Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhaṇa Sutta)

28/04/201012:00 SA(Xem: 119692)
Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhaṇa Sutta)

kinhvongatuong-bia
KINH VÔ NGÃ TƯỚNG
Thiền sư Mahasi Sayadaw
Phạm Kim Khánh dịch


mahasi_1982-contentMahasi Sayadaw (1904-1982), tu sĩ Phật giáo Miến Điện và là thiền sư nổi tiếng dạy Thiền Tuệ Quán (Vipassana, insight meditation) khắp Châu Á và Châu Âu. Phương pháp của ngài là buộc định vào cảm giác phồng xẹp của bụng theo hơi thở, cùng với sự quan sát mọi cảm thọ và tâm.

Mahasie Sayadaw sinh năm 1904 tại làng Seikkhun, bắc Miến Điện. Đi tu từ năm 12 tuổi, thọ giới tỳ kheo năm 20 tuổi với pháp danh U Sobhana. Sau nhiều chục năm học tập ngài vượt qua các kì thi khảo hạch rất khắt khe về kinh tạng Theravada, được bổ nhiệm chức vị pháp sư (Dhammācariya) vào năm 1941.

Từ 1931, U Sobhana đã tích cực thực hành Thiền Tuệ quán với thày mình là Mingun Jetawun Sayadaw.

Năm 1938 U Sobhana bắt đầu dạy Thiền Tuệ quán tại chùa Mahasi và được mọi người biết đến như thày Mahasi Sayadaw.

Năm 1947, Thủ tướng Miến Điện U Nu mời ngài Mahasi về dạy cho một trung tâm Thiền mới mở tại Yangon, nơi mà về sau trở thành Mahasi Sasana Yeiktha.

Năm 1954 Mahasi Sayadaw tham dự lần kết tập Kinh điển lần thứ sáu, bắt đầu từ ngày 17 tháng năm 1954 và kéo dài trong hai năm cho đến 1956. Ngài giữ vị trí của vị thày sát hạch (questioner) và biên tập cuối cùng (final editor), tức chính là vị trí của Maha Ca Diếp trong lần kết tập thứ nhất ba tháng sau khi Phật nhập diệt.

Ngài Mahai đã thiết lập rất nhiều trung tâm thiền khắp đất nước Miến Điện cũng như ở Sri Lanka , Indonesia , Thailand .

Năm 1979, ngài Mahasi bắt đầu phổ biến pháp Tuệ Quán dưới tên Vipassana hay Insight meditation sang phương Tây tại những Trung tâm mới thành lập như IMS (Insight Meditation Society) ở Barre, Massachusettes, USA. Chuyến đi này kéo dài nhiều tháng sang nhiều quốc gia và qua nhiều tiểu bang tại Mỹ, nhờ đó gây một phong trào lôi kéo những người hành thiền nhiều nơi trên thế giới đổ xô về học thiền tại trung tâm thiền của ngài tại Yangon .

Ba năm sau đó vào ngày 14 tháng tám 1982, Ngài Mahasi Sayadaw viên tịch, sau một cơn đột quị, để lại nhiều tiếc thương cho rất đông người kính ngưỡng ngài.

Ngài Mahasi Sayadaw đã viết rất nhiều sách cho Phật Giáo Miến Điện, đặc biệt về Thiền Tuệ Quán. Ngài cũng dịch Thanh Tịnh Đạo Luận sang tiếng Miến. Tác phẩm bằng tiếng Anh gồm có:

Practical Vipassana Exercises
Satipatthana Vipassana Meditation
The Progress of Insight–an advanced talk on Vipassana
Thoughts on the Dharma
Ngày nay phương pháp Thiền Tuệ Quán của Mahasi sadayaw được tiếp tục với:

- Sayadaw U Pandita

- Sayadaw U Janaka

- Sayadaw U Silananda

- Sayadaw U Lakkhana, và rất nhiều tu sĩ Phật giáo nguyên thủy Theravada khác.

(Nguồn: http://thienviennguyenthuy.wordpress.com)




Tạo bài viết
Chúng tôi vừa nhận được tập bản thảo của Giáo sư Tiến sĩ Quảng Phước Huỳnh tấn Lê - Đương kim Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Pháp chế Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ (HĐĐH/GHPGVNTNHK) nói về Tập “Cẩm Nang Di Trú”. Tập Cẩm Nang nầy chỉ chú trọng và dành riêng cho chư Tăng Ni Việt Nam đến hành hoạt Phật sự tại Hoa Kỳ. Nội dung của những bài viết ngắn gọn và rất súc tích.
Nhân dịp lễ Vesak - Phật đản, Trung tâm Văn hóa Swami Vivekananda (SVCC) / Swami Vivekananda Cultural Centre Embassy of India, Hanoi Nội tổ chức một chuỗi Bài giảng Trực tuyến về Phật giáo, được thực hiện bởi nhiều học giả về đạo Phật. Chủ đề: Đức Phật trong các diễn thuyết và tác phẩm viết bởi Swami Vivekananda Diễn giả: Tiến sĩ G. B. Harisha Thời gian: từ 10:30 SÁNG (giờ Vietnam, GMT+7) hay 9:00 SÁNG (giờ Ấn Độ, GMT+5.30) Thứ Năm, 28/05/2020
Những người theo đạo Phật ở Bồ đề Đạo tràng (Bodh Gaya), Ấn Độ, đã lên tiếng việc lo ngại về việc cung cấp chỗ ở tạm thời cho người Ấn Độ đang đáp máy bay, đến từ các khu vực trên thế giới bị đại dịch Virus corona tấn công. Hội đồng Phật giáo Quốc tế (The International Buddhist Council), cơ quan đại diện cho hơn 50 cơ sở tự viện Phật giáo tại Bồ đề Đạo tràng và khu vực lân cận, đã đưa ra một tuyên bố yêu cầu đề xuất các địa điểm kiểm dịch, trong đó bao gồm các cơ sở tự viện Phật giáo, không được sử dụng và người Ấn Độ trở về từ nước ngoài.