Chương 4

28/02/20192:02 CH(Xem: 249)
Chương 4

TRÊN MÀN HÌNH CHÂN NHƯ
DIỄN CUỘC LUÂN HỒI
Nhụy Nguyên

 

CHƯƠNG IV

 

Cái huyễn giả đã chiếm hữu hoàn toàn thân tâm, biến ta thành tù nhân của lâu đài ảo ảnh hơn cả một lô cốt kiên cố. Cái sự chấp trướcphân biệt tâm bệnh nặng nhất của phàm nhân, và còn tùy vào từng người khiến Phật-Bồ tát rất khó tiếp cận kê đơn bốc thuốc. Chúng ta chưa thật thấy cung kính Phật như một ân nhân vừa cứu mạng mình cũng như cứu mạng hết thảy người thân của mình, sao mong nhìn cho ra chân tánh, bởi trong chân tánh chẳng những đương nhiên có cung kính Phật, mà còn là cung kính hết thảy chúng sanh. Một khi cái biết tri thức phủ lên cái không biết diệu dụng, ta luôn cho khuôn nghiệp của mình đúng do vậy nghi ngờ cả hạnh Bồ tát trong nhân gian luôn dạy chúng ta trở về với những điều tầm thường nhất, từ đó mà quán chiếu bởi lý viên dung nằm sẵn trong ấy.

Thức vốn sáng suốt tự nhận biết qua sáu căn, bởi bản chất của nó chỉ một; nhưng lúc thức chân nhận biết cảnh trần rồi, chúng ta liền khởi bệnh chấp trước, thế nên nó biến thành thức vọng như là tên lính gác khó tính của các căn khiến vạn pháp không như nhiên hòa vào chân tâm được. Tôi tự khuôn mình lại trong nghiệp quả tiền kiếp, bao biện cho cái sở tri hẹp hòi ích kỷ đầy phân biệt chấp trước để vu oan cho vạn pháp. Cái tâm hư dối của tôi buộc trần cảnh phải lọt vào khuôn thước nhỏ nhoi của nghiệp, nào hay mọi sự vật đều giả hiện, sự giả hiện có lý do và chúng có giấy phép tồn tại bình đẳng tuyệt đối từ pháp giới.

Khi chúng ta ly tâm ý thức, ly óc phán đoán và óc suy nghĩ, ta an trú trong cái không biết chính là lúc ta hình dung về một tấm gương soi chiếu cái biết. Có một chân tâm luôn đứng đó nhìn cái vọng trong tôi. Chân tâm luôn đứng đó nhìn và chỉ nhìn, một sự quan sát đơn thuần nhưng sâu sắc cùng tột. Nhưng tôi không ly được cái đã nhận nhầm từ vô thủy, vẫn chấp vào ảo giáchuyễn giác nên là một hình nộm tự nhận là mình trong lâu đài ảo ảnh. Những ảo tưởngsức mạnh hơn cả gông cùm. Chúng ta không chịu để cơn đau buồn trôi đi mà luôn níu lại vời gọi để gặm nhấm tự hủy diệt mình trong một thực tại miên viễn.

 

 

 

Tôi và bạn sống với quá khứ hiện tạivị lai bởi chúng ta bị đánh bật khỏi những khoảnh khắc thực tại, dẫu cho cái tánh giác luôn hiển hiện ở sáu căn để nhắc thức ta quay về. Lục căn tiếp xúc lục trần liền nhiễm, sau đó tức thì cảnh trần biến thành những cái bóng mà ta không tài nào thò tay chụp bắt được để chỉnh sửa. Song ta vẫn vui buồn hờn giận với cái hư huyễn ấy. Tánh giác là một tự thể chung và nó hiển hiện ở các căn. Bởi nó có ở mắt nên như lời Phật chỉ dạy, tánh thấy luôn luôn thấy bất luận tối hay sáng: “Nếu như cái thấy cùng một thể với cái tối, thì khi sáng, cái thấy phải tiêu mất, nếu cùng một thể với cái sáng, thì khi tối, cái thấy phải diệt rồi, mà đã diệt, thì làm sao còn thấy được sáng, thấy được tối”. Tánh nghe luôn luôn nghe trong từng sát na bất luận ta ngủ hay thức. Thân ta nhờ tánh giác nên biết hết thảy mọi cảm giác không một khắc ngơi nghỉ, chỉ là đến lúc ta ngứa và đau quá nên mới để ý đó thôi. Chính ta có ý, nên lúc để ý mới biết, là cái biết của căn, không phải tánh giác; còn tánh giác thì luôn luôn giác, ngay cả cái huyễn nó cũng “biết tuốt”. Thân tứ đại giả hợp và tâm suy nghĩ mông lung này, tôi đã nhận nhầm! Chẳng biết đến bao giờ tôi có thể ra được thân-tâm-ngũ-ấm? Có lần lôi tài liệu từ drive trong email của mình ra xử lý bỗng nghĩ, dữ liệu này từ lâu cứ ngỡ nó ở trong máy tính. Đúng là tôi lấy dữ liệu từ hộp thư email trong máy tính (của mình); nhưng rõ ràng số dữ liệu này thực tế được lưu trên trời, giữa không trung vô tận, tôi ở dưới bầu trời quê hương hay qua bên tây âu cũng đều lấy được. Bởi nó lưu giữa hư không mà. Đối sánh với tôi để thấy cái thân này huyễn. Tôi và bạn từ lâu vẫn nghĩ những gì tưởng quên, gặp duyên bỗng bật đâu ra nhanh hơn siêu vi tính, cái này đương nhiên vượt khỏi tầm với của trí não. Đương nhiên đa phần dữ liệu tưởng đã quên đi đó thực chất nó lưu trong alaya của tôi. Mà, alaya “của tôi” thật sao? Nếu “của tôi” sao không nằm trong cái thân này. Nó nằm trên trời mà! Dữ liệu muôn kiếp của tôi lưu trong alaya là lưu giữa hư không. Xưa nay tôi vẫn nghĩ cái thân huyễn này là mình, cái tâm vọng này là mình.

