Tiểu Sử Đức Namkha Drimed Rinpoche

10/04/201212:00 SA(Xem: 13256)
Tiểu Sử Đức Namkha Drimed Rinpoche

Tiểu sử Đức Namkha Drimed Rinpoche

 

blankĐức Namkha Drimed Rabjam Rinpoche là vị lãnh đạo tối cao của dòng Nyingma thuộc Phật giáo Kim Cương thừa và là một Tertön (vị Khai Mật Tạng, vị khám phá kho tàng giáo lý) đang còn sống. Dòng Ripa bắt nguồn từ vị lãnh đạo tối cao Ripa Pema Deje Rolpa Vinh quang, người lãnh đạo của gia đình và những dòng Giáo pháp của Tu viện Rigon Tashi Choeling.

Các thực hành của dòng Ripa được đặt nền trên chu trình giáo lý được cất dấu (Terma) rộng lớn của Taksham Samten Lingpa, chúng cũng bao gồm tường thuật đầy đủ nhất về cuộc đời của Yeshe Tsogyal (Chú thích: các giáo lý Taksham xuất hiện trước thời của Pema Deje Rolpa và là một Giáo khóa Nyingma bắt nguồn từ Yeshe Tsogyal và vị phối ngẫu lúc ban đầu của bà là Arya Sale). Rinpoche cũng là vị khám phá toàn bộ giáo khóa về cuộc đời của Gesar xứ Ling, vị vua-chiến sĩ giác ngộ của Tây Tạng.

Là một Đạo sư hóa thân siêu phàm được xếp vào hàng các Đạo sư cao cấp nhất của giác tánh, Đức Namkha Drimed Rabjam Rinpoche liên tục ban truyền những quán đảnh làm thuần thục, những giáo lý giải thoát và lời chỉ dạy tâm linh cho vô số chúng sinh được dẫn dắt theo những cách này

Ngài đã nỗ lực liên tục để làm cho Phật Pháp phát triển qua những Chương trình Giáo pháp tràn đầy bi mẫn dành cho cộng đồng người Tây Tạng tị nạn cũng như cho việc xây dựng các tu viện Ripa ở Ấn Độ, Tây Tạng và Nepal. Những nỗ lực không ngừng nghỉ của ngài để thực hiện các hoạt động giác ngộ bằng cách thế nào đó sẽ dẫn dắt chúng sinh, theo đó bảo đảm một trận mưa lợi lạchạnh phúc, ngắn hạn và dài hạn, sẽ đổ xuống những cõi giới rộng lớn, an lập chúng sinh trong trạng thái giải thoát

Đức Trì minh vương Tertön Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, Vị Hộ trì Thứ Tư của Dòng Ripa


Vị hộ trì thứ tư và hiện tại của dòng truyền thừa trong gia đình Ripa là Tertön Namkha Drimed Rinpoche, một Đạo sư của các terma tâm sâu xa. Trong Tiên tri Troma được ban cho Terchen Traktung Dujum Lingpa (Dudjom Rinpoche Đệ Nhất) có viết:

Hiện thân của Taksham Dorje Vinh quang
Có tên là Rab, một hành giả Mật thừa
Cũng sẽ nhận lãnh và khám phá các giáo lý Terma sâu xa
Của tinh túy bí mật.

Giống như đã được giải thích rõ ràng trong tiên tri kim cương có thể tin cậy được, Namkha Drimed Rabjam Rinpoche sinh ngày mồng 10 tháng 12 năm 1939 (Thổ Mẹo) thuộc Rabjam (chu kỳ 60 năm) thứ 16 với những dấu hiệu kỳ diệu. Thân phụ của ngài là Ripa Jigme Tsewang Chogdrup và thân mẫu là Mayum Palden Tsomo. Mẹ ngài là cháu gái của Drubwang Shakya Shri. Ngài Dungsey Phakchok Dorje, nam tử và vị kế thừa tâm linh của Drubwang Shakya Shri đã thừa nhận ngài là tái sinh của Yongey Mingyur Dorje và ban cho ngài quán đảnh trường thọ Candali và danh hiệu Namkha Drimed Rabjam. Năm mười ba tuổi ngài có một linh kiến trực tiếp về Guru Rinpoche, vị này ban cho ngài quán đảnh phô diễn giác tánhdanh hiệu bí mật là Dorje Ziji Tsal. Theo cách đó, ngài được gia lực như nhiếp chính của Guru và sau đó ngài đã khám phá các kho tàng tâm của sự phô diễn giác tánh. Ngài thường xuyên có các linh kiến về Gesar xứ Ling và, là hóa thân của Gyatsa Shalkar, anh của Gesar, ngài đã nhớ lại thật rõ ràng đời trước của ngài. Khi phụng sự nhiều Đạo sư vĩ đại, trong đó có thân thụ của ngài, vị yogi của Đại Viên mãn tịnh quang, Jigme Choejung Lingpa, Taksham tulku thứ sáu Karma Sangngak Tenzin Dorje, Baha Lama Tashi v.v.., ngài đã thực hành giáo khóa Taksham nói chung và đặc biệt là các thực hành rộng lớn của Lama Norbu (Guru Sadhana), bắt đầu từ các bài tập du già về kinh mạch và khí cho tới các thực hành chính yếu về Trekcho và Togal, qua đó ngài đã làm toàn thiện Bốn Thị kiến. Chatrel Rinpoche đã tặng đóa hoa tán thán sau đây:

