Chương 2

28/02/20192:01 CH(Xem: 346)
Chương 2

TRÊN MÀN HÌNH CHÂN NHƯ
DIỄN CUỘC LUÂN HỒI
Nhụy Nguyên

 

CHƯƠNG II

 

Những vọng tưởng chúng luôn ở trong ta, chúng hãnh diện bởi sự hiện diện đầy quyền lực trong ta. Chúng đùa giỡn não hại ta một cách thầm lặng như sự ăn mòn, như loài mối chuyên nghiền rỗng cột kèo mà vẫn giữ nguyên bề ngoài bóng loáng

Nhưng vọng tưởng chướng ngại chân tâm hay chính sự đối kháng giữa các vọng tưởng?

Dĩ nhiên có một sự thật khá nghiệt ngã, là một khi vọng niệm khởi lên mà ta thấy đó chính là vọng niệm, thì bạn và tôi chớ ảo vọng tự huyễn là hư giả, mà cùng quay về tu lại từ nền tảng của Giới, kết hợp lễ lạy tụng niệm, tu lại từ Chỉ (rồi mới đến Quán), từ căn nền khởi tâm cung kính vạn pháp. Tâm lý những hành giả sớm tiếp nhập Bát Nhã dễ bỏ qua căn nền, khiến sự xây nhà trở nên ảo tưởng. Cái sự ảo tưởng ở đây không có gì xấu, mà nó mang hàm nghĩa chớ ảo tưởng trong đời này vượt khỏi luân hồi, và đương nhiên những gì chúng ta có về Phật pháp kiếp này sẽ xếp vào kho đợi một kiếp nào đó thuận duyên hơn, biết thành kính hơn trước hết là những chủng tử quý báu vô ngần trong ta không dễ bật mầm để thành cổ thụ.

 

 

Đức Phật giảng muôn pháp, hẳn là mong chúng sanh thực hành Buông mọi hư vọng. Khó tìm thấy pháp nào nằm ngoài đời sống, và mọi tướng trạng của pháp đều huyễn, thế nên sống là một quá trình buông. Buông đi sự chấp trước về vạn pháp.

Buông là một nghệ thuật như các loại hình nghệ thuật khác. Nghệ thuật buông cũng đưa chúng ta đến sự thọ hưởng, nhưng đó là sự thọ hưởng vượt ngoài hạn định không-thời gian vô vàn những quy luật, khái niệm mà con người tự tạo và khuôn mình trong đó.

Nghệ thuật Buông dĩ nhiên cũng dựa trên thế tục, hòa vào thế tục để thấy vạn pháp sẵn tánh giác luôn phơi lộ chân - thiện - mĩ - tuệ. Để thấy duyên cảnh bên ngoài thực ra cũng là sự phóng chiếu của tâm nghiệp báo. Bởi chấp trước nên mỗi người tự tạo riêng cho mình một tấm gương soi, song hết thảy gương đều nằm trong tấm gương nghiệp báo chung của chín pháp giới. Cũng là từ vọng niệm vốn đã hoàn hảo, bạn và tôi lại đòi chỉnh sửa (thay vì mở rộng lượng tâm soi chiếu và bao dung). Mọi chúng sanh với ta đều đồng nghiệp. Chúng ta đều là những đứa con luân lạc từ một Tánh Mẹ tự nhiên. Thân nghiệp báo là vay mượn đất nước gió lửa từ hư không. Vay mượn từ hạt bụi đầu tiên trên thành tử cung người mẹ rồi ngỡ đó là mình, tôi lớn lên và đắm chấp vào nó không chịu trả về hư không. Tôi và bạn chưa tin nổi lời Phật rằng nó chẳng phải mình. Chúng ta chấp giữ và tự tạo nên một bức tường ngũ ấm dày đặc chống lại chân lý vô thường.

Kinh là thực tế cuộc sống. Ai cũng ít nhiều quan sát thấy nguyên lý Nhân - Duyên - Quả ẩn hiện giữa đời thường. Những trường hợp đó hoàn toàn không liên quan đến kinh điển, người quan sát và đối tượng cũng chưa từng học Phật, chỉ là sự “truyền thừa” thô mộc trong nhân gian; nhưng một khi nó lọt vào khuôn Nhân Quả, vậy cảnh đời thường phàm tục ấy có ra khỏi Phật pháp chăng? Vạn pháp không ra khỏi đại viên kính trí của Phật, thế nên vạn pháp đều nằm trong tâm Phật. Chúng ta cứ hay khởi cái niệm về những điều trái với ý mình mà không tu từ gốc rễ phân biệt, chấp trước vô minh. Cảnh giới Nhất chân mê vọng không hai, phiền nãobồ đề không hai, chân và tục không hai, vạn pháp nhất như. (Dẫu rằng lý này với tôi cũng chẳng khác trẻ nhỏ lại đòi cầm dao sắc; mới nghe thôi đã thấy lạnh gáy rụng rời thân tâm (!), nào dám cầm nhầm). Lúc tôi nhìn một người nhặt chai bao sinh tồn, có một triết lý cao siêu ẩn trong nhịp sống vô thường của họ song chúng ta không thể chạm tới được, bởi muốn chạm tới, tôi phải là người nhặt rác, không đóng vai mà sống thực với hoàn cảnh đó. Bạn tu của tôi chuyên niệm một câu kinh; thử gắn với việc nhặt rác. Lúc ta đưa tay nhặt đồ thừa trong thùng rác ăn để duy trì sự sống, bao ánh mắt sẽ hướng về. Nếu có một cái ngã đứng đó dĩ nhiên ta không thể thò tay vào thùng rác nhặt thức ăn thiu thừa lẫn trong vô số dơ bẩn chẳng ngoại trừ băng vệ sinh và càng không thể đưa lên miệng ăn trước bao ánh mắt đang nhìn. Bao ánh mắt đó chính là vọng tưởng. Nếu bạn tôi vừa chuyên niệm một câu kinh vừa để ý vọng tưởng, sẽ bị nghiệp lôi dẫn khiến chẳng bao giờ có cơ hội chạm tới tự định, mà cái tạm lắng chỉ là nhờ “công phu dẹp loạn” tạm thời. Ấy là ta sanh thêm vọng tưởng để chống lại vọng tưởng (vốn tự sinh, sẽ tự “diệt” một khi nó lọt vào tánh thấy/biết). Ân sư của tôi dạy: Vọng tưởng không thể có năng lực đoạn trừ vọng tưởng; về mặt cơ bản chúng ta đã phạm sai lầm!

