Nhìn lại 30 năm cuộc chiến

12/06/20224:42 CH(Xem: 73)
Nhìn lại 30 năm cuộc chiến

HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO
HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI SUỐT ĐỜI KIẾM TÌM TỰ DO
Nguyễn Văn Hòa



NHÌN LẠI 30 NĂM CUỘC CHIẾN
  

Tôi sinh ra tại miền Bắc Việt Nam vào mủa Thu năm 1943, theo cha mẹ di cư vào miền Nam tìm tự do năm 1954 lúc tôi 11 tuổi và vượt thoát miền Nam ngày 29 tháng 4 năm 1975 qua Hoa Kỳ.

Được sống trong bầu không khí tự do cởi mở không bị gò bó trong bất cứ một luồng tư tưởngchính kiến nào trong gần nửa thế kỷ. Do đó khi tôi nhìn lại lịch sử hay bất cứ sự việc gì không bằng tình cảm mà bắng lý trí, không nhận xét một chiều mà đa chiều với nhiều cái nhìn khác nhau.

Lịch sử ghi nhận rằng cuộc chiến Việt Nam được xem như chính thức bắt đầu từ sau sự đổ vỡ của hội nghị Fontainebleau 1946, Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh tuyên bố toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946 để chống thực dân Pháp tái chiếm sau khi quân Nhật đầu hàng Đồng minh, và thế là cuộc chiến kéo dài thêm 10 năm với sự can thiệp của nước ngoài, khởi sự từ sự viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp để Pháp tiếp tục tham chiến tại Việt Nam. Và cuộc chiến dai dẳng này chính thức kết thúc vào ngày 30 tháng Tư năm 1975 khi Bắc quân mở cuộc tổng tấn công miền Nam.

Phải công bình mà nói rằng cuộc chiến ban đầu chống thực dân Pháp đô hộ là cuộc chiến có chính nghĩa. Đó là cuộc chiến giữa một dân tộc nhỏ bé bị trị chống lại một nước lớn thống trị. Cuộc chiến đó bắt đầu khi tiếng đại bác của tướng thực dân Pháp Rigault de Genouilly liên quân với Tây Ban Nha bắn vào thương cảng Đà Nẵng sáng ngày 31 tháng 8 năm 1859 chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược cho đến khi Pháp rút ra khỏi Việt Nam vào năm 1954 bởi hiệp định Geneve.

Sau 30 năm chiến tranh chết chóc và tang thương, số người Việt Nam chúng tôi ở cả hai bên thiệt mạng lên tới ba triệu người. Đất nước và tài sản của dân chúng cả hai miền đều bị chiến tranh tàn phá đến mức độ chưa từng thấy trong lịch sử, cho đến nay vẫn còn những di hại của bom, mìn chưa nổ và chất thuốc khai quang.

 

Đối với riệng tôi, măc dầu cuộc chiến ban đầu là cuộc chiến chống thực dân Pháp đầy lý tưởngchính nghĩa, nhưng tôi nghĩ rằng cuộc chiến tranh 30 năm này, không gì khác hơn là cuộc nội chiến tương tàn giữa những người Việt Nam với nhau trước là tranh dành quyền lực giữa những người lãnh đạo các tổ chức chính trị, sau là do ý thức hệ khác biệt, ý thức hệ quốc gia và ý thức hệ cộng sản.

Khởi đi từ những năm thập niên 1930, những người Việt Nam yêu nước thành lập các đảng chính trị kháng chiến chống thực dân Pháp như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng Sản Việt Nam... Tất cả đều có chung một mục đích là chống thực dân Pháp, giành lại độc lập cho xứ xở. Nhiều nhà cách mạngquốc gia, cộng sản hay không cộng sản, trí thức hay lao động thời đó, đều đã bị chính quyền Pháp bắt bớ, tù đày và sát hại. Chỉ đến khi tranh giành quyền lãnh đạo dân tộc thì hai bên mới lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn và bị các nước lớn sử dụng trong một cuộc chiến tranh ý thức hệ.

Ngày 20-7-1954, Hiệp định đình chiến Genève được ký kết. Theo đó, Việt Nam sẽ tạm thời bị chia cắt bằng ranh giới là vĩ tuyến 17 để quân đội hai bên tập kết. Quân đội Pháp sẽ rút khỏi Việt Nam và trao quyền quyết định vận mệnh dân tộc cho người Việt Nam. Một năm sau đó sẽ tiến tới việc giao thương kinh tế và một năm sau nữa sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thế nhưng trình tự đó không bao giờ xảy ra vì chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ khước từ do đã không ký kết hiệp định Geneve.

 

Thật bất hạnh cho Việt Nam, số phận của quê hương tôi đã được an bài trên bàn hội nghị, bởi các nước lớn trên thế giới hay cũng có thể đó là nghiệp quả của cả một dân tộc phải gánh chịu, khi đất nước chúng tôi bị rơi vào thế gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ trên toàn thế giới, giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản hình thành sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Người Việt Nam chúng tôi, dù muốn hay dù không muốn cũng đều bị cuốn hút vào trong cuộc đấu tranh ý thức hệ này. Miền Bắc Việt Nam đứng về phe xã hội chủ nghĩa do Trung Quốc và Liên Xô lãnh đạo, mà chủ yếu là Trung Quốc. Miền Nam Việt Nam đứng về phe tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Hoa Kỳ.

