Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM

Chương 4 - Vượt thoát Cộng Sản năm 1975

17/05/20224:10 SA(Xem: 215)
Chương 4 - Vượt thoát Cộng Sản năm 1975

HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO
HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI SUỐT ĐỜI KIẾM TÌM TỰ DO

CHƯƠNG 4

VƯỢT THOÁT CỘNG SẢN NĂM 1975


-Bối cảnh Sài Gòn trong ngày 28-4-1975
-Giã từ Sài Gòn ngày 29-4-1975
-Lênh đên trên biển
-Hải hành đến Subic Bay trở ngại
-Guam, điểm đến an toàn ngày 13-5-1975
-Bến Bờ Tự Do
-Fort Indiantown Gap: những ngày chờ mong
-Thankgivings đầu tiên và Tết xa nhà
– Đời sống mới trên miền đất mới
- Nhìn lại 30 năm cuộc chiến


BỐI CẢNH THÀNH PHỐ SÀI GÒN

NGÀY 28 THÁNG 4 NĂM 1975

 

Sài Gòn có những cơn mưa chiều bất chợt trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Đặc biệt sáng nay trời đang nắng bất ngờ đổ mưa nặng hạt giữa những ngày thành phố đang nóng lên vì tin tức chiến sự từ khắp nơi dồn dập đổ về cửa ngõ thủ đô, làm cho không khí thêm căng thẳng, ngột ngạt và hối hả hơn.

Hơn một tháng nay, từ cuối tháng 3-1975 - khi Vùng I Chiến Thuật  thất thủ, nhất là khi trông thấy cảnh đồng bào di tản thê thảm khỏi Pleiku, cảnh chạy loạn kinh hoàng ở Đà Nẵng, tôi không thể nào tập trung vào công việc hàng ngày tại sở làm được. Trong phòng làm việc của tôi có tấm bản đồ Việt Nam lớn, hễ mỗi tỉnh thất thủ là tôi khoanh một vòng tròn đỏ. Đến nay gần ba phần tư bản đồ đã có những vùng khoanh đỏ, từ các tỉnh miền giới tuyến Đông Hà, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang rồi đến Phan Rang, Phan Thiết; chưa kể đến Ban Mê Thuộc, Pleiku, Kontum, Bình Long, Phước Long đã thất thủ trước đó.

Anh em bạn bè đồng nghiệp của tôi thường hay ghé văn phòng tôi, không phải để nói chuyện về công việc làm ở sở, mà xem tấm bản đồ tôi cập nhật tình hình rồi bàn việc thế sự, bàn về cuộc chiến đang đến rất gần, bàn cả về giải pháp đi hay ở, rời Sài gòn ra Phú Quốc hay tìm đường ra nước ngoài, kể cả bàn về giải pháp hùn hạp tiền đóng thuyền gỗ, ghép thùng phuy, đóng bè chuối vượt biển như người tù Papillon trốn khỏi đảo tù. Văn phòng cố vấn Mỹ ở phía đối diện văn phòng tôi đã im lìm đóng cửa từ tuần qua. Nghe nói Smith đã lặng lẽ trở về Mỹ và có mang theo cô giúp việc nhà. Anh Hóa, trưởng sở điều hành, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi cũng vắng mặt nhiều ngày qua.

Tuần qua, tôi đã dọn về ở tạm căn nhà mới của anh kế tôi bỏ trống trong khu Cư xá Thanh Đa, bên ven sông Sài Gòn, nghĩ rằng nơi đây có lẽ an toàn hơn, vì vị trí nhà tôi nằm trong một cư xá quân đội thuộc chu vi tứ giác quân sự: cục công binh, đường Tô Hiến Thành, căn cứ quân cụ, đường Trần Quốc Toản, trung tâm viện trợ quân sự Mỹ, và quân khu Thủ đô, đường Lê Văn Duyệt; nên rất nguy hiểm nếu cộng quân bắn hỏa tiễn vào khu tứ giác quân sự này.


****

Hôm nay Thứ Hai ngày 28 tháng 4 năm 1975 tôi không thể đến sở làm được vì không có xe đến đón do quân Cộng Sản đã áp sát Thủ Đô, đang có giao tranh trên xa lộ Sài Gòn hướng về thành phố. Cộng quân thực sự đang tiến rất gần về thủ đô Sài Gòn.

Buổi sáng qua nhanh, buổi chiều đến thật chậm, khu cư xá Thanh Đa vắng người, vẫn chìm trong mưa nhẹ và mây xám đen giăng ngang khắp bầu trời.

Nhà tôi ẵm đứa con út chưa đầy năm ra ngoài hiên nhà nhìn ngắm mưa rơi, thì bất ngờ nghe hàng loạt tiếng nổ lớn dội về từ hướng phi trường Tân Sơn Nhất.

Tiếng gầm rú của những chiếc máy bay phản lực bay thấp giữa cơn mưa chiều thành phố khiến không khí chiến tranh đang thực sự đến gần. Rồi tiếng gầm rú dường như xa khuất, chỉ thỉnh thoảng mới rộ lên.

 

Nghe tiếng gầm rú của các máy bay phản lực, tôi nói với nhà tôi, có lẽ phe quân đội của thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đang làm cuộc đảo chính lật đổ chính quyền vì chiều nay tại dinh Độc Lập có lễ nhậm chức tổng thống của đại tướng Dương Văn Minh. Nhưng thực tế không phải vậy. Đó là ba chiếc phản lực cơ A-37 của Không quân VNCH bị bỏ lại ở Đà Nẵng được Việt Cộng sử dụng để bay vào Sài Gòn dội bom.

Về sau tôi được biết thêm chi tiết tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời Sài Gòn là cuộc ném bom phi trường Tân Sơn Nhất xảy ra lúc 18 giờ chiều thứ Hai ngày 28-4-1975, đúng vào lúc lễ bàn giao tổng thống VNCH, là tín hiệu bắt đầu cho cuộc tổng tấn công tiến chiếm Sài gòn của cái gọi là “chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Bản tin chiều của đài phát thanh Sài Gòn và đài truyền hình số 7 loan báo lệnh thiết quân luật và giới nghiêm toàn thành phố Sài Gòn và tỉnh Gia Định đã được ban hành, lệnh có hiệu lực từ 19 giờ hôm nay ngày 28-4-1975 cho đến khi có lệnh mới. Thiết quân luật và lệnh giới nghiêm có nghĩa là quân đội nắm quyền chỉ huy và kiểm soát thủ đô và tất cả các đơn vị quân đội cùng quân nhân được đặt trong tình trạng báo động, phải trở về doanh trại cấm túc ứng trực 100% và người dân thì phải ở trong nhà, không được phép đi ra ngoài đường. Chiến tranh thực sự đang lan đến thành phố Sài Gòn thân yêu của tôi.

Suốt cả đêm, phi trường Tân Sơn Nhất và khu vực Lăng Cha Cả,  nơi đặt bản doanh sư đoàn Dù Hoàng Hoa Thám, bị bắn phá dữ dội bởi đại pháo và hỏa tiễn từ ngoại ô bắn vào.Tiếng nổ và những cột lửa bùng cháy trong đêm làm tôi trằn trọc không thể nào ngủ được, tôi chỉ chợp mắt được một vài giấc ngắn đầy cơn mê sảng và mộng mị. Nhà tôi nằm bên thở nhẹ không hay biết tôi đang có những mộng mị thiên thần giữa những cơn mê tới gần sáng. Suốt trong cuộc chiến, Sài Gòn tương đối yên ổn, đêm đêm không hề nghe tiếng đại bác và không hề bị bắn phá trực tiếp. Đêm nay các hỏa tiển này, đi kèm theo đó là những tiếng nổ thật lớn, có lẽ báo hiệu màn cuối cùng của cuộc bao vây, đánh chiếm thủ đô đã thực sự bắt đầu. Tôi nghĩ thầm.

Tờ mờ sáng hôm sau ngày 29, nhìn về hướng Tân Sơn Nhất tôi thấy nhiều loại máy bay, đặc biệt là nhiều máy bay trực thăng và máy bay bà già L-19 của không quân VNCH bay đầy trời như đàn chim vỡ tổ hướng ra biển Đông hay về Thái Lan. 

 

GIÃ TỪ SÀI GÒN
NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 1975

 

Hình như có một nỗi sợ hãi tiềm ẩn in sâu trong tiềm thức, như có một ma lực dẫn dắt và như có tiếng gọi từ một cõi nào mông lung xa thẳm, tôi không cưỡng được phải lên đường ra đi. Cư xá Thanh Đa như còn ngái ngủ, nằm im lìm trong nắng sớm ban mai sau một đêm dài “mưa gió bão bùng”. Nhà tôi ôm thằng con út tuổi chưa tròn năm vào lòng nhìn tôi như tha thiết nói chàng ở lại, nửa như xót xa nói chàng ra đi.

Tôi lặng lẽ lên xe theo bạn ra đi để lại những giọt lệ long lanh của nàng chảy xuống. Hôm ấy là buổi sáng sớm ngày 29 tháng 4 năm 1975.

*** 

Chiếc xe Honda mầu đen của Tiêng, người bạn thân nhất của tôi đến đón tôi rời nhanh khu cư xá Thanh Đa, lao mình vào Sài Gòn mù mịt hoang vắng, sau một đêm trường nghe tiếng đại pháo lẫn hỏa tiễn của Bắc quân bắn phá phi trường Tân Sơn Nhất.

Sáng nay, khí trời tương đối mát mẻ, trên không vẫn còn nhiều mây đen. Xe chạy qua ngã tư Hàng Xanh, hướng về Sài Gòn, hình như thành phố đã bị bỏ ngỏ, không còn thấy bóng dáng nào của cảnh sát và quân cảnh giữ an ninh trật tự. Tiêng và tôi, cả hai không nói ra nhưng có lẽ có cùng một cảm giác sờ sợ. Hai bên đường xe chúng tôi chạy qua, dân chúng ngơ ngác hoang mang, không biết chuyện gì đã xảy ra vào đêm qua, khi pháo nổ, hoả tiễn rơi vào phi trường Tân Sơn Nhất, và khi từng đoàn máy bay các loại bay di tản sang Thái Lan như đàn chim vỡ tổ.