Ngũ ấm tự kiến tạo, nên ra khỏi nó là việc của chính ta khi nương vào ánh sáng Phật pháp. Hàng rào ngũ ấm do tôi dùng chất liệu vọng tưởng dựng lên để thủ đắc dục lạc thế gian. Dĩ nhiên ngũ ấm ở đây chỉ dám bàn ngoài lông da, còn sào huyệt của chúng thật ra bạn và tôi chưa dám tưởng đến. Ngay ở sắc ấm tôi đã chưa hề có chút xíu định lực quán chiếu nói gì đến mức độ thâm sâu. Những người đã chuyển từ chỉ (định) qua quán (chiếu) họ mới thấy thân và tâm là một; vọng khởi từ tâm cũng chẳng khác cơn đau chợt hiện nơi thân, đều hiện trên một tấm gương thấy biết. Nhầm lẫn nghiêm trọng nhất khi tôi cho ngũ ấm là lâu đài được xây bằng xi măng cốt thép kiên cố bất khả công phá, trong lúc bản chất của nó đích thực là Lâu đài Ảo ảnh. Ngũ ấm hiểu nôm na là ta bỗng dưng lạc vào một giấc mơ và vô tình mở cửa tâm chiêu dụ ma; chiêu dụ bọn trộm. Học Phật, nhận ra hàng rào này ngăn che sự tiến hóa, nhưng ta rụt rè không dám phá bỏ. Ta sợ nước lũ sẽ ập vào ngôi nhà chứa dục lạc, chứa tài danh sắc thực thùy. Ta sợ trộm cướp ùa vào. Cho đến lúc nhận ra sự hư giả của hàng rào ngũ ấm, ta quyết phá bỏ, và đây là giai đoạn cần nhất Phật lực gia trì, cần nhất sự nỗ lực cá nhân quyết viễn ly ảo ảnh.

