Bài Ca Và Bình Giải

27/09/201012:00 SA(Xem: 10746)
Bài Ca Và Bình Giải

BÀI CA VÀ BÌNH GIẢI

6 Tấm Gương của nhữngĐiểm Thiết Yếu
Một bức thơ tán thán tánh Không, từ Khenpo Jamyang Dorje cho Mẹ ngài
Dịch bởi Erik Hein Schmidt và biên tập bởi
Ani Lodroš Palmo và Ward Brisick

Con kính lễ dưới chân sen của Tenpai Nyima,
Người không tách lìa với Pháp Vương Longchenpa Rabjam,
Và thấy biết trạng thái tự nhiên của tánh Không 
Của đại dương vô biên những sự vật.

Một lá thơ khuyên bảo con gởi cho người, bà mẹ cao quý Paldzom của con.
Xin hãy nghe một lát và không xao lãng.
Ở đây không có khó chịu gì,
Con thong dongtự do không phiền lo,
Trong một trạng thái của tâm hoan hỷ.
Mẹ có khoẻ không, mẹ yêu dấu của con ?

Ở đây trong xứ sở Tây phương,
Có nhiều người da trắng và da đỏ,
Họ có mọi loại huyễn thuật và cảnh tượng,
Như bay qua những bầu trời,
di chuyển trong nước như cá.
Có quyền hành trên bốn đại,
Họ ganh đua phô diễn những phép lạ
Với muôn ngàn màu sắc đẹp đẽ.
Có nhiều những quang cảnh không cùng,
Như những thiết kế của những màu sắc cầu vồng
Nhưng giống như chỉ là giấc mộng, khi được xét xem,
Chúng là những thấy biết sai lầm của tâm thức.

Mọi hoạt động giống như những trò chơi trẻ nít.
Nếu làm, chúng không bao giờ chấm dứt.
Chúng chỉ là hoàn thành khi mẹ để yên đấy,
Như những lâu đài bằng cát.

Nhưng đấy chưa phải là toàn thể câu chuyện.
Tất cả những pháp của sanh tửniết bàn 
Dầu được nghĩ là thường còn, chúng không kéo dài.
Khi được khảo sát, chúng chỉ là những hình sắc trống rỗng
Xuất hiện mà không có hiện hữu.
Dầu không thực, chúng được nghĩ là thực,
Và khi được khảo sát, chúng là không thực như một ảo tưởng.

Nhìn ra ngoài, những đối vật xuất hiện,
Và giống như nước trong một ảo ảnh,
Chúng còn huyễn hoặc hơn cả sự huyễn.
Không thực như những giấc mộng và những ảo tưởng,
Chúng giống như một mặt trăng phản chiếu trong nước và những cầu vồng.

Hãy nhìn vào tự tâm mẹ !
Nó có vẻ rất kích động, khi không được khảo sát.
Nhưng khi được khảo sát, không có gì trong đó cả.
Xuất hiện không có thực thể, nó không là gì ngoài trống rỗng.
Nó không thể được nhận dạng và nói, “Nó đây !”
Mà chỉ tan biến và lẫn thoát như sương mù.

Hãy nhìn thẳng vào tất cả những gì xuất hiện
Trong bất cứ nơi nào của mười phương.
Dầu nó có vẻ như thế nào,
Sự vật trong tự nó, bản tánh đích thật của nó,
bản tánh như hư không của tâm,
Vượt khỏi sự phóng chiếu và tan biến của tư tưởngý niệm.

Mọi sự có bản tánh trống không.
Khi cái trống không nhìn cái trống không,
Có ai để nhìn vào cái trống không như vậy ?
Đâu là chỗ dùng của nhiều thứ phân loại,
Như là “trống không “ và “không trống không,”
Vì đó là cái huyễn nhìn cái huyễn,
hư vọng quan sát hư vọng ?

“Bản tánh không cố gắng và như hư không của tâm,
Cảnh giới bao la của thấy biết,
trạng thái tự nhiên của mọi sự.
Trong nó, bất cứ điều gì bạn làm đều tốt, đúng,
Dù bạn nghỉ ngơi, bạn luôn thư thái.”
Điều ấy được Jetsun Padmasambhava,
đại thành tựu giả Saraha nói ra.

Mọi thiết kế ý niệm
Như là “Nó là hai !” hay “Nó không là hai !”
Rời bỏ các ngài như những con sóng trên một dòng sông,
Để giải thoát một cách tự nhiên tự bản thân chúng.

Con quỷ khổng lồ của tư tưởng vô minhsuy diễn
Làm cho người ta chìm đắm trong đại dương của sanh tử.
Nhưng khi giải thoát khỏi tư tưởng suy diễn này,
Đấy là trạng thái không thể diễn tả, vượt khỏi tâm thức 
ý niệm.

Ngoài chỉ những tư tưởng diễn dịch này,
Không có ngay cả những danh từ sanh tửniết bàn,
Sự lặng chìm toàn bộ tư tưởng diễn dịch
Là tánh Như của pháp giới.

Chớ làm thêm phức tạp bằng những phát biểu phức tạp,
Cái bindu đơn nhất không do tạo tác này
tánh Không, trạng thái tự nhiên của tâm.
Bậc Thiện Thệ, đức Phật đã nói như vậy.

Bản chất của cái gì có thể xuất hiện
Khi chỉ để mặc cho tự nó,
Là cái thấy không tạo tác và không hư hao,
Pháp thân, bà mẹ tánh Không.
Mọi tư tưởng diễn đạttánh Không,
Và người thấy tánh Khôngtư tưởng suy diễn.
Tánh Không không hủy hoại tư tưởng suy diễn,
tư tưởng suy diễn không ngăn ngại tánh Không.
Tánh Không bốn phương diện của bản thân tâm thức 
Là cái tối hậu của mọi sự.
Sâu xatịch tịnh, tự do với mọi phức tạp,
Sự sáng tỏ tỏa ngời không hỗn hợp,
Vượt khỏi tâm thức ý niệm lòng vòng :
Đây là chiều sâu của tâm các bậc Chiến Thắng. 

Trong đây không có một vật gì để trừ bỏ,
Cũng không có cái gì cần thiết phải thêm vào.
Chỉ thuần cái vô nhiễm,
Nhìn một cách tự nhiên vào chính nó.

Nói tóm, khi tâm thức hoàn toàn cắt đứt
Những ràng buộc bám chấp vào sự gì,
Thì mọi điểm thiết yếu đều cô đọng trong đó.
Đây là truyền thống của bậc tối thượng Tipola,
Và của đại học giả Naropa.

Một trạng thái tự nhiên sâu xa như cái này
trí huệ của đại lạc,
Trong tất cả mọi loại lạc phúc.
Trong tất cả mọi niềm vui sướng hài lòng,
Nó là vua của vui sướng hài lòng tối thượng.
Nó là sự quán đảnh truyền pháp tối cao thứ tư,
Của mọi phái tantra của Mật thừa.
Nó là giáo huấn tối thượng chỉ thẳng.

Tri kiến “sanh tử tức niết bàn,”
tri kiến của Đại Ấn, của Đại Toàn Thiện, Trung Đạo và những cái khác,
Có nhiều tên khác nhau,
Nhưng chỉ một nghĩa tinh yếu.
Đây là tri kiến của Lama Mipham

Như một sự giúp đỡ cho vua của những tri kiến này 
Người ta nên bắt đầu với Bồ đề tâm,
kết thúc với hồi hướng.
Để cắt đứt bằng những phương tiện thiện xảo
Sự trụ định vào một bản ngã, gốc rễ của sanh tử,
Vua của mọi phương tiện vĩ đại
Bồ đề tâm không gì vượt hơn.

Vua của sự hồi hướng toàn hảo
phương tiện để tăng trưởng thiện căn.
Cái này là giáo lý đặc biệt của Thích Ca Mâu Ni,
Nó không tìm thấy nơi những bậc thầy khác. 

Để thành tựu giác ngộ viên mãn,
Nhiều hơn thế thì không cần thiết,
Nhưng ít hơn thế thì sẽ không đầy đủ.
Con đường nhanh chóng của ba cái tuyệt hảo,
Được gọi là lòng, mắt và sinh lực,
Là lối đi của Longchenpa Rabjam.