Đức Phật chỉ ra tánh thấy của chúng ta sẵn có. Tại tôi chấp cái vật mắt thấy, không biết vạn vật đều huyễn; cái thấy không già không trẻ, không tròn không vuông. Phật phải bảo ông La hầu la đánh chuông để chỉ ra tánh nghe cho ngài A Nan; rằng tánh nghe vẫn đứng đó dẫu âm thanh tiếng chuông tắt, và do vậy tánh nghe nghe được cả nốt lặng. Tiếng chuông cũng như mọi âm thanh có vang lên đều sẽ có ngừng có tắt, song tánh giác thì không tắt. Giữa cái thấy và cái được thấy là một, nghĩa là mọi vật nó đã sẵn đó và chúng như là cái thấy; chứ không phải ta mở mắt mới thấy. Điều này không phải chân lý của “tánh” song quán chiếu sẽ khiến cái ngã nhạt bớt. Dẫu tôi tìm thấy một viên ngọc trong rừng sâu về hiến vào của chung thì đó cũng chẳng phải phát hiện. Viên ngọc đã ở đó và cái thấy đã nhuốm lấy nó từ khởi thủy. Tôi huyễn và cái thấy từ mắt là cái thấy theo nghiệp báo không nhìn đúng sự vật hiện tượng, nên nó không được phép mang theo tự ngã. Tánh thấy có thể lấy thí dụ như tấm gương. Lúc ai vẽ lên một hình sẽ hỏi ta thấy không, ta nói thấy; họ xóa hình đi và theo tập khí nhận căn trần thức là mình ta sẽ nói không thấy; thực ra cái thấy vẫn là gương, còn hình hiện hay xóa không làm mất tánh thấy. Xét về kiến giải càng nghiêm trọng. Bạn tu của tôi từ lúc nhận cái không biết, liền biết mọi cái học được hay sự thâu nhận thuần túy qua các căn đều là kiến thức tạm bợ. Kinh từng răn ngay đến chứng tam quả thánh cũng không được tin vào suy nghĩ của mình. Huống hồ phàm phu tôi dám xưng danh các căn của mình nhìn đúng bản chất trần cảnh.

Phật dạy: “Cái thấy nơi tâm tánh là cái tánh minh của bản giác; cái tánh minh của bản giác biểu lộ ra nơi cái thấy, bản nhiên thanh tịnh cùng khắp pháp giới, theo tâm chúng sanh đáp ứng với lượng hay biết”. Tôi và bạn do mê nên mới thấy ra trong hư không có muôn pháp hữu vi hư vọng, chúng không có tự thể, song chúng ta chấp thật nên mãi hoài chẳng muốn buông. Kinh viết: “Cái thức nơi tâm tánh là cái tác dụng nhận biết của tánh minh bản giác, “bản giác diệu minh yên lặng cùng khắp pháp giới, ẩn hiện thập phương hư không”. Nhận và tập sống với tánh giác, tôi và bạn có cơ hội lìa dần thân tâm huyễn vọng. Thức vốn sáng suốt tự nhận biết qua sáu căn, bởi bản chất của nó chỉ một; nhưng lúc thức chân nhận biết cảnh trần rồi, chúng ta liền khởi bệnh chấp trước, thế nên nó biến thành thức vọng như là tên lính gác khó tính của các căn khiến vạn pháp không như nhiên hòa vào chân tâm được. Tôi tự khuôn mình lại trong nghiệp quả tiền kiếp, bao biện cho cái sở tri hẹp hòi ích kỷ đầy phân biệt chấp trước để vu oan cho vạn pháp vốn/đã bình đẳng với chính nó trước quan tòa nhân quả. Đức Bổn sư dạy niệm niệm hãy vì người, chớ xen một niệm vì mình. Giờ tôi lờ mờ hiểu đó là cách giúp hành giả tự giải tán tự ngã, từ đây tiến thêm bước phá luôn cái rỗng rang.

