(Xem: 1280)
Trì giới đề cập trong kinh Sa môn quả được chia làm ba hạng mục: tiểu giới, trung giới và đại giới, vốn là những giải thích của Đức Phật về một vị Tỳ kheo giới hạnh cụ túc.17 Nội dung của việc trì giới của người xuất gia liên quan đến việc sống cẩn trọng với “sự chế ngự của giới bốn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh”.18 Với sự tóm tắt như vậy, các khía cạnh về giới, thân nghiệp, ngữ nghiệp được triển khai chi tiết hơn trong các phần sau.
(Xem: 3075)
Chiều hôm qua, một Phật tử đến gặp thầy và trình bầy là bà có người thân hiện đang tu học với một vị thầy ở Bà Rịa – Vũng Tầu. Bà nói – cí một điều lạ là trước khi hướng dẫn tu tập, thầy này bắt đệ tử phải thề không được chỉ lại cho người khác. Thầy hỏi bà: ...
(Xem: 1420)
Trong 45 năm truyền giảng con đường giải thoát, Đức Phật thu nhận rất nhiều đệ tử, có người xuất gia theo Ngài và lập thành Tăng đoàn (Sangha), có người là cư sĩ. Đức Phật để lại cho nhân loại kho tàng tri kiến vô giá gồm nhiều bài thuyết giảng (Sutta – Kinh) cho nhiều đối tượng từ quý tộc đến bình dân, từ giới cư sĩ đến bậc thánh thanh văn. với sự phát triển của Tăng đoàn, giới luật được Ngài chế định để tăng chúng tu tập được thuận lợi (Vinaya – Luật). Ngoài ra, còn nhiều bài giảng, luận – đặc biệt khác đã đúc kết trong bộ A-tỳ-đàm (Abhidhamma). Luật và Kinh là hai tạng kinh điển được kết tập sớm nhất, ngay trong kỳ kết tập kinh văn ngoại thành Rajagaha (Vương Xá).
(Xem: 1528)
Bộ chú giải này là một trong năm bộ luận giải thích về luật trong Luật bộ thuộc Hán dịch Bắc truyền Đại tạng kinh lưu hành tại Trung quốc và được đưa vào Đại chính tân tu Đại tạng kinh N.1462, tập 24 do Nhật bản biên tập.
(Xem: 1944)
Lâu nay ở các giới đàn, tình trạng tổ chức lệch lạc, không đúng luật rất nhiều, dẫn đến phi pháp. Ở góc độ kiến giải của các Luật sư theo truyền thống Bắc tông thì “giới tử không biết, không nghi thì vẫn đắc giới, chỉ có giới sư là phạm luật”. Nhưng đối với kiến giải của truyền thống Nam tông thì giới sư không đúng pháp, giới tử không đắc giới, dù giới tử không biết. Ngay cả khi vị giới sư phạm luật mà không biết mình phạm, thì các vị khác cũng cần chỉ lỗi để vị ấy biết mà như pháp sám hối, không nên nể nang nhau mà im lặng.
(Xem: 3510)
Bốn bộ luật tiểu Tỳ ni – Sa di – Oai nghi – Cảnh sách của Tổ Quy Sơn, Tổ Châu Hoằng,….Các Ngài là bậc long tượng trong thiền môn, vì thương hàng hậu học các Ngài chỉ thẳng phương pháp hóa giải tập khí của hàng xuất gia khi mới bước chân vào đạo, phải nói bốn bộ luật tiểu này được xem là khuôn vàng thước ngọc, là cẩm nang gối đầu giường của hành giả tu tập. Sách này không những là cơ sở cho giới cụ túc mà cũng là nền tảng cho giới Bồ-tát
(Xem: 1786)
Giới hạnh của người tu liên quan đến sự thịnh suy của Phật pháp một cách mật thiết. Như vậy, chỉ có giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, đồng thời cũng góp phần xây dựng cho chúng ta thành những chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, tạo nền tảng cho Phật pháp hưng thịnh.
(Xem: 4486)
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chẳng những thân không phạm, luôn cả cái “không phạm” cũng không còn", tức thân tâm đều dứt, luôn cả cái dứt cũng không có, như thế đối với vô thượng bồ đề mới có hy vọng.
Kinh
(Xem: 1805)
Chánh kiến (Sammā diṭṭhi) có nghĩa là hiểu biết các pháp như chúng thực sự là, chứ không như chúng dường như là. Điều quan trọng, chúng ta phải nhận thức được rằng Chánh kiến trong đạo Phật có một nội hàm đặc biệt, khác hẳn với những gì thường được mọi người gán cho. Trong Phật giáo, Tuệ giác Chánh kiến có khả năng soi chiếu để thấy rõ năm thủ uẩn và hiểu được bản chất thực của nó, điều này có nghĩa là phải hiểu được chính thân và tâm con người. Để hiểu rõ hơn về Chánh kiến, chúng ta cần điểm qua lời dạy của Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trong Kinh Chánh Tri Kiến:
(Xem: 1849)
của tác giả Nhuận Tâm Nguyễn Kim Cương với lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Như Điển
(Xem: 1011)
Chân lý mà rỗng không và vi diệu, thì ý niệm tu tập bị dẹp bỏ, năm mắt hết soi, bốn trí mờ biết. Làm sao nằm bệnh mà gửi gắm sự biểu huyền của ‘vô thuyết’, báo chết mà tuyệt hẳn sự chương diệu của ‘vô ngôn’? Thế nhưng, chân tục tuy khác mà vô tướng không khác, động tịnh đổi khác mà ly ngôn ấy đồng.
(Xem: 1793)
.../...Thí như trong biển cả, nếu thuyền chở nhiều trân bảo, chắc sẽ nhanh chóng bị đắm chìm. Chánh pháp Như Lai không như vậy, mà sẽ bị tiêu diệt từ từ. Chánh pháp của Như Lai không bị đất làm hoại, không bị nước, lửa, gió làm hoại đi. Cho đến lúc chúng sanh ác xuất hiện ở thế gian, thích làm các điều ác, muốn làm các điều ác, thành tựu các điều ác; phi pháp nói là pháp, pháp nói là phi pháp; phi luật nói là luật; bằng pháp tương tợ mà cú vị thịnh hành. Bấy giờ Chánh pháp Như Lai mới chìm mất....