Tánh Không, viên ngọc như ý,
bố thí không nhiễm chấp.
Nó là sự trì giới không hư hoại.
Nó là nhẫn nhục không phiền giận.
Nó là tinh tấn không mê lầm.
Nó là thiền định không phóng dật.
Nó là tinh túy của trí huệ bát nhã.
Nó là ý nghĩa của ba thừa.

Tánh Khôngtrạng thái tự nhiên của tâm.
Tánh Không là sự quy y vô niệm.
Tánh KhôngBồ đề tâm tuyệt đối.
Tánh Không là Vajrasattva ân xá tội lỗi
Tánh Khôngmạn đà la của những tích tập toàn thiện.
Tánh Không là guru yoga của Pháp thân.

An trụ trong trạng thái tự nhiên của tánh Không 
Là sự “an định” của shamatha,
Và thấy biết nó rõ ràng sống động
Là sự “quán thấy” của vipashyana.

Cái thấy của giai đoạn phát triển toàn hảo,
Trí huệ của Lạc và Không trong giai đoạn thành tựu,
Đại Toàn Thiện bất nhị,
Và bindu đơn nhất của Pháp thân,
Tất cả mọi cái này đều bao gồm trong nó.

Tánh Không tịnh hóa những nghiệp.
Tánh Không xua đuổi những lực lượng che ám.
Tánh Không thuần hóa những quỷ ma.
Tánh Không thành tựu những hóa thần.

Trạng thái sâu xa của tánh Không
Làm khô cạn đại dương tham ái.
Nó phá sụp đổ núi sân giận.
soi sáng bóng tối của ngu si.
Nó làm lặng cơn lốc của ghen ghét
Nó đánh bại chứng bệnh của những phiền não.
Nó là một người bạn trong lúc sầu muộn.
Nó hủy diệt tự phụ trong sướng vui.
Nó chiến thắng trong cuộc chiến tranh với sanh tử.
tiêu hủy bốn ma.
Nó chuyển tám pháp thế gian thành vị bình đẳng.
hàng phục con quỷ chấp ngã.
Nó chuyển những điều kiện xấu thành sự trợ giúp.
Nó chuyển những điềm xấu thành tốt lành.
Nó khiến hiển lộ giác ngộ viên mãn.
Nó sanh ra chư Phật ba thời.
Tánh Không là bà mẹ Pháp thân.

Không có giáo lý nào cao hơn tánh Không.
Không có giáo lý nào nhanh chóng hơn tánh Không.
Không có giáo lý nào tuyệt hảo hơn tánh Không.
Không có giáo lý nào sâu xa hơn tánh Không.

Tánh Không là “cái biết một cái nó giải thoát cho tất cả.” 
Tánh Không là đức vua tối thượng của dược liệu.
Tánh Khôngcam lồ của bất tử.
Tánh Không là sự thành tựu tự nhiên vượt khỏi cố gắng.
Tánh Khônggiác ngộ không thi công.
Bằng thiền định tánh Không 
Người ta cảm thấy lòng bi khủng khiếp
Cho những chúng sanh mê mờ, như chúng ta, trong sự tin vào một cái ngã,
Bồ đề tâm khởi lên không dùng sức.
Mọi phẩm tính của con đường và những địa
Sẽ xuất hiện tự nhiên không nỗ lực nào
Và người ta sẽ cảm thấy niềm vui sâu sắc
Khi nhìn luật nhân quả không sai chạy của hành động.

Nếu người ta chỉ có một chốc lát xác tín
Vào tánh Không này
Xích xiềng siết chặt của chấp ngã
Sẽ phá tung từng mảnh.
Đây là lời của Aryadeva.

Còn tối cao hơn cúng dường chư Như Lai và con cái của Ngài
Tất cả những hằng sa cõi Phật,
Đầy ắp với sự cúng dường của chư thiênloài người,
thiền định về tánh Không.

Nếu công đức của sự an trụ nhất như 
Chỉ một khoảnh khắc trong trạng thái tự nhiên này
Mà có được hình sắc cụ thể,
Thì cả không gian không chứa đựng nổi nó.

Bậc không ai sánh trong các hiền triết, Thích Ca Mâu Ni,
Để đạt đến tánh Không thậm thâm này,
Đã ném thân ngài vào những giàn lửa,
Cho đi đầu ngài và tay chân,
thực hành hàng trăm khổ hạnh khác.

Dầu cho bạn chất đầy thế giới này 
Với những đống khổng lồ những tặng vật vàng ngọc,
Giáo lý sâu xa này về tánh Không 
Dù để tìm kiếm nó, cũng rất khó tìm thấy.
Điều này được nói trong Trăm Ngàn Bài Kệ Bát Nhã Ba La Mật

Để gặp được giáo lý tối thượng này
sức mạnh rực rỡ của công đức 
Của nhiều kiếp không thể tính đếm.

Tóm lại, nhờ vào tánh Không.
Người ta, vì sự lợi lạc của chính mình,
Được giải thoát vào cảnh giới của Pháp thân vô sanh,
Cái giác ngộ viên mãn rõ ràng
Của bốn thân và năm trí.
Sự phô diễn không ngăn ngại của Sắc thân
Bấy giờ sẽ không ngừng lưu xuất để chỉ dạy cho người nào cần,
Bằng cách khuấy động những chiều sâu của sanh tửlợi lạc cho những người khác,
Qua hoạt động tự nhiên thường trực, cùng khắp.
Trong tất cả kinh và tantra, điều này
Được nói là quả rốt ráo.

Làm sao một người như con có thể nói thành lời
Tất cả những lợi lạccông đức từ đó,
Khi bậc Chiến Thắng, với lưỡi kim cương của ngài,
Không thể làm cạn kiệt chúng, dù ngài có nói trong suốt 
một kiếp ?

Bậc vinh quang, bậc thầy tối thượng,
Ngài ban cho những lời dạy về tánh Không,
Xuất hiện trong hình thức một con người,
Nhưng tâm ngài thật sự là một vị Phật.

Không có dối tráđạo đức giả,
Hãy khẩn cầu ngài từ sâu thẳm lòng mình, 
Và không cần một thủ đoạn nào khác,
Mẹ sẽ đạt đến giác ngộ ngay trong đời này.
Đây là viên ngọc hiẹân thân của tất cả,
Được dạy trong những tantra của Đại Toàn Thiện.
Khi mẹ đang có viên ngọc này trong lòng bàn tay,
Chớ để nó uổng phí một cách vô nghĩa.

Giống như những sao trên bầu trời, sự học hỏi 
Sẽ không bao giờ chấm dứt qua những nghiên cứu.
Ích gì mọi thứ phồn tạp 
Nhiều giáo lý thỉnh cầu xin và thọ nhận ?
Ích gì mọi thực hành không thể cao hơn tánh Không ?

Chớ nhắm đến có nhiều trang phục khổ hạnh,
Như cầm gậy và đeo dây hay mặc da thú.
Để cho con voi tự trở vào nhà mình
Chớ đi tìm dấu chân nó trong núi sâu.

Hỡi mẹ, hãy tham thiền tinh túy của tâm,
Như nó được dạy bởi guru, bậc nắm giữ kim cương,
Và mẹ sẽ có tinh túy của tinh túy
Của tất cả tám vạn bốn ngàn giáo lý.
Nó là cam lồ cốt tủy của triệu triệu 
Những bậc thành tựuhiểu biết.
Nó là sự thực hành tối hậu.

Lời khuyên bảo này từ cốt lõi tấm lòng
Của nhà sư hỏng chuyện, Jamyang Dorje,
Là cái thanh tịnh nhất của tinh túy thanh tịnh 
Từ bindu của máu đời con.
Bởi thế hãy giữ nó trong lòng, hỡi mẹ.

Những lời khuyên bảo tâm huyết ít ỏi này
Được viết ra trong một xứ sở đẹp đẽ,
Thành phố của bầu trời xanh rộng mở
Ganh đua với sự rực rỡ của những cõi trời.