Sài gòn những ngày gần cuối tháng Tư năm 1975 như cảnh chợ chiều, đầy hỗn loạn, như rắn mất đầu. Người dân hoang mang lo sợ về một tương lai bất định mờ mịt. Các quan chức chính quyền cao cấp, các bộ trưởng, các tướng tá quân đội có điều kiện thì mạnh ai nấy đã tìm đường di tản sớm, bằng mọi cách.

Hướng đi phi trường Tân Sơn Nhất, trên đường Công Lý, các xe lớn nhỏ, nổi bật là từng đoàn xe buýt sơn mầu olive của DAO (văn phòng tùy viên quân sự Hoa Kỳ), chen nhau chạy hối hả. Khi đến gần con đường dẫn vào nhà thầy me tôi, chúng tôi thấy một chiếc máy bay trực thăng bay thấp như muốn đáp xuống điểm hẹn để bốc người. Tôi nói với Tiêng đây có thể là một điểm hẹn trong nhiều điểm và nên ghé vào nhà thầy me tôi ở gần đó  báo tin thành phố đã tự thất thủ và luôn tiện gửi xe ở đó.

Khi được báo tin thành phố đã bị bỏ ngỏ, quân Cộng Sản miền Bắc đã bao vây và đang trực chỉ tiến vào Sài Gòn, cả đại gia đình của tôi đều ngạc nhiên sửng sốt, anh Lâm kế tôi hình như vừa mới ngủ dậy, nhất định không tin. Thế nhưng hai cụ thân sinh, chị Hai tôi và cháu Hùng con trai lớn của chị cũng bán tín bán nghi nhưng cũng nghe lời tôi ra đầu ngõ nơi có bãi sân rộng của hãng Ba Sam là điểm hẹn bãi đáp trực thăng để hy vọng lên được máy bay. Tiêng và tôi cũng hy vọng, ai ai cũng vậy, và vì quá đông người nên máy bay chỉ bay xà xà không dám đáp xuống.

Tôi thẫn thờ đưa hai cụ thân sinh trở về nhà và luôn tiện xin chị tôi một ít xăng để tiếp tục tìm đường thoát khỏi Việt NamChúng tôi đi đến những người quen thân để hỏi thăm phương tiệndò la tin tức nhưng đều được trả lời là chủ nhà đi vắng. 

****

Trời Sài Gòn buổi trưa, thành phố không nắng lắm, nhưng oi bức nồng nàn, hình như cả thành phố đang lên cơn sốt và hai chúng tôi lái xe chạy miên man khắp các con đường. Hầu như con đường nào cũng đầy ắp người và xe cộ đổ ra từng đoàn hỗn độn, từ mọi ngóc ngách của thành phố, hớt hãi như những con vật tội nghiệp tìm đường thoát khỏi trong cơn cháy rừng. Xe tăng của Bắc quân đang tiến vào thành phố, mọi người đều lo sợ cái chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho họ và gia đình họ.

Hướng ra bến Bạch Đằng xe cô kẹt cứng. Trên bến đầy cả người, chen lấn nhau leo lên một vài con tầu đang bỏ neo. Ai cũng tìm đường vượt thoát cộng sản, tránh bị gông cùm và nỗi chết.  Tôi nhìn thấy những nét mặt người đầy sợ hãi.  Tiếng khóc la của trẻ nhỏ. Tiếng chửi thề, tiếng người la hét, chen lấn, đánh đập và đạp dẫm lên nhau.  Tất cả giống như những con vụ mất thăng bằng không còn tự chủ quay được, lảo đảo rồi rơi lăn vào nỗi mất mát đầy tuyệt vọng.

Chúng tôi tiếp tục đi qua đường Tự Do, hướng nhà thờ Đức Bà rồi quẹo phải ra đường Thống Nhất, đến khu tòa đại sứ Mỹ, dân chúng dày đặc, chen chúc nhau leo tường vào bên trong tìm đường thoát. Họ nghĩ rằng tòa đại sứ Mỹ là cái phao cứu nạn, cứu họ thoát chết trước cơn đại hồng thủy.

Nhìn cảnh tượng di tản, cảnh chen lấn và xô đẩy của những người đi tìm chốn an toàn tị nạn, diễn ra giữa cơn hoảng loạn, trong nỗi tuyệt vọng và kinh hoàng của người dân miền Nam trước viễn ảnh đen tối là nếu không thoát khỏi Sài gòn, họ sẽ bị bỏ lại sau bức màn sắt của một chế độ cộng sản độc tài toàn trị. Đa số những người vào được khuôn viên tòa đại sứ là những nhân vật cao cấp trong quân đội và chính quyền có nhiều liên hệ mật thiết với người Mỹ và thân nhân của những người này.

Thấy không thể nào tới phiên mình, chúng tôi tiếp tục đi như là đi trong cơn mê sảng. Radio của đài phát thanh FM quân đội Hoa Kỳ cứ lập đi lập lại tin tức thời tiết Sài Gòn nóng gia tăng cùng với giai điệu ca khúc White Christmas do Bing Crosby trình bày mà sau này chúng tôi mới biết đó là mật hiệu di tản khẩn cấp các kiều dân Mỹ khỏi Sài Gòn.

Tiêng đưa tôi về căn nhà chính của tôi ở cư xá Nguyễn Trung Trực nằm trên đường Trần Quốc Toản để báo tin cho bà cụ nhạc mẫu và cũng luôn tiện để tôi thay bộ quân phục hầu dễ ra vào các căn cứ quân sự trong lúc này. Sau đó chúng tôi về nhà Tiêng để Tiêng gặp vợ. Lan rất bình tĩnh như không có chuyện gì xảy ra và còn nói: “thôi các ông cứ đi”. Cảm ơn chị Lan và Tiêng, nhờ câu nói này mà chúng tôi có thêm can đảm tìm đường ra đi và rồi để hai gia đình chúng tôi có được ngày đoàn viên sáu năm sau trên đất Mỹ.

Từ đường Lê Văn Duyệt bên Gia Định, qua cầu Bông, chúng tôi đi về hướng sông Sài Gòn, đến Tân Cảng rồi rẽ vào căn cứ hải quân Cửu Long thăm người bạn đang làm cơ khí trưởng một chiến hạm. Tiêng và tôi lên chiếc trục lôi hạm HQ 116 đang bỏ neo để tìm Hùng thì gặp trung uý Việt phó hạm trưởng.

Trong lúc bàn luận tình hình đất nước với vợ chồng anh thì căn cứ hải quân Cửu Long nhận được lệnh báo động từ bộ tư lệnh hạm đội Sài Gòn thuộc bộ tư lệnh hải quân, các chiến hạm phải khẩn cấp nhổ neo tách bến ra giữa dòng sông lập đội hình sẵn sàng di chuyển khi có lệnh.

Tôi còn nhớ, lúc còn ở trên chiến hạm, Tiêng ngỏ ý mượn chiếc xe Jeep của anh Việt về đón vợ con, nhưng không hiểu vì không có xe (xe của hạm trưởng đi đón vợ con rồi) hay vì lo sợ khi rời khỏi chiến hạm và căn cứ Cửu Long sẽ không thể nào trở lại tầu được nên ý định không thành.

Phần tôi, quả thực lúc bấy giờ, hình như đầu óc tôi trống không- totally blank, tôi bị thụ động hoàn toàn trước bối cảnh quân Cộng Sản đang tiến vào thủ đô, trước cảm giác sợ hãi cộng sản như một cơn dịch bệnh khủng khiếp lan tràn từ cuộc di cư vĩ đại 1954 theo gia đình vào Nam, đến cuộc di tản bi thảm từ Pleiku xuống vùng duyên hải, từ Quảng Trị, Huế Đà Nẵng vào Sài Gòn; và trước nỗi ngơ ngác bàng hoàng đến sợ hãi của dân chúng mà tôi đã chứng kiến sáng nay tại bến Bạch Đằng và trước tòa đại sứ Mỹ.

Không hiểu vì quá sợ hãi cộng sản hay là có một móng ý thầm kín nào đó tận thâm sâu nơi tâm hồn tôi mà cứ thôi thúc tôi phải ra đi tìm tự do, phải rời bỏ Sài Gòn. Hình ảnh thân yêu của vợ con tôi, hình ảnh hai cụ thân sinh ra tôi, bà cụ nhạc mẫu; tất cả đều không đủ mạnh để níu kéo tôi ở lại, hình như có một lực vô hình nào đó hối thúc tôi, đẩy tôi đi, đi thật xa, đi ra khỏi vùng lửa đạn, ra khỏi vòm trời Việt Nam đầy oan nghiệt, đầy oán thù mà cho đến bây giờ, ngồi bình yên trong thư viện đại học UM ở Hoa Kỳ, tôi mới thấy rằng đó chính là nghiệp lực đã dẫn dắt, đã đưa đẩy tôi đi. Gió nghiệp đã thổi tôi đi ra khỏi vùng trời Việt Nam.

Đúng 7 giờ chiều, tất cả các chiến hạm được lệnh khởi hành di chuyển hướng Côn Sơn, sau khi nghe nhật lệnh di tản của vị tư lệnh hạm đội Sài Gòn mà tôi nghe được khi ở trên đài chỉ huy chiến hạm, “ai muốn đi thì đi, ai không muốn đi thì cho họ tự do trở về nhà”. Trong lúc di chuyển, qua hệ thống truyền tin trên đài chỉ huy chiến hạm, tôi nghe được các lệnh trái chiều của hai vị chỉ huy cao cấp lúc đó từ bộ tư lệnh hải quân, có tiếng ra lệnh không được di chuyển, chờ lệnh, rồi lại  có tiếng ra lệnh cho đoàn tầu cứ tiếp tục di chuyển theo kế họach. Phó Hạm Trường HQ-116, Trung Úy Việt thay quyền hạm trưởng vắng mặt quyết định di chuyển theo kế hoạch đã dự định. (Có lẽ Thiếu tá hạm trưởng đang ở một chiến hạm khác hay về nhà đón vợ con chưa kịp trở lại)

***

Tôi đứng một mình cô đơn trên boong tầu, nhìn thành phố Sài Gòn thân yêu từ từ lùi lại phía sau, gió sông thổi lồng lộng trên mái tóc, quần áo bay phần phật. Trời đã tối hẳn mà thành phố vẫn chưa thấy lên đèn, chỉ thấy những đám cháy sáng đỏ rực bốc lên từ bốn góc trời, những lửa đỏ vẫn dồn dập chụp xuống, kho xăng Nhà Bè trắng xóa, lấp loáng dưới ánh lửa đang cuồn cuộn bốc cao, những nỗi chết vẫn túa vào. Tiếng súng đại pháo hỏa tiễn từ hướng phi trường vọng về. Ánh lửa bập bùng từ phía sau nhà thờ Đức Bà, nơi có tòa đại sứ Mỹ.