(Xem: 1900)
Tháng 10/2020 vừa qua, sách Cú Pháp Phạn Ngữ đã được ra mắt cùng độc giả quan tâm tới lĩnh vực Phạn học. Sách dày 464 trang, tác giả Jacob Samuel Speyer, biên dịch Việt bởi Đỗ Quốc Bảo (PhD.). Đây là công trình thuộc dự án Phạn học tiếp theo sau cùng các tác phẩm đã được phát hành trước đây: Giáo Trình Phạn Văn và Ngữ Pháp Phạn Ngữ.
(Xem: 3168)
New Posting: Kinh Pháp Cú Giảng Giải: Phẩm 3: Phẩm Tâm Ý do quý giảng sư Thích Trí Siêu, Thích Giác Đẳng, Thích Bửu Chánh và Pháp Đăng thuyết giảng - từ kệ ngôn 33 đến kệ ngôn thứ 43.
(Xem: 6833)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 6789)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 5278)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 4786)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 5137)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
(Xem: 4068)
Bí-sô nên biết! ở đây, vị Thánh đệ tử, bằng đặc điểm như vậy tùy niệm chư Phật, nghĩa là vị Thế Tôn ấy là bậc Như Lai, A-la-hán, nói chi tiết cho đến: Phật Bạc-già-phạm”. Hoặc có vị Thánh đệ tử nào bằng đặc điểm như thế tùy niệm chư Phật, những gì là niệm tương ưng với kinh nghiệm nhận thức, mà kiến là căn bản: tùy niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên, không mất, không rơi sót, không rò rỉ, không mất trạng thái của Pháp, trạng thái ghi nhớ sáng suốt của tâm. Đó gọi là tùy niệm Phật.
(Xem: 4986)
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi Tử lại nói với đại chúng: Cụ thọ nên biết! Đức Phật đối với mười pháp sau khi đã tự mình khéo thông đạt, hiện đẳng giác, liền tuyên thuyết khai thị cho các đệ tử. Hôm nay chúng ta nên hòa hợp kết tập, để ngăn ngừa sau khi đức Phật diệt độ xảy ra sự tranh cãi, khiến cho pháp luật tùy thuận phạm hạnh được an trụ lâu dài mang lại lợi lạc cho vô lượng hữu tình; lại vì thương xót thế gian, chúng chư thiên và nhân loại, khiến cho họ có được nghĩa lợi an lạc thù thắng. Những gì là mười pháp? Ở đây khái lược có hai loại mười pháp, đó là mười biến xứ và mười pháp vô học.
(Xem: 5290)
Theo nghiên cứu của các học giả Abhidharma hiện đại, đại biểu như Đại sư Ấn Thuận, sáu túc luận A-tì-đạt-ma lấy Phát trí luận làm bản luận[1]. Việc nhóm tập sáu túc luận thành một tổ hợp hay nhóm mục, sớm nhất phải kể đến luận Đại trí độ, trong đây khi Long Thọ đề cập đến “lục phần A-tì-đàm”[2], đồng thời nói đến “thân nghĩa tì-đàm”[3]. Thân: ở đây chỉ cho Phát trí luận[4], nghĩa này Đại Tì-bà-sa luận nói rằng, thời đại của ngài Long Thọ đã thường gọi Phát trí luận là thân, sáu túc luận kia là chi phần. ....
CHUYÊN ĐỀ
Trong biểu tượng Phật giáo, tâm Đại bi được thể hiện trong Bồ tát Quán Thế Âm, người được cho là hiển hiện ở bất cứ nơi nào chúng sinh cần giúp đỡ. Theo Christina Feldman, việc khơi dậy tâm Đại bi như vậy không chỉ tốt cho người khác mà còn tốt cho cả chúng ta. Bằng cách đặt người khác lên trên hết, chúng ta nới lỏng các ràng buộc của sự chấp chặt vào bản thân, và làm như vậy, tiến gần hơn đến sự giải thoát của chính mình.
Tích trượng trong Phật giáo là một trong những món đồ mà một tu sĩ phải mang theo bên mình khi đi đường. Công dụng chính của nó bao gồm để tự vệ, xua đuổi côn trùng thú dữ, và để tạo âm thanh hỗ trợ cho việc khất thực. Tuy nhiên, ngày nay trong Phật giáo Tích trượng dường như không còn có công dụng như thời kỳ đầu, ở các nước theo Phật giáo nguyên thủy hầu như không còn thấy xuất hiện trong đời sống tu sĩ, còn ở nhánh Phật giáo Bắc truyền, Tích trượng đã được chuyển đổi công năng khá rõ rệt.
Mùa xuân là dịp để trở về, dừng bước chân hoằng hóa để quán chiếu mọi nhân duyên giữa đời. Đây là giây phút buông mọi phan duyên để ngẫm nghĩ, để quan chiếu nội tâmngoại cảnh nhằm vạch ra hướng hành đạo đích thực.
Còn chuyện hoang đường như đốt vàng mã, thì ngoài việc đã làm tổn hại tài nguyên, còn mâu thuẫn cả về mặt tâm tư. Trong khi chúng ta cầu nguyện cho người thân quá vãng được tái sanh vào cõi an lành, như sanh cõi trời hay cõi người hay về cảnh giới Tây phương cực lạc hay một cảnh giới thanh tịnh nào đó mà lại đi đốt giấy tiền vàng mã và đồ dùng bằng giấy xuống âm phủ cho người thân tiêu dùng trong các lễ tang, lễ giỗ, thì như vậy có phải chúng ta cầu cho người thân ở mãi cảnh giới âm u tối tăm đó để xài tiền ma, đồ dùng ma hay sao. Thậm chí có người, khi đốt xong còn lo lắng không biết người thân có nhận được không? …
Cây mai 80 tuổi của ông Nguyễn Văn Đối (Ba Đối) ở ấp Đông Hậu, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đã trở thành điểm đến thân quen của du khách từ mấy năm nay.
Như thường lệ, mồng một tết cha con chở nhau về Sài Gòn đi lễ chùa nhưng năm nay, con ở xa quê trên tám năm, mẹ không còn, ba lủi thủi một mình về Thành phố như thói quen, chỉ viếng một vài cảnh chùa rồi, nằm chèo queo trong căn nhà trống trải gặm nhấm nỗi cô đơn.
Cứ mỗi độ xuân về, khoảng đầu tháng chạp là nhà ngoại rộn ràng tất bật. Lò mứt bắt đầu vào mùa, mọi người trong nhà tăng tốc dần theo cái đà cận tết. Má, các dì, cậu… đều phải làm mứt cả. Khi ấy tôi thường được giao việc đi lấy nước giếng, giếng nhà ngoại nhiễm phèn, làm mứt sẽ không được trắng đẹp. Giếng nước từ nhà thờ họ cách chừng ba cây số, nước trong vắt, ngọt và mát lạnh, không chỉ làm mứt mà còn để uống ngon như nước đá.