Gởi đến Chokyi Nodzom thuần thành,
Bà mẹ yêu quý của con,
Và đến những đệ tử sùng tín của tôi.
Tôi trao tặng lá thư khuyên bảo này.

Lá thư này cho những đệ tử được viết bởi một người mang danh là “Khenpo,” người Tây Tạng, Jamyang Dorje, trong Thung Lũng cỏ Dordogne của Đại Lạc, nước Pháp, bên kia đại dương về hướng tây.

Nguyện phước đứctốt lành từ đó !

7 Bình Giải của Khenpo về “Tấm Gương của những Điểm Thiết Yếu : 
Một bức thơ tán thán tánh Không”
Dịch và biên tập bởi Surya Das

“Tấm Gương của những điểm Thiết Yếu” là một bài ca kim cương một kiểu mẫu-tự phát, một doha, một bài ca giác ngộ hiện đại của truyền thống nói miệng sống động có từ những thành tựu giả chứng ngộ của Ấn Độ cổ thời. Khenpo hát nó lên vào một ngày trong thời nhập thất ba năm ở Dordgne, Pháp, khoảng từ 1980 đến 1984. Sau này nó được thâu băng, rồi viết ra tiếng Tây Tạng và được gởi cho mẹ ngài ở Ấn Độ. Sau đó nữa, nhóm dịch thuật Padmakara dịch nó ra tiếng Anh và tiếng Pháp.

Khi nào chúng ta đảm nhận bất kỳ loại chỉ dạy, thực hành hay nghiên cứu nào, thật ích lợiý nghĩa lạ thường, khi phát sanh và xác định một cách thành thật Bồ đề tâm quý báu với cả hai phương diện tương đốituyệt đối của nó : thúc đẩy chính chúng ta một cách rõ ràng đến độ bất kỳ thứ gì chúng ta làm ở đây đều vì lợi lạcgiác ngộ tối hậu của tất cả chúng sanh ở khắp mọi nơi. Dĩ nhiên, bản thân chúng ta bao hàm trong đó, thế nên không cần làm tăng thêm sự quy ngã thói thường của chúng ta bằng cách quan tâm riêng biệt đến sự giải thoát của chúng ta ở điểm này. Chỉ đơn giản phát Bồ đề tâm quý báu và tin vào sự vĩ đại này của tấm lòng và sự rỗng rang bao la này của tâm thức. Mọi sự đều bao gồm trong đó.

Làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh khắp nơi có nghĩa là gì ? Trong nghĩa tương đối, đó là thực hành sáu hoàn thiện (ba la mật) và cung cấp cho chúng sanh thứ gì họ muốn và cần, như là những đồ vật, sự che chở, thuốc thang, tuổi thọ, an toànhạnh phúc, cũng như những giáo lý và sự giúp đỡ trong thực hành.

Trong nghĩa tuyệt đối nó là cắt đứt gốc rễ của sanh tửniết bàn, cắt tiệt gốc rễ của nhị nguyên, của bám chấp nhị nguyên, của bám chấp vào sự có thật của sự vật. Đây là lợi lạc rốt ráo, lợi lạc tối hậu, gọi là Phật tánh, nó nghĩa là thức tỉnh hay hoàn toàn khai mở tâm-lòng. Sem kye trong tiếng Tây Tạng nghĩa là Bồ đề tâm, tâm thức tỉnh vị tha ; nghĩa đen là sự nở hoa của tâm thức, sự khai mở hay phát lộ rốt ráo của lòng và tâm.

Cái gì là gốc rễ của mọi bất toại nguyện, thất vọng và khổ đau ? Cái gì là nguyên nhân gốc của dukkha – khổ đau và sự mất cân bằng ? Nó chính là sự bám chấp nhị nguyên. Bám luyến, kháng cự và trụ chấp là nguyên nhân của khổ đau. Tất cả những thứ ấy phát xuất từ vô minh. Bám chấp nhị nguyên xảy ra ngay ở điểm gặp gỡ giữa người nắm lấy và cái được nắm lấy. Nó là sự bám chấp vào thực tại cụ thể của những sự vật ; bị mê lầm bởi chỉ những hình tướng, không thấy tính chất vô tự tánh hay trống rỗng, tánh Khôngkhông thật của chúng. Khi điều này được thấy xuyên suốt, bám chấp và luyến ái khô kiệt. Bấy giờ khổ đau nào có thể có được ? Và có ai để khổ đau ? Tự dothong dong bao la là ngay ở đây.

Khi gốc rễ của nhị nguyên – bám chấp nhị nguyên, những thấy bị cắt đứt,-biết nhị nguyên, những thấy biết mê lầm mọi lá, cành và thân của cội cây sanh tửniết bàn tự nhiên tự khô héo và ngã đổ đúng lúc của chúng. Bấy giờ cội cây sanh tửniết bàn khổng lồ tỏa nhánh khắp nơi này, cội cây của nhị nguyên, của thế gian, của sự bị qui định, không cần phải đốn ngã : nó đã như là chết. Chúng ta có thể nghỉ ngơi ; làm xong cái cần làm, như đức Phật nói.

Đây là điểm toàn thể của Pháp, của sự thức tỉnh tâm linh, của Phật tánh ; đây là sự tiến hóa hay khai mở tối hậu. Nếu chúng ta mong mỏi kinh nghiệm một sự thức tỉnh như vậy, không có gì khác để làm ngoài sự nhận biết bản tánh chân thật của tánh giác bổn nguyên của chúng ta, cái hiện thể nền tảng của chúng ta, quyền thừa kế của chúng ta, nó ở bên trong. Đây là bản tánh sẵn có nội tại của tấm lòng và tâm thức chúng ta, cũng được biết với tên là Bồ đề tâm. Nó là hiện thể của chúng ta, tự tánh của chúng ta, có tên là Phật tánh. Nó không phải là vị Phật ở đâu khác.

Đấy là tại sao chúng ta nói Phật ở bên trong : Phật tánh tỏa khắp và ôm trùm mọi sự, không chừa cái gì. Sâu xa hơn, đấy là tại sao chúng ta nói không có Phật ngoài tự tâm mình, vì tâm Phậttinh túy chân thật của tự tâm chúng ta, ngay lúc này đây. Nó không xa chút nào. Nó là trong chúng ta và là chúng ta. Nhưng ai nhận biếthiện thực hóa nó ? Chẳng phải chúng ta luôn luôn nhìn trượt, bỏ qua nó sao ? Nó có vẻ quá thật, đến nỗi chúng ta không tin nó. Nó quá gần gũi, thân thiết, thế nên chúng ta bỏ qua nó. Nó hiển nhiên quá rõ ràng, quá thường trực đến nỗi chúng ta không lưu ý nó. Ai có thể biết rằng Phật ở trong chính họ ?

Lời dạy này trong hình thức một bài ca về những phương diện khác nhau của tánh Không hay shunyata : cái trống không chói lọi, cái rỗng rang vô cùng của bản thân hiện thể nguyên sơ không vướng mắc. Có dạy rằng có mười tám loại Không khác nhau, nhưng tất cả được gồm vào một cái được gọi là mahashunyata, đại không : sự rỗng rang mở khắp và tánh Không không thể ý niệm, tánh Như không thể diễn tả của -cái đang là. Nó không phải là một cái gì tương đối mọi cái khác đều tương đối ; đại khôngbản tánh chân thật của mọi hiện tượng tương đối.

Tâm Kinh nói, “ Sắc tức là Không, Không tức là Sắc.” Đây là cái thấy căn bản của Đại thừa Phật giáothực tại của hiện hữu. Chúng ta không thể từ chối rằng chúng ta đang kinh nghiệm thế giới, một vô số sai khác của hình tướnghiện hữu. Tuy nhiên trong yếu tính, mọi sự vật là trống không một thực thể nội tại, không có hiện hữu về bản chấtđộc lập. Shunyata, Tánh Không nghĩa là như vậy. Đấy là sự kết hợp của hai cấp độ của chân lý, tương đốituyệt đối. Một vị Phật thấy biết cả cấp-hai đồng thời : sự vật xuất hiện như thế nào độ tương đối hay chức năng, và sự vật thực sự là thế nào.

