Tâm Diệu Minh Thường Trụ [Bài 19] - Kalu Rinpoche - Bản Dịch Việt: Đặng Hữu Phúc

21/12/201112:00 SA(Xem: 16310)
Tâm Diệu Minh Thường Trụ [Bài 19] - Kalu Rinpoche - Bản Dịch Việt: Đặng Hữu Phúc

TÂM DIỆU MINH THƯỜNG TRỤ [Bài 19]
Nói về sự khẩn cấp của tu tập
Kalu Rinpoche
Bản Anh: On the Urgency of Practice
Bản dịch Việt: Đặng Hữu Phúc

Các bạn, nam và nữ đang ở đây,
Đừng nghĩ rằng cái chết sẽ đến từ từ
Nó đến nhanh như tia chớp.
Milarepa , “Một trăm ngàn bài ca”

 

kalurinpocheTất cả các hiện tượng đều vô thường. Thân của chúng ta cũng là kết quả của một tập hợp các thành tố khác nhau: nghiệp tốt và xấu, tinh trùng của cha và trứng của mẹ, các nguyên tố (các đại) và dĩ nhiên, thức căn bản. Tất cả các hữu tình trong vũ trụ đều chết. Những kẻ của thời quá khứ đã chết ; nhưng kẻ của thời hiện tạivị lai cũng sẽ chết. Mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi thời điểm, chúng ta tất cả đều đến gần hơn thời điểm cái chết của mình, và chúng ta can đảm hoặc mạnh mẽ như thế nào, chuyện đó không thành vấn đề, chúng ta không thể ngăn cản cái chết. Chúng ta không thể trốn thoát cái chết, dù chúng ta có thể chạy nhanh tới mức nào. Dẫu cho sự học của chúng ta mênh mông bao nhiêu, thì kiến thức uyên bác sâu sắc của chúng ta cũng không thay đổi được nó. Cũng không phải chủ nghĩa anh hùng của quân đội, ảnh hưởng của những đội quân huấn luyện tinh nhuệ, đầy năng lực, cũng không phải các mưu kế của những người thông minh -- chẳng có gì có thể chặn đứng cái chết, cũng như chẳng có gì có thể giữ cho mặt trời không lặn và biến mất đằng sau những núi đồi.

Không ai biết mình sẽ sống bao lâu. Có kẻ chết trong khi vẫn còn trong thai tạng, kẻ khác thì chết lúc sinh ra hoặc trước khi có thể đứng được, kẻ thì chết trong tuổi trẻ, kẻ thì chết trong tuổi già. Chúng ta cũng không có ý niệm nguyên nhân cái chết của chúng ta sẽ là gì; không ai biết bất kể nó là lửa, nước, gió, chớp, té xuống vực, một bão tuyết lở hoặc đất chuồi, sự sụp đổ của một căn nhà, một đội quân, chất độc, một cuộc tấn công bất ngờ, hoặc một bệnh tật. Chúng ta yếu đuối biết bao, giống như ngọn đèn nến trong gió, một bọt nước, hoặc một giọt sương trên một lá cỏ.

Khi cái chết đến, ngay dù chúng ta không muốn nó, thì chúng ta vẫn phải để cho tất cả tham dục ra đi và buông bỏ hoàn toàn mọi thứ: đất đai, nhà cửa, giàu có, cha mẹ, con cái, gia đình, phối ngẫu… rời bỏ ngay cả thân chúng ta, và chúng ta đi một mình, không tự do và không bạn bè, tới một nơi gây ra sợ hãi này, đó là trung hữu. Đó là phần chia sẻ chung của mọi người, sớm hơn, hoặc muộn hơn. Khi chúng ta thấy một người chết, nghe cái chết của một người, hoặc nghĩ về nó, nó nên được xem như một nhắc nhở rằng chúng ta cũng nhất định sẽ chết. Bao lâu chúng ta mạnh mẽ, tươi sáng, và hạnh phúc, chúng ta không nghĩ về nó, nhưng khi lâm một bệnh tật sẽ tử vong, chúng ta mất hết sức mạnh, dáng vẻ tàn tạ, chúng ta gần như xác chết, và chúng ta thành ra không hạnh phúc. Sau đó, khi tất cả những thuốc men, cách chữa trị, và nghi lễ thành ra vô hiệu, và không có cái gì khác có thể xua đuổi được sự hành hạ của bệnh tật, chúng ta biết chúng ta sẽ chết. Chúng ta sẽ kinh hoảng về nó và sẽ đau đớn khủng khiếp, tuyệt vọng khi phải ra đi một mình, bỏ lại đằng sau mọi thứ.

Khi chúng ta thì thào những lời cuối, chúng ta nhận định lần cuối rằng chẳng có lối nào thoát khỏi cái chết. Sau khi chúng ta chết, ngay cả những người yêu mến chúng ta sẽ không muốn nhìn thấy xác chết của chúng ta ở lại với họ ngay cả một ngày hoặc hai ngày. Chỉ cần nhìn nó cũng đủ làm họ phát ớn và phát sợ. Băng qua ngưỡng cửa căn nhà một lần cuối cùng, thân chúng ta được các nhân viên tang lễ đem đi và hoặc an nghỉ nơi nghĩa địa hoặc nhà hoả thiêu. Chẳng ai sẽ gặp lại chúng ta. Khi chúng ta thấy, nghe, hoặc nghĩ về cái chết trong đời sống hàng ngày của chúng ta, do bất cứ duyên cớ nào mà chúng ta được biết về cái chết, thì chúng ta nên áp dụng những tâm niệm này về cái chết đối với chính mình, để nhắc nhở mình rằng mình cũng cùng một bản chất như thế.