Cái tâm hư dối của tôi buộc trần cảnh phải lọt vào khuôn thước nhỏ nhoi của nghiệp, nào hay mọi sự vật đều giả hiện, sự giả hiện có lý do và chúng có giấy phép tồn tại bình đẳng tuyệt đối từ pháp giới và dĩ nhiên cái nghiệp của tôi không có quyền chấp trước, không có quyền giành lấy một mẩu nhỏ để yêu ghét giận hờn. Chợt nghĩ tôi có tình thương chăng? Soát lại cuộc sống cũng tự phong mình có tình thương, thực tế thì không. Giả như lúc tôi phải sống với gã A trước nay hay bêu rếu mình, tôi còn tình thương chăng? Rõ ràng không. Vậy tình thương của tôi đâu rồi. Cái gọi tình thương với thân quyến của tôi chính là tình chấp, biến chuyển. Ân sư của tôi dạy chỉ nên dùng một tâm, đó là tâm bao dung, bao dung hết người cùng vật. Họ đổi tâm để sống với con (như tị hiềm ám hại), con kiên quyết không đổi cái tâm bao dung ấy để đối đãi, mà phải khiến cho tâm ấy càng nới rộng. Thân quyến cũng để trên đầu mà gã A kia cũng để trên đầu. Ai cũng đưa lên trên đầu thờ phụng như chính con của Phật vậy. Ấy là con đường mòn chư Thánh đã đi, chúng ta phải lần theo những dấu chân ấy. Ân sư tôi thí dụ Pháp tánh là dòng điện, các thiết bị (dùng bằng điện) là khí cụ; cũng như sáu căn, Pháp tánh vào tai thì thành tánh nghe, qua mắt thành tánh thấy... đều là một thể “đồng viên chủng trí”. Tôi thấm thía và tri ân thí dụ này. Chợt hiểu, với mắt, bên kia gọi “bóng điện” thì bên này gọi “nhãn tánh” (cái tánh thấy, không phải mắt thấy, vì chỉ riêng con mắt chẳng thấy được gì; con mắt là hư dối, nó hư dối thì trần và thức đương nhiên cũng giả nốt); bên kia gọi “quạt điện” thì bên này là “thân tánh” (cái tự biết mát nóng, đau ngứa). Nếu là mắt tai, thân, mũi thì sự tiếp xúc với trần luôn gián đoạn, còn tánh thấy ở các căn đó không dừng nghỉ. Cả khi thân chết rất lâu, các căn hoàn toàn chết rồi, nhiều lúc tánh giác cơ bản vẫn còn ở đó. Các vật sử dụng điện sẽ không chạy nếu không có điện; các căn sẽ không hoạt dụng nếu không có thức a đàn na, mà ẩn sau thức đó có cái vĩnh hằng tánh giác. Chúng ta từ lâu vẫn nhầm lẫn giữa hoạt động của trí não và tánh giác. Không biết rằng ít nhiều tánh giác luôn thông dự vào trí não để giúp chúng ta hoàn thành những công việc, điều này rõ nhất ở những nhà sáng tạo, những nhà triết học và nhà tư tưởng. Cũng như thế giới địa cầu này trong thời đạiý niệm xấu ác tràn ngập, nếu không có sự đan cài của ý niệm siêu thiện từ giới tu hànhđặc biệt là sự gia trì của chư Phật-Bồ tát, hẳn tôi không đủ phước để sống qua một đêm! Chúng ta dựng lập cái biết trên cái không biết vĩnh hằng sáng suốt, song cái không biết vẫn thường xen vào những sự mầu nhiệm, để bạn và tôi luôn nằm trong sự ân sủng vô bờ song lại chẳng biết tri ân. Và sự tri ân mới là những tia sáng đầu tiên rọi vào vùng quang minh từ đó mỗi ta thấy tâm mình vô biên trong sự hẹp hòi của nghiệp thức che chắn. Nhiều lúc ở đâu rớt xuống những ý tưởng, ta tưởng “của mình” nên trương phình bản ngã, chấp mình tài giỏi hơn người; vô tình ta vô ơn với tánh giác. Theo đó căn trần thức sẽ được ta xem trọng, vì thế nó che phủ lên tánh giác khiến càng ngày thể trí càng cùn mòn. Bởi không ít nhiều nhận thấy tánh giác hiển lộ qua các căn, nên tôi từ muôn kiếp chấp sâu nặng về cái thân huyễn. Học Phật là học thuận theo giới, rồi thuận theo đạo trời, ngưng mọi suy nghĩ và tạo tác với cái tôi chủ nhân; chỉ có vậy thân ta mới trở thành khí cụ để tánh giác hiển lộ, và nhiều khi cơ may là phương tiện của chư Bồ tát sử dụng trong những thời điểm cần thiết. Người đời tưởng trí não đệ nhất, nên chặn mọi hướng tâm linh và cố đưa vào thật nhiều tri thức; lại không biết nếu trên đà này rốt cục thua cả siêu người máy; còn thua thiệtchết sớm, trong lúc tuổi thọ của siêu người máy có khi tương đương thiên nhân.