Quán chiếu giấc mơ sẽ thấy giữa mơ và thực giống hệt nhau bởi đều chung các ấm ma, rõ nhất là thọ ấm; khác là trong mơ nó đã để lại thân xác trên giường. Điều này lộ ra một bí mật: thân chẳng phải ta, và cái ta tạm thời là thần thức đó thường đêm vẫn bỏ lại thân huyễn này để rong chơi và tạo nghiệp luân hồi. Thế nên có một pháp môn mới hướng hành giả chuyên chú một hướng, một cõi, và nhờ trợ lực chư Phật để lúc thần thức vừa ra khỏi thân liền được hút về phía “an toàn nhất” ấy. Còn với những người tu theo hướng Thượng thừa, họ “thấy tánh khởi tu”; điều tiên quyết về mặt lý phải nhận ra tánh giác bổn nhiên, như là cảm được hơi ấm của mặt trời dẫu không thấy mặt trời, từ đó dụng công theo hướng giới định tuệ, cầu tuệ thấu suốt để buông xả chấp. Kinh nghiệm nằm mơ, đa phần tôi đều có mặt. Một lần mơ thấy mọi người chung vui, còn mình vắng. Tỉnh dậy chợt nghĩ, mình nằm đó trên giường lúc mơ; trong mơ thì không thấy mình, vậy mình đi đâu. Ai đang thấy giấc mơ diễn ra trong lúc tôi không có mặt (trong giấc mơ đó). Phải chăng là cảnh mơ ấy hiện lên trên một tấm gương thấy biết vô hình vô tướng. Tôi chính là một thực thể vô hình giác biết, nhờ giấc mơ hiện trong đó nên tôi cơ hồ cảm nhận được tôi. Rồi nữa, mơ là do ý thức hoạt động, nhưng sao các căn cũng đâu khác lúc tỉnh, tôi bị đánh vẫn đau, vẫn máu chảy khóc than chẳng khác ngoài đời. Bởi, ngoài đời tôi cũng mơ, nên mơ của mơ cũng tương đồng; thậm chí trong mơ còn chồng thêm một giấc mơ nữa, thì cũng đau như chân ta vấp hòn đá nhăn mặt vừa thổi vừa thoa tim vậy. Chợt hay tôi không phải thân này, mà chỉ thuần là cái biết thôi. Nếu tôi là thân này thì thân trước của tôi đâu. Tôi vốn trải qua vô số kiếp nên từng thọ nhận vô số thân. Lại nhớ lần bạn tu đưa ra tấm hình của một người lạ hoắc, hỏi tôi biết ai đây không, cứ hỏi đi hỏi lại, không biết à? Tôi nhìn hoài, không nhớ là ai. Bạn bảo kiếp trước của chú đó. Tôi giật mình. Bạn cười. Đùa chút, nhưng mà quán đi, không tấm hình này thì lấy một người chưa từng biết mà quán họ là thân kiếp trước của mình, cho nhẹ đi cái sự chấp thân với khuôn mặt dễ coi này là mình. Tôi sau đó tự đứng trước gương mà hỏi, cái này là mình sao? Không. Giả thôi. Mượn thôi. Chỉ vì sự chấp quá sâu từ nhiều kiếp nên cái huyễn thành thật lúc nào không hay. Bạn tu còn kể lần ngồi ở một quán nước, có vũng nước ở lề đường phản chiếu bầu trời, sực hiểu, ờ, bầu trời dưới nước kia và bầu trời phía trên cái nào thật. Thường chúng ta vẫn nghĩ bầu trời trên đầu là thật, bầu trời dưới nước giả. Giờ hay làm gì có bầu trời trên đầu. Cái bầu trời ấy giả mà!, cũng như thân này vậy. Giả hợp. Sự nhận nhầm thân vọng thành chân cũng ví như chúng ta sau cuộc chạy loạn, bỗng gặp một ngôi nhà trống, vào ở. Ở lâu quá quên luôn ý niệm nhà của ai, thành nhà mình một cách hồn nhiên. Hàng chục năm sau có những vị khách tới xin nghỉ trọ mấy ngày. Gia chủ chợt vụt hiện cái ý nghĩ, những vị khách này là lạ, có khi nào họ là chủ nhân của ngôi nhà vờ đến ở để thăm dò, để lên án cái sự chiếm hữu của mình. Gia chủ bỗng nảy ý đề phòng. Những vị khách cũng thấy gia chủ có cái gì dè dặt khác thường, họ tìm hiểu. Họ bắt đầu buông những câu nói đánh động về sự chiếm hữu ngôi nhà trống… Bởi từ lúc nhập thai chúng ta chấp hạt sương trong thai là mình, sinh ra căn xúc trần lại chấp thêm cái tâm hư giả nữa, thành ra thân tâm ấy hiển nhiên là mình lúc nào không hay. Ngỡ ta là chủ nhân ngôi nhà. Rồi khi những vị khách trần ghé thăm, khách bắt được tâm ý của ta nên họ lấn chủ. Khiến chủ thành kẻ ăn nhờ ở đậu. Là lúc thân tâm ta bị cảnh trần làm chủ, nên mê, không còn tĩnh tâm suy xét những khách trần ấy thảy đều tướng hư giả của tiền trần. Từ sắc trần cho đến pháp trần thảy đều huyễn. Chẳng những khách trần hư giả, mà ngay chính chủ nhân ta từng bị khách hoán đổi vị trí để rồi phải làm nô lệ kia cũng hư giả nốt; chỉ có cái gương tánh giác sáng suốt soi rõ mọi khách-pháp trần, soi rõ trong tâm và ngoài tâm mới là cái ta cần nhận lấy. Tôi chỉ bắt được những ý niệm thô, và đã quen với việc thấy chúng, nên mỗi khi niệm tham sân vừa lướt qua lúc đối duyên “tôi” liền biết và liền thầm bảo, hãy bao dung lấy nó, hãy tha thứ cho nó, hãy để nó tự trôi đi như mây huyễn trong chiều…

Hành giả thực hành dở bỏ phần nào [chấp trước] hàng rào vọng tưởng, bọn trộm cướp ập vào thấy một ngôi nhà trống; nhưng chúng không rời đi liền. Chúng còn nghi hoặc ta chôn giấu của cải đâu đó dưới nền hay trong tường, hoặc chúng ở đó “ăn vạ”. Điều này khiến hành giả hết sức băn khoăn khó xử. Phải chăng mình sai, phải chăng mình quá liều. Người ta khởi ý nghĩ, ồ cái này quá bình thường, tâm vẫn tựa phàm tình, rồi có ý ra khỏi sự thật hiện tiền đang tiếp diễn đầy sinh động. Trong lúc bọn trộm cướp còn đứng đó với đầy đủ ma lực để khiến hành giả chao động thiết lập lại hàng rào hư ảnh. Sự mong mỏi Buông là điều rất cần. Bạn tu của tôi nói rằng tâm cầu Buông ảo ảnh sẽ cảm ứng Phật lực.

Những vọng tưởng chúng luôn ở trong ta, chúng hãnh diện bởi sự hiện diện đầy quyền lực trong ta. Chúng đùa giỡn não hại ta một cách thầm lặng như sự ăn mòn, như loài mối chuyên nghiền rỗng cột kèo mà vẫn giữ nguyên bề ngoài bóng loáng; lúc ta phát hiện thì phước mạng đã cạn, đó là quy luật đau đớn của luân hồi. Cho đến một ngày, ta chợt thấy sự xuất hiện của chúng quả có cái gì đáng ngờ, xâu chuỗi lại ta thấy chúng thật sự vô nghĩa đối với đời sống của ta. Chúng như một cái bóng đèn thắp vào ban ngày phí tiền vô ích. Rồi ta nhận ra điều hệ trọng, chúng là những “mật vụ”, chúng giả vờ như không song lấn chiếm hết thảy thần hồn xác thân ta. Khi chúng biết ta đã biết về nhiệm vụ của chúng, bị ta gọi tên thì chúng dần bị rút phép thông công. Sự quyết liệt dễ khiến bọn chúng rúng động ngay trong hàng ngũ của chúng.

