Đến Bến Bờ Tự Do

29/04/20226:02 SA(Xem: 282)
Đến Bến Bờ Tự Do

HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO
Bút Ký của Nguyễn Văn Hòa 

 

ĐẾN BẾN BỜ TỰ DO

 

Thế là tôi đã đến được bến bờ tự do sau một cuộc hải hành dài 13 ngày trên biển Thái Bình Dương và cuộc chiến dài 30 năm trên quê hương tôi. Cuộc chiến bắt đầu từ lúc tôi chập chững bước những bước đi đầu tiên vào đời cho đến khi cuộc chiến tạm thời kết thúc lúc tôi lên 11 tuổi vào năm 1954. Sử sách ghi lại đây là cuộc chiến chống thực dân Pháp kéo dài 10 năm từ năm 1945 đến năm 1954 và tiếp theo sau đó 20 năm là cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản độc tài hay nói gọn là cuộc chiến ý thức hệ.

Sau 30 năm chiến tranh chết chóc và tang thương, số người Việt Nam chúng tôi ở cả hai bên thiệt mạng lên tới ba triệu người. Đất nước và tài sản của dân chúng cả hai miền đều bị chiến tranh tàn phá đến mức độ chưa từng thấy trong lịch sử, cho đến nay vẫn còn những di hại của bom, mìn chưa nổ và chất thuốc khai quang.

Đối với riệng tôi, tôi nghĩ rằng cuộc chiến tranh 30 năm này, không gì khác hơn là cuộc nội chiến tương tàn giữa những người Việt Nam với nhau trước là tranh dành quyền lực giữa những người lãnh đạo các tổ chức chính trị, sau là do ý thức hệ khác biệt, ý thức hệ quốc giaý thức hệ cộng sản.

Khởi đi từ những năm thập niên 1930, những người Việt Nam yêu nước thành lập các đảng chính trị kháng chiến chống thực dân Pháp như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng Sản Việt Nam... Tất cả đều có chung một mục đích là chống thực dân Pháp, giành lại độc lập cho xứ xở. Nhiều nhà cách mạng, quốc gia, cộng sản hay không cộng sản, trí thức hay lao động thời đó, đều đã bị chính quyền Pháp bắt bớ, tù đày và sát hại. Chỉ đến khi tranh giành quyền lãnh đạo dân tộc thì hai bên mới lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn và bị các nước lớn sử dụng trong một cuộc chiến tranh ý thức hệ.

Ngày 20-7-1954, Hiệp định đình chiến Genève được ký kết. Theo đó, Việt Nam sẽ tạm thời bị chia cắt bằng ranh giới là vĩ tuyến 17 để quân đội hai bên tập kết. Quân đội Pháp sẽ rút khỏi Việt Namtrao quyền quyết định vận mệnh dân tộc mình cho người Việt Nam. Một năm sau đó sẽ tiến tới việc giao thương kinh tế và một năm sau nữa sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thế nhưng chuyện đó không bao giờ xảy ra.

****

Tôi ra đời trong bối cảnh chiến tranh như vậy tại một làng quê miền Bắc, theo cha mẹ di cư vào Nam tìm tự do trong khuôn khổ quy định của hiệp định Geneve, ai muốn ở lại miền Bắc thì ở, ai muốn đổi chế độ thì vào Nam.

Do phải sinh sống trong thời chiến tranh loạn lạc nên tôi sớm có được nhận thức về các biến cố trong đờicho đến nay tôi vẫn còn nhớ như một khúc phim quay lại.

Ngay sau ngày hiệp định Geneve ký kết, thầy mẹ tôi bồng bế con cái trở về quê, sau một thời gian lên tỉnh lánh nạn binh đao. Lúc ấy mọi nơi dân chúng phấn khởi vì hết chiến tranh, thôn quê và thành thị được đi lại tự do, nhiều gia đình đoàn tụ, hạnh phúc, nhưng chỉ sau vài tháng, dân chúng bị cưỡng bách đi lao động dân công, các cán bộ ủy ban kháng chiến xã huyện đi kiểm kê tài sản nhà cửa ruộng vườn để thực thi cái gọi là “cải cách ruộng đất”, phân phối tài sản đồng đều, giầu nghèo như nhau. Họ thực hiện chế độ kinh tế tập trung do nhà nước làm chủ, khiến dân chúng hoang mang lo sợ. Luật pháp thì tùy tiện do các cán bộ, công an địa phương quyết định. Dân chúng mất niềm tin vì cuộc sống thay đổi đột ngột không định hướng. Thầy me tôi kể lúc ấy ai ai cũng lo lắng khai báo cho mình một tiểu sử nghèo, dốt, để hy vọng mình được xếp vào thành phần “bần cố nông”, tránh bị thanh toán. Cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa liềm của cộng sản quốc tế lúc nào cũng tung bay rợp trời khắp nơi.

