Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM

Chương 6 - Nhìn Lại 30 Năm Cuộc Chiến

01/06/20225:24 SA(Xem: 184)
Chương 6 - Nhìn Lại 30 Năm Cuộc Chiến

HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO
HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI SUỐT ĐỜI KIẾM TÌM TỰ DO
Nguyễn Văn Hòa


CHƯƠNG 6

NHÌN LẠI 30 NĂM CUỘC CHIẾN
      

Tôi sinh ra tại miền Bắc Việt Nam vào mủa Thu năm 1943. Năm 1954 theo cha mẹ di cư vào miền Nam tìm tự do và vượt thoát cộng sản năm 1975 qua Hoa Kỳ học hành và làm việc. Như vậy tôi đã lớn lên và trưởng thành trong khung cảnh của một đất nước loạn ly, phải truân chuyên theo vận nước nổi trôi suốt 30 năm trời.

Cho đến nay, tôi đã sống ở nước ngoài nửa thế kỷ, được tiếp cận nhiều nguồn thông tin đã giải mật từ các kho dữ liệu, các thư viện đại học Hoa Kỳ. Nửa thế kỷ không phải là quãng thời gian quá dài nhưng đủ để nhìn lại một chặng đường đã qua nhằm đánh giá các sự kiện lịch sử đã xảy ra một cách trung thực, không bị gò bó trong bất cứ một luồng tư tưởng và chính kiến nào, và cũng không bằng tình cảm thương ghét hận thùthời gian đã phôi pha.

Lịch sử cho biết rằng cuộc chiến Việt Nam được xem như chính thức bắt đầu từ sau sự đổ vỡ của hội nghị Fontainebleau 1946, Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh tuyên bố toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946 để chống lại thực dân Pháp tái chiếm Việt Nam sau khi quân Nhật đầu hàng Đồng minh, và thế là cuộc chiến với thực dân Pháp kéo dài thêm 10 năm với sự can thiệp của nước Mỹ, khởi sự từ sự viện trợ quân sự cho Pháp để Pháp tiếp tục đô hộ Việt Nam. Và cuộc chiến dai dẳng này chính thức kết thúc vào ngày 30 tháng Tư năm 1975 khi Bắc quân mở cuộc tổng tấn công miền Nam.

Phải công tâm mà nói rằng cuộc chiến ban đầu chống thực dân Pháp đô hộ, được mệnh danh là cuộc kháng chiến chống Pháp, là cuộc chiến có chính nghĩa. Đó là cuộc chiến giữa một dân tộc nhỏ bé bị trị chống lại một nước lớn thống trị. Cuộc chiến đó bắt đầu khi tiếng đại bác của tướng thực dân Pháp Rigault de Genouilly liên kết với quân Tây Ban Nha bắn vào thương cảng Đà Nẵng sáng ngày 31 tháng 8 năm 1859 chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược và đô hộ cho đến khi Pháp rút ra khỏi Việt Nam vào năm 1954 bởi hiệp định Geneve.

Sau gần 100 năm đất nước bị Pháp đô hộ và thêm 20 năm hai miền Nam Bắc đánh nhau, số người Việt Nam ở cả hai bên thiệt mạng lên tới ba triệu người. Đất nước và tài sản của dân chúng cả hai miền đều bị chiến tranh tàn phá đến mức độ chưa từng thấy trong lịch sửcho đến nay vẫn còn những di hại của bom, mìn chưa nổ và chất thuốc khai quang.

Đối với riệng tôi, măc dầu cuộc chiến ban đầu là cuộc chiến chống thực dân Pháp đầy lý tưởng và chính nghĩa, nhưng tôi nghĩ rằng cuộc chiến tranh 30 năm này (từ năm 1946 đến năm 1975) , không gì khác hơn là cuộc nội chiến tương tàn giữa những người Việt Nam với nhau trước là tranh dành quyền lực giữa những người lãnh đạo các tổ chức chính trị, sau là do ý thức hệ khác biệt, ý thức hệ quốc gia và ý thức hệ cộng sản.

Khởi đi từ những năm thập niên 1930, những người Việt Nam yêu nước thành lập các đảng chính trị kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó có ba chính đảng lớn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng Sản Việt Nam... Tất cả đều có chung một mục đích là chống thực dân Pháp, giành lại độc lập cho xứ xở. Nhiều nhà cách mạngquốc gia, cộng sản hay không cộng sản, trí thức hay lao động thời đó, đều đã bị chính quyền Pháp bắt bớ, tù đày và sát hại. Chỉ đến khi tranh giành được quyền lãnh đạo dân tộc thì đất nước mới lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn và bị các nước lớn sử dụng trong một cuộc chiến tranh ý thức hệ.

