Sự sống thiên nhiên

15/11/20162:14 CH(Xem: 2818)
Sự sống thiên nhiên
SỰ SỐNG THIÊN NHIÊN
Tỉnh Giác

* LỜI MỞ
  
Đây là bài viết gói gém những vấn đề về Phật Pháp, bài viết được viết và thận trọng sửa đi chỉnh lại, với 1 ý nguyện duy nhất là làm sao để nhận ra LỜI DẠY CHÂN THỰC của Như Lai, qua 2600 năm, đã đuợc bao phủ bằng những lớp hào quang vô cùng kiên cố...  
    
Muốn thấy được "XÁ LỢI SỐNG" của Như Lai, cần phải tháo gở, xuyên qua những lớp hào quang kiên cố nầy, tất phải va chạm.  Phải quyết liệt, nhưng phải nhẹ tay… nhẹ tay, nhưng phải quyết liệt.  Thật khó thay! 

* DUYÊN KHỞI

Nhân duyên nào đã đưa người thiếu phụ hiền hoà, đến giúp mẹ tôi, chăm sóc tôi từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành? Bà thường khẽ đọc bài kệ lúc ru tôi ngủ, cũng như lúc dẫn tôi dạo chơi quanh nhà, dù không hiểu bài kệ nói gì, nhưng qua năm, tháng, tôi cũng thuộc lòng.
        
Đời lắm KHỔ là quả
Do TẬP nhân dính chấp
DIỆT tập nhân si mê
ĐẠO dứt “ngã” đời vui.

      Qua những năm dài chí tâm tìm học, đã bao lần cúi đầu cảm tạ ơn Đức Thế Tôn, qúy thiện tri thức, tôi đã thấm nhuần lời dạy của Như Lai, biết được xuất xứý nghĩa của bài kệLiên tưởng đến những đấng sinh thành, bà vú năm xưa, xin ghi nhận ân sâu…Nay ghi lại những nhận thức đã học hỏi, với lòng kính ngưỡng, thận trọng không làm lệch lạc giáo pháp Như Lai, mong có thể giúp ích phần nào cho những người hữu duyên, cho những ai muốn đi tìm, để đền ơn Đức Thế Tôn.
Pháp Như Lai vi diệu, sự trình bày chỉ hạn hẹp trong lãnh vực thực tiển, theo khả năng thấy biết thô thiển.  Bài viết chỉ cốt ghi lại trung thực  những nhận thức xuyên qua giáo pháp cùa Thế Tôn, không tưởng luận, thêm thắc, không theo những quy tắc hành văn, ngôn ngử, văn cú vụng về, nếu có sai sót lỗi lầm, đó là trách nhiệm của người biên khảo không đủ sáng suốt

Mong những người con Phật, vui lòng đóng góp, cho sự thấy biết “Lời dạy chân thực” của Như Lai được sáng tỏ, cho sự thực nghiệm lời dạy thực tế, đơn giản minh bạch của Như Lai không bị lệch lạc bởi những hào quang thần thoại, mơ hồ, mê tín, cho Sự Sống Thiên Nhiên Thực Tại an vui được hiển lộ…Nếu có phần nào thích hợp, xin tùy nghi ứng dụng, vì lợi ích chung cho nhân loạivạn vật, công đức nầy thuộc về Chư Thế Tôn, quý thiện tri thức và tất cả người, vật khắp Pháp giới.

                              ***

Tuyệt vời Diệu Pháp thật cao sâu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con nghe thấy, chuyên trì tụng
Nguyện giải Như Lai nghĩa nhiệm mầu
  
                ́́́́---                                            

Như Lai Diệu Pháp giản đơn, thực tiển
Ngay đây, bây giờ, nhân quả hiện tiền
Tinh cần nhận thức Sự Sống đồng nhất
Tỉnh thức cơn mê ngã chấp đảo điên
                                              
                ***

[I] -- ĐỜI & ĐẠO –

A - ĐỜI -

        Con người sinh ra và lớn lên trong môi trường cá nhân vị kỷ.  Lúc lên 4 lên 5, đã được đưa vào trường, học tập phát triển khả năng 10 đến 20 năm, để xây dựng tương lai, thường chỉ quanh quẩn những mục tiêuVật chất, tiền tài, danh vọng, địa vị, quyền thế, tình cảm, mang tính cách cá nhân, vị kỹ.  Mấy ai thỏa mãn được hoài bão của mình, người càng giàu sang, quyền thế, danh tiếng, càng nhiều lo âu gìn giữ, và rất đau khổ khi phải mất quyền thế, địa vị, danh tiếng, tài sản của họ.  Nhưng thiên nhiên biến dịch vô thường, đời sống ngắn ngủi, con người không giữ được gì, ngay cả sinh mệnh của mình.
    
      Chính trị và khoa học đem lại đời sống tiện nghi, trật tự, nhưng cũng có nhiều tác dụng không hay, những bộ luật ngày càng phức tạp, đời sống con người thêm gò bó. Sự tiến bộ khoa học kỷ thuật, có hấp lực kích thích lòng ham muốn, thôi thúc con người phải luôn trau dồi kiến thức, để thích nghi với cuộc sống, nên ngày càng trở nên lệ thuộc, vội vã, và máy móc.  Khoa học ngày nay dù tiến bộ, nhưng vẫn đang còn mãi đi tìm.  Hơn nữa con người còn lợi dụng những phát minh khoa học, để phạm tội và tàn sát nhau khủng khiếp hơn. 

      Đời sống vẫn luôn biến chuyển, bất lực trước những bức xúc của cuộc đời, những biến dịch của thiên nhiên, con người cho sự biến dịch vô thường là đáng kinh sợ, đã tưởng ra đấng quyền năng, để cầu xin nương tựa, hay một cảnh giới bất sanh, bất diệt, bất biến, để an trú, để khuất lấp thực tại đang diển biến bất như ý.  Những tưởng tượng mơ hồ, mê tín, bất công, trái với nhân duyên, trái với thiên nhiên, do bản ngã ích kỷ, tham sân, sợ hãi, tưởng tượng, mê tín, mơ hồ không giải quyết được vấn đề… 

      Sự kiện trên vẩn đang tiếp diển…Đến bao giờ nhân loại mới có được an vui hạnh phúc?  Bài toán không có đáp số, vì con người không giải quyết vấn đề ở chỗ then chốt căn bản, chỉ lo những việc không rồi!  Do ích kỷ, tham, sân, sợ hãi, tưỡng tượng, mê tín, nên con người không thấy, không nghe, không biết, không nhận ra Thực Tại đang là, Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, đang diển biến tuyệt vời…

B - ĐẠO -

    Đạo ở đây là Lẽ Thật Thiên Nhiên. Không một ai biết hay có chứng cứ chứng minh được vạn vật, vũ trụ từ đâu có… Nhiều lý thuyết cho rằng tất cả do một đấng tạo hóa, một sư bùng nổ tạo ra…Trên thực tề, vạn vật không thể được hình thành và tồn tại do một nguyên nhân, mà do rất nhiều nguyên nhân liên hệ lẩn nhau.  Do đủ duyên, Đất, Nước, Lửa, Gió tụ-tán, có-không đắp đổi, biểu hiện, đủ sắc tướng, âm thanh, là vạn vật, vũ trụ diển biến sống động, hình thành Sự Sống Thiên Nhiên, là Thực Tại hiện tiền, tùy duyên có thấy nghe hay biết, có tư tưởng.  Gọi là Thật, là Thiên Nhiên, vì xưa như thế, hiện tiền đang là như thế, gọi là Sống, là Như, vì vạn vật thực tại đang hiện bày, đang diển biến như thế.  Nói chung, Đạo là nhận thức và thực nghiệm Thực Tại hiện tiền, vạn vật vũ trụ theo nhân duyên liên tục đổi mới, không có chỗ khởi đầu, cũng không có chỗ dứt.  

      Sự Sống Thiên Nhiên Đồng nhất xưa nay vốn tự đầy đủ cảnh giới, có  tư tưởng rất linh hoạt để điều hợp, lợi ich chung, nhưng tư tưởng mê lầm, tự đồng hóa 3 yếu tố: tư tưởng, thân và cảm xúc, tự nhận là “tôi”.  “Mê tưởng tôi” tự phân biệt với Sự Sống Thiên Nhiên, ích kỷ, dính chấp, tham sân, sợ hãi, gây nhân, tạo nghiệp, rồi nhận nghiệp báo, nhận sinh tử khổ đau. Vì sợ khổ đau “mê tưởng tôi” cho Sự Sống diển biến vô thường là đáng kinh sợ, truy tìm một cảnh giới “bất biến” xa rời thực tế.  Đạo và Đời vốn không hai, chỉ khác ở chỗ, có mê lầm, dính chấp hay không mà thành thiên lệch.  Sự Sống không ngoài hiện đời, chỉ cần tỉnh thức, chánh niệm, nhận ra Sự Sống Đồng Nhất, đang bàng bạc, nơi thân tâm, nơi sinh hoạt hàng ngày, nơi vạn vật, trong mọi hoàn cảnh hiện tiền, ngay đay, bây giờ.

      Hai ngàn sáu trăm năm trước, một vị hoàng tử tên Siddhartha đã cảm nhận sự đau khổ trong cuộc sống, năm 29 tuổi, Ngài đã từ bỏ hoàng cung, tìm nguyên nhânphương cách dứt nguyên nhân khổ đau của con người…  Sáu năm khổ hạnh, theo nhiều pháp đến tuyệt đỉnh, nhưng vẫn không đạt được mục tiêu, sau đó Ngài đến ngồi dưới cội bồ đề, nhận thức 12 nhân duyên, 4 lẽ thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, Ngài tỉnh nhận 3 điều:

(1)-  Vạn vật, vũ trụ xưa nay vận hành đúng Theo lý Nhân-Duyên-Quả, là luật công bằng thiên nhiên, đúng trong mọi thời giankhông gian
    
(2)- Nguyên nhân then chốt đưa đến phiền não, khổ đau, do tư tưởng mê chấp có một cái “tôi” riêng lẽ, cái “mê tưởng tôi” tự gây nhân, tạo nghiệp và  tự nhận nghiệp báo, khổ đau.

(3)- Nhận ra 4 lẽ thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” là pháp dứt khổ đau, Pháp 4 Niệm xứ có hiêu quả dứt “mê tưởng tôi”, là dứt nguyên nhân côt lỏi cuả phiền não, khổ đau.

      Ngài rũ sach “mê tưởng tôi”, tỉnh nhận Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, không còn sinh lại cái “mê tưởng tôi” là dứt luân hồi, phiền não,  khổ đau, là đạt mục tiêu, là thành đạo.  sau đó Ngài tùy duyên giảng dạy hơn 45 năm, giúp người vật lợi ích mấy ngàn năm nay và mãi mãi về sau.  Giáo pháp của Ngài nói rõ những khổ đau trong đời sống, không phải để làm con người thêm sợ hãi, chối bỏ thực tại, mê tưởng thần thoại, mê tín cầu xin, mà để chỉ rỏ nguyên nhân gốc rễ của khổ não là “mê tưởng tôi”, và  pháp 4 Lẽ Thật: “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, 4 Niệm xứ hầu tỉnh thức dứt bỏ “mê tưởng tôi” nguyên nhân then chốt.của mọi khổ đau.

      Giáo pháp “thực tế”, “minh bạch”, “đơn giản”, “tự lực”,  “phổ thông”, tựu trung dạy con người nhận thức về: Thân, Thọ cãm, Tư tưởng, và vạn vật vô thường, vô ngã, nhận thức nếu dinh chấp vô thường liền khổ não, từ đó tỉnh thức thấy rỏ tính chất của “mê tưởng tôi” để buông bỏ Tham, Sân, Si, rũ sạch “mê tưởng tôi”, ngay đó Thực Tại hiện tiền, là Sự Sống Đồng Nhất”, là vũ trụ đang diễn biến theo nhân duyên không có gì là khổ.

(1)- THAM: động cơ của lòng tham là “mê tưởng tôi” ích kỷ
, muốn tồn tại, muốn chiếm hữu, muốn hưởng thụ, không biết đủ, không biết nhân quả.  Khi tham cầu liền lo sợ không được, tham cầu bị cản trở liền  sân hận.  Lòng tham khiến con người gây nhân bất thiện, để thoã mãn, đến khi được rồi, lại sợ mất, không lúc nào an ổn.

(2)- SÂN : do cái “tôi” ích kỷ, bị cản trở, bị va chạm.  Cơn thịnh nộ như ngọn lửa đốt cháy tâm can, khiến thân thể mệt nhọc, trí não hết sáng suốt, hành sự sai lầm.  Người sân hận, trước tự chuốc khổ, sau làm khổ những người xung quanh, bất cứ ai, dù ở địa vị hoàn cảnh nào, nếu còn nóng giận là mất sáng suốt, nổi cơn thịnh nộ là tự phiền não, khổ đau và làm người khác khổ đau.

(3)- SI: là không tỉnh thức, mê lầm nhận tư tưởng, thân và thọ cảm, cho là “tôi”, tự phân biệt khỏi Sự Sống Đồng Nhất, “mê tưởng tôi”, dính chấp, tham sân, sợ hãi, gây nhân, tạo nghiệp, tự nhận phiền não, sinh tử.  Vì sợ hãi khô đau, “mê tưởng tôi” cho vô thuờng là đáng kinh sợ, cho van vật, hiện tiền là “huyễn”, tưởng ra những “đấng quyền năng” để cầu xin, một “Chân không” bất sinh, bất diệt, bất biến để an trú, để khuất lấp Thực Tại bất như ý, không nhận ra Lẻ Thật: Sự Sống Thiên Đồng Nhất. 

(4)- TỈNH THỨC: không phải được ban cho, không phải chứng đắc qủa vị nầy nọ, không phải được rước về cõi nào đó, do cầu xin, không phải có thần thông, hiển linh, biết qúa khứ vị lai, biết chữa bệnh, cũng không phải đạt ngộ một “Pháp thân” tưởng tượng thường hằng bất biến, Phật dạy tất cả pháp đều vô thường, vô ngã

      Tỉnh thứcnhận thức được nguyên nhân khổ đau, do tư tưởng mê lầm tự đồng hoá với thân, cãm thọ nhận là “tôi”, tự phân biệt, ích kỹ, tham sân, sợ hãi, mê tín, dính chấp những hiện tướng, quên mất Sự Sống Đồng Nhất, bị cuốn hút trong mê lầm, nhận khổ đau.  Tỉnh thứctrực nhận thân tâm, vạn vật là những thành phần của Thực Tại hiện tiền, đang diễn biến theo nhân duyên, dứt dính chấp “mê tưởng tôi” nguyên nhân của khổ đau, sống an vui, tự tại, trước mọi vấn đề của cuộc sống, hòa thuận cùng moị người làm an vui, lợi ích cho đời, tuỳ duyên làm sáng tỏ Sự sống Thiên Nhiên  Đồng Nhất thanh an, tự tại, là mục tiêu của giáo pháp Như lai.

      Chỉ Tỉnh thức dứt mê lầm, cảm nhận Sự Sống đồng nhất, không dính chấp thân tâm, không bấu víu pháp vô thường, không mê tưởng truy tìm một cái gì khác, mới có thể hy vọng dứt Si, thoát khỏi gông cùm của bản ngã Tham Sân.  Không nhận ra điều nầy, con người rất dễ đi đến mê tín, cuồng tín, tưởng luận thần thoại mơ hồ, do cái “tôi” ích kỷ, tham lam, sợ hãi, để nuôi lớn, củng cốphụng sự chính nó. 

      Ví như Nguồn Ẩm bàng bạc khắp vũ trụ:  Do đủ duyên 2 nguyên tố “H” và “O” hợp lại là Nước, là Nguồn Âm tùy duyên uyển chuyển, dính, ướt,  trong lặng, tùy duyên diển biến đủ mọi hình tướng, sống động.  Chỗ lạnh là thể đặc, tướng băng đá, chỗ ấm là thể lỏng, tướng nước là suối, thác, sông, biển, sóng, bọt, chổ nóng là thể hơi, là sương, là mây, là mưa, tuyết.  Tất cả danh, tướng hoàn toàn khác nhau, nhưng tất cả đều là Nguồn Ẩm, tuỳ duyên, biễu hiện thành hình tướng, danh tự như thế…

      Nếu một chiếc bọt tự thấy mình là riêng lẽ, tự phân biệt, tách rời Nguồn Ẩm, liền thấy có những bọt, những hình tướng khác cao thấp, trong đục, đẹp xấu, sinh ưa ghét, ham muốn, chen lấn, rồi vở tan.  Vì sợ hãi chiếc bọt chỉ muốn trong lặng quên mất tất cả chỉ là Nguồn Ẩm.

      Chỉ cần tự biết tất cả là Nguồn Ẩm, thì không hợm hĩnh khi là mây trên cao, hay buồn tủi lúc ở vũng lầy, không tranh với những bọt chung quanh, không lo sợ còn, mất, cái thân bọt bé bỏng.  Do duyên, nước nổi bọt, cũng do duyên bọt tan là nước.  Những thay đổi từ thể đặc sang, thể lỏng thành thể hơi, băng, tuyết, mây mưa, đến sóng bọt, tất cả chỉ là Nguồn Ẩm tùy duyêndanh tướng như thế, nhưng Nguồn Ẩm nguyên trạng vốn như như:  Vẫn tuyết mây, suối thác, sông hồ; vẫn đại dương; vẫn trong lặng, nhân chi là vậy, duyên đâu là đó, đâu đâu cũng là Nguồn Ẩm đồng nhất.

      Con ngườivạn vật, từ nhỏ nhiệm đến vĩ đại khắp vũ trụ đang diễn biến, sinh, động, tất cả hoàn cảnh thuận nghịch hoàn toàn riêng khác, nhưng tất cả là Sự Sống Đồng Nhất do 4 yếu tố: “Đất-Nước-Lửa-Gió”, tụ tán vận hành theo “Nhân-Duyên-Qủa”.  Sự Sống nguyên trạng vốn như như: vẫn người, thú, động vật, thực vật, núi, sông, trăng, sao v.v., là vũ trụ tùy duyên, diễn biến, nhân chi quả vậy, duyên đâu là đó, đâu đâu cũng là Sự Sống Thiên nhiên Đồng Nhất đang hiện bày, không có chủ thể tạo tác. 

      Sự Sống Đồng Nhất đang hiện bày, “mê tưởng tôi”, tự phân biệt, tự xem mình riêng khác, dính chấp hình tướng, âm thanh, cảm xúc; khởi tham sân, quên mất Sự Sống Đồng Nhất, nên Thiên nhiên thành xa lạ, cuộc sống thành phiền não khổ đau.  Chỉ cần tỉnh thức, nhận rõ thân, thọ cãm, tư tưởngvạn vật, Thực Tại Hiện Tiền đang theo nhân duyên diễn biến vô thường, không có gì là “tôi” riêng lẻ, trong giây phút nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, dứt được “mê tưởng tôi”, ngay đó không có cái gì để phân biệt, ích kỷ, tham sân, sợ hãi, phiền não, thiên đàng, địa ngục, tự dứt, vì tất cả chỉ là sản phẩm của “mê tưởng tôi”.  Ngay đó Nhân-Duyên-Quả, nghiệp lực, là công bằng thiên nhiên, là sáng tạo tuyệt vời để Sự Sống Thiên Nhiên  tươi mới, vô thường không phải là đáng kinh sợ.

