Chương 3: Nội dung Pháp 12 Duyên Khởi..

08/07/20192:57 SA(Xem: 703)
Chương 3: Nội dung Pháp 12 Duyên Khởi..

PHẬT ĐẢN 2643 – PHẬT LỊCH 2563
TỲ KHEO THÍCH THẮNG GIẢI
NIỆM ĐỊNH TUỆ HỮU LẬU
VÀ  NIỆM ĐỊNH TUỆ  VÔ LẬU
ẤN HÀNH MÙA PHẬT ĐẢN 2019 MELBOURNE - ÚC CHÂU
 

 CHƯƠNG 3

NỘI DUNG PHÁP 12 DUYÊN KHỞI

Khi nghiên cứu Kinh Tạp A-hàm, Trung A-hàm, Trường A-hàmTăng nhất A-hàm, thì chúng ta nhận thấy rằng, có rất nhiều bản kinh Đức Phật dạy về pháp 12 duyên khởi. Ngài dạy rằng: “Do Vô minh có mặt nên Hành có mặt, do duyên Vô minh nên Hành sinh khởi”.

Như vậy, do duyên Vô minh mà Hành sinh khởi, do duyên Hành mà Thức sinh khởi… cho đến duyên Ái, Thủ, Hữu mà Sinh, Lão-Tử sinh khởi. Đó là một khối ưu bi, khổ não của năm thủ uẩn tập khởi. Do quán sát hai mặt lưu chuyểnhoàn diệt của pháp 12 duyên khởi này mà các bậc Thánh nhân đã giác ngộgiải thoát.

1.  Vô minh: Đó là không thấy rõ Bốn Thánh đế; không thấy rõ sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, khổ và phi ngã.

2.  Hành: Đó là thân hành, khẩu hành và ý hành.

3. Thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thứcý thức. Tuy nhiên, thức ở trong pháp 12 duyên khởi này là thức A-lại-da (thức thứ tám).

4. Danh sắc: Sắc là bốn đại và pháp gì do bốn đại tạo thành đều gọi là sắc. Danh là thọ, tưởng, hành và thức.

5. Lục nhập hay lục xứ: Đó là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứý xứ.

Xứ: Đó là sanh xuất tâm, tâm sở, là nghĩa của xứ. Nghĩa là nó làm phát sinh tác dụng của tâm và tâm sở. (Câu-xá luận)

6. Xúc: Đó là sự tam hòa giữa căn, cảnh và thức. Điểm tam hòa giữa căn, cảnh và thức ấy là xúc.

7. Thọ: Thọ gồm có khổ thọ, lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ.

8. Ái: Đó là ái sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp hay ái sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Hoặc Dục ái, Sắc áiVô sắc ái.
            9. Thủ: Là bám chặt hay ôm chặt bất cứ thứ gì mà quá trình do ái dẫn sinh. Thủ có bốn loại: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủngã ngữ thủ.

Trong kiến thủ lại có bốn loại: Thân kiến thủ, biên kiến thủ, tà kiến thủ và thủ kiến thủ.

10. Hữu: Theo Trường bộTương ưng bộ thì hữu có ba loại: Dục hữu, Sắc hữuVô sắc hữu.

- Dục hữu: Đó là cái đang trở thành để hiện hữuDục giới.

- Sắc hữu: Đó là cái đang trở thành để hiện hữuSắc giới.

- Vô sắc hữu: Đó là cái đang trở thành để hiện hữuVô sắc giới.

 

PHÁP UẨN TÚC LUẬN giải thích Hữu như sau:

Nghiệp dẫn đến hậu hữu gọi là Hữu. Như Thế Tôn nói với A-nan-đà, nghiệp chiêu cảm đời sau gọi là Hữu.

Chính Hữu là nghiệp nên gọi là nghiệp hữu. Nghĩa là nghiệp hữu làm phát khởi khuynh hướng tồn tại đời sau, đây chính là nói tùy miên làm căn bản của hữu, nó làm phát sinh nghiệp để dẫn sinh hậu hữu.

(Hòa Thượng Tuệ Sỹ dịch)

 

11. Sinh: Cái gì thuộc các loại chúng sinh bị sinh, xuất sinh, xuất hiện các uẩn thì gọi là sinh.

12.  Lão-tử: Già là quá trình biến đổi của cơ thể. Chết là thọ mạng, hơi ấm và nghiệp thức vắng mặt, các uẩn bị hư hỏng.

Đức Phật dạy quán lý 12 duyên khởi bằng hai cách:

Quán lưu chuyển: Là cách quán theo chiều thuận, nghĩa là do sự quán chiếu mà thấy rằng do cái này sinh nên cái kia sinh, vì vô minh sinh khởi nên hành sinh khởi… sinh, lão, tử, ưu, bi và khổ não sinh khởi.

Quán hoàn diệt: Là cách quán mà thấy rằng do cái này diệt nên cái kia diệt, vì vô minh diệt nên hành diệt… sinh, lão, tử, ưu, bi và khổ não diệt.

Mười hai chi phần duyên khởi này đã được trường phái Hữu bộ trong Phật giáo phối hợp tương ứng với tam thế lưỡng trùng nhân quả như sau:
          - Vô minh và hành thuộc nhân quá khứ.

- Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ là quả hiện tại.

- Ái, thủ và hữu là nhân hiện tại.

- Sinh, lão-tử là quả vị lai.

Luận Thành duy thức phân 12 chi duyên khởi thành bốn nhóm:

  1. Chi năng dẫn

Vô minh và hành phát dẫn chủng tử của 5 chi quả bắt đầu từ thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Vô minh ở đây chỉ đề cập đến khía cạnh phát động nghiệp thiện ác dẫn đến đời sau. Cái được phát động bởi nó gọi là hành.