Với năng lực ghi nhậnquan sát thuần túy, ta không nhất thiết diệt trừ vọng tưởng. Chúng hoàn toàn không có tự thể, chúng hoàn toàn không có chỗ bám víu một khi đã bị lột mặt nạ, dần hao nguồn nhựa sống. Điều thiết yếu là hành giả cần tương tục vận hành năng lực quan sát tâm ghi nhận chúng như là một linh thể tự nhiên hư giả. Ở cấp độ cao thêm, như đại lão Hòa thượng Chin Kung từng giảng trong kinh Hoa Nghiêm: “Vọng tưởng là bồ đề, đoạn vọng tưởng chính là đoạn luôn bồ đề”. Một tên ác ôn tự nhiên lù lù xuất hiện trước cổng nhà ta. Vấn đề không phải hắn xuất hiệnvấn đề nằm ở chỗ ta chấp vào cái thiện trong mình nên tự chống lại cái ác trước mặt. Bước lên một bậc thang tâm linh nữa để đặt câu hỏi: Tên ác ôn ấy có Phật tính chăng? Dĩ nhiên có. Thế gian muốn có thêm một Phật tử thì cũng từ tên ác ôn đó chứ lẽ nào giết hắn và tìm một Phật tử khác đặt vào. Thế mới thấm thấu lời khai thị của bậc cao tăng nói trên: “Trong tứ hoằng thệ nguyện nói phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Có thể đoạn được sao? Nói với chư vị rằng đoạn không được. Nếu như phiền não đã đoạn rồi, bát nhã trí tuệ đức năng trong bản tánh của quý vị há chẳng phải đã đoạn hết rồi sao! Vậy làm sao có thể đoạn. Đoạn là một chữ giả thiết, quý vị phải hiểu được không phải là thật đoạn; là chuyển, phiền não chuyển thành bồ đề, sanh tử chuyển thành Niết bàn. Khi chuyển rồi, phiền não vẫn là tự tánh, vẫn là tánh đức”. Một con voi phá rừng, với sức mạnh ấy ta có thể chuyển công năng dụng vào việc kéo hàng. Người tánh nóng như lửa cũng chưa hẳn chướng ngại học Phật. Một phen nhận ra sự ảo giả cuộc đời, họ dụng bản tánh nóng ấy để đốt cháy nghiệp tập vượt thoát rất nhanh. Điều quan trọng là phải biết chuyển. Tôi từng biết đến những hành giả nghị lực rất đáng phục song dụng chưa đúng chỗ. Họ thuần ăn cháo trắng muối mè suốt tháng trời để thanh lọc cơ thể, không vì mục đích chính tăng trưởng công phu mà trước hết nhằm thuyên giảm bệnh để tiếp tục có cơ hội thụ hưởng món ngon thỏa mãn tính ảo của giác quan

Ta thấy, vọng tưởng trước hết là sự đối đầu giữa các vọng tưởng. Sao phải gặp phải sống với một người ta luôn thấy chán, trong lúc hàng xóm lại rất quý họ. Hẳn do tôi không chấp nhận người ấy như một thực thể trong đời sống “của ta” nên khởi ý loại trừ. Cũng như ngón tay mất đi một lóng, lẽ ra chấp nhậnnhư là sự hoàn hảo (nhờ duyên nghiệp nặn ra), cái ta lại thấy khó chịu nên bôi nhọ sự toàn thiện của tánh giác vốn không phân biệt chấp trước. Thử vẽ những mũi tên bắn lên và xem đó là vọng tưởng; bây giờ nghĩ xem, vọng tưởng đó chướng ngại chân tâm hay chính sự đối kháng giữa các vọng tưởng? Một vọng tưởng màu đỏ nổi lên (do có thể mắt thấy đối tượng đỏ) liền khó chịu bởi ta vốn thích sẵn màu xanh. Như vậy vấn đề đâu phải vọng tưởng màu xanh hay màu đỏ, mà vấn đề ở chỗ màu xanh đang chống màu đỏ. Tâm ta lưu cữu những khuôn nghiệp và tự làm chướng ngại tướng trạng. Thấy người ăn mặn liền khó chịu bởi ta có trường trai; chấp vào ăn chay gắn nó vào cái ngã “ta ăn chay đây” nên hễ vọng tưởng ăn mặn nổi lên là đưa ăn chay ra trưng diện lên mặtchứng minh ta với những khuôn mặt thiện khác. Với người tu dĩ nhiên là đoạn tất cả ác làm tất cả thiện. Kinh luật luận học để thấy được thật tướng ta nên hướng thiện hành thiện hòa mình với thiện làm một, rồi nữa nhận lấy tánh chiếu soi cái “làm một” đó để thấy vạn pháp tự nhiên nhất như; chứ kinh luật luật học vào không phải để biến thành cái máy phát hiện lỗi lầm tha nhân, phát hiện ác và lên án xua đuổi, thậm chí đem kinh luật luận ra chỉ trỏ tăng ni, chỉ trỏ luôn cả Bồ tát nghịch hạnh. Ở một nghĩa cao hơn xét trên lý vô thường sẽ thấy vạn vật biến hoại trong từng sát na, đâu có dừng lại khắc nào để chúng ta chấp vào. Người phàm như tôi không thấy được mức vi tế, thì cứ xét ở mức thô phù. Có lần nhìn tấm ảnh chụp mình mấy năm trước, tự hỏi, ai đây nhỉ. Rõ ràng khác hẳn mình giờ; còn nếu là tấm ảnh chụp hồi nhỏ, ai cũng đều tự thấy đó chẳng phải khuôn mặt ta bây giờ. Xa lạ. Vọng tưởng cũng vừa sanh liền diệt, chẳng niệm nào dính niệm nào để ta chấp cho được. Tụng kinh trì chú ở bậc sơ khởi dĩ nhiênyếu tố dẹp loạn vọng tưởng. Lúc vọng đã “biết mặt” rồi nên cần dùng định lực khai trí. Khi chúng ta không hề mảy may chống đối vọng tưởng và các vọng tưởng cũng không còn chống đối nhau, chúng sẽ mất dần năng lượng, dần tan vào hư huyễn. Bạn tôi chuyên niệm một câu kinh, có đưa ra cách phát hiện vọng là cứ niệm từng chuỗi mười câu, hễ nghi vấn đang câu thứ mấy tức đã có vọng xen vào, liền bỏ ngay vòng đó niệm lại từ đầu. Cứ như vậy miên mật ngày đêm bất cứ trong hoàn cảnh; đi đứng nằm ngồi, nhặt rau thổi cơm đều kết lại từng chuỗi mười câu kinh như vậy. Bạn nói ngồi giữa đạo tràng có lần kiểm chứng trong một giờ chỉ mươi lần chuỗi bị lạc mất. Niệm chậm thì đậm như thế thái cực quyền; niệm nhanh thì lướt như hình ảnh song tâm nhận rõ chữ kiểu như nhận diện từng hình trong 24 hình (tĩnh) ghép lại để thành một giây (hình ảnh động). Để thấy nếu chúng ta sau chặng công phu cơ bản hàng phục vọng tưởng, nay hành theo cách “buông” vọng tưởng, trả nó về như nhiên mà càng ngày vọng càng tự tung tự tác, càng nhiều sinh sôi và càng tăng sức mạnh tiếp năng lượng cho tham sân si mạn, thì chúng ta đang hành sai ngay từ gốc của Giới - Luật!