      Điều quan trong là làm sao để dứt: “mê tưởng tôi”…”Mê tưởng tôi”  thâm căn cố đế, thiên hình vạn trạng, khó suy lường, vô cùng kiên cố, muốn được tôn trọng, muốn sinh tồn , muốn hưởng thụ, không biết đủ, không biết nhân quả, muốn hằng hữu, muốn hiện diện, luôn len lỏi nhập cuộc trong tất cả hoàn cảnh, trường hợp, bằng đủ mọi hình thức qua lời nói, hành động,  qua thấy nghe, qua tư tưởng, cảm xúc.  Do tham sân nghiệp chướng sâu dầy, nên muốn dứt “mê tưởng tôi”, không đơn giản, không thể mê tín cầu xin, không thể cho vạn vật là huyển, là rổng không, mê tưởng một cảnh giới bất sinh bất diệt, bất biến để an trú, cũng không thể tưởng “mê tưởng tôi” là “không”, vì mê tưởng không thể dứt được mê tưởng, những tưởng luận thần thoại, thần chú không thể giải quyết được vấn đề, tất cả chỉ là phóng hiện của “mê tưởng tôi”.

      Xưa nay, nhiều vị học đạo bị mê tưởng hướng dẩn thực hành những Pháp tưởng luận mơ hồ, để nuôi lớn, phụng sựcủng cố cái “mê tưởng” nầy.  Chừng nào còn “mê tưởng tôi”, nhận lấy một linh hồn, thần thức hay giác linh, còn tham sân, phản ứng, bồn chồn, muốn an ổn, muốn đạt đến một quả vị, một cảnh giới hằng hữu ngoài Thực Tại Hiện Tiền, chừng đó đã  “ăn trái cấm”, đã tự tách biệt khỏi Sự Sống Đồng Nhất.  Chừng đó dù có tin tưởng, thờ lạy, cầu xin, thấy “không vô biên xứ”, “bổn lai vô nhứt vật”, thấy được về cảnh giới nào, thấy ta không phải là… ta là... v.v., tất cả chỉ là phóng hiện, của mê tưởng mà thôi.

      Nhận thức tư tưởng để lợi ích cho Sự Sống, tư tưởng rất linh hoạt, nhưng do mê lầm, phản chức năng, tự đồng hoá với “thân” và “cãm thọ” cho là “tôi”.  “Mê tưởng tôi” tự phân biệt, tách rời Sự Sống Đồng Nhất, không biết nhân quả, muốn hiện hữu, muốn tồn tại, luôn trổi dậy, len lỏi nhập cuộc, đồng hoá với đủ mọi nhãn hiệu:  Danh vị, quyền thế, kiến thức, lý tưởng, đảng phái, giáo hội, tông thừa v.v., thiên hình vạn trạng, khó nhận, khó biết, dính chấp sắc tướng, âm thanh, theo tham sân, khởi ưa, ghét, gây nhân, tạo nghiệp, rồi nhận nghiệp báo khổ đau.

      sợ hãi khổ đau, “Mê tưởng tôi” cho cuộc đời vô thường là khổ, là đáng kinh sơ, tín ngưởng cảnh giới thường hằng, bất biến, thực tướng vạn vật là ”rổng không”, “bổn lai vô nhứt vật, tưởng luận “Pháp thân”, “Phật Tánh”, quên  mất  Thực Tại  Hiện Tiền, Sự Sống Thiên Nhiên Đồng nhất đang diển biến... Biết vạn vật như huyễn chưa phải dứt dính chấp, dù giữ được tu tưởng không dính chấp nơi 6 căn, cũng không thể dứt khổ đau, vì cội gốc luân hồi sinh tử không phải do 6 căn… 6 căn chỉ là tay chân, tòng phạm, “mê tưởng tôi” mới là chính phạm.  Biết như huyển”, “an tịnh 6 căn”, cho vạn vật là “rổng không”…tất cả chỉ là phóng hiện của “mê tưởng tôi”, là “hoá thành” cần phải vượt quaChừng nào cái “mê tưởng tôi” thâm căn cố đế vẫn còn đó, nguyên nhân then chốt của vấn đề vẩn còn đó, thì không có gì an toàn… 

      Dù quán tưởng dứt hết tòng phạm, dù thấy “Không vô biên xứ”, “bổn lai vô nhứt vật”, không còn dính chấp bất cứ điểu gì, nhưng chánh phạm, nguyên nhân của vấn đề vẫn còn nguyên, cái “mê tưởng tôi” bây giờ vững vàng, và quan trọng hơn!  Quan điểm là phải tỉnh thức không để “mê tưởng tôi” và “của tôi” chủ động, nói rõ hơn là phải rũ sạch nguyên nhân của vấn đề, phải rũ sạch “mê tưởng tôi”, nhận ra Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất.  Đây là lý do vì sao Thế Tôn sau 6 năm khổ hạnh, đã ”dứt tư tưởng”, “dứt cảm thọ”, “diệt tận định”, đả thấy “không vô biên”, “thức vô biên” v.v. vẩn phải ngồi dưới cội Bồ đề suốt 49 ngày…

      Như Lai dạy 12 Nhân duyên, nhận thức “Nhân Duyên Quả”, và bài pháp  4 lẽ thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” để dứt nguyên nhân phiền não.  Trong phần “Đạo”, mở đầu Như Lai dạy ”4 chánh cần”, Xa lánh việc ác, gieo nhân lành, giữ tâm ý trong sạch, lợi ích người vật, để Sự Sống an vui, nhưng mục tiêu cốt lỏi là pháp: “4 niệm xứ” là dứt “mê tưởng tôi”. Tinh cần, tỉnh thức, chánh niệm 4 xứ “Thân-Thọ-Tâm-Pháp”, để thấy rõ diễn biến vô thường của thân, tâm, và vạn vật.  Kinh qua những khổ não do “mê tưởng tôi” dính chấp, từ đó sinh nhàm chán thân tâm, cãm thọ, sợ dính chấp mới có thể buông bỏ, rũ sạch “mê tưởng tôi”, không còn sinh lại cái “mê tưởng tôi”, gọi là giải thoát sinh tử.  Đây là kinh nghiệm thực tế vô giá của Như Lai đã trải qua và để lại cho hậu thế, là Pháp ấn, là yếu chỉ của Như Lai qua những  bài pháp “12 Nhân Duyên”, và “4 lẽ thật: Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, mà “mê tưởng tôi” vốn muốn tồn tại, nên rất sợ và muốn loại bỏ những bài pháp nầy.

      Dứt “mê tưởng tôi”, nhận thức rỏ Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, vô thường, sinh tử nơi vạn phápcần thiết để Sự Sống luôn tươi mới, chừng đó cơn gió thoảng, áng mây bay, chiếc lá rơi, ngọn cỏ, khóm hoa, cánh nhạn lưng trời, hạt cát, hòn sỏi, đến những hoàn cảnh éo le, ngặt ngèo, những  sự kiện, hiện tượng, những cảnh giới trong vũ trụ bao la, tất cả là “Đất-Nước-Lửa-Gió” đang vận hành diễn biến theo “Nhân-Duyên-Quả”, là sáng tạo tuyệt vời, là Như Lai hiện tướng.  

      Chừng đó, Sự Sống với với 4 tâm: Từ-Bi-Hỉ-Xả, 8 chánh đạo : Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh định, Chánh tuệ, sống thanh an, tự tại, lợi ích, người vật, là đoạn phiền não, là độ chúng sinh.  Từng sát na tỉnh thức, từng sát na nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, Thực Tại hiện tiền, qua 4 xứ Thân, Thọ, Tâm, pháp không nhiểm cũng không rời là nhập pháp giới, là tuỳ hỉ công đức, là cung dưỡng Như Lai, thỉnh Phật trụ thế…Đây là Pháp minh bạch thực tế của Như Lai Thế Tôn.

      Lịch sữ ghi nhận, sau khi Như Lai “nhập pháp giới”, những đệ tử từng sát cánh bên Ngài, đã họp đaị hội để kết tập những gì Như Lai chỉ dạy.  Những đệ tử nhắc lại và thảo luận cẩn thận, từng lời, do nhân duyên gì, Như Lai dạy ai, điều gì, ở đâu, lúc nào, không để sai sót, dưới sự chứng minh của toàn thể tăng đoàn, tiếc thay lúc bấy giờ không có phương tiện ghi thành văn bản, Những đại hội kết tập về sau cũng diển ra như thế.  Đến lần kết tập thứ tư, khỏan 500 năm sau mới được ghi thành tạng kinh Nikaya, đây là bộ kinh đầu tiên trong lịch sữ Phật giáo, là bộ kinh đáng tin nhất.

      Bộ Nikaya được đúc kết 500 năm sau, qua những lần kết tập đã có  nhiều thay đổi, nên xác xuất không phải 100%, đây là nguyên nhân gây phân phái trong tăng đoàn bấy giờ, huống là hơn  600, 800, 1000 năm sau…  Có những luận sư, với tư cách “Cá Nhân”, phóng tác lời dạy của Như Lai, viết những pho sách gọi là “Kinh Đại thừa”, tự xưng “Đại Thừa”, cho lời dạy nguyên thủy của Như Lai và những ai nghe theo là “tiểu thừa”, là “tiêu nha bại chủng”?!...  

      Pháp Như Lai là duy nhất có 3 tiêu chuẩn, 3 Pháp ấn và 5 đặc tính: “thực tế”, “minh bạch”, “đơn giản”, “tự lực”, “phổ thông”, tùy phong hóa nhân sinh, copy, phóng tác lời dạy của Như Lai cũng tốt, nhưng phải nhận trách nhiệm phóng tác, không thể mạo danh Thế TônVấn đề là tâm  phân biệt cao thấp, nên có ”Tiểu thừa”, “Đại Thừa”.  Tự mình lầm lẫn, hay có ẩn ý, đã phóng tác lệch lạc, viết là “Phật thuyết…” lại phân biệt, tự cho pháp của mình phóng tác là “cao” Pháp nguyên thủy là “thấp” làm người sau mê lầm, thật không nên!

      Từ cố cổ Sự Sống Thiên Nhiên, vũ trụ, vạn vật như thế, hiện tại, tương lai cũng như thế, theo nhân duyên diễn biến sinh động, kỳ diệu  tuyệt vời

    
SỰ SỐNG THIÊN NHIÊN

Từ cố cổ Thiên nhiên như thế
Chuyển vần xoay vật đổi sao dời
Lẽ nhân quả liên đới ba thời
Sự Sống hiện: có-không, tụ-tán
Trước như thế, nay, mai, như thế
Vũ trụhiện tướng vui chơi
Sinh tửlương dược tuyệt vời
Để Sự Sống thiên nhiên tươi, mới
Thuận nhân quả sống trong thực tại
Dứt mê lầm ngã chấp đảo điên
Thường tỉnh thức, tinh cần, chánh niệm
Từng sát na sự sống hiện tiền

Nếu không nhân ngã thì là
Thiên nhiên thực tại sum la tuyệt vời
Nhân nào quả đó vậy thôi
Mỉm cười nhận thức đạo đời như như

              ***

[II] -- LỖI LẦM & SÁM HỐI --

A - LỖI LẦM -

      Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất vận hành theo “Nhân-Duyên-Quả” vốn an nhiên tuyệt vời.  Do tư tưởng mê lầm tự đồng hoá, “thân”, “cảm thọ”, và “tư tưởng”, cho là “tôi” riêng lẽ, tự phân biệt, lại mê chấp những hiện tướng, khởi tham, muốn chiếm giữ những gì ưa thích làm “của tôi”.  Cái gì không hợp với “tôi”, bất lợi cho “của tôi”, thì khởi sân, gây nhiều lỗi lầm xưa nayNhận thức rời bỏ Sự Sống Đồng Nhất, mê chấp “của báu thế gian”, như bỏ nước lấy bọt, bỏ ánh sáng mặt trời lấy ánh sáng đom đóm!  Những ai không đủ tỉnh thứcý chí dứt “mê tưởng tôi”, phải tự nô lệ cho tham sân, theo nghiệp dẫn thọ quả báo.  

      Nhận thức “mê tưởng tôi” muốn hiện hữu, muốn tồn tại, muốn chiếm hữu, ham hưởng thụ, không biết đủ, không rõ nhân quả, dính chấp sắc tướng âm thanh, tham sân, tạo ra phiền não đau khổ.  Qua thân miệng ý, mỗi người tự vẽ cho mình một hình tướng, một số mạng, mỗi người tự tạo cho mình một “tầng số nghiệp” và tự gánh nhận tất cả hậu quả.  Cũng như thế, chính tự mỗi người, qua tư tưởng, lời nói và hành động có thể tự chuyển nghiệp, đổi hình tướng và số mạng của mình, tất cả hoàn toàntác động, vận hành của “Nhân-Duyên-Quả” đây là luật công bằng tuyệt vời của Sự Sống Thiên Nhiên.

      Xót thương nhân loại xưa nay, vì “mê tưởng tôi”, bị mê tưởng chủ động, điều khiển, ích kỷ, dính chấp tham sân, đã rơi vào những hoàn cảnh nghiệt ngã, thảm khốc!  Vì không biết nhân quả, sợ hãi, khổ đau, con người cho cuộc sống vô thuờng lả đáng kinh sợ, muốn thoát khổ, bị “mê tưởng tôi” dẩn vào tín ngưởng thần quyền hiển linh, tin tưởng thần thông, thần chú, tưởng tượng siêu hình mơ hồ, mê tín, cầu xin, thực hành những pháp dựa vào bản ngã, nuôi lớn, phụng sựcủng cố chính nó …như tin nhờ chính phạm để chỉ bắt thủ phạm !! 

B - SÁM HỐI
                                              
      Con người bình thường không nhớ được những “nhân” đã gieo trong quá khứ.  Khi đủ duyên “quả” hiện, vì mê không biết, nên đổ cho người, cho hoàn cảnh, cho số phận hên xui hay thần thánh, tà ma, quỷ ám, đau khổ, sợ hãi, rồi theo tưởng tượng, mê tín mơ hồ, nhờ thầy cúng sao, tụng chú, xin thần thánh, cầu chư thiên, lạy Phật, Bồ tát cầu an, cầu siêu.

      Mỗi sự kiện, hiện tượng, hoàn cảnh, xảy ra trong cuộc sống đều có nhân duyên xa, gần, không phải ngẩu nhiên hên xui, mỗi người cần tin sâu nhân quả, cần tự biết lỗi mình. Nhận rõ nguyên nhân của mọi lỗi lầm do “mê tưởng tôi” cá nhân, ích kỷ, muốn hưởng thụ, muốn chiếm hửu, tham gian, sân hận gây ra, không phải do ai khác, không có ai xấp xếp, không có ai ban phước giáng hoạ, sửa đổi nghiệp, hay số mạng của người khác, không ai có thể bẻ cong “nhân-duyên-quả”, phá vở luật công bằng Thiên Nhiên. Ngay như Đưc Phât vẩn phải gánh nhân những nghiêp báo của mình, nên không thể tưởng tượng mơ hồ, không thể mê tín cầu xin.

      Sám hối không phải cúng tế, đọc tụng thần chú, gọi tên, lễ lạy cầu xin trời, Phật, những việc trên chỉ là phương tiện đánh lạc hướng, để tạm quên, không thể đổi được nghiệp, nhân quả, ác báo đang hay sấp xẩy ra,. Ngay bản thân tác giả những bài “thần chú” cũng bị chi phối bởi nghiệp của họ, bởi luật nhân quả, làm sao những chử gọi là “thần chú” của họ viết ra có khả năng tráo được nhân đã gieo trong quá khứ, đổi được quả trong thực tại hay tương lai của ngươi khác?  Những việc trên chỉ là sự phóng hiện của ”mê tưởng tôi”, do tâm tham lam, sợ hãi, mê tín tưởng tượng, tạo ra.

      Sám hối thật sự là tin nhận nhân quả, vui thuận nghiệp đã gieo,  vui thuận đền lỗi cũ, chấp nhận tất cả hoàn cảnh là quả do nhân duyên đã liên hệ, kham nhẫn mọi lời nói, hành vi, nghịch cảnhTỉnh thức, ngưng  dứt nguyên nhân của lỗi lầm, trong mọi tình huống, cương quyết không tái phạm, không để tư tưởng chủ động tạo tác ác nghiệp... 

      Ứng dụng 4 lẽ thật: Khổ-Tập-Diệt-Đạo, 4 Niệm xứ tỉnh thức ghi nhận: Thân-Thọ-Tâm-Pháp trong từng sátna, để thấy được thực tướng của vạn pháp  là sự vận hành, của Đất-Nước-Lửa-Gió” diển biến theo “Nhân-Duyên-Quả” không có “Chủ thể”.  Nếu dính chấp vào sự vô thườngđau khổ, càng dính chấp càng phiền não, từ đó sinh nhàm chán, sợ dính chấp, xa lánh việc ác, gieo nhân lành, giữ tâm ý trong sạch mới mong chuyển được nghiệp. Nhận thức dính chấp là khổ, “tinh cần”, “tỉnh thức”, “chánh niệm” dứt: “mê tưởng tôi” gốc của mọi lỗi lầm, là thực tế sám hối, là chân thành sám hối.

      Đã gieo nhân bất thiện, tạo nghiệp dữ, sớm muộn nhất định phải gặt quả khổ đau, muốn chuyển nghiệp, không cần phải mê tín thần thoại, thờ lạy, cầu xin, chỉ cần dứt gieo nhân bất thiện, dứt tạo nghiệp dữ, không khởi tham sân. Ngưng dứt lỗi lầm, thì nghiệp ác, quả ác dứt, gieo nhân lành, giữ tâm ý trong sạch, dứt “mê tưởng tôi” thì mọi sự kiện, hiện tượng, hoàn cảnh trong cuộc sống diễn biến đúng theo nhân duyên lành, cuộc sống là Thực Tại Hiện Tiền, là Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, sẻ thanh an, tự tại.

                                    ***
[III] -  BỐI CẢNH LƯỢC SỬ 

    Theo lịch sử, 600 năm trước tây lịch, Đạo Balamom thờ Trời, Thần, có nhiều thế lực, phân chia giai cấp, qui định giai cấp Balamom là thượng đẳng, mọi giai cấp khác phải tôn trọng và phục tùng…Đức Phật đả thành Đạo và giảng dạy Phật Pháp vào thời nầy, giáo Pháp của Ngài cho rằng tất cả con người đều bình đẵng.  Điều nầy, Đạo Balamom không hài lòngĐức Phật đả bị hảm hại nhiều lần, nhưng uy tín của Ngài mổi ngày vửng vàng hơn.  Sau khi ngài “nhập pháp giới”  những luận sư Balamon đả gia nhập tăng đoàn, sửa đổi kinh, chia rẻ tăng, và cuối cùng đẩy Phật giáo ra khỏi đất nước Indo.  

