Chương 1 - Thuở ấu thời

17/05/20224:07 SA(Xem: 141)
Chương 1 - Thuở ấu thời

HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO
HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI SUỐT ĐỜI KIẾM TÌM TỰ DO
Nguyễn Văn Hòa

CHƯƠNG 1
THƯỞ ẤU THỜI hay là BÁT CHÁO CỨU ĐÓI
  

Tôi sinh ra trước thềm trận đói khủng khiếp và thê thảm nhất chưa từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam. Trận đói bắt đầu vào tháng 8 năm 1944 khi tôi tròn một tuổi, kéo dài đến cuối năm 1945, được gọi là “Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu”; thầy me tôi kể với chúng tôi như vậy và kể thêm rằng trong ký ức của ông bà, trận đói năm Ất Dậu vẫn là một cơn ác mộng và nỗi nhức nhối khó quên cho những người Việt Nam thời thập niên 1940.
 
Năm ấy do khí hậu thời tiết thay đổi bất thường, mùa đông gía rét, mùa hè nắng cháy, đồng ruộng khô hạn, thêm côn trùng phá hại mùa màng mà thầy me tôi cho là do điềm trời hung gở hay do ông trời quở phạt. Không chỉ cánh đồng hàng mấy trăm mẫu của thầy me tôi mà khắp nơi đâu đâu lúa cũng chết vàng khi bắt đầu trổ đòng đòng.  
 
Tuy nhiên, theo sử sách ghi lại thì khí hậu thời tiết chỉ là nguyên nhân phụ còn nguyên nhân chính là do hậu quả của cuộc chiến tranh với thực dân Pháp và quân phiệt Nhật.
 
Hết Pháp rồi đến Nhật cưỡng bách người dân phải nộp thóc, phải nộp đủ thứ thuế, thuế đinh, thuế điền, thuế tô; Chưa hết, do nhu cầu chiến tranh đòi hỏi, chúng còn bắt người dân bỏ ruộng trồng lúa để trồng cây đay nhằm giải quyết nạn khan hiếm vải vóc, trồng thầu dầu hay đậu lạc để chế nhiên liệu thay cho các sản phẩm từ nguồn gốc dầu hỏa. Thêm nữa máy bay phe thực dân Pháp bắn phá các cầu cảng đưởng biển, đường ray xe lửa Bắc-Nam khiến gạo từ miền Nam không chở ra để tiếp tế cho miền Bắc. Đó là chưa kể đến việc Pháp và Việt Minh cùng tận dụng trưng thu lúa gạo ở vùng mình kiểm soát. Việt Minh thì giao nộp cho Tầu theo tỷ lệ 2/1 – Việt Minh một phần, Tầu hai phần, và Pháp bổ sung vào kho dự trữ an ninh, phòng hờ một cuộc chiến có thể xảy ra bất cứ khi nào.
 
Cũng theo thầy me tôi kể, dưới triều vua Bảo Đại, cơn đói bắt đầu từ thôn quê rồi lan ra thành thị, dân khắp nơi không có gạo ăn, nhà nông không có thóc nộp tô, kéo đến các nhà giàu để vay, nhưng phần lớn họ không cho, để dành thóc bán cho Pháp rồi cho Nhật. Do vậy, người nông dân chết đói hàng loạt, đến nỗi nhiều khi cả một  làng biến mất trên bản đồ. Khi nạn đói lên đến đỉnh cao vào đầu mùa hè năm 1945, người chết nằm la liệt, không phân biệt được nam nữ, già trẻ, các tình nguyện viên làm việc từ thiện xã hội nhặt xác tập chung vào từng chỗ để chờ xe mang đi chôn tập thể.
 
Đã đói lại thêm giá rét bất thường mùa Đông năm đó càng làm cho trận đói trầm trọng thêm, công tác đồng áng cho vụ mùa kế tiếp không thực hiện được, khiến cho sự thống khổ lên đến tột độ.
 