Mọi pháp đều vô thường biến chuyển. Thức biến. Tâm vốn hiện nhất chân pháp giới, song nghiệp trong thức của ta lại biến thành lục đạo, chín pháp giới. Ta chấp những khuôn nghiệp của mình và lấy đó làm chuẩn. Cái sự chấp trướcphân biệttâm bệnh nặng nhất của phàm nhân, và còn tùy vào từng người khiến Phật-Bồ tát rất khó tiếp cận kê đơn bốc thuốc. Một khi cái biết tri thức phủ lên cái không biết diệu dụng, ta luôn cho khuôn nghiệp của mình đúng do vậy nghi ngờ cả hạnh Bồ tát trong nhân gian luôn dạy chúng ta trở về với những điều tầm thường nhất, từ đó mà quán chiếu bởi lý viên dung nằm sẵn trong ấy. Cái chết không hề có, bởi cái chết cũng là một pháp biến chuyển. Tướng của mỗi pháp luôn đang biến chứ không hề mất. Và cái thân này của tôi và bạn cũng đang biến, biến đến “cùng cực” thì chúng ta lại chấp chặt vào chữ chết.

Tôi và bạn cũng như mọi chúng sanh, đều chỉ có cái tánh giác dung chứa nghiệp thức từ vô thủytrí tuệ đức năng sẵn đủ. Song do mê tôi chẳng nhận ra, nay lờ mờ hiểu lại vẫn sống với thân huyễn và tâm vọng, nên không thể sử dụng được kho báu tánh giác đồng thể như mọi người, thật đau khổ! Thật đau khổ khi biết mình có kho báu “cha” để lại, lại chưa thể buông chấp thân huyễn tâm vọng dự phần tận hưởng niềm an lạc vô biên của sự phụng hiến.

Cái huyễn giả đã chiếm hữu hoàn toàn thân tâm, biến ta thành tù nhân của lâu đài ảo ảnh hơn cả một lô cốt kiên cố. Hòa thượng Duy Lực từng kể câu chuyện của Trang Tử về con rùa trong giếng và con rùa từ ngoài biển bị té xuống giếng. Con rùa biển nói bên ngoài ấy lớn lắm; con rùa giếng bò 1/3 cái giếng rồi hỏi có lớn như thế này không, con rùa biển lắc đầu. Con rùa giếng lại bò 2/3 giếng rồi hỏi lớn cỡ này không. Rùa biển bảo, không; rất lớn. Con rùa giếng ngạc nhiên, nó ý nói đừng bảo bên ngoài lớn bằng cái giếng này đấy nhé. Thầy giải ra một ẩn nghĩa, rằng dẫu lớn đến mấy, khó tin đến mấy thì con rùa giếng cũng có cái để chứng minh. Còn con rùa biển bị lạc vào đáy giếng, nó không có gì làm minh chứng.

