật ra, đạo đức rất quan trọng cho đời sống mỗi người.
Chúng tôi đón ông Juergen Boos, Chủ tịch Hội sách lớn nhất thế giới Frankfurt Book Fair, CHLB Đức vào Việt Nam để làm việc. Sau thành công năm vừa qua của việc FBF và Bộ Ngoại giao Đức đã tổ chức hiệu quả khóa huấn luyện chất lượng cao cho lãnh đạo ngành xuất bản Việt Nam tại Hà Nội và đưa một số biên tập viên Việt Nam và ASEAN đi huấn luyện tại Đức, cũng như sự hiện diện của Hà Nội, Việt Nam tại FBF rất nổi bật và cuốn hút, phía Đức rất muốn giúp đỡ và hợp tác với Hà Nội Việt Nam nhiều và sâu hơn nữa trong các lĩnh vực khác nhau, nhất là văn hóa giáo dục, mà cụ thể hơn nữa là xuất bản và nội dung.
Trong cương vị Thống Đốc tiểu bang Hawaii, bản thân là một Phật tử và là da màu, David Yutaka Ige suy nghĩ thế nào trong thời đại của Tổng Thống Trump, một người Thiên Chúa Giáo không gương mẫu và là một chính khách không tin các nghiên cứu về biến đổi khí hậu? Tạp chí Lion’s Roar đã có bài phỏng vấn Thống Đốc David Yutaka Ige về nhiều phương diện, đặc biệt về suy nghĩ của một Phật tử như Ige.
Thế là đã tròn 15 năm kể từ ngày Thầy giã từ cuộc mộng. Chuyến hóa duyên này của Thầy khá là dài.... Con bây giờ đi gần hết đời người, quá nửa việc ngày xưa lẫn ngày nay gần như quên bẵng, nửa còn lại nhập nhằng giữa đôi bờ mộng thực chông chênh. Thế mà, từng chi tiết về lớp học năm xưa vẫn sáng ngời, vẹn nguyên trên đỉnh đồi tâm thức.
Bản dịch Cẩm Nang Nhập Thất của Jamgong Kongtrul này được dự định như một đóng góp khiêm tốn cho sự hiểu biết của chúng ta về việc tu tập thiền định trong truyền thống Mật thừa của Phật giáo và về cuộc đời của tác giả, một thiền sư trong thế kỷ mười chín mà tác phẩm vẫn là một trong những ảnh hưởng vượt trội trong Phật giáo Mật thừa hiện đại vùng Hy mã lạp sơn.
Trong nội dung của tham luận này, tôi xin điểm qua triết lý cơ bản mà mục tiêu phát triển thiên niên kỉ của Liên Hiệp Quốc đề ra trong ngữ cảnh Phật Giáo Nguyên Thủy. Tôi xem xét Nghiệp quả (P. kamma; S. karma) như một phạm trù đạo đức được xác định và thể hiện dưới ánh sáng của kinh điển Phật Giáo thuộc hệ Pàli, cũng như từ góc độ cuộc khủng hoảng môi trường toàn cầu trong thời hiện đại.
Giữa tháng 11 năm 2007, khi tôi đang nhập chúng, An Cư Kiết Đông tại Làng Mai, Pháp quốc, chờ được thọ giới Sa-Di-Ni trong Đại Giới Đàn Thanh Lương Địa, thì gia đình gửi điện sang, cho biết đã tìm được một chỗ khá tươm tất theo nhu cầu và khả năng của tôi, nhưng phải trả lời ngay trong vòng 24 tiếng!
Đi bụi, phải ra khỏi ngôi nhà tù túng này thì nó cảm thấy thoải mái được. Nhà giàu thì sao? cha mẹđịa vị thì sao? không ai quan tâm đến nó hết. Ý nghĩ đi bụi mỗi ngày một lớn hơn thôi thúc nó. Thế rồi một hôm cả nhà hốt hoảng khi nhận được bức thư nó để lại: “ Ba má ! con đi đây, con đi để tìm giá trị thực sự của hạnh phúc, đừng tìm con nữa. Khi nào tìm được câu trả lời cho cuộc đời mình con sẽ tự quay về. Đứa con bất hạnh của ba má ...Đại Phúc!”