Tánh Khôngchân lý tuyệt đối, thực tánh của tất cả sự vật, cách thức đang là một cách nền tảng của chúng. Tình trạng chân thực của mọi hiện tượng của cả sanh tử lẫn niết bàn là mahashunyata, sự mở suốt rỗng rang hay tánh Không vĩ đại. Đây là ý nghĩa chân thật của Dzogchen, những giáo lý về sự đại thành tựu tự nhiên, sự thanh tịnh bẩm sinh và hoàn thiện vốn sẵn của mọi sự : rằng mọi sự vốn là mahashunyata, sự mở suốt rỗng rang hay tánh Không vĩ đại.

Người ta có thể hỏi : Ai hay cái gì đã sáng tạo, tạo tác, làm ra tánh Không này, cái là trạng thái tự nhiên của mọi hình tướng sanh tửniết bàn ? Phật đã tạo ra nó chăng ? Vị thần nào đó hay một đấng tuyệt đối nào tạo ra nó ? Nó được làm hay sanh từ đâu ? Có phải nó là cái còn lại khi mọi sự đã được tịnh hóa hay hủy hoại ? Có phải chúng ta cần gỡ bỏ tấm màn che của tư tưởngý niệm để thấy biết nó ?

Tánh Không là không sanh, không do làm, không được tạo ra. Bởi thế nó được nói là không chết, như niết bàn (cái mà đức Phật gọi là vĩnh cửu trong một cuốn kinh). Nó là thật tánh, mahashunya, đại không. Không thể-là bản tánh tối hậu ý niệm, vâng ; không thể được, không !

Bản chất của mọi hiện tượng, như đức Phật nói, là vô thường. Mọi sự đều tan rã. Cái gì sanh ra, thì chết đi. Mọi cái gì được nhóm họp đều phân rã, như những gặp gỡ trong một cái chợ. Mọi tạo lập rốt rồi phải hủy hoại. Mọi hiện tượng do duyên, do điều kiệnvô thường, không chủ, không ngã, và trống rỗng, như mộng, ảo ảnh, tiếng vang. Kỳ lạ thay ! Kỳ diệu thay ! Emaho !

Bản tánh chân thật của sự vật là đại không, sự mở suốt rỗng rang hay tánh Không vĩ đại, thuyết tương đối tối hậu thoát khỏi những vật thể độc lập, hiện hữu cá không sanh, không chết, không biến chuyển, không thể-thể quan niệm, vượt ngoài sự tạo tác của ý niệm. Nó là chân lý tuyệt đối. Nó không bao giờ tan rã. Nó siêu vượt thời giankhông gian. Nó không phải là một vật, một đối tượng của hiểu biết, một đối tượng của trí thức. Nó là sự lồng lộng không đáy của thực tại tuyệt đối, chiếu soi rực rỡ.

Ngay một thành phố lớn như New York, có nhiều người cùng làm việc cật lực với nhau giống như một sự gặp gỡ thường trực của người ta. Một vài trăm năm nữa, ai biết rằng nó sẽ như thế nào, hay ngay cả nó không còn ở đó ? Và dầu nếu còn nhiều người và xe cộ ở đó, họ cũng không phải là những người như cũ và xe cộ như trước. Mọi thứ đều vô thường trong thế giới này, gồm cả thân thể chúng ta, thân thể chóng vánh như huyễn của chúng ta, một hiện tượng kết hợp nhất thời, kết quả của chỉ sự kết hợp tinh chất nam nữ qua duyên nghiệp của cha và mẹ trong đời này. Nhưng một trăm năm nữa, thân thể này sẽ là cái gì ?

Mọi sự đều như vậy. Đấy không phải là cái gì đe dọa hay làm thất vọng, cũng không phải nó được nói ra để xem nhẹ sự quan trọng của chúng ta. Đấy chính là bản chất của mọi hiện tượng kết hợp. Chúng ta đều sẽ chết và tan rã, để lại mọi thứ, trừ những tích tập nghiệp báo của chúng ta. Và lúc đó, khi chúng ta ra khỏi đời này, chỉ có những công đức và sự chứng ngộ của chúng ta là có lợi lạc cho chúng ta. Không có cái gì khác của thân thể này và cuộc đời này là còn lại.

Đây không phải là ca ngợi, và không phải là sỉ nhục, không bi quan cũng không lạc quan ; không có sự phán xét ở đây. Đấy chỉ đơn giản là một sự nhận biết khách quan sự vật thực sự là thế nào, chuyện ấy chính chúng ta có thể nhận biếtchứng nghiệm : rằng mọi hiện tượng hợp sanh là thoáng chốc, như huyễn, không bền và vô thường. Mọi hiện tượng hợp sanh có ra là qua luật duyên sanh, sanh ra trong tương thuộc. Tất cả chúng đều liên hợp, liên lập, tương thuộc. Khi những nhân và duyên hội hợp, những sự vật tạm thời xuất hiện. Khi những nhân và duyên hết đi, những sự vật tan rã, như ngọn lửa tắt khi nhiên liệu cạn hết. Đây là những hiện tượng tương đối sinh ra trong bối cảnh của tánh Không vĩ đại như thế nào. Không có người sáng tạo nào khác ngoài định luật vô ngã của nhơn quả nghiệp báo. Những người biết hai chân lý này, sự tương thuộc, duyên sanh tương đốitánh Không tuyệt đối, được gọi là những anh hùng không sợ hãi, những bồ tát gan dạ, những chiến sĩ tỉnh ngộ về tâm linh.

Đây là lý do tại sao trong dòng của chúng ta, từ thời vị đại đệ tử Vidyadhara Jigme Lingpa của Longchenpa vào thế kỷ mười tám, mọi đạo sư, từ Jigme Lingpa qua Gyalwai Nyugu đến Patrul Rinpoche xuống đến ngày nay, đều được đặt chữ đầu của pháp danh là Jigme, nghĩa là không sợ hãi. Các vị biết rõ tánh Không bất biến tuyệt đối, bản tánh căn nguyên của tâm thức mình. Ở ngay giữa những hiện tượng thoáng qua, như mộng và như huyễn, các ngài không sợ trước cái chết và vô thường.

Chúng sanh bình thường không thường rõ ràng nhận thấy, nổi bật trong tâm thức họ, sự sợ hãi không thể chối cãi về cái chết, bệnh tật, già nua, cô độc, những vấn đề và những khó khăn đủ mọi loại ; ví dụ sợ mất cái họ có, sợ trải nghiệm điều họ không muốn trải nghiệm, sợ được điều họ không muốn hay không được điều họ muốn… Bởi thế, toàn thể con người của họ bị lo âu, hy vọng và sợ sự sanh sôi không cùng của bám chấp và-hãi trói buộc trụ trước. Hy vọngsợ hãi là một giới hạn khổng lồ, những rắc rối nảy nở không cùng.

Làm thế nào chúng tathể hiện thực hóa sự can đảm không sợ hãi hoàn hảo của những chiến sĩ thức tỉnh, những bồ tát anh hùng ? Bản tánh chân thật của tất cả mọi sự vật là đại không, nó không phải là một cái trống rỗng, không có gì cả : mà nó là tánh Không sáng ngời. Nó có phẩm tính “là vậy,” tánh Như, Như Lai Tạng. Nó là tánh Không phú bẩm với lòng bi và trí huệ. Nó được gọi là Đại Toàn Thiện tự nhiên, Đại Toàn Thiện bẩm sanh, Dzogchen ; cái đại không này có tính chất sáng ngời, sự không thể phân chia của cái biết và tánh Không, của tánh giác và lòng bi. Nơi đây chân lýtình thương không điều kiện không sai khác.

Nền tảng hay căn cứ của bản tánh tối hậu của hiện thể được Đại Toàn Thiện bẩm-gọi là Đại Toàn Thiện nền tảng sinh nền tảng. Nó là thanh tịnh, toàn thiện, và viên mãn từ vô thủy, không thiếu hụt cái gì, thoát khỏi thoái hóabiến đổi. Nó không được cải thiện thêm trong niết bàn cũng không hư hao trong sanh tử. Nó cũng như kim cương, siêu việt, không vướng mắc vào những nguyên nhânđiều kiện : Đại Toàn Thiện tự nhiên. Emaho !