Không thể dùng một chấp vào vô biên được. Cái thiển cận tôi thử lý giải, trong tàng thức mỗi người chứa vô số kiếp, trong vô số kiếp đó lại lũy thừa lên thành hằng hà sa các nhân đã gieo. Trong hằng hà sa nhân ta gieo trong kiếp này, lúc lâm chung chỉ dùng được số ít ỏi nhân tiêu biểu để tái sanh; còn nếu trường hợp cận tử nghiệp chi phối thì xem như người này chỉ dùng mỗi một nhân trong vô số nhân của một kiếp đi đầu thai. Rồi cũng chỉ rất ít nhân mạnh mẽ trong tiền kiếp có thể thúc đẩy, chi phối, kết nối để tạo nên nghiệp duyên trong kiếp này. Còn lại vô lượng nhân trong vô lượng kiếp tiếp tục tồn kho alaya. Vua A Dục là người có công lớn với Phật pháp nhưng một niệm sân lúc cận tử khiến đầu thai làm mãng xà. Kinh A Hàm cũng nêu vị tam tạng pháp sư bởi nhỡ một lời mà năm trăm đời tiếp theo nhận kiếp chó. Để thấy chúng ta chỉ là một phần tỉ tỉ của toàn thể. Đời người chỉ là khúc quanh của nhân quả trùng trùng. Tôi hình dung có người đi bộ từ Hà Nội vào Sài Gòn, sau một ngày xem là một đời. So sánh này dẫu không đúng bởi vẫn là con người toàn thể, trong lúc đời-nhân-quả chỉ là một mẩu trong khối bột ta tự nặn hình cho mình bằng khuôn nghiệp quả; song để thấy ta thường nhìn “mô hình” phác thảo lại đánh giá cả công trình tiến hóa của chúng sanh vốn bình đẳng tánh giác. Trên chặng hành trình cuốc bộ, nếu họ gặp duyên nảy chủng tử tu hành hoặc thù thắng hơn với phước duyên sâu dày gặp vị thầy tâm linh hướng dẫn, họ sẽ cự tuyệt nẻo luân hồi rẽ qua lối hiền thánh; còn không họ vẫn cứ lầm lũi như vậy trong vô biên kiếp. Mê chấp ảo, chết rồi ta lại bị lửa dục hút vô tử cung muôn loài, tự vẫn thân trung ấm để rồi choàng tỉnh chấp ngay hạt bụi là mình và cứ thế lớn lên trong tủi khổ vô minh. Nhìn một ai đó đang hành ác mà khởi ác là dại khôn xiết. Trong mắt của Phật, vua Ca Lợi là bậc đại thiện tri thức; trong mắt bạn và tôi ông từng là kẻ đại ác! Việc ta ngăn chặn cái ác chỉ đúng với ý nghĩ ngăn cái việc ta được biết sẽ đưa đương sự đến không gian u tối ở kiếp sau, ngoài ra chưa lý do nào khác. Họ sai với cái “kiến thức chuẩn” ta sở đắc song đúng với nghiệp báo luân hồi của họ. Và những hành vi của họ đương nhiên không mảy may ra khỏi mắt Phật, không mảy mảy chạy khỏi nghiệp báo; thế nên việc ta khởi thêm một niệm sân si ngã mạn trước họ là biểu hiện của cái tâm vẩn đục. Ân sư dạy tôi hãy xem mọi chúng sanh đều đã tu xong, chỉ riêng mình còn phàm phu. Chính là cái nhìn thật tướng. Mọi tướng xấu ác hay thuận thiện chỉ là sự thị hiện của chư Bồ tát để ta tỉnh thức chân tâm. Cho đến một vị sư báng pháp trước mắt chăng nữa thì ngay từ trong sâu thẳm xem tâm mình nó đang khởi lên niệm gì, đó mới là vấn đề. Ta nên bao dung những kẻ đang rẽ lối xuống tuyệt lộ. Mà cũng chưa hẳn, biết đâu cuối đời họ gặp thiện tri thức. Dẫu họ không là gì đến cuối đời ta cũng nên kính cẩn cái phần còn lại khổng lồ trong alaya của họ với vô số nhân thiện không ngoại trừ ngay trong kiếp trước họ là một vị thông tuệ kinh luận. Biết đâu có một vị Bồ tát quán ra nhân lành cực thịnh trong vô số kiếp của họ bèn tìm cách lôi ra tương tác với thực tại cuộc sống bật mầm giác ngộ.

