Chương 3 – Miền Nam mưa nắng hai mùa

17/05/20224:10 SA(Xem: 180)
Chương 3 – Miền Nam mưa nắng hai mùa

HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO
HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI SUỐT ĐỜI KIẾM TÌM TỰ DO
Nguyễn Văn Hòa


CHƯƠNG 3
MIỀN NAM MƯA NẮNG HAI MÙA

 

Sau hai ngày hai đêm hải hành từ Bắc vào Nam, tầu cập bến Sài Gòn vào xế trưa một ngày đầu Xuân đất phương Nam, nhưng tiết trời nắng nóng. Đồng bào chen chúc lên đứng chật trên boong tầu chờ xuống bến. Theo chân thầy me, chúng tôi bước xuống cầu cảng, lên xe cam nhông cùng với đoàn người di cư đi về trại tạm cư gần trường đua ngựa Phú Thọ.

Gia đình tôi 8 người được xếp ở chung một căn lều vải nhà binh với hai gia đình khác, nằm trên những chiếc ghế bố đặt trên nền đất.

Được biết đây là trại tiếp cư lớn nhất miền Nam lúc bấy giờ mang tên là trại Phú Thọ Lều, gồm hàng trăm lều vải nhà binh lớn, mỗi lều chứa khoảng ba đến bốn gia đình ngủ ghế bố, do quân đội Mỹ thiết lập. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người. Sau năm 1955 nơi này là campus của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, gồm các trường cao đẳng, như cao đẳng điện học, cao đẳng công chánh, cao đẳng hóa học, cao đẳng sư phạm kỹ thuật, trường kỹ sư công nghệ, trường hàng hải và trường Bách Khoa. Bây giờ nơi đây đổi tên thành Viện Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh.

Khi bước theo thầy me tôi xuống cảng, đặt chân lên vùng đất mới Sài Gòn, tôi không ngờ điểm đến cảng Sài Gòn hôm nay lại là điểm ra đi của tôi về một phương trời vô định vào 20 năm sau và khi xuống xe đến trai lều Phú Thọ, tôi cũng không biết rằng 20 năm sau tôi cũng đến một trại lều tương tự ở bên kia bờ Thái Bình Dương mà họ gọi là thành phố lều Orote Point City Tent cũng do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ thiết lập tại đảo Guam đón khoảng một trăm ngàn người Việt tị nạn khi kết thúc cuộc chiến Việt Nam vào năm 1975.

Đến cuối năm 1955 trại Phú Thọ Lều này giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh, nhiều nhất là ở vùng Hố Nai Gia Kiệm thuộc tỉnh Biên Hòa. Gia đình tôi nằm trong số một triệu người đã di cư từ Bắc vào Nam, một cuộc di cư được lịch sử thế giới mô tả là một trong các cuộc di cư lớn nhất, trong đó có khoảng tám mươi lăm phần trăm là số người theo đạo Công giáo.

Đời sống trong trại Phú Thọ Lều rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Ở đây chưa đầy một tuần thầy me tôi đưa chúng tôi về xã Phú Nhuận nằm ở ngoại ô thành phố Sài Gòn, ở tạm nhà anh Phạm Văn Dực, con trai ông bác, anh ruột mẹ tôi đã vào đây trước. Rồi một tháng sau đó thầy me tôi mua một căn nhỏ gần đó sống tự túc.