Dầu cái Đại Toàn Thiện sáng ngời này là một và bất nhị, một toàn thể đồng nhất không thể phân chia, nhưng để giải thích, nó được phân thành nền tảng, con đường và quả. Đại Toàn Thiện Dzogchen được giải thích theo ba cái này, chúng thật ra cũng không thể phân chia, tuy nhiên được giải thích như là một bộ ba để cho rõ ràng : cái thấy, thiền định và hành động.

Cái thấy, tri kiến nghĩa là cái nhìn tổng quan, viễn tượng, cái nhìn bao quát ; thiền định ám chỉ sự thực hành hiện thực làm quen thuộc với cái thấy ấy, cái mà người ta đã được giới thiệu, dẫn nhập, và cái mà người ta đã nhận ra hay xác nhận một cách kinh nghiệm cho chính mình ; và hành động hay hạnh, cư xử, là hoạt động giác ngộ hiện thực trong đời sống. Dù căn cứ hay nền tảng là một, toàn thể và không thể phân chia, ba cái này có thể được làm rõ như cái này sanh từ cái kia : Trước hết, phải có cái thấy, bấy giờ thiền định chân thật và hành động chân thật sinh ra, cái này sau cái kia, từ sự tỉnh giácnhận biết ấy. Dù trong chân lý tuyệt đối, nền tảng và quả là không tách lìa, thì trong chân lý tương đối con đường còn phải trải qua để hoàn thành cây cầu như cầu vồng này.

Bẩm cái rỗng rang và sáng ngời này,-sinh trong tánh Không này thật tánh của tâm thức mình, cái Đại Toàn Thiện bổn nhiên là những phẩm tính không thể nghĩ bàn, tất cả những- phẩm tính giác ngộ của chư Phật mười phương trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Những phẩm tính siêu việt này vốn là hiện giờ một cách bẩm sinh. Chúng ta có thể nói rằng chúng là tiềm năng, nhưng không phải là một tiềm năng cần khai triển trong tương lai. Chúng vốn là hiện giờ một cách bẩm sinh, và có thể bước vào ngay hôm nay.

Nếu và khi một hành giả nhận biết thật tánh của hiện thể vốn sẵn đủ của mình, bản tánh tối hậu của tâm thức, cái Đại Toàn Thiện tự nhiên này, bấy giờ, trong một đời, trong ngay vài năm hay ngay chỉ vài-trong chính thân thể này Phật tánh tối thượng toàn thiện-khoảnh khắc tâm thức được hiện thực hóa.

Cái Đại Toàn Thiện bổn nhiên này, cái tốt đẹp nền tảng được gọi là Phật tánh, Phật tâm, hay rigpa, là tự tánh của chúng ta. Nó là “dòng hiện thể” của bản thân chúng ta, gyu trong tiếng Tây Tạng. Nó là hiện thể chân thực nhất của chúng ta. Nó không chỉ là tâm chúng ta. Nó là hiện thể của chúng ta. Nó là cái mà chúng ta là. Đấy là tại sao nó được gọi là con đường nhanh chóng và thoải mái hay đầy đủ phong lưu. Nó không đòi hỏi một số nỗ lực, gian nan hay khổ hạnh, hay sự kiên trì lâu xa trong thực hành, giống như có nói rằng Bồ tát thừa cần ba vô số kiếp để hoàn thành. Nó là trong đời này, nó nằm trong khoảnh khắc này : ngay giờ đây, khoảnh khắc nhất niệm của Đại Toàn Thiện, gọi là sự nhận biết rigpa. Emaho !

Longchenpa toàn giác nói :

Bởi vì mọi sự vượt khỏi tốt và xấu,
Thiện cảmác cảm, chọn lấy và chối bỏ,
Khi tôi thấy những chúng sanh bị bắt nhốt trong trò phô diễn huyễn hóa này, 
Làm sao tôi không thể phá ra cười !

Trong những giáo lý của Phật giáo, trong những kinh và những thừa thực hành tổng quát, phải nhiều đời để khai triển qua các địa (bhumi) và chứng ngộ Phật tánh hay những quả khác của con đường. Trong giáo lý Đại Toàn Thiện, con đường nhanh chóng và thong dong là ngay giờ đây. Khi khoảnh khắc của Đại Toàn Thiện xảy đến, ngay trong khoảnh khắc nhận biết nó, quen thuộc với nó, xác định xác tín toàn triệt bên trong, đó là cái khoảnh khắc cốt tử, khoảnh khắc vĩ đại của Đại Toàn Thiện. Nó không phải là cái gì trong tương Đó là tại sao nó được gọi là con đường nhanh chóng,-lai trần trụi, trực tiếp, đường tắt kim cương, bình minh của Vajrasattva, bậc kim cương.

Cái này là ngay giờ đây, bao giờ cũng hiện diện, bao giờ cũng có thể đi vào. Đấy là tạo sao chúng ta thốt lên, Emaho ! và gọi nó là Pháp kỳ diệu, hoan hỷ của Đại Toàn Thiện. dù bạn chọn-Nó là lạ lùng, kỳ lạ, mới mẻ, khó tin cách diễn dịch nào niềm hoan hỷ bao la ấy. Nó là một lối tắt. Nó là con đường trực tiếp. Nó là cách thức rút Phật tánh của chúng ta ra khỏi vỏ bọc của những ý niệm, của nhị nguyên. Lưỡi gươm rigpa thì luôn luôn ở đây. Tại sao chúng ta không rút nó ra khỏi vỏ và vung nó lên không sợ hãi trong bầu trời tự do không ngăn ngại ?

Khi người ta có sự tiếp xúc nhờ thiện nghiệp với một vị thầy và những lời dạy, niềm tin tưởng, sự tin cậy và sùng mộ khởi lên đối với vị thầy và những lời dạy, và người ta ở đúng chỗ vào thời gian đúng lúc. Khi mọi điều kiện này đã đầy đủ, không có gì ngăn che kinh nghiệm trực tiếp, trần truồng về tánh giác nội tại của mình, thật tánh của tâm thức mình cái Đại Toàn Thiện bổn nhiên. Cái toàn thiệntrọn vẹn bẩm sinh này của hiện thể chúng ta là cái những giáo lý này chỉ thẳng ra, không phải là một loại kho tàng huyền bí nào ở Tây Tạng xa xôi. Không cần phải lo lắng nhìn mọi chỗ, chép lại mỗi mẫu nhỏ thông tin về kinh nghiệm này và thăm viếng mỗi vị lama trên thế giới. Người ta có thể thực sự kinh nghiệm ngay đây và bây giờ thực tánh của chính mình, rigpa, sự hiện diện bổn nhiên không thể diễn tả này. Ngay lúc này đây nó là cái tâm rỗng rang lồng-sẵn sàng và phản ứng tức thì lộng, bao la và không tự quy vào mình này.

Khi bạn nghe những lời dạy như thế này, những lời nói giống như những bong bóng hay tia lửa nhỏ nổ trong không khí và tan biến mất. Nếu bạn viết ra trong một sổ tay và để cuốn sổ trên một giá sách, sau vài tháng những dòng chữ ấy phủ đầy bụi và chúng sẽ trở thành cái gì ở ngoài người ta đến độ họ không có thì giờ xem nó và người ta muốn có thì giờ để tìm lại bằng cách nào đó trong chính mình. Điều này có thể là một nguyên nhân khác của căng thẳng. Tuy nhiên, ý nghĩa chân thật của lời nói này là cái vốn ở trong chúng ta ngay bây giờ đây. Nó không cần phải được viết ra và để trên kệ sách. Nó không bao giờ phủ bụi. Chúng ta luôn luôn có thì giờ để đi vào nó, để liên hệ với nó. Nếu chúng ta không liên hệ với nó ngay lúc này, thì còn chờ khi nào ?