Khi chúng ta ly tâm ý thức, ly óc phán đoán và óc suy nghĩ, ta an trú trong cái không biết chính là lúc ta hình dung về một tấm gương soi chiếu cái biết, phân loại cái biết. Nhưng tôi và bạn không ly được cái đã nhận nhầm từ vô thủy đó, và trong kiếp người nó là phương tiện thọ hưởng tài danh sắc thực thùy, chúng ta chấp vào ảo giáchuyễn giác. Chúng ta sẽ thấy rõ một miếng ăn đặt vào miệng hay mùi vị xốc lên mũi, chính là lúc tấm gương làm hiển lộ cái biết đã lưu đâu đó trong ta. Nếu ta biết chừng lặng để nhận cảm xúc, sẽ thấy mọi thứ hiển lộ qua sáu căn chỉ là những thông tin. Thông tin đau, thông tin buồn, thông tin chua cay mặn chát, thông tin ngọt ngào, thông tin âm thanh trầm bổng, thông tin vọng… Những thông tin báo lên não liền được so sánh với những thứ lưu trong tàng thức rồi chiếu ngược trở ra khiến ta khởi chấp trước - đây cũng là một thông tin nốt. Bạn nhiều lúc lặng trong cái không, cảm giác như vọng niệm đang lặng lẽ soi gương; cảm giác giữa cái không biết bên trong và hư không trước mặt đồng thể. Quán chiếu về những thông tin sẽ thấy thân của chúng ta nhạt bớt, chỉ còn những thông tin vụt hiện như sao băng giữa đêm đen mà chính ta đang tan vào nó. Để thấy bạn và tôi sống trọn trong ảo ảnh. Nói đúng hơn, chúng ta chỉ là một hình nộm tự nhận là mình trong lâu đài ảo ảnh. Rõ ràng ai chửi ta dẫu đau mấy nặng nề mấy thì thoáng đã tan, nhưng ta vẫn tưởng lại để hờn giận buồn đau; có người để bụng một câu thành thù cho đến chết mắt còn trợn ngược. Chúng ta sập bẫy ảo giác. Những ảo tưởngsức mạnh hơn cả gông cùm. Chúng ta không chịu để cơn đau buồn trôi đi mà luôn níu lại vời gọi để gặm nhấm tự hủy diệt mình trong một thực tại miên viễn. Tôi có thói quen nhấp cà phê sáng. Đến một ngày vắng, tôi nhớ cái khung cảnh ấy, ảo tưởng về con đường đó góc nhìn đó; ảo tưởng về hương vị cà phê lưu trong trí não trói buộc mình. Là ảo. Ảo ảnh có sức hút phi thường, tôi không dùng tri thức hay bất cứ quyền lực nào gỡ bỏ. Ảo ảnh dĩ nhiên không có công năng trói cột. Nhưng ta tưởng nó thật nên kết tụ thành bản tánh, rồi biện hộ bằng mọi lý lẽ chấp giữ. Đấy là nguyên do Phật giảng ngũ ấm ma. Là nguyên do chúng ta rất khó thể nhập vào không gian nhiệm mầu của Pháp. Bởi trong sự lộng lẫy xa hoa của lâu đài ảo tưởng, bản thân tôi luôn muốn kiếm tìm một thứ gì hơn nó, mà đâu hay ngay từ bước đầu tiên đã lầm đường lạc lối. Phật dạy hãy dừng mọi chấp trước, để thế giới trôi qua. Hãy buông xuôi mọi sự; tôi lại ghì chặt. Chúng ta đang cầm những chiếc kẹo, bậc chánh giác thấy liền thốt lên: Con ơi độc đó, buông ra. Một đứa trẻ lúc biết đến những món đồ chơi dục lạc sẽ buông tay khỏi mẹ nó. Dẫu những thứ đồ chơi kia có lúc khiến nó hoảng sợ, khiến nó đau thấu tim can song chưa dễ gì buông bỏ, chưa dễ gì chạy ngược trở lại òa vào vòng tay chờ đón của Mẹ. Nghĩ mà buồn cái buồn của thọ ấm, như lời thầy tôi thường bảo chúng sanh thích chọn con đường gai góc lầy lội, thích liếm dục như mật ngọt trên lưỡi dao bén của sự thật. Tôi nhớ một vị Hòa thượng giảng, chúng tasắc dục chẳng khác con chó đói gặm xương khô. Gặm mãi cho đến lúc máu miệng chảy, nó lại tưởng máu từ cục xương nên cứ gặm và liếp láp mãi cho đến kiệt sức. Các vị tổ sư luôn đứng trên cao nhìn xuống, chỗ nào có hầm hố đều biết; lũ trẻ ranh như tôi và bạn thì ham chơi, bịt tai trước thánh huấn. Không tin. Tôi cần ở Phật một trí tuệ nào ghê gớm hơn sự buông. Tôi cần nắm giữ dục lạc thế gian và học Phật. Tôi cầm nắm ngũ dục lại cầu Phật ban cho ngọn đèn để soi con đường xa thẳm phía trước. Ai hay ngay khi bước đi chính là gạt chân lý qua một bên rồi; bởi trong ta đã sẵn tánh giác. Tôi thường liên tưởng đến kho báu đức năng trí tuệ của Phật, chúng ta ai cũng có thể thò tay lấy ra bất cứ thứ gì. Điều thiết yếu là phải đến với kho báu đó bằng hai bàn tay trắng.

Tay trắng không có nghĩa hoàn toàn trắng tay. Cũng như ai cũng nghĩ tâm thanh tịnhtuyệt nhiên không có vọng niệm. Điều này chỉ đúng với những hành giả chuyên tâm trong mấy năm đầu, dĩ nhiên đây là tầng công phu căn bản trọng yếu. Khởi tu định thường tại là thấy mọi việc như nó vốn vậy, nó diễn ra như thế nào thì cứ nhìn nó như vậy, không thêm bớt, chẳng đẩy ra cũng không ôm vào nặng bụng. Bạn tu của tôi dụng pháp này và chuyên niệm một câu kinh, đến một ngày những vọng niệm tự chán chường với chính nó, chúng thấy vô nghĩa, yếu đuối và tự tan ngay khi gặp niệm lực của câu kinh được chuyên niệm. Chúng ta cần học cách bao dung, bao dung hàm nghĩa sâu xa gồm cả cái xấu, cái dở và bao dung luôn cái ác; bao dung cái thiện dễ làm, bao dung cái ác mới là Từ Bi chân thật. Sự bao dung khi chúng ta đã quá rõ nghiệp quả của cái ác. Âm thầm từ bi với điều xấu ác để tìm phương tiện giúp họ đi ra, là ta đang rọi những tia sáng đến những tâm thức tối tăm lầm lỡ có một hy vọng quay về. Tâm thức vốn là một bộ máy tinh vi chuyên lừa đảo tôi và bạn. Chúng ta thích bị lừa bởi sự lừa luôn bọc một lớp ngọt ngào man trá. Số đông chỉ cần đến vậy, lúc chạm chút đắng cay họ liền chuyển qua một trò chơi khác, cứ thế luân chuyển từ trò chơi này đến cuộc chơi trọn đời nếm hưởng sự giả tạo dịu dàng của ma.

