Đôi Điều Về Thực Dưỡng Osawa Và Phật Tử Trí Lập

27/02/201212:00 SA(Xem: 47820)

ĐÔI ĐIỀU VỀ THỰC DƯỠNG OSAWA VÀ PHẬT TỬ 
Trí Lập

amduongLà Phật tử, đương nhiên phải giữ giới, chí ít là năm giới của cư sĩ, dĩ nhiên chay tịnh là điều không cần phải bàn cải. Thực tế ngày nay, chay tịnh đã vượt ra khỏi ranh giới đạo Phật, khi nhiều tổ chức khoa học uy tín xác nhận ăn chay chẳng những vô hại mà còn có lợi cho sức khoẻ…

Ăn chay ngày nay đã trở thành “mốt”, nó phục vụ đông đảo quần chúng thuộc nhiều đối tượng khác nhau, từ những người mẫu, ca sĩ, thí sinh hoa hậu cần giữ co, giữ eo, đến những người bị chứng béo phì muốn giảm cân. Ngoài ra, còn phải kể đến các Linh mục Công giáo, họ ăn chay theo kiểu Phật giáo một cách rất “hồn nhiên” theo cách nói của các tác giả trên conggiaovietnam.net, với mục đích rõ ràng, thực hiện “hội nhập văn hóa” để “đối thoại liên tôn” theo chủ trương của Vatican. Có người còn tích cực hơn với gạo lức muối mè theo thực đơn số 7 như Linh mục thi sĩ Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh…

Do xã hội thực sự có “cầu”, nên “cung” cũng được đáp ứng nhanh chóng bởi sự bén nhạy của các doanh nghiệp, hàng loạt các công ty cung cấp thực phẩm chay ra đời, nhiều nhà hàng chay được mở ra chào đón khách với những món “chay qúy tộc” mà giá thành có thể mắc gấp đôi so với các món mặn khác…

Đối với Phật tử, thực dưỡng Osawa là một lựa chọn đúng đắn, vừa tiết kiệm ngân qũy gia đình, vừa phòng chống bệnh tật, giúp cơ thể khoẻ mạnh để có thể thăng tiến tu học.

Phương pháp dưỡng sinh Osawa được biết đến từ thập niên 60 dựa trên căn bản quân bình âm dương của thực phẩm… Bẵng đi một thời gian khá lâu, đến nay phong trào rộ nở mà công đầu thuộc về một nhà sư trẻ, một trong những đệ tử xuất chúng của HT Thích Thanh Từ: Đại đức TTH... Từ đó, tài liệu, băng đĩa được phát hành phục vụ cộng đồng, không chỉ trong nước mà còn được đồng bào người Việt hải ngoại đón chào nồng nhiệt.

Tuy nhiên, do nhận thức “từ lâu người ta chỉ chú trọng đến mặt dưỡng sinh để trị bệnh mà không quan tâm đến khía cạnh tâm linh”, nên thầy TTH đã đặt trọng tâm nghiên cứu thực dưỡng Osawa trên khía cạnh này. Điều đó không có gì sai trái. Rất tiếc, thầy lại qúa sa đà vào lý thuyết âm dương, mà quên đi đối tượng chính của mình là các Phật tử, những người tin lời Đức Phật dạy: con người sinh ra trong nhân quả, sống trong nhân qủa và chết đi trong nhân quả… Thay vì lấy “nhân qủa” làm nhân cho phương pháp luận của mình, thầy lại chọn “âm dương”, một học thuyết phi Phật giáo. Dưới đây là vài nhận định.

Nếu nói rằng: Đức Phật hiểu thấu nguyên lý âm dương, bằng chứng khi Ngài dạy nằm thế Kiết Tường, đầu phải quay về hướng bắc, chân xuôi hướng nam, mặt xoay hướng tây lưng dựa hướng đông… Ngài đã nắm vững quy luật âm dương trong thế nằm Kiết Tường, nhưng “Ngài không nói ra”!  Thầy TTH lập luận như thế chẳng khác mấy so với lập luận của Linh mục Cao Phương Kỷ về cái gọi là “tinh thần biện chứng của cây thánh giá”, với trục tung vươn lên tận trời, trục hoành vươn dài về hai phía đến vô tận. Với hàm ý, Giêsu cũng thấu suốt tất cả những vấn đề về triết học và toán học, nhưng Ngài cũng “không nói ra”!?... 

Tôi chợt nhớ lời một vị Tôn túc đáng kính: Người ta đã đặt vào miệng Phật những điều Phật không nói. Qủa vậy! những lời Phật chưa hề nói mà dám gán cho “Phật thuyết”, huống hồ là thế giới siêu tưởng, sản phẩm của tưởng tri, tưởng giải, cũng gán cho Phật đã biết, đã chứng. Đây chính là điều Đức Phật đã cảnh báo trong Kinh Tăng Chi I (Anguttara Nikàya). Phẩm Người Ngu: “Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.”

Đã có qúa nhiều thân tầm gửi sống bám trên cơ thể Phật giáo. Mạt pháp chính là chỗ ấy… Ngoại trừ Tuệ Tam Minh, với trí tuệ phàm phu của chúng ta hiện nay, khó có thể kiểm chứng sự lạc dẫn mà người ta cố tình gán cho “Phật thuyết”, nhằm làm chệch hướng lộ trình giải thoát mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã phát hiện sau bốn mưới chín ngày dưới cội bồ đề…

Tôi không biết Chúa Giêsu có hiểu biết về toán học và triết học hay không? Nhưng tôi dám khẳng định Đức Thích Ca Mâu Ni, với trí tuệ Tam Minh, nếu Ngài muốn biết bất kỳ vấn đề gì thì Ngài sẽ biết. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề Ngài không cần biết, vì nó không mang lại lợi ích cho mục tiêu giải thoát của chúng sanh… Chính vì thế Ngài luôn nhắc nhở: những gì cần biết phải biết, những gì cần tu học phải tu học… Điều đó có nghĩa là nếu quy luật âm dương, ngũ hành không phải là pháp môn giải thoát, Ngài sẽ không biết và không cần biết…

Theo quan kiến của cá nhân tôi, lý thuyết âm dương chỉ có giá trị tương đối, không có một tiêu chuẩn nào để thẩm định một vật là âm hay dương… Hiểu biết về âm dương cho đến nay vẫn còn là vấn đề tranh cãi giữa những nhà Dịch học.

Đối với đạo Phật, học thuyết âm dương chỉ là tưởng tri của các học giả, không thể là chân lý. Vậy chân lý của đạo Phật là gì? Có thể gói gọn trong một chữ “Khổ”. Nhưng hiện nay, người ta vô tình hay hữu ý tầm thường hóa chân lý ấy. Chữ “khổ” trên cửa miệng của nhiều người đã trở thành câu chuyện nhàm chán: “khổ lắm… biết rồi… nói mãi…”. Người ta đã tầm thường hóa, dung tục hóa, bi hài hóa một chân lý dưới nhiều hình thức như văn chương, thi ca, kịch nghệ kiểu “chuyện tình Lan và Điệp”, nhằm khỏa lấp khoảng trống vô vị của cuộc đời… Thậm chí có vị Thiền sư thời danh đã dạy Phật tử: con người có sẵn sự an lạc mà không chịu hưởng, lại đi nhận nghiệp, nhận khổ. Vị Thiền sư này khẳng định: bên cạnh cái “khổ” của Tứ đế còn có cái “lạc”. Ngài còn dạy cách “chế tác lạc” nhằm đối trị “khổ”!?... Ngài quên rằng Thế Tôn chỉ dạy “Khổ thánh đế”. Thế Tôn không bao giờ chế tác “lạc thánh đế”!... 