Sài Gòn nằm đó, Sài Gòn đang quằn quại đau thương, Sài Gòn của tôi, của những chiều thứ Bảy bên người yêu trên hè phố Bonard, đi dưới những hàng me già rợp bóng, Sài Gòn của bạn bè, của những tháng ngày trẻ dại cúp cua trốn học vào rạp hát Vĩnh Lợi hay Lê Lợi xem phim. Sài Gòn có gia đình cha mẹ anh em. Sài Gòn bây giờ đang oằn lên những nét thương đau chết chóc xa lìa…

Trên nền trời u ám và hình như mưa rơi lất phất. Tầu từ từ xa dần bến Bạch Đằng – nơi mà hai mươi năm về trước, thầy me tôi đã dẫn tôi xuống bộ sau một cuộc hải hành đi tìm tự do từ Hải Phòng vào Nam. Thật không ngờ, điểm đến của hai mươi năm về trước lại là điểm khởi hành không bờ bến của hai mươi năm sau. Lần đó thầy me tôi trốn chạy cộng sản mang tôi đi trong đêm tối tìm tự do. Lần này tự tôi một mình đi tìm đường thoát. Đi kiếm tìm tự do. Đi đâu, tôi không hình dung được, nhưng phải đi.

Con tầu lướt nhẹ và hình ảnh Sài Gòn thân yêu mờ dần trong sương đêm. Thôi giã từ Sài Gòn, giã từ em và các con thân yêu, giã từ những ngày xưa thân ái.

Tôi vẫn đứng trên boong tầu suốt đêm, nhìn con nước đen, nhìn bầu trời đầy sao. Lần thứ hai trong đời, tôi được đi trên một chiếc tầu biển ra xa bờ, chung quanh tôi im lìm, chỉ còn nghe tiếng sóng vỗ, chỉ còn nghe tiếng gió thổi, tôi tự hỏi không biết đây là sự sống hay nỗi chết, không biết đây là thực hay mơ. Mọi sự việc xảy ra như một thoáng giây, như mờ như ảo.

Trên bầu trời đầy sao, tự nhiên đến lúc này tôi mới thấm thía buồn, thấm thía nỗi cô đơn, tôi nhớ đến em, em bây giờ đang khắc khoải ôm con mỏi mòn ngóng trông. Thôi còn đâu tay gối ấm nồng, còn đâu đưa đón cổng trường, còn đâu những ngày trời nắng, những chiều mưa và những mùa trăng trên bãi biển Qui Nhơn. Chưa một lần trong đời tôi nhỏ lệ, thế mà đêm nay tôi thấy nước mắt tự nhiên ứa ra nhạt nhoà.

 

NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975
LÊNH ĐÊNH TRÊN BIỂN


Qua ngày hôm sau, tầu ra đến cửa biển khi trời vừa hừng sáng, sóng bắt đầu vỗ dồn dập ở mạn tầu. Tôi vẫn chưa biết tầu đi đâu chỉ nghe Việt nói đến điểm hẹn ngoài hải phận đảo Côn Sơn.

Qua radio của những anh em thủy thủ trên tầu tin cho chúng tôi biết khoảng gần trưa ngày 30 tháng 4, Đại tướng Dương văn Minh đã tuyên bố đầu hàng, Miền Nam đã thua cuộc.

Mãi đến tối, chiến hạm mới đến được điểm hẹn ngoài khơi đảo Côn Sơn. Vì là loại trục lôi hạm nhỏ hoạt động ven bờ nên chúng tôi được yêu cầu chuyển qua tầu lớn – chiến hạm HQ 5. Tôi không nhớ đoàn tầu có bao nhiêu chiếc, chỉ nghe nói khoảng 30 chiếc cứ chạy vòng vòng chờ nhau cả ngày cả đêm.

Vì nhớ thương gia đình còn kẹt lại – viên cơ khí trưởng tầu HQ 116, bạn của Tiêng quyết định nhảy xuống chiếc LCM lái một mình trở về Sài Gòn đón vợ con. Anh em trên tầu tập trung tiền VNCH chứa đầy một bao tải cá nhân, ném xuống cho anh thủy thủ can đảm này, nhưng không biết liệu anh có thể sử dụng được không khi mà Sài Gòn đã có chính quyền mới. Những người gom tiền đưa hết cho anh chỉ nghĩ là tiền không còn giá trị nữa khi rời khỏi đất nước. Trong một ý nghĩa nhất định nào đó, tiền bạc là giá trị tích luỹ từ sức lao động làm việc, từ mồ hôi, nước mắt; bỗng nhiên, nay trở thành số không. Quả thật thế gian này là vô thường, có đó rồi không đó. Chỉ trong vòng hai mươi năm, đây là lần thứ hai trong đời tôi được chứng kiến tận mắt tiền của từ có biến thành không. Lần trước, vào năm 1954 thầy mẹ tôi đã bỏ lại tất cả tiền bạc, của cải vườn ruộng dành dụm một đời, ra đi với hai bàn tay trắng, từ Bắc vào Nam.

****

Các chiến hạm cứ chạy vòng vòng ngoài hải phận quốc tế để chờ nhau. Có chiếc bị hư nên phải chuyển tầu, có chiếc chạy yếu, chạy chậm. Mãi đến trưa ngày mồng một tháng Năm cả đoàn tầu mới được lệnh trực chỉ vịnh Subic Bay, Phi Luật Tân. Lệnh này không biết của ai nhưng về sau đọc lại lịch sử chiến trận Việt Nam mới biết là từ bộ chỉ duy chiến dịch di tản của Mỹ đặt trên soái hạm Hạm Đội Thái Bình Dương.

Ở trên chiến hạm HQ 5 rất đông tướng tá, bộ trưởng, thứ trưởng, quân nhân đủ mọi binh chủng, và người dân thường nữa nên không còn chỗ trống cho những người đến sau như chúng tôi. Tiêng và tôi cùng Quốc – người bạn mới quen trên tầu HQ 116 chọn vị trí nằm ở trên boong tầu, cạnh ụ súng đại pháo. Hàng ngày ngoài việc thay phiên nhau đi đến nhà bàn kiếm cơm ăn cho nhóm ba người, chúng tôi còn được chứng kiến tận mắt cảnh tranh dành thực phẩm, cảnh hỷ nộ ái ố giữa những người cùng cảnh ngộ chạy loạn như nhau, trong ấy phải kể đến cảnh đánh ghen giữa các “mệnh phụ” phu nhân quan lớn; có ông đem theo cô thư ký nhân tình trẻ đẹp, có bà đem theo người cận vệ hay tài xế trẻ cứ ồn ào cả lên. Họ đâu biết rằng, ngoài họ ra còn có rất nhiều cảnh đời khác, khi đêm về tựa boong tầu, âm thầm lau nước mắt, nhớ thương mẹ già, thương người vợ trẻ và đứa con thơ còn kẹt lại quê nhà

 

NGÀY 1 ĐẾN 7 THÁNG 5 NĂM 1975:
TRỞ NGẠI HẢI HÀNH

 

Hạm đội Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa gồm khoảng 30 chiếc  chiến hạm mà hầu hết đã cũ do Hải Quân Hoa Kỳ chuyển giao trong cuộc chiến, nên ỳ ạch di chuyển trên một hải trình ngắn. Thay vì phải mất khoảng 3 ngày là tới Subic Bay, hạm đội mất một tuần mới gần tới hải phận Philippines.

Thật ra không phải như vậy mà vì trở ngại ngoại giao giữa Philippines và Hà Nội nên hạm đội phải di chuyển chậm chờ kết quả thương thảo giữa ba bên Philippines, Hoa Kỳ và Cộng Sản Việt Nam. Chính quyền mới đã chính thức lên tiếng đòi tính cách chủ quyền trên các chiến hạm đang di tản khỏi Sài Gòn và yêu cầu Philippines hoàn trả.  Philippines không muốn mất lòng Hà Nội khi phải tiếp nhận các chiến hạm theo yêu cầu của Hoa Kỳ.

Sau cùng lệnh của Ngũ Giác Đài cho hải quân Hoa Kỳ thực hiện thủ tục việc  thu hồi các chiến hạm đã viện trợ cho quân lực VNCH trước đây bằng cách xóa bỏ tên và số hiệu của từng chiến hạm, thay thế cờ VNCH bằng cờ HK và vưt bỏ đạn dược xuống biển. Do vậy các chiến hạm bây giờ là của Hoa Kỳ nên có quyền đến căn cứ Subic Bay. Lễ hạ cờ Việt Nam và treo cờ Hoa Kỳ được thông báo trên các loa phóng thanh trên các chiến hạm là 12 giờ trưa ngày 7-5-1975 trước khi các tầu tiến vào hải phận Subic Bay.

Hôm lễ hạ cờ VNCH rất cảm độngtoàn thể những người hiện diện trên chiến hạm gồm quan và dân đồng ca bài quốc ca lần cuối, nhiều người không cầm được nước mắt, nghẹn nào nhìn cảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ VNCH kéo xuống, cờ Mỹ kéo lên. Sau đó là lệnh cho tất cả tướng tá và quân nhân phải lột bỏ lon lá, phù hiệu quân binh chủng và vất tất cả võ khí cá nhân xuống biển. Với tôi, ngoài bộ quần áo trên người, tôi còn có gì đâu mà vất với bỏ!.

Thế là chấm hết. Một quân đội hùng mạnh với gần một triệu quân dưới cờ sau hai mươi năm chiến đấu dũng cảm nay phải hạ cờ bỏ súng. Tại sao lại phải chấm dứt một cách tức tưởi như thế? Tại sao Hoa kỳ lại bỏ cuộc như thế? Vì sao Hoa Kỳ kết thúc cuộc chiến và bỏ rơi cái gọi là “đồng minh thân thiết VNCH” của mình.

