Ngày 29-4-1975: Ngày Ra Đi

17/05/20224:17 SA(Xem: 140)
Ngày 29-4-1975: Ngày Ra Đi

HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO
HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI SUỐT ĐỜI KIẾM TÌM TỰ DO
Nguyễn Văn Hòa

CHƯƠNG 4
VƯỢT THOÁT CỘNG SẢN NĂM 1975
 

NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 1975:
NGÀY RA ĐI

 

Hình như có một nỗi sợ hãi tiềm ẩn in sâu trong tiềm thức, như có một ma lực dẫn dắt và như có tiếng gọi từ một cõi nào mông lung xa thẳm, tôi không cưỡng được phải lên đường ra đi. Cư xá Thanh Đa như còn ngái ngủ, nằm im lìm trong nắng sớm ban mai sau một đêm dài “mưa gió bão bùng”. Nhà tôi ôm thằng con út tuổi chưa tròn năm vào lòng nhìn tôi như tha thiết nói chàng ở lại, nửa như xót xa nói chàng ra đi.

Tôi lặng lẽ lên xe theo bạn ra đi để lại những giọt lệ long lanh của nàng chảy xuống. Hôm ấy là buổi sáng sớm ngày 29 tháng 4 năm 1975.
***
Chiếc xe Honda mầu đen của Tiêng, người bạn thân nhất của tôi đến đón tôi rời nhanh khu cư xá Thanh Đa, lao mình vào Sài Gòn mù mịt hoang vắng, sau một đêm trường nghe tiếng đại pháo lẫn hỏa tiễn của Bắc quân bắn phá phi trường Tân Sơn Nhất.

Sáng nay, khí trời tương đối mát mẻ, trên không vẫn còn nhiều mây đen. Xe chạy qua ngã tư Hàng Xanh, hướng về Sài Gòn, hình như thành phố đã bị bỏ ngỏ, không còn thấy bóng dáng nào của cảnh sát và quân cảnh giữ an ninh trật tự. Tiêng và tôi, cả hai không nói ra nhưng có lẽ có cùng một cảm giác sờ sợ. Hai bên đường xe chúng tôi chạy qua, dân chúng ngơ ngác hoang mang, không biết chuyện gì đã xảy ra vào đêm qua, khi pháo nổ, hoả tiễn rơi vào phi trường Tân Sơn Nhất, và khi từng đoàn máy bay các loại bay di tản sang Thái Lan như đàn chim vỡ tổ.

Sài gòn những ngày gần cuối tháng Tư năm 1975 như cảnh chợ chiều, đầy hỗn loạn, như rắn mất đầu. Người dân hoang mang lo sợ về một tương lai bất định mờ mịt. Các quan chức chính quyền cao cấp, các bộ trưởng, các tướng tá quân đội có điều kiện thì mạnh ai nấy đã tìm đường di tản sớm, bằng mọi cách.

Hướng đi phi trường Tân Sơn Nhất, trên đường Công Lý, các xe lớn nhỏ, nổi bật là từng đoàn xe buýt sơn mầu olive của DAO (văn phòng tùy viên quân sự Hoa Kỳ), chen nhau chạy hối hả. Khi đến gần con đường dẫn vào nhà thầy me tôi, chúng tôi thấy một chiếc máy bay trực thăng bay thấp như muốn đáp xuống điểm hẹn để bốc người. Tôi nói với Tiêng đây có thể là một điểm hẹn trong nhiều điểm và nên ghé vào nhà thầy me tôi ở gần đó  báo tin thành phố đã tự thất thủ và luôn tiện gửi xe ở đó.

Khi được báo tin thành phố đã bị bỏ ngỏ, quân Cộng Sản miền Bắc đã bao vây và đang trực chỉ tiến vào Sài Gòn, cả đại gia đình của tôi đều ngạc nhiên sửng sốt, anh Lâm kế tôi hình như vừa mới ngủ dậy, nhất định không tin. Thế nhưng hai cụ thân sinh, chị Hai tôi và cháu Hùng con trai lớn của chị cũng bán tín bán nghi nhưng cũng nghe lời tôi ra đầu ngõ nơi có bãi sân rộng của hãng Ba Sam là điểm hẹn bãi đáp trực thăng để hy vọng lên được máy bay. Tiêng và tôi cũng hy vọng, ai ai cũng vậy, và vì quá đông người nên máy bay chỉ bay xà xà không dám đáp xuống.