Vì là giai cấp địa chủ, thấy không thể nào sống nổi dưới chế độ cộng sản, thầy me tôi quyết định rời bỏ xóm làng, họ hàng bà con bồng bế con cái trốn đi trong đêm đến cảng biển Hải Phòng vào Nam, lúc ấy vào khoảng cuối năm 1954, tức gần nửa năm sau ngày đình chiến.

Nhờ lực lượng hải quân hùng hậu và dồi dào tài chính của Hoa Kỳ trợ giúp nên có khoảng một triều người đã di cư từ miền Bắc vào Nam, trong đó có chúng tôi. Tôi nhớ hồi đó ông Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về miền Nam làm Thủ tướng của Quốc trưởng Bảo Đại, đám học trò lớp nhất chúng tôi hợp cùng với các trường khác được tập hợp đi đón và hoan hô Ngô Tổng Thống. Hồi ấy, ông cho dẹp  tất cả các lực lượng võ trang ở miền Nam như quân đội Bình Xuyên, quân đội Cao Đài, quân đội Hòa Hảo và sau khi dẹp tan các lực lượng này, ông Diệm với sự yểm trợ tích cực của Mỹ, tổ chức trưng cầu dân ý truất phế quốc trưởng Bảo Đại lập nên nền đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa.

Hồi đó khi vào miền Nam, tôi theo học lớp Nhất tại trường tiểu học Phú Nhuận. Vào mỗi sáng thứ Hai chào cờ, tôi được cô giáo lớp tôi cho “vinh dự” kéo cờ và tất cả học sinh phải hát bài ca suy tôn Ngô Tổng Thống sau khi chào quốc kỳ. Ở miền Nam, dạo ấy tôi không hiểu tại sao chính quyền tổ chức quần chúng hay đến như thế, đâu đâu cũng toàn là suy tôn Ngô Tổng Thống rồi đả đảo cộng sản. Vào trong rạp hát xem chiếu phim cũng phải đứng dậy hát bài ca suy tôn.

****

Thật không may cho Việt Nam, số phận của quê hương tôi đã được an bài trên bàn hội nghị bởi các nước lớn trên thế giới hay cũng có thể đó là nghiệp quả của cả một dân tộc phải gánh chịu, khi bị rơi vào thế gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ trên toàn thế giới giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản hình thành sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Người Việt Nam chúng tôi, dù muốn hay dù không cũng đều bị cuốn hút vào trong cuộc đấu tranh ý thức hệ này. Miền Bắc Việt Nam đứng về phe xã hội chủ nghĩa do Trung Quốc và Liên Xô lãnh đạo. Miền Nam Việt Nam đứng về phe tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Hoa Kỳ.

Mặc dầu cuộc chiến Việt Nam là cuộc nội chiến ngay từ những năm trước thập niên 1940 nhưng về sau nó được tiếp tay bởi Hoa Kỳ. Hoa kỳ đã làm ngơ trước những lời cầu cứu của ông Hồ Chí Minh và Bảo Đại lúc đó làm quốc trưởng muốn việt Nam được tự trị và độc lập. Thế là đất nước tôi lại tiếp tục bị bom đạn đánh phá nhà tan cửa nát thêm 10 năm nữa cho đến ngày 20 tháng 7 năm 1954 mới chấm dứt bởi hiệp định đình chiến Geneve chia đôi đất nước.