Trong Đại kinh Người Chăn Bò, đức Thế Tôn nói về 11 phẩm chất của người chăn bò, và tương tự như vậy là 11 pháp mà một hành giả cần biết để việc tu hành được thành công, đi đến bến bờ giải thoát. Kinh văn đọc như sau:
Ngày đầu xuân, kính gởi đến Đại chúng niềm vui trong Chánh pháp, cùng chia sẻ Pháp lạc trong Giáo pháp hiện thế của Đức Thích Tôn, cùng hướng đến Giáo nghĩa đương lai của Đức Từ Tôn Vô Năng Thắng. Trong những chu kỳ thành-trụ-hoại-không của thế giới, trong cái cộng nghiệp và biệt nghiệp của mỗi chủng loại, của mỗi dân tộc, nhân loại đã và đang trải qua những biến đổi trong thế giới tự nhiên, những biến động trong xã hội loài người, làm thay đổi tư duy của con người từ giáo nghĩa, giáo điều, tín lý của các tôn giáo, các hệ tư tưởng, gây nên những thế kỷ xung đột, bạo hành, chiến tranh, giữa các dân tộc, các tôn giáo.
Không khí tết cổ truyền dân tộc với niềm hoan hỷ vô biên đang tràn ngập trên đất nước Việt Nam thân yêu. Trong thời khắc thiêng liêng chào đón Xuân mới Tân Sửu - 2021, thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tôi gửi tới toàn thể các cấp Giáo hộichư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức, Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất.
Nước Trí rửa mắt lòa, bỏ Giả theo Chân lần bến Giác. Gương Bi soi lòng sắt, làm Lành lánh Giữ, hướng non Từ
Điều bất lực lớn nhất của kiếp nhân sinh đó là không thể kiểm soát hay điều chỉnh lẽ thịnh suy theo ý mình, nên cứ mãi .. '' khóc cười theo mệnh nước nỗi trôi.. nước ơi! '' là vậy! Điều duy nhất có thể làm được, là chúng ta chúc cho nhau sống: '' Nhậm vận thịnh suybố uý '',(Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi), mà muốn sống được với tâm thái không sợ hãi thì chẳng dễ tí nào ? Chúng ta phải thấy cho ra cái gốc của sự sợ hãi là do chấp thân năm uẩn này là thiệt,(ngũ thủ uẩn). Muốn đạt được cái thấy Như Thật về Ngũ uẩn này là không, không gì ngoài sự dụng công tu hành, quán chiếu.. Một khi ta vốn không, ấy thì lẽ thịnh suy bên ngoài kia do đâu dựng lập mà có được...
Lời chúc năm mới nào cũng là chúc nhau hạnh phúc. Đông thì Vạn Sự Như Ý, Tây thì Happy New Year. Chúc nhau hạnh phúc thì phải rồi. Bởi vì hạnh phúc là điều chúng ta đi tìm kiếm, thực hiện suốt cả năm. Và cả đời.
Hương xuân lan tỏa đất trời Để bao mơ ước đời người thăng hoa. Thật vậy! Khó ai có thể phủ nhận được vẻ đẹp trong lành và thuần khiết của mùa Xuân. Cũng giống như mùa Xuân, con người trở nên rạng ngời không chỉ nhờ vẻ bề ngoài mà còn nhờ vào vẻ đẹp thực thụ toát ra từ bên trong – “đóa hoa tâm”. Bởi vậy, dù bận trăm công nghìn việc nhưng thầy Thanh Lương vẫn dành cho mình một không gian riêng để sống với những vần thơ, giống như cách thầy vẫn thường nhìn lại và chăm sóc khu vườn tâm của mình. Tất cả sẽ được gói gọn trong cuốn Tặng phẩm xuân 2021, xin gửi tặng món quà nhỏ xinh đến mọi người mỗi dịp Xuân về. Nếu ai đang cầm trên tay tập thơ này thì hãy dành ra một chút thời gian đọc để cùng cảm nhận hương vị của sắc Xuân, sẽ thấy niềm an lạc trong tâm tư ta và người.
Bài thi kệ được dịch Việt bởi Ban Phiên Dịch Việt Ngữ Vạn Phật Thánh Thành. Chuyển ngữ Tiếng Anh bởi Thái Bình. Diễn đọc: Đạo hữu Cù Huy Uyên.
NEW POSTING
Những đệ tử nào của Như Lai, vì cúng dườngthuyết pháp, có thể nói không phải đệ tử của Như Lai. Huống chi là đi cúng ma chay để lấy tiền (mà không vì lòng từ mẫn, vì phương tiện đem chánh Pháp vào đời) là ác hành, hạ liệt.
Đó là cánh chim Hạc trắng, một lần bay ngang vùng đồi núi, miền Nam California và đáp xuống sân trước một đạo tràng Tịnh Độ. Hạc trắng đáp xuống, đứng ngay bên Tôn Tượng Chư Phật, khi trong Chánh Điện, đại chúng đang tụng Kinh A Di Đà. Hạc trắng đáp xuống không phải để tìm kiếm thức ăn vì quanh sân không có gì là thực phẩm cho chúng. Vậy, sao Hạc đáp xuống, rồi đứng yên bên tượng Phật, đứng lặng lẽ, bình an như đây là nơi chốn mà Hạc chủ tâm tìm về ?
New Posting: Chương V Nam Tính và nữ tính trong cuộc sống tâm linh -Bài 36 - Phật giáo Zen và Phật giáo Shin: Zen và Shin là hai học phái Phật giáo Nhật-bản bắt nguồn từ hai học phái Phật giáo Trung quốcThiền học (Chan / Tchan, Thiền / 禪) và Tịnh độ tông (淨土宗). Tuy bắt nguồn từ Phật giáo Trung quốc thế nhưng sau khi được đưa vào Nhật bản thì cả hai học phái này đã chịu ảnh hưởng khá sâu đậm bởi văn hóa, tánh khí, phong cách của dân tộc Nhật, và đã phát triển rộng rãi tại nơi này và vẫn tiếp tục còn tồn tại đến nay. Tuy nhiên dường như học phái Zen được nhiều người biết đến hơn, và như vậy thì học phái Shin là gì? Chúng ta có thể biến các xúc cảm mộc mạc và thô thiển bên trong chính mình trở thành tinh tế hơn bằng cách phát động lòng tin tưởng và sự sùng kính (devotion), chẳng hạn như các nghi lễ gọi chung là "Puja gồm bảy thành phần"
Cho đến ngày hôm nay hầu như những Sử gia Phật Giáo như Hòa Thượng Thích Mật Thể, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Giáo sư Học giả Trí Siêu Lê Mạnh Thát v.v… đều công nhận Ngài Khương Tăng HộiSơ Tổ của Phật Giáo Việt Nam. Cùng thời với Ngài cũng có những Ngài khác như: Mâu Bác, Chi Cương Lương và Ma Ha Tăng Kỳ Vực cũng đã ở Giao Châu.