Phật phápcon đường đưa đến hạnh phúc an lạc tối hậu, vĩnh viễn thoát khổ. Song người ta bỏ qua con đường từ nhà đến Tam bảo, nó nhiều gian nan thử thánh. Chân lý hiển nhiên là trong lành mát dịu tuyệt cùng. Song ở đây nên thí dụ ngược lại. Ví von  chân lý như mặt trời, thì ta càng tiếp cận càng nóng bức và trước hết không chân thành cung kính dễ chừng bị thiêu cháy. Có những hành động vĩ đại, chẳng như lúc tôi đang ngồi trầm tư bên ly cà phê, thì có hai bàn tay chai sần gầy guộc chìa trước mặt lúc nào không hay; con người già nua ấy thốt lên với đứa trẻ nít là tôi rằng: Cho con xin vài ngàn! - Với riêng tôi lúc đó, tôi gọi ấy là hành động vĩ đại. Và hơn thế, nếu tôi biết cung kính cúi lạy (ít nhất trong tự tâm) những con người như vậy, cùng tất thảy những con người từng (và mãi mãi) chê bai xỉ mắng, coi thường tôi, hẳn Phật sẽ nói hành động của con - lành thay! Tâm cung kính khởi sanh (không phải là hành động đối trọng với bất kính) là ta đang mở một ô cửa nhỏ và không phải khiến ánh sáng từ ngoài tràn vào mà chính là một tia quang minh vốn sẵn chiếu ra.

Phật dĩ nhiên không mảy may chấp tướng, các Ngài chẳng may may khởi tâm động niệm trước mọi hành vi của chúng sanh đối với các Ngài. Chúng ta chưa cung kính Phật đã tự “miễn lễ” cho mình, là một bước ảo tưởng vượt thoát. Chúng ta chưa thật thấy cung kính Phật như một ân nhân vừa cứu mạng mình cũng như cứu mạng hết thảy người thân của mình, sao mong nhìn cho ra chân tánh, bởi trong chân tánh chẳng những đương nhiên có cung kính Phật, mà còn là cung kính hết thảy chúng sanh. Tôi vẫn thường lễ Phật trước thời công phu tĩnh tọa, rồi một lần bỗng giật mình: Tôi lễ Phật cung kính lắm, nhưng không lễ nổi hành vi nhặt rác của một người tầm thường từng gặp, không lễ nổi những người gây hại tôi và những người từng dẫm đạp lên niềm tin tối hậu của tôi. Tôi lễ Phật rất dẻo song khi thấy người ta tới xin uống chỗ nước thừa của mình, tôi chỉ biết co rúm cứng đờ không dám chắp tay trước bao con mắt trong quán, nói gì cúi đầu và sụp lạy sự “vô ngã” kia dẫu trong tưởng tượng. Rất nhiều người họ vượt qua được ngã chấp nhẹ nhàng, còn tôi học Phật mãi vẫn thấy mình cao sang để rồi xem thường luôn cả những bậc đang tìm mọi cách vớt mình khỏi đầm ác trược. Đến đây tôi đã biết mình đang đứng ở rất xa chân lý. Tôi lờ mờ thấy chân lý song đang thoái chí. Tôi run gối chùng chân trong từng bước và đôi khi đã bỏ chạy. Rồi tiếc ngẩn ngơ, rồi bao phen gượng dậy, bao phen được bạn tu và thầy dìu dắt tiến thêm, rốt cục vẫn ở đây gắng làm một phàm phu. Thẹn với lòng chưa thể Buông những thứ ràng buộc vào mình tưởng hữu ích, rốt cuộc chỉ là biện hộ cho chấp thủ. Bao lần thầy dạy hãy tri túc. Nơi con sẵn đủ, hãy buông và đừng làm thêm nữa. Hãy tận dụng cái sẵn đủ và ở đó. Đừng ảo tưởng phải nhìn cho xuyên tường hay thâm nhập cảnh giới nào khác để rồi chấp nhận lời mời kết bạn của ma. Tôi ừ dạ, rồi lại lén lút vun trồng ngã ái rong chơi bên bờ vực sâu không đáy.