Vọng tưởng vốn hư giả song bạn và tôi cho thật, gán gép với ta, nên vọng khởi chính ta khởi, vọng buồn ta buồn, vọng vui ta vui, vọng điên đảo ta điên đảo theo. Bản chất của vọng là luân hồi, ta gắn với nó nhận nó là mình nên luân hồi theo. Vọng là trò chơi của tâm thức, không phải mình. Đại Thừa pháp hướng hành giả chuyển thức thành trí và đó xem như tánh biết sáng suốt vĩnh hằng từ vô thủy. Hành giả trực nhận tánh giác viên minh này, dẫu chưa thuần thục họ cũng bắt đầu nhận diện bản chất thật của vọng. Vọng nào cũng như một tờ giấy, lúc ngọn lửa vừa chạm chính là tro tàn; cũng như một đứa trẻ sinh ra, là nó đang chết. Ngay khi vọng khởi là sự kết thúc của chính nó. Khoa học lượng tử cho thấy những hạt trung tử phiêu du tự tại trong khối sắt đặc. Phật thì thấy hạt thủy trần rong chơi trong nước. Cũng như một nét vẽ nếu phóng lên thì đó chỉ là những vệt đứt đoạn. Hay đó là 24h/s đã lừa mắt chúng ta sự chuyển động, như chính “hình nộm” là con người tôi làm rối giữa hư không. Lý này thực tế kẻ sơ cơ tôi chỉ tham khảo cho vui. Nhận pháp đòi hỏi là người đã trải qua những giai tầng công phu Giới Định nhuần nhị và đang phát Tuệ quán chiếu.

Từ giới lên định hành giả phải đắc công phu cung kính. Cung kính là phẩm trợ đạo tối ưu để đạt định, vốn là kinh nghiệm của các vị đại đức. Họ luôn nhắc chúng ta phải tu bằng được tâm cung kính. Thiếu cung kính, dẫu đắc giới cũng không thể có định lực sâu để phát tuệ. Tâm thành kính chính là bản chất của chân tâm. Nói bao giờ cũng dễ vạn lần trên thực tế. Bạn tu của tôi bảo đắc giới định rồi, hành giả cầm được tấm gương soi mặt vọng tưởng rồi vẫn bị vọng lung lay. Cứ như một người mới tập quay camera, chưa vững nên hình ảnh thâu vào bị rung. Thực tế do ta nhận song chưa thực sống với cái tự biết. Ta thấy màn hình camera không ô nhiễm bởi mọi hình ảnh sạch nhơ tĩnh động, ta ngài ngại không nhận nó là mình; vẫn tập khí thế gian nhận vọng tưởng là mình thấy dễ sống hơn. Lý thượng thừa khuyên, cơ bản chỉ cần biết; biết nhìn mọi vọng động sinh khởi không mảy may phân biệt, chúng sẽ tự tan. Tan rồi, dẫu những vọng tưởngtrở lại thì cũng là việc nó soi vào chiếc-gương-biết mà thôi. Hành giả cần một niềm tin xác quyết, không chao động, rằng không một niệm nào khác niệm nào bởi chúng đều giống nhau ở ngay sinh là tự diệt. Niệm thứ nhất sanh nó đã tự diệt, nó tái hiện lần thứ hai thứ ba lần thứ vân vân là do ta tự đùa rỡn với niềm vui ảo để rồi nhận quả thật khổ đau. Thế nên việc chuyên trì một câu kinh và lấy đó làm thực tại duy nhất, lấy đó như tia la-ze đột phá vào tánh giác mà bạn tôi thực hành, là pháp vi diệu. Niềm tin này phải càng được đặt trên sự dũng mãnh tháo gỡ lầm mê mà ở đấy hành giả tưởng có thể xé toang mình để ánh quang minh rọi vào. Đương nhiên, trên đây chưa hẳn là cái nhìn đúng về vọng tưởng, mà là cái nhìn chân thật từ bạn đồng tu đang trú trong một tầng tâm thức hạn định.