      Con người do si mê, tự xem là một cá thể riêng, tự tách biệt khỏi  Sự Sống Đồng Nhất, ích kỷ, tham lam và bức xúc vì bất lực trước những biến dịch của cuộc đời, của Thiên Nhiên, “mê tưởng tôi” cho vô thường là Khổ, là đáng kinh sợ.  Do đó quên mất Sự Sống Đồng Nhất, không biết, không tin được Như Lai, trong Thực Tai Hiện Tiền, chỉ tin, và nương tựa với Như Lai trong văn tự, trong kinh điển do tư tưởng tham lam, sợ hãi, mê tín dựng lên!.. Tin những gì được viết là “lời Phật dạy…”, hay “Phật thuyết…”trong “Kinh…”, tin lời giảng của pháp sư, không cần tư duy, không cần biết những điều trên lợi hại ra sao.  Thế Tôn dạy: “Chánh tư duy, chánh kiến” không nên tin những gì, dù được nhiều người cho là đúng, dù do ai nói, dù xuất xứ từ đâu…nếu những điều đó không hợp lý “Nhân-Duyên-Quả”, tổn hại người vật, không lợi ích cho chúng sinh, không lợi ích cho việc dứt “mê tưởng tôi”, nguyên nhân của khổ đau.

      Trong 6 năm khổ hạnh, theo học với nhiều vị thầy, đã đạt tuyệt đỉnh nhiều pháp như: “diệt tận định”, “dứt cảm thọ”, “không vô biên”, “thức vô biên” v.v. nhưng vẫn không dứt được khổ đau.  Sau đó Ngài đến ngồi dưới cội bồ đề suốt 49 ngày, nhận thức lý nhân duyên, 4 lẽ thật “Khổ-tập-diệt-đạo”, Ngài đả chứng nghiệm  3 điều rốt ráo

(1)- CÔNG BẰNG THIÊN NHIÊN - Nhận thức Sự Sống Thực Tại vận hành theo “Nhân-duyên-quả” liên đới 3 thời, là luật công bằng thiên nhiên. Biết được “nhân” trong quá khứ do “duyên” gì thành “quả” hiện tại, và nguyên “nhân” trong hiện tại do “duyên” gì sẻ có “quả” thế nào trong tương lai.  Ngài tổng hợp và cô đọng thành pháp Lý Nhân Duyên.

(2)- NGUYÊN NHÂN CỦA PHIỀN NÃO - Nhận thức nguyên nhân của phiền não, khổ đau là do tư tưởng mê lầm tự đồng hoá với thân và cảm xúc nhận là “tôi”.  “Mê tưởng tôi” tự thấy riêng lẽ, phân biệt với Sự Sống Đồng Nhất, muốn tồn tại, muốn hưởng thụ, dinh chấp, tham sân, gây nhân, tạo nghiệp, đưa đến quả nghiệp báo mà “Mê tưởng tôi” không vừa ý, gọi là phiền não, khổ đau. 

(3)- PHƯƠNG CÁCH DỨT KHỔ - Nhận thức phương cách dứt nguyên nhân của phiền não, là bỏ dính chấp, rũ sạch “mê tưởng tôi”, không còn sanh lại cái “mê tưởng tôi” gọi là giải thoát, là thành đạo.  Dứt được “Mê tưởng tôi”, chừng đó không có “cái gì” để dính chấp, để nhận quả báo, không có “cái gì” bức xúc, sợ hãi, xem vô thường là Khổ, là đáng kinh sợ. Chừng đó cuộc đời, vạn vật, Sự Sống Thiên Nhiên, Thực Tại Hiện Tiền vận hành theo “Nhân-Duyên-Quả”, tuỳ duyên diển biến vô thường, nhân chi là vậy, duyên đâu là đó, là sáng tạo tuyệt vời của thiên nhiên không có chủ thể, không có ngã nhân, không có gì là khổ

      Biết nguyên nhân của phiền nãoPhương cách dứt nguyên nhân Khổ đau, rũ sạch “Mê tưởng tôi” là hoàn thành tâm nguyện, là thành đạo.  Ngay khi thành đạo, Như Lai nhận thức toàn bộ cấu trúc vũ trụ, Ngài hệ thống hóa những thấy biết và phương cách dứt nguyên nhân khổ đau qua những bài pháp: 12 nhân duyên, 4 Lẽ Thật “Khổ-tập-diệt-đạo” và 8 Chánh đạo.  Có thể nói đây là những bài pháp cốt lỏi rốt ráo “ắt có và đủ”, qua 3 Pháp Ấn:

(1)- VÔ THƯỜNG: Hiển bày “nhân duyên quả”, diển biến vô thường là luât công bằng thiên nhiên.
(2)- KHỔ: Hiển bày nguyên nhân cốt lỏi của khổ đau là “mê tưởng tôi”.

(3)- VÔ NGÃHiển bày phương cách dứt nguyên nhân khổ đau, rũ sạch “Mê tưởng tôi”, giúp cho con người chuyển hoá phiền não thành Bồ đề, phàm phu thành thánh, sống an vui, tự tại trong cuộc đời.

      Lời dạy của Như Lai ít như lá trong nắm tay, chỉ nói rỏ cội gốc của phiền não là dính chấp, là “mê tưởng tôi” và phương cách để dứt nguyên nhân khổ đau là ứng dụng thực hành 12 Nhân Duyên, 4 Lẽ Thật, Khổ-Tập-Diệt-Đạo, tỉnh thức chánh niệm 4 Xứ “Thân-Thọ-Tâm-Pháp”, dứt dính chấp, dứt “mê tưởng tôi” để Thực Tại Hiện Tiền, Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất sáng tỏ.  Cái hiểu biết của con người, chưa có gì đáng để tự cao tự đại.  Thực tế lợi ích chỉ có khi thực hành những Pháp trợ đạo, dứt dính chấp, không tác ý điên đảo, và dứt “mê tưởng tôi” là chủ nhân của mọi vấn nạn.

                                  ***
[IV] – GIÁO PHÁP

A- GIÁO PHÁP NHƯ LAI -

      Thực tế theo lịch sử, suốt 45 năm Đức Phật đả đi bộ qua khắp miền bắc Indo, hướng dẩn rất nhiều người dứt khổ, được vui, Ngài nói khoản 30,000 bài pháp đả được ghi nhận trong những lần kết tậpTuỳ duyên, tùy trình độ người nghe, Thế Tôn nói nhiều bài pháp, tuy nhiên dù dạy cho ai, căn cơ nào, chung qui Ngài cũng dẩn về thực tế, cần thiết trong đời sống, chỉ rõ nguyên nhân của phiền nãophương cách dứt nguyên nhân khổ đau là dứt bỏ “mê tưởng tôi”, để sống an vui, tự tại, làm lợi ích người vật. Toàn bộ giáo Pháp Như Lai có thể nói là được cô đọng trong 3 bài Pháp: “Lý Nhân Duyên” hay 12 Nhân Duyên, “4 lẻ thật: Khổ-Tập-Diệt-Đạo” và “8 Chánh Đạo”.  Giáo pháp của Như Lai Có thể nhận thức qua 3 tiêu chuẩn, 3 pháp ấn và 5  đặc tính rỏ ràng;

(1) - BA TIÊU CHUẨN –

      1- Hiển bày sự vận hành và diển biến của “Nhân-Duyên-Quả”, định  luật công bằng thiên nhiên.

      2- Hiển bày nguyên nhân của khổ đau là “dính chấp”, mà chủ nhân là “mê tưởng tôi”.

      3- Hiển bày phương cách dứt nguyên nhân khổ đau: dứt dính chấp, dứt “mê tưởng tôi”, lợi ích người vật, qua những bài Pháp Lý Nhân Duyên,  4 Lẽ Thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”

(2) - BA PHÁP ẤN

      1- Vô ThườngVạn vật do duyên sinh, diển biến sống động, gọi là: “vô thường”, đây là sáng tạo tuyệt vời Thiên Nhiên không có chủ thể  tạo tác.

      2- Khổ :  Do tham, sân, sợ hãi, liền khổ đau, nguyên nhân cốt lỏi  là dính chấp, và chủ nhân của dính chấp là “mê tưởng tôi”. Chừng nào còn dính chấp vô thường, còn “mê tưởng tôi” là còn: “khổ”
      
      3- Vô Ngã:  “Đất-Nước-Lửa-Gió” vận hành theo “Nhân-Duyên-Quả” tụ-tán diễn biến là vạn vật, là Thực Tại Hiện Tiền, là sáng tạo thiên nhiên tuyệt vời, không có chủ thể, không có cái gì gọi là “tôi”, là: “vô ngã”. Cái “Tôi” chỉ là, mê tưởng.

(3) - NĂM ĐẶC TÍNH

      1- Thực tế:  Chỉ rõ nguyên nhân cùa khổ đau và phương cách dứt đau khổ trong cuộc sống thực tại.  Chỉ cần xa lánh việc ác, gieo nhân lành,  giữ tư tưởng trong sạch, ứng dụng 4 niệm xứ, ‘Tinh cần’, ‘Tỉnh thức’, ‘Chánh niệm’ nơi ‘thân’, ‘thọ’, ‘tâm’, ‘pháp’,nhận thức vô thường, vô ngã, không dính chấp, dứt “mê tưởng tôi” là an ổn..

      2- Rõ ràngGiáo pháp Như Lai minh bạch, chỉ nói những gì đúng “Nhân-Duyên-Quả”, thực tế, rõ ràng, không có lời nào mang ẩn ý, không có điều gì bí mật, không có thần chú, không tưởng luận thần thoại siêu hình, mê tín mơ hồ

      3- Đơn giản:  Chỉ Tinh cần, Tỉnh thứcchánh niệm nhận thức:  Thân, Thọ cãm, Tư tưởngvạn vật diễn biến theo Nhân Duyên, tỉnh thức  nơi từng hơi thở, lời nói, cử chỉ động tỉnh, nơi từng cảm thọ, từng khởi động và vận hành của tư tưởng để nhận rỏ vô thường, tự kinh nghiệm dính chấp là khổ, không dính chấp, dứt “mê tưởng tôi” là an ổn.

      4- Tự lực:  Mổi người qua thân, miệng, ý tự tạo nhân, nghiệp, và  tự gánh nhận nghiệp quả, cũng qua thân, miệng, ý mỗi người có thể tự chuyển nghiệp của mình, đây là công bằng thiên nhiên, không ai có thể bẻ cong luật nhân quả, không ai có thể tráo đổi nghiệp của người khác, nên không thể cầu xin ai ngoài sự Tỉnh Thức của chính mình.

      5- Phổ thông: Vạn vậtcon ngườithành phần của Sự Sống Đồng Nhất,  tất cả có chức năng riêng và bình đẵng, Không luận chủng tộc,  giới tính, Không phân biệt căn cơ cao thấp, bất cứ ai, ở đâu, lúc nào, ứng dụng 12 Nhân duyên, 4 Lẽ thật “Khổ-tập-diệt-đạo”, sống đúng 8 Chánh đạo cũng có
kết quả tốt, cũng được an vui.

(4) – LÝ NHÂN DUYÊN 

    Không một ai biết và chứng minh được Vạn vật, Vũ trụ, Sự Sống Thiên Nhiên do đâu có, và hình thành từ bao giờ… Nhiều lý thuyết cho rằng vũ trụ do một chủ thể là Thuợng Đế tạo ra.  Khoa hoc cho rằng vũ trụ do một nguyên nhân là “Sự nổ lớn”… Trên thực tế tất cả vạn vật không thể có và tồn tại do một nguyên nhân duy nhất, tất cả phải do nhiều nhân duyên tương quan với nhau mà có, và tồn tại, những nhân duyên tương quan nầy không ai biết và chứng minh được chổ khởi đầu, và chổ dứt.  Đức Phật đả hệ thống và cô đọng làm thành “Lý nhân duyên” hay 12 Nhân Duyên

      1- Vô minh - là không tỉnh thức, không.biết nguyên nhân, không biết Sự Sống Thiên Nhiên. (ở con người, vô minhmê lầm dính chấp vô thường, dính chấp “mê tưởng tôi”).      

      2- Hành – Do vô minh nên khởi tưởng, truy tìm, đối chiếu, (ở con người, chỉ căn cứ vào những gì đả biết, nên khi nghe thấy liền ghi nhậnhồi tưởng về ký ức, đối chiếu với vật hay việc đả biết).

      3- Thức – là nhận biết. (ở con người, Qua hành, đối chiếu nhận dạng, nhận biết, phân biệt, phân loại).  

      4- Danh sắc – có đầy đủ cảnh giới, đủ sắc tướng âm thanh. (ở con người, Qua thức, phân loại, Định danh, chụp mũ, những gì nghe thấy)

      5- Lục nhập- Là đủ cơ quan tiếp nhận, Thấy, nghe, hay biết. (ở con người, có 6 căn: mắt, tai, mủi, lưởi, thân, ý). 

      6- Xúc- Là sự tiếp xúc, tương tác. (ở con người, là sự tiếp xúc, tương tác với trần cảnh : thấy, nghe, nếm, ngữi .vv).

      7- Thọ - Là cãm nhận. (ở con người, là qua 6 căn tiếp xúc 6 trần: biết đep-xấu, lớn-nhỏ, mùi, vị thơm-ngọt v.v).

      8- Ái – là thích.  (ở con người, là ưa ghét, dính chấp: -Hình tướng, -Ham muốn, -tư tưởng ) .

      9- Thủ - là dính chấp. (ở con người, là giử lấy, núm níu, chấp chặc).

      10- Hửu – là có, Là nhận riêng. (ở con người, là sở hửu, …có của tôi) .

      11- Sanh – Là trước không có, bây giờ có, là hình thành, (ở con người, là sanh ra)..

      12- Trụ-dị-diệt – Là nẩy nở. diển biến thay đổi hình tướng. (ở con người, là trưởng thành, già, bệnh và  chết),

      Nhân Duyên Quả là luật công bằng thiên nhiên luôn đúng trong mọi thời giankhông gian.  Nơi con người, tiến trình 12 nhân duyên, hình thành dòng luân hồi: Một niệm mê, “tư tưởng” tự đồng hoá với “thân” và  “cãm thọ”, cho là “tôi” riêng biệt, từ đó mê tưởng tôi phân biệt, dính chấp danh sắc, cảm xúc, sinh ái thủ, ham muốn sở hửu, sợ hãi sinh tử tham sân, gây nhân, tạo nghiệp, không biết nhân quả, càng dính chấp, càng phiền não, nên Sự Sống thành khổ đau. quên mất, không biết Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất.

      Như lai dạy: 12 nhân duyên, 4 Lẽ thật Khổ-Tập-Diệt-Đạo chỉ rỏ “nhân-duyên-quả”,  chỉ rõ nguyên nhân cốt lõi của phiền não, và hiển bày phương cách bỏ dính chấp, dứt “mê tưởng tôi”.  Ngay đây, bây giờ, dứt dính chấp, và  chủ nhân của dính chấp là “mê tưởng tôi”, ngay đó Thực Tại Hiện Tiền, là  Sự Sống Đồng Nhất “Đang Là”, nhân thế nào, hiện tướng thế ấy, duyên đâu là đó, tự tại vô ngại, đây là sáng tạo thiên nhiên tuyệt vời giữa nhân và duyên, không có chủ thể, không có ngã, nhân, không có gì là khổ. 

(5) - 4 LẼ THẬT “KHỔ TẬP DIỆT ĐẠO” –

      Có thể nói Phật Pháp là bài Pháp 4 chử “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, đây là bài Pháp “ắt có và đủ” cho tất cả chúng sinh thực hành để chuyển hoá mê lầm đến tỉnh thức, khổ đau thành an lạc, phiền não thành bồ đề, phàm phu thành Alahan-Phật.  Đây là bài Pháp căn bản, then chốt, vô cùng quan trọng, cũng là bài Pháp rốt ráo mà Chư Phật vì lợi ích chúng sinh, đều tuyên thuyết trước tiên, sau khi thành đạo.

      1- KHỔ:  Cái khổ được phân tích cặn kẻ, qua đủ thể dạng tinh thần  và vật chất, không phải để gây sợ hãi, chối bỏ đời sống, mà mục tiêu để làm con người thấy rõ nguyên nhân của khổ đau là “mê tưởng tôi”. Cuộc đời thực tế là Sự Sống Thiên Nhiên, là vận hành của “Đất-Nước-Lửa-Gió” theo “nhân duyên quả”, diển biến vô thường, luôn đổi mới sống động tuyệt vời.  Nhưng con người thấy thân, tâm và cuộc đời đầy đau khổ, đáng kinh sợ…đây là “Quả” do nhân “Tập”.

      2- TẬP: Là thói quen, phân biệt, ưa, ghét, dính chấp đưa đến tham, sân, tự gieo nhân, tạo điều kiện lo, buồn, sợ hãi, khổ não. Vạn vật mười phương, là Sự Sống Đồng Nhất, do tư tưởng mê lầm tự đồng hoá “thân”, “tư tưởng” và “cảm thọ”, nhận là “tôi” riêng biệt, Chính “mê tưởng tôi” là chủ nhân của dính chấp, là gốc rễ của phiền não, là chánh phạm gây ra mọi khổ đau.  Như lai dạy: Muốn dứt khổ, chỉ có một cách duy nhất là dứt “mê tưởng tôi”:  Diệt. 

      3- DIỆT:  Vạn vật vận hành theo nhân duyên là Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, Do mê tưởng, tự phân biệt, liền thấy thiên nhiên xa lạ, lại mê dính chấp những hiện tướng vô thường, khởi tham sân, sinh sợ hãi nên cuộc sống thành khổ đau.  “Mê tưởng tôi” thâm căn, thiên hình vạn trạng, không thể dựa vào đức tin, thờ lạy, cầu xin, tưởng tượng, lý luận mơ hồ mà dứt được. Muốn dứt khổ Như Lai dạy những phương cách để nhận thứcthực chất và kinh qua những hậu quả tai hại của dính chấp của “mê tưởng tôi” mới có thể chán bỏ nó, phương cách nầy là : Đạo.

      4- ĐẠO:  Đạo ở đây là phương cách, là tiến trình Như Lai mở bày để chỉ rõ từng bước thực hành, theo đó người học đạo sẽ tự dứt được dính chấp, dứt được tư tưởng mê lầm, dứt được “mê tưởng tôi” còn lại là Thực Tại hiện tiền, Sự Sống đồng nhất đang diển biến sống độngtuyệt vời, không có gì là khổ, thực tế rõ ràng, đây là “Quả” do nhân “Đạo” có 8 bước 37 pháp:

      @ Bước 1:  Bốn nhân lành:  Mỗi người là một đơn vị, là nhân duyên hình thành của gia đình, xã hội, thế giới, đang diển biến, cảnh giới an vui chỉ có khi những đơn vị hay nhân duyên hình thành an ổn.  

      1- Tất cả ý nghĩ, lời nói, việc đang làm có tổn hại cho người, vật phải ngưng ngay.
                                    
      2- tất cả ý nghĩ, lời nói, việc sắp làm tổn hại người, vật phải dứt bỏ dứt bỏ.

      3- Tất cả ý nghĩ, lời nói, việc đang làm có có lợi ích cho người vật cần phát huy.

      4- Tất cả ý nghĩ, lời nói, việc đang làm có lợi ích cho người vật phải làm ngay.