Riêng thầy me tôi, theo lời chú Nguyễn Văn Ức, em ruột thầy tôi kể cho anh Lâm tôi nghe, trong dịp chú vào miền Nam thăm sau năm 1975, đã mở kho thóc dự trữ trong nhà phát chẩn cho đồng bào trong làng để chống đói. Mới đầu phát cho mỗi gia đình ba cân thóc để họ đem về, sau kho thóc dự trữ bị vơi dần, nên thầy me tôi quyết định không phát thóc mà mỗi đêm giã gạo nấu cơm làm thành từng nắm, mỗi nắm chừng hai đến ba bát cơm. Mỗi sáng dân làng đến sắp hàng trực trước cổng nhà là phát, cứ mỗi người phát cho họ một nắm, trẻ con người lớn đều như nhau. Dần dà những ngày sau, kho thóc tiếp tục vơi dần mà số người đói đến xin càng ngày càng đông, nên thầy me tôi chuyển qua nấu cháo, phân phát đồng đều cho bà con húp cầm chừng cho đỡ đói, nhằm mục đích san sẻ cho nhiều người kéo dài sự sống chờ chính quyền tỉnh huyện hay Hà Nội đến cứu đói.
 
Cũng cần mở dấu ngoặc ở đây, khi làm việc có tính cách từ thiện này chắc thầy me tôi không bao giờ nghĩ đến ngày được đền ơn đáp trả, thế vậy mà 10 năm sau thầy tôi đã thoát chết trong một cuộc thanh trừng chính trị đẫm máu. Cũng theo chú Ức tôi kể, khi ấy vào lúc tôi lên 8 hay 9 tuổi gì đó, các làng xã trong huyện đã bị Việt Minh nổi lên chiếm quyền kiểm soát. Họ thành lập các ủy ban kháng chiến hành chính. Một hôm họ cho người mời thầy tôi, lúc đó làm lý trưởng làng tức xã trưởng bây giờ và ông lý phó làng lên trụ sở làm việc. Vì bận việc, thầy tôi không đi được, nói là để ngày mai sẽ đến trụ sở làm việc. Đến chiều tối một người khác cũng nằm trong ủy ban kháng chiến hành chính xã, bí mật đến nhà báo tin cho thầy me tôi biêt là ông phó lý đã đi “mò tôm” * rồi  và khuyên thầy tôi nên trốn đi gấp. Thế là thầy tôi vội vã lìa xa gia đình trốn khỏi làng lên tỉnh ngay trong đêm đó. Thầy tôi đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc và người bí mật cứu mạng sống lại chính là một trong số những người đã được thầy me tôi cứu mạng trong trận đói Ất Dậu chín mười năm về trước. Chú Ức tôi cho biết thêm như vậy. Bát cháo cứu đói đã cứu sống thầy tôi. Quả thực nhân quả có những sự sự tương quan, tương duyên mật thiết với nhau bằng những hành động do con người làm ra. Tất cả quả tốt hay xấu mà chúng ta đang được hưởng ngày hôm nay, có gốc từ các nhân đã gieo trồng từ quá khứ.
 
Kết quả trận đói năm Ất Dậu là một tai họa khủng khiếp, đã để lại dấu ấn không phai mờ trong tâm khảm của người Việt Nam. Người ta ước tính con số người chết đói giữa mùa thu năm 1944 và mùa đông năm 1945 là hơn một triệu người, khiến cho dân số ở miền Bắc xuống còn dưới 7 triệu người. Đồng thời cũng là một trong nhiều nguyên nhân đã dẫn đến cuộc chính biến 19 tháng 8 năm 1945, ngày Việt Minh cướp chính quyền, sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945.
 
****
 
Mặc dầu được sinh ra trong một gia đình giầu có, nhà cao cửa rộng, ruộng vườn thẳng cánh cò bay và người ăn người ở ra vào tấp nập, nhưng thuở ấu thời của tôi từ lúc sinh ra cho đến năm tôi lên 11 tuổi không là tuổi thơ hồn nhiên nô đùa, đánh đu đánh đáo mà toàn là lẽo đẽo theo chân thầy me tôi chạy loạn, hết tản cư lại về tề, rồi lại tản cư trong hoàn cảnh nước nhà điêu linh, chết chóc và tàn phá do ảnh hưởng của nạn đói và do cuộc chiến tương tàn giữa những người cùng mầu da tiếng nói chạy theo ngoại bang tranh dành quyền lực cai trị đất nước.
 