Bạn tu của tôi, hễ bất giác tức bất cứ vọng nào khởi lên đều lấy đó như sự nhắc trở ngay lại đề khởi câu kinh duy nhất cũng là thực tại duy nhất. Tập dần thành nếp, mọi giới đều chuyển vào tâm ý. Cái tự biết biết ý khởi sinh và cái tự biết cũng tự nhắc đừng theo ý bởi nó đơn giản là vọng. Nếu ta để ý đến nó, nó càng làm dáng, càng trở nên hấp dẫn và ta bị hút theo rồi bị lôi vào những thiên đường mù mịt. Thật ra giữ giới nhuyễn hơn sẽ nhận ra cái gương sát suốt của tánh giác. Bạn tôi nói lúc này tựa như mặt ao trong, vọng niệm như những sinh vật chỉ búng mình lên rồi lặn, không diễu hành để rồi kéo tâm đi mãi. Có lần đang ngồi quán phê chợt thấy chị công nhân vệ sinh đường phố ngang qua, tức thì tâm ý hiện bài thơ về “chị lao công đêm đông quét rác”; tôi trố mắt nhìn ngược vào. Bài thơ này học hồi nhỏ, từ đó đến nay vài chục năm chưa một lần gợi lại, xem như mất hẳn, đột nhiên phóng hiện chớp nhoáng, nó lưu ở đâu trong tôi và sao lại nhanh đến vậy. Quan trọng hơn, nó vừa phóng hiện “tôi” đã biết; thực tếcái tự biết biết. Vọng mới hiện cái tự biết biết liền. Không phải một vọng mà thậm chí nhiều vọng và bất cứ lúc nào, chúng hiện đều bị cái tự biết phát giác ngay, và nó sẽ mất năng lượng nếu ta không còn theo. Tại sao không theo, như với bạn tu của tôi lý giải, bởi mình đang chuyên niệm một câu kinh, nhờ năng lực “lau chùi” của câu kinh duy nhất luôn trì niệm.  Việc Phật giao cho mình là chuyên niệm một câu kinh, mình thật thà chăm chỉ niệm mọi lúc mọi nơi. Mình không có việc gì khác ngoài chuyên niệm và thầm niệm một câu kinh. Câu kinh thầm niệm nhanh thì như gió song vẫn hiện từng chữ như trên màn hình siêu nét. Niệm chậm thì từng âm nổi như tiếng chuông và “tánh nghe” nghe trọn vẹn [từng chữ] rõ đến mảy lông tơ. Trừ những lúc buộc trí não phải hoạt dụng lo việc đời, còn lại mình chuyên niệm câu kinh đó. Chuyên niệm thì không còn thời gian đón tiếp vọng niệm dẫu niệm thiện hay ác vui hay buồn đến chơi. Việc vọng đến, mình không tiếp mà chúng vẫn muốn ngồi đó xem mình niệm một câu kinh thì cứ việc. Mà chắc xem một chặp vọng sẽ chán cái việc tâm mình chuyên vào một câu kinh; còn mình thì không chán, ngược lại càng niệm càng an lạc, càng ngọt. Đó là cách nhạt dần thọ lạc do sáu căn mang lại; trong lúc nhĩ căn (nhờ chuyên nghe một câu kinh) trở thành con đường dẫn khởi vào chân tâm. Cách tu này dường như đi thẳng tìm bản tánh, trực tiếp nhanh gọn hơn cách tu từ việc điều phục sáu căn để có định; có định dễ chấp vào định bởi đó là một tầng tâm linh vi diệu nằm trong thọ ấm, nên tuệ giải thoát bị chướng ngại. Tuệ mới khiến ta giải thoát! Vạn pháp duy tâm. Tâm như ti vi, nếu ta chỉ thuần chiếu một kênh duy nhất, cảnh giới sẽ không bị nhiễu và đó là cách mà bạn tôi chuyên một hướng niệm một câu kinh theo lý “vạn pháp duy tâm”. Tâm chuyên nhất về “nghiệp Phật” ắt hiện cảnh giới Phật. Niệm cho đến một ngày tâm không còn nhu cầu suy nghĩ kể cả trong giấc ngủ và cơn mộng, đó là hướng đúng của giải thoát một khi hành giả không còn sử dụng thức.

Tôi chợt nghĩ, vọng hiện đã bị cái tự biết phát hiện; nhưng vọng nương vào đâu mà khởi. Vọng ấy nhờ vào đâu mà hiện hình? Tôi tưởng đến một hồ nước trong, dẫu chỉ trong bề trên, và lâu lâu trên mặt nước trong ấy có con cá con tôm búng lên, chúng vừa hiện là họ thấy liền. Vậy tâm ta cũng như mặt hồ. Có trong mới thấy vọng xuất hiện. Càng trong vọng vừa móng khởi cái tự biết đã thấy, “tôi” cứ đứng đó chiêm ngưỡng, chẳng phải lo bận. Như vậy vọng được hiện trên một tấm gương, có lẽ đây là chân tâm chúng ta cần giữ lấy. Mà để giữ, phải quay lại từ giới. Bởi đơn giản trong bổn tánh không hề có niệm ác, không hề có một niệm tự lợi (mà chỉ thuần lợi tha) nên phải thọ giới để có cái tương ưng, rồi sau nốt phá đi cái “ta” đang sở hữu cái thiện tương ưng ấy… Có giới sẽ khiến mặt nước trong dần từ phía trên xuống đáy theo mức độ công phu. Nước trong dần xem như định. Có định sẽ tự thấy biết vọng niệm khởi (tự sinh tự diệt). Nhờ định liền sanh tuệ, dẫu là tuệ cạn cợt và còn vẩn đục. Tuệ sẽ dần nhận ra mình có chân tâm [như gương] (để thấy biết vọng mà không hề nhăn nhó, vì gương mà nhăn gương sẽ vỡ!).