Đức Phật dạy: đời là bể khổ, không có khổ chắc chắn không có đạo Phật. Không có khổ chắc chắn Thái tử Tất Đạt Đa đã kế nghiệp vua cha cai trị sơn hà xã tắc của Ngài, chứ không trở thành Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni tôn kính của chúng ta ngày nay. Nhưng vì có khổ, khổ là một sự thật hiển nhiên của mỗi con người cụ thể, không mơ hồ, trừu tượng. Nhận thức rõ ràng điều đó nên Ngài đã bỏ cung vàng điện ngọc ra đi với mục đích duy nhất, giải quyết rốt ráo vấn nạn này và Ngài đã thành công. Vì thế, bài pháp đầu tiên Ngài giảng cho năm anh em ông Kiều Trần Như là Tứ Thánh Đế, đế đầu tiên Ngài dạy là KHỔ THÁNH ĐẾ. Sao “Khổ” mà gọi là “Thánh”? Chính nhờ trí tuệ siêu việt Ngài đã liễu tri như thực khổ, xác chứng chân lý đầu tiên của đạo Phật.

Nhưng khổ từ đâu sanh? Câu trả lời vắn gọn chính là từ tham dục… Vì tham dục mà con người phải trôi lăn, hết tham dục thì hết trôi lăn, hết trôi lăn đương nhiên phải hết khổ. Đơn giản chỉ có thế! Điều này được xác tín qua lời dạy của Đức Phật: “Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Tham, này các Tỷ-kheo, là một pháp, các Thầy hãy từ bỏ! Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.” (Tiểu bộ kinh. Bài kinh Một Pháp). Đối với sân và si, Ngài cũng dạy y như thế…

Kính thưa thầy T.T.H. Thầy có tin không? Tin rằng, nếu từ bỏ được tham sân si, Đức Phật bảo đảm không còn tái sanh! Tin không? Nếu tin sao thầy dạy Phật tử những điều ngược lại? Rằng: "Nếu một người tu theo đạo Phật mà không thấu triệt âm dương thì không thể đạt đến đỉnh cao của tâm linh…" Rằng: "Thực dưỡng Osawa không chỉ dừng ở chỗ dưỡng sinh mà còn nhìn sâu hơn đến Giác Ngộ Giải Thoát." Và khẳng định: "đó là mục đích cuối cùng của phương pháp dưỡng sinh Osawa…"

Tôi không tin tất cả các bậc Tôn túc hiện nay đều “thấu triệt lý thuyết âm dương”, nếu thế các vị sẽ “không thể đạt đến đỉnh cao tâm linh”?, không thể “nhìn sâu hơn đến giác ngộ giải thoát”?, các vị không thể đạt đến “mục đích cuối cùng” của đạo Phật!…

Lại nữa, nhiều Linh mục Công giáo như Lương Kim Định, Trần Văn Đoàn… là nhưng người rất am tường học thuyết âm dương, ngũ hành, họ cũng đã từng chia sẻ những trải nghiệm tâm linh giải thoát, nhưng là giải thoát trong “Chúa quan phòng” của họ!…

Có thể tạm kết luận, thực dưỡng Osawa và triết lý âm dương có thể dẫn đến “giác ngộ giải thoát”, nhưng giải thoát theo kiểu gì thì còn tuỳ, kiểu của các Đạo sĩ hoặc Nho sĩ? kiểu của Tiên sinh Osawa hay kiểu của các Linh mục Công giáo?… Riêng đối với đạo Phật, câu trả lời dứt khoát là “Không thể”. Giải thoát của đạo Phật là ly dục, ly ác pháp, ly tham sân si, như đã được khẳng định trong bài kinh “Một pháp” thuộc kinh Tiểu Bộ, với sự bảo đảm chắc chắn của chính Đức Phật: Hãy từ bỏ tham, ta bảo đảm với các thầy sẽ không còn tái sanh…” 

Thật ngạc nhiên trước lời dạy: "Khi tọa thiền, vận dụng hơi thở để tại đan điền ở mạch nhâm, mà quên mạch đốc ở phía sau sẽ bị mất quân bình âm dương... người ngộ tánh là người phải hiểu được nguyên lý âm dương…" Có thể thầy T.T.H. đã dạy đúng, nhưng là đúng pháp của một vị Tổ sư nào đó, chứ không thể đúng pháp mà Đức Phật đã dạy trong Nikaya. Trong kinh Niệm xứ (Satipatthàna sutta) Đức Phật dạy rất rõ: "tuệ tri hơi thở vô, hơi thở ra với mục đích thấy như thật tánh sanh khởi, tánh sanh diệt, tánh diệt tận trên cả bốn trụ xứ thân, thọ, tâm, pháp," chứ Ngài không hề dạy vận dụng hơi thở tại đan điền, mạch nhâm, mạch đốc để quân bình âm dương… Đặc biệt đối với thân, vì trên thân có đầy đủ cả thọ, tâmpháp. Vì thế Đức Phật dạy: “"Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời…” Đã không nương tựa bất cứ việc gì trên đời, có lý nào lại nương tựa vào âm dương, mạch nhâm, mạch đốc?...

Luận thiền, luận đạo của các vị Tổ sư, của các tông phái không phải là mục đích của bài viết này. Người viết chỉ đưa ra những nhận định dựa trên lời dạy của chính Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni trong Nikaya với một tín lực đã được khẳng định: “Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn…” Chính vì thế, những lời dạy kiểu: "một người ngồi thiền không thể vào định được nếu không ngộ được nguyên lý âm dương…" chỉ có thể là thiền tưởng, định tưởng của một tôn giáo nào đó, chứ không thể là thiền định do chính Đức Phật dạy… Cái gọi là: không thể vào định! Định gì mà vào? Trong 37 phẩm trợ đạo Định Giác Chi và Định Như Ý Túc là pháp thành tựu chứ không phải pháp hành. Pháp hành chính là: ngăn ác, diệt ác pháp. Sanh thiện, tăng trưởng thiện pháp (Tứ chánh cần) và ly xả ngũ triền cái, thất kiết sử trên thân, thọ, tâm, pháp (Tứ niệm xứ). Do công năng ly và xả thật sạch mà Định Giác Chi và Định Như Ý Túc tự thành tựu. Nếu ngộ được nguyên lý âm dương mà vào được định, thì đây chỉ có thể là định tưởng. Về Thiền cũng thế, bằng chánh niệm tỉnh giác, ly tham dục, ly bất thiện pháp một cách triệt để, với tầm và tứ, cánh cửa Thiền thứ nhất sẽ được mở ra, chứ không thể ngồi quay mặt về hướng bắc cho đúng với từ trường âm dương mà có thể mở được cánh cửa Thiền này.