Trong những giáo lý chung của những thừa khác nhau, có một số lượng để đọc và học, như là Ba Tạng, với mọi phần -của chúng, và cũng có kinh và tantra. Nhưng giáo lý này con đường trực tiếp, trần truồng của tánh giác bổn nhiên thì vượt khỏi tâm thức. Nó-gọi là Đại Toàn Thiện là giây phút cho mọi thấy biết nhị nguyên sụp đổ, hay được để trong trạng thái tự nhiên của chúng, trong cách thức thực sự của tự chúng, đó là cái rỗng rang bao la và trống không của tánh Không. Đây là cái nhìn toàn cảnh, cái thấy. Đây cũng là sự thực hành và cách thức giác ngộ để sống cuộc đời hàng ngày của chúng ta. Thế đấy, cái này bao gồm cái thấy, thiền định và hành động của Đại Toàn Thiện. Không có gì để làm ngoại trừ ở trong cái mà người ta đã nhận biết, hay đã được giới thiệu vào, Đại-đã được khám phá cho chính mình, ở trong chính mình Toàn Thiện bổn nhiên, sự hiện diện thanh tịnh và đích thật.

Con người lang thang, giác ngộ vinh quang và vĩ đại Paltrul Rinpoche ám chỉ đến hầu-nói rằng trong những con đường chung cũng giống như buộc xích một-hết những thừa Phật giáo tư tưởng này với một tư tưởng khác, một sợi xích không cùng của diễn dịchchúng ta vướng mắc vào, do bởi những cố gắng ý chí của chúng ta. Nhưng trong con đường Đại Toàn Thiện, mọi hình tướng, mọi hiện tượng đều tự nhiên tan biến vào trạng thái tự nhiên của chúng, tự xuất hiện, tự giải thoát, vượt khỏi bám trụ và điểm quy chiếu. Đơn giản không có gì để trói buộc hay vướng mắc, và không có ai để bị vướng mắc. Mọi sự được để cho đúng như nó là, trong cách thức tự nhiên của nó, dù nó có xuất hiện. Trong những giáo lý Trekchod hay Cắt Đứt của Đại Toàn Thiện tự nhiên, Longchenpa hát “Hãy để cho nó như nó là, và an nghỉ tâm thức mệt mỏi của con.” Vì ở đây thực sự không có cái gì để mất hay để được, không có cái gì để hy vọng hoặc sợ hãi.

Hãy cho phép tâm thức đi đến chỗ nào nó muốn, như Kinh Kim Cương gợi ra khi nói, “Hãy trau dồi tâm tỉnh giác nó không trụ ở chỗ nào cả” (Hán văn : Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm chú thích của dịch giả bản Việt). Đạo sư Mahamudra,- thành tựu giả Ấn Độ Maitripa, hát, “Hãy để cho những tư tưởng tự do đi, như một con chim bồ câu thoát khỏi một con tàu giữa đại dương mênh mông. Vì như con chim không tìm thấy nơi nào để đậu mà chỉ có cách trở lại chiếc tàu, những tư tưởng không có chỗ nào để đi ngoài việc trở lại chỗ khởi nguồn của chúng.” Hãy biết cái nguồn gốc này, bản thân tinh túy-tâm, và tự do.

Cái gì biết thật tánh của mọi sự vật ? Người biết đích là- phương diện trống không, tỏ biết của tâm -thực Phật bổn nguyên Samatabhadra, nhân cách hóa tánh giác rigpa, Phật Samantabhadra bổn nguyên, là rất, rất quan trọng. Chính cái tịnh quang, Phật tánh sáng ngời này thấu biết. Trí huệ tánh giác bổn nhiên, rigpa, đang hiện hành, hoạt động qua chúng ta ngay lúc này, giá mà chúng ta biết nó.

Tâm thức thế gian của chúng sanh, được phú bẩm sự tỏ biết hay thấu hiểu này, lại dùng sự tỉnh giác để không biết, để vô minh, để làm lầm lạc chính nó. Rất quan trọng biết được rằng làm sao điều này xảy ra ; không chỉ biết Phật bổn nguyên, mà còn biết cái vô minh nguyên sơ của chúng sanh, nó vận hành như thế nào.

Trong trạng thái này của tánh giác bổn nguyên, hằng hằng thường trụ Samantabhadra, “Trọn Hảo,” nghĩa là mọi sự đều tốt đẹp, mọi sự đều toàn thiện toàn hảo từ vô thủy. Bất cứ điều gì khởi lên, Samantabhadra nhận biết như là sự phô diễn tự sáng, tự nhiên, không phải là những tri giác nhị nguyên phân biệt ; như thế Samantabhadra vẫn tự do từ khởi thủy trong cảnh giới này của mọi sự được biết và được thông tỏ như là sự phô diễn sáng tạotự nhiên. Tuy nhiên, khi những sự vật khởi lên trong tâm thức chúng sanh, chúng bị tri giác sai như là khác biệt, như “cái khác,” như nhị nguyên. Trong sự mê lầm này, chúng sanh trở nên lầm loạn (như Narcissus), và qua vô minh của chính nó để cho lạc vào sự tự lừa gạt và mọi loại rắc rối khó khăn và khổ đau.

Bởi thế có nói trong Cầu Nguyện của Samantabhadra (không phải là một cầu nguyện đến Samantabhadra, mà là sự xác nguyện của chính Samantabhadra), “Một nền tảng, hai con đường.” Nó nghĩa là chỉ có một nền tảng độc nhất của cái đang là, của cả Phật bổn nguyên và chúng sanh mê lầm : tuy nhiên có hai con đường cá thể : con đường của toàn thiện bổn nguyên, và con đường của mê lầmnô lệ.

Tất cả chúng sanh, dầu ý thức hay không ý thức, đều muốn và cần gặp gỡ cái toàn thiện sẵn đủ bổn nguyên này, cái gọi là Samantabhadra. Nhưng làm thế nào để gặp gỡ Phật ấy chính là bản tánh đích thật của chính họ ? Đây là điểm chủ yếu của con đường, con đường thực hành của Đại Toàn Thiện. Khó mà gặp Phật bổn nguyên này, Phật pháp thân, Samantabhadra. Bởi thế, trên cấp độ năng lượng, Pháp thân biểu lộ như Báo thân, Dorje Chang, Vajradhara ; hay ngay cả trong thế giới này, trong Hóa thân, như là Thích Ca Mâu Ni, giáo hóa bằng lời và bằng hình thể. Những chúng sanh có thể thực sự đích thân gặp gỡ thực tại này theo một cách phù hợp với họ.

Ba Phật bổn nguyên Samantabhadra là pháp thân toàn-Phật này thể, thực tại tuyệt đối vô tướng ; báo thân, Vajradhara hay Dorje Chang, là cấp độ năng lượng, cấp độ thị kiến ; và hóa thân, thân thể hình sắc, Thích Ca Mâu Ni, Phật lịch Ba vị Phật này thực sự là một sự nhân cách hóa-sử của rigpa. Những ai có nghiệp tốt, những tích tập phước đứctrí huệ, có thể có may mắn gặp đích thân thân thể hình sắc của Phật Thích Ca Mâu Ni ; chẳng hạn những ai sống ở Ấn Độ vào thời Phật. Đây là sự trùng hợp hay hội tụ của nghiệp tốt của họ với năm trăm đại nguyện của Phật, trải qua năm trăm đời Bồ tát, có thể làm lợi lạc cho chúng sanh sau khi giác ngộ. Như thế, sự phối hợp của những lời nguyện của ngài và nghiệp tốt, những hành động tích cực của một số chúng sanh, đưa số người ấy vào thế giới này trong thời đức Phật. Đó không phải là một may mắn nhiều người trong chúng ta có, được gặp Phật Thích Ca bằng con người của ngài. Tuy nhiên chúng tamay mắn gặp đích thân những đại diện sống của ngài : những bậc thầy giác ngộ trong nhiều truyền thống và dòng phái phát sanh từ ngài.

