Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM

Chương 2 - Vượt thoát vùng Việt Minh vào Nam năm 1954

17/05/20224:08 SA(Xem: 207)
Chương 2 - Vượt thoát vùng Việt Minh vào Nam năm 1954
.

HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO
HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI SUỐT ĐỜI KIẾM TÌM TỰ DO

NGUYỄN VĂN HÒA LÀNG DUNG

CHƯƠNG 2

VƯỢT THOÁT VÙNG VIỆT MINH NĂM 1954

 

ĐÊM TRỐN THOÁT
  

Vào thời kỳ chiến tranh Việt Pháp khốc liệt nhất vào năm 1954, lúc ấy tôi mới 11 tuổi đã cùng thầy me tôi và năm anh chị em tạm thời rời quê lên thành thị lánh nạnGia đình gồm tám người ở tạm trú nhà ông chánh tổng, bạn của cha tôi ở thị xã Phố Hiến, tỉnh lỵ Hưng Yên. Lúc ấy cha tôi làm lý trưởng một làng quê thuộc huyện Tiên Lữ.

Khi hiệp định đình chiến Genève chia đôi đất nước được ký kết vào ngày 20-7-1954 thầy me tôi đưa cả gia đình trở về quê, làng Dung thân yêu của ông bà, nơi chôn nhau cắt rốn của chúng tôi. Ông bà nghĩ rằng đất nước hết chiến tranh, dân chúng sẽ sống trong hòa bình, an lạc, không còn cảnh loạn lạc. Nhưng không ngờ khi về đến quê mới biết làng xã đã thực sự thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh và dân chúng trong làng đang sống dưới sự hà khắc của những người cai trị mới, những người mà trước đó đã từng là người giúp việc của thầy me tôi. Mọi sinh hoạt hàng ngày đều bị kiểm soát chặt chẽ. Chặt chẽ đến nỗi giết một con gà để ăn cũng phải báo cáotội nghiệp cho chị Hai tôi khi giết gà phải lén lút chùm chăn cắt cổ không cho nó kêu, phải đào đất chôn lông để không còn dấu vết.

Hồi ấy, tôi hãy còn nhỏ vô tư không hay biết gì về thời sự và những thay đổi của cuộc sống xung quanh, dần dà về sau mới được biết nguyên nhân thầy me tôi quyết định dứt khoát đi Nam, rời xa gia đình dòng tộc xóm làng và chế độ Việt Minh Cộng Sản. Bây giờ tôi mới nghĩ quyết định đi Nam của ông bà là sáng suốt và đúng đắn, một quyết định vô cùng khó khăn và quan trọng bởi ra đi là không thể trở về, ra đi là bỏ hết ruộng vườn thẳng cánh cò bay, bỏ cả sản nghiệp, nhà cao cửa rộng, bỏ hết họ hàng và nhất là đi vào nơi nắng gió, bơ vơ nơi xứ lạ, làm sao nuôi đàn con dại bốn trai hai gái mà đứa nhỏ nhất mới lên năm.

Việc đi vào Nam của thầy me tôi được giữ bí mật tuyệt đối, chỉ có chú thím Ức tôi, có lẽ thêm người chị đầu và anh cả tôi được biết, bốn anh em chúng tôi còn lại xem như trẻ con hoàn toàn không biết. Mãi về sau chúng tôi mới được biết yếu tố quyết định vào Nam của ông bà, ngoài việc đưa con cái về miền đất tự do còn thêm yếu tố chính trị, hai cụ là địa chủ, sở hữu hàng trăm mẫu đất trồng lúa mà các chức sắc huyện xã của chính quyền mới ngỏ ý muốn hai cụ hiến cúng cho họ và họ cũng bắn tiếng đe dọa là sẽ lên danh sách án tử hình qua việc đấu tố ruộng đất. Vài năm về sau ở trong Nam, chúc Ức tôi ở ngoài Bắc nhắn tin vào cho thầy me tôi biết là tòa án nhân dân huyện đã lên án tử hình khiếm diện thầy me tôi.