Câu trả lời ngắn gọn là vì quyền lợi của Mỹ ở Việt Nam đã không còn nữa sau khi họ đã chuyển chính sách về Trung Đông và Do Thái. Họ cần bảo vệ Do Thái và cần năng lượng hơn. Thật sự không phải hôm nay Hoa Kỳ mới bỏ rơi chúng ta mà Hoa Kỳ đã bỏ rơi chúng ta từ 3 năm trước, kể từ ngày Tổng thống Nixon bắt tay được với Trung Quốc vào năm 1972. Nam Việt Nam không còn là tiền đồn ngăn chặn làn sóng cộng sản nữa.

Bất hạnh thay, đất nước chúng tôi, dưới sự lãnh đạo của những người bất tài tham nhũng, không có tâm và có tầm, đã không đủ dũng cảm dành quyền tự lập, tự quyết, tự chủ và tự cường như Tây Đức hay Nam Hàn để đến nay phải trả giá quá đắt khi hoàn toàn bị lệ thuộcnếu không muốn nói là nô lệ vào Hoa Kỳ, từ vật chất đến tâm lý, từ chính trị, ngoại giao, quốc phòng đến kinh tế, từ súng ống, đạn dược đến cả lương bổng cho quân nhân, cảnh sát và công chức. Mà hễ bị nô lệ thì chủ bảo sao thì tớ phải nghe theo! Rất đơn giản thôi.

****

Đến Subic Bay, căn cứ Hải Quân Mỹ tại Philippines, tất cả mọi người mà bây giờ đồng là thường dân ước lượng trên 30 ngàn người trên 30 chiếc tầu các loại, được lệnh chuyển qua các thương thuyền do Hoa Kỳ thuê bao, ngay trong đêm khuya để tiếp tục cuộc hải hành đến đảo Guam.

Do chính quyền Philippines không chấp thuận cho dân tị nạn lên bờ tạm trú để chuyển tiếp đi Mỹ, nên một đoàn thương thuyền nhiều chiếc được Mỹ thuê bao chờ sẵn ở cảng để tiếp chuyển đưa đồng bào đến Guam. Về sau đọc báo tại trại tị nạn, tôi mới được biết tên một số tầu là: Pioneer Commander, American Challenger, Greenville Victory, Sergeant Andrew Miller, Green Forest và Green Port..., mỗi chiếc có sức chứa chở khoảng 5.000 người.

Vì chuyển tầu trong đêm nên tôi không biết là mình đi trên chiếc nào, chỉ biết là tầu không thuộc loại chuyên chở hành khách mà chở hàng hóa nên không có phòng và giường để ngủ mà là nằm trên sàn tầu. Mọi người tự do chiếm chỗ, bất cứ chỗ nào trống là được. Riêng tôi chọn ở trên boong tầu thoáng mát hơn. Vì chỉ ăn đồ hộp trái cây do anh em trong nhóm tôi mang theo từ chiến hạm HQ 116 nên không thấy đói và nhờ vậy nên không có nhiều nhu cầu vệ sinh. Chỉ tội nghiệp các em nhỏ không có thức ăn và sữa uống nên khóc la cả ngày cả đêm. Nhiều cha mẹ phải năn nỉ xin ai có khẩu phần cơm sấy khô quân đội cho mua lại bằng nhiều tiền dollars. Tầu không phát thực phẩm và nước uống, mọi người phải tự túc. Tuy thế họ cũng có đặt nhiều nhà vệ sinh di động dọc theo lan can tầu.

Khoảng nửa đêm ngày 13 tháng 5 tức sau 13 ngày hải hành từ Côn Sơn, đoàn tầu cập cảng Apra, thuộc căn cứ Hải Quân Mỹ ở Guam. Chúng tôi được chở thẳng từ bến tầu đến Orote Point, cách khoảng nửa giờ xe.  Orote Point là trai lều mệnh danh là Tent city, giang sơn mỗi người là chiếc ghế bố đặt trên nền đất, trong mỗi căn lều vải chứa chừng 20 người. Đây là khu hẻo lánh nhất nằm ở phía nam đảo Guam, dựng trên nền một phi trường cũ. Tổng số dân cư đảo Guam hồi ấy chưa tới 100 ngàn người trong khi tổng số dân tị nạn tới đây lên tới hơn 100 ngàn. Vì toàn đảo không có đủ xe bus chuyên chở nhiều chục ngàn người tị nạn mới đến nên thống đốc Guam đã ra lệnh cho các trường học nghỉ học ba ngày để trưng dụng xe bus mầu vàng chở dân tị nạn từ cảng đến trại tị nạn. Cảm ơn ngài Thống đốc và nhân dân đảo Guam.

 

NGÀY 13-5-1975
ĐẾN ĐẢO GUAM AN TOÀN


Ngày đặt chân đến đảo Guam, tôi nhớ mãi không quên vì chính là ngày sinh nhật đầu tiên của đứa con út tôi - ngày 13-5-1975. Thế là gần nửa tháng lênh đênh trên biển Thái Bình Dương, đoàn quân tan hàng đã an toàn đến được bến bờ tự do.

Đứng trên boong tầu nhìn đoàn người, quan, quân và dân lũ lượt xuống bộ, tôi không thấy buồn mà cũng chẳng thấy vui, tôi chỉ cảm thấy hổ thẹn và tiếc nuối cho tuổi trẻ Việt Nam, trong đó có tôi đã không làm được gì sau hai mươi năm chinh chiến, đã không giữ vững được miền Nam đất Việt để ngày nay phải tháo chạy tìm đất tạm dung. Quê hương chúng tôi đã đổ nát vì lòng tham cuồng của đối phương sắt máu, vì sự lãnh đạo độc tài, ngu dốt và tham nhũng của chính quyền bên này, và cũng vì nhân dân miền Nam chúng tôi chia rẽ, thờ ơ, chống đối và chán chường một cuộc chiến dài lê thê và nhất là vì sự tiêu cực đến bất lực của khối đông tuổi trẻ chúng tôi.

Nhóm chúng tôi là những người trai trẻ độc thân, không gia đình xuống đảo sau cùng nên mãi đến tối khuya, chân mới chạm được mặt đất, mỗi người được nhận áo quần, khăn tắm, xà phòng, bàn chải và kem đánh răng. Sau khi qua hệ thống tự động vòi phun hơi tẩy trùng DDT toàn thân, tắm rửa lộ thiên và thay áo quần rồi lên xe buýt về trại Orote Point thì trời đã vào khuya. Ở cùng lều với chúng tôi còn có anh chị Việt và Quốc người bạn mới quen trên chiến hạm.

Tôi cũng không ngờ đúng 20 năm ngày rời đất Bắc vào Nam đến nơi ở đầu tiên là trại Lều Phú Thọ nay nơi đến cũng trại lều Orote Point ở bên kia bờ Thái Bình Dương, cũng do Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ thiết lập, chỉ có điều quy mô hơn và rộng lớn hơn.

****

Guam nằm ở vùng biển Thái Bình Dương, là lãnh thổ hải ngoại của Mỹ, cách Hawaii hơn 5.000 km về phía tây, cách thành phố Los Angeles khoảng 12 giờ bay và là lãnh thổ hải ngoại nhỏ nhất và xa nhất của Mỹ. Thủ phủ của đảo là Agana. Guam là trung tâm đầu não chiến lược quan trọng của quân đội Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Dân số khoảng 100.000 người, là nơi Mỹ đặt căn cứ không quân Andersen và căn cứ hải quân Apra. Guam được dùng làm chặng dừng chân đầu tiên của hơn 100 ngàn người Việt tỵ nạn đến đất Mỹ.

Thế là đã qua một đêm ngủ thật an lành trên ghế bố. Sáng tỉnh dạy chúng tôi mới đi khám phá và nghe ngóng tình hình về nơi này thì thấy nơi đây đúng là một thành phố lều bao la bát ngát được mệnh danh là Tent City do Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ cấp tốc dựng tạm để chứa khoảng 100 ngàn người.

Nơi đây vốn là một phần của phi trường cũ bỏ hoang nằm ở phía Nam đảo, có hai con đường chánh trải nhựa chạy xéo xuyên nhau với nhiều trụ đèn cao sáng. Họ đặt bộ chỉ huy trại và các cơ sở yểm trợ như văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, Sở Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ, các tổ chức thiện nguyện như Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ; và một bệnh xá dã chiến, ngay nơi giao lộ của hai con đường chính, mà về sau có tên gọi là “Ngã Tư Quốc Tế.” Nơi đây là trung tâm hội ngộ, cũng là nơi khóc, nơi cười, nơi tìm người thân thất lạc, vợ tìm chồng, chồng tìm vợ, cha mẹ tìm con, nơi nghe ngóng tin tức quê nhà quê người. Có thể nói đây là nơi sinh hoạt sầm uất nhất về ban đêm.

****

Công việc đầu tiên ngày hôm nay (14/5/1975) là chúng tôi, cũng như tất cả mọi người phải làm thủ tục ghi danh lý lịch với sở di trú và nhập tịch Hoa Kỳ để họ cấp giấy I-94, đồng thời sắp xếp chuyến bay về nội địa. Một cô người Việt có chồng là quân nhân Mỹ đồn trú ở Guam từ năm 1972, vì nhớ người Việt quá nên tình nguyện làm việc ở sở di trú kể cho tôi biết trong danh sách người tị nạn ghi danh cổ chỉ thấy có hai nghề nghiệp phổ thông nhất là quân nhân và danh ca. Họ khai là làm nghề đánh cá nhưng máy chữ không có dấu tiếng Việt thành là danh ca. Cô giải thích thêm.

Cũng trong thời gian ở đây để chờ ngày lên chuyến bay đi nội điạ Hoa Kỳ; Tiêng gặp được gia đình anh Chiển, ông anh họ làm ở cục an ninh quân đội nên được ghép chung cùng gia đình để có ưu tiên đi sớm.