Cái thấy (kiến) của ngài như bầu trời (Namkha),
Vượt lên giới hạn của các ngôn từbiểu lộ.
Thiền định (thiền) của ngài là trạng thái bất nhiễm (Drimey) của Rigpa…
Công hạnh (hành) của ngài được giải thoát tự nhiên
Khỏi nhiều (Rabjam) tư tưởng mê lầm
Kết quả đã đạt được thật chắc chắn trong đời này,
Kỳ diệu thay!

Ngoài ra, từ các Đạo sư vĩ đại như Kyabje Dudjom Rinpoche và Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, ngài đã nhận những quán đảnh, cùng với giáo huấn và sự truyền đọc Kama và Terma, đặc biệt là Kho tàng Terma Quý báu. Tương tự như vậy, ngài đã nhận Toàn bộ Rinchen Terdzo từ Trì minh vương Chögyam Trungpa Rinpoche. 

Tương lai của Tây Tạng đã được tiên tri thật rõ ràng, vì thế cùng với đoàn tùy tùng và sự hộ tống của các vị Hộ Pháp, Rinpoche đã vượt thoát an toàn qua xứ Pemako ẩn mậtcuối cùng an trụ tại Khu Định cư Tây Tạng Phuntsok Ling ở Orissa. Vào lúc này truyền thống Giáo pháp sâu xa của đại Tertön Taksham Nuden Dorje vô cùng suy yếu, ngài đã khoác áo giáp mạnh mẽ của Bồ đề tâm vô song, và cùng với anh ngài là Drubwang Adzin Rinpoche, ngài đã thành lập một ngôi chùa vào những năm 1970 để mang lại lợi lạc cho Tăng đoàn và khôi phục di sản tâm linh phong phú của người Tây Tạng tại hải ngoại. Ngôi chùa mới đã được Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ khánh thành và được đặt tên là Rigon Thubten Mindroling. Hai trăm tu sĩ hiện đang cư trú ở đó, ngoài ra cũng có vài trăm hành giả cư sĩ trong các cộng đồng Tây Tạng.

Trong các khu định cư Tây Tạng, chủ yếu là ở Orissa, tại Động Martika ở Nepal, ở các nước Tây phương, v.v.., Rinpoche đã tham dự các nghi lễ quét sạch chướng ngạitai ương như bệnh tật, nạn đói và chiến tranh, cũng như các thiên tai do bốn yếu tố (tứ đại) gây ra như bão lụt và hạn hán. Ngài đã chế ngự các vị trời địa phương, loài rồng và những vị thần bảo vệ ở những nơi này và qua việc tham dự các nghi lễ làm an bình xua tan những ác hại, ngài đã mang lại niềm vui và sự an bình cho các cư dân ở những nơi đó.

Đối với các terma tâm của ngài, Đức Liên Hoa Sanh đã nói trong Câu chuyện Chiếc Chìa khóa Bí mật:

Trong thời đại suy đồi hỗn loạn đó
lợi lạc của các thế hệ tương lai, ta, Guru Liên Hoa Sanh, sẽ ban truyền
Những thực hành sadhana phù hợp với thời đại
Để làm an dịu, tăng ích, hấp dẫn và hủy diệt,
Đặc biệt là các nghi lễ phẫn nộ để ngăn ngừa các đạo quân ở biên giới,
Theo truyền thống của Gesar, bậc anh hùng điều phục các thế lực xấu ác.