Từ bỏ tham như thế nào? Đạo Phật rất thực tế, rõ ràng cụ thể, không phải mớ lý luận siêu hình. Bài kinh 62. Đại kinh Giáo giới La-hầu-la (Mahà Ràhulovàda sutta) Đức Phật dạy: "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập…” Dĩ nhiên không phải “quán”“ly” được ngay, mà từng giờ, từng phút, từng giây, chánh niệm tỉnh giác trên mỗi hơi thở ra, thở vô mới có cơ may quét sạch tham dục.

Cũng cần nói thêm để tránh ngộ nhận. Từ “quán” trong câu “quán ly tham” không phải pháp quán thông thường như mọi người thường hiểu, mà là pháp môn tạo ý thức lực mạnh mẽ gọi là “Như lý tác ý đệ nhất pháp” như chính Đức Phật đã dạy pháp môn này rất nhiều trong suốt bộ kinh Tăng Chi: “Này các Tỷ-kheo, nếu như lý tác ý, thời dục tham chưa sanh không sanh khởi, và dục tham đã sanh được đoạn tận…” Đây chính là pháp môn “Đoạn Triền Cái”…

Nếu chúng ta “tu cầm chừng”, chỉ với mục đích gieo duyên với chính pháp, có thể thủng thỉnh, tà tà, vừa “tu’ vừa nghiên cứu âm dương ngũ hành, áp dụng vào thực dưỡng đúng cách để có một cuộc sống tốt đẹp với một cơ thể khoẻ mạnh. Điều này không có gì sai trái… Nhưng nếu chúng ta ý thức Sanh Tử Là Việc Lớn, nó thôi thúc bức bách sau lưng ta, buộc ta phải quyết định lựa chọn, đấu tranh một mất một còn với giặc sanh tử, liệu có thời gian chăng để nghiên cứu âm dương áp dụng cho đúng phép thực dưỡng?

Nếu quyết định chọn con đường giải thoát mà Đức Phật đã khẳng định “duy nhất, không có con đường thứ hai” như đã được biết trong kinh Niệm xứ Satipatthàna sutta thì hãy buông xả tất cả, hãy trả âm dương về cho thái cực, tứ tượng, bát quái, để nó vận hành, điều hòa vũ trụ theo cách của nó mà chúng ta không cần quan tâm… Vả lại, Đức Phật cũng đã từng dạy: “thừa tự Pháp không thừa tự thực phẩm…” (Kinh Thừa tự Pháp. Dhammadàyàda sutta. Trung bộ kinh).

Bệnh tật là một chướng ngại pháp tồn tại trên thân, nó sinh ra từ tham dục. Nếu tham ăn, tham uống, tham hút, chắc khó tránh các bệnh thuộc hệ hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa… Nhờ có chánh kiến, chánh tư duy, người Phật tử biết do nhân tham mà có quả bệnh, nhân quả rất rõ ràng, giả sử có liên quan đến âm dương ngũ hành, cũng không phải là nguyên nhân chính.

“Có bệnh thì vái tứ phương, có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Kinh nghiệm dân gian được đúc kết nhiều đời đã khẳng định một giá trị thực tiển: “có kiêng có lành”. Nếu thân bệnh mà biết kiêng cử đúng cách cũng có thể ngăn chặn các biến chứng một cách đáng kể. Về mặt này, lý thuyết âm dương quân bình thực phẩm trong phương pháp dưỡng sinh Osawa cũng có mặt tích cực của nó. Người Phật tử đang áp dụng phép thực dưỡng này, có thể nghiên cứu nếu có điều kiện và thời gian. Nhưng không được phép nhầm lẫn bởi sự lạc dẫn do vô tình hay cố ý của ai đó đã cho rằng đây cũng là pháp môn “giác ngộ giải thoát” của đạo Phật.

Đối với thân bệnh, đạo Phật cũng có cách ngăn ngừa, hạn chế bệnh tật đơn giản mà hiệu quả, đó là: thiểu dục tri túc. Từ đó hướng tới một giải pháp tích cực hơn, quét sạch tất cả mọi chướng ngại pháp trên cả bốn trụ xứ thân, thọ, tâm, pháp. Tất nhiên không dễ dàng gì vì tham dục và bất thiện pháp đã đổ bê tông cốt thép dày đặc trên đó, chúng đã khằn cứng từ nhiều đời kiếp, chỉ còn cách nhiệt tâm học làm nghề “khoan cắt bê tông”, tích cực khoan, đục, chặt các kiết sử, mài mòn dần các triền cái trên cả bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp. Nếu quét sạch được, lúc đó hành giả có thể ca khúc khải hoàn: “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong…”

Điều sau cùng muốn chia sẻ là: tu giới và giữ giới là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Giới là pháp môn tu học chứ không phải là tín điều buộc phải giữ. Một người giữ giới, trường chay ba mươi năm, người này chưa chắc đã tu giới. Ngược lại, một người tu giới, người đó chắc chắn đã giữ giới. Điều này dễ hiểu vì dù trường chay nhiều năm, nhưng dục ăn vẫn còn, nghiệp đói của thân chưa xả bỏ. Ngoài dục ăn, còn nhiều thứ dục vi tế khác khó nhận biết, ví như thực phẩm phải vừa tương phản, vừa hài hòa về màu sắc, vừa kết hợp quân bình âm dương, tạo nên một món ăn đạt chuẩn thẩm mỹ mà người ta vẫn gọi là “nghệ thuật ẩm thực” với triết lý: ăn không chỉ bằng miệng mà còn bằng mắt… Đối với đạo Phật, chính tại chỗ này, dục của mắt, của mũi, của lưỡi phát sinh… Tu giới không chỉ là giữ giới mà chính là ly dục. Đây chính là chỗ khác biệt giữa người tu giới và người giữ giới.

Trí Lập

 