Trong lều với 20 chiếc ghế bố loại nhà binh sắp thành hai hàng, chúng tôi chỉ có 5 người, Tiêng, Quốc, tôi và anh chị Việt. Tiếc cho anh chị ấy, vợ chồng mới cưới không có được một phòng riêng hay ít nhất có được chiếc màn che ngăn cách để ngủ mà chúng tôi cũng vô tình không đi kiếm một cái lều khác ở để dành riêng lều này cho họ được tự do. Thật ra chị Việt là bạn gái của anh ấy, tình cờ lên chiến hạm thăm người yêu, rồi lệnh báo động tầu rời bến thế là chị đi luôn theo anh và trở nên vợ chồng khi đến đảo. Chúc mừng hạnh phúc đến anh chị Việt, dù lời chúc muộn màng.

Rồi thời gian qua mau, Tiêng rời đảo trước rồi đến anh chị Việt rời khỏi Guam. Hàng ngày chúng tôi vẫn xếp hàng dưới cơn nắng hải đảo để ăn cơm ngày hai bữa, lang thang đến khu trung tâm “Ngã Tư Quốc Tế” nơi đặt văn phòng điều hành trại xem danh sách chờ chuyến bay, bay về nội địa, tối đi xem chiếu bóng ngoài trời gần bãi biển. Chỉ thế thôi và chỉ thế thôi.

Phải kể thêm, cuộc sống ở trại Orote Point khá đặc biệt. Các quân nhân Mỹ đối xử với người tị nạn khá tốt, họ làm bất cứ điều gì mà người tị nạn yêu cầu. Họ phục vụ hết mình, ngày dọn ăn cho bà con hai bữa ăn, sáng từ 7 đến 11 giờ, chiều từ 3 đến 8 giờ mà hàng người xếp hàng lúc nào cũng dài dưới cơn nắng hải đảo. Có người than phiền cơm như là cơm luộc, thế là ngày hôm sau họ nhờ người Việt mình vào nhà bếp nấu cơm kiểu cơm Việt Nam mình. Cơm nước ở đây ê hề, thịt gà ta, gà tây ăn dư thừa, một số bà lấy đem về lều biến chế thành món gà chà bông, ăn rất ngon. Bữa ăn sáng là kiểu ăn sáng của Mỹ với bánh mì lát ăn với trứng gà scrambled và bacons, xúc xích cùng với sữa tươi và nước cam.

Nhờ xếp hàng ngày 2 lần ăn trưa và chiều nên cũng tiêu khá nhiều thì giờ. Đêm về nằm gác tay lên trán tự hỏi không biết ngày mai sẽ ra sao, sẽ đi về đâu và làm gì để sống…

Mọi tin tức ở trại đều được loan báo qua đài phát thanh nói tiếng Việt, hình như do ca sĩ Kim Vui và người chồng Mỹ của cô  phụ trách và tờ nhật báo Chân Trời Mới phát hành mỗi ngày, chuyên về tin tức định cư người tị nạn. Câu chuyện bàn tán quanh trại vẫn là chuyện bao lâu sẽ được rời đảo bay về Mỹ và tin tức về một nhóm người đòi hồi hương thường gây ồn ào với biểu tình yêu cầu Hoa Kỳ sớm đưa họ trở về Việt Nam làm nhiều người chú ý. Chuyện thứ nhì bàn tán là chọn đi đâu trong bốn trung tâm ở đất liền nằm ở bốn tiểu bang: California, Florida, Arkansas hay Pennsylvania? Muốn đi California hay Florida phải xếp hàng từ sáng sớm để ghi tên. Họ nói California và Florida nắng ấm, khí hậu hợp với người Việt. Thực tế không như mọi người mong muốn. Chính sách di dân của chính phủ Mỹ là phân tán mỏng dân tị nạn để mau hòa nhập vào cộng đồng bản xứ.

Cho đến khi tôi ghi danh được thì hai trại ở Florida và California đã đóng cửa và ngay cả trại Orote Point này cũng sẽ đóng do mùa  bão Thái Bình Dương sắp đến, nên không có lựa chọn. Họ ghi tên đi đâu thì đi đó. Tôi đi về Fort Indiantown Gap ở bang Pennsylvania. Cũng còn duyên với bạn hiền, Tiêng đi theo gia đình anh Chiển nên được đi trại Fort Indiantown Gap sớm từ tuần trước.

Nhắc đến đảo Guam cũng không quên nhiều cảnh đời trong đó có những gia đình đông con gái cha mẹ không biết làm sao sống nơi quê người nên đã vội vã đồng ý gả con cho những người lính Mỹ hay những chàng trai ở đảo làm việc trong trại đến cầu hôn. Chính tôi đã chứng kiến một anh quân nhân Mỹ, không phải hàng sĩ quan đã quỳ xuống ngay dưới đất trước mặt cô gái trẻ, khá đẹp và trước sự chứng kiến của mẹ cô gái để trao nhẫn cầu hôn. Họ nằm trong số hai nghìn người đã chọn Guam định cư vào ngày đóng cửa trại. Tôi nghĩ thầm không biết về sau này cô gái có được hạnh phúc không và người mẹ có sót sa khi rời xa cô về đất liền. Chúc cho cô hạnh phúc.

Về sau, chúng tôi được biết có tất cả 110 nghìn người tị nạn đã đến Guam trong số 130 nghìn người thoát khỏi Việt Nam vào ngày 30/4/1975 Cảm ơn nhân dân và chính quyền đảo Guam đã giang tay đón chào những người Việt đến đây.

Dù đảo Guam không phải là nơi đáng yêu, đáng nhớ, nhưng đã là nơi ghi dấu vết hằn trong tim tôi, nỗi buồn đầu đời mất quê hương, nỗi buồn xa lìa vợ con khi hàng ngày phải đi sắp hàng ăn cơm, sắp hàng lãnh phẩm vật cứu trợ và cảm nhận thế nào là nỗi niềm thương nhớ gia đình khi nhìn về quê hương xa thẳm không có ngày về.

 

BẾN BỜ TỰ DO

 

Thế là tôi đã đến được bến bờ tự do sau một cuộc hải hành dài 13 ngày trên biển Thái Bình Dương và cuộc chiến dài 30 năm trên quê hương tôi. Cuộc chiến bắt đầu từ lúc tôi chập chững bước những bước đi đầu tiên vào đời cho đến khi cuộc chiến tạm thời kết thúc lúc tôi lên 11 tuổi vào năm 1954. Sử sách ghi lại đây là cuộc chiến chống thực dân Pháp kéo dài 10 năm từ năm 1945 đến năm 1954 và tiếp theo sau đó 20 năm là cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản độc tài hay nói gọn là cuộc chiến ý thức hệ. Miền Bắc theo chủ nghĩa độc tài cộng sản do Trung Quốc và Liên Xô lãnh đạo. Miền Nam theo chủ nghĩa tư bản tự do Mỹ lãnh đạo.

Sau 30 năm chiến tranh chết chóc và tang thương, số người Việt Nam chúng tôi ở cả hai bên thiệt mạng lên tới ba triệu người. Đất nước và tài sản của dân chúng cả hai miền đều bị chiến tranh tàn phá đến mức độ chưa từng thấy trong lịch sửcho đến nay vẫn còn những di hại của bom, mìn chưa nổ và chất thuốc khai quang.

Tôi ra đời trong bối cảnh chiến tranh như vậy tại một làng quê miền Bắc, theo cha mẹ di cư vào Nam tìm tự do trong khuôn khổ quy định của hiệp định Geneve, ai muốn ở lại miền Bắc thì ở, ai muốn đổi chế độ thì vào Nam.

Do phải sinh sống trong thời chiến tranh loạn lạc nên tôi sớm có được nhận thức về các biến cố trong đời và cho đến nay tôi vẫn còn nhớ như một khúc phim quay lại.

Ngay sau ngày 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Geneve ký kết, thầy mẹ tôi bồng bế con cái trở về quê, sau một thời gian lên tỉnh lánh nạn binh đao. Lúc ấy mọi nơi dân chúng phấn khởi vì hết chiến tranh, thôn quê và thành thị được đi lại tự do, nhiều gia đình đoàn tụhạnh phúc, nhưng tiếc thay, chỉ sau vài tháng, dân chúng bị cưỡng bách đi lao động dân công, các cán bộ ủy ban kháng chiến xã huyện đi kiểm kê tài sản nhà cửa ruộng vườn để thực thi cái gọi là “cải cách ruộng đất”, phân phối tài sản đồng đều, giầu nghèo như nhau. Họ thực hiện chế độ kinh tế tập trung do nhà nước làm chủ, khiến dân chúng hoang mang lo sợ. Luật pháp thì tùy tiện do các cán bộ, công an địa phương quyết định. Dân chúng mất niềm tin vì cuộc sống thay đổi đột ngột không định hướng. Thầy me tôi kể, lúc ấy ai ai cũng lo lắng khai báo cho mình một tiểu sử nghèo, dốt, để hy vọng mình được xếp vào thành phần “bần cố nông”, tránh bị thanh toán. Cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa liềm của cộng sản quốc tế lúc nào cũng tung bay rợp trời khắp nơi.

Vì là giai cấp địa chủ, thấy không thể nào sống nổi dưới chế độ cộng sản, thầy me tôi quyết định rời bỏ xóm làng, họ hàng bà con bồng bế con cái trốn đi trong đêm đến cảng biển Hải Phòng vào Nam, lúc ấy vào khoảng cuối năm 1954, tức gần nửa năm sau ngày đình chiến.

Nhờ lực lượng hải quân hùng hậu và dồi dào tài chính của Hoa Kỳ trợ giúp nên có khoảng một triều người đã di cư từ miền Bắc vào Nam, trong đó có chúng tôi. Tôi nhớ hồi đó ông Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về miền Nam làm Thủ tướng của Quốc trưởng Bảo Đại, đám học trò lớp nhất chúng tôi hợp cùng với các trường khác được tập hợp đi đón và hoan hô Ngô Tổng Thống. Hồi ấy, ông cho dẹp  tất cả các lực lượng võ trang ở miền Nam như quân đội Bình Xuyên, quân đội Cao Đài, quân đội Hòa Hảo và sau khi dẹp tan các lực lượng này, ông Diệm với sự ủng hộ của Mỹ, tổ chức trưng cầu dân ý truất phế quốc trưởng Bảo Đại lập nên nền đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa. Tôi không biết sự kiện chính trị này có được chính danh không.