Nghĩ lại, nếu như Hoa Kỳ hồi đó không nghe lời thuyết phục của chính phủ Pháp mà chuyển qua giúp đỡ cho Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội trong đó có những thành phần yêu nước thật sự muốn Việt Nam được tự trị và được sự giúp đỡ của Mỹ, thì biết đâu tình trạng hiện thời của một nước Việt Nam lẽ ra đã có tự do, dân chủtiến bộ từ đó. Và đâu có cảnh người dân phải tháo chạy kinh hoàng đến hai lần “một lần cha bỏ xứ năm 1954, và một lần con bỏ nước năm 1975”.

Rồi sau hội nghị Geneve 1954, Mỹ chính thức can thiệp vào chính quyền miền Nam Việt Nam. Mỹ muốn dùng miền Nam Việt Nam làm con đê để ngăn chặn làn sóng cộng sản lan tràn xuống phía Nam, đặc biệt là vùng Đông Nam Á theo học thuyết Domino, để rồi 20 năm sau, sau khi đã bắt tay được với Trung Quốc vào năm 1972, Mỹ đã bỏ rơi miền Nam Việt Nam cho miền Bắc Việt Nam vì quyền lợi kinh tế và chính trị của Mỹ và Trung Quốc

Ngày nay, người Việt Nam cộng sản và không cộng sản đều đã có nhiều kinh nghiệm về tình bạn hợp tác với các nước anh em của mình để thấy rằng đồng minh anh em nào cũng chỉ ủng hộ một nước anh em bạn chừng nào sự ủng hộ ấy phù hợp với lợi ích riêng của họ chứ không phải vì cùng theo đuổi một lý tưởng chung. Chính Thủ tướng Anh Winston Churchill từng có câu nói để đời: “Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc giavĩnh viễn”. Đó cũng là chính sách cố hữu của Hoa Kỳ.

Cổ nhân Đông phương cũng có câu “Thương hải tang điềnđại ý nói về sự thay đổi khó lường của cuộc đời. Còn nhà triết học Tây phương Heraclitus đã từng khẳng định “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” để nói về dòng đời luôn trôi chảy theo những biến thiên của cuộc sống. Cuộc sống vô thường, luôn chứa đựng những điều bất ổn, còn bước đi của lịch sử thì luôn song hành với nhịp điệu của thời gian. Do đó, mọi mối liên hệ giữ người với người, giữa quốc gia với quốc gia chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định nào đó, con người cần phải học cách thay đổi để thích nghi và để mối quan hệ giữa con người với con người sẽ được biến thiên theo dòng chảy của cuộc đời.

Thật đau khổ cho dân tộc Việt Nam, cho quê hương thân yêu của tôi, đã không thích nghi được với hoàn cảnh, đã không vận dụng mọi nỗ lực để tự quyết, tự chủ, tự cường, để đến nỗi bị các nước lớn bắt nạt, đàn áp và bị ép buộc phải quy hàng theo ước muốn của họ.

(Trích từ sách sắp xuất bản: “Vượt Thoát” của tác giả Nguyễn Văn Hòa Làng Dung)

Bản PDF:
CHƯƠNG 3 HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO



Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 16802)
12/10/2016(Xem: 14942)
12/04/2018(Xem: 15658)
06/01/2020(Xem: 6597)
24/08/2018(Xem: 6054)
28/09/2016(Xem: 21116)
27/01/2015(Xem: 18706)
Kharkov là một trong những nơi bị oanh tạc khốc liệt trong cuộc chiến xâm lăng Ukraine những ngày qua. Tuy nhiên Nga đã bác đề xuất thiết lập hành lang nhân đạo tại Kharkov (và cả Sumy).
Nói đến giới luật là nói đến hệ thống các quy định về chuẩn mực trong đời sống phạm hạnh, quy tắc ứng xử, cũng như các hoạt động mang tính nội bộ, đặc thù của Tăng sĩ Phật giáo nói riêng và Tăng đoàn nói chung. Giới luật ấy chia làm hai phần, gồm giới và luật. Hai phần này có quan hệ khắng khít, mật thiết với nhau trong quá trình hành và trì giới luật của các vị thọ Đại giới: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni.
Sáng 21-4 (21-3-Nhâm Dần), tại chùa Thiên Mụ - TP.Huế, môn đồ đệ tử Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã trang nghiêm tổ chức tưởng niệm 30 năm (1992-2022) ngày ngài viên tịch.