Ý kiến bạn đọc
18/02/20148:00 SA
chanh toan
Khách
toi xin gop ti y kien de dinh chinh cau :"Bẵng đi một thời gian khá lâu, đến nay phong trào rộ nở mà công đầu thuộc về một nhà sư trẻ, một trong những đệ tử xuất chúng của HT Thích Thanh Từ: Đại đức TTH... ". trong bai viet cua tac gia Tri Lap. kinh thua tac gia, toi xin phep dc dinh chinh Dai Duc TTH k phai la de tu xuat chung cua HT Thich Thanh Tu gi ca, vi nhung tu tuongrao giang cua Dai Duc TTH k co trong chu truong cua HT Thich Thanh Tu thua dao huu. Men chao.
28/02/20128:00 SA
nguyen
Khách
Kg bạn thientri, tôi thấy bài này hoàn toàn đứng đắn, tác giả bài này không chê bai, đả kích phương pháp dưỡng sinh mà chỉ là nêu lên việc đại đức TTH đã xuyên tạc Như Lai, đó là hạng ‘người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết’, và nhận xét của tác giả là hiện nay ‘đã có quá nhiều thân tầm gửi sống bám trên cơ thể Phật giáo’ là rất đúng, nói theo ngôn ngữ sau năm 75 ở VN đó là những người ‘ăn theo’ vậy.
Theo tôi nghĩ bạn có thể theo bất cứ một tôn giáo nào, hoặc bất cứ một phương pháp nào mà bạn thích nhưng xin đừng ‘đem râu ông nọ cắm cằm bà kia’. Nếu râu của mình thuộc loại tốt thì mắc chi phải nhổ nó đi để cắm vào cằm người khác.
Bạn thử tưởng tượng có người nói một câu nhưng sợ người ta không tin, và vì muốn cho câu này thêm nặng kí người đó gán cho câu này là của ông ... Obama thì bạn nghĩ người đó thế nào? huống chi đem lời nói, ý nghĩ của mình gán cho lời nói, ý nghĩ của Phật thì người đó nghĩ mình là Phật chăng?
28/02/20128:00 SA
ABC
Khách
Khéo! Khéo lắm! Tác giả Trí Lập thật khéo dẫn người phật tử đi từ một pháp “Thực Dưỡng Osawa” đến “Chân Thật Pháp Gotama”.
Tôi xin có vài lời họa về “Thực Dưỡng Osawa” cùng tác giả để quý độc giả rộng đường dư luận.
Thầy T.T.H dạy rằng: "Nếu một người tu theo đạo Phật mà không thấu triệt âm dương thì không thể đạt đến đỉnh cao của tâm linh…". Rằng: "Thực dưỡng Osawa không chỉ dừng ở chỗ dưỡng sinh mà còn nhìn sâu hơn đến Giác Ngộ Giải Thoát." Và khẳng định: "đó là mục đích cuối cùng của phương pháp dưỡng sinh Osawa…"
Tôi nghĩ thầy T.T.H chắc chắn là người đã nghiên cứu thâm sâu về nguyên lý âm dương ngũ hành của nền văn minh Trung Hoa. Nhưng thầy chưa thấy rằng, dưới nhãn quan Phật giáo thì thuyết âm dương ngũ hành còn khiếm khuyết nhiều lắm. Nếu so với Phật giáo ví như người trên đỉnh núi quán khắp bốn phương thì Âm dương ngũ hành giáo chỉ như người loanh quanh dưới chân núi mà thôi. Sao lại nói vậy? Tôi xin trinh bày để quý vị đồng chia sẻ.
- Đức Phật đã dạy rất rõ ràng: thân người là một tổ hợp bao gồm năm uẩn Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Trong năm uẩn này chỉ có Sắc uẩn là phần vật chất được tạo bởi bốn đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong) hợp thành. Còn lại bốn uẩn kia là phần phi vật chất mà chỉ có những ai vượt qua Sanh, Lão, Bệnh, Tử như đức Phật thì mới hiểu biết chân thật được.
Tóm lại: Thân người có 5 uẩn gồm Sắc + Thọ + Tưởng + Hành + Thức, trong đó: Sắc vật chất do Đất, Nước, Lửa, Gió tạo nên. Như vậy toàn bộ một thân người như chúng ta do Đất, Nước, Lửa, Gió và Thọ, Tưởng, Hành, Thức duyên thành.
- Trong khi đó, thuyết âm dương ngũ hành thì rất mơ hồ. Thái Cực sinh Lưỡng Nghi (âm dương), Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái… rồi vạn vật trong vũ trụ được tạo thành. Mà trong Âm dương vốn đã có sẵn 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và trong 5 hành đã ẩn sẵn âm dương. Như vậy, con người (theo thuyết âm dương ngũ hành) và muôn vật khác trong vũ trụ là một tổ hợp bao gồm 5 hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Chúng ta nhận ra ngay rằng con người ở đây được tạo hợp rất thiếu khuyết. Bởi vì, nếu quy về thì ngũ hành chi tương đương với Ba Đại của Phật giáo. (hành Kim. Mộc, Thổ) = Địa Đại, hành Hỏa = Hỏa Đại, hành Thủy = Thủy Đại, còn Phong Đại không có.
So sánh sự hiểu về con người của Phật giáo và Âm dương Ngũ hành giáo:
Phật dạy thân người = Sắc (Đất, Nước, Lửa, Gió), Thọ, Tưởng, Hành, Thức.
Thuyết Âm dương Ngũ hành thì thân người = Đất, Nước, Lửa.
Như thế, rõ ràng người hiếu thấu triệt âm dương ngũ hành vẫn chưa hiểu hết phần sắc thân tứ đại, sao dám nói “đạt đến đỉnh cao của tâm linh…”. Còn thiếu nhiều lắm.
Thực dưỡng chỉ là mượn tạm tứ đại bên ngoài nuôi tứ đại bên trong để 5 uẩn sống mà tu tập thoát khổ. Hiểu như vậy để “thiểu dục tri túc”, để ly dục ly bất thiện pháp thì thực dưỡng mới có ý nghĩa trong Phật giáo.
Cho nên chẳng thể lấy bất cứ một học thuyết nào (như thầy T.T.H dạy) mà làm sai lệch con đường Phật dạy, chỉ là hý luận cho vui thôi.
Tôi sẽ họa tiếp cùng tác giả Trí Lập phần “Chân Pháp Gotama” sau.
28/02/20128:00 SA
Tịnh Trung
Khách
Theo Tịnh Trung : Trí Lập nói về đại đức TTH có lẽ là Tỳ kheo Thích Tuệ Hải ở tỉnh Đồng Nai của Việt Nam. Mặc dù người viết chưa có 1 ngày nào ăn theo "số 7" của công thức gạo lức muối mè, nhưng nếu tham khảo nhiều về phương pháp thực dưỡng "Oshawa" của thầy Tuệ Hải thì "Phần nói quá" là có nhưng cuối cùng thì kinh nghiệm của Thầy Tuệ Hải về lĩnh vực này là rất nhiều.Cái này không phải là giáo lý đạo Phật ,thì phần kinh nghiệm này chúng ta phải "Quý, trân trọng".Tóm lại phần giảng pháp của Thầy Tuệ Hải người viết không biết, nhưng phần "kinh nghiệm" về thực dưỡng Oshawa của Thầy Tuệ Hải thỉ Tịnh Trung RẤT TRÂN TRỌNG VÀ KÍNH PHỤC!
Viết tại thành phố Hồ Chí Minh, nước Việt Nam.
Hết.
28/02/20128:00 SA
Nguyên Cảm
Khách
Mong rằng các Tăng Ni Phật tử là những người con Phật, chúng ta nên tìm hiểu kỹ những gì Đức Bổn Sư đã dày công chỉ dạy cho chúng ta nhằm mục đích giải thoát khỏi sanh tử luân hồi nhằm xiển dương chánh pháp, tu tập đúng chánh pháp đừng sa đà vào những pháp môn nào đó mà không phải do Đức Bổn Sư đã chỉ dạy.

Ăn uống cũng chỉ là 1 trong 5 dục mà 1 người con Phật cần phải biết để điều tiết đến mức tối thiểu vì nó rất dễ lôi kéo chúng ta đi vào những nẻo mê lầm. Đức Phật đã dạy chúng ta phải xem ăn uống cũng chỉ là 1 loại dược phẩm giúp chúng ta trị bệnh đói mà thôi. Vì thế người con Phật đừng đặt nặng vấn đề ăn uống để phải tìm cầu phương pháp này phương pháp nọ để vừa mất thời gian cho nó quá nhiều vừa không tập trung vào con đường tu tập.