Sống ở quê, tôi không có được những năm tháng thanh bình, thầy me tôi phải trôi nổi theo vận nước, có khi phải trốn chạy Việt minh cộng sản từ làng này qua làng khác, từ thôn quê lên thành thị rồi sau cùng bồng bế con cái vào Nam lúc tôi lên 11 tuổi.
 
Do chiến tranh loạn lạc nên việc học của tôi cũng thường bị gián đoạn. Khi yên ổn không phải đi tản cư lánh nạn thì thầy me tôi mời ông đồ (thầy giáo) ở luôn trong nhà dạy học cho anh em chúng tôi. Trong thời gian lánh nạn ở thành phố, tôi theo học lớp nhì tại một trường tiểu học ở thị xã Phố Hiến, nhưng chưa đầy một niên học thì về quê khi hết chiến tranh, sau đó di cư vào Nam, tôi tiếp tục lên học lớp Nhất tức lớp 5 bây giờ. Chính vì vậy mà sự học vấn của tôi ở bậc tiểu học không được tròn đầy, do đó khi lên bậc trung học, nhất là khi vào miền Nam, một thời là nước Cộng Hòa Nam Kỳ Tự Trị thuộc Pháp, tôi lại theo học ở một trường trung học kỹ thuật có nguồn gốc từ trường Cơ khí Á Châu, dạy toàn chương trình bằng ngôn ngữ Pháp, các thầy cô giáo giảng dạy bằng tiếng Pháp kể cả các môn văn, sử địa, đức dục và công dân giáo dục, nên tôi phải bơi, nhiều khi đến hụt hẫng. Tôi phải cố gằng lắm mới theo kịp. Nhớ lại những ngày đầu tiên đến trường, nghe thầy cô giảng bài mà nghe như vịt nghe sấm. Tôi còn nhớ trong giờ học môn Văn Pháp năm đệ thất (lớp 6), thầy giáo bắt tôi trả bài, đọc thuộc lòng bài thơ “dame souris trotte”. Tôi phát âm tựa đề không chuẩn, có lẽ một phần tôi nói ngọng, mang giọng đồng bằng Bắc bộ, nên cả lớp, phần lớn là học trò người miền Nam cười ồ lên và từ đó họ đặt cho tôi nick name là “dame souris trotte”.
 
Tôi nhớ mãi đến bây giờ và đó là một kỷ niệm khó quên, nhất là khi đến một nơi xa lạ tự nhiên có người nhận ra và nhắc đến tên đó. Các bạn bè cùng lớp với tôi như Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Hữu Trí, Dương Đình Thơm, Nguyễn Hội, Nguyễn Số và Đặng Quốc Văn Ái chắc còn nhớ.
 
Dame souris trotte là tên một bài thơ của nhà văn hào Paul Verlaine. Ông là một trong những nhà thơ lớn nhất và nổi tiếng nhất của nước Pháp vào nửa cuối thế kỷ thứ 19. Ông cũng là người sáng lập trường phái thơ tượng trưng. Hầu hết các học sinh bậc tiểu học trường Pháp ở bên Pháp cũng như ở Việt Nam đều được dạy và học thuộc lòng bài thơ này. Tôi còn nhớ mang máng bài thơ không dài, chỉ gồm có 24 dòng ngắn, phân làm 6 đoạn. Học thì thuộc mà không hiểu nội dung là gì!
 
(*) tiếng lóng chỉ hành vi thủ tiêu bằng cách tra tấn người đến chết xong bỏ vào bao bố thả xuống sông
Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 17005)
12/10/2016(Xem: 15241)
12/04/2018(Xem: 15861)
06/01/2020(Xem: 6786)
24/08/2018(Xem: 6256)
28/09/2016(Xem: 21262)
27/01/2015(Xem: 18904)
Thể cách nhà sư buộc phật tử chắp tay nghinh đón thế quyền như nghinh đón chư Tăng rất khó coi. Quan chức vui gì khi có những nhà sư xu nịnh trắng trợn
Chùa Bảo Quang, Santa Ana, vừa tổ chức Lễ Đại Tường, nhân ngày giỗ mãn tang cố Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, hôm Thứ Năm, 9 Tháng Sáu, với sự hiện diện của hàng trăm chư tôn đức tăng ni và Phật tử.