Tôi không dành được nhiều thời gian cho sự tĩnh giác, bởi tôi vẫn sợ sự tĩnh giác như sợ phải buông một thứ gì đó tưởng là quý giá trên trần. Ngẫm lại mình luôn thấy ngượng ngùng khi soi gương. Trong mỗi ta đều có cái tự biết, như gương. Như cách hành của bạn tu “của tôi”, chuyên trì niệm một câu kinh và lấy đó làm thực tại duy nhất. Câu kinh duy nhất ấy như một siêu nhiên tự lau gương mà không mảy may cần để ý đến vọng-trần, khiến gương ngày một sáng, nên vọng hiện ngày càng rõ. Ban đầu vọng hiện trong gương là cành lá, dần dà hiện thân rồi đến gốc, rồi hiện đến rễ; và một khi vọng hiện đến gốc rễ, vọng ấy mất chỗ nương bám do đó nó tự “chết”.

Dĩ nhiên có một sự thật khá nghiệt ngã, là một khi vọng niệm khởi lên mà ta thấy đó chính là vọng niệm, thì bạn và tôi chớ ảo vọng tự huyễn là hư giả, mà cùng quay về tu lại từ nền tảng của mười giới thiện, kết hợp lễ lạy tụng niệm, tu lại từ Chỉ (rồi mới đến Quán); chúng ta cần tu từ căn nền cung kính. Tâm lý những hành giả sớm tiếp nhập Bát Nhã dễ bỏ qua căn nền, khiến sự xây nhà trở nên ảo tưởng. Cái sự ảo tưởng ở đây không có gì xấu, mà nó mang hàm nghĩa chớ ảo tưởng trong đời này vượt khỏi luân hồi, và đương nhiên những gì chúng ta có về Phật pháp kiếp này sẽ xếp vào kho đợi một kiếp nào đó thuận duyên hơn, biết thành kính hơn trước hết là những chủng tử quý báu vô ngần trong ta không dễ bật mầm để thành cổ thụ. Bởi tôi và bạn chưa thâm tín nhân quả nên mới phẩy qua sự cung kính. Hễ chúng ta chưa cung kính từ những chuyện tưởng nhỏ như trang nghiêm trước tượng Phật, chánh điện, trước kinh luận, trước mọi loài và trước cả những vị sư “hiện tướng” phá giới, không chừng sẽ trôi theo dòng ảo tưởng vượt biển phiền não nghiệp chướng. Cung kính Pháp nghĩa là ta cung kính giới luật, hòa mình vào giới luật. Sống cùng giới luật và cảm nhận giới luật như một vị cứu tinh cho huệ mạng sẽ khiến tâm dần thanh tịnh; thanh tịnh tâm là bước khởi đầu của định; có chút định sẽ khiến sự lôi dẫn của tham sân nhẹ bớt, hành giả sẽ hưởng được chút pháp vị trong cõi ô trược và điều này khiến sự linh cảm về giải thoát luân hồi thật hơn, nghĩa là chúng ta đang vượt lên cả niềm tin như một mặc định của chất liệu thứ tôn giáo bình phàm. Chưa đắc tâm thành kính, dẫu Phật cho phép ta vào nhà thì đến oan gia ma quỷ cũng ngăn chúng ta lại; bởi sao? Hàng sơ học vì phớt lờ thành kính mới chiêu cảm tâm ma. Chưa đắc tâm thành kính, chúng ta chẳng những chưa cảm được Phật lực để ngoặt qua giai đoạn thật sự công phu hành để chứng, mà có một hiển nhiênchúng ta sợ ma, mà trước hết là tử ma, tức sợ cái chết, trái nghịch với nguyện buông xả thân tâm vượt thoát luân hồi bất cứ lúc nào. Sợ ma ngoài phước mỏng, điều trọng yếu vẫn là ta thiếu tâm cung kính ma. Một người biết tu không thể không cung kính ma cũng như hết thảy chúng sanh trong lục đạo. Chúng ta đi vào bóng tối bằng tâm cung kính họ, thậm chí còn nên chắp taytác ý lỗi phép bởi cái sự đường đột “có mắt như mù” không nhìn thấy họ. Rồi trở về với sự tĩnh giác, ta niệm kinh trì chú không phải để có lực tẩy trừ họ mà chia sẻ công đức với ma, hồi hướng đến những chúng sanh không may mắn như ta. Cũng xin mở ngoặc, rằng ma trước hết là do chính vọng tâm ta vẽ nên. Niềm tin không dựa trên nền tảng cung kính, phần nhiều rơi vào Tà kiến. Nhận lý thậm thâm sớm lúc chưa đủ nội lực từ Giới và Định dễ khiến hành giả nhanh thoái đọa. Bậc đại sư từng tâm huyết nhắc nhở: Trì giới không đạt tâm thanh tịnh, đúng hơn là không đắc định (do chấp giới khi thấy còn có người phá giới), thì sự tu đó dừng lại ở phước hữu lậu. Tu định dẫu bắt chân ngồi nhập thiền hàng tháng trời mà không khai tuệ (do chấp định khi không nếm được thường tại định mọi lúc mọi nơi), không nhìn ra sự tướng hay cao hơn là chưa giải ngộ tánh giác vốn sẵn chớ cầu tìm xa xôi, định này cũng là phước đức, không phá nổi luân hồi. Chưa lấy nền tảng của giới và cung kính làm nền, việc tùy tiện chạm tay vào mật pháp là phạm điều răn của Phật và chư Tổ.