Kính mong quý Phật tử dành nhiều thời gian hơn để tu tập, xiển dương chánh pháp mà Đức Như Lai đã chỉ dạy để nhằm giúp toàn thể chúng sanh có điều kiện để đến đựơc bến bờ giải thoát. Đây cũng là tâm nguyện lớn lao mà Chư Phật, Chư Bồ Tát, Chư Tổ mong muốn.

Nguyên Cảm
28/02/20128:00 SA
vodanh
Khách
NÉT ĐẸP RIÊNG.
Phật giáo Nguyên Thủy, có cái hay đẹp riêng.
Phật giáo Đại Thừa, cũng có cái hay đẹp riêng.
Thiên Chúa , Tin Lành, Hồi Giáo... đều có cái hay đẹp và giá trị riêng .
Đó là nét đẹp thiêng liêng của Tạo Hóa ban cho chúng sanh.
Những kỳ quan tâm linh đó? là tinh hoa của nhân loại và vũ trụ.
Học phật là thấy được nét đẹp, toàn cảnh của bức tranh nhân loại và dung chứa được nó.
Chúng ta chưa có cái nhìn tự do, toàn giác...đừng vội dựa vào kinh điển ,đánh giá người khác đúng sai ?
Phật pháp bất định pháp, đó ư ? Học phật mà đống băng, không linh hoạt ,
Ai khác hơn cái mình đang có, cái đầu bất ổn rồi, gọi giải thoát chổ nào?
Sức mạnh và vẻ đẹp của Phật giáo VN vốn : Hòa nhập, không hòa tan !
Học cái hay của loài người, không nghiên cứu ,không dấn thân, không dùng phương tiện , không dựa vào họ, làm sao học cách cứu người, giúp người ?
Tất cả là Pháp, là vô thường, là thay đổi, là sống với cái mới.. là chấp nhận, tức là giải thoát.
Còn giải thoát cách nào nữa ? Cũng là ý tưởng thôi, chỉ có Chúa và Phật mới biết rỏ cái đầu của đệ tử mình ?
Phật bày ra sự khổ, nhờ khổ con người mới có đi tu, mới có đạo.
Khi người tu là tìm thấy sự thật cuộc đời ,nên hết khổ?
Đã tu rồi mà thầy mình còn khổ, thì tu làm gì ?
Tu để tìm cách trốn chạy về Thiên Đàng.... Còn ai ở lại cứu đời, giúp đời?
Không có chiến trường ,làm gì có chiến sĩ, Tướng sĩ?
Lìa thế giới này, làm sao thành A la Hán, Bồ Tát, Phật ?
Đời là muôn mặt ! muôn kiểu !
Đạo là ôm trọn lấy cuộc đời ?
Nếu tu để diệt lòng tham ,con người không có chổ nào để mà tu ?
Bản chất con người, còn nhỏ tham nhỏ, người lớn tham lớn hơn, người tu còn tham vô tận nữa.
Tham không muốn mình chết, không muốn mình khổ, muốn về cỏi ngồi chơi xơi nước ,không làm mà có ăn...
Thật khó hiểu cái đầu con người, còn sống không lo giàu nghèo, lo ấm no, hạnh phúc cho nhau.
Mà mấy ngàn năm, con người mãi lo đi tìm chuyện giải thoát sao cái chết ?
Quý vị nào biết Phật và BT chết về đâu không? Sao các Ngài không dùng thần thông hiện về cứu giúp con người?
Nếu quý vị nào giải mã được chuyện đó mới là sống thật, sống hết lòng cuộc sống hiện có của mình.
Tu là phát triển tâm lành, phát triển tình người, giúp người, cứu người, thông cảm ,chia sẻ cho nhau....
Ai thể hiện được như vậy? Người đó tâm từ bi, tâm phật ,thé thôi.
Tóm lại, người phật tử chúng ta, sống kiểu nào, hoàn cảnh kiểu nào.. đem hết khả năng sẳn có của mình, quan tâm, nhiệt tình, chia sẻ, giúp đỡ ...cho cộng đòng cần đến là người có tâm đạo ,tạm đủ.
Đừng biện luận nhiều chữ nghĩa, ngôn từ mà rời xa đời sống thật, thiếu bình yên.
Bạn có bình yên? Bạn đến đâu và về đâu cũng bình yên.
Bình yên là trạng thái của Phật.
27/02/20128:00 SA
xyz
Khách
Trích : 'Phương pháp dưỡng sinh Osawa được biết đến từ thập niên 60 dựa trên căn bản quân bình âm dương của thực phẩm… Bẵng đi một thời gian khá lâu, đến nay phong trào rộ nở mà công đầu thuộc về một nhà sư trẻ, một trong những đệ tử xuất chúng của HT Thích Thanh Từ: Đại đức TTH... Từ đó, tài liệu, băng đĩa được phát hành phục vụ cộng đồng, không chỉ trong nước mà còn được đồng bào người Việt hải ngoại đón chào nồng nhiệt.'

Trích : ‘Nếu nói rằng: Đức Phật hiểu thấu nguyên lý âm dương, bằng chứng khi Ngài dạy nằm thế Kiết Tường, đầu phải quay về hướng bắc, chân xuôi hướng nam, mặt xoay hướng tây lưng dựa hướng đông… Ngài đã nắm vững quy luật âm dương trong thế nằm Kiết Tường, nhưng “Ngài không nói ra”! Thầy TTH lập luận như thế chẳng khác mấy so với lập luận của Linh mục Cao Phương Kỷ ...’