Giáo lý Dzogchen đôi khi được gọi là Maha Ati, vì nó thuộc về bậc thứ chín của tantra, Tantra Yoga Maha Ati. “Ati” nghĩa là chót đỉnh, bởi vì với cái thấy từ trên cao, từ đỉnh cao nhất của núi, bạn có thể thấy toàn bộ mọi mặt của ngọn núi và tất cả những con đường dẫn đến từ bên dưới. Bạn có một cái thấy tổng quát, một quang cảnh lớn rộng. Khi một số người có vẻ đi lên ngọn núi tâm linh theo một lối, uốn khúc theo chiều kim đồng hồ, những người khác leo lên bởi một con đường ngược chiều kim đồng hồ, nếu bạn nhìn từ trên, bạn có thể thấy mọi con đường khác nhau đều đi đến đỉnh. Nhưng khi nhìn từ dưới, có vẻ người ta đang đi trong những hướng khác nhau, trên những con đường khác nhau, và có vẻ như đối nghịch và không thể hòa hợp. Thật ra, mọi con đường đều quy tụ về chót đỉnh vĩ đại của sự tiến hóa tối hậu của chúng sanhPhật tánh, cái Đại Toàn Thiện.

Khi chúng ta có cái thấy từ trên cao, chúng ta nhìn thấy mọi con đường và mọi thực hành tương hợp với nhau như thế nào, cái gì là cốt lõi hay nguyên lý dẫn đạo của chúng. Tuy nhiên, từ bên dưới thường là chúng ta không thể thấy khu rừng vì đang dò dẫm trong cây cối. Bởi thế, điều quan -trọng là được giới thiệu với cái thấy từ bên trên ngay cả khi chúng ta đang thực hành những thực hành tương như một nguyên lý dẫn đường,-đối của phía dưới đến độ những thực hành tương đối của chúng ta được nâng cấp lớn lao bởi cái thấy về thực tại tuyệt đối, và chúng ta có một cái thấy tổng quan đích thật, dầu cho chúng ta đang làm việc một cách thứ lớp qua nhiều cấp độ khác nhau.

Chúng ta không nên vướng vào những chủ nghĩa bộ phái hay chỉ trích. Đôi khi, trong những nước Phật giáo khác nhau hay những giáo lý khác nhau, người ta nói, “Ồ, những hóa thần bổn tôn ấy mà các lama diễn tả, như Vajradhara, chẳng có ăn nhập gì với đức Phật. Đó là những thứ gì khác với giáo lý. Nó đã trộn lẫn với Ấn Độ giáo.” Hay có thể, “Những hóa thần ấy giống như những vị thần của Ấn Độ. Đó không phải là Phật giáo thuần túy. Phật giáo không có những thần. Phật giáovô thần, chỉ dựa trên Phật tánh.” Hay, “Chỉ có Phật giáo Tây Tạng mới có thể đem lại giác ngộ đích thực trong một đời.” Đấy là lầm lẫn, một thành kiến thiên chấp, cái thấy từ bên dưới ; chúng ta không thể thấy toàn bộ khu rừng vì vô số cây cối. Nhưng khi chúng ta thực hành theo Đại Toàn Thiện, đó như thể là chúng ta trèo từ bên dưới (qua những phương tiện tương đối), trong khi thấu hiểu cái thấy từ bên trên (thực tại tuyệt đối), sử dụng cả hai cánh này (chân lý tương đốituyệt đối) để bay thẳng đến Phật tánh.

Chúng ta có thể nhìn điều đó như thế này : Chúng ta đi lên từ những thực hành tương-phía dưới với sự thực hành đối, bao gồm xử sự, đạo đứcthiền định ; trong khi cùng lúc ấy chúng ta đi xuống từ bên trên với cái thấy bao la. Trong cách ấy, cái tương đối và cái tuyệt đốitrùng hợp, nối kết, trong bất cứ thực hành nào chúng ta làm. Đây là sự thực hành sáu hoàn thiện, sáu ba la mật, mỗi cái hoàn toàn thấm nhuần bát nhã ba la mật, cái hoàn thiện thứ sáu. Và đây là cách thức, sự thực hành của Đại Toàn Thiện trong bối cảnh Bồ tát thừa : đi xuống sự thấu hiểu phù hợp với-từ bên trên với cái thấy cái thấy tối hậu, chân lý tuyệt đối, tánh Không ; trong khi đi lên từ bên dưới bởi những thực hành tương đối, phù hợp với khả năng hiện thực của chúng ta.

Một ngày nọ một yogi đi từ hang của mình xuống núi để khất thực, và ông gặp một nhóm trẻ con trong chợ. Chúng tranh chấp lẫn nhau, cãi cọ với nhau. Một đứa nói, “Cha tao có một khuôn mặt và sắc tướng sắc vàng tuyệt đẹp, cao lớn hơn bất kỳ ông cha nào khác.” Một đứa trẻ khác nói, “Ông chú tao có một khuôn mặt chiếu sáng kỳ diệu, giống như một hoa sen. Ông là người mạnh mẽ hơn bất kỳ ông chú nào khác.” Và một đứa khác lại nói, “Không, chính cha tao là người đẹp đẽ nhất và mạnh mẽ nhất.” Và một đứa khác nói, “Không, chính chú tao là người đáng yêu, tráng lệquyền lực nhất.” Mỗi đứa trẻ đều có hình ảnh nổi bật riêng về cha chúng, và chúng dành nhau ai là người đứng nhất. Chúng tranh chấp loạn xạ đến nỗi vị yogi không thể giải thích gì cho chúng. Vị ấy liền trở về hang của mình và viết lại chuyện này, liên hệ nó với sự tranh chấp bộ phái của thời ấy.

Có phải có nhiều chủ nghĩa bộ phái trong những trường phái tôn giáo khác nhau, không chỉ trong Phật giáo mà trong tất cả các tôn giáo ? Mỗi đứa trẻ có cha hay chú của nó, tự nhiên thôi, và chúng đều nghĩ họ là người tốt đẹp nhất, theo ý kiến từng đứa. Không ai cần xét xửquyết định ai là người cha hay người bảo hộ tốt nhất. Mỗi đứa trẻ có cha mẹ, thế là đủ. Tương tự, như tất cả mọi trường phái của Phật giáo, chúng ta đều theo đức Phật. Và tuy nhiên chúng ta lại thấy chúng ta cãi vã Phật nào là tốt nhất, Phật Thích Ca hay Phật Samantabhadra nguyên thủy, những bổn tôn-hay Phật Vajradhara, hay những Phật khác như Quán Thế Âm, Tara, A Di Đà, hay Văn Thù. Tuy nhiên chúng ta khoác y phục cho các ngài, người nào là khuôn mặt cha mình, và chúng ta tranh chấp như tất cả chúng ta thuộc về những bộ tộc khác nhau, và công việc của chúng tatìm ra ai là người tốt nhất. Đấy cũng giống như những đứa trẻ con, đứa nào cũng yêu quý cha mẹ nó và đề bạt cha hay mẹ mình là nhất. Thật là trẻ con.

Khi chúng ta thấu hiểu bản tánh tối hậu của Dzogchen, chúng ta hiện thực hóa Phật tánh vốn thức tỉnh. Bấy giờ không còn cái gì khác để làm. Thật sự không cần có bàn cãi nào đâu là cách thức tốt nhất để đến đó. Bản tánh tối hậu của tất cả sự vật, cái đại Không này hợp nhất với tấm lòng sáng ngời của đại bi, được nhân cách hóa như là Phật Samantabhadra bổn nguyên, sự nhân cách hóa rốt ráo tánh giác vốn sẵn của chính mình, rigpa. Nó là Như lai tạng, Phật tánh trong tất cả chúng sanh. Nó là cái Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng ngộ dưới cội bồ đề ở Bodh-gaya khi ngôi sao mai mọc trên chân trời phía đông. Cái mà ngài thức tỉnh để nhận ra nó, kinh nghiệm trong chính ngài, là bản tánh đích thật của tất cả chúng sanh, không trừ một ai. Nó là cái mà bậc đạo sư, bậc thầy toàn giác của Đại Toàn Thiện Longchenpa chứng ngộ trong dòng thân tâm của chính ngài. Đấy là vì sao ngài được gọi là Long-chen, pháp giới vĩ đại, ám chỉ pháp giới tánh Không vô hạn, sự vô cùng của bản tánh Không của chính mỗi người.