Hồi đó khi vào miền Nam, tôi theo học lớp Nhất tại trường tiểu học Phú Nhuận. Vào mỗi sáng thứ Hai chào cờ, tôi được cô giáo lớp tôi cho “vinh dự” kéo cờ và tất cả học sinh phải hát bài ca suy tôn Ngô Tổng Thống sau khi chào quốc kỳ. Ở miền Nam, dạo ấy tôi không hiểu tại sao chính quyền tổ chức quần chúng hay đến như thế, đâu đâu cũng toàn là suy tôn Ngô Tổng Thống rồi đả đảo cộng sản. Vào trong rạp hát xem chiếu phim khán giả cũng phải đứng dậy chào cờ và hát bài ca suy tôn.

Nói gì thì nói dưới chính thể cộng hòa và do sự lãnh đạo của ông Ngô Đình Diệm, dân chúng miền Nam có được ít nhất là năm sống trong thanh bình, không chiến tranh loạn lạc.

FORT INDIANTOWN GAP
NHỮNG NGÀY CHỜ MONG

 

Để tránh mùa mưa bão hàng năm sắp đến đảo Guam, nên bộ chỉ huy trại – nói chính xác hơn là Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch Đời Sống Mới, phải gia tăng tốc độ đưa tất cả người tị nạn về các trại tập trung trong nội địa Hoa Kỳ. Họ lập cầu không vận nối liền đảo Guam với bốn trại tị nạn trong lục địa để chuyển vận dân tị nạn. Họ thuê các máy bay dân sự và các xe bus mầu vàng chuyên dụng chở học sinh để chuyển vận dân tị nạn ngày đêm rời đảo.

Thế là tôi và Quốc, hai người bạn còn lại trong lều cũng tới lượt lên xe bus cùng đoàn người lũ lượt ra phi trường quân sự Anderson để chờ lên máy bay đi Mỹ. Đoàn người được đưa vào các ba-rắc quân đội hình vòm, ngủ trên giường có nệm, ở đó gần một ngày rồi lên đường vào nước Mỹ bằng chuyến bay dân sự American do chính phủ thuê bao. Máy bay khá dài và rộng, trên đường bay về Mỹ ghé Alaska tiếp nhiên liệu rồi sau đó bay thẳng về phi trường Harrisburg International Airport, tiểu bang Pennsylvania, miền Đông Bắc Hoa Kỳ.

Đến Harrisburg, tôi thấy đoàn xe buýt cũng mầu vàng chờ sẵn đón chúng tôi chuyển vận về trại tỵ nan Fort Indiantown Gap cách đó khoảng một giờ xe, khi trời sắp tối và mưa nhẹ. Ngồi trên xe, tôi thầm nghĩ xe đưa chúng tôi về đâu? Chắc không chỉ là một trại tị nạn mà là về một vùng trời mới đầy tương lai hứa hẹn hay vùng trời sa mạc hoang vu đầy bất định và hoang mang.

Cảm xúc buồn nhớ quê hương, thương nhớ vợ con trong lòng tôi lại dấy lên. Sài gòn bây giờ đã mù khơi, đã thật xa rồi em ơi. Sài Gòn ơi, bây giờ ở đâu. Em ơi, bây giờ em ở đâu và đang làm gì, có nhớ đến anh không, có thầm nghĩ: “chàng từ đi vào nơi gió cát. Đêm trăng này nghỉ mát phương nao?”

Nơi đây và Sài Gòn cách nhau đúng nửa vòng địa cầu, em ở đầu cầu bên kia, anh ở đầu cầu bên này, hai khung trời cách biệt, hai phương trời thương nhớ. Càng ngày anh càng xa em, Sài Gòn – Côn Sơn - Subic Bay – Guam - Pennsylvania và còn đâu nữa? mỗi một chặng đường anh đi tới lại thêm xa những gì vừa bỏ lại đằng sau, nhưng chắc chắn một điều, anh không xa em và con trong tâm tưởng.

Căn cứ quân sự Fort Indiantown Gap, một trong những căn cứ chính của quân đội và lực lượng Vệ Binh Quốc Gia tiểu bang Pennsylvania, tạm thời được dùng làm nơi tiếp cư cho người Việt tị nạn trên đất Mỹ. Mãi về sau tôi mới được biết nơi đây từng là nơi cư trú tạm cho 32 ngàn người Việt Nam, trong đó có tôi vào cuối năm 1975 và 20 ngàn người Cuba vào năm 1980.

Căn cứ có nhiều khu vực nhưng họ dành 4 khu cho những người tỵ nạn lưu trú tạm là các khu 3, 4, 5 và 6, mỗi khu gồm có nhiều tòa nhà hai tầng gọi là bar-rack, có nhà ăn riêng, gần nhà thờ, bệnh viện và các văn phòng di trú, dịch vụ. Từ khu này đến khu kia cách nhau khá xa, phải đi bằng xe buýt của trại đưa đi qua những con đường ngoằn ngoèo.

Đoàn người tị nạn chúng tôi được đưa vào một hội trường rộng lớn như là rạp hát trong căn cứ để tham dự buổi hướng dẫn mà tiếng Mỹ gọi là orientation để làm thủ tục nhập trại. Mọi người vô cùng ngạc nhiên vì nhận thấy hầu hết những người trong ban tổ chức đều là sĩ quan quân đội Mỹ nói tiếng Việt rất thông thạo.

Làm thủ thục nhập trại xong, chúng tôi được sắp xếp ở khu 6, mỗi người nhận được một căn cước tị nạn, một cái chăn len màu olive quân đội, một tấm vải trải giường màu trắng, một chiếc áo gối, và được dặn kỹ: “Đây là những thứ chính phủ Hoa Kỳ cho mượn, khi xuất trại phải hoàn lại cho trại.”

Sau đó họ dẫn chúng tôi đến tận nơi chỉ định. Vì là ban đêm, tôi không nhớ rõ bar-rack số mấy, hình như là số 67 nên địa chỉ tạm ghi vào giấy tờ và bao thư là Indiantown Gap H6-67 Annville, Pennsylvania, USA.

Tôi và Quốc được sắp xếp ở trên lầu phía cuối bar-rack. Cùng ở lầu bar-rack này có phu nhân đại uý Đương, anh hùng mũ đỏ và một nhạc sĩ tôi không nhớ tên, nhưng có lần anh tâm sự với tôi về bản nhạc anh sáng tác “Mưa bên kia sông” cùng với những ước mơ của anh khi ra khỏi trại.

Cùng ở khu 6 này còn có linh mục Cao Văn Luận và cựu bộ trưởng  Nghiêm Xuân Hồng. Tôi chỉ biết hai vị này chứ không quen vì khoảng cách tuổi tác và địa vị xã hội.  Linh mục Cao Văn Luận nguyên là viện trưởng viện Đại học Huế, người từng từ chức vào cao điểm của phong trào tranh đấu Phật Giáo năm 1963 còn ông Nghiêm Xuân Hồng là một nhà văn luật sư viết nhiều sách về chính trị, về sau khi định cư tại miền Nam California, tôi có duyên gặp cụ tại chùa Liên Hoa ở thành phố Garden Grove trong những buổi học Phật Pháp với cụ và một lần khác đi chung với cụ trong một chuyến du lịch Trung Quốc do Từ Ân Thiền Đường tổ chức.

****

Những ngày ở Fort Indiantown Gap, cũng không khác gì ở Orote Point, chỉ khác là ở đây tiện nghi hơn, được ngủ giường nệm, có sưởi ấm vào ban đêm. Nơi đây bây giờ vẫn còn mùa Hạ nóng bức, ngày dài như không dứt. Đêm về lạnh, sương giăng mờ lối.

Việc đầu tiên tôi làm sau khi ổn định chỗ ở là biên thư cho người vợ hiền dấu yêu của tôi qua địa chỉ cô Vân, em của Nhã bạn học cũ, hiện ở thành phố Sarcelles, ngoại ô thành phố Paris, để nhờ chuyển thư báo tin tôi đã đến nơi bình an.

Những ngày tháng tiếp theo cũng vẫn là những tháng ngày đợi chờđợi chờ ai, đợi chờ gì hay đợi chờ ngày trở lại quê hương. Không phải vậy, chính là đợi chờ ngày được ra khỏi trại để bắt đầu làm lại cuộc sống mới. Vì hãy còn trẻ, lúc ấy tôi mới 33 tuổi nên còn nghị lực, nếu như già chắc không biết làm sao để làm lại cuộc sống mới.

Ở đây buồn lắm em ơi, vẫn những sáng trưa chiều sắp hàng vào nhà bàn ăn cơm, sau đó đi bộ lang thang hay đón xe buýt đi từ khu này đến khu kia. Đi như để ngóng tìm em, tìm người quen, để xem chiếu bóng, để vào thư viện, để dò la tin tức, hay đi để tự trấn an nỗi hoang vắng trong lòng hay những âu lo về tương lai nơi miền vô định và nỗi lo lắng cho người thân còn ở lại. Đi vì tâm cũng như thân không thể ngồi yên được.

Đối với nhiều người có đầy đủ gia đình thì có lẽ thời gian ở đây là sung sướng nhất vì đã có ban điều hành trại lo đầy đủ từ miếng ăn nước uống đến chăn mền sưởi ấm khi mùa Thu đang về. Còn những người xa gia đình như chúng tôi vẫn còn có những ray rức, lo âu, tiếc nhớ mà lúc nào cũng dày vò, gậm nhấm tâm hồn nếu không khéo giữ vững thì rất dễ bị trầm cảm, tàn tạ, héo hon! Tôi đã ở gần bên người bạn thân nên có nhiều lúc khuyên nhủ bạn, đồng thời cũng là khuyên nhủ chính tôi là phải dũng mãnh sống, phải hướng về phía trước mà đi tới, phải vất bỏ quá khứ, kể cả tạm quên đi những người thân yêu nhất, phải biến đau thương thành ý chí, phải hạ quyết tâm làm lại cuộc đời mới. Tôi còn nhớ đã có một lần tôi dìu bạn ra xe jeep cứu thương đưa bạn đi bệnh xá khi còn ở Orote Point vì bạn bị trầm cảm, căng thẳng thần kinh do thương nhớ vợ con, cơ thể không còn đứng vững.