Ngày 20-7-1954, Hiệp định đình chiến Genève được ký kết. Theo đó, Việt Nam sẽ tạm thời bị chia cắt bằng ranh giới là vĩ tuyến 17 để quân đội hai bên tập kết. Quân đội Pháp sẽ rút khỏi Việt Nam và trao quyền quyết định vận mệnh dân tộc cho người Việt Nam. Một năm sau đó sẽ tiến tới việc giao thương kinh tế và một năm sau nữa sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thế nhưng trình tự đó không bao giờ xảy ra vì chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ khước từ do đã không ký kết hiệp định Geneve.

Thật bất hạnh cho Việt Nam, số phận của quê hương tôi đã được an bài trên bàn hội nghị, bởi các nước lớn trên thế giới hay cũng có thể đó là nghiệp quả của cả một dân tộc phải gánh chịu, khi đất nước chúng tôi bị rơi vào thế gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ trên toàn thế giới, giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản hình thành sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Người Việt Nam chúng tôi, dù muốn hay dù không muốn cũng đều bị cuốn hút vào trong cuộc đấu tranh ý thức hệ này. Miền Bắc Việt Nam đứng về phe xã hội chủ nghĩa do Trung Quốc và Liên Xô lãnh đạo, mà chủ yếu là Trung Quốc. Miền Nam Việt Nam đứng về phe dân chủ tự do, tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Hoa Kỳ.

Mặc dầu cuộc chiến Việt Nam là cuộc nội chiến ngay từ những năm trước thập niên 1940 nhưng về sau nó được tiếp tay bởi Hoa Kỳ đến hai lần. Hoa kỳ đã viện trợ quân sự cho thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tại Việt Nam mà không đáp ứng lời cầu cứu khẩn thiết của ông Hồ Chí Minh và ông Bảo Đại lúc đó làm quốc trưởng, muốn việt Nam được tự trị và độc lập. Thế là đất nước tôi lại tiếp tục bị bom đạn đánh phá nhà tan cửa nát thêm 10 năm nữa cho đến ngày 20 tháng 7 năm 1954 mới chấm dứt bởi hiệp định đình chiến Geneve tạm chia đôi đất nước. Có người cho rằng thời kỳ này vẫn là thời kỳ kháng chiến chống Pháp và 20 năm tiếp theo đó là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Nhưng cũng có người cho rằng cuộc nội chiến chỉ xảy ra khi đất nước bị chia đôi vào năm 1954 như một bài hát của họ Trịnh “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu. Một trăm năm đô hộ giặc Tây. Hai mươi năm nội chiến từng ngày...” 

Nghĩ lại, nếu như Hoa Kỳ hồi đó không nghe lời thuyết phục của chính phủ Pháp mà chuyển qua giúp đỡ cho Việt Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội) trong đó, lịch sử ghi lại, có những thành phần yêu nước thật sự muốn Việt Nam được độc lập tự trị và được sự giúp đỡ của Mỹ Anh và Ấn Độ, thì biết đâu tình trạng hiện thời của một nước Việt Nam lẽ ra đã có tự dodân chủ và tiến bộ từ đó. Và đâu có cảnh người dân phải tháo chạy kinh hoàng đến hai lần “một lần cha bỏ xứ năm 1954, và một lần con bỏ nước năm 1975”.

Rồi sau hội nghị Geneve 1954, mặc dầu Mỹ không ký vào hiệp định nhưng Mỹ lại chính thức can thiệp vào chính quyền miền Nam Việt Nam một cách thô bạo. Qua sự đề bạt của ngài Hồng Y Francis Spellman, Mỹ  đã đưa ông Ngô Đình Diệm đang tu tại một chủng viện Thiên Chúa Giáo ở New York về làm Thủ tướng rồi sau đó truất phế Quốc trưởng Bảo Đại lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Sách lược của Mỹ lúc bấy giờ là muốn dùng miền Nam Việt Nam làm con đê để ngăn chặn làn sóng cộng sản lan tràn xuống phía Nam, đặc biệt là vùng Đông Nam Á theo học thuyết Domino, để rồi 20 năm sau, sau khi Tổng thống Nixon đi Bắc Kinh gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai vào tháng 2 năm 1972. Ông Nixon đã đảo ngược chính sách “ngăn chặn Trung Quốc". Hoa Kỳ quyết định mở cửa Bắc Kinh và đóng cửa Sài Gòn, và khi bắt tay được với ông Mao thì buông tay ông Thiệu. Mỹ đã chính thức bỏ rơi miền Nam Việt Nam vì quyền lợi kinh tế và chính trị của Mỹ và Trung Quốc.  