Cũng nên mở ngoặc thêm ở đây là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo lời kể lại của anh Lâm tôi, chú Ức có vào Nam thăm thầy me tôi, hôm ấy hai anh em ôm nhau khóc với những giọt lệ sung sướng đoàn viên sau hai mươi năm dài xa cách, và bên tách trà sớm mai sau đó là những hồi ức của chú về ngày thầy tôi phải thoát ly trốn chạy lên tỉnh. Hồi ấy những người Việt Minh Cộng Sản gọi là cách mệnh mà trong số đó có cả người từng giúp việc cho thầy me tôi nằm trong ủy ban kháng chiến đã cho mời thầy tôi, lúc ấy làm lý trưởng (chủ tịch xã bây giờ) và ông lý phó lên trụ sở ủy ban hành chính cách mệnh làm việc. Một người khác trong ủy ban đã bí mật báo tin cho thầy me tôi biết ông phó lý đã đến làm việc với họ và bị đưa đi mò tôm và khuyên thầy tôi nên trốn ngay đi. Thầy tôi đã bí mật bỏ gia đình trốn đi ngay trong đêm hôm ấy và chừng vài tuần sau đó chú Ức đưa mẹ tôi và sáu anh em chúng tôi lên tỉnh gặp thầy tôi đang ở tạm nhà ông chánh tổng ở Phố Hiến (chức chánh tổng là người đứng đầu một huyện gồm nhiều xã).

Chú Ức cũng kể lại người báo tin đó chính là một người trong số nhiều người nghèo ở làng từng được thầy me tôi giúp đỡ thoát khỏi cơn đói lịch sử vào năm 1944 và 1945, thật là nhân quả không sai chạy, thầy me tôi giúp người bây giờ hoạn nạn được người giúp lại. Thêm một chuyện nữa là thầy me tôi cho chú Ức biết chỗ cất giấu hũ vàng bạc và tiền Đông Dương nằm sâu dưới đất, gần gốc cây mít cổ thụ phía sau nhà thờ từ đường. Về sau khi trở lại quê miền Bắc chú biên thư cho thầy me tôi biết là đã khai quật được hũ vàng bạc, mọi thứ còn như nguyên chỉ có tiền giấy ngân hàng Đông Dương là không dùng được. “Những thứ đó là của chú, phần thưởng ông trời dành cho chú. Chú đã vất vả lo cho anh chị thoát chết đến hai lần.”  Thầy me tôi đã nói với chú ấy như thế khi hồi đáp thư chú.

 

***

Như trên đã nói, việc trốn chạy Việt Minh Cộng sản của gia đình tôi, hoàn toàn được giữ kín, ngoài chú thím Ức, người em ruột yêu quý nhất của thầy me tôi,  thầy me tôi không hề cho họ hàng biết, nhất là bà con đang sống ở làng Dung quê cha tôi và làng Đại Nại, quê mẹ tôi sinh ra trước khi lấy cha tôi.

Vì thầy me tôi quyết định đi Nam hơi trễ khi mà mọi nơi đã được chính quyền Việt Minh tiếp thu, ngoại trừ thành phố Hải Phòng nên việc trốn thoát trở nên vô cùng khó khăn. Muốn đến Hải Phòng chỉ còn một con đường duy nhất là làm sao đến được một trạm ngừng của đường xe hỏa nối liền hai thành phố Hà Nội – Hải Phòng, mà muốn đi Hải Phòng phải có giấy phép vì là đi vào vùng địch còn kiểm soát.