Tôi thẫn thờ đưa hai cụ thân sinh trở về nhà và luôn tiện xin chị tôi một ít xăng để tiếp tục tìm đường thoát khỏi Việt NamChúng tôi đi đến những người quen thân để hỏi thăm phương tiệndò la tin tức nhưng đều được trả lời là chủ nhà đi vắng.
****
Trời Sài Gòn buổi trưa, thành phố không nắng lắm, nhưng oi bức nồng nàn, hình như cả thành phố đang lên cơn sốt và hai chúng tôi lái xe chạy miên man khắp các con đường. Hầu như con đường nào cũng đầy ắp người và xe cộ đổ ra từng đoàn hỗn độn, từ mọi ngóc ngách của thành phố, hớt hãi như những con vật tội nghiệp tìm đường thoát khỏi trong cơn cháy rừng. Xe tăng của Bắc quân đang tiến vào thành phố, mọi người đều lo sợ cái chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho họ và gia đình họ.

Hướng ra bến Bạch Đằng xe cô kẹt cứng. Trên bến đầy cả người, chen lấn nhau leo lên một vài con tầu đang bỏ neo. Ai cũng tìm đường vượt thoát cộng sản, tránh bị gông cùm và nỗi chết.  Tôi nhìn thấy những nét mặt người đầy sợ hãi.  Tiếng khóc la của trẻ nhỏ. Tiếng chửi thề, tiếng người la hét, chen lấn, đánh đập và đạp dẫm lên nhau.  Tất cả giống như những con vụ mất thăng bằng không còn tự chủ quay được, lảo đảo rồi rơi lăn vào nỗi mất mát đầy tuyệt vọng.
 
Chúng tôi tiếp tục đi qua đường Tự Do, hướng nhà thờ Đức Bà rồi quẹo phải ra đường Thống Nhất, đến khu tòa đại sứ Mỹ, dân chúng dày đặc, chen chúc nhau leo tường vào bên trong tìm đường thoát. Họ nghĩ rằng tòa đại sứ Mỹ là cái phao cứu nạn, cứu họ thoát chết trước cơn đại hồng thủy.
 
blankNhìn cảnh tượng di tản, cảnh chen lấn và xô đẩy của những người đi tìm chốn an toàn tị nạn, diễn ra giữa cơn hoảng loạn, trong nỗi tuyệt vọng và kinh hoàng của người dân miền Nam trước viễn ảnh đen tối là nếu không thoát khỏi Sài gòn, họ sẽ bị bỏ lại sau bức màn sắt của một chế độ cộng sản độc tài toàn trị. Đa số những người vào được khuôn viên tòa đại sứ là những nhân vật cao cấp trong quân đội và chính quyền có nhiều liên hệ mật thiết với người Mỹ và thân nhân của những người này.
 
Thấy không thể nào tới phiên mình, chúng tôi tiếp tục đi như là đi trong cơn mê sảng. Radio của đài phát thanh FM quân đội Hoa Kỳ cứ lập đi lập lại tin tức thời tiết Sài Gòn nóng gia tăng cùng với giai điệu ca khúc White Christmas do Bing Crosby trình bày mà sau này chúng tôi mới biết đó là mật hiệu di tản khẩn cấp các kiều dân Mỹ khỏi Sài Gòn.
Tiêng đưa tôi về căn nhà chính của tôi ở cư xá Nguyễn Trung Trực nằm trên đường Trần Quốc Toản để báo tin cho bà cụ nhạc mẫu và cũng luôn tiện để tôi thay bộ quân phục hầu dễ ra vào các căn cứ quân sự trong lúc này. Sau đó chúng tôi về nhà Tiêng để Tiêng gặp vợ. Lan rất bình tĩnh như không có chuyện gì xảy ra và còn nói: “thôi các ông cứ đi”. Cảm ơn chị Lan và Tiêng, nhờ câu nói này mà chúng tôi có thêm can đảm tìm đường ra đi và rồi để hai gia đình chúng tôi có được ngày đoàn viên sáu năm sau trên đất Mỹ.