Không biết cuộc đời thực tế ngoài kia có tươi đẹp hay không, nhưng chắc chắn một điều là tôi đã lập quyết tâm đi học trở lại vì chỉ có sự học mới đem lại cuộc sống tươi sáng và quên đi tháng ngày xa vợ con, xa quê hương. Và do có quyết tâm đó, tôi đã vạch ra chương trình cụ thể là mỗi ngày phải học thuộc lòng tối thiểu mười từ tiếng Anh. Chữ nào không hiểu đến phòng đọc sách tra tự điển Oxford hay hỏi bất cứ ai. Những chữ tôi học thường là lấy từ báo Mỹ. Thế là khi ra khỏi trại là tôi có một số vốn liếng tiếng Anh tối thiểu cộng thêm một số vốn liếng đã có từ khi học Anh Văn Hội Việt Mỹ. Ngoài việc tự học trong đầu mỗi khi đi đứng nằm ngồi, tôi còn đến dự các lớp dạy Anh văn trung cấp như có lớp chuyên dạy thành ngữ do một cô giáo người Mỹ và một người Việt làm phụ giảng, người phụ giảng này lại là anh thiếu tá phi công đã từng đi học lái máy bay ở San Antonio, chồng của một đồng nghiệp khá đẹp trong cơ quan tôi làm việc ở Sài Gòn. Khi viết dòng hồi ký này thì anh ấy đã qua đời.

Tiêng từ giã tôi và Quốc ra trại trước về thành phố Rolla, bang Missouri đoàn tụ với cậu em đã đi du học Mỹ từ năm 1972. Vợ chồng Việt về thành phố Seattle, tiểu bang Wasshington. Giờ dây chỉ còn lại Quốc và tôi.

****

Hôm nay là ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ 04-7-1975, như vậy tôi đã xa nhà đúng 2 tháng 4 ngày. Ban quản trị trại tổ chức lễ khá rầm rộ với khán đài lộ thiên, có ban nhạc của trường trung học sở tại đến tham dự và giúp vui, chiều tối có văn nghệ do các ca sĩ Việt Nam, trong đó tôi thấy có ca sĩ Hoàng Oanh, Mai Hân, Lê Tuấn và hình như có Khánh Ly thay phiên lên ca hát giúp vui.

Qua ngày hôm sau, tôi đi nghe buổi nói chuyện của thầy Thích Giác Đức nói về việc đi học và chọn ngành học tại đại học Hoa Kỳ, cuối buổi nói chuyện tôi vào phòng riêng thăm thầy vì có quen biết thầy từ năm 1963. Tưởng cũng nên nói thêm là vào mùa Hè năm sau tôi có đến Washington DC thăm thầy và thầy đích thân lái xe ra trạm xe bus Greyhound đón tôi về chùa Giác Hoàng ở. Sau vài ngày tôi giã từ thầy và thầy Giác Đạm, tri khách của chùa để trở lại trường học. Một năm sau đó tôi được tin thầy đã bước sang thuyền khác, trở lại với dòng sông nước chảy suôi chiều.

Những ngày hôm sau nữa tôi được văn phòng trại cho biết có hai nơi nhận bảo lãnh “anh có thể chọn một trong hai nơi này” họ nói như vậy: một nhà thờ Tin lành, dòng Amish ở thành phố Lancaster bang Pennsylvania nhận bảo trợ, chắc là do anh Nhâm Ngọc Hựu, cấp chỉ huy cũ rất thân của tôi, khi còn làm việc ở Việt Nam đang ở thành phố này giới thiệu. Cũng mở ngoặc nói thêm ở đây, anh Nhâm Ngọc Hựu là Trung tá binh chủng quân nhu, đã từng là ứng cử dân biểu VNCH quận Gò Vấp, đã trách tôi sao không liên lạc với anh vào những ngày sắp mất nước để anh phải lái xe đi tìm gia đình tôi vất vả mà không được vào ngày 30/4/1975. Cảm ơn anh chị Hựu.

Cũng mùa Hè năm sau (1976), sau khi thăm thầy Thích Giác Đức ở chùa Giác Hoàng Washington D.C., tôi đáp xe bus đi Lanscaster thăm anh chị và sau khi gia đình tôi đoàn tụ anh có về miền Nam California anh có ghé thăm tôi và một năm sau anh tổ chức đám cưới cho con gái ở thành phố San Jose, vợ chồng tôi có đến tham dự. Bẵng đi một thời gian dài tôi nhận được tin anh xuất gia làm Sa di và một thời gian sau đó anh viên tịch để lại nhiều viên ngọc xá lợi sau khi hỏa thiêu.

Còn nơi nhận bảo trợ thứ hai ở thành phố nhỏ, tiểu bang Missouri từ một người Mỹ bạn của cậu em người bạn than tôi đang dạy tại đại học UMR. Vì là một Phật tử nên tôi không mặn mà đi theo nhà thờ mà nói với họ tôi quyết định chọn về Rolla nơi đang có người bạn thân chờ đón. Phần Quốc cũng đang sửa soạn xuất trại đi về một nhà thờ Công giáo ở Scranton bang Pennsylvania bảo trợ. Thế là còn hai anh em lại mỗi người mỗi ngã.

Sáng hôm sau đến văn phòng trại nhận vé máy bay về nơi bảo trợ với lộ trình: Harrisburg-Kansas - San Louis-Rolla và một phong bì trong đó có 10 USD do Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ tặng, rồi yêu cầu tôi về thu xếp hành lý để sáng mai sớm đến văn phòng lúc 6 giờ sáng. Tại đây, sẽ có xe bus đưa ra phi trường Harrisburg, và người bảo trợ sẽ đón tôi tại phi trường Rolla vào buổi chiều tối cùng ngày.

Đêm hôm đó, tôi trằn trọc không ngủ được, không biết tương lai mình sẽ đi về đâu nơi xứ lạ quê  người này? Vợ con còn kẹt lại ở Việt nam bây giờ như thế nào? Chính quyền mới sẽ làm gì những người miền Nam thua cuộc? Cái cảm giác của bầy chim vỡ tổ, của những người thua cuộc tháo chạy, và nỗi niềm gia đình chia ly làm tôi ray rứt.

Tôi không nhớ rõ ở đây được bao lâu nhưng suốt thời gian tạm trú ở trại tị nạn này, tôi đã không phải lo về nhu cầu vật chất, ngày ăn ba bữa, tối ngủ giường nệm và luôn có những ấp ủ tương lai về những ngày trước mặt nào phải học hành, phải cố gắng sống và nghĩ rằng nếu tôi ở lại chắc chắn tôi phải đi tù cải tạo vì lũ ngu dốt cứ nghĩ rằng sĩ quan biệt phái như tôi là nguy hiểm, là có nợ với nước.

Sáng hôm sau, tôi dậy từ hồi 4 giờ sáng, thu xếp hành lýnói hành lý cho oai chứ chẳng có gì, chỉ có hai bộ quần áo do trại tị nạn phân phát cho, những giấy tờ quan trọng như giấy y tế và giấy bảo trợ, vé máy bay, và phong bì đựng 10 Dollars. Vốn liếng của tôi khi lập nghiệp nơi quốc gia này chỉ vỏn vẹn gói trọn vào cái túi sách tay nhỏ.

****

Fort Indiantown Gap buổi sớm mai giăng đầy sương mù, khí trời se lạnh của mùa Thu. Tôi nhìn quanh trại lần cuối rồi bước lên xe bus ra phi trường Harrisburg với cõi lòng buồn vui lẫn lộn để bắt đầu cuộc đời mới từ đây trên đất nước Hoa Kỳ.

 

 

THANKGIVINGS & TẾT ĐẦU TIÊN XA NHÀ


Những ngày đầu tiên định cư ở Hoa Kỳ, Rolla – thành phố đại học ở bang Missouri, nhỏ và êm đềm. Tôi được Jenkins, người bản xứ, đang dạy học ở trường đại học UMR là bạn của cậu em, bảo trợ tôi về thành phố này. Tôi đã đi theo tiếng gọi tình bạn lâu dài từ những ngày còn ở Việt Nam với Tiêng, nên đã quyết định nhanh chóng về đây mà không chọn lựa đi Lancaster.

Ngày tôi tới Rolla, bầu trời đang vào Thu với những cánh rừng mầu vàng đỏ. Hồi còn ở quê nhà tôi chỉ được thấy cảnh mùa Thu này qua hình ảnh. Đây là lần đầu tiên được nhìn tận mắt cảnh sắc huy hoàng và rực rỡ của một rừng Thu, sao mà nó đẹp và nên thơ lạ lùng.

Những ngày chưa có việc làm và trường học đóng cửa nghỉ hè nên những chiều cuối tuần chúng tôi thường lái xe lang thang chụp hình cảnh sắc mùa thu và hái rau xà lách xoong mọc dưới nước trong một con suối ngoại ô thành phố.

Tiêng có được một việc làm tại một cửa hàng bán và sửa xe gắn máy, còn tôi khoảng một tuần sau tìm được việc làm bus-boy tại một nhà hàng nằm trên một tỉnh lộ, hình như tên nhà hàng là Zeno với đồng lương tối thiểu theo luật định tiểu bang bấy giờ là một đồng chín mươi lăm cents một giờ, thế mà cũng đủ dùng sau khi đã trang trải tiền share phòng và thực phẩm. Một thời gian ngắn sau, Tiêng cũng vào làm chung tại dây với tôi.

Nhờ có được một cái job thấp kém nhất trong xã hội mới nên việc trở lại trường đi học trong tôi lại trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết. Trong suốt ba tháng hè, ban đêm đi làm nhà hàng, ban ngày đến thư viện trường, đến nhà thờ tin lành học Anh văn và đọc sách và tôi may mắn được chấp nhận nhập học khoá học mùa Xuân năm sau tại UMR. Tôi cũng được chấp nhận làm việc bán thời gian cho trường với một công việc nhẹ nhàng hơn tại cafeteria của trường, lương được ba đồng rưỡi một giờ, gần gấp đôi lương cũ.