Theo kế hoạch trốn thoát của thầy me tôi là cho chị đầu và anh cả tôi khởi hành trước một ngày. Sáng sớm hôm sau vào giờ Sửu khi trời còn tối thầy me tôi, anh Lâm và tôi lầm lũi đi trong bóng đêm, theo chú Ức gồng gánh hai đứa em tôi là Xoa và Hưu lặng lẽ rời làng lên đường. Vì hai em tôi còn quá nhỏ, đứa lên 8, đứa lên 5 không thể đi bộ đường xa được nên chú đã ngụy trang gánh chúng như người gánh gạo mang ra chợ phiên bán; vậy mà cũng qua mặt được nhiều trạm gác trên đường trốn thoát. Đường đi từ làng này qua làng nọ, xuyên qua các thôn xóm bờ mương đã khó đi vào ban ngày lại còn khó hơn vào ban đêm dưới ánh trăng mờ. Thật tội nghiệp chú, chú lo tất cả cho chuyến đi, từ việc dò la đường đi nước bước đến chuyện hậu cần như làm cơm nắm, rang muối vừng, nước uống..vv..lại còn cực nhọc gánh hai đứa cháu nhỏ suốt đoạn đường dài. Cảm ơn chú thím vô vàn đã lo cho các cháu.

 

ĐẾN ĐIỂM HẸN

Mãi đến xế chiều chúng tôi mới tới được điểm hẹn là một nhà trọ và cũng là quán ăn gần trạm ga ngừng bên đường xe hỏa đi Hải Phòng, thuộc địa phận tỉnh Hải Dương. Xem bản đồ thì vị trí này nằm trong ranh giới được phân chia tạm thời giữa hai vùng quốc gia và Việt Minh khi Hà Nội đã được tiếp thu và Hải Phòng chưa được giao trả.

Vì quán ăn chỉ cách nhà ga xe hỏa khoảng chưa đầy 100 mét lại nằm trong vùng hỗn hợp nên khá đông người thuộc đủ thành phần lui tới, người buôn bán, kẻ cầy ruộng thuê mướn, người thích Pháp, kẻ thích Việt Minh, người hớn hở về Hà Nội, kẻ nặng trữu tâm tư đi Hải Phòng vào Nam.

Vì hãy còn nằm trong khu do Việt Minh kiểm soát, không biết rõ ai là bạn, ai là địch, nên thầy me tôi ra dấu hiệu cho chúng tôi là khi anh chị em gặp nhau, chỉ nhìn nhau bằng ánh mắt mà không được mừng rỡ nhận nhau.

Có một điều khó khăn cuối cùng phải kể trong cuộc trốn thoát là trước khi lên tầu hỏa, là ga này được kiểm soát bởi cả hai bên quốc gia và Việt Minh, nên việc kiểm tra khám xét rất gắt gao, nhất là phía Việt Minh. Những người đi Hải Phòng tức về vùng “địch” đều bị người Việt Minh lục xét tỉ mỉ. Chúng rà soát thân thể và hàng hóa để truy tìm vàng bạc và tiền mặt tức tiền Ngân Hàng Đông Dương để tịch thu, chỉ cho phép người dân đi tay không mà thôi. Về sau, thầy me tôi kể có người bị lột sạch hết vàng và tiền nên đã khổ sở quay về, không dám lên tầu hỏa đi Hải Phòng vào Nam khi chỉ có hai bàn tay trắng.

Chúng tôi không biết bằng cách nào mà thầy me tôi qua trót lọt trạm kiểm soát với ít tiền Đông Dương vừa đủ để xoay sở trong những ngày tháng đầu đặt chân đến Sài Gòn. Tôi cũng không tò mò hỏi chuyện này nhưng tôi đoán là tiền Đông Dương Ngân Hàng được ông bà dấu trong những bó cơm nắm muối vùng hay dưới đáy guốc.

Thế là cả gia đình được lên tầu. Lần đầu tiên, đi xe hỏa tôi cảm thấy rất thích thú nhất là khi nhìn ra cảnh vật bên ngoài cứ chạy thụt lùi mà không biết tại sao phong cảnh lại chạy lùi như thế. Và cứ nhìn mãi cho đến khi xe hỏa vào đến thành phố. Theo Hiệp Định Geneve, Hải Phòng được chính quyền Quốc Gia và Pháp cai trị thêm 300 ngày trước khi trao lại cho Việt Minh. Nhà ga xe hỏa Đỗ Xá thuộc địa bàn tỉnh Hải Dương là ranh giới hai bên quốc gia và Việt Minh tức giữa đường Hà Nội và Hải Phòng (hai thành phố cách nhau khoảng 100 cây số).