Vì căn nhà đầu tiên quá nhỏ hẹp cho một gia đình tám người nên thầy me tôi bán đi và mua một căn nhà khác rộng hơn ở đường Trương Tấn Bửu, sau đổi tên là Trần Quang Diệu, Quận 3. Ông bà và chị Hai tôi tảo tần buôn bán để lo cho năm anh em chúng tôi ăn học, từ việc đẩy xe bán khô mực nướng đến bán hàng tạp hóa. Tôi học năm cuối bậc tiểu học tại trường tiểu học Phú Nhuận, anh Lâm tôi thi trúng tuyển vào học năm đệ thất (lớp 6) trường Trung học Kỹ Thuật Cao Thắnglúc ấy có tên gọi là Collège Technique, đến năm sau tôi cũng được nhập học trường này nhờ sự hướng dẫn và giúp đỡ của anh. Cảm ơn anh Lâm. Anh học trên tôi một lớp. Suốt bốn năm bậc đệ nhất cấp chương trình học bằng ngôn ngữ Pháp kể cả các môn sử địa nên rất khó đối với tôi. Bắt đầu lớp đệ Tam (lớp 10) toàn trường mới chuyển qua học hoàn toàn bằng tiếng Việt.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, anh em chúng tôi khôn lớn, anh Lâm tôi vào học trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Phú Thọ rồi sau bốn năm được bổ đi dạy tại trường Trung Học Kỹ Thuật Đà Nẵng một thời gian, rồi  đổi về Sài Gòn dạy trường Cao Thắng. Tôi ra trường Bách Khoa ở Phú Thọ được Bộ  Công Chánh tuyển dụng làm chuyên viên kỹ thuật điện lực, làm việc ngay tại bộ nằm ở đường Pasteur, rồi năm sau khi bộ Công Chánh thành lập Tổng Nha Điện Lực Việt Nam tôi được điều về làm việc ở ngành khai thác điện tại các địa phương. Trong thời gian làm việc ở Quy Nhơn, anh Lâm tôi có viết thư cho tôi nên về Sài Gòn thi vào trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật học làm nghề giáo, dạy chuyên ngành kỹ thuật như anh để đi dạy học cho nhàn hơn. Tôi đã quyết định không rẽ lối vì làm việc ở Tổng nha Điện Lực - cơ quan tự trị của bộ Công chánh và Giao thông lúc bấy giờ được trả lương cao hơn giáo sư tốt nghiệp đại học sư phạm và hơn nữa tôi đang có mối tình đầu với người con gái sư phạm mà bây giờ là nhà tôi. Nay nghĩ lại quyết định của thầy me tôi không đi vùng kinh tế mới Cái Sắn là quyết định đúng đắn như thầy me tôi đã quyết định vào Nam, mặc dù được chính phủ hứa hẹn cấp đất, cấp trâu cầy và hạt giống. Hai cụ muốn anh em chúng tôi quay lưng lại với nghề nông mà đi học chữ hay học nghề kỹ thuật. Tạm ổn định cuộc sống cho gia đình thầy tôi cũng theo bạn bè của ông đi vùng kinh tế mới Cái Sắn một vài tháng để xem đời sống mới ở đó ra sao.  

Hồi đó chính phủ khuyến khích người tị nạn đi vùng kinh tế mới ở Rạch Giá nhưng xem như không được thành công lắm. Đa số bà con, nhất là bà con Công Giáo quây quần lập nghiệp ở các vùng gần Sài Gòn là Xóm Mới,  xa hơn là Bến Kéo, Tây Ninh; Hố Nai, Gia Kiệm, Biên Hòa; Xuân Lộc, Long Khánh.

Nhờ chính phủ Mỹ yểm trợ từ vật chất và kỹ thuật nên kinh tế và chính trị miền Nam được phục hồi nhanh chóng. Có thể nói Miền Nam có được năm năm vàng son, từ cuối năm 1954 cho tới năm 1960 tương đối sống trong thanh bìnhấm no. Cũng có thể một phần do chính quyền cộng sản miền Bắc còn bận tâm dựng lại cơ đồ và chấn chỉnh hàng ngũ dân quân tập kết từ miền Nam ra nên chưa có chính sách quấy phá miền Nam.

***

Hồi tưởng lại quãng thời gian ấy đám học sinh nam chúng tôi đi học mặc áo chemise trắng, quần xanh, còn các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường rất vô tư thoải mái. Các kỳ nghỉ hè bãi trường học sinh nào có nhu cầu, được cấp giấy đi xe lửa miễn phí về quê. Quãng thời gian này người dân muốn đi làm ăn đâu cũng được, đi du lịch đâu cũng được. Sáng sớm có thể lên xe buýt ra Vũng Tầu tắm biển hay đáp chuyến tầu hỏa đêm từ ga Bến Thành, Sài gòn đi Nha Trang, ra Huế hay lên Đà Lạt sương mù ăn bát phở nóng ở Quán Phở Ga nổi tiếng ngay tại ga xe lửa Đà Lạt.