Phù hợp với những lời kim cương xác thực của Guru Rinpoche, khi những hoàn cảnh thuận lợi cùng hội tụ, trong xứ sở ẩn mật Pemako, ở Orissa, ở Darjeeling, và tại Paro Taksang, Rinpoche đã thọ nhận và khám phá các kho tàng tâm, bao gồm các giáo lý từ giáo khóa có tên là Kho tàng Quý báu của Ba Bộ. Ngài đã thọ nhận các kho tàng liên quan tới toàn bộ các phương diện của Gesar, của Ba Gốc và của sự thành tựu Bốn Hoạt động được kết hợp với nhau, cũng như Phurba, Yeshe Tsogyal, Dorje Drolo, thực hành tâm yếu của Guru, Dzogchen (Đại Viên mãn) và v.v.. Ngài đã thọ nhận những kho tàng Giáo pháp sâu xa này vào thời điểm thích hợp để quét sạch sự suy thoái của Giáo phápchúng sinh, và cho tới thời điểm này, ngài đã khám phá tám pho sách terma kiết tường.

Ngoài ra, Đức Kyabje Dudjom Jigdral Yeshe Dorje, vị nhiếp chính của Guru Liên Hoa Sanh, đã viết trong lời cuối của bài cầu nguyện trường thọ mà ngài biên soạn cho Namkha Drimed Rabjam Rinpoche:

“Cầu mong vị khám phá kho tàng, người đã khám phá Giáo pháp xác thực và sâu xa của giáo khóa Kho tàng Tâm yếu của Ba Bộ, được trường thọ!” 

Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche đã viết:

Nhờ ý hướng giác ngộ của Heruka Pema Gyalpo (Guru Rinpoche),
Và nhờ năng lực ước nguyện của Dorje Ziji Tsal,
Mãnh sư vĩ đại (Gesar), của Kho tàng Quý báu của Ba Bộ,

Nguyện điều đó mang lại lợi lạchạnh phúc cho các giáo lý

chúng sinh trong thời đại suy đồi này!


Trong lời cuối của Lời Khẩn cầu Đại Tertön, Cỗ Xe Dẫn tới lòng Kính ngưỡng, Nyoshul Khen Rinpoche Jamyang Dorje đã viết:

 

“Nhân cơ hội may mắn được thọ nhận quán đảnh làm thuần thụcgiáo huấn giải thoát của Giáo Pháp sâu xa Guru tinh túy, kho tàng tâm sâu xa được thọ nhận vào thời gian thích hợp của Tertön Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, giáo khóa Kho tàng Tâm Quý báu của Ba Bộ, việc khẩn cầu với niềm tin và xác quyết vĩ đại sẽ làm an dịu mọi tai họa có thể xảy ra cho chúng sinh trong thời đại suy đồi hỗn loạn này và sẽ làm cho hoạt động của Giáo Pháp sâu xa phát triển đầy khắp không gian.”

Như thế tất cả những Đạo sư thành tựu và những bậc vĩ đại này, sau khi nhận ra tính chất xác thực trong các giáo lý Terma sâu xa của ngài, đã tán thán Namkha Rinpoche với ngôn từ đáng tin cậy. 

Ngài đã khai mở cánh cửa Giáo pháp bao lathâm sâu ở nhiều quốc gia. Sau khi thành lập Tổ chức Ripa Ladrang ở Hoa Kỳ và nghĩ rằng điều này sẽ mang lại lợi íchhạnh phúc hơn nữa cho chúng sinh, Rinpoche đã đặt nền móng thị kiến của ngài về Tu viện Rigon Tashi Choeling và trụ xứ cho Tăng đoàn tại Yangleshod (Pharping), Nepal. Trong truyền thống của các tu viện lớn với những nhánh nhỏ hơn, như đã xảy ra trước đây ở Tây Tạng, với thiện tâm vĩ đại, Rinoche đã xây dựng tu viện này như phương tiện để bảo đảm cho sự liên tục của quán đảnhgiáo huấn của Giáo lý nói chung và đặc biệt là của truyền thống Ripa vinh quang. Trong số nhiều phương tiện thiện xảo và khả năng để cứu giúp chúng sinh với lòng bi mẫn, Namkha Drimed Rabjam Rinpoche cũng nổi danh là một Đạo sư tiên tri. Trong khi hoạt động giác ngộ của ngài cho Giáo pháp sâu xa đang phát triển, cuộc đời ngài vẫn được củng cố trong phạm vi bao la của bản tánh kim cương bảy điểm. (1) 

 

Chú thích:

(1) Theo Uttaratantra Shastra, bảy điểm kim cương là: Phật, Pháp, Tăng, Phật tánh, sự giác ngộ, các phẩm tính của Phật quả (các phẩm tính giác ngộ), và Phật sự (hoạt động giác ngộ).

Nguyên tác: “H.E. Namkha Drimed Rinpoche”
http://www.ripaladrang.org/index.php?option=com_content&view=article&id=15&Itemid=10
Thanh Liên dịch sang Việt ngữ
Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 97055)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!