****

Trời Rolla vào những ngày cuối Thu thật ảm đạm, mây xám rất thấp và âm u. Rừng phong rực mầu sắc vàng đỏ của mùa Thu đã héo úa và bắt đầu tàn lụi để lại những thân cây trơ trọi. Ngoài những giờ đi làm, tôi vẫn đến thư viện tìm sách học để sửa soạn cho khóa mùa Xuân đang đến gần và cũng là để quên đi nỗi buồn viễn xứ xa nhà.

Ngày Thanksgiving đầu tiên, Tiêng, Tường – người bạn láng giềng và tôi làm một chuyến viễn du miền Đông nước Mỹ, khởi hành vào đúng lúc tuyết bắt đầu rơi trên thành phố Rolla vào lúc nửa đêm lễ Tạ Ơn.

Chiến xe VW mầu xanh lục của Tiêng nhỏ bé lướt nhẹ trong đêm khuya đường vắng hướng miền đất mọc trời mọc trực chỉ. Xe đi qua cánh đồng tuyết Iowa. Vì lần đầu tiên đi du lịch lại đi trong đêm vì xứ Mỹ này không có giới nghiêm như quê nhà nên cả ba chúng tôi rất lấy làm thích thúChúng tôi đến thành phố Scranton thuộc tiểu bang Pennsylvania thăm Quốc trước sau đó qua Connecticut thăm gia đình anh Chiển, từ đây xe chúng tôi có thêm anh ấy cùng đi New York và Washington chơi. Có rất nhiều điều muốn kể nơi đây nhưng lại thôi, như đến một nơi chỉ dành cho người trưởng thành mà muốn vào phải ghi danh tên tuổi. Anh em toàn ghi tên các ông lớn trước đây ở miền Nam như Tiêng là Nguyễn Văn Thiệu, tôi là Nguyễn Cao Kỳ, nhưng sau đó lại đổi ý không vào. Nghĩ lại thật vui.

****

Trước khi nhập học khoá mùa Xuân 1976, tôi cùng hai người bạn láng giềng, nói láng giềng thì nói hơi xa nhưng thực sự chỉ là nhà kế bên cách nhau tấm ván, cùng tháp tùng theo Tiêng đi đến thành phố Houston, một thành phố lớn của tiểu bang Texas mà Tiêng có ý định tìm việc làm và Tiêng đã tìm được việc làm theo đúng nghề của mình với mức lương khá tốt vào thời điểm đó. Vài ba ngày đầu ở thành phố xa lạ này, không người thân thích mà Tiêng kiếm được job cũng thật hay. Có đêm phải đậu xe trong sân trường đại học Rice mà ngủ, có đêm đến nhà bạn bè của bạn bè ngủ nhờ trên sàn nhà.

Không ngờ điểm đến này của Tiêng là điểm đến cuối cuộc hành trình đi tìm tự do từ Sài Gòn đến Orote Point, Guam; đến Indiantown Gap, Pensylvania; về Rolla, Missouri rồi Houston, Texas nơi đây. Quá nhiều kỷ niệm thật khó quên…Còn tôi vẫn nhất quyến đi học trở lại dù có nhiều khó khăn trước mặt như tiền học, tiền ăn, và tiền ở.

****

Rời Houston, tôi trở lại Rolla nhập học khóa Mùa Xuân. Vì không có kinh nghiệm ghi danh chọn lớp học nên tôi khá vất vả khi di chuyển từ lớp học này sang lớp học khác ở những building khác cách xa nhau nhất là vào những lúc trường ngập tuyết lối đi trơn trượt.

UMR là tên trường khi tôi đến đây ghi danh học khóa mùa Xuân (Spring) vào năm 1976. Bây giờ trường đã đổi tên thành Đại học Khoa học và Công nghệ Missouri (Missouri University of Science and Technology), tiểu bang Missouri. Trước năm 1975 trường có liên hệ với các trường cao đẳng thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ nên khi đến đây tôi đã gặp một số anh nguyên là sinh viên của các trường đó, trong đó có anh Nguyễn Phùng đang học Cao học và Ph. D Công Chánh, anh Khổ đang học Cao học và Ph. D Hóa Học. Tôi còn nhớ anh Phùng có kể về gian nan việc học ở đây “học đến nỗi quên cả tên mình”. Khi gặp nhau trên đường đến lớp học chỉ dơ hai ngón tay chào nhau (Hi).  Mãi về sau, khi ở California tình cở hai anh em gặp nhau trong quán ăn chay Vạn Hạnh đường Bolsa. Anh đang là giáo sư tại đại học California State University at Long Beach. Cũng không quên được Tết Việt Nam đầu tiên tại xứ người do anh làm trưởng ban tổ chức được tổ chức ngay tại một hội trường nằm trong campus trường nhằm quy tụ những người Việt ở vùng phụ cận có dịp gặp nhau và giới thiệu với người Mỹ về nét văn hóa lễ  Tết của người Việt. Anh em chúng tôi gồm khoảng 15 sinh viên đã tận lực làm việc, tập hát và ca hát giúp vui trong ngày Tết đó. Rolla không có nhiều người Việt, chỉ dăm ba gia đình có con em theo học tại đây, tuy nhiên có nhiều gia đình người Việt từ các thành phố lân cận và cũng có những gia đình ở xa như Spring Field, Kansas city đến tham dự. Một cái Tết xa nhà và cũng là đầu tiên trên đất Mỹ thật khó phai mờ trong trí nhớ.

Do vấn đề financial aid không đủ ăn học nên sau khóa học mùa Xuân tại UMR, tôi quyết định chuyển trường về học tại viện đại học University of Mississippi ở Oxford, chi phí ăn học ít tốn kém hơn, nơi đây cũng là một thành phố nhỏ êm đềm và tốt nghiệp tại đây. Cuối cùng về California định cư đón vợ con và ở tới ngày nay.

 

MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN

Thành phố Oxford là một thành phố nhỏ thuộc quận Lafayette County trong tiểu bang Mississippi (Hoa Kỳ). Một thành phố hiền hòa và êm đềm đậm chất văn hóa và nghệ thuật miền Nam Hoa Kỳ, nơi sản sinh ra nhà văn hào Mark Twain và là trú xứ (hometown) của Viện Đại Học Mississippi. Dân số chỉ vỏn vẹn có 25 ngàn người, trong khi đó số sinh viên theo học tại dây là 30 ngàn nên vào kỳ nghỉ Spring Break và nghỉ hè thành phố trở nên vắng lặng.

Tôi đến trường bằng xe bus Greyhound từ Rolla bang Missouri. Xe không vào hẳn thành phố mà chỉ ngừng ở trạm gần trường nhất. Lạ nước lạ cái không biết tính làm sao để đến trường thì có hai anh một đen một trắng cũng đến trường, thế là tôi nhập bọn gọi taxi về campus.

Thật không ngờ người đầu tiên tôi gặp lại là đồng nghiệp cũa của tôi ở Việt Nam, anh Nguyễn Thành Đồng và chị Kim Yến vợ anh. Anh Đồng đang học Cao học Điện và chị Yến học bậc Cử nhân. Sau đó gặp hết các bạn Việt Nam đang theo học tại đây  như Lý, Trung và em gái Trung, thêm một người bạn trai của em gái Trung và một cặp nữa tôi đã quên tên. Tổng cộng là 9 sinh viên bao gồm tôi. Tôi và Đồng được xem như là hai sinh viên già nhất trường.

Trong thời gian tôi học ở đây số gia đình Việt Nam chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tôi còn nhớ gia đình anh bác sĩ Thịnh, anh là bác sĩ sản phụ khoa mà anh nói công việc hằng ngày của anh là chuyên đặt vòng xoắn cho các bà.

Được thành lập năm 1848 tại thành phố Oxford giàu lịch sử và đẹp như tranh vẽ ở miền Nam Hoa Kỳ, Oxford được báo USA Today đánh giá là một trong sáu làng đại học tiêu biểuđồng thời nằm trong Top 100 thành phố nhỏ đáng sống nhất tại Mỹ.

Trường có quy mô hơn 23.000 sinh viên đến từ 90 quốc gia và hơn 70 ngành đào tạo bậc cử nhân, cao học, tiến sĩ và  tự hào mang đến cho sinh viên những chương trình học thuật xuất sắc; cơ hội nghiên cứu, phát triển tư duy nghệ thuật, khám phá và đổi mới tư duy theo một cách riêng biệt . University of Mississippi luôn được vinh dự gọi tên trong TOP 100 trường đại học công lập tại Mỹ.
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 17293)
12/10/2016(Xem: 15474)
12/04/2018(Xem: 16089)
06/01/2020(Xem: 6962)
24/08/2018(Xem: 6473)
28/09/2016(Xem: 21448)
27/01/2015(Xem: 19072)
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Câu chuyện bắt đầu rất đau buồn nhưng về sau lại mở ra một cánh cửa mới đầy hy vọng và tỉnh thức. Zach Obseon lúc nhỏ đã chứng kiến em gái của mình bị hiếp và giết chết, sau này lớn lên anh theo học ngành cảnh sát với tâm nguyện ngăn chặn cái ác, không để xảy ra những trường hợp như em gái của mình. Về phần kẻ thủ ác, anh ta tên Dennis Skillicorn , sau khi bị bắt và chịu án chung thân không ân xá. Trong thời gian ở tù, anh ta đã ăn năn tội lỗi của mình, anh ta và những bạn tù khác lập ra tờ báo “Compassion”, số tiền thu được làm học bổng cho Obseon cũng như những học viên cảnh sát khác.
Sam Lim, tân đại biểu Quốc hội Úc châu khóa 47, đã làm được một bước lịch sử: Sam Lim hôm Thứ Ba 26/7/2022 đã trở thành người đầu tiên tuyên thệ vào Quốc hội Úc bằng lời thề đặt tay trên kinh Phật. Đó là cuốn kinh được đọc nhiều nhất - Kinh Pháp Cú.
Chúng tôi rất vui mừng thông báo với đại chúng và cộng đồng Phật Pháp rằng Tăng đoàn do chúng tôi thành lập đã hình thành nên một ngôi Phạm Vũ ở Tiểu bang Pennsylvania, Mỹ Quốc: Phạm Vũ Pháp Vân.