 


ĐẾN HẢI PHÒNG AN TOÀN
   

Đến Hải Phòng, thầy me tôi đưa gia đình về tạm trú tại nhà ông Bác họ, anh của mẹ tôi, tôi không nhớ rõ tên, để nhờ bác trông coi chúng tôi trong khi thầy me tôi đến tòa thị chính thành phố làm thủ tục giấy tờ đi di cư vào Nam.

Trong thời gian thầy me tôi lo giấy tờ và chờ đợi đi tầu thủy vào Sài Gòn, anh Đình, anh cả và anh Lâm kế tôi đưa tôi đi phố Hải Phòng, thành phố lớn thứ nhì của miền Bắc, vô tư dạo chơi, ăn uống. Về sau nhớ lại mới biết chúng tôi đã từng đi qua chợ Sắt, phố Khách, nhà hát lớn, nằm bên dòng sông vắt ngang thành phố.

Ấn tượng đầu tiên ở thành phố cảng này là tôi được ăn bát phở bò nóng tại một quán ăn ven đường do anh cả tôi cùng anh kế tôi dẫn đi ăn. Ui chao sao mà ngon thế, một bát phở với bánh phở mầu trắng mềm mại đan xen mầu xanh của hành lá và rau ngò quế bốc hơi trong cái thời tiết se lạnh của mùa Thu miền Bắc làm tôi nhớ mãi không quên.

Một ngày vào khoảng gần cuối tháng 12 năm đó, thầy me tôi đưa chúng tôi vào trung tâm tạm trú người tỵ nạn trong khu cơ sở tòa thị chính thành phố để chờ gọi tên lên đường. Hình như chúng tôi ở đây một đêm một ngày thì tới phiên lên xe ra bến tầu há mồm, rồi từ đó vận chuyển ra các tầu chiến lớn của Pháp hay Hoa Kỳ đậu ở ngoài vịnh Hạ Long chờ đón người tị nạn.

Tôi còn nhớ buổi sáng sớm hôm ấy, từng đoàn xe cam nhông chở người ra bến tầu há mồm đi Nam.

 

TẦU HÁ MỒM

 

Cũng lại lần đầu tiên được đi trên tầu há mồm chạy ra vịnh Hạ Long rồi được chuyển vận qua một chiếc chiến hạm lớn của Mỹ. Nói chuyển vận cho có vẻ văn vẻ nhưng thực ra là leo lên tầu bằng thang giây được tầu lớn thả xuống.

Ngày ấy tôi còn nhỏ. Lênh đênh trên chuyến tàu biển vào Nam theo cha mẹ chứ không biết gì, ngay cả phong cảnh vịnh Hạ Long cũng không biết là đẹp để rồi gần nửa thế kỷ sau khi trở về thăm quê cũ trong ấy có chuyến du lịch Hạ Long- Cát Bà mới biết nơi mình đã đi qua sao mà nó đẹp thế, đẹp vô cùng diễm ảo.

Chuyến đi êm đềm nhằm vào dịp lễ Giáng Sinh và Tết Dương lịch năm 1955 nên trên chiến hạm khá là vui, có cây thông và đèn ngôi sao. Đồng bào di cư Công Giáo từ các vùng Nam Định, Ninh Bình, Bùi Chu Phát Diệm sáng tối cầu kinh râm ran trên cả hệ thống âm thanh của chiến hạm. Tôi thấy các chú lính hải quân Mỹ trên tàu rất tử tế, họ cho tôi kẹo chocolate, cho cả dây chuyền thánh giá đeo cổ. Họ cho ăn uống ngày ba bữa đầy đủ, hầu như ngày nào cũng có món gà luộc. Lần đầu tiên, cũng lại là lần đầu tiên tôi được ăn món gà luộc này, ôi sao nó nhão nhạt thế, rất khác với mùi thịt gà luộc của me tôi làm mỗi khi nhà có giỗ.