Cuộc sống của một vị mới xuất gia ở Thái Lan có vẻ như là không công bằng. Những vị sư có tuổi hạ lớn hơn nhận được thực phẩm tốt nhất, ngồi trên những tấm tọa cụ mềm và không bao giờ phải đẩy xe cút kít. Trong khi đó bữa ăn duy nhất trong ngày của tôi thật là bất mãn; tôi phải ngồi vài giờ đồng hồ trong những buổi lễ trên nền bê tông cứng với nhiều chỗ lồi lỗm; và thỉnh thoảng tôi phải lao động rất cực nhọc. Đáng thương cho tôi, may mắn cho họ.
"Quý vị ở phương Tây đã bị tẩy não bởi lối suy nghĩ (nhị nguyên) của Descartes: ‘Tôi suy tư nên tôi hiện hữu’. Nhưng cái gọi là tôi không có thực. Tôi có được là do trùng trùng duyên khởi mà có, trong một mạng lưới duyên sinh trùng trùng." Con đường hạnh phúc không phải là "cogito ergo sum" mà là "Tôi thở nên tôi hiện hữu - I breathe, therefore I am". Sự tồn tại của con người được xác định rất giản dị bằng mối liên đới không thể tách rời với môi trường, mà thiếu nó, chỉ trong tích tắc thì con người không thể sống, chứ chưa cần nói tới các nhu cầu giác quan cần thoả mãn khác.
Sự phân chia chủ thể và đối tượng, bên trong và bên ngoài, cái hiện tại và cái đã qua cùng cái chưa tới… nói tóm, sự chia cắt và phân mảnh của không gianthời gian là một số phận của con người; số phận tạo nên xung đột khổ đau; cái mà đạo Phật gọi là sanh tử. Chúng ta biết, triết học và khoa học vẫn chưa giải quyết được điều đó; tội lỗi vẫn tăng thêm, nhà tù vẫn đông thêm, và chiến tranh không ngày nào dứt. Với con người, ngày nào còn thấy có người khác vật khác ở ngoài mình, ngày đó vẫn còn cạnh tranh, chiến đấu; chưa thể có hòa bình, an vui.
Giáo Pháp được giới thiệu lần đầu tiên đến Tây Tạng bởi Vua Lha Totori, sau đấy được thiết lập mạnh mẽ hơn trong triều đại của Vua Songtsen Gampo. Kế đó, Vua Trisong Deutsen đã làm lợi lạc Tây Tạng một cách lớn lao bằng cách thỉnh mời nhiều đạo sư vĩ đại, chẳng hạn Guru Rinpoche [Đạo sư Liên Hoa Sinh], Vimalamitra [Tôn giả Vô Cấu Hữu] và những vị khác, để Giáo Pháp được hoằng dương rộng khắp.
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Penang - hòn đảo xinh đẹp đậm đà nét văn hóa độc đáo của đất nước Malaysia ( Mã Lai), một trong những điểm đến lý tưởng nhất trên thế giới trong những ngày này đã đón tiếp hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử từ các châu lục gồm 30 quốc gia về tham dự Đại Hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới (The World Buddhist Sangha Council - WBSC) lần thứ 10. Khách sạn Equatorial là địa điểm chính, nơi diễn ra suốt kỳ đại hội lần này từ ngày 10 đến 15.11.2018.
Cộng đồng những đạo hữu của Ngôi Chùa Phật giáo ở Quận Cam (Orange County Buddhist Church – OCBC) trở nên càng lúc càng đa dạng về chủng tộc, và một số cho rằng nguyên nhân là những tương đồng với Thiên Chúa giáo.
Ban điều hành CLB Trái Tim Thiện Nguyện Hoa Tạng tổ chức Khóa tu Thiền chính niệm tại chùa An Phước trong 4 ngày. Khóa tu là cơ hội giúp mỗi người chúng ta trở về chăm sóc nuôi dưỡng đời sống chính niệm tỉnh thức, trải nghiệm hạnh phúc, an lạc trên từng bước chân dưới sự hướng dẫn thiền tập từ chư Tôn đức Tăng.
Khóa tu sẽ được diễn ra trong ngày 09/12/2018 (xuất phát vào tối thứ bảy 08/12) do CLB Nhân Sinh tổ chức cho hơn 300 bạn trẻ, sinh viên, học sinh…tham dự tại tu viện Khánh An 2, Đồng Nai.
Mời các bạn trẻ từ 18 tuổi trờ lên tham gia khóa tu thanh niên tại Thiền Viện Bồ Đề ở Massachusetts, Hoa Kỳ vào dịp Tết Dương Lịch 2019.