Mặc dầu cuộc chiến Việt Nam là cuộc nội chiến ngay từ những năm trước thập niên 1940 nhưng về sau nó được tiếp tay bởi Hoa Kỳ đến hai lần. Hoa kỳ đã viện trợ quân sự cho thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến mà không đáp ứng lời cầu cứu khẩn thiết của ông Hồ Chí Minh và ông Bảo Đại lúc đó làm quốc trưởng, muốn việt Nam được tự trị và độc lập. Thế là đất nước tôi lại tiếp tục bị bom đạn đánh phá nhà tan cửa nát thêm 10 năm nữa cho đến ngày 20 tháng 7 năm 1954 mới chấm dứt bởi hiệp định đình chiến Geneve chia đôi đất nước. Có người cho rằng thời kỳ này vẫn là thời kỳ kháng chiến chống Pháp và 20 năm tiếp theo đó là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Nhưng cũng có người cho rằng cuộc nội chiến chỉ xảy ra khi đất nước bị chia đôi vào năm 1954.

 

Nghĩ lại, nếu như Hoa Kỳ hồi đó không nghe lời thuyết phục của chính phủ Pháp mà chuyển qua giúp đỡ cho Việt Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội) trong đó có những thành phần yêu nước thật sự muốn Việt Nam được độc lập tự trị và được sự giúp đỡ của Mỹ, thì biết đâu tình trạng hiện thời của một nước Việt Nam lẽ ra đã có tự dodân chủ và tiến bộ từ đó. Và đâu có cảnh người dân phải tháo chạy kinh hoàng đến hai lần “một lần cha bỏ xứ năm 1954, và một lần con bỏ nước năm 1975”.

Rồi sau hội nghị Geneve 1954, Mỹ chính thức can thiệp vào chính quyền miền Nam Việt Nam một cách thô bạo. Mỹ muốn dùng miền Nam Việt Nam làm con đê để ngăn chặn làn sóng cộng sản lan tràn xuống phía Nam, đặc biệt là vùng Đông Nam Á theo học thuyết Domino, để rồi 20 năm sau, sau khi đã bắt tay được với Trung Quốc vào năm 1972, Mỹ đã bỏ rơi miền Nam Việt Nam cho miền Bắc Việt Nam vì quyền lợi kinh tế và chính trị của Mỹ và Trung Quốc

Ngày nay, người Việt Nam cộng sản và không cộng sản đều đã có nhiều kinh nghiệm về tình bạn hợp tác với các nước anh em của mình để thấy rằng đồng minh anh em nào cũng chỉ ủng hộ một nước anh em bạn chừng nào sự ủng hộ ấy phù hợp với lợi ích riêng của họ chứ không phải vì cùng theo đuổi một lý tưởng chung. Chính Thủ tướng Anh Winston Churchill từng có câu nói để đời: “Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Đó cũng là chính sách cố hữu của Hoa Kỳ.

Cổ nhân Đông phương cũng có câu “Thương hải tang điền” đại ý nói về sự thay đổi khó lường của cuộc đời. Còn nhà triết học Tây phương Heraclitus đã từng khẳng định “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” để nói về dòng đời luôn trôi chảy theo những biến thiên của cuộc sống. Cuộc sống vô thường, luôn chứa đựng những điều bất ổn, còn bước đi của lịch sử thì luôn song hành với nhịp điệu của thời gian. Do đó, mọi mối liên hệ giữ người với người, giữa quốc gia với quốc gia chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định nào đó, con người cần phải học cách thay đổi để thích nghi và để mối quan hệ giữa con người với con người sẽ được biến thiên theo dòng chảy của cuộc đời.

Thật đau khổ cho dân tộc Việt Nam, cho quê hương thân yêu của tôi, đã không thích nghi được với hoàn cảnh, đã không vận dụng mọi nỗ lực để tự quyết, tự chủ, tự cường, để đến nỗi bị các nước lớn bắt nạt, đàn áp và bị ép buộc phải quy hàng theo ước muốn của họ.

Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 16988)
12/10/2016(Xem: 15202)
12/04/2018(Xem: 15830)
06/01/2020(Xem: 6766)
24/08/2018(Xem: 6240)
28/09/2016(Xem: 21241)
27/01/2015(Xem: 18876)
Thể cách nhà sư buộc phật tử chắp tay nghinh đón thế quyền như nghinh đón chư Tăng rất khó coi. Quan chức vui gì khi có những nhà sư xu nịnh trắng trợn
Chùa Bảo Quang, Santa Ana, vừa tổ chức Lễ Đại Tường, nhân ngày giỗ mãn tang cố Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, hôm Thứ Năm, 9 Tháng Sáu, với sự hiện diện của hàng trăm chư tôn đức tăng ni và Phật tử.