Từ đường Lê Văn Duyệt bên Gia Định, qua cầu Bông, chúng tôi đi về hướng sông Sài Gòn, đến Tân Cảng rồi rẽ vào căn cứ hải quân Cửu Long thăm người bạn đang làm cơ khí trưởng một chiến hạm. Tiêng và tôi lên chiếc trục lôi hạm HQ 116 đang bỏ neo để tìm Hùng thì gặp trung uý Việt phó hạm trưởng.

blankTrong lúc bàn luận tình hình đất nước với vợ chồng anh thì căn cứ hải quân Cửu Long nhận được lệnh báo động từ bộ tư lệnh hạm đội Sài Gòn thuộc bộ tư lệnh hải quân, các chiến hạm phải khẩn cấp nhổ neo tách bến ra giữa dòng sông lập đội hình sẵn sàng di chuyển khi có lệnh.

Tôi còn nhớ, lúc còn ở trên chiến hạm, Tiêng ngỏ ý mượn chiếc xe Jeep của anh Việt về đón vợ con, nhưng không hiểu vì không có xe (xe của hạm trưởng đi đón vợ con rồi) hay vì lo sợ khi rời khỏi chiến hạm và căn cứ Cửu Long sẽ không thể nào trở lại tầu được nên ý định không thành.
Phần tôi, quả thực lúc bấy giờ, hình như đầu óc tôi trống không- totally blank, tôi bị thụ động hoàn toàn trước bối cảnh quân Cộng Sản đang tiến vào thủ đô, trước cảm giác sợ hãi cộng sản như một cơn dịch bệnh khủng khiếp lan tràn từ cuộc di cư vĩ đại 1954 theo gia đình vào Nam, đến cuộc di tản bi thảm từ Pleiku xuống vùng duyên hải, từ Quảng Trị, Huế Đà Nẵng vào Sài Gòn; và trước nỗi ngơ ngác bàng hoàng đến sợ hãi của dân chúng mà tôi đã chứng kiến sáng nay tại bến Bạch Đằng và trước tòa đại sứ Mỹ.

Không hiểu vì quá sợ hãi cộng sản hay là có một móng ý thầm kín nào đó tận thâm sâu nơi tâm hồn tôi mà cứ thôi thúc tôi phải ra đi tìm tự do, phải rời bỏ Sài Gòn. Hình ảnh thân yêu của vợ con tôi, hình ảnh hai cụ thân sinh ra tôi, bà cụ nhạc mẫu; tất cả đều không đủ mạnh để níu kéo tôi ở lại, hình như có một lực vô hình nào đó hối thúc tôi, đẩy tôi đi, đi thật xa, đi ra khỏi vùng lửa đạn, ra khỏi vòm trời Việt Nam đầy oan nghiệt, đầy oán thù mà cho đến bây giờ, ngồi bình yên trong thư viện đại học UM ở Hoa Kỳ, tôi mới thấy rằng đó chính là nghiệp lực đã dẫn dắt, đã đưa đẩy tôi đi. Gió nghiệp đã thổi tôi đi ra khỏi vùng trời Việt Nam.

Đúng 7 giờ chiều, tất cả các chiến hạm được lệnh khởi hành di chuyển hướng Côn Sơn, sau khi nghe nhật lệnh di tản của vị tư lệnh hạm đội Sài Gòn mà tôi nghe được khi ở trên đài chỉ huy chiến hạm, “ai muốn đi thì đi, ai không muốn đi thì cho họ tự do trở về nhà”. Trong lúc di chuyển, qua hệ thống truyền tin trên đài chỉ huy chiến hạm, tôi nghe được các lệnh trái chiều của hai vị chỉ huy cao cấp lúc đó từ bộ tư lệnh hải quân, có tiếng ra lệnh không được di chuyển, chờ lệnh, rồi lại  có tiếng ra lệnh cho đoàn tầu cứ tiếp tục di chuyển theo kế họach. Phó Hạm Trường HQ-116, Trung Úy Việt thay quyền hạm trưởng vắng mặt quyết định di chuyển theo kế hoạch đã dự định. (Có lẽ Thiếu tá hạm trưởng đang ở một chiến hạm khác hay về nhà đón vợ con chưa kịp trở lại)
 