Nhìn lại giai đoạn lịch sử này, chúng ta thấy rằng việc mất miền Nam không phải do miền Nam nhu nhược, không phải do quân đội miền Nam thiếu khả năng chiến đấu mà là do sự phản bội của nước bạn "đồng minh". Hoa Kỳ đã bỏ rơi VNCH từ năm 1972 và bội ước không ngăn chặn cuộc tấn công miền Nam của lực lượng cộng sản miền Bắc sau khi ký kết hiệp định Paris năm 1973. Cảm ơn cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chống cự quyết liệt ông Henry Kissinger không ký vào Hiệp định Paris cho đến khi nhận được lời cam kết bằng văn bản của ông Richard Nixon, tổng thống Hoa Kỳ lúc bấy giờ.

Thực tế, miền Bắc đã chiến thắng miền Nam năm 1975 nhưng không phải trên chiến trường mà nhờ vào yếu tố nội tình chán chiến tranh của nhân dân Mỹ, nỗi mỏi mệt của quần chúngphong trào phản chiến càng ngày càng lớn mạnh cùng với áp lực chính trị ngay trong lòng tòa Bạch ốc ở Washington, D.C. và nhất là tham vọng chính trị cá nhân của Henry Kissinger muốn bỏ rơi VNCH như "món quà tặng" nhằm lấy lòng Trung Quốc, mở ra chiến thắng chính trị và thương mại cho Mỹ với thị trường rộng lớn 1,4 tỷ dân Trung Hoa. Thêm vào đó Henry Kissinger gốc người Do Thái muốn Hoa Kỳ cắt đứt quan hệ với Việt Nam mà dồn nỗ lực giúp Do Thái chống lại khối Ả Rập.

Ngày nay, người Việt Nam cộng sản và không cộng sản đều đã có nhiều kinh nghiệm về tình bạn hợp tác với các nước anh em của mình để thấy rằng đồng minh hay bạn bè nào cũng chỉ ủng hộ một nước bạn chừng nào sự ủng hộ ấy phù hợp với lợi ích riêng của họ chứ không phải vì cùng theo đuổi một lý tưởng chung. Chính Thủ tướng Anh Winston Churchill từng có câu nói để đời: “Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Đó cũng là chính sách cố hữu của Hoa Kỳ.

Cổ nhân Đông phương cũng có câu “Thương hải tang điền” tức ruộng dâu biến thành biển xanh, ý nói về sự vô thường của thế gian, sự thay đổi không đoán trước được của cuộc đời. Còn nhà triết học Tây phương Heraclitus đã từng khẳng định “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” để nói về dòng đời luôn trôi chảy theo những biến thiên của cuộc sống. Cuộc sống vô thường, luôn chứa đựng những điều bất ổn, còn bước đi của lịch sử thì luôn song hành với nhịp sống của thời gian. Do đó, mọi mối liên hệ giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định nào đó, con người cần phải học cách thay đổi để thích nghi và để mối quan hệ giữa con người với con người sẽ được biến thiên theo dòng chảy của cuộc đời.

Thật đau khổ cho dân tộc Việt Nam, cho quê hương thân yêu của tôi, đã không thích nghi được với hoàn cảnh, cả hai miền: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đã không vận dụng mọi nỗ lực để tự quyết, tự chủ và tự cường cho mảnh đất mình cai trị, để đến nỗi bị các nước lớn bắt nạt, đàn áp và bị ép buộc phải quy hàng theo ước muốn của họ.

Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 17293)
12/10/2016(Xem: 15474)
12/04/2018(Xem: 16089)
06/01/2020(Xem: 6962)
24/08/2018(Xem: 6473)
28/09/2016(Xem: 21448)
27/01/2015(Xem: 19072)
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Câu chuyện bắt đầu rất đau buồn nhưng về sau lại mở ra một cánh cửa mới đầy hy vọng và tỉnh thức. Zach Obseon lúc nhỏ đã chứng kiến em gái của mình bị hiếp và giết chết, sau này lớn lên anh theo học ngành cảnh sát với tâm nguyện ngăn chặn cái ác, không để xảy ra những trường hợp như em gái của mình. Về phần kẻ thủ ác, anh ta tên Dennis Skillicorn , sau khi bị bắt và chịu án chung thân không ân xá. Trong thời gian ở tù, anh ta đã ăn năn tội lỗi của mình, anh ta và những bạn tù khác lập ra tờ báo “Compassion”, số tiền thu được làm học bổng cho Obseon cũng như những học viên cảnh sát khác.
Sam Lim, tân đại biểu Quốc hội Úc châu khóa 47, đã làm được một bước lịch sử: Sam Lim hôm Thứ Ba 26/7/2022 đã trở thành người đầu tiên tuyên thệ vào Quốc hội Úc bằng lời thề đặt tay trên kinh Phật. Đó là cuốn kinh được đọc nhiều nhất - Kinh Pháp Cú.
Chúng tôi rất vui mừng thông báo với đại chúng và cộng đồng Phật Pháp rằng Tăng đoàn do chúng tôi thành lập đã hình thành nên một ngôi Phạm Vũ ở Tiểu bang Pennsylvania, Mỹ Quốc: Phạm Vũ Pháp Vân.