Xin hỏi : Đại đức TTH là ai ? Vị nào biết xin chỉ giùm. Theo tôi nghĩ không cần phải viết tắt làm gì, vị này có còn là đệ tử của Hòa thượng Thích Thanh Từ không hay đã tách ra khỏi hệ thống thiền tông mà Hòa thượng xây dựng ? và nếu căn cứ theo kinh :
“Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.”…
thì vị này chính là hạng người xuyên tạc Như Lai. Ngoài ra trong nhà Phật thường ‘truyền tụng’ câu : ‘Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết’ . Như vậy vị này còn là hạng người nào thì tôi không dám chắc nhưng chắc không phải là một đệ tử ‘xuất chúng’ của Hòa thượng rồi.
27/02/20128:00 SA
thientri
Khách
Đề nghĩ ban tổ chức của Thuviênhoasen trước khi đăng các bài trên diễn đàn nên kiểm duyệt, không đăng những bài mang tình thần nói xấu, chỉ trích lẫn nhau làm mất tinh thần Phật giáo.
Không nên lấy cái biết của mình và phê bình cái biết của người khác, không nên lấy cái biết của tôn giáo này, của Kinh điển này chê bai kinh điển khác. Làm như vậy đã đánh mất tinh thần Trung Đạo của Đức Phật.
13/03/20127:00 SA
ABC
Khách
Thưa quý độc giả, (ABC) tôi đã hẹn sẽ họa tiếp phần “Chân Pháp Gotama” ở cuối bài ý kiến về “Thực dưỡng Osawa” nhưng mãi đến nay vẫn chưa thực hiện được. Thành thật xin lỗi quý vị.
Vì vài lý do tôi xin bày tỏ:
Thứ nhất, tôi là một người chỉ học lõm bõm mỗi thứ một ít, âm dương ngũ hành, bát quái, thiền tông, tịnh độ, thiền minh sát… cơ may gặp bài của Trí Lập có những ý liên quan tôi vội vã mượn kiến thức của Hòa Thượng Thích Thông Lạc giảng để lấy làm ý kiến của mình, tôi rất là xấu hổ, (Bởi lúc trước tôi không thấy tông Phật giáo nào giảng về Ngũ uẩn với Âm dương ngũ hành rõ như vậy, nay pháp của HT Thông Lạc tôi vừa mới học được chút ít thì thấy hay quá nên nghĩ mọi người cũng thích vậy). Tôi cũng mong, sau ý kiến (thực dưỡng Osawa), tôi chờ đợi được các bạn hữu góp ý để mình có dịp học hỏi thêm.
Thứ hai, thực tình thì tôi chưa học hiểu pháp mà HT Thông Lạc giảng được bao nhiêu. Nay thấy ý kiến của bạn Chánh Kiến nêu vấn đề: “Tác giả Trí Lập và một số vị độc giả có ý kiến ủng hộ bài viết đều mang tư tưởng của HT Thích Thông Lạc...” thì tôi rất lấy làm e ngại. Quả thực tôi rất thích pháp của HT Thông Lạc, nhưng sợ vì sự hiểu chưa sâu nên không dám “múa dìu qua mắt thợ” với các học trò của HT.
Vậy tôi xin nỗi hẹn và kính mong quý vị nào hiểu rõ “Chân Pháp Gotama” như các quan điểm trong bài của Trí Lập mà bạn Chánh Kiến đã dẫn lại thì xin trình bày để tôi và quý độc giả cùng được học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý vị.
12/03/20127:00 SA
Chánh Niệm
Khách
Bạn Chánh Kiến dẫn:

“Ví dụ: quan điểm về Giới luật, về pháp môn Như lý tác ý, về pháp hành trong 37 phẩm trợ đạo, về 4 niệm xứ là con đuờng duy nhất, về Thiền ly dục ly ác pháp mà thầy Thông Lạc gọi là Tứ thánh định... v.v...”.

Vậy theo bạn, các quan điểm mà bạn đã dẫn ra không phải là giáo lý của đức Phật dạy hay sao?

Nếu đúng lời Phật dạy, TVHS chuyển tải mang lại lợi ích cho sự tu tập của người phật tử thì tại sao lại không làm?
Theo tôi, diễn đàn Phật pháp thì hãy chuyển tải pháp Phật có lợi ích thiết thực cho cuộc tu hành của người học Phật, điều này chẳng có gì sai.
11/03/20128:00 SA
Chánh Kiến
Khách
Nói thẳng nhé! Tác giả Trí Lập và một số vị độc giả có ý kiến ủng hộ bài viết đều mang tư tưởng của HT Thích Thông Lạc... Các vị rất khéo léo lợi dụng diễn đàn này dưới hình thức phê phán thầy TTH và lý thuyết âm dương để chuyển tải "thông điệp" của thầy Thông Lạc... Ví dụ: quan điểm về Giới luật, về pháp môn Như lý tác ý, về pháp hành trong 37 phẩm trợ đạo, về 4 niệm xứ là con đuờng duy nhất, về Thiền ly dục ly ác pháp mà thầy Thông Lạc gọi là Tứ thánh định... v.v... Không khéo rồi đây diễn đàn TVHS sẽ là của những người theo "trường phái" Thích Thông Lạc...
09/03/20128:00 SA
Tịnh Bình
Khách
Tôi rất tâm đắc với đoạn kết trong bài viết của Trí Lập:
“Điều sau cùng muốn chia sẻ là: tu giới và giữ giới là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Giới là pháp môn tu học chứ không phải là tín điều buộc phải giữ. Một người giữ giới, trường chay ba mươi năm, người này chưa chắc đã tu giới. Ngược lại, một người tu giới, người đó chắc chắn đã giữ giới. Điều này dễ hiểu vì dù trường chay nhiều năm, nhưng dục ăn vẫn còn, nghiệp đói của thân chưa xả bỏ. Ngoài dục ăn, còn nhiều thứ dục vi tế khác khó nhận biết, ví như thực phẩm phải vừa tương phản, vừa hài hòa về màu sắc, vừa kết hợp quân bình âm dương, tạo nên một món ăn đạt chuẩn thẩm mỹ mà người ta vẫn gọi là “nghệ thuật ẩm thực” với triết lý: ăn không chỉ bằng miệng mà còn bằng mắt… Đối với đạo Phật, chính tại chỗ này, dục của mắt, của mũi, của lưỡi phát sinh… Tu giới không chỉ là giữ giới mà chính là ly dục. Đây chính là chỗ khác biệt giữa người tu giới và người giữ giới.”
Qúy Phật tử nên chia sẻ điều này. Thế Tôn dạy “Tam Vô Lậu Học”. Trong đó “Giới” là bước đi căn bản đầu tiên. Không lo tu “Giới” mà chỉ muốn tu “Định”, “Tuệ”, hoặc “Định Tuệ song tu” quả đúng là ảo tưởng… Đức Phật dạy: Giới sanh Định, Định sanh Tuệ… Định Tuệ không từ Giới sanh, chắc chắn Định Tuệ ấy là của ngoại đạo, không phải của đạo Phật… Tác giả Trí Lập cũng đã viết một câu về Thiền rất căn bản: “Thiền của đạo Phật là ly dục ly ác pháp”. Không ôm Giới mà tu thì làm sao có thể ly dục ly ác pháp được… Tạm kết luận: Thiền của đạo Phật chính là Giới…
09/03/20128:00 SA
Liễu Hạnh
Khách
Kính gửi đạo hữu Chánh Tư Duy.
Rất may đạo hữu Chánh Tư Duy chỉ muốn kể lại câu chuyện ngài Viện chủ Kitano Gempo, chứ không có ý dùng câu chuyện này để phản biện bài viết của tác giả Trí Lập…
Tác giả Trí Lập đã không phủ nhận lý thuyết âm dương. Nhưng cho rằng lý thuyết âm dương chỉ có giá trị tương đối, và khẳng định không phải là chân lý giải thoát của đạo Phật. Điều này hoàn toàn chính xác…
Trí Lập đã phản biện quan điểm của thầy TTH: “Tôi không tin tất cả các bậc Tôn túc hiện nay đều thấu triệt lý thuyết âm dương, nếu thế các vị sẽ không thể đạt đến đỉnh cao tâm linh?, không thể nhìn sâu hơn đến giác ngộ giải thoát?, các vị không thể đạt đến mục đích cuối cùng của đạo Phật!…”
Việc này cũng dễ kiểm chứng, cứ hỏi các bậc tôn túc hiện nay như HT Nhất Hạnh, Minh Châu xem các ngài có biết gì về học thuyết âm dương không? sẽ biết ngay thôi!... Ngay đối với HT Thanh Từ, chưa chắc Ngài đã thấu triệt lý thuyết âm dương bằng người đệ tử là thầy TTH của Ngài…
Về chuyện Ngài Kitano Gempo giỏi âm dương cũng chỉ là trường hợp cá biệt. Không phải tất cả các vị thiền sư đều giỏi về Dịch học… Tại VN, Giáo sư Lương Kim Định, một Linh mục Công giáo. Về lĩnh vực này, ông thuộc loại “bậc thầy”. Bộ Triết lý An Vi của ông lên đến 45 cuốn sách, trong đó có những cuốn rất nỗi tiếng như: Cửa Khổng, Vũ Trụ Nhân Linh, Việt Lý Tố Nguyên, Dịch Kinh Linh Thể, Lạc Thư Minh Triết, Tinh Hoa Ngũ Điển. v.v… Với kiến thức Dịch học uyên thâm như thế, liệu rằng vị Linh mục này đã “nhìn sâu hơn đến giác ngộ giải thoát của đạo Phật” không?...
03/03/20128:00 SA
legia
Khách
gửi bạn : HẠNH và Bạn Mon. mình trân thành cảm ơn các bạn đã góp ý cho mình rất nhiều qua những ý kiến của các bạn mình mới biết mình còn phải học hỏi thêm nhiều điều hy vọng rằng sau này mính sẽ tiến bộ nhiều hơn và sẽ có nhiều kiến thức tốt hơn về phật giáo . mình xin trân thành cảm ơn các ban.
lê gia :
03/03/20128:00 SA
Chánh Tư Duy
Khách
Thay vì phản biện, xin gởi đến quí đạo hữu câu chuyện 98 trong ‘101 Câu Chuyện Thiền’ đã được TVHS đăng đã lâu để thấy các bậc cao tăng nói gì về Âm Dương Kinh Dịch. Các ngài nói rất ngắn gọn mà lưu lại ấn tượng khá lâu dài. Ngày nay chúng ta hay luận bàn về bất cứ chuyện gì nên quên rằng người xưa đã có đề cập đến.
CTD
98. KHÔNG VƯỚNG MẮC
Kitano Gempo, viện chủ của thiền viện Eihei [Vĩnh Bình tự - LND], viên tịch vào năm 1933 lúc chín mươi hai tuổi. Suốt đời ngài đã giữ mình không để bị chấp trước vào vật gì. Lúc còn là một hành giả khất thực ở tuổi hai mươi ngài gặp một người đồng hành nghiện thuốc lá. Đang lúc cùng đi xuống núi, họ ngừng lại nghỉ dưới một gốc cây. Kẻ đồng hành mời ngài thuốc hút, ngài nhận vì đang đói bụng.
“Thật là thích thú làm sao khi hút,” ngài nhận xét. Kẽ kia biếu ngài một ống điếu khác và gói thuốc lá rồi chia tay.
Kitano chợt nghĩ: “Nỗi thích thú này có thể gây trở ngại cho việc thiền định. Trước khi quá muộn, ta nên ngưng lại ngay.” Rồi ngài liền quẳng điếu.
Khi hai mươi ba tuổi, ngài nghiên cứu Kinh Dịch, vũ trụ quan sâu xa nhất. Bấy giờ vào mùa đông và ngài cần áo ấm. Ngài viết thư cho sư phụ ở cách xa hằng trăm dậm xin giúp đở, và gởi cho một khách du lịch nhờ trao lại. Mùa đông sắp hết mà chẳng thấy thư hồi âm hay quần áo ấm đâu cả. Kitano liền bốc quẻ Kinh Dịch xem bức thư có đi lạc hay không. Ngài đoán đúng, vì sau đó bức thư từ sư phụ chẳng thấy đả động gì đến quần áo ấm cả.
“Nếu ta dùng Kinh Dịch mà đoán đúng mọi chuyện thì ta sẽ xao lảng việc thiền định,” Kitano cảm thấy như thế. Rồi ngài liền từ bõ môn học kỳ bí đó và không bao giờ đoái hoài đến nó nữa.
Khi được hai mươi tám tuổi, ngài học lối viết thảo triện và thơ văn.
Ngài trở thành điêu luyện đến nỗi sư phụ ngài còn ca ngợi. Kitano suy ghĩ: “Nếu ta không ngừng ngay, thì ta sẽ trở thành một thi sĩ, mà không phải là một thiền sư.” Rồi ngài chẳng bao giờ viết một bài thơ nào nữa.
(Trích từ 101 Câu Chuyện Thiền trong cuốn Cốt Nhục Của Thiền – Paul Repps – Trần Trúc Lâm dịch)