      Thực hành 4 nhân lành, đời sống cá nhân, gia đình, xã hội, sẽ an vui, là tự độ, độ tha, là duyên gặp chánh pháp.  Đây là pháp hành đơn giản, rõ ràng, thực tế.

      @ Bước 2:  Bốn Ý Nguyện:

      1-Nguyện  Giữ tâm ý trong sạch, bỏ việc ác, gieo nhân lành, để Sự Sống an vui.

      2-Nguyện Quyết tâm tìm học giáo phápdứt phiền não.

      3- Nguyện  Tư duy, nhận thức rỏ nhân duyênmục tiêu
của giáo pháp.

      4- Nguyện tinh cần thực hành giáo 

      @ Bước 3:  Năm Căn bản:  Hướng ý (tư tưởng) về 5 yếu tố căn bản:

      1-Tín:  Tin nhận nhân quả.

      2-Tấn: kiên trì thực hành 4 duyên lành,

      3- Niệm: Theo dõi hơi thở, cảm thọ, tư tưởng

      4- Định: Chú tâm ghi nhận tiến trình của cảm thọ, tư tưởng không khởi tham sân, 

      5- Huệ: Nhận thức “nhân-duyên-quả” diển biến trong từng hiện tượng, sự kiện.

@ Bước 4:  Năm Lực: Thực hành 5 căn đưa đến 5 lực, vững vàng hơn có thể đối trị: tham ái, lười biếng, v.v..

1-    Tín: Tin sâu Nhân-Duyên-Quả 3 thời.
      
2- Tấn: Thực hành giáo pháp không nhàm chán.

        3- Niệm: Ghi nhận rỏ tiến trình sinh diệtảnh hưởng của cảm thọ, của tư tưởng.

        4- Định: Tư tưởng (ý) không dính chấp không tham sân, phản ứng

        5- Huệ: Nhận thức rỏ nguyên nhân khổ là dính chấp, là “mê tưởng tôi”. 
  
      @ Bước 5:  Bảy Tỉnh thức: Qua 4 bước trên, đưa đến 7 tỉnh thứcNhận thức tư tưởng hay ý là then chốt đưa đến khổ não, không để ý chủ động. Chánh niệm nơi mắt, tai, mủi, lưỡi, thân, khi hít thở, thấy người vật, nghe âm thanh, biết mùi, vi, xúc chạm, ghi nhận rõ ngay lúc khởi đầu và tiến trình ảnh hưởng của cảm thọtư tưởng đang diển biến. 
      1- Niệm-  Tỉnh thức ghi nhận rõ “nhân duyên quả” ba thời, dứt mê tín

      2- Trạch-  Tỉnh thức Nhận rõ: “Mục tiêu”, “Pháp ấn” và “Đặc tính”, thực hành đúng Chánh Pháp, không tưởng luận thần thoại, siêu hình, xa rời thực tế.

      3- Tấn- Tỉnh thức, ứng dụng thực hành giáo pháp không
nhàm nãn, dù gặp trở ngại 

      4- Hỉ-  vui sống tuỳ duyên, thuận pháp.

      5- An- Nhận thức nhân-duyên-quả 3 thời, vô thường là tất yếu, dứt  sợ hãi, tâm an ổn.

      6- Định- Tỉnh thức không tác ý tham sân, không phản ứng, không mong cầu.

      7- Xả- Nhận thức thực tướng pháp tuỳ duyên diển biến vô thường, là Thực Tại HiệnTiền, Sự Sống Đồng Nhất, bình thản, tự tại trước vạn pháp, không dính chấp.

      @ Buớc 6:  Bốn Hồi hướng:  Qua 7 tỉnh thức  nhận thức Sự Sống Đồng Nhất mọi lúc mọi nơi, từng ý nghĩ, hơi thở, lời nói, động tĩnh hướng về  lợi ích chúng sinh:

      1- nhận thức nguyên nhân phiền não, khổ đau, do tư tưởng dính chấp, mà chủ nhân là “mê tưởng tôi”. 

      2- Tư duy lý “nhân-duyên-Quả” là công bằng thiên nhiêntùy duyên thuận pháp, làm lợi ích người vật.

      3- Tư duy Pháp 12 Nhân Duyên và 4 Lẽ Thật “Khổ-Tập-
Diệt-Đạo”, là phương cách hữu hiệu để dứt nguyên nhân khổ đau, lợi ích chúng sinh

      4- Hồi hướng Như Lai, là Thực Tại Hiện Tiền, Sự Sống Đồng Nhất,  đang vận hành theo Nhân duyên Quả.
  
@Bước 7:  Bốn Niệm xứ: Qua 6 bước trên, con người tuy có an ổn, nhưng “mê tưởng tôi” vẫn còn đó, luôn vi tế nhập cuộc, hướng ý nguyện, tín và tấn lực vào mê tín, tưởng luận mơ hồ, làm lệch hướng niệm, và định lực, vô hiệu hóa tuệ lực.  “Mê tưởng tôi” thâm căn khó loại trừ, không thể cầu xin thần quyền, không thể tưởng tượng, lý luận mơ hồ, mà dứt được, dù biết vạn pháp “như huyễn”, dù miên mật tưởng ”Chơn không”, thấy ‘Bổn lai vô nhứt vật”, “Không vô biên xứ”, vạn pháp vẩn hiện hữu, - Thực Tánh pháp uyển chuyển tuỳ duyên.  - Thực tướng pháp, diển biến vô thuờng.  Sự Sống Thiên Nhiên, Thực Tại vẫn đang diển biến sống động.

        Muốn dứt “mê tưởng tôi” phải kiên trì nhận thức: Thân, Thọ, Tâm, Pháp, liên hệ lẫn nhau, nhân duyên chằn chịch, luôn đổi mới.  Nhận thức dính chấp vô thườngphiền não, càng dính chấp càng khổ đau, nhận thức  và kinh qua những ảnh hưởng tai hại của dính chấp, từ đó sinh nhàm chán thân tâm, sợ dính chấp, mới có thể dứt được “mê tưởng tôi”.  Không còn sanh lại “mê tưởng tôi”; ngay đó là “Nhập pháp giới”, Thực Tại Hiện Tiền, là Sự Sống Thiên Nhiên tuyệt vời, là “Như Lai trụ thế”. Đây là chổ thiết yếu mà Như Lai đã từ bi nói 4 Lẽ Thật, mà cốt lỏi là 4 niệm xứ. (4 niệm xứ là bài Pháp then chốt để dứt “mê tưởng tôi”, sẻ nói rỏ trong phần ứng dụng & thực hành)

      @ Bước 8:  Bốn Vô lượng tâm: Ứng dụng 4 niệm xứ, tỉnh thức chánh niệm, dứt “mê tưởng tôi”, nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, 4 tâm: Từ, Bi, Hỉ, Xả, tự khởi, an vui, lợi ích người vật, là cung dưởng Như Lai.

      1-Từ -  Do nhận thức  Sự Sống Đồng Nhất, tình thương không điều kiện tự khởi, tuỳ khả năng làm lợi ích người vật.

      2- Bi - Do nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, dấn thân phục vụ để Thực Tại Hiện Tiền, Sự Sống Thiên Nhiên tươi dẹp.  

      3 -Hỉ- nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, tùy thuận “Nhân-Duyên-Quả”, luôn hoan hỉ

      4 -Xả - Do nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, buông bỏ, không dính chấp, không tác ý tham sân phản ứng,

      37 pháp trợ đạo có 8 phần, người học đạo, có thể thực hành theo thứ tự, hay từng phần cũng có kết quả an vui lợi ích.  Riêng 4 niệm xứcốt lõi để giải thoát “mê tưởng tôi”, là giải thoát luân hồi sinh tử.

Đời lắm KHỔ là quả
Do TẬP nhân dính chấp
DIỆT tập nhân si mê
ĐẠO dứt “ngã” đời vui.

(6) – 8 CHÁNH ĐẠO.

      Thực hành 12 nhân duyên và 4 Lẽ thật, có thể chuyễn hoá phiền não thành an vui, phàm phu thành Thánh, sống theo 8 Chánh Đạo. Có thể nói 8 Chánh Đạo là thoát yếu của 12 Nhân Duyên và “Khổ-Tập-Diệt-Đao”:

      1- CHÁNH KIẾN - Là thấy biết đúng như thật, bản chất của vạn vật,  là sự tụ tán của Đất-Nuóc-Lửa-Gió theo Nhân-Duyên-Quả, liên đới 3 thời, là Thực Tại Hiện Tiền, Sự Sống Thiên Nhiên đang diển biến vô thường, vô ngã.

      2- CHÁNH TƯ DUY-  Suy nghỉ tích cực, suy nghỉ đúng lý “Nhân-Duyên-Quả”, không tham, sân, si lợi ích chúng sinh.

      3- CHÁNH NGỮ- lời nói Chân thật, đúng “Nhân-Duyên-Quả”, lợi íchcần thiết, đúng thời, đúng lúc.

      4- CHÁNH NGHIỆP- hành động, việc làm, nghề nghiệp không tổn hại người vật.

      5- CHÁNH MẠNG- Sống không tham, sân, si, thực hành 5 giới, 10 thiện, không tổn hại người vật, lợi ích chúng sinh

      6- CHÁNH TIN TẤN- Tinh cần Tỉnh thức, Chánh niệm dứt tham, sân, si, không gián đoạn, không nhàm chán.  

      7- CHÁNH NIÊM- Là tỉnh thức từng satna ghi nhận “Thân, thọ, tâm, pháp”,là “Đất-Nước-Lửa-Gió” đang vận hành theo “Nhân-Duyên-Quả”, là “Thực Tại Hiện  Tiền”, Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất,  vô thường, vô ngã.  

      8- CHÁNH ĐỊNH- Là từng sátna nhận thức tiến trình của thọ cãm, sự vận hành của tư tưởng, không khởi tham sân, không tác ý phản ứng.

      Ba bài Pháp: 12 nhân duyên, 4 Lẽ Thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” và 8 Chánh Đạo, chỉ rõ nguyên nhân của khổ đau là “Mê tưởng tôi”, và phương cách để dứt “Mê tưởng tôi”, dứt chấp thủ, sống an vui, tự tai. “Mê tưởng tôi” muốn tồn tại, muốn hiện hữu, nên rất sợ và muốn loại bỏ những bài Pháp nầy.

      Sau khi Như Lai nhập pháp giới, giáo pháp của Ngài được kết tập nhiều lần, và được hình thành bộ Kinh Nikaya, sau lần kềt tập thứ 4 khỏan 500 năm sau.  Bộ Nikaya là bộ kinh đầu tiên của Phật giáo, là bộ kinh  đáng tin nhất.  Tuy nhiên, qua những lần kết tập, giai cấp Bà la môn nhiều thế lực, thờ “trời”, “thần”, đã thêm vào những chuyện thần thoại, cõi trời, chư thiên, ma quỉ, chuyện tiền thân Đức Phât v.v., nên xác xuất không phải 100%.  Đây là lý do làm cho tăng đoàn chia rẽ lúc bấy giờ, Phật giáo Nguyên thuỷ hay Nam tông thực hành theo bộ Kinh nầy. Một số người do quí kính Thế Tôn, y theo những bài kinh được viết là “lời Phật dạy…”, hay “Phậtthuyết…”, không tư duy, tín ngưởng chư thiên, cho vạn vật vô thườngđáng sợ, là khổ đau, kinh sợ đời sống thực tại, muốn dứt luân hồi sinh tử… 

      Pháp Như Lai thực tế, minh bạch, đơn giản, tự lực, phổ thông, đa số người học Phật thường tư duy cẩn thận khi học Pháp, Tinh cần, Tỉnh thức, Chánh niệm Lý Nhân Duyên, nhận thức “Nhân-Duyên-Quả” 3  thời, nhận thức 4 Lẽ thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” Thực hành những pháp trợ đạo: “4 Chánh Cần”, “4 Niệm Xứ” v.v. đê dứt nguyên nhân của khổ đau.  Nhận thức thực tướng của vạn pháp là “Đất-Nước-Lửa-Gió” vận hành theo Nhân Duyên Quả là sáng tạo tuyệt vời, vô thườngcần thiết để Sự Sống Thiên Nhiên luôn “mới”.  Tỉnh thức, Chánh niệm, nơi “thân-thọ-tâm-pháp” tự chứng quả khổ ưu chỉ do dính chấp và chủ nhân là “mê tưởng tôi”, từ đó sợ dính chấp, mới có thể dứt “mê tưởng tôi”, thực chứng Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, “Thực Tại Hiện Tiền”, sống đúng “8 Chánh Đạo”, tư tại, an vui, lợi ích, người vật, Là mục tiêu của giáo Pháp Như Lai.

B - GIÁO PHÁP của TỔ, LUẬN SƯ -

      Như đả nói trong “lời mở” chỉ muốn nhận ra “lời dạy chân thực của Như Lai”, lẻ ra không luận bàn về giáo pháp Tổ, Luận Sư, nhưng vì có liên hệ với lời Phật day, nên cần đối chiếu đặc tính của giáo pháp để thấy rỏ đường hướng của hai giáo pháp.  Sau khi Như Lai “nhập pháp giới”, những Luận Sư hay Tổ phóng tác giáo Pháp Như Lai, tưởng luận, làm thành giáo pháp Đại thừaKinh luận Đại Thừa của Tổ, luận sư cũng nói về Phật, nhưng Phật trong Pháp Tổ, luận sưsiêu nhân, có hào quang, có thần thông, linh hiển… Giáo Pháp Tổ, Luận sư trên căn bản có nhiều mâu thuẩn với giáo pháp Như Lai:

(1) Pháp của Tổ, Luận sư tưởng luận những thiên cung, ở cỏi trời, những cảnh giớivô biên xứ, ở thời gian vô lượng kiếp.  Cho rằng trong khi Tổ ngồi thiền… ngoài những bài Pháp ở thế gian, tổ còn nghe biết những bài Pháp, do Phật thuyết cho chư thiên, cho những vị đại Bồ Tát ở trên những cỏi trời.  Khác với giáo pháp Như Lai nói cho con người, chỉ rỏ pháp thực hành dứt khổ trong cuộc sống ngay đây, bây giờ,

(2) Pháp của Tổ, Luận sư , tin rằng Phật có truyền chức vị cho Tổ thay Phật, chức vụ Tổ được truyền qua China,  tín ngưởng thần chú, mật chú huyền bí, không nói rõ pháp thực hành. Khác với những lời sau cùng của Đức Phật: “Như Lai không chỉ định ai thay Như Lai để dẩn dắt các con, giáo Pháp Như Lai không có điều gì bí mật, khong có lời nào mang ẩn ý, các con hảy lấy giáo phápgiới luật làm thầy, hảy tự thắp đuốc trí tuệ và đi trong Chánh Pháp”.

(3) Giáo pháp của Tổ, Luận sư có nhiều tông phái, tin có vô
lượng ‘Phật’, và Đại ‘Bồ tát’ , tin Phât có thần thông, có hào
quang chiếu khắp pháp giơi, chúng sinh có thể nương nhờ thần lực chư Phật, Bồ tát được tai qua nạn khỏi, Khác với Pháp Như Lai: Đức Phật chỉ là một vị thầy chỉ đường, mổi người phải tự lực Tinh Cần, Tỉnh Thức, Chánh Niệm dứt nguyên nhân khổ đau.

(4) Giáo pháp của Tổ, Luận sư tín ngưởng “Chơn Không Phật Tánh” thường hằng, bất biến.  Tưởng luận các pháp siêu hình, thần thoại, tưởng luận 84000 pháp giải thoát, có nhiều danh từ phức tạp, khó hiểu.  khác với giáo pháp Như Lai thực tế, đơn giản, nói 4 lẽ thật, 12 Nhân Duyên chỉ rỏ nguyên nhânphương pháp dứt khổ trong đời sống thực tại 

      Xưa nay, nhiều vị lập thuyết, dựng Đạo là việc thường, điều quan trọng ở đây là những vị Tổ, Luận Sư không nhận trách nhiệm về những lập thuyết, tưởng luận của mình, mà viết là “Phật thuyết…”, là “lời Phật dạy…”làm cho Phật Pháp có nhiều mâu thuẩn, làm cho người sau lẩn lộn,  không còn nhận ra đâu là giáo pháp chính thống của Như Lai, và đâu là giáo pháp tưởng luận của chư Tổ, Luận sư.

      Hơn 600 năm sau, luận sư Nagarjuna(Long thọ) ngồi thiền, nhập định, dùng thần thông xuống đáy biển, vào Long Cung, dùng thần lực đọc 3 bộ kinh Avatamsaka, và đem bộ ngắn và thắp nhất, có trăm ngàn vạn ức bài kệ về phổ biến...  Ngoài ra Nagarjuna còn viết: Đại Bát nhả, Trung quán và 12 bài Luận.  Thuyết Nagarjuna nói về những cõi trời, cỏi thần Atula siêu hình, cho thực tướng vạn vật là “rổng không”, chỉ có “Cái Biết” là chơn tâm thường hằng bất biến.

      Hơn 700 năm sau, luận sư Avaglosa(Mãminh) viết  “Đai thừa tín luận”  tưởng luận về bản thể siêu hình  “chơn không" cho “chơn không” là “Phật tánh” bất sanh, bất diệt, bất biến, là bãn thể của vạn vật.

      Hơn 900 năm sau, 2 luận sư Asanga(Vôtrước) và Vasubandhu(Thế thân), đã viết:  -Du dà luận, -Câu xá luận, -Niết bàn luận, -duy thức luận, -“Kinh Pháp hoa”, -“Kinh Vô lượng thọ”(Sáng lập Adidà, pháp tịnh độ).  Luận thuyết của 2 ông kết hợp thuyết “rổng không” của Nagarjuna và “Phật tánh” của Avaglosa, gọi là Alaya thức, dung chứa và phát sinh toàn thể pháp giớibản thể của vũ trụ (Đại ngã của Balamon)



      Nagarjuna, Avaglosa, Vasubandhu và Asanga đã khéo léo lập thuyết, làm thành giáo lý Đại thừa, chủ trương có một “Chân Đế” là “Chơn Không Phật tánh”, là “Bãn Thể siêu hình” bất sanh, bất diệt, bất biến, mà chúng sanh phải tìm về.

      Giáo lý của Tổ, Luận sư tín ngưởng siêu hình, tưởng luận, thần thoại, thần chú, mật chú, được truyền qua Tibet, China, phát triển thành giáo pháp Đại thừa nói rằng Phật đả truyền y bát cho Tổ, luận sư để thay Phật… Giáo pháp của Tổ, Luận sư, ở China chia nhiều tông phái, khai triển thần quyền, tín ngưỡngvô lượng Phật, và đại bồ tát thần thông, có thể phóng hào quang cứu khổ thế gian…Từ China, giáo pháp truyền qua Korea, Japan, Việt nam

      Tuỳ phong hoá, giáo pháp Tổ, Luận sư có du di, nhưng vẫn mang đặc tính:  Tín ngưởng siêu hình Tưởng luận thần thoại, mê tín mơ hồ…  Lời dạy chân thật, giáo pháp thực tế, minh bạch, đơn giản, tự lực, phổ thông của Như Lai được phủ kín bởi những lớp hào quang rực rỡ, kiên cố !!!