 

Miền Nam thanh bình cho tới năm 1961, các thành phần cộng sản nẳm vùng ở miền Nam không tập kết về miền Bắc năm 1954 được chỉ thị trổi dậy hoạt động trong mọi lãnh vực để quấy phá miền Nam. Cho nên chính quyền miền Nam VNCH buộc phải tăng cường phòng thủ, tự vệ. Chính phủ đã phải gọi động viên thanh niên gia nhập quân đội, hai trường võ bị Đà Lạt và Thủ Đức được thiết lập đào tạo sĩ quan cho quân đội, chính sách ấp chiến lược tập trung dân và chiến dịch Phượng Hoàng tiêu diệt cán bộ cộng sản nằm vùng được áp dụng. Thế là miền Nam chúng tôi lại rơi vào cuộc nội chiến tương tàn do do ý thức hệ khác biệt, miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản dưới sự lãnh đạo của Nga và Tầu; miền Nam theo chủ nghĩa tư bản do Mỹ lãnh đạo.

 

***

 

Tôi sinh ra ở đất Bắc, di cư vào Nam năm 1954. Sau 20 năm sống ở miền Nam, năm 1975 vượt thoát cộng sản ra hải ngoại khi Bắc quân tấn chiếm Sài Gòn. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc 11 năm. Vì thế tôi có hai miền quê hương. Quê hương thứ nhất ở miền Bắc trong tâm tưởng. Quê hương thứ hai ở miền Nam. Quê hương miền Nam mới thực sự chứa đựng nhiều kỷ niệm buồn vui, yêu thương, nhọc nhằn và đau khổ theo cùng với thăng trầm của vận nước.

 

Phải thú nhận Sài Gòn đã để lại trong trí nhớ tôi rất nhiều kỷ niệm và hình ảnh khó quên, cảnh sông nước thanh bình, cảnh chiếc xe thổ mộ chạy lạch cạch trên đường phố. Cũng không quên giọng ca vọng cổ miền Nam trên các làn sóng truyền thanh hàng ngày và các món ăn miền Nam. Đến bây giờ, mỗi lần nghe hát vọng cổ, cải lương hay ăn món thịt kho tầu, tôi lại bồi hồi nhớ lại Saigon của tôi hồi những năm đầu đến đây! Ôi Sài Gòn thương yêu của tuổi học trò, của những buổi cúp cua trốn học dại khờ!

 

Trong một lá thư gửi người con gái Huế tôi yêu lúc ban đầu, tôi đã viết và thỉnh thoảng đến bây giờ người con gái ấy vẫn nhắc lại với bạn bè về lai lịch đời tôi là “miền Bắc sinh ra anh, miền Nam nuôi anh lớn khôn và miền Trung đưa anh vào đời”. Xin cảm ơn em đã đưa anh vào đời và ở bên anh cùng với những năm tháng đổi thay của cuộc sống đến cuối cuộc đời.  

Xin đa tạ thầy mẹ và chú thím Ức đã đưa chúng con đến được bến bờ tự doấm no và hạnh phúcCảm ơn chị Hai, anh Đình và anh Lâm.

Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 17005)
12/10/2016(Xem: 15241)
12/04/2018(Xem: 15861)
06/01/2020(Xem: 6786)
24/08/2018(Xem: 6256)
28/09/2016(Xem: 21262)
27/01/2015(Xem: 18904)
Thể cách nhà sư buộc phật tử chắp tay nghinh đón thế quyền như nghinh đón chư Tăng rất khó coi. Quan chức vui gì khi có những nhà sư xu nịnh trắng trợn
Chùa Bảo Quang, Santa Ana, vừa tổ chức Lễ Đại Tường, nhân ngày giỗ mãn tang cố Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, hôm Thứ Năm, 9 Tháng Sáu, với sự hiện diện của hàng trăm chư tôn đức tăng ni và Phật tử.