“Con thằn lằn chọn nghiệp” có thể được xem như là một trong vài truyện ngắn luận đề xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam trong thế kỷ qua; ở đó, tác giả gửi gắm tư tưởng canh tân xã hội thông qua triết học Phật giáo. Tương lai Phật giáo, cũng là tương lai đất nước, được biểu trưng bằng hình ảnh Phật Di Lặc. Theo ông, Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa xã hộithích hợp thời đại, ít nhất là mang hình thức dấn thân tích cực như giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật Giáo Hòa Hảobản thân tác giả chịu ảnh hưởng.
Thiền sư Pháp Loa đã kế thừa và để lại di sản lớn cho thiền phái Trúc Lâm nói riêng, Phật giáo Việt Nam nói chung. Đây là di sản đậm nét văn hóa đặc trưng, mang giá trị độc đáo; hình thành và kế tục phát triển từ quá khứ, kéo dài đến hiện tại.
Chẳng bao lâu sau khi được xác định như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, cậu bé Lhamo Thondup được cha mẹ đưa đến tu viện Kumbum để bắt đầu việc rèn luyện tôn giáo sơ khởi và chờ đợi trong khi những chuẩn bị cho chuyến du hành đến Lhasa được thực hiện. Mười tám tháng sau, việc cung nghinh Đức Đạt Lai Lạt Ma mới đã bắt đầu cho cuộc hành trình ba tháng đến thủ đô của quốc gia.
Một con ngựa chạy dầu giỏi bao nhiêu đi chăng nữa; nhưng nếu không có người cầm cương hay, thì ngựa kia cũng khó mà đạt được mục đích. Một đầu máy xe lửa thật là tốt mà mang theo những toa xe cũ kỹ, hoặc ngược lại, thì chắc rằng đi chưa đến đích đã có nhiều cơ phận của xe lửa bị rã rời. Vì thế muốn được hoàn hảo, cả hai đều phải cộng tác hỗ tương cho nhau thì mới thành tựu được. Ở đây cũng thế, người Tăng Sĩ luôn luôn cố gắng học hỏi, trau dồi đức hạnh của mình, trong khi đó người Cư Sĩ luôn luôn khiêm cung, biết kính tin ngôi Tam Bảo thì cả hai đều được an lạchạnh phúc. Giáo Hội sẽ được trang nghiêm và nói như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã nói là: sự an lạc người ta không thể đi mua ở ngoài chợ được.
Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Phật tánh gọi là đại tín tâm. Vì do tín tâmĐại Bồ tát được đầy đủ Bố thí ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật. Tất cả chúng sanh quyết định sẽ được đại tín tâm, do vậy nên nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đại tín tâm chính là Phật tánh. Phật tánh chính là Như Lai”
Ngày nay chiến tranh “ý thức hệ” không còn, chiến tranh “chống khủng bố” là vấn đề riêng của Mỹ và Âu Châu không liên hệ gì tới Á Châu, Phi Châu và Nam Mỹ cho nên chỉ còn vấn đề quyền lợi quốc gia. Ai đem lại lợi ích cho đất nước mình thì chơi. Ai làm hại thì chống lại hoặc lánh xa chứ không phải chỉ chơi, chỉ gắn bó, chỉ trung thành với Mỹ với Nga hay với Tàu như năm xưa. Cho nên thế giới đang biến động trong bối cảnh “Đông Chu Liệt Quốc” mà quyền lợi quốc giatối thượng.
Một kiếp nhân sinh ngắn ngủi lắm. Tất cả chúng ta ai sinh ra trên quả địa cầu nầy cũng giống nhau. Đó là khi sinh chẳng ai có một mảnh vải nào; và khi tử cũng chẳng ai mang theo được một mảnh vải nào theo thân, ngoại trừ mang theo nghiệp lực từ nhiều đời kiếp về trước. Chúng ta đến đây để hơn thua với nhau trong từng lời nói, từng miếng cơm, manh áo v.v… để rồi một ngày nào đó chúng ta cũng phải ra đi dầu sớm hay muộn. Nếu có khác với lúc sanh ra là lúc nầy chúng ta có quần áo đẹp đẽ tẩn liệm xác thân ngũ uẩn nầy cho đỡ hôi thối; nhưng qua thời gian năm tháng, áo quần ấy cũng sẽ mục nát, chỉ còn trơ lại xương cốt mà thôi; ngoại trừ cái nghiệp lành hay dữ, chúng ta đã mang theo vào lòng đất lạnh. Vậy chúng ta phải tự ý thức rằng: hạnh phúc hay khổ đau, tất cả đều do chúng ta tạo ra cả. Hãy tự gánh chịu những trách nhiệm của mình đang thực hiện ở đây. Có như vậy thế giới nầy mới mong an bìnhthịnh vượng lâu dài được. Cầu mong cho chúng ta sẽ được như vậy.
...Sau này thấy mất không cần ai phải tụng kinh , cũng đừng cúng cơm, không nên bầy biện bất cứ thứ gì. Thầy không ăn đâu, đừng cúng làm chi cho cực. Thầy nghĩ rằng mình không làm ác thì không bị đọa vào ba đường ác nên không cần tụng kinh để cầu siêu...Trong sự tu tập, thầy tự mình tu nên tự biết đường đi, đâu cần phải có người nào ngồi đo cầu cho mình siêu, rồi phải cúng cơm cho mình ăn. Đức Phật dạy nếu không tạo những nghiệp ác thì mình sẽ tái sinh vào cảnh giới lành ngay lúc mạnh chung.
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng cao thượng nhất mà tất cả chúng tathể đạt được.