      Căn cứ trên 3 tiêu chuẩn, 3 Pháp ấn, 5 đặc tính, có thể nhận thức rõ Pháp nào là Phật Pháp, Pháp nào là Pháp Tổ, luận sư. Tất cả pháp là diệu dụng của Sự Sống Đồng Nhất, tất cả đều vận hành đúng Nhân Duyên và có Quả đúng Nhân Duyên của mổi Pháp.  Quan điểmChánh tư duy, Chánh kiến, để biết rõ mục tiêu, và Pháp thực hành có đúng hướng mục tiêu không? Ví như người muốn học luật, nhưng được hướng dẩn học bài điện tử, hay y khoa, dù nghĩ là học luật, nhất định sẻ là kỹ sư, bác sỉ, không thể nào là luật sư được.

                                ***

[V] -- ỨNG DỤNG THỰC HÀNH

      Bài Pháp 4 Lẽ Thật được diển đạt đơn giản qua bài kệ

Đời lắm KHỔ là quả
Do TẬP nhân dính chấp
DIỆT tập nhân si mê
ĐẠO dứt “ngã” đời vui.

    Qua hai câu chót nói phải dứt nhân si mê, “ngã”, thì đời liền vui, gốc rể then chốt của vấn đề ở chử “ngã” nầy.  Ngã là tiếng Hán Việt nghỉa là ”tôi”, là nguyên nhân dẩn đến quả “Khổ”.  Quan niệm vạn pháp sinh diệt, diển biến vô thường là khổ, là đáng kinh sợ, hay quan niệm truy tìm “Chủ thể”, bất biến, chưa từng sanh, chưa từng diệt, không bị chi phối bởi lý Nhân Duyên, đây là quan niệm dù được viết là “Phật thuyết” trong bất cứ kinh nào, cũng là tưởng tượng không phù hợp với lời dạy chân thật của Đức Phật: “ tất cả pháp vô thường, vô ngã”.  Thấy có một “chủ thể”, hay một pháp thường hằng, bất biếnthường kiến, là tưởng tuợng không thực tế.

      Vạn vật là những thành phần của Sự Sống Thiên Nhiên, tuỳ duyên diển biến vô thường, vô ngã, tất cả có chức năng riêng và bình đẳng, đời Sống chỉ an ổn khi những thành phần được an ổnBước đầu Như Lai dạy thực hành 4 duyên lành: Thân, miệng, ý phải dứt gây tổn hại người vật.  Ngược lại, thân, miệng, ý luôn nghỉ, nói và làm những điều lợi ích chung, để Sự Sống được an lànhThực hành bước đầu thực tế nầy, gia đình, xả hội, thế giới sẻ tạm ổn, chỉ tạm yên ổn, vì nguyên nhân chính của khổ đau là “mê tưởng tôi ”vẩn còn đó.

      Người học đạo cần ứng dụng “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, thực hành “4 niệm xứ”, Tinh cần, Tỉnh thức, Chánh niệm “Thân, Thọ, Tâm, Pháp”, để thấy Pháp như thật là “Đất-Nước-Lửa-Gió” đang điển biến theo Nhân-duyên, không có gì là khổ.  Nổi khổ ưu chỉ có do “mê tưởng tôi” tự phân biệt, dính chấp, không biết “Nhân-Duyên-Quả” càng mê dính chấp, càng phản ứng, càng khổ đau, từ đó sợ dính chấp, nhàm chán thân tâm, mới có thể rũ sạch “mê tưởng tôi”.  Khi đó Sự Sống Đồng Nhất, phổ hiện tuyệt vời, tâm từ rộng mở lợi ích chúng sinh.  Đây là đặc tínhtiêu chuẩn cốt lõi của Đạo, của giáo pháp Như Lai, đây cũng là pháp thực hành thiết thực, để dứt “mê tưởng tôi”, là bài Pháp thực tế, minh bạch, đơn giản, tự lực, phổ thông vô cùng quan trọng, Như Lai đã 2 lần nhấn mạnh khi mở đầu và kết thúc bài kinh: "Con đường duy nhất đưa đến thanh tịnh, dứt sầu não, diệt khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng nghiệm niết bàn, là 4 niệm xứ".  

A - NHẬN THỨC VỀ THÂN -

    Tỉnh thức trong đi, đứng, nằm, ngồi, ghi nhận từng hơi
thở, từng cử chỉ động tĩnh, từng thân phần của thân thể, nhận biếttoàn thể cơ thể là một tập thể kết hợp bởi 4 yếu tố: “Đất-Nước-Lửa-Gió”, đang diễn biến theo nhân duyên tụ-tán vô thường, không có gì gọi là “tôi”, không có gì là quí.  Nếu mê chấp thân vô thường gọi là “thân tôi”, liền nhận “sinh, già, bịnh, chết”, khởi tham sân, sợ hãi, càng dính chấp, càng phiền não, khổ đau, đây là kinh nghiệm thực tiễn, là Tỉnh thức, Chánh niệm về Thân. 

B – NHẬN THỨC VỀ THỌ -

      Thọ là cộng hưởng của thân, tư tưởng và đối tượng.  Nhận thức từng cảm thọ thuộc vật chất hay tinh thần, đều tuỳ duyên, sinh diệt, vô thườngTỉnh thức chánh niệm ghi nhận từng cãm thọ sinh khởihoại diệt như thế nào, ghi nhận tâm ý, tư tưởng sinh khởi, hoại diệt, và đang dính chấp, ưa ghét, thích thú ra sao, như thế là nhận thức về Thọ.  Nếu tư tưởng không nhập cuộc, dính chấp, không tác ý ưa ghét, phản ứng, thì tất cả những cãm thọ dù thế nào, chỉ là hiện tượng, sự kiện, diển biến theo “Nhân-Duyên-Quả” là sáng tạo tuyệt vời của Sự Sống Thiên Nhiên.  Nếu tư tưởng dính chấp,  tác ý ưa ghét, phản ứng, thì cãm thọ liền trở thành cảm xúc mảnh liệt,  sinh tham sân, ưu tư, sợ hãi khổ đau.  

C - NHẬN THỨC VỀ TƯ TƯỞNG -  

      Tư tưởng rất linh hoạt, là phương tiện để lợi ích Sự Sống Thực Tại, nhưng tư tưởng mê lầm, tự đồng hoá, nhận Thân, Cãm thọ, tưởnglà “tôi”, “mê tưởng tôi” phản chức năng, muốn chủ động, muốn chiếm hữu, muốn hưỡng thụ, không biết đủ, không biết nhân qủa, muốn hằng hữu, muốn hiện diện, luôn  len lỏi nhập cuộc dưới mọi hình thức, thường duyên theo thấy, nghe hay xúc cảm,  qua 3 tiến trình: 

(1)- TƯỞNG: Khi thấy, nghe, xúc cảm liền tưởng nhớ lại kinh nghiệm, trong quá khứ, để nhận diện và chụp mũ đối tượng. 

(2)- TƯ(hành): là đối chiếu, suy nghĩ, tưởng tượng lợi hại do đối tượng mang đến.

(3)- THỨC: là “biết”, duyên theo “Tưởng” và “Tư”, phân biệt tốt, xấu,  lành, dữ.

      Nếu mê chấp 3 trạng thái trên, liền bị tư tưởng chủ động dẩn đến ưa, ghét, tham sân, sợ hãi, phiền não, khổ đau.  Tỉnh thức ghi nhận từng niệm khởi, vận hành, diển biến, nhận thứctư tưởngyếu tố chủ yếu của “mê tưởng tôi” tuỳ duyên diển biến vô thường, là nhận thức về tư tưởng.

D - NHẬN THỨC VỀ PHÁP – 

      Pháp là tất cả những gì thuộc vật chất hay tinh thần, có hình tướng hay đặc tính để nhận biết.  Tất cả pháp vận hành theo “Nhân-Duyên-Quả”, diển biến vô thường. Từ một niệm mê khởi, niệm nầy dứt làm duyên cho niệm khác sinh, gọi là “chúng sinh nhân”, đây cũng là duyên đất, nước, lửa, gió tụ-tán, thành hiện tướng biến đổi liên tục từ không ra có, từ có ra không, gọi là “chúng sinh quả”.  Những hiện tướng lại là duyên, nên tướng chúng sanh nầy dứt, liền hiện tướng chúng sanh khác, theo luật nhân-duyên, nghiệp báo, và đồng thanh tương ứng, diển biến vô thường, vô ngã.  Nếu dính chấp vào pháp vô thường, sinh ưa, ghét, tham, sân, sợ hãiphiền não, khổ đau. Tỉnh thức chánh niệm ghi nhận như thế là nhận thức về Pháp.

    Qua 4 Lẽ Thật, 4 Niệm Xứ, nhận thức Vô thườngcần thiết để Sự Sống luôn tươi mới, cái khổ chỉ có do tư tưởng phân biệt, dính chấp, chủ nhân của mọi dính chấp là “mê tưởng tôi.  Muốn dứt khổ đau, chỉ có một cách duy nhất là phải dứt “mê tưởng tôi”, qua 4 niệm xứ, nhận thức “thân, thọ, tâm, pháp” vô thường, vô ngã, ghi nhận “mê tưởng tôi” phân biệt, dính chấp, đưa đến khổ não, từ đó nhàm chán thân, tâm, sợ dính chấp, mới có thể dứt được “mê tưởng tôi”.  ”Tinh cần”, “Tỉnh thức” và “Chánh niệm” là 3 nhân tố quyết định để thực hành giáo pháp Như Lai

(1)- TINH CẦN:  Là Kiên trì mọi lúc, mọi nơi, trong từng satna không ngừng nghĩ, không gián đoạn, không nhàm chán.

(2)- TỈNH THỨC:  Là thấy, nghe, hay biết rõ ràng từ thân tâm, vạn vậtnhận thức Đất, Nước, Lửa, Gió vận hành theo nhân-duyên-qủa, đang tụ tán, diển biến vô thường, vô ngã.  Không dính chấp tham, sân, không “mê tưởng tôi” hay một cảnh giới mơ hồ ngoài Sự Sống Đồng Nhất.

Tỉnh thứcyếu tố thiết yếu để thực hành giáo pháp Như Lai, tỉnh thức được tính trong “sátna”(nhỏ hơn 1/60 của 1 giây), từng satna tỉnh thức  ghi nhận từng khởi động và vận hành của “thân-thọ-tâm-pháp” mới có thể  nhận thức được vấn đề gọi là thấy pháp như thật. 

(3)- CHÁNH NIỆM- Chánh là đúng Nhân-Duyên-Quả. -Niệm là ghi nhận thực tại đang là.  Chánh niệmghi nhận sự liên hệvận hành của Sự Sống Thiên Nhiên đang diển biến qua “Thân-Thọ-Tâm-Pháp”, ghi nhận từng hơi thở, từng bước đi, từng cảm thọ, từng sự khởi động và vận hành của tư tưởng, đến mọi diển biến của sắc tướng, âm thanh trong thực tại.  Từng satna nhận thức “Thân-Thọ-Tâm-Pháp” diển biến vô thường, không chủ thể, không ngã nhân, tự kinh nghiệm và nhân thức rỏ như thế là thấy pháp như thật, không qua tưởng tượng và lý luân, ngôn ngữ.

      Ứng dụng”, thực hành 4 Lẽ thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, tinh cần, tỉnh thức, chánh niệm 4 xứ “Thân-Thọ-Tâm-Pháp”, dứt “mê tưởng tôi”, thì ngay đây, bây giờ Thực Tại hiện tiền, con người tự biết là một thành phần của  Sự Sống Đồng Nhất, thanh an, tự tại lợi ích người vật, 4 chánh cầncăn bản, 8 chánh đạo là thoát yếu, và dứt mê tưởng tôi là mục tiêu cứu cánh, đây là thành quả, là định hướng của Đạo Đế, mà 4 niệm xứ là pháp thiết yếu, cốt lỏi. 

      Tiếc thay pháp hành tự lực, thực tế,minh bạch, đơn giản nầy đã bị cho là “Tiêu thừa”, là “tiêu nha bại chũng” !!!

      Những lời cuối cùng Thế Tôn dạy: “Như Lai không chỉ định ai thay Như Lai, giáo Pháp Như Lai không có điều gì mơ hồ, bí mật, không có lời nào mang ẩn ý, các con hãy lấy giáo PhápGiới Luật làm thầy, hãy tự thắp đuốc mà đi, hãy đi trong chánh Pháp”.  

                                  ***

[VI] -- HIỆU QUẢ --

A - PHƯỚC -

      Phước là quả của nhân lành, còn mang ngã chấp, phước có 2 loại: vật chấttinh thần, gọi là hữu vivô vi.  Phước hữu vi do làm lợi ích cho người vật, dựa trên hình tướng, vật chất, âm thanh.  Phước vô vi do nhận thức vạn pháp như huyễn, niệm danh hiệu Phật, “tưởng” một cảnh giới an vui.  Phước vô viphương tiện để bớt dính nhiễm, là “hóa thành”, không phải là cứu cánh rốt ráo, cần vượt qua.    Phước thường đưa đến 10 kết quả:

1- Có thể giúp người vật bớt khổ não.  
2- Được thương mến, quý, kính.    
3- Được giàu sang,
4- Được địa vị, quyền thế.
5- Sinh ra, thân đầy đủ, đẹp đẽ.    
6- Sống an lành,
7- Chết an lành.
8- Là nhân an vui đời nầy và đời sau.
9- Là của báo, mà trộm cướp, quan quân
    nước, lửa, không lấy mất được.    
10-là duyên biết được chánh pháp

      Phước là làm lợi ích, an vui cho người vật, là duyên gặp chánh phápTuy nhiên, phước hữu vi còn ngã chấp, còn dựa vào    sắc tướng, âm thanh, phước vô vi do ngã tưởng, nên Phước có tính cáchgiới hạnvô thường.  Hơn nữa, khi mê hưởng phước hữu vi, con người có thể gieo nhân ác, phá hết phước nghiệp, phải gặt ác báo, hay mê hưởng phước vô vi, sống mơ màn trong ảo tưởng.  Nên phước không phải là cứu cánh, không phải là mục tiêu của giáo pháp, mục tiêu của giáo pháptrí tuệ, là tỉnh thức, chỉ có trí tuệ tỉnh thức mới biết sử dụng phước đúng chỗ, lợi ích người vật, làm cho phước thêm tăng trưởng, và dứt khổ não gọi là Đức.

B - ĐỨC -

      Nhận thức thân tâm, vạn vật là những thành phần của
Sự Sống Thực Tại Đồng Nhất, không “mê tưởng tôi”, không tham sân, phản ứng, không tác ý điên đảo, không tưởng tượng, mong cầu một cảnh giới nào khác.  Nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, đang hiện bày, diễn biến đúng “Nhân Duyên Quả”, tùy duyên, thuận pháp, hoan hỉ làm lợi ích, cho đời, làm sáng tỏ    Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, là công đức.  

    Còn “Mê tưởng tôi” riêng lẻ, còn dính chấp tham sân, mê tín, sợ hãi, là còn phiền não, phải hồi hướng tất cả niệm mê lầm về tỉnh thức, tinh cần, chánh niệm dứt mê tưởng, tham sân sợ hãi, mê tín, cầu xinTrí Tuệ, là Đức.  Nhận thức vô thường không phải là khổ và đáng kinh sợ, cái chết là  sự diển biến cần thiếttuyệt vời để Sự Sống Thiên Nhiên luôn tươi mới, cái đáng sợ là không thấy biết được sự vận hành của Thiên Nhiên do “mê tưởng tôi” tự phân biệttỉnh thức chánh niệm dứt dính chấp, dứt “mê tưởng tôi” là Trí Tuệ, là Đức.

      Nhận thức ngay đây, bây giờ, dứt bỏ dính chấp, dứt bỏ “mê tưởng tôi”, thì Thực Tại hiện tiền, Sự Sống Đồng Nhất, đang là, nhân thế nào, hiện tướng thế ấy, duyên đâu là đó, đây là ba thời “nhân-Duyên-Qủa”,là  công bằng thiên nhiên, là sáng tạo tuyệt vời không có chủ thể.  Nhận thức như thế là trí tuệ, là công đức

      Tin sâu nhân quả, thực hành những pháp trợ đạo, không để tư tưởng lôi cuốn đồng hóa, không để tham sân khuấy động cảm xúc mừng, giận, thương, sợ v.v., xa lánh việc ác, gieo trồng nhân lành, tùy thuận nhân quả, ra sức làm an vui lợi ích người vật, làm sáng tỏ Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất,  là nhập pháp giới, là cung dưỡng Như Lai, là công đức.  

      Nhận thức danh xưng của Như Lai: -Như là giống, không sai, không khác.  -Lai là đến, là hiện bày ra, là vạn vật, đang vận hành theo “nhân-duyên-qủa”, là Thực Tại Hiện Tiền đang là..  Nhận thức Phật, chúng sinh, vạn vật đồng là thành phần của Sự Sống Đồng Nhất, như tất cả ảnh trong gương, ảnh và gương không phải một, cũng không phải khác, vì chạm vào ảnh nào cũng là chạm vào mặt gương, nên chăm sóc cho tất cả ảnh tươi sạch, là mặt gương trong sáng.  Qua thân, thọ, tâm, pháp, ngay mỗi hiện tướng, mỗi thành phần có thể cảm nhận sự vận hành của “Đất- Nước-Lửa-Gió”, cảm nhận  Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, không lầm nhân quả, không dính chấp, điên đảo phân biệt, ly dục ly ác pháp, là độ chúng sinh, là đoạn phiền não, là tự độ, độ tha, là công đức

C - LỢI ÍCH

      Nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, có thể thuần thục tất cả chúng sinh (tham, sân, si, sợ hãi, mê tín, cầu xin) xa lìa bạn dữ, việc ác, dứt trừ phiền não, làm lợi ích cho người vật, sống an vui, tự tại.

      Sự Sống Thiên Nhiên vốn tự đầy đủ, “nhân” chi là vậy, “duyên” đâu  là đó, tùy duyên thực hành, nói cho người nghe, làm sáng tỏ Sự Sống Đồng Nhất là cung dưỡng công đức.  Từng bước tinh cần, tỉnh thức, chánh niệm, thực hành những pháp trợ đạo, 4 Niệm xứ, nhận rõ vô thường, dứt “mê tưởng tôi”, làm sáng tỏ Sự Sống Đồng Nhất Đang Là, tự tại an vui ngay trong cuộc sống nầy, đây là mục tiêu đích thực của con người, của giáo pháp Như Lai,

D -  ĐIỀU KIỆN

(1) Người học Đạo cần tin sâu “Nhân Duyên Quả”, xa lánh việc ác, gieo  trồng nhân lành, không mê tín mơ hồ, nhận thức gốc nghiệp chướng, khổ đau là dính chấp, là “mê tưởng tôi”.

(2) Người học Đạo cần Chánh tư duy, Chánh kiến nhận định rỏ con đường đang thực hành và xác định pháp thực hành đúng mục tiêu đả định

(3) Người học Đạo cần Tinh cần, Tỉnh thứcChánh niệm nhận thức thân tâm, vạn pháp, diển biến vô thường, vô ngã.  Xác định mục tiêu: Dứt “mê tưởng tôi” cá nhân, ích kỷ, tỉnh thức làm sáng tỏ Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, lợi ích người vật.  
  