Con tàu chạy trên biển khoảng chừng ba ngày hai đêm, thì đến Cap Saint Jacques, tức là cảng Vũng Tàu bây giờ, để chuẩn bị vào cửa sông đi vào bến Bạch Đằng của thành phố Sài gòn. 

 

 

ĐẾN SÀI GÒN
  

Sau cuộc hải hành hai ngày tầu cập bến Bạch Đằng Sài Gòn vào xế trưa trời nắng nóng. Đồng bào chen chúc đứng chật cả boong chờ xuống tầu. Loa phóng thanh kêu gọi mọi người giữ trật tự xuống cảng bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp. Thế là từng đoàn người tay bế tay bồng gồng gánh hành lý, từng bước, từng bước xuống cầu thang, rồi lũ lượt leo lên xe cam nhông đi về trại tị nạn.

Cùng với đoàn người tị nạn, gia đình chúng tôi được xe chuyên chở đưa tới trại tiếp cư lớn nhất miền Nam lúc bấy giờ là trại Phú Thọ Lều gần trường đua ngựa Phú Thọ. Trại bao gồm hàng trăm lều vải nhà binh lớn, mỗi lều chứa khoảng ba hay bốn gia đình ngủ trên ghế bố, do binh đội thủy quân lục chiến  Mỹ thiết lập. Trại này chứa trên 10 ngàn người. Sau năm 1955 nơi này là campus của các trường: Cao đẳng Điện học, Cao đẳng Công chánh, Cao đẳng Hóa học, trường Kỹ sư Công nghệ, trường Quốc gia Hàng hải, trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật và trường Bách khoa mà tôi theo học ở đó. Bây giờ nơi đây hợp nhất thành một học viện mang tên Viện Đại Học Bách Khoa Thành phố HCM.

Bước theo thầy me tôi xuống cảng, đặt chân lên vùng đất mới mang tên Sài Gòn. Tôi không ngờ điểm đến cảng Sài Gòn hôm nay lại là điểm ra đi của tôi về một phương trời vô định vào 20 năm sau và khi xuống xe đến trai lều Phú Thọ, tôi cũng không biết rằng 20 năm sau tôi cũng đến một trại lều tương tự ở bên kia bờ Thái Bình Dương mà họ gọi là thành phố lều Tent City mang tên tiếng Anh là Orote Point cũng do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ thiết lập tại đảo Guam đón nhận khoảng một trăm ngàn người Việt tị nạn khi kết thúc cuộc chiến Việt Nam vào năm 1975.

Đời sống trong trại Phú Thọ Lều rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, nhiều cảnh đời vui buồn lẫn lộn. Ở đây khoảng một tuần thầy me tôi đưa chúng tôi về xã Phú Nhuận nằm ở ngoại ô thành phố Sài Gòn, ở tạm nhà anh Phạm Văn Dực con trai ông bác, anh ruột mẹ tôi đã vào đây trước; rồi một tháng sau đó thầy me tôi mua một căn nhà nhỏ gần đó sống tự túc.

Được biết đến cuối năm 1955 trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh, nhiều nhất là ở vùng xóm mới Gò Vấp, ven ô thành phố Sài Gòn, vùng Hố Nai Gia Kiệm thuộc tỉnh Biên Hòa và vùng đinh điền Cái Sắn. 

Gia đình tôi nằm trong số gần một triệu người đã di cư từ Bắc vào Nam, một cuộc di cư được lịch sử thế giới mô tả là một trong các cuộc di cư lớn nhất, trong đó có khoảng tám mươi lăm phần trăm số người theo đạo Công giáo.