Trên bước đường tu theo Phật, hạnh buông xả là điều tiên quyết phải thực hiện. Đối với người xuất gia theo Phật, tất yếu phải từ bỏ gia đình, nhà cửa, sự nghiệp. Đó là bước ban đầu xả bỏ phần vật chất để tinh thần được nhẹ nhàng, mới có thể tiến tu. Còn Phật tử tại gia thì xả bỏ vật chất theo từng thời gian, xả bỏ trong lúc tụng kinh, trong lúc nghe pháp, trong lúc tu Một ngày an lạc, hoặc trong một ngày tu Bát quan trai…, vì Phật tử không thể thực hiện hạnh xả bỏ suốt cả cuộc đời như quý vị xuất gia.
Trước nhất muốn xác định cách tu tập của dòng thiền Trúc Lâm, thì chúng ta ngược dòng lịch sử để dẫn chứng. Thái tổ Trần triều là Hoàng đế Trần Thái Tông (Trị vì: 1225-1258), ngài còn để lại những tác phẩm kinh điển, trong đó có quyển “Thiền tông chỉ Nam” (禪宗旨南), nội dung quyển sách này ngài có làm 43 câu niêm tụng kệ công án... “Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục” (慧中上士語語錄) cũng có niêm tụng công án... Vua Trần Nhân Tông (Trị vì: 1278-1293) lúc còn nhỏ, trong cung được sự dạy dỗ của Tuệ Trung thượng sĩ, đối với Phật học, sách gối đầu giường là “Đại Huệ ngữ lục”.
Một mầu đen Tháng Tư tang tóc năm Bảy Lăm, không thể phai nhòa được, tôi cứ ngỡ là nó mới vừa xảy ra ngày hôm qua. Nhưng hỡi ơi! Đã 46 năm trôi qua rồi nhỉ! Chúng ta không ai mà không thể quên được những biến cố, thương đau đã xảy ra sau năm 1975 cả.
Một lịch sử ngắn gọn của bức hình Độ Mẫu Tara Như Ý Luân linh thiêng trong nơi cư ngụ của Đức Jamyang Khyentse Wangpo được biết đến là ‘Vườn Bất Tử’ tại Tu viện Dzongsar, Derge, miền Đông Tây Tạng.
Thời đại bây giờ hầu như con người cứ bị xoáy vào cơn lốc của cuộc sống một cách mãnh liệt, thế nên rất nhiều người cảm thấy bức bối, mệt mỏi vì bị áp lực trong cuộc mưu sinh, nhất là những người đã bị cuộc đời vùi dập bởi mãi trôi lăn trong vòng danh lợi, khổ đau vì tham vọng không đạt được, phiền não vì biết bao nhiều điều bất ý trong cuộc sống. Áp lực cuộc sống cứ đè nặng trong tâm thức hầu như là thường trực thế nên bây giờ chúng ta thấy người ta hay đề cập đến vấn đề stress. Bị trôi theo vòng xoáy của thế gian nên con người cảm thấy quá mệt mỏi, chán chường muốn tìm cách thoát ra. Thế là đã có người mách thuốc để trị đó là HÃY BUÔNG XẢ, bây giờ đi đâu cũng nghe họ nói BUÔNG, gặp những vị thầy tu cũng nghe khuyên BUÔNG, gặp những nhà tâm lý học tư vấn cũng khuyên BUÔNG.
Sách hướng dẫn thiền cho thiền sinh ở giai đoạn nâng cao (meditation manual for advanced meditator): - sách hướng dẫn thiền (meditation manual). - thấy biết rõ duyên trợ (discerning paṭṭhāna conditions)
Theo Kim Cang Thừa, con đường nhanh chóng để tỉnh thức là nhìn thẳng vào tâm của chính bạn và nhận ra bản tánh thật của tâm. Tsoknyi Rinpoche chỉ cho chúng ta làm sao kinh nghiệm hai phẩm tánh sâu sắc nhất của tâm.
Gần đây có khá nhiều bài viết nói về Đạo sư Thinley Nguyên Thành lừa đảo các tín đồ như thế nào? một vị ‘’tự xưng’’ mình là đạo sư mật giáo một bậc thầy của trời và người, đã viết bài vu khống lăng mạ trang thuvienhoasen quảng cáo kinh doanh tình dục, vậy điều này có đúng hay không ? và một chuyên gia ngành công nghệ đã phân tích vì sao vị Đạo sư lại nhìn thấy quảng cáo quần lót và bồn cầu trên mạng ?
Sáng nay tôi đi bộ. Trời lạnh, khoảng trên dưới -10 độ C. Mấy hôm nay tuyết ngưng rơi, nhưng đường đi chưa được khô ráo. Đường thật vắng lặng, trước mặt và xa xa chỉ có hai hàng cây còn đọng tuyết. Tôi thấy từ xa có một người đang đi lại phía tôi. Tới gần, tôi nhận ra đó là một người bạn ở xóm khác đi tới. Bạn đeo khẩu trang, và tôi cũng đeo khẩu trang; tuy vậy, hai người vẫn nhận ra nhau. Tôi dừng lại cách bạn ấy 2m, nhưng bạn ấy cứ tiến tới và nắm tay tôi. Bạn nói: “Khỏe không? Ở trong nhà lâu quá, buồn quá!” Tôi giật mình, vì đứng gần nhau như thế là trái luật (phải đứng cách xa nhau 2m, và người không cùng địa chỉ thì không được vào nhà); nhưng tôi rất xúc động! Chúng tôi đều hỏi nhau: Cái nạn đại dịch này bao giờ mới hết đây?
Tôi viết bài này khi hay tin một Ni sinh trẻ vừa có quyết định đau lòng là tự vẫn. Người tập tu cũng là con người như bao nhiêu con người khác, có lúc vẫn bị bế tắc, không tìm được giải pháp cho chính mình trong hoàn cảnh bất như ý. Tuy nhiên, việc có người tìm đến cái chết cũng nói lên một điều rằng họ không an lạc trong đời sống mà họ đang có. Ta thử nghĩ, hoằng pháp để cho có nhiều người theo Phật giáo nhưng bản thân người tu không hạnh phúc, việc có nhiều tín đồ còn ý nghĩa gì nữa?
Sáng nay, khi đi uống cà-phê vừa về tới nhà, tôi đã nghe đám trẻ con trong xóm vừa chạy theo vừa nhao nhao lên báo tin “Con kiến nhà chú chết rồi kìa!”.