http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-79_4-3743_5-50_6-1_17-92_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark
01/03/20128:00 SA
Mon
Khách
Gửi legia
Bạn như con chim học nói tiếng người.
Bạn hiểu biết về Phật pháp còn nông cạn lắm.
Thật tội nghiệp cho bạn. Tôi mong bạn đọc lại và suy nghĩ kỹ cái ý kiến mà bạn đã viết.
Chào nhé.
01/03/20128:00 SA
Hạnh
Khách
Gửi bạn legia,
Bạn dẫn lời người xưa ở ngay câu đầu tiên: "người biết thì không nói, người nói thì không biết”. Đúng thật, câu này rất đúng với bạn, bạn là người “không biết” gì nên mới (nói) trình bày những đoạn dẫn tiếp theo sau thật vô bổ.
Bạn hiểu thế nào là “hý luận ngôn thuyết?”, là “hư đàm quái luận?”
Tiếp theo nữa với những câu dẫn càng chứng tỏ bạn không hiểu gì Phật pháp cả: “Bất khả tư nghì vượt ngoài ngôn ngữ”, “như người uống nước vậy, nóng lạnh chỉ họ mới biết được thôi”. Toàn những lời mượn lại của những người tu chả tới nơi chứ Phật đâu có dạy những điều này?
Lại nữa: Bồ Đề Đạt Ma với: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Và Đại sĩ Long Thọ với câu luận đại phá Phật giáo: “Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo”, mà bạn cũng nghĩ rằng đây là những cây đại thụ trong Phật giáo ư? Đấy, các ngài này cũng là nói đấy, mà chỉ nói được lờ mờ thế thôi.
Còn trong thời Phật tại thế, bao nhiêu vị thánh Tăng khi tu xong đều cất lên khúc ca khải hoàn: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành…” y như đức Phật khi tu xong thì Ngài dõng dạc tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, nhất thiết thế gian, sinh lão bệnh tử”. Bạn thấy sao? Phật và các vị thánh Tăng là người đã nói như vậy thì hẳn là các Ngài không hiểu biết gì đâu bạn nhỉ!
Bạn khuyên: “hãy xứng đáng là một người hiểu biết”. Ồ nếu thế bạn hãy luận rõ nghĩa bài viết của Trí Lập này, đâu là chỗ đúng chỗ hay của thầy TTH được vận dụng trong cuộc tu hành của Phật tử? Như thế mới thực là người hiểu biết bạn ạ.
Còn câu: “một người được gọi là biết thì họ sẽ biết rõ những gì mình biết và cũng biết luôn cả những gì mình không biết mới gọi là người thật biết vậy”, thì đúng là của người không biết thật sự và rất thiếu trách nhiệm với cuộc đời. Những bậc thánh nhân như Phật, như các vị A la hán mà đều thế cả thì ngày nay chúng ta lấy đâu ra giáo lý để học hành, tu tập?
Mấy lời chia sẻ cùng bạn. Rất mong được học hỏi thêm từ bạn.
01/03/20128:00 SA
sati
Khách
Cám ơn tác giả Trí Lập. Bài viết thật đúng
29/02/20128:00 SA
Hữu Pháp
Khách
Kg bạn vodanh,
Bạn đã viết nhiều như rồng bay phượng múa, qua ý kiến của bạn tôi nhận ra bạn là người thế nào? Nếu không phải người: ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, còn tu hành thì… chẳng biết.
Thế nên bạn mới hiểu: “Nếu tu để diệt lòng tham, con người không có chổ nào để mà tu?...” và tiếp nữa: “Mà mấy ngàn năm, con người mãi lo đi tìm chuyện giải thoát sao cái chết?...”(Tôi đoán chữ ‘sao’ cái chết có thể bạn nhầm, mà thực ý bạn muốn nói là “lo đi tìm chuyện giải thoát ‘sau’ cái chết”). Bạn đọc lại và suy nghĩ kỹ các đoạn này đi nhé, nếu không phải là phật tử thì còn chấp nhận. Còn nếu là phật tử thì tôi nghĩ bạn chưa hiểu Phật Pháp tý nào.
Theo mấy câu đầu ý kiến của bạn:
“Phật giáo Nguyên Thủy, có cái hay đẹp riêng.
Phật giáo Đại Thừa, cũng có cái hay đẹp riêng.