      Pháp Như Lai hài hòa đời và đạo, đủ duyên học hỏi, tư duy, hiểu  được lời dạy của Như Lai, nhưng thấy mục tiêu, chưa phải đến mục tiêu, Phải, thận trọng khiêm cung, kiên trì, nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, chớ  ngã mạn, tưởng luận mơ hồ, mê tín.  

      Dứt mê tưởng là việc riêng của mỗi người, không thể dựa dẫm cầu xin, không ai có thể dứt niệm chúng sinh của người khác được, điều cần thiết là phải có pháp thực hành, thực tế, minh bạch, đơn giản, đúng “Nhân-Duyên-Quả”. 

                                ***

          CỐT LỎI

Đời là khổ bởi mê dính chấp
Cốt lỏi là mê tưởng chấp “tôi”
Buông dính chấp là hết lôi thôi,
Dứt “tưởng tôi” đời không là khổ
“Mê tưởng Tôi” Thâm căn cố đế
Khó suy lường vạn trạng thiên hình
Chớ tưởng, luận, mơ hồ mê tín
Học chính pháp nguyên thủy Như Lai
Bốn Diệu đế hiễn bày nhân quả
Bốn niệm xứ là phương dứt ngã
Quán thân tâm: bất tịnh, vô thường
Quán vạn pháp duyên sinh vô ngã
Thực Tánh pháp tùy duyên uyển chuyễn
Thực Tướng pháp diễn biến vô thường
Dính chấp là phiền não khổ đau
Thường nhận thức tinh cần như thế
Pháp Như Lai giản đơn thực tế
Tỉnh cơn mê ngã chấp đảo điên
Mê tưởng dứt Thực Tại hiện tiền
Sự Sống vui, Thiên Nhiên tuơi mới

              ***

[VII] -- VẤN ĐÁP


-H - Phật dạy hạnh bồ tát, vừa tu vừa độ chúng sinh gọi là đại thừa.  Những vị Đại BồTát như P’uu Hsien Phổ Hiền, Quán thế âm, Văn thù, Địa Tạng… có nhiều thần lực, chúng sinh niệm danh hiệu các Ngài sẽ được các Ngài gia hộ thoát khổ, đây là linh ứng bất khả tư nghì.  Nếu nói chỉ tự lực, thì Phật nói những vị Đại BồTát nầy làm gì?
        
-Đ - Theo lịch sữ, qua nhiều lần kết tập, dưới sự đóng góp và chứng minh của toàn thể tăng đoàn, trong toàn bộ kinh Nikaya Thế Tôn không có nói về những vị Đại Bồ Tát…  Những vị Đại Bồ Tát có nhiều thần thông, không có trong thực tế, chỉ có trong những kinh đại thừa, 600 năm sau, do những vị Luận sư, với tư cách cá nhân biên soạnKinh Đại thừa nói các Đại Bồ Tát  ở Ngủ Đài Sơn ở China, muốn biết về những vị Đại Bồ tát nầy, nên hỏi quí thầy China, Tibet.

      Giáo pháp Như Lai hiển bày  “Nhân -Duyên-Quả” đây là luật công bằng thiên nhiên, chi phối tất cả vạn vật, cảnh giới trong vũ trụ.  Không một  ai có thể bẻ cong, tráo đổi luật công bằng thiên nhiên.  Các Tổ hay Luận sư  phóng tác lời dạy của Thế Tôn theo tưởng luận, rất cao siêu nhưng có tính cách thần thoại, nói thần thông, thần chú, mật chú, nói hiển linh,  dễ rơi vào mê tín, không phù hợp với giáo pháp của Như Lai

      Ngày nay thế giới như thu gọn trong một nhà, những hiện tượng, lời nói, dù ở nơi nào, cũng có thể được cả thế giới nghe thấy.  Những danh từ riêng  như tên người, tên quốc gia, tên thủ đô, hay địa danh một nơi nào đó, cần quốc tế hóa và thống nhất, theo hệ thống ABC đơn giản, phổ thông, tốt nhất nên giữ nguyên tên, nguyên âm những danh từ riêng.  “P’uu Hsien”, “Phổ Hiền” là dịch từ Samanta bhadra là tên của một Bồ tát trong kinh Đại Thừa của Tổ, luận sư hơn 600 năm sau Đức Phật.  Từ Samanta bhadra được quốc tế hóa theo nguyên âm bản xứ, có nghĩa: “Tương xứng bao quát”,  là vạn vật phổ hiện tương xứng, đúng “Nhân-Duyên-Quả” không có nghĩa“dữ hiền” Danh xưng Văn Thù hay những vị khác cũng thế, là danh từ riêng, dịch có khi sai ý nghĩa của từ gốc.  Quan trọng là nghĩa của danh từ, hiểu theo nghĩa nào, bạn sẽ thực hành và có kết quả đúng như ý hiểu biết, vì Sự Sống Thiên Nhiên phổ hiện tương xứng.

-H - Pháp Đại thừa dành cho người có căn cơ cao, 4 Diệu đế, 37 phẩm trợ đạoTiểu thừa dành cho người sơ cơGiáo pháp Như Lai có 5 thừa, Pháp Sự Sống Thiên Nhiên thuộc Tông Thừa nào ?
        
-Đ - Chúng sinh do “mê tưởng tôi” tự tách rời Sự Sống đồng nhất, tự thấy riêng lẽ, dính chấp hiện tướng, khởi tham sân, dẫn đến phiền não, khổ đau.  Vì sợ đau khổ, con người tìm cách để dứt khổ cho “mê tưởng tôi”!  Thế Tôn tùy thuận giảng nói lý “Nhân- Duyên-Quả, 4 Lẽ thật Khổ-Tập-Diệt-Đạo, và 8 chánh Đạo, để dứt “mê tưởng tôi”, hiển lộ Thực Tại Hiện tiền, Sự Sống Thiên Nhiên đồng nhất.  Giáo Pháp Như Lai thực tế, minh bạch, đơn giản, tự lực, phổ thông, có giá trị thực tiển lợi ích xưa nay, vốn không có tông thừa.  

      Khoản 600 năm sau, những vị luận sư, copy, phóng tác kinh nguyên thủy, làm thành pháp Đại thừa mang sắc thái tưởng tượng siêu hình, thần thoại, chia chẻ phân biệt pháp nhỏ lớn cao thấp, làm thành 5 thừa, làm lệch hướng giáo pháp Như Lai.  Điều quan trọng là các Tổ hay Luận sư, không nhận trách nhiệm về những phóng tác tưởng luận của mình, mà viết là Phật thuyết, làm cho người sau tin Phật Pháp có 5 thừa, có nhiều mâu thuẩn. 

      Chừng nào còn “mê tưởng tôi”, ích kỷ, tham sân, sợ hãi, vọng tưởng có những “đấng cứu khổ, ban vui”, có những “thần chú” có thể giúp cho tai qua, nạn khỏi, mê tưởng một chủ thể, một cảnh giới chơn thường, bất biến, cho “mê tưởng tôi” an trú, truy tìm một quả vị, tưởng luận có Tông Thừa cao, thấp, lớn, nhỏ.  Như thế dù tự thấy cao, tự thấy lớn, chỉ là phóng hiện mê lầm của “mê tưởng tôi”, không phù hợp với giáo pháp Như Lai.

      Ngược lại, chánh niệm nhận thức “Thân-Thọ-Tâm-Pháp” do 4 yếu tố:“Đất-Nước-Lửa-Gió” đang tụ tán theo nhân duyên, là Thực Tại Hiện Tiền, là Sự Sống đồng nhất vô thường vô ngã, không có gì là khổ.  Nhận thức cái khổ chỉ có do tư tưởng dính chấp, ứng dụng lý nhân duyên, 4 lẽ thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, và 8 chánh Đạo, tỉnh thức không dính chấp, tham sân, không tác ý điên đảo, dứt “mê tưởng tôi”, hoan hỉ tùy thuận làm lợi ích người vật, như thế dù có khinh bác, gọi đó là Tiểu thừa, là ”tiêu nha, bại chủng”, tự nó cũng cao, cũng quý.

      Pháp Như Lai ứng dụng ở đâu, lúc nào cũng đúng, cũng lợi lạc, lời nói Như Lai lúc nào cũng là ái ngữ, ngay lúc đối đáp với kẻ phỉ báng Ngài, lời nói của Ngài cũng thật êm diệu, cử chỉ, hành động của Như Lai lúc nào cũng ôn hòa, dịu dàng.  Những hướng dẩn của Ngài là thực tế, minh bạch, đúng “nhân-duyên-quả”, không mê tín cầu xin dựa dẫm, tự nhận thức Sự Sống Thực Tại qua: “Thân-Thọ-Tâm-Pháp”, tỉnh thức trong từng hơi thở, lời nói, cử chỉ, cảm thọ, tỉnh thức trong từng khởi động của tư tưởng, từng pháp sinh diệt, tụ tán của Đất-nước-Lửa-Gió, để thấy rỏ vô thường vô ngã, hướng về cứu cánh dứt tham sân si, dứt “mê tưởng tôi”, sống thanh an, tự tại. Trí tuệ, từ bi, phục vụ, làm an vui người vật.

      Phân chia lớn nhỏ, vướn chấp cao thấp là đánh mất Sự Sống đồng nhất.  Xót thương chúng sinh vô lượng kiếp mê lầm, nay nhờ “ƠN” Thế Tôn nhớ lại nguồn, nhưng nghiệp chướng, ngã chấp chưa dứt, tự tưởng “đốn ngộ” là cứu cánh, tự thấy đả đạt đến trình độ vô ngã, vô pháp, tự thấy là “trượng phu”, đả thấy hào quang Phật Tánh vội bác bỏ pháp Như Lai:

    Nam nhi tự cổ xung thiên chí
  Hưu hướng Như Lai hành xứ hành…!

    Là tu sĩ hay phật tử, nếu không theo hướng Như Lai:  Dứt mê tín  cầu xin dựa dẫm, tinh cần, tỉnh thức, chánh niệm, dứt tham sân, rũ sạch ngã chấp, sống thanh an, tự tại, trí tuệ, từ bi, làm lợi ích, an vui cho người, cho đời,.. hướng đi của Như Lai có gì sai??… có hướng nào, phương cách nào tốt hơn??... Không nhận thức kịp một niêm mê khởi, đã bị “ngã” khống chế, mê tưởng đốn ngộcứu cánh, tự thấy đả dạt đến trình độ :”vô ngã vô Pháp” chỉ cần hào quang của Phật Tánh, tự mản, sống mơ màn trong ảo tưởng khinh bác giáo pháp Như Lai thật không nên!

        Hơn 600 năm sau có những Luận Sư, viết những bài kinh do “Phật thuyết” ở những cỏi trời cho chư thiên, những bài kinh Phật thuyết cho những đại bồ tát gọi là kinh “Đại Thừa”… khinh chê những vị theo Pháp nguyên thủy của Thế Tôn là “tiểu thừa”, là “tiêu nha bại chủng”…  phải chăng vì không hài lòng những vị trưởng lão đã không chấp nhận những phóng tác tưỡng luận thần thoại, siêu hình !...  Tuỳ phong hoá nhân sinh, phóng tác lời dạy của Thế Tôn cũng tốt, nhưng không thể:

    (1)- mạo danh Thế Tôn.
    (2)- tự cao tự đại khinh bác tam bảo.
    (3)- không nhận trách nhiệm về những phóng tác, đã sửa đổi giáo pháp Như Lai thành, thần thoại, xa rời thực tế.

      Khoảng 700 năm sau, Bài Bát Nhả là bài kinh tối thượng của Đại thừa, sớm, trưa, chiều, tối, mổi ngày đọc tụng 10 lần.  Đây là tín ngưởng trong giáo pháp Tổ, Luận sư, lẻ ra không nên luận bàn, nhưng vì bài pháp đả viết về Đức Phậtgiáo Pháp Như Lai, nên cần phân tích minh bạch đường hướng của hai giáo Pháp.

      Mở đầu bài Pháp viết:”…hành thâm bát nhã, chiếu kiến 5 uẩn đều “không” thì dứt khổ nạn”.  Đây là lý của “Diệt Đế” trong bài kinh 4  Lẽ Thật, bài Bát Nhã nói hành thâm bát nhả, thấy: Thân, cảm thọ, và tâm  (tưởng-hành-thức) là “không” thì dứt được tất cả mọi khổ nạn, nhưng không chỉ rỏ hành thâm bát nhả là thế nào? Làm sao thấy thân, tâm, thọ cãm và  vạn vật là Không?  5 uẩn thâm căn, cố đế, thiên hình vạn trạng, không dể “hành thâm chiếu kiến,,,giai không” (nhìn kỷ và cho nó là Không...lâu ngày) thì nó sẻ thành “không”..., không đơn giản như thế.  Trên thực tế  dù miên mật tưởng ‘Rổng Không” “Bổn lai vô nhứt vật”… Thân- Thọ-Tâm-Pháp,  Thực Tại Hiện Tiền, Sự Sống Thiên Nhiên, vạn vật vẩn đang diển biến… Nếu  Lý luận”giai không” không phải là “không có”, mà chỉ không chấp 5 uẩn.  Không chấp? không chấp...lâu ngày thì hết khổ nan??  Thực tế hành thâm chiếu kiến không chấp, không chấp xe đụng gảy chân…khổ nạn đau nhức, khó chịu đang diển biến vẩn hoằn hành, phải gánh nhận.  Dù tưởng tượng không chấp, nghỉ không chấp bao nhiêu lần vẩn không hết đau nhức, khổ nạn được, vì xe đụng gảy chân…khổ nạn đau nhức, là hiện tượng có thật, đang là,  không thể nhìn và cho nó là “Không” lâu ngày, hay  nhìn và nói không chấp lâu ngày mà không có xe đụng gảy chân được….  

      Phần sau là phóng tác về niệm xứ thứ tư, dẫn vào “trí tuệ bát nhã”, tưởng luận thực tướng “Chân Không” bất sinh, bất diệt, bất biến, cho rằng Trí Bát Nhã là thấy tất cả vạn vật là “rổng không”: “…thị cố không trung vô sắc… vô vô minh... vô khổ, tập, diệt, đạo…”!  Bác bỏ ‘Thực Tại Hiện Tiền’, bác lý “nhân-duyên-qủa”, bác 4 lẽ thật “khổ-tập-diệt-đạo” là pháp thực hành của ThếTôn !!!  Nhận định “rổng không” là thật tướng, cho rằng Chư Phật, cũng nhờ Trí Bát Nhã biết “Tướng không” mới đắc đạo?!:  “Tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa cố, đắc A nậu……“.

      Thực tế theo lịch sử, Ngài Siddhartha muốn tìm nguyên nhânphương pháp dứt nguyên nhân của khổ đau, để giải tỏa nổi thống khổ của con người, đã 6 năm khổ hạnh, trải đã qua và đạt tuyệt đỉnh những cảnh giới “dứt tư tưởng”,“diệt tận định”, “dứt cảm thọ”, “không vô biên”, “thức vôbiên”, “phi phi tưởng” v.v. vẫn không dứt được khổ não.  Ngài chỉ thành đạo sau 49 ngày nhận thức “nhân-duyên-qủa”, 4 lẽ thực: “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, thực hành 4 Niệm xứ, đoạn trừ, rũ sạch “mê tưởng tôi”, là then chốt của phiền não, khổ đau, gọi là đắc đạo

      Như Lai dạy chỉ cần ứng dụng 4 lẽ thật, 4 Niệm xứ, dứt “mê tưởng Tôi”, thì dù 5 uẩn giai có, Sự kiện xe đụng gảy chân, đau nhức vẩn đó, tất cả chỉ là Sự Sống Thực Tại đồng nhất đang diển biến theo “Nhân-Duyên-quả”, không có gì để dính chấp, để nhận khổ nạn. Then chốt để dứt khổ nạn dù “5 uẩn giai có” là bài Pháp 4 Lẽ Thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”.  Bài Pháp 4 lẽ thật khẳng định 3 tiêu chuẩn:

(1)- Hiển bày nhân-duyên-quả ba thời, diển biến vô thường, là công bằng Thiên Nhiên.

(2)- Hiển bày nguyên nhân của khổ đau là dính chấp, là “mê tưởng tôi”.

(3)- Hiển bày 4 lẽ thực:“Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, là  pháp  thực  hành  có  hiệu  quả dứt  “mê tưởng tôi” là Vô ngã.

      Nên nói 3 pháp ấn của như lai là:

(1)- VÔTHƯỜNG: Vạn vật, Sự Sống Thiên Nhiên tuỳ duyên diển biến sống động.

(2)- KHỔ: Do tư tưởng dính chấp “mê tưởng tôi” . 

(3)- VÔ NGÃ: Thực tại hiện tiền, Sự Sống đồng nhất, đang vận hành theo “Nhân- Duyên- Quả”, không có chủ thể tạo tác.

    Như Lai đã từ bi dạy:  “Tất cả pháp đều vô thường, do Đất-Nước-Lửa-Gió vận hành theo “nhân-duyên-qủa” diễn biến là Sự Sống Thực TạiThực tế chỉ cần rũ sạch “mê tưởng tôi”, chừng đó vạn vật đang diễn biến là Thực Tại Hiện tiền, “Sự Sống đồng nhất”, là sáng tạo tuyệt vời,không có gì là khổ nạn. Nhận thức như thế là thấy pháp như thật, là “nhập pháp giới”,” là thấy biết Như Lai. Không cần lý luận.

      Tâm cảnh tương đồng:  _ tâm bố thí rộng rãi, phù hợp cảnh giàu sang. _tâm bỏn xẻn, tham gian, phù hợp cảnh bần cùng. _tâm “sùng bái” hình tượng, trang trí tranh tượng đủ hình tướng, màu sắc ._tâm thích bí ẩn, hiển linh, phù hợp thầy dạy bùa chú, bắt ấn, xuất hồn, thần thông, siêu hình, huyền bí. _tâm khiếp phục, thích lễ lạy, phù hợp thầy dẫn đi “tam bộ nhất bái”, lạy 100, 1,000 lạy, lạy 10 phương, _tâm cao ngạo lão thông, phù hợp thầy dạy lý luận pháp Như Lai là tiểu thừa! _tâm tưởng “không", phù hợp thầy đập phá, chẻ đốt hình tượng. _tâm tánh hung hăng, phù hợp thầy miệng hét, tay đấm, chân đá, gậy đập…_tâm tham dục, phù hợp thầy dạy không cần giữ giới.

    Lý luận chẻ đốt hình tượng để phá cái dính chấp vào hình tượng!  khổ thay, hình tượng Phật có lổi gì?... cái dính chấp là do tư tưởng mê lầm, mê tín cần phải dứt bỏ, người không nhận ra, thô tháo đập phá, chẻ đốt, bao nhiêu người truyền tụng, cổ võ… thật đáng tiếc.
Lại nữa, “giới” và “từ bi” là 2 từ, nhưng chỉ cùng một việc, trong 2 giai đoạn của trạng thái tâm mê hay tỉnh, Như Lai nhận biết Sự Sống đồng nhất, trí tuệ từ bi không làm tổn hại vạn vật, để Sự Sống Thực Tại an vui là Từ Bi.  Ngài dạy những người chưa nhận ra Sự Sống Đồng Nhất không tổn hại vạn vật để không hối hận, được an định, tỉnh sáng là Giới.  Thử hỏi:  Nói người đạt đạo không có giới cần giữ, hay không cần giữ giới, không cần thực hành theo pháp Như Lai có chổ nào lợi ích cho chúng sinh? 