Tạp Chí Của Kiều Bào & Phật Tử Việt Nam Tỵ Nạn Tại Cộng Hòa Liên Bang Đức các năm 2017, 2018, 2019 , 2020 & 2021. Số mới nhất 242 tháng 4 năm 2021
Theo Phật giáo, Bồ Tát là người có ước vọng thành Phật và cũng là người hết lòng giúp đỡ người khác đạt được sự cứu độ. Những con người đầy lòng bi mẫn này được đề cao trong trường phái Đại Thừa; thật vậy, nét đặc trưng nổi bật nhất của Phật giáo Đại Thừa có thể là sự ủng hộ Bồ Tát Thừa như con đường giải thoát.
Sakya Pandita cung cấp đề cương cho một thiền định rất đơn giản về Phật A Di Đà cho thời điểm chết, tóm tắt các phần sơ khởi, chính yếu, hoàn mãn và lợi lạc của thực hành theo truyền thống truyền miệng của các bác Ngài và cha của họ.
...Thế kỷ 20 đã chứng kiến hai cuộc chiến tranh thế giới. Chúng ta đã sử dụng trí tuệ con ngườikiến thức khoa học của mình cho các mục đích quân sự. Chúng ta đã phát triển nhiều vũ khí hủy diệt hơn bao giờ hết; bao gồm cả bom hạt nhân và tên lửa trang bị đầu đạn hạt nhân. Chúng ta chỉ nghĩ đến bản thân mình. Bây giờ, chúng ta phải nghĩ đến toàn thể nhân loại, không phải chỉ là quốc gia này hay quốc gia kia. Vì tất cả chúng ta đều phải chung sống cùng với nhau trên hành tinh này, cho nên không còn có chỗ cho sự đánh nhau dựa trên cơ sở của sự phân chia thành ‘chúng ta’ và ‘bọn họ’ - đó là một lối suy nghĩ đã lỗi thời.
Chúng ta là người đệ tử Phật xuất gia, cạo tóc, mặc áo nhà Phật; lấy lý tưởng của Phật làm lý tưởng của mình; giữ gìn giới Pháp của Phật, tu tập theo lời Phật dạy hiểu được trí tuệ Phật Pháp, thấu rõ lẽ vô thường mà cắt ái, xả tục xuất gia tu hành “trên cầu thành Phật, dưới độ chúng sinh” chính là những người tu sĩ “xả thân cầu Đạo, xả phú cầu bần”.
“Tướng” là cái gì? “Tướng” chính là tướng trạng của sự vật biểu hiện nơi ngoài và tưởng tượng ở nơi trong tâm chúng ta.Còn “Giả Tướng” là cái gì? Chúng ta không phải thường ngày đã thấy đến như: hình tướng vuông, tròn, dài, ngắn; sắc tướng đỏ, xanh, đen, trắng; biểu tướng nhanh, chậm, cười, khóc; cho đến vô biểu tướng khổ, vui, mừng, lo mà kể cả con mắt xem không thể thấy.Đây không phải là “Tướng” trạng tồn tại nổi bật đó sao?
Từ xưa đa số người Việt mặc nhiên cho rằng Trần Khắc Chung và Huyền Trân Công Chúa là một mối tình. Họ kể truyền miệng đời này qua đời khác thành ra vô tình đã “Đóng Đinh” đó là một mối tình như có thực. Chính tôi từ mấy chục năm qua cũng tin như vậy. Cứ cho là trước khi đi làm vợ vua Chiêm Chế Mân, Huyền Trân Công Chúa đã có ý tình dan díu với Trần Khắc Chung, nên khi Chế Mân chết, Vua Trần sai Khắc Chung đi cứu con gái khỏi bị hỏa thiêu chết theo chồng theo phong tục của hoàng gia Chiêm Thành, thì hai người “Tình cũ” lại được “tái hợp”. Cuộc cứu hộ Công Chúa thành công và hai người lênh đênh trên biển một thời gian khá dài có đến hàng năm, mới về tới Thăng Long.
Đối với người xuất gia tu tập thiền định nhằm đạt đến giải thoát tối hậulìa bỏ mọi trói buộc để được tự tại, giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, cởi bỏ trói buộc của nghiệp hoặc, thoát ra khỏi những khổ đau phiền não của nhà lửa tam giới. Trong khi đó, đối với người tại gia, ưu tiên tu tập thiền định trong cuộc sống hằng ngày là nhằm giúp họ thanh tịnh thân tâm ngay trong những giây phút hiện tại của cuộc sống này, để có được cuộc sống an lạc, tỉnh thứchạnh phúc.
Tại Kinh Thành có một vị cư sĩ, có thể nói là bậc “Thiên kinh vạn quyển”, viết không biết bao nhiêu bài bình giảng về giáo lý, ăn chay trường, tụng kinh niệm Phật, qua tận Ấn Độ học Thiền. Nói tóm lại đây là bậc tu hành tới nơi tới chốn…thế mà trong lòng vẫn cứ phiền não.
GHI DANH Khóa BÁT NHÃ - lớp TRUNG CẤP 1 Do Ni sư Triệt Như trực tiếp hướng dẩn Học trên ZOOM - Miễn phí NGÀY KHAI GIẢNG: Thứ bảy 1 tháng 5, 2021 và kéo dài 6 kỳ học. Từ 2 pm đến 4pm (giờ Cali) vào mỗi Thứ Bảy tuần lể đầu tiên và tuần lể thứ 3 của tháng. Ngày Bế giảng 17 tháng 7- 2021.
Nguồn gốc của Chủ nghĩa Dân tộc Phật giáo bắt nguồn từ quá khứ, Myanmar đã trở thành thuộc địa nằm dưới sự kiểm soát, cai trị của thực dân đế quốc Anh vào năm 1824. Chính quyền thuộc địa đã rút lại sự hỗ trợ truyền thống của nhà nước đối với các cơ sở tự viện tôn giáo, thúc đẩy giáo dục thế tục, đàn áp các truyền thống Phật giáo và khuyến khích hoạt động truyền giáo của đạo Cơ Đốc.
Điều quan trọng nhất trong tư thế ngồi thiền là giữ cho xương sống mình được ngay, như vậy trong 5 hình 4,5,6,7,8 chỉ có hình 4,6,8 là đáp ứng được điều kiện này, và trong 3 hình này chỉ có hình 8 là ngồi an ổn nhất, tức là ngồi trên một bồ đoàn có chiều cao thích hợp (tuỳ từng người) sao cho g trùng G1.