Có một điều tôi vẫn còn thắc mắc là trong khoảng chưa đầy một năm, chính xác là 300 ngày mà có tới gần một triệu người di cư vào Nam mà đa phần là người Công giáo? Chính phủ nào hay thế lực nào đã giúp dân chúng tôi di cư nhanh chóng với số lượng đông người như vậy.

Bây giờ khi viết lại hồi ký này, tôi mới biết rằng đó là chính phủ Mỹ với một chiến dịch khổng lồ vừa quân sự lẫn dân sự. “Chiến dịch con đường đến tự do”,  tức “Operation Passage to Freedom”, nhằm giúp người miền Bắc di cư vào miền Nam. Ho điều động cả một hạm đội hải quân với khoảng hơn chục chiếc hải vận hạm, tuần đương hạm và chiến hạm di chuyển như con thoi theo trục duyên hải Bắc Nam chuyển vận đồng bào suốt 300 ngày. Thêm vào đó họ còn thiết lập trai tiếp cư Phú Thọthành lập nhiều trung tâm đón tiếp, cung cấp lương thực, thực phẩm, quần áo và thuốc men khẩn cấp cho đồng bào di cư. Họ phát cho mỗi đầu người 700 đồng tiền Đông Dương khi xuống bến cảng. Tôi không biết rõ giá trị đồng tiền lúc ấy như thế nào mà chỉ nghĩ là lớn lắm. Có lẽ nhờ đồng tiền này mà thầy me tôi đã mua được một căn nhà nhỏ đầu tiên, sau đó bán đi và một căn nhà khác khá hơn.

Theo lời kể lại của thầy me tôi, người Mỹ lúc ấy đã có chiến dịch tuyên truyền ở các vùng miền có số đông dân Công giáo như Nam Định, Bùi Chu Phát Diệm và Ninh Bình là Đức Mẹ đã vào Nam để mọi người dân tin theođi theo các cha vào Nam lập nghiệp với mục đích hỗ trợ cho ông Diệm. Ông Diệm không phải là người miền Bắc nhưng là một người Công giáo thuần thành ở miền Nam được Mỹ đưa từ một chủng viện ở  New York về Việt Nam làm Thủ tướng dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại.

Hoa Kỳ, một lần nữa lại can dự vào Việt Nam, sau khi đã giúp quân đội Pháp đô hộ Việt Nam thêm 10 năm từ năm 1945 đến 1954 nay quay qua giúp miền Nam xây dựng thành một quốc gia mới trên căn bản dân chủ tự do và chống cộng sản. Ho cố vấn và đổ tiền cho ông Diệm định cư gần một triệu người trên miền đất mới; giúp xây dựng hạ tầng cơ sở, giúp thành lập quân đội tân tiến. Họ giúp tất cả mọi thứ ở mọi lãnh vực, kể cả việc trả lương cho quân nhân, cảnh sát và công chức có lúc lên đến một triệu người. Dù muốn dù không, cũng xin cảm ơn nước Mỹ và ông Ngô Đình Diệm đã lo cho cho gần một triệu người định cư an toàn, sống trong tự do.

Sự trợ giúp tích cực này của Hoa Kỳ lại chính là điều mà chính quyền miền Bắc đã khai thác, tuyên truyền cho chiêu bài chiến tranh giải phóng, cái mà họ gọi là chống lại đế quốc tư bản Mỹ vài năm sau đó và cho đến ngày nay họ vẫn cho rằng cuộc chiến 20 năm này là cuộc kháng chiến chống “đế quốc” Mỹ, không phải cuộc nội chiến như một bài ca của nhạc sĩ họ Trịnh nói đến.

Thầy me tôi cùng với gần một triệu người di cư vào Miền Nam là để tìm tự do, thoát khỏi ách cộng sản độc tài, đã bỏ lại đằng sau bà con thân thuộc, mồ mả tổ tiêntài sản, ruộng vườn không thương tiếc. Thầy me tôi và đồng bào tôi nghĩ rằng đất nước chỉ bị chia cắt tạm thời và đất nước có thể trở lại nguyên vẹn khi nào cộng sản bị đánh bại và sẽ trở về lại nơi chôn nhau cắt rốn.