    Thiết nghĩ, thay vì nghe lời kêu gọi nuôi lớn và kích động bản ngã, người học Đạo cần tỉnh tâm nhận rõ “Nhân-Duyên-Quả” là chánh pháp.  Mong những người Phật tử tôn kính những vị thầy, tổ của mình là rất tốt, nhưng nếu nghĩ rằng mình theo Phật Pháp, thì cũng “không nên quên” tỉnh tâm, đối chiếu, tư duy cẩn thận để thấy rõ, đâu là Giáo Pháp chính thống của Như Lai, đâu là những copy, phóng tác, tưởng luận mơ hồ, không phù hợp “nhân-duyên-quả”, xa rời thực tế, mang nặng bản ngã mê lầm, tưởng tượng thần thoại, siêu hình, mê tín, cầu xin, đã khéo léo “gài kèm” làm lệch hướng giáo pháp Như Lai.

    Những lời sau cùng Như Lai dạy: “Ta  không chỉ định ai thay ta để dẫn dắt các con…  Giáo Pháp của ta suốt 45 năm không có một lời nào mang ẩn ý, không có một điều gì bí mật…  Các con hãy lấy giới luậtgiáo pháp làm thầy, các con hãy tự thấp đuốc mà đi, hãy đi trong chánh Pháp”.

-H - Phật thuyết:“ Nhân duyên sở sinh pháp, ta thuyết tức thị không”, đây là định nghĩa tiền đề của Phật, chấp nhận điều nầy mới hiểu nổi kinh bát nhã.  5 uẩn do duyên hợp, nên thật tướng nó là không, thấy thân tâm không có, liền hết đau khổ rõ ràngVạn pháp trong pháp giới do duyên sinh nên tất cả là rổng không.  Người có trí tuệ bát nhã, thấy tất cả pháp đều không, 4 đế, 12 nhân duyên cũng không ngọai lệ.  Tôi thấy rất an ổn mỗi khi đọc bài kinh bát nhã
    
-Đ - “Nhân duyên sở sinh pháp, ta thuyết tức thị không”, là tưởng luận, của người hậu học khoảng 600 - 700 năm sau…  Cho rằng thấy tất cả pháp đều “rổng không”, “Bổn lai vô nhứt vật” là cứu cánh?.., Người sống trong mê tưởng sẽ riêng thấy những cảnh giới, những cãm giác, tâm trạng giống như mơ tưởng, Điều nầy là tưởng tượng, không thực tế,

      Theo lịch sữ, ngài Sidhartha đã đạt tuyệt đỉnh: ”dứt tư tưởng”, “ “ Dứt thọ cãm”, “không vô biên”, “Thức vô biên” v.v.  Ngài đã thấy “không vô biên xứ”, thấy tất cả pháp giới đều “rổng Không”, không còn dính vào bất cứ điều gì trong vũ tru nầy… đến “Thức vô biên xứ” thấy biết thông suốt 10 phương… nhưng vẩn không dứt được khổ não. Điều nầy đơn giản vì cái “mê tưởng tôi” đã thấy đươc cảnh giới mà nó mơ tưởng( cảnh giới nầy không có trong thực tế), Cái “TÔI” bây giờ “Phìn Đại”, Ngài phải “tinh cần” “tỉnh thức” ‘chánh niệm” suốt 49 ngày dưới cội Bồ đề, nhận thức ”Nhân-Duyên-Quả”, 4 lẽ thật “khổ-tập-diệt-đạo”, 4 niệm xứ “thân-thọ-tâm-pháp” rũ sạch “mê tưởng tôi”, không còn sanh lại cái “mê tưởng tôi” gọi là dứt luân hồi sinh tử, ngay đó Thực Tại Hiện Tiền, Sự Sống Thiên Nhiên đồng nhất, nhân chi, là vậy, duyên đâu là đó, bổn lai đủ cảnh giới thanh an, tự tại, là nhập pháp giới, là đạt cứu cánh, là thành Đạo.

      Như đã nói, bài bát nhã là copy và phóng tác từ bài kinh: - 4 Niệm xứ, là pháp thực hành để dứt “mê tưởng tôi” là nguyên nhân của khổ đau.  Như Lai dạy:  Nhận thức Thân, cảm thọ, tâm(tưởng, hành, thức) và vạn pháp, tất cả là “thật có” đang diển biến vô thường, vô ngã, nếu dính chấp là phiền não, càng dính chấp càng khổ đau. Kiên trì thực nghiệm, kinh qua những khổ đau do dính chấp nơi 4 xứ Thân, thọ, tâm, pháp, như thế, sẽ nhàm chán “thân” “cảm thọ” và “tâm dính chấp”, mới có thể dứt được “mê tưởng tôi”, là nguyên nhân chính của khổ đau.  Đây là bài pháp cốt lỏi, thực tế, minh bạch, đơn giản Như Lai đã 2 lần nhấn mạnh khi mở đầu và kết thúc bài kinh: "…Con đường duy nhất đưa đến thanh tịnh, vượt sầu não, diệt khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn,là 4 niệm xứ".  

      Bài bát nhã đã phóng tác kinh 4 Niệm xứ, theo tưởng luận “Tướng Không”, nhận thức vạn pháp do duyên sinh, kết luận: 5 uẩn: “thân-thọ-tưởng-hành-thức” là “không”, cho thật tướng vạn pháp là “rổng không”, “bổn lai vô nhứt vật”, không có nhân-duyên, không có “khổ-tập-diệt-đạo”, lý luận: “Đây là lý rốt ráo, là cảnh giới của người đạt Đạo”, là “Trí tuệ Bát Nhã” là biết tướng Không, tánh Không, Chân không, hằng hửu bất sanh, bất diệt, bất biến, vạn vật là Rổng Không để phá cái chấp “có” của Tiểu thừa...

      Thế Tôn, chúng sinh, vạn vật, đồng là những phần tử của Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất đang hiện bày, diễn biến theo nhân duyên.  Người đạt Đạo tuy không còn Khổ-Tập, không còn dụng công Diệt-Đạo, nhưng trước sau vẫn là Sự Sống Thiên Nhiên, nên Thế Tôn tự xưng là "Như Lai". Khi chưa đạt Đạo, phải kinh qua “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, dứt “mê tưởng tôi”, khi đã đạt Đạo, vẩn là Sự Sống Thiên Nhiên, vũ trụ, vạn vật vẩn đang vận hành theo nhân duyên. Vì lợi ích chúng sinh, nên bài pháp đầu tiên của Như Lai là: ‘Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, và 12 Nhân Duyên.

      Bác bỏ Khổ-Tập-Diệt-Đạo, bác bỏ 12 Nhân Duyên hoàn toàn không có  lợi ích cho chúng sinh, hơn nữa, những bước trong Đạo Đế, tuy là pháp hành của người tu, nhưng tất cả đều làm lợi ích người vật, là cung dưỡng Như Lai, là thỉnh Phật trụ thế, làm sáng tỏ Sự Sống Thiên Nhiên, nên sau khi đạt Đạo, tất cả chư Phật đều nói bài pháp đầu tiên là: “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, 12 Nhân Duyên.  Từ cố cổ, xưa nay không có một vi Phật nào bác bỏ bài pháp lợi ích nầy.

      Kinh Pháp Hoa, do Tổ, Luận sư Vasubandhu viết, trong phẩm “Hoá thành dụ”, cũng xác nhận: “Ngài Đại Thông Trí Thắng tu vô lượng kiếp, sau khi thành Đạo đã chuyển Pháp luân, bài pháp đầu tiên là: “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” và 12 nhân duyênKinh Hoa nghiêm do Tổ, luận sư Nagarjuna viết, phẩm “Tứ thánh đế”, cũng xác nhận trong cõi Ta bà và 10 phương tận hư không vô biên, có vô lượng pháp giới, mỗi pháp giới có 10 phương cõi… mỗi mỗi đều có Pháp 4 thánh đế “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” và mỗi thánh đế đều có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, tuỳ tâm ý của chúng sanh khiến họ được điều phục?... Phẩm 10 hạnh nguyện Phổ Hiện cũng mang ý nghỉa trên:“… Nhưng hư không, chúng sanh, nghiệp chúng sanh, phiền não chúng sanh không cùng tận, nên nguyện của tôi cũng không cùng tận”. 

      Phật dạy Diệt đế, dứt “Mê tưởng tôi” là dứt khổ, đây là “Lý”, nếu bác bỏ pháp hành, chỉ chấp lý Diệt Đế, tưởng cho 5 uẩn là “không” là đạt đạo, tưởng ra “tánh không” “tướng không”, cho rằng thấy vạn vật “rổng không”, “bổn lai vô nhứt vật” là cứu cánh, bác bỏ Thực Tại, bác bỏ “Nhân Duyên”, bác bỏ “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, mà Đạo là pháp hành !!!...Điều nầy hoàn toàn không có lợi cho chúng sinh, không phù hợp với giáo pháp của Như Lai, thử nghĩ bài bát nhã được viết ra vì lợi ích cho đối tượng nào?

      Cái “trí Bát nhã” thấy biết “Không vô biên”, “Thức vô biên” nầy Đức Phật đả trải quađạt đến tột đỉnh trong 6 năm khổ hạnh, nhưng phải ngồi nhận thức 12 Nhân Duyên, 4 Lẽ thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” ứng dụng 4 Niệm xứ suốt 49 ngày, và chỉ hoàn thành ý nguyện, đạt Đạo sau khi tỉnh nhận:

(1)- Luật công bằng thiên nhiên: “Nhân-Duyên-Quả’ 3 thời, biết được quá khứ vị lai, biết được những tiền kiếp của Ngài.

(2)- Rõ nguyên nhân của phiền não, là do tư tưởng mê lầm, tự
đồng hoá với thân và cảm xúc, tự phân biệt với Thiên Nhiên Đồng Nhất, Thực Tại hiện tiền.  Cái “mê tưởng tôi” lại dính chấp, tham sân, gây nhân, tạo nghiệp, rồi theo nghiệp dẩn, nhận luân hồi sinh tử, khổ dau.

(3)- Rõ phương cách dứt nguyên nhân phiền não, khổ đau, luân hồi sinh tử  là 4 Lẽ Thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” bỏ dính chấp, rũ sạch “mê tưởng tôi”, không còn sanh lại cái “mê tưởng tôi” là giải thoátthành đạo.  Thật ra chẳng có gì thành, trước sau, chỉ là “mê lầm” nhận “tư tưởng”, “thân”, và “cãm thọ”, tưởng là “tôi” riêng lẽ, hay “Tỉnh nhận” “tư tưởng”, “thân”, và “cãm thọ” chỉ là: những yếu tố, thành phần, là  hiện tượng của Sự Sống Đồng Nhất. 

-H - Trong Kinh Nikaya cũng có nói về chư thiên, quỷ thần, như vậy có phải là thần thoại, mơ hồ, mê tín không?

-Đ - Như người nuôi dê bán sữa, muốn có lợi, đã pha thêm nước.  Qua những giai đoạn sĩ, lẽ, đến tay người tiêu thụ thì nước nhiều hơn sữa, mà người tiêu thụ vô tư không biết, nên cần suy xét cẩn thận.  Bộ Nikaya là bộ kinh đầu tiên của Phật giáo, đây là bộ kinh đáng tin nhất, tuy nhiên bộ kinh được hình thành sau đức Phật hơn 500 năm, nên xác xuất không là 100%. 

      Lịch sữ ghi nhận, sau khi Như Lai nhập pháp giới, Những đệ tử từng sát cánh bên Ngài, họp đaị hội kết tập những gì Như Lai chỉ dạy, thảo luận cẩn thận, không để sai sót từng lời, do nhân gì, Như Lai dạy ai, điều gì, ở đâu, lúc nào, đựợc chứng minh bởi toàn thể tăng đoàn, những ghi nhận có thể là gần chính xác, tiếc thay, lần kết tập nầy không được ghi thành văn bản.  Đại hội kết tập lần 2 khoảng 100 năm sau, và lần 3 khoảng 200 năm sau, những luận sư Balamon nhiều thế lực, đã gia nhập, nên trong kinh Nikaya có những chuyện thần thoại hiển linh, cõi trời, chư thiên, ma quỉ, chuyện tiền thân Đức Phât và nhiều tưởng luận mơ hồ, xa rời thực tế, không đúng “Nhân- Duyên-Quả”, điều nầy đưa đến bất hòa và phân phái trong tăng đoàn.  Hơn 500 năm sau đại hội kết tập lần 4 cũng diển ra như thế, bộ Nikaya đả ra đời vào thời nầy. 

      Qua Tibet, China, qua 2600 năm, đạo Phật được tô vẽ và phủ lên lớp hào quang sáng chói vô cùng kiên cố… Người Phật tử được hướng dẫn xa rời lời day chân thực của Như Lai, bị xem là Tiểu thừa, tiêu nha bại chủng, là thấp kém, được hướng dẩn vào Đại thừa cao siêu, linh ứng, được bảo vệ bởi hào quang chư Phật, Bồ Tát, những bài thần chú và được Phật, Bồ tát rước về một cảnh giới…như ý.

      Sự Sống Thiên Nhiên có đủ cảnh giới, mỗi cảnh giớichức năng riêng, hình thành do những tầng số nghiệp khác nhau, tầng số nghiệp cảnh giới nầy không thể hiện hữu ở cảnh giới khác, giáo pháp Như Lai không phủ nhận cảnh giới siêu hình, nhưng không dạy cầu xin siêu hình xa rời thực tế, không lợi ích gì cho mục tiêu, dứt khổ.  Mục tiêu của giáo pháp Như Lai là: dứt bỏ nguyên nhân của đau khổ, dứt dính chấp và rũ sạch “mê tưởng tôi”, Tự tạo tầng số nghiệp lành, để Sự Sông Thực Tại an  vui.

      Người học đạo cần nhận thức 3 tiêu chuẩn, 3 pháp ấn và 5 đặc tính của Giáo Pháp Như Lai để không lạc vào rừng “thần thoại” “mơ hồ” “mê tín”.  Phật dạy ”Tinh cần”, “Tỉnh thức” và “Chánh niệm” là 3 nhân tố quyết định để ứng dụng thực hành giáo pháp Như Lai.  Mổi người phải TỰ dứt mê tưởng, để dứt khổ, Phật không thể bẻ cong nhân quả, không thể dứt “mê tưởng” của người khác, không thể ban phúc, giáng họa, tráo đổi nhân duyên của người khác

    Xưa nay có những luận sư, biện luận lưu loát, có lời nói, cử chi thô tháo, tưởng luận thần thoại, xa rời thực tế, nhưng cũng nói là Phật dạy, cũng viết là Phật thuyết.  Đây là chỗ quá đà, nên Ngài Bodhi dharma dạy: “Bất lập văn tự”, không cho tiếp tục truyền y bát, và mang đi một chiếc dép?  Phải chăng đây là chiếc dép “Đạo”, là Pháp 4 lẽ thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, đã bị phủ nhận! hay " Sự Sống Thực Tại Hiện Tiền", đã bị xem là đáng kinh sợ”, là ma…?!  Những ý niệm, hình ảnh ma hay Phật là biểu hiện của tư tưởng theo duyên nhân quả, chỉ cần tự tri, không dính chấp, thì không phải sợ hãi, la hét, thô tháo...

Pháp Như Lai thực tế
Nhân quả “nhỏ” vậy thôi
Tỉnh thức trong thực tại
Dứt bỏ mê tưởng “tôi”
Tâm cầu kỳ lý luận
Phóng tác “Lớn” “Đông” “Tây”
Tưởng luận ngày thêm rối
Ngã cầm mối giựt dây…
    
H - Chư tổ dạy vô lượng chúng sinh, căn tánh không đồng, nên có vô lượng Pháp đưa đến giải thoát, điều nầy là thực tế, suốt 45 năm Phật nói nhiêu bài pháp sao nói chỉ có một pháp duy nhất ? có hợp lý không?
    
-Đ - Đây không phải là cái nghi của một cá nhân mà là vấn đề lớn của Phật giáo, không phải chỉ một nghi nầy mà còn nhiều nghi khác, đã có từ vài trăm năm sau khi Đức Phật “nhập pháp giới”.  Nhiều Tổ, Luận sư đã thấy khác với Đức Phật, hay thấy Pháp của Đức Phật không đúng, nên sửa sai giáo Pháp của Như Lai :

(1)- Phật dạy 3 pháp ấn “Vô thường - Khổ - Vô ngã”.  Các Tổ, Luận Sư thấy khác với Đức Phật, nên sửa là “vô thường -Rổng không  - vô ngã” hay “Vô thường - Vô ngã – Niết bàn”  hay thêm một pháp ấn nữa thành 4 pháp ấn: “-Vô thường-Khổ-Không-Vô ngã”.

(2)- Phật dạy: các con phải tự lực, ta chỉ là một người chỉ đường.  Tổ, luận sư dạy: Phật, Bồ Tát Mười Phươngthần thông, biến hóa, có thể phóng hào quang xuyên hành tinh cứu độ chúng sinh tai qua nạn khỏi. Chúng sinh cần nương thần lực Phật Bồ Tát sẻ được rước về cảnh giới như ý..
.
(3)- Phật dạy: “Ta không chỉ định ai thay ta. Giáo Pháp của ta suốt 45 năm không có một lời nào mang ẩn ý, không có một điều gì bí mật…Các con hãy lấy giới luậtgiáo pháp làm thầy, hãy tự thấp đuốc mà đi, hãy đi trong chánh Pháp”.  Các Tổ, luận sư nói Phật có nói thần chúmật chú, Phật có truyền Y Bát và chức vụ tổ cho ông Ca diếp làm Tổ thứ Nhất, thay Phật để dẩn dắt Tăng đoàn và chức vị Tổ được lưu truyền qua China.

(4)- Phật dạy 4 Lẽ thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” hiển bày “Nhân Duyên Qủa” định luật công bằng  thiên nhiên, 4 xứ là phương cách để dứt ngã dứt khổ trong cuộc sống.  Tổ, luận sư dạy chỉ cần thấy “Tánh không”, “Tướng không”, tất cả pháp “rổng không” “bổn lai vô nhất vật” là cứu cánh, không có “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, không có “Nhân-Duyên-Quả”. 

5)- Phật dạy tất cả pháp Vô thường, vô ngã không có chủ thể.  Tổ, Luận Sư dạy Trí bát nhã, Chơn không, Phật Tánh  là “cái biết” Chơn thường, là “Pháp thân Phật”, bất sanh, bất diệt, bất biến, là pháp thường hằng.(chủ thể)

(6)- Phật dạy: cội gốc khổ luân hồi sinh tử là “Mê tưởng tôi”, Tổ, Luận Sư dạy cội gốc khổ luân hồi sinh tử là 6 căn.