(Pháp thoại này được nói với một nhóm tu sĩ đang chuẩn bị rời tu viện, đi chỗ khác sau hơn năm năm tu học dưới sự dìu dắt của ngài Ajahn Chah)
New Posting: Tập san Chánh Pháp số 113 tháng 04 năm 2021
Chuyện dài tranh chấp sở hữu chùa Bảo Quang, Santa Ana, kể từ sau khi hòa thượng viện chủ viên tịch, vừa được Tòa Thượng Thẩm California ở Orange County ra phán quyết kết thúc hôm Thứ Hai, 22 Tháng Ba.
Biển xanh thơ mộng vẫn còn Bình minh ngày mới tiễn hoàng hôn xưa... Ai về nơi ấy hay chưa Có nghe sóng gió gọi đùa: "Nha Trang!"?
Quyển sách nhỏ có tựa đề “Theo Chân Bồ Tát” này không phải là một nghiên cứu thâm sâu về giáo lý nhà Phật, mà nó chỉ đơn thuần vạch ra hạnh nguyệncon đường tu tập của chư Bồ Tát cho hàng Phật tử chúng ta noi theo. Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng mục đích của người tu Phậttự giác, nghĩa là tự giác hay tự quán sát bằng cái trí của chính mình chứ không dựa vào kẻ khác; giác tha (sau khi tự mình đã giác ngộ lại thuyết pháp để giác ngộ cho người khác, khiến họ được khai ngộ và giúp họ rời bỏ mọi mê lầmkhổ não trong vòng luân hồi) rồi cuối cùng mới đi đến giác hạnh viên mãn, thoát ra khỏi vòng luân hồi sanh tử, đó chính là Niết Bàn đạt được ngay trong kiếp này.
Theo vài dòng từ Phổ Hiền Hạnh Nguyện, Sakya Pandita cung cấp một quán tưởng đơn giản tập trung vào Phật A Di Đà, để thực hành mỗi ngày trước khi đi ngủ nhằm đảm bảo sự tái sinh về Tịnh độ Cực Lạc.
Thiền Tông đầy những sương khói huyền thoại, ngay khởi đầu là nụ cười ngài Ca Diếp khi thấy Đức Phật cầm lên một bông hoa. Và rồi toàn bộ lịch sử Thiền, từ chiều dài hơn hai thiên niên kỷ cho tới chiều rộng lưu truyền sang nhiều quốc gia, mỗi nơi lại thêm nhiều huyền thoại. Trong đó, một khuôn mặt ẩn hiện nhiều huyền thoại là ngài Bồ Đề Đạt Ma. Bài này sẽ viết về một số huyền thoại liên hệ tới ngài Bồ Đề Đạt Ma, và về Tâm Kinh, bản văn được ngài chọn làm một trong 6 cửa vào đạo.
Kính mời Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng quý vị Phật Tử và các bạn tham dự buổi nói chuyện về công trình nghiên cứu sách PHẬT GIÁO TRÚC LÂM VIỆT NAM của tác giả Nguyễn Thúy Loan qua zoom University of the West bằng Anh Ngữ.
...Trong Kinh tạng Nam truyền có nói về “nhận thức quán-mười liệu pháp chánh niệm” (Meditation on Perception- Ten Healing Practices to Cultivate Mindfulness do Đức Phật dạy cho Tôn giả A-nan khi thấy Tỳ-kheo Girimananda bị bệnh. Đức Phật không đích thân đến, khi Ngài đang ở tại Savatti, mà Ngài truyền dạy cho Tôn giả A-nan mang 10 phép quán nầy đến cho Thầy Girimananda. Sau khi nghe Tôn giả A-nan tuyên thuyết lại lời Phật dạy, Tỳ-kheo Girimananda đã hết bịnh. Vậy bịnh do thân làm khổ lụy, nhưng nhờ tâm làm chủ quán niệm về 10 phép quán nầy một cách triệt để, nên bệnh duyên lại được khỏi.
Chúng tôi phiên dịch Tạng Vô Tỷ Pháp (Tạng Diệu Pháp) cũng không ngoài ra tâm, sở hữu, sắc pháp, Níp-bàn. Chỉ về hữu vi cho chúng ta thấy rõ vô thường, khổ nãovô ngã để làm bàn đạp, qua rồi mới hoàn toàn rốt ráo rất thật tự nhiên, nêu danh là Níp-bàn (Nibbāna) không luân hồi sanh tử chi cả. Nhưng chúng ta muốn hiểu thấu, đắc chứng chắc phải nhờ học hành đầy đủ, hầu tránh khỏi sai lầmmê tín. Vì thế, nên chúng tôi cố gắng đem lối kinh nghiệm uyển chuyển rất nhiều lần đa cách. Nay in ra để giúp quí bạn đồng tìm.
Thời pháp hôm nay tôi xin thuyết trình về “Ba hạng người” do Đức Phật đã giảng dạy cho chư đệ tử, được ghi chép lại trong Tăng Chi Bộ Kinh (Aṇguttara Nikāya).
...Bản tánh của tâm, Phật tánh, hay trí huệ bổn nguyên, được kinh ví như một tấm gương sáng. Trong đó có các hình tướng khác biệt do thức phân biệt tạo nên. Bởi vì bản tánh của gương vốn là giải thoát vì không có hình bóng nào in dính được vào nó, làm nhiễm ô được nó, cho nên trong tấm gương ấy các hình bóng chính là gương nên chúng cũng tự giải thoát.
Trên khắp rặng Himalaya nói chung, trong đó có vương quốc Bhutan, hình ảnh, biểu tượng của đức Liên Hoa Sinh hiện diện khắp mọi nơi, âm thanh mật chú của ngài được trì tụng hàng ngày, những câu chuyện, truyền thuyếtcông hạnh của ngài được tu học, được kể khắp tại các thánh địa, tự viện, nơi mỗi nhà Phật tử và khắp mọi nơi công cộng. Với người dân Bhutan, ngài chính là vị Phật thứ hai đã giúp hoằng dương giáo pháp.
Phương pháp Cho-Nhận (Tib. Tonglen) là một thực hành rất thú vị! Theo hiểu biết của tôi, trong hầu hết các truyền thống tâm linh cổ xưa đều có những bài thiền quán kết hợp hơi thở, ánh sáng, tình thương yêu và niềm hỷ lạc. Người thực hành quán tưởng những phẩm chất cao cả, thiện lành theo hơi thở đi vào tràn ngập và chuyển hóa thân tâm. Tiếp tới, thở ra tất cả những bất thiện, tiêu cực và khổ đau
Tenzin Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng, là một nhân vật quen thuộc của công chúng. Ngài nói chuyện với hàng nghìn người mỗi năm và đã viết hàng chục quyển sách bán chạy nhất về quê hương của ngài, cuộc sống của ngài, tôn giáo niềm tin của ngài, khí hậu thế giới, và các vấn đề thế giới.