Chưa đắc giới định sẽ rất khó phá cửa ải Dục. Trong lúc phần lớn hành giả tu theo Đại thừa bỏ qua tu Tứ niệm xứ, mà tiêu biểu như quán Vô thường Bất tịnh vốn là phương thuốc đặc trị nhạt phai nghiệp Ái - vốn là mắt xích sanh tử trọng yếu. Dục lạc thế gian rốt cùng cũng chỉ là những cảm giác, là thông tin phát lên não chứ thực tế đều hư vọng. Thế nên việc chiến đấu tiêu diệt cái hư giả cũng chẳng khác Đôn Kihôtê chiến đấu với cối xay gió. Đơn cử hành giả dụng một câu kinh quần nhau với vọng tưởng, ban đầu khiến cho câu kinh không ngừng lớn mạnh áp chế vọng niệm. Đây tuồng như một cuộc chiến khốc liệt giữa thiện và bất thiện. Sau đó hành giả sẽ được vị Thầy hướng dẫn để nhìn nhận lại vọng tưởng thông qua cái biết như thật về Ngũ uẩn, để hướng tới pháp bình đẳng về tự ly và vô tự thể. Bây giờ câu kinh là sự thay thế dòng chảy của tâm thức một cách tự nhiên nhi nhiên và ở mức độ nào đó có thể hiểu là tự động lập trình lại Tưởng và Hành ấm. Tâm phóng dật, đồng nhất nó với “ta”, là “của ta” (là lầm lẫn thứ nhất); ta quá hối lỗi để rồi ảo tưởng đuổi theo chụp bắt vọng lại sám hối đến ám ảnh (là lầm lẫn thứ hai). Định lực có được sẽ phát tuệ để hành giả không còn nhận giặc làm mình, vọng sẽ yếu rồi dần tan như một đám mây dẫu hiện sắc tướng gì chăng nữa.

Một vị thiện tri thức dạy, tâm đã lìa sở song vẫn còn hoạt dụng của năng. Năng tạm ví như ngòi bút, vẫn còn “năng viết” gần như là tập khí; còn sở là nội dung được [năng] viết ra. Chấp vào nội dung, dẫu là vô nghĩa lý liền chìm lún; chấp càng nặng thì tầng tâm linh tương ứng với cảnh giới trong lục đạo càng thấp. Những hành giả nhận ra sở vốn là hoạt dụng của năng như một đứa trẻ cầm bút viết lên giấy, nên thật sự cẩn trọng dú mình trong giới định để hướng thượng. Nhận ra bản chất hư huyễn của sở là nhận ra bản chất của vọng, không còn chấp trước vọng tưởng thì vọng sẽ mất chỗ trụ; rớt vào cái không do đó sự có mặt của nó không chướng ngại chân tâm.

Diệu lý không được biến thành cuộc sống, nó sống sượng và vẫn nằm lại ở tri thức trong lớp vỏ hào nhoáng của ngã chấp ngã ái. Từ định lên tuệ cần phải qua tầng phát tâm bồ đềlợi lạc mọi chúng sanh để cái ta dần phai giữa trần ai. Hành giả phải trần trụi trước chư Phật-Bồ tát và các vị đạo sư. Chúng ta hoàn toàn không có bất cứ âm mưu sở đắc nào. Một người ham tài vật, giàu sụ vẫn ham, tóc bạc và bệnh gõ cửa vẫn ham; ta biết họ mê song không nhận thấy ta cũng ham những chân lý màu diệu học được trong kinh Phật. Hễ sở đắc là có mặt của tự ngã. Cái biếttự nhiên bổn lai không dựa vào tri thức, còn chúng ta biết nhờ học chính là có sở ắt đắc. Một người con Phật cần vắng bặt mọi âm mưu liên quan đến sự níu giữ nghiệp tập, níu giữ lạc thọ nằm trong Dục. Chúng ta hoàn toàn phơi mình ra như thiên nhiên dự phần cái vốn sẵn trong trời đất; hay đơn giản là sự trở về với cỏ cây hoa lá hòa vào không gian Chân Tánh nhờ thông dự vũ hội của nghệ thuật Buông.

Tạo bài viết
12/10/2016(Xem: 8367)
24/08/2018(Xem: 1652)
28/09/2016(Xem: 15786)
27/01/2015(Xem: 10229)
28/02/2017(Xem: 12644)
Trong niềm hân hoan đón mừng ngày Đức Phật đản sanh, Đại lễ Phật Đản năm 2019 đã chính thức diễn ra tại Việt Nam Quốc Tự, TP. Hồ Chí Minh, Chùa Từ Đàm, Cố đô Huế và Chùa Bằng cũng như Trung Tâm Văn Hóa Thủ Đô Hà Nội ngày Rằm tháng 4 âm lịch tức ngày 19-5-2019
Hòa chung không khí chào mừng Vesak Liên hợp quốc đang tràn ngập khắp nơi trên toàn thế giới, với niềm tự hào của người con Phật chào mừng sự kiện trọng đại ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện trên cuộc đời này. Đặc biệt hơn, khi Việt Nam trở thành quốc gia đăng cai Đại lễ Vesak 2019, ngày 12/5/2019 (nhằm ngày 8/4 năm Kỷ Hợi), gần 150 bạn trẻ tại Hà Nội đã về Chùa Hòa Phúc (Hòa Thạch, Quốc Oai, Hà Nội) để tham dự Khóa tu thiền trà với chủ đề “Con hạnh phúc - Ngày Phật Đản sinh”.
Ngày 12/5/2019 (nhằm ngày mùng 8, tháng Tư, Phật lịch 2563), tăng sinh Việt Nam tại Học Viện Phật Giáo Singapore và đông đảo Phật tử Việt Nam hiện đang sinh sống và làm việc tại Singapore đã tổ chức lễ tắm Phật tại Quang Minh Sơn Phổ Giác Thiền Tự.