Có những lúc hổ thẹn khôn cùng. Trong bóng tối đêm đen, rõ ràng yêu quỷ vẫn đứng đó cổ vũ cho tham đắm si mê của mình, rồi tha hồ diễu cợt. Tôi đòi dở trò gì qua mặt ai. Rồi chợt linh cảm chư Phật-Bồ tát vẫn đứng đó lặng lẽ nhìn mình, nhìn và nhìn. Bỗng nhiên tôi nghĩ, chư Phật-Bồ tát đó chính là chân tâm của mình; có một chân tâm luôn đứng đó nhìn cái vọng trong tôi. Tâm soi tâm. Chân tâm luôn đứng đó nhìn và chỉ nhìn, một sự quan sát đơn thuần nhưng sâu sắc cùng tột. Những vọng trong tôi bị lộ và cúi mặt. Những vọng trong tôi yếu đuối dần trước ánh nhìn đầy bi mẫn và “bất động” của chân tâm, dẫu những vọng ngày càng sắc nét và sống động. Trong khung cảnh ấy bỗng vang lên một âm thanh trong khiết: Giả như con nhìn thấy ngọn núi chăng nữa, con cũng chưa chạm đến ngọn núi ấy đúng không? Mà dẫu con tu đến ngày bạc tóc, trèo lên được ngọn núi hay đứng trên ngọn núi chăng nữa, con cũng chưa phải là ngọn núi ấy trừ phi con tan loãng vào hư không, tan loãng vào những thứ tầm thường nhất trong cõi ác trượcdĩ nhiên không còn thấy ngọn núi nào trong con.

Tập sống với tánh giác sẽ khiến thân kiến nhạt đi. Tánh giác ở đây, là tính giác; một cái tự nhiên “có tính chất tự biết giác”. Tôi dùng ngôn từ tánh giác âu là lạm dụng bởi trong ấy có chữ “tánh” mà chỉ những bậc chứng ngộ chạm vào. Sống với tánh giác đã khó; mà dẫu từ thân chuyển dần thành tánh giác rồi thì vẫn còn cái tánh giác đó để dụng công xóa đi. Thầy tôi diễn ý kinh Lăng Nghiêm: Hãy tu cho đặng thuần một tánh giác, là không có cái đau và cái biết đau nữa, không còn tướng sở văn rồi đến tướng năng văn cũng dứt; năng giác sở giác đều không. Là bởi “tánh giác là chơn không”. Thầy còn nhắc lời Hòa thượng Duy Lực: “Hầm sâu giải thoát”. Tôi nghe bỗng lạnh người. Vẫn ghì nắm giấc mơ. Một giấc mơ lưu luyến một giấc mơ. Một ảo ảnh chồng lên ảo ảnh. Vẫn như lời thầy còn vang: Buông nó ra con à. Tôi mơ hồ chợt nhớ khoảnh khắc mơ thấy mình rơi tự do giữa không trung, nhưng rồi lại giãy giụa vươn tay bám níu sợ hãi cú rơi làm tan nát lâu đài ảo ảnh đã dày công muôn kiếp tạo dựng. Tôi và bạn, chúng ta vẫn đem tâm kết thân với ngoại đạo bày trò nhảy múa trong lâu đài ảo ảnh; mặc cho tánh giác vẫn từng sát na thâu lại làm tư liệu gửi vào hư không bổ sung vào hồ sơ ra ngoài tam giới, như là một ảo tưởng mới.

Tạo bài viết
12/10/2016(Xem: 8514)
24/08/2018(Xem: 1734)
28/09/2016(Xem: 15891)
27/01/2015(Xem: 10345)
Chùa Hương Sen tổ chức 3 tours hành hương từ ngày 02/09/2019 đến ngày 07/10/2019
Kính dâng Giác Linh Hòa Thượng thượng Quảng hạ Thanh. Ngài đã về với Phật lúc 12:49 sáng, ngày 9 tháng 6 năm 2019 tại Bảo Quang tự viện, thành phố Santa Ana, miền Nam California Hoa Kỳ, trong tiếng niệm Phật liên tục của Chư Tôn Đức và Phật tử khắp nơi tựu về. TN Huệ Trân cẩn bái
Trong buổi giao lưu ngày 21 tháng 5 năm 2019 Ngài đã từ bi hướng dẫn cho Đại chúng thực hiện một nghi thức về “Phát khởi Bồ Đề Tâm”. Thời lượng của ngày 20 là 1 tiếng 20 phút và gày 21-5-2019 là 57 phút 48 giây. Ngôn ngữ: Tiếng Việt