Sách này được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Như thế, qua các tài liệu đã giải mật, người đọc có thể thấy rõ ràng cuộc đảo chánh 1-11-1963 nhằm lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm không khởi nguồn từ sự xúi giục của bất kỳ ngoại nhân nào, kể cả từ Hoa Kỳ. Điều này được thấy trong điện văn của Đại sứ Lodge gửi về Mỹ ngày 30-10-1963 nói rằng chuyện đảo chánh hoàn toàn nằm trong tay phía người Việt, còn Mỹ không cản ngăn gì được. Cũng trong ngày đó, Tướng Trần Văn Đôn hứa sẽ tiết lộ kế hoạch đảo chánh cho Đại sứ Lodge biết 4 giờ đồng hồ trước khi đảo chánh khởi động. Tuy nhiên, vào ngày 1-11-1963, Tòa Đại sứ Mỹ chỉ được báo trước 4 phút mà thôi. Lý do đơn giản là phía các tướng lãnh đảo chính e sợ bị Hoa Kỳ bán đứng kế hoạch cho Nhu-Diệm.
Tuyển chọn một số bài Pháp quan trọng nhất, cốt yếu nhất do chính Đức Phật giảng dạy giúp cho việc tu tập thành tựu Tuệ Giải Thoát chấm dứt sinh tử luân hồi, đạt tới hạnh phúc thật sự, tự do thật sự - Niết Bàn.
Mọi nguyện cầu được thành tựu hay không đều không qua khỏi nghiệp của mỗi người, liên quan đến cái gọi là đồng nghiệp, biệt nghiệp, định nghiệp, bất định nghiệp...
Trong thời gian gần đây xuất hiện nhiều bài viết nói về ‘’Đạo sư Thinley Nguyên Thành lừa đảo các tín đồ như thế nào’’, càng đọc càng giật mình và ‘’sốc’’ về một thầy mà trước đây bao học trò cung kính, nay bị phơi bày ra bao trược khí xấu làm ô uế đi một bậc đạo sư, tô đen vết nhơ trong giàn hoa đạo pháp, vậy vị ấy có thực là đạo sư chân chính hay là tà đạo và vị ấy đã đối xử với những tín đồ cũng như người thân của mình như thế nào?
Trên đường từ thành Tỳ-xá-ly về Câu-thi-na, sau khi thọ buổi cơm cúng dường cuối cùng của người thợ rèn Chunda (Thuần-đà), Thế Tôn đã nhiễm bệnh lỵ huyết rất nặng, song Ngài vẫn nhẫn nại chịu đựng cơn đau đi cùng tôn giả A-nan và một số tăng chúng, thỉnh thoảng Ngài dừng chân nghỉ.
Tác phẩm mà quý vị đang cầm trên tay này gồm có 10 chương, được xuất bản lần đầu vào năm 2006. Đây là một cuốn tiểu thuyết viết về một câu chuyện khá kỳ lạ. Câu chuyệnliên quan đến một giai nhân và một hòa thượng. Cũng thông qua đó, tác giả đã khéo léo phơi bày một sự thật trong chốn nhân sinh: Khi đã lún vào vũng lầy tình ái ấy thì khổ đau là một hệ quả tất yếu và sự chọn lựa giữa Đời và Đạo không bao giờ là một lựa chọn dễ dàng.
Thế là đến chiều tối, đức Phật và chúng tỳ-khưu mới tới được nơi dự định. Trăng vừa lên, sương mù bàng bạc, không gian như trải một màn lụa mỏng. Đất trời thanh sạch như không nhiễm một chút bụi trần, có lẽ là do có sự hiện thân của một nhân cách siêu việt chăng?
Nguồn gốc của Chủ nghĩa Dân tộc Phật giáo bắt nguồn từ quá khứ, Myanmar đã trở thành thuộc địa nằm dưới sự kiểm soát, cai trị của thực dân đế quốc Anh vào năm 1824. Chính quyền thuộc địa đã rút lại sự hỗ trợ truyền thống của nhà nước đối với các cơ sở tự viện tôn giáo, thúc đẩy giáo dục thế tục, đàn áp các truyền thống Phật giáo và khuyến khích hoạt động truyền giáo của đạo Cơ Đốc.
Chuyện dài tranh chấp sở hữu chùa Bảo Quang, Santa Ana, kể từ sau khi hòa thượng viện chủ viên tịch, vừa được Tòa Thượng Thẩm California ở Orange County ra phán quyết kết thúc hôm Thứ Hai, 22 Tháng Ba.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.
Theo truyền thông đưa tin vào hôm thứ Tư, ngày 17 tháng 3 vừa qua, Tăng đoàn Mahā Nāyaka, tổ chức lớn nhất của cộng đồng Tăng già Miến Điện, kêu gọi tập đoàn quân sự chấm dứt đàn áp những người phản đối đảo chính, lên án “một thiểu số có vũ trang” tra tấn, giết hại thường dân.
GHI DANH Khóa BÁT NHÃ - lớp TRUNG CẤP 1 Do Ni sư Triệt Như trực tiếp hướng dẩn Học trên ZOOM - Miễn phí NGÀY KHAI GIẢNG: Thứ bảy 1 tháng 5, 2021 và kéo dài 6 kỳ học. Từ 2 pm đến 4pm (giờ Cali) vào mỗi Thứ Bảy tuần lể đầu tiên và tuần lể thứ 3 của tháng. Ngày Bế giảng 17 tháng 7- 2021.
Kính mời Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng quý vị Phật Tử và các bạn tham dự buổi nói chuyện về công trình nghiên cứu sách PHẬT GIÁO TRÚC LÂM VIỆT NAM của tác giả Nguyễn Thúy Loan qua zoom University of the West bằng Anh Ngữ.
Chương Trình Tu Học Phật Pháp Liên Châu Online Lần Thứ 4 Thời gian: Từ ngày 22/03/2021 đến 10/05/2021 Vào lúc: Tối Thứ Hai từ 8:30 pm đến 10:00 pm (New York Time) Meeting ID: 825 0640 9380 Passcode: 9625247070
Chương trình Pháp Thoại mỗi tháng HOÀN TOÀN MIỄN PHÍ với Giáo Sư Tiến Sĩ Lewis Lancaster, từ trường Đại Học nổi tiếng UC Berkeley