Tất cả mọi điều này là đồng nghĩa khi chúng được thấy đúng như chúng là. Pháp danh của đạo sư Dzogchen là Longchen Rabjam nghĩa là pháp giới vô tận. Nó đồng nghĩa với đại không hợp nhất với lòng đại bi. Nó là tên của một vị lama, nhưng chúng ta không thờ phụng một con người hay một lama riêng biệt nào. Chúng ta xác nhậnhiện thực hóa ý nghĩa của pháp danh đó, rằng tự tánh của mình là pháp giới vô biên. Có rất nhiều vị thầy tâm linh đã nhận biết bản tánh chân thật vốn sẵn này, chứ không chỉ Longchen Rabjam. Thật vậy, tất cả các bậc thầy chứng ngộ này là không thể phân ly trong tâm Phật, rigpa, nó là cái vốn đã chứng ngộ cũng như đang được chứng ngộ.

Ngay trong thế giới này, và ngay hiện giờ, có nói rằng có nhiều yogi ẩn dấu tích hay bí mật, tiếng Tây Tạng gọi là bepay naljor. Nghĩa là những người đã chứng ngộ mà không thông thường được biết như những hiền triết hay bậc thánh vĩ đại, nhưng đã nếm sâu xa quả của giác ngộ, và đang sống nó. Có lẽ họ đang làm một cách vô danh công việc tốt đẹp của họ ở đây, giữa chúng ta ngay hiện giờ !

Pháp giới bao la vô hạn này là bản tánh không thể nghĩ bàn của chính mình. Ai có thể nói người này đã chứng ngộ nó và người kia không có nó ? Khi chúng ta đi khắp thế giới hay kinh nghiệm những chiều kích khác, có rất nhiều người đã nếm trải nó. Chúng ta có thể thấy nó trong cách ứng xử của họ, trong dáng điệu của họ, và trong những câu chuyện không chỉ trong truyền thống Đại Toàn-được kể lại Thiện hay truyền thống Phật giáo, mà trong mọi truyền thống, và trong thế giới Tây phương của chúng ta nữa.

Thật tánh này thì bao la và không thể quan niệm nổi đến độ ngay một số chim chóc và thú vậtchúng sanh trong những chiều kích không thấy được khác có thể nói là đã chứng ngộ nó, như trong một số câu chuyện Bản Sanh và những chuyện kể khác của Ấn Độ thời cổ. Nó luôn luôn nói rằng mọi sự là sự phô diễn tự sáng tỏ của Phật Samantabhadra bổn nguyên. Có hằng hà sa số chư Phật và hằng hà sa số chúng sanh. Ai có thể nói người nào ở ngoài nó ?

Trong những tantra Đại Toàn Thiện, cái thanh tịnh bổn nguyên vô cùng này (kadak) được giải thích rõ ràng, gồm mọi sự vật và mọi chúng sanh. Theo các tantra, rất quan trọng cần trau dồi và thực hành cái nhìn toàn cảnh thiêng liêng, cái nhìn thấy thanh tịnh này : nhận biết mọi sự vốn toàn thiện, toàn hảo tự bản chất, không thấy có một số chúng sanh như là thấp và mê, và một số chúng sanh khác là cao, tiến hóa hơn, là giác ngộ ; thấy biết tất cả chúng sanhthành phần của mạn đà la vô biên này của Đại Toàn Thiện bổn nhiên.

Nếu bạn gặp một vị thầy đại diện dòng phái và truyền thống Đại Toàn Thiện, đây cũng là một quan niệm thiên kiến ; nó là một may mắn phước đức, nhưng nó vẫn còn là một ý niệm giới hạn. Không cần thiết gì xem là quá nghiêm trọng ý niệm rằng một lama đại diện cho Đại Toàn Thiện hay Đại Ấn, còn những vị thầy và người ta ở chỗ khác thì không, như thể là những chúng sanh khác chẳng ăn nhằm gì với Đại Toàn Thiện. Cái nhìn thấy thiêng liêng đích thực, cái tri giác thanh tịnh thường được nói đến trong con đường Mật thừa, ngụ ý rằng chúng ta có thể và cần phải thấy mọi sự là thanh tịnh toàn thiệntốt đẹp bẩm sinh ; tất cả, vượt khỏi tốt và xấu, thì rốt ráo viên mãn như vốn là, dù chúng biểu hiện trong chốc lát ; bởi vì, vượt ngoài sự bám chấp nhị nguyên, mọi sự đơn thuần là sự phô diễn của pháp tánh, thực tại tuyệt đối, tánh Như. Nó là sự tự phô diễn hay là sự tự rạng rỡ của rigpa, của Phật Samanta-bhadra. Nó là sự tự âm vang như tiếng vang dội của pháp tánh, trạng thái tuyệt đối của tất cả chúng sanh. Tất cả chúng ta đều không hề lìa khỏi nó.

Những yogi Đại Toàn Thiện chân thực có một tấm lòng và tâm thức rộng mở, tùy thuận, không loại trừ cái gì ra khỏi mạn đà la toàn thiện của cái thấy biết thanh tịnh của họ. Tràn đầy trí huệ, tình thương không điều kiệnthiện cảm, họ không cần chọn lấy một cách thức riêng biệt nào để thấy hay hành động, họ không cần khước từ và chối bỏ bất cứ điều gì. Đây gọi là hoạt động tự nhiên, hay thoải mái vô tư, của Đại Toàn Thiện. Nó không phải là một cái gì chúng ta có thể dễ dàng bắt chước. Tuy nhiên với bất kỳ mức độ nào chúng ta có thể nhận biếttham dự trong nó, lợi lạc lớn lao lưu xuất, cho chính mình và cho những người khác.

Khởi điểm một bài ca kim cương, tôi đã hát, “Tán thán hai mươi lăm đạo sư của con.” Tôi có hai mươi lăm vị bổn sư từ ái cũng như nhiều vị thầy khác, bắt đầu với Khenpo Ngakga danh tiếng, đại đệ tử của Patrul Rinpoche, và đệ tử của Khenpo Ngakga là Nyoshul Shedrup Tenpai Nyima, vị guru gốc của cá nhân tôi. Những vị lama này đối với tôi là hiện thân của tất cả những phẩm tính giác ngộ tuyệt hảo được nói trong kinh điển, tantra và luận.

Bắt đầu bài ca này về tánh Không vĩ đại, tôi hát “Kính lễ đạo sư vĩ đại Longchen Rabjam, không tách lìa với những bổn sư của con, những vị nhận biết pháp giới bao la vô hạn của tánh giác, đặc biệt là Shedrup Tenpai Nyima, mặt trờimặt trăng của sự học và thành tựu tâm linh. Với các ngài con xin tôn kínhlễ lạy. Dưới chân sen của các ngài con tôn kínhlễ lạy.”

Tôi cảm thấy biết ơn, thờ kính và quy ngưỡng với những đạo sư kim cương vinh quang này, những vị tổ và những bổn sư của tôi, các ngài cho tôi mọi thứ : không chỉ lời dạy tâm linh và sự hướng dẫn cá nhân, mà còn thức ăn, quần áo và sự bảo bọc trong thời nhỏ tuổi. Tôi không bao giờ có thể trả hết sự biết ơn với các ngài.

Thật ra, sự biết ơn với những vị thầy và dòng phái và những bổn sư đi trở lại tới chính Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài quá bi mẫn xuất hiện trong thế giới này để chỉ dạy và giải thoát cho chúng ta. Đức Phật là vị thầy của tất cả vị thầy. Mọi phẩm tính tích cực khởi lên trong dòng đều nhờ lòng tốt của ngài và giáo lý của ngài, Phật pháp thiêng liêng.

Sự biết ơntôn kính đầu tiên là cho những người gọi là “những vị ở trên.” Điều này ám chỉ đến những vị trong quá khứ hay những vị cao hơn, tiến hóa hơn như dòng các bổn sư và chư Phật. Sự biết ơn thứ hai là cho những người ngang với chúng ta, đặc biệt quan trọng nhất, người mẹ yêu dấu của mình trong đời này, người đã sanh ra cuộc đời làm người quý báu này, thân thể này với tất cả những rãnh rỗi, may mắn, phú bẩm và khả năng của nó, gồm cả sự gặp gỡ và thực hành sự giải thoát gọi là Phật pháp.

Mọi tán thán, tôn kínhbiết