(7)- Phật dạy: Đạo 37 pháp có 4 Xứ là pháp dứt “mê tưởng tôi”, đưa đến giải thoát.  Các Tổ, Luận Sư dạy không phải chỉ có một pháp, mà có 84000 Pháp đều đưa đến giải thoát.  Ngay nơi 84000  pháp đều thấy “Rổng không”, “Bổn lai vô nhứt vật” “Đối cảnh vô tâm”, không dính chấp là giải thoát.

      Ngoài ra các Tổ, Luận Sư còn sửa sai, phóng tác lời dạy của Như lai và viết nhiều luận giải thần thoại, siêu hình làm thành những bộ “kinh đại thừa”.  Điều quan trọng là chư Tổ, Luận Sư không nhận trách nhiệm về những phóng tác, tưởng luận thần thoại của mình, mà viết là Phật thuyết!? làm cho Phật Pháp có nhiều mâu thuẩn, mơ hồ, mê tín, làm cho người hậu học không còn biết đến lời dạy chân thực, và giáo pháp thực tế, minh bạch, đơn giản, tự lực, phổ thông của Như Lai.

      Trong kinh 4 Lẽ Thật, Đức Phật dạy nguyên nhân cốt lỏi của phiền  não là “mê tưởng tôi”, con người xưa nay tự đồng hóa với “mê tưởng tôi”  nên trầm luân trong bể khổ, cũng ví như ở trong con tàu lặn dưới lòng đại dương.  Con tàu dù tối tân, hiện đại, lặn 84000 hướng cũng không thể đến đỉnh núi được.  Muốn đến đỉnh núi “giải thóat”, chỉ có một cách duy nhất thực tế là phải rời bỏ tàu lặn dưới lòng đại dương, là dứt “mê tưởng tôi”, đây là khẳng định, là “Pháp Ấn” của Như Lai.

      Suốt 45 năm Đức Phật không phân biệt chũng tộc, giới tính, giai  cấp, hướng dẩn từ vua, chúa, nhẩn đến hạng Cùn đinh gánh phân, Ngài đã từ bi, tuỳ duyên giảng dạy, rất nhiều bài pháp, dù nói với ai, ở đâu, lúc nào, chung qui chỉ cùng một nội dung là xác định thực tế “Nhân-Duyên-Quả” đang diển biến, nói rõ nguyên nhân của khổ đau là dính chấp “mê tưởng tôi”, và muốn dứt khổ đau chỉ có phương cách duy nhất là dứt bỏ “mê tưởng tôi” mà thôi.

      @  Kinh Culasunnatasuttam (China dịch: Tiểu không), Như Lai dạy:  Tư tưởng chỉ làm một việc, khi chú ý, nhận thức về điều nầy, thì những điều khác như không có, khi chú ý đến điều khác thì điều nầy cũng như không có, như vậy “cái nầy có, cái kia có”.  Từ hiện tướng đến tư tưởng đang diển biến,  tất cả là “thật có”, sự thật hiện thanh tịnh, không tự tánh(vô thường, không tự chủ).

      Nhận thức thân tâm, cảm thọ, tư tưởng khi tiếp xúc đối tượng, qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, từng động tỉnh, nhận thức rõ khởi đầu và kết thúc của Thân, cãm xúc, tư tưởng(Sắc-Thọ-Tưởng-Hành-Thức) ghi nhậnvô thường, vô ngã, càng dính chấp càng khổ, sinh nhàm chán sắc thân, sợ dính chấp, như thế mới dứt được tham, sân, si. Như Lai xác nhận người tu trong quá khứ, hiện tại, vị lai,nhận thức tất cả pháp là “thực có”, sự thật hiện bày không tự tánh, ly dục, ly ác pháp, không tác ý điên đảo.  Khi chứng đạt an trú thanh tịnh không tự tánh nầy.(không tự chủ ẽ, không mê tưởng tôi)  

      @ Kinh Mahasunnatasuttam(China dịch: Đại không)Như Lai dạy: Ghi nhận tất cả pháp là “thực có", đang tùy duyên diễn biến vô thường, không tự tánh(không tự chủ, vô ngã), dính chấp vô thường là khổ.  Khi đi, đứng, ngồi, nằm, khi nghĩ, suy, nói năng, tỉnh thức ghi nhận tư tưởng không dính chấp, ly dục, ly ác pháp, không để tham sân nhen nhúm.

    Nhận thức thân tâm khi tiếp xúc với đối tượng, qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, từng động tỉnh, nhận thức rõ khởi đầu và kết thúc của Sắc-Thọ-Tưởng-Hành-Thức, tỉnh thức ghi nhận tư tưởng đã ham muốn, dính chấp, ái nhiễm thế nào? nhận thức nếu dính chấp, tác ý, là khổ.  Xả ly những tư tưởng nhiễm nhơ(dính chấp, tham ái), sống thân thương, không đố kỵ, không thù nghịch, không tác ý ô nhiễm làm an vui Sự Sống Thực Tại.

      @  Kinh Pháp cú:

Những gì duyên sinhvô thường
Vạn vật vô thườngvô ngã
Dính chấp vô thườngđau khổ
Kinh qua khổ đau sinh nhàm chán
Dứt ngã chấp, dính nhiễm tác ý
Thiên Nhiên vốn thuần tịnh an vui

      Ứng dụng 12 Nhân duyên, 4 Lẽ Thật “Khổ-Tập-Diệt-Đạo” ghi nhận 5 uẫn vô thường vô ngã, kinh qua dính chấp là khổ, càng dính càng khổ, để sợ dính chấp, nhàm chán thân tâm, mới có thể dứt “mê tưởng tôi”, là mục tiêu của “Đạo Đế”.  Dứt “mê tưởng tôi” thì vạn vật, đang là thực có, là Sự Sống Thiên Nhiên đang diển biến sống động theo nhân duyên. 8 chánh đạo là 8 Nhân Duyên lành để Sự Sống an vui… ".

-H - Người niệm Adiđà khi vãng sanh về Tây phương,người theo Đại thừa vãng sanh được Pháp thân thanh tịnh bất sanh, bất diệt. Pháp Sự Sống Thiên nhiên Phật nói với ai, lúc nào? vãng sanh về đâu?
    
-Đ – Phật dạy:” Tâm dẩn đầu các pháp” Tâm bố thí rộng rải, phù hợp cảnh giàu sang. Tâm bỏn xẻn phù hợp cảnh nghèo hèn, thân cây nghiêng về đâu, khi chết sẽ ngả về đó… -Người mang tâm tham cầu, sợ hãi, mê tín, -Người mang tâm tưởng tượng thần thoại, sống mơ màn trong ảo tưởng, Những người nầy, khi vãng sanh làm sao khác những cảnh giới sợ hãi, tham cầu, mê tín, ảo tưởng thần thoại nầy? lại nữa cái gi muốn đi vãng sanh?, muốn đạt Chân Không, bất sanh, bất diệt Pháp thân hằng hữu, bất biến?.

      Đức Phật không có nói về pháp Sự Sống Thiên Nhiên, Ngài dạy 4 Lẽ thật: Khổ-Tập-Diệt-Đạo, trong Đạo 37 pháp có 4 Niệm Xứ là pháp tuyệt vời  để dứt “mê tưởng tôi”.  Nhận thức do tư tưởng dính chấp đưa đến khổ đau. Khi dứt được “mê tưởng tôi”, ngay đó chỉ có “Đất-Nước-Lửa-Gió” đang vận hành theo “Nhân-Duyên-Quả” là Sự sống Thực Tại đang diễn biến sống động,  là sáng tạo Thiên Nhiên tuyệt vời không chủ thể.  Ứng dụng 4 niệm xứ, buông dính chấp, không phản ứng, tùy duyên, thuận pháp, dứt mê lầm ngã chấp, ngay đó không có cái gì” tham sân, sợ hãi, không có “cái gì” tìm vãng sanh về đâu cả?

H – Tất cả lời dạy của Đức Phật đều được truyền tụng và do người sau ghi lại làm kinh điển, làm sao, và lấy gì làm căn cứ để đánh giá kinh nào là thật, là đúng và xác định lời nào là lời chân thực của Như Lai?

Đ – Đây là câu hỏi, một nghi ván sôi động nhất, khó nhất, vì qua 2600 năm, không ai có đủ chứng cứ để chứng minh đâu là chân thực, đâu là hàng nhái.  Để có một nhận thức khả tín, cần phối hợp, dựa vào những yếu tốliên hệ không gianthời gian, đối chiếu những yếu tố với nhau, tư duy cẩn thận, để tìm ra lý giải đáng tin nhất…thích hợp với mục tiêu dứt “mê tưởng tôi”, lợi ích cho chúng sinh và đúng với “Nhân-Duyên-
Quả”.  Không thể xác dịnh là đúng 100%, nhưng có thể nói là lý giải đáng tin nhất.

1- Yếu tố thứ nhất là lịch sử. Dù lịch sử cũng có thể đả bị bóp méo,  nhưng 2 yếu tố không gianthời gian có thể xác định thứ lớp của vấn đề

2- Yếu tố thứ hai là bản kinh đầu tiên do toàn thể tăng đoàn kết tậpchấp nhận.  Đây là bản kinh đáng tin nhất, dù bản kinh hình thành 500 năm sau Đức Phật, xác xuất không phải 100% nhưng vẩn đáng tin hơn bản kinh dược hình thành 700, 900, 1000 năm sau.

3- Yếu tố thứ ba là vì lợi ích chúng sinh, lợi ich cho mục tiêu dứt ”mê tưởng tôi”, đây là yếu tố chủ yếu, quan trong cần được quan tâm nhất.

4- Yếu tố thứ tư là thực tế, nói lên nguyên nhânphương pháp dứt nguyên nhân của khổ đau, không mơ hồ, tưởng tượng, thần thoai.

5- Yếu tố thứ năm Lý “Nhân-Duyên-Quả” rỏ ràng minh bạch.

    Qua đối chiếu, phân tích và tư duy, nhận thức những giáo pháp thực tế, đúng với lý “Nhân-Duyên-Quả” và lợi ích cho chúng sinh, lợi ích cho việc dứt ngã “mê tưởng tôi” được xem là phù hợp với lời dạy chân thực của Như Lai.

    
H – Nói “Nhân- Duyên- Quả”  3 thời có phải là vãng sanh luân hồi không?  Sự Sống Thiên Nhiên là Đồng Nhất, thực tế, như vậy có luân hồi không?

-Đ – Luân hồihiện tượng diển biến theo Nhân Duyên Quả 3 thời là định luật công bằng thiên nhiên.  Do đủ duyên “Đất-Nước-Lửa-Gió” tụ-tán thành vạn vật, vũ trụThực Tại Hiện Tiền, là Sự Sống Thiên Nhiên, tùy duyên có thấy, nghe, biết, có tư tưởng linh hoạt để lợi ích cho Sự Sống, nhưng tư tưởng mê lầm, tự đồng hoá với thân và cãm xúc, cho là “tôi” riêng lẽ, tự phân biệt, ích kỷ, tham sân, đố kỵ, gây nhân tạo nghiệp. Khi hết duyên, thân tan rả, chính cái “mê tưởng tôi” nầy được gọi là “linh hồn, “thần thức”, “giác linh”, thân trung ấm theo tầng số nghiệp, nhận một thân mới đúng theo nhân duyên đả gây tạo, là vảng sanh, luân hồi.

      Tỉnh thức trong từng hơi thở, từng cử chỉ động tỉnh, ghi nhận từng diển biến của cảm thọ, từng khởi động và vận hành của tư tưởng… để thấy rỏ vô thường, nhận thức rỏ mổi khi dính chấp, liền có lo, sợ, tỉnh thức không khởi tham sân, dứt “mê tưởng tôi” ngay đó, tất cả chỉ là những hiện tượng, sự kiện, là những thành phần của Sự Sống Thiên Nhiên đang hiện bày là tuyệt vời, không có cái gì để dính chấp vô thường, sợ hãi luân hồi.

      Nếu chưa đủ tỉnh thức, phải ứng dụng 4 Lẽ thật, “Khổ-Tập-Diệt-Đạo”, thực hành 4 chánh cần, 4 niệm xứ, ly dục, ly ác pháp, “Tinh cần”, “Chánh niệm qua “Thân-Thọ-Tâm-Pháp”, ghi nhận vạn pháp vô thường vô ngã, tự kinh nghiệm dính chấp vô thường là khổ, từ đó mới có thể dứt dính chấp dứt “mê tưởng tôi”, nhận thức Sự Sống Đồng Nhất, vô thường vô ngã, mới thấy không có cái gì để dính chấp, sợ hãi vô thường luân hồi.  Vui sống phụng sự lợi ích người vật, đây là điểm lợi ích thực tiễn hài hòa Đời và Đạo, là giáo pháp của Như Lai. Bài kệ của Ngài Shen Hsiu nói lên ý nghĩa nầy:

Thân như cây Bồ Đề
Tâm như gương hiện cảnh
Thường tỉnh thức chăm sóc
Không dính nhiễm bụi trần 

      @- Thân như cây bồ đề: - Cây bồ đề chỉ sự giác ngộ rốt ráo: không mê tưởng tự phân biệt thân là “tôi” riêng lẽ.  Nhận thức thân là một phần của Sự Sống Đồng Nhất, đang tùy duyên diễn biến sống động, vô thường.  

      @- Tâm như gương hiện cảnh: - Gương Sáng hiện đủ
cảnh vật, ảnh và gương không phải một, không phải khác, mặt gương là nơi ảnh hiện, và ngay nơi ảnh chính là mặt gương.  Cũng thế, Sự Sống Đồng Nhất là Thực Tại Hiện Tiền, xưa nay vốn tự đầy đủ, vạn vật, vũ trụ, thấy nghe, hay biết tưởng nghỉ. Sự Sống, vạn vật không phải một, không phải khác, như đầu, thân, tứ chi, tất cả tế bào là những phần tử của thân người, như ảnh trong gương, ảnh và gương không phải một cũng không phải khác, vì chạm vào bất cứ ảnh nào cũng là chạm vào mặt gương 

      @- Thường tỉnh thức chăm sóc: - Tỉnh thứcnhận thức Đất-Nước-Lửa-Gió vận hành đúng “Nhân-Duyên-Quả” là Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, không phân biệt, dinh chấp.      - Chăm sóc: làm cho tất cả hình ảnh trong gương tươi sạch, là mặt gương sáng tỏ.  Vạn vật là những phần tử của Sự Sống Đồng Nhất, tùy thuận phục vụ, người vật, là Sự Sống Thực Tại an vui…

      @- Không dính nhiễm bụi trần - Cảm nhận Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, tự đủ Bi Trí, không dính nhiễm hiện tướng, cũng không sợ hãi chối bỏ Thực Tại, tỉnh thức, chánh niệm ghi nhận thật tướng vạn phápvô thường, vô ngã, không lầm nhân quả, không tác ý tham sân là Chân Tịnh.
      
Bồ đềTỉnh thức
Gương sáng đầy bóng hình
Xưa nay đủ cảnh giới
Tự như chẳng nhiểm, rời

      Một vị thầy nước Việt, đã để lại 2 câu kệ, chỉ rõ Sự Sống Đồng Nhất:

Trúc biếc, hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng thanh, mây bạc hiện toàn chân.

      Thực hành lời dạy của Như Lai: Tinh Cần, Tỉnh Thức, Chánh Niệm(ghi nhận) Sự Sống Thiên Nhiên qua:“thân-thọ-tâm-pháp”, nhận biết từng hơi thở, từng cảm thọ, từng khởi động của tư tưởng, từng biến chuyển nhỏ nhiệm của thân tâm vật cảnh, không nhầm lẫn, tất cả hiện tướng là sự vận hành của “Đất-Nước-Lửa-Gió”, theo nhân duyên tụ tán, sinh diệt diển biến vô thường, không có gì là tôi riêng lẽ.  Dứt bỏ những điều xấu ác, tác ý trong sạch, tỉnh thức dứt  “mê tưởng tôi”, nhận thức thân tâm là một phần tử của Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, tự tại thanh an, là nhập pháp giới, là cung dưỡng Như Lai, là thỉnh phật trụ thế.

      Pháp Như Lai:  thực tế, minh bạch, đơn giản, tự lực, và phổ thông, không có gì bí ẩn, chớ mê tín cầu xin siêu hình, chớ tưởng luận thần thoại, mơ hồ. Mười phương hồi hướng Như Lai Thế Tôn trí tuệ từ bi, nguyện cho tất cã chúng sinh tỉnh tâm sáng suốt dứt mê lầm, được thanh tịnh an vui.

      Mười phương hồi hướng Như Lai, nguyện đời đời gieo nhân lành, đời đời thông hiểu chánh Pháp, làm sáng tỏ Sự Sống Thiên Nhiên Đồng Nhất, làm sáng tỏ lời dạy chân thực của Như lai.

        PHÁP NHƯ LAI

NHƯ là giống, không sai, không khác
LAI là đến, là hiện bày ra
Là Sự Sống, Thiên Nhiên đang là
vạn vật, hiện tiền diển biến
Mê tưởng ‘tôi’ tự phân điên đảo
Thiên Nhiên thành xa lạ
Sự Sống thành khổ đau
Dứt tưởng ‘tôi’, Pháp Như Lai thực tiễn
Đơn giản, Rõ ràng, Tự lực, Phổ thông
Sống Tỉnh Thức, Tinh Cần, Chánh Niệm
*Tinh Cần là niệm niệm chú tâm
Từng giây phút không lơ là gián đoạn
*Tỉnh thức là thấy biết không mê loạn
Thân, Thọ, Tâm, Pháp diễn biến từng satna
*Chánh là đúng: ba thời “Nhân-Duyên-Quả”
Niệm là ghi nhận thực tại đang là
Pháp vận hành không chủ thể, ngã nhân
Nhập pháp giới, Như Lai trụ thế

Tạo bài viết
19/04/2014(Xem: 12276)
Kim Sơn Bảo Thắng Tự tọa lạc gần đỉnh Fansipan, được xây dựng từ cuối năm 2015 và chính thức hoàn thiện, khánh thành sau hai năm triển khai thi công (tháng 1/2018). Từ Kim Sơn Bảo Thắng Tự đi dọc theo con đường La Hán xuống là Đại tượng Phật A Di Đà cao 21,5m, được đúc bằng đồng theo kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay. Đây là bức tượng Phật bằng đồng cao nhất Việt Nam tới thời điểm này.
Sáng ngày 7/10/2018, Thượng toạ Thích Chân Tính trụ trì Chùa Hoằng Pháp - Việt Nam cùng chư Tôn đức Tăng – Ni tại Hoa Kỳ đã long trọng tổ chức Lễ Đặt đá Xây dựng Chùa Hoằng Pháp tại Tp. Sacramento, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Đến chứng minh và tham dự có đức Trưởng lão Hoà thượng Thích Thắng Hoan, Trưởng lão HT. Thích Tuệ Minh, HT. Thích Thông Hải, HT. Thích Đồng Trí, cùng chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử tại Hoa Kỳ và Việt Nam.
Cuối tuần qua, đông đảo Phật tử đến từ hơn 50 trung tâm tu học, cơ sở tự viện khác nhau đã thực hiện cuộc tuần hành tại San Francisco cùng với hàng ngàn người khác kêu gọi quan tâm đến hiện tượng biến đổi khí hậu.