Đời sống chúng ta thì giống như một đồng hồ cát chẳng bao giờ ngừng. Mỗi thời điểm có một thời điểm tiếp theo chẳng có ngừng nghỉ. Từ mỗi phút tới mỗi phút, đời sống tự nó hao mòn: chúng ta là những đứa bé sơ sinh, rồi những người lớn, rồi già, rồi chết. Một sát na theo một sát na không ngừng nghỉ.

Nếu chúng taý thức được rằng chết thì không thể tránh được, vậy chúng ta không nên cố gắng tu tập Chính Pháp ngay chính từ thời điểm này hay sao ?

Thân con người qúy báu - chúng ta đang có ngay lúc này - có thể truyền đạt, có thể lí hội thông hiểu các giáo pháp, thì được cung cấp phẩm tính với tất cả những quan năng cần thiết, và đã gặp được Chính Pháp. Nếu chúng ta phí phạm nó, thì không những chúng ta sẽ chỉ chịu đựng vòng cương toả của những đau khổ trong sinh tử tương tục, nhưng chúng ta sẽ không có một dịp may mắn tìm thấy được một cơ hội tương tự. Đó là lí do tại sao chúng ta phải quyết tâm vững chắc sử dụng đời sống này một cách tốt đẹp, bằng tu tập Chính pháp một cách nhiệt tình trong suốt thời gian còn lưu lại cõi đời này--thời điểm sáng chói, nhanh chóng, giống như ánh sáng mặt trời xuyên thấu qua những đám mây

------------------------------ 

Chú thích

Tâm diệu minh thường trụ (= Tâm quang minh giác chiếu)

Bài 1: Viên giác và Huyễn tượng: hai trạng thái của một tâm

Bài 2: Bản chất của tâm

Bài 3: Những che lấp của tâm

Bài 4: Cuộc chơi của Huyễn tượng (= Tương tác phan duyên của Huyễn tượng)

Bài 5: Sáu cõi

Bài 6: Nhị đế

Bài 7: Tâm sau khi chết

Bài 8: Sinh và Chết: Tính tương tục của Huyễn tượng

Bài 9: Từ cuộc đời tới cuộc đời: Những chuyển tiếp và Trung hữu

Bài 10: Trung hữu của Thời điểm chết

Bài 11: Trung hữu của Tính Không

Bài 12: Trung hữu của Hữu tái sinh

Bài 13: Trung hữu của Sinh tới Chết

Bài 14: Tám thức và năm nguyên tố chính

Bài 15: Mười hai chi của Duyên khởi

Bài 16: Những thực hành của tu tập vào Thời điểm chết.

Bài 17: Những vấn đề của đời người

Bài 18: Sử dụng hữu ích đời người

Bài 19: Nói về sự khẩn cấp của tu tập

Bài 20: Tính Không, Tâm của Đại Bi (đã đăng trên Thư viện Hoa sen-- nhưng không ghi số. Độc giả có thể xem đó là Bài 20) .

-----------------------------

Lời cuối bản dịch

Kính thưa qúy độc giả,

“Tâm diệu minh thường trụ / Tâm quang minh giác chiếu. Con đường của Phật” là tuyển tập bài giảng của Kalu Rinpoche (1904-1989), được dịch từ bản Anh ngữ “ Kalu Rinpoche. Luminous Mind. The Way of the Buddha” ( Wisdom, 1997)

Sách gồm có hai phần:

Phần 1. Tâm và những chuyển hoá của Tâm (Part I. Mind and its Transformations).

Hai mươi bài ghi trên là các bài của Phần 1.

Phần 2. Con đường Giải thoát (Part 2. The Path of Liberation)

Phần 2, gồm 31 bài giảng về:

1. Tri kiến tổng quát: Những cách tiếp cận với Chính Pháp

(A General Overview: The Different Approaches of Dharma)

2. Tiểu Thừa: Con đường tu tập của Kỉ luật

(The Hinayana: Path of Disciplne)

3. Đại Thừa: Con đường tu tập của Chân Không Diệu HữuĐại Bi

(The Mahayana: Path of Opening and Compassion)

4. Kim Cương Thừa: Con đường tu tập của Nhất Siêu Trực Nhập

(The Vajrayana : Path of Transmutation)

5. Mahamudra và Dzogchen: Con đường tu tập trực nhập

(Mahamudra and Dzogchen: The Immediate Path)

6. Tu tập Chính Pháp ngày nay

(Dharma Practice Today).

Nhận thấy bài giảng của Kalu Rinpoche tinh yếu và hữu ích nên người dịch tuy khả năng hạn hẹp cũng cố gắng hoàn thành bản dịch Phần 1 “Tâm và những biến hoá của Tâm”, gồm 20 bài, để qúy độc giả và người dịch cùng nhau tu học.

Người dịch xin phép chỉ dịch Phần 1 là phần các sách Phật học tiếng Việt chỉ trình bày sơ lược.

Người dịch rất mong qúy độc giả từ bi chỉ giáo.

Địa chỉ liên lạc của người dịch:

phucdang143@hotmail.com

Kính thư

Đặng Hữu Phúc
Sydney, Australia.

Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 97072)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!