Đó là nét đẹp thiêng liêng của Tạo Hóa ban cho chúng sanh”…
Vậy tôi xin thưa hỏi bạn ý này: Phật Giáo là gì? Và Tạo Hóa là ai? Rất mong bạn trả lời có đầu đuôi rõ ràng, rành mạch để cứu biết bao người đang mê lẫn bởi đường tu.
Xin cảm ơn bạn nhiều, và chắc quý độc giả cũng ơn bạn nhiều lắm đấy.
29/02/20128:00 SA
legia
Khách
êgia: Gửi quý vị độc giả : người xưa có câu " người biết thì không nói . người nói thì không biết " các quý vị đều lầ những nhà biết đôi điều về phật giáo chẳng nhớ câu nói nổi tiếng này của Đức Phật sao : một đệ tử trân chính của ta tuyệt không hý luận ngôn thuyết . còn khổng tử cúng từng nói người quân tử tuyệt không "hư đàm quái luận " vậy tôi nghĩ rằng trước mọi vấn đề chúng ta nên bình tĩnh suy xét trước sau có những điều có thể nói có những điều muốn nói mà không thể nói lên lời vì thế trong kinh phật đầy rẫy những câu : bất khả tư nghị vượt ngoài ngôn ngữ . và ngài Tam tạng cũng từng nói giống như người uống nước vậy nóng lạnh chỉ họ mơi biết được thôi . học phật cốt tủy phải thân chứng nhứng điều phật nói tuyệt không chỉ có ngôn thuyết mà thôi . nên tôi nghĩ tranh cải không mang lại kết quả gì tốt nhât chúng ta hãy đặt những câu hỏi thế này để tự mình giải đáp hoặc câu người có kiến giải cao thâm giải đáp cho mình tỷ như : tại sao đạo phật được đại diện bởi ngài Bồ đề đạt ma lại chuyền vào trung quốc mà không đến nhật, việt nam , hàn quốc và các nước khác hay chăng giữa học thuyết của phật và kinh dịch của trung hoa và học thuyêt Lão , Trang có chỗ tương đồng giống như người ta thường nói : Đồng thanh thi tương ứng Đổng khí thì tương cầu? hay sao đạo phật ngoài những vô vàn kinh điển thì trung quán luận của Đại sĩ long thọ lại là cây đại thụ của phật giáo như vậy còn thuyết quân bình trong kinh dich của trung hoa thì sao ? các quý vị hãy bình tâm suy nghĩ rối sẽ hiểu được mọi điều mà thội . hãy xứng đáng là một người hiểu biêt . giống như câu nói này tôi không biết đã đọc được ở đâu đó " một người được gọi là biết thì họ sẽ biết rõ những gì mình biết và cũng biết luôn cả những gì mình không biết mới gọi là người thật biết vậy : .trân trọng kính chào .
29/02/20128:00 SA
H'Niel
Khách
Tác giả Trí Lập viết: Định giác chi và Định như ý túc là "Pháp thành tựu" chứ không phải "Pháp hành"... "Pháp hành" là Tứ niệm xứ và Tứ chánh cần... Chỗ này tôi thực sự lùng bùng... Ai biết chỉ giùm. Cảm ơn!...
29/02/20128:00 SA
Người hàng xóm
Khách
Kính gửi đạo hữu vodanh!
Bây giờ là lúc nào rồi mà đạo hữu còn nói Nguyên Thủy, Đại Thừa, Thiên Chúa , Tin Lành, Hồi Giáo... đều có cái hay đẹp và giá trị riêng. Đó là nét đẹp thiêng liêng của Tạo Hóa ban cho chúng sanh???! "Tạo Hóa" nào trong đạo Phật vậy đạo hữu?... Đạo hữu có phải là Phật tử không đấy?!...
24/05/20147:00 SA
nhpine
Khách
TÔI CHO LÀ BÀI VIẾT TÁC GIẢ QUÁ CỰC ĐOAN
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2014(Xem: 1075)
facebookyoutubetwitter twitter
HỘI NHẬP / GHI DANH
south-korean-buddhist-monks-and-nuns-rap-the-prayer
Trong cuộc thi Cầu Nguyện Phật Giáo được tổ chức tại một ngôi chùa ở thủ đô Hán Thành vào ngày Thứ Năm (17/7/2014) bởi Tông phái Tào Khê, tổ chức Phật giáo lớn nhất Hàn Quốc với sự tham dự hơn 300 tăng ni. Trong khi hầu hết các phái đoàn đọc lời cầu nguyện truyền thống, một số nữ tu sĩ (ni chúng) dũng cảm bước lên sân khấu với nhạc rap và hip hop biểu diễn. Nhóm họ gồm ba vị sư cô trình diễn một biến thể của bài Tâm Kinh Bát Nhã
thien-tang-qua-vo-chong-dr-erb
Hôm nay chúng tôi rất hân hạnh chào mừng chư Tôn Đức Tăng Ni và quý quan khách đến với buổi thuyết trình Tổng Kết Công Trình Hợp Tác Nghiên Cứu giữa Đại Học Tbingen (Đức Quốc) và Hội Thiền Tánh Không từ năm 2007 đến 2013 với đề tài “Tương Quan Thực Nghiệm giữa Thiền và Các Định Khu Não Bộ.
quach-thi-trang
Theo tin trang mạng của Báo Giác Ngộ đăng ngày 24 tháng 7 năm 2014 thì chính quyền Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tại Thành phố HCM đã quyết định di dời tượng đài Danh Tướng Trần Nguyên Hãn và tượng đài Cố Liệt Nữ Quách Thị Trang trong Công Viên Quách Thị Trang trước Chợ Bến Thành đi nơi khác để xây dựng tuyến đường sắt.