***
Tôi đứng một mình cô đơn trên boong tầu, nhìn thành phố Sài Gòn thân yêu từ từ lùi lại phía sau, gió sông thổi lồng lộng trên mái tóc, quần áo bay phần phật. Trời đã tối hẳn mà thành phố vẫn chưa thấy lên đèn, chỉ thấy những đám cháy sáng đỏ rực bốc lên từ bốn góc trời, những lửa đỏ vẫn dồn dập chụp xuống, kho xăng Nhà Bè trắng xóa, lấp loáng dưới ánh lửa đang cuồn cuộn bốc cao, những nỗi chết vẫn túa vào. Tiếng súng đại pháo hỏa tiễn từ hướng phi trường vọng về. Ánh lửa bập bùng từ phía sau nhà thờ Đức Bà, nơi có tòa đại sứ Mỹ.

Sài Gòn nằm đó, Sài Gòn đang quằn quại đau thương, Sài Gòn của tôi, của những chiều thứ Bảy bên người yêu trên hè phố Bonard, đi dưới những hàng me già rợp bóng, Sài Gòn của bạn bè, của những tháng ngày trẻ dại cúp cua trốn học vào rạp hát Vĩnh Lợi hay Lê Lợi xem phim. Sài Gòn có gia đình cha mẹ anh em. Sài Gòn bây giờ đang oằn lên những nét thương đau chết chóc xa lìa…

Trên nền trời u ám và hình như mưa rơi lất phất. Tầu từ từ xa dần bến Bạch Đằng – nơi mà hai mươi năm về trước, thầy me tôi đã dẫn tôi xuống bộ sau một cuộc hải hành đi tìm tự do từ Hải Phòng vào Nam. Thật không ngờ, điểm đến của hai mươi năm về trước lại là điểm khởi hành không bờ bến của hai mươi năm sau. Lần đó thầy me tôi trốn chạy cộng sản mang tôi đi trong đêm tối tìm tự do. Lần này tự tôi một mình đi tìm đường thoát. Đi kiếm tìm tự do. Đi đâu, tôi không hình dung được, nhưng phải đi.

Con tầu lướt nhẹ và hình ảnh Sài Gòn thân yêu mờ dần trong sương đêm. Thôi giã từ Sài Gòn, giã từ em và các con thân yêu, giã từ những ngày xưa thân ái.

Tôi vẫn đứng trên boong tầu suốt đêm, nhìn con nước đen, nhìn bầu trời đầy sao. Lần thứ hai trong đời, tôi được đi trên một chiếc tầu biển ra xa bờ, chung quanh tôi im lìm, chỉ còn nghe tiếng sóng vỗ, chỉ còn nghe tiếng gió thổi, tôi tự hỏi không biết đây là sự sống hay nỗi chết, không biết đây là thực hay mơ. Mọi sự việc xảy ra như một thoáng giây, như mờ như ảo.

Trên bầu trời đầy sao, tự nhiên đến lúc này tôi mới thấm thía buồn, thấm thía nỗi cô đơn, tôi nhớ đến em, em bây giờ đang khắc khoải ôm con mỏi mòn ngóng trông. Thôi còn đâu tay gối ấm nồng, còn đâu đưa đón cổng trường, còn đâu những ngày trời nắng, những chiều mưa và những mùa trăng trên bãi biển Qui Nhơn. Chưa một lần trong đời tôi nhỏ lệ, thế mà đêm nay tôi thấy nước mắt tự nhiên ứa ra nhạt nhoà.

Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 17005)
12/10/2016(Xem: 15241)
12/04/2018(Xem: 15861)
06/01/2020(Xem: 6786)
24/08/2018(Xem: 6256)
28/09/2016(Xem: 21262)
27/01/2015(Xem: 18904)
Thể cách nhà sư buộc phật tử chắp tay nghinh đón thế quyền như nghinh đón chư Tăng rất khó coi. Quan chức vui gì khi có những nhà sư xu nịnh trắng trợn
Chùa Bảo Quang, Santa Ana, vừa tổ chức Lễ Đại Tường, nhân ngày giỗ mãn tang cố Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, hôm Thứ Năm, 9 Tháng Sáu, với sự hiện diện của hàng trăm chư tôn đức tăng ni và Phật tử.