  1. Chi sở dẫn

Năm loại chủng tử trong bản thức, trực tiếp sản

sinh quả dị thục tương lai bao gồm thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Chúng là những cái được dẫn phát bởi hai chi trước.

  1. Chi năng sinh

Đó là ái, thủ và hữu; bởi vì chúng hình thành

nên sinh và già chết trong tương lai gần. Do mê mờ về quả dị thục bên trong, khiến ngu muội phát động các nghiệp dẫn đến hậu hữu. Đó là điều kiện để dẫn phát chủng tử của năm quả trong giai đoạn sinh và già chết trong tương lai.

Lại nữa, do mê mờ đối với quả tăng thượng bên ngoài, khiến ngu muội duyên vào thọ ngoại cảnhphát khởi tham ái. Duyên ái nên lại phát sanh ra bốn thủ.

  1. Chi sở sinh

Sinh và già chết là cái được sản sinh gần nhất của ái, thủ và hữu. Tất cả những gì trong khoảng từ trung hữu đến bản hữu mà chưa bị suy biến, thảy đều thuộc Chi sở sinh. Từ giai đoạn có suy biến về sau được gọi chung là già. Cho đến khi thân hoại mạng chung mới gọi là chết.

Trong các kinh và luận, Đức Phật và các bậc Thánh nhân thường dạy rằng: Đối với pháp 12 duyên khởi này, chúng ta chỉ cần đoạn trừ một chi phần thì mười một chi phần còn lại của pháp 12 duyên khởi sẽ bị đoạn trừ. Vì pháp duyên khởi là như vậy: Cái này sinh khởi nên cái kia sinh khởi, cái này diệt nên cái kia diệt. Cho nên chúng ta chỉ cần dụng tâm tu tập để đoạn trừ một chi phần vô minh, hoặc hành, hoặc ái, hoặc thủ thì mười một chi phần còn lại sẽ bị đoạn trừ. Đó là đoạn trừ toàn bộ năm thủ uẩn. Năm thủ uẩn được đoạn trừ cũng đồng nghĩa là Khổ đế, Tập đế hoàn toàn được đoạn trừ.

Vậy thì làm thế nào để đoạn trừ được nhân hiện tại là ái, thủ và hữu, hoặc chỉ cần đoạn trừ một chi phần vô minh hoặc hành?

Chúng ta muốn đoạn trừ ái, thủ và hữu hay vô minh thì đầu tiên phải lãnh hội được minh (tâm không sinh diệt) và an trú vào minh để tu tập, đoạn trừ vô minh, ái, thủ và hữu.

Như vậy, bằng phương pháp nào chúng ta có thể lãnh hội được minh và an trú vào minh để tu tập đoạn trừ vô minh, ái, thủ và hữu?

Mỗi khi vô minh, ái, thủ và hữu tập khởi vin bám ở nơi sắc, thọ, tưởng, hành và thức hay sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, ngay chính lúc đó ta chỉ an trú trong trí tuệ để nhận biết (minh) vô minh, ái, thủ và hữu đang tập khởi đúng như thật vậy, không tác ý sinh khởi bất cứ ý niệm phân biệt gì. Do ta luôn an trú vào “minh” để nhận biết sự tập khởi của vô minh, ái, thủ và hữu như thế nên vô minh, ái, thủ và hữu được đoạn trừ. Do vô minh, ái, thủ và hữu được đoạn trừ nên chỉ còn lại “minh” (tâm không sinh diệt).

Lại nữa, khi vô minh, ái, thủ và hữu được đoạn trừ, ấy là toàn bộ 12 chi phần duyên khởi được đoạn trừ. Vì toàn bộ 12 chi phần duyên khởi được đoạn trừ nên Khổ đếTập đế cũng được đoạn trừ. Do Khổ đếTập đế được đoạn trừ nên hành giả chấm dứt dòng lưu chuyển sinh tử.

Trong Trung A-hàm, Ngài Ma-ha Câu-hy-la hỏi Ngài Xá-lợi-phất rằng: “Khi vô minh đã được đoạn trừ rồi thì có còn phải làm điều gì nữa hay không?” Ngài Xá-lợi-phất đáp: “Khi vô minh đã đoạn trừ sạch rồi thì minh sinh, vì minh đã sinh thì đâu còn phải làm điều gì nữa!”.

Khi vô minh sinh khởi thì hành, thức… cho đến sinh, lão-tử tập khởi, đó chính là dòng lưu chuyển sinh tử khổ đau sinh khởi. Khi minh hiện hữu (chân tâm không sinh diệt) thì vô minh, hành, thức... cho đến sinh, lão-tử sẽ vắng mặt, ấy là con đường hoàn diệt.

Tựu trung lại, từ việc phân tích, lý giải về mối tương quan giữa minh và vô minh, có sự ảnh hưởng tất yếu đến con đường sinh khởi của dòng lưu chuyển và dòng hoàn diệt của 12 chi phần nhân duyên. Chúng ta có thể đúc kết lại một cách tổng quát, ngắn gọn hơn về ý nghĩa này như sau: Bởi vì vô minh sinh khởi nên hành, thức… cho đến sinh, lão-tử tập khởi, đó là Khổ đếTập đế. Khi minh sinh nên vô minh, hành, thức… cho đến sinh, lão-tử diệt, đó là Đạo đếDiệt đế.

Tạo bài viết
02/10/2012(Xem: 42659)
01/04/2017(Xem: 6892)