Bất hạnh thay, giấc mơ hồi hương của ông bà đã không bao giờ trở thành hiện thực, và miền Nam đã bị chính những người gọi là đồng Minh thân thiết từng giúp tạo dựng nên một quốc gia chống cộng, đã chính thức bị bỏ rơi vào năm 1972 sau khi bắt tay được với Trung Quốc. Lịch sử đã nghi nhận, khi diễn ra trận hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng hoà và các chiến hạm của Trung Quốc vào ngày 19  tháng 1 năm 1974, Hạm đội 7 của Hoa Kỳ, mặc dầu đã nhận được lời yêu cầu giúp đỡ của bộ tư lệnh hải quân VNCH  nhưng đã từ chối mà chỉ đứng quan sát từ xa, hạm đội 7 cũng từ chối cả việc cứu những thủy thủ của tàu HQ-10, chiến hạm Nhật Tảo đang trôi dạt trên biển. Trung Quốc kiểm soát toàn bộ Hoàng Sa kể từ đó.

Cuộc di cư gần một triệu người từ Bắc vào Nam năm 1954 thành công tốt đẹp do Hoa Kỳ trợ giúp nay lại đến cuộc di tản năm 1975 Hoa Kỳ đã không làm được như thế do yếu tố chính trị nội bộ. Hoa kỳ đã đem con bỏ chợ. Ban đầu chỉ giúp di tản khoảng 130 ngàn người vào ngày 30 tháng 4. Số còn lại lên đến hàng triệu người phải tự túc vượt biên, vượt biển lập thành một làn sóng trốn thoát cộng sản bất chấp hiểm nguy chưa từng có ở một mức độ tàn khốc mà Liên Hợp Quốc ước tính có tới 300 ngàn người bỏ mình trên biển Đông. Thầy me tôi và đồng bào miền Bắc bỏ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 chỉ bị mất nhà, mất tài sản ruộng vườn, nhưng lần thứ hai, sau năm 1975 đồng bào vượt biên mất cả quê hương.
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 17293)
12/10/2016(Xem: 15474)
12/04/2018(Xem: 16089)
06/01/2020(Xem: 6962)
24/08/2018(Xem: 6473)
28/09/2016(Xem: 21448)
27/01/2015(Xem: 19072)
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Câu chuyện bắt đầu rất đau buồn nhưng về sau lại mở ra một cánh cửa mới đầy hy vọng và tỉnh thức. Zach Obseon lúc nhỏ đã chứng kiến em gái của mình bị hiếp và giết chết, sau này lớn lên anh theo học ngành cảnh sát với tâm nguyện ngăn chặn cái ác, không để xảy ra những trường hợp như em gái của mình. Về phần kẻ thủ ác, anh ta tên Dennis Skillicorn , sau khi bị bắt và chịu án chung thân không ân xá. Trong thời gian ở tù, anh ta đã ăn năn tội lỗi của mình, anh ta và những bạn tù khác lập ra tờ báo “Compassion”, số tiền thu được làm học bổng cho Obseon cũng như những học viên cảnh sát khác.
Sam Lim, tân đại biểu Quốc hội Úc châu khóa 47, đã làm được một bước lịch sử: Sam Lim hôm Thứ Ba 26/7/2022 đã trở thành người đầu tiên tuyên thệ vào Quốc hội Úc bằng lời thề đặt tay trên kinh Phật. Đó là cuốn kinh được đọc nhiều nhất - Kinh Pháp Cú.
Chúng tôi rất vui mừng thông báo với đại chúng và cộng đồng Phật Pháp rằng Tăng đoàn do chúng tôi thành lập đã hình thành nên một ngôi Phạm Vũ ở Tiểu bang Pennsylvania, Mỹ Quốc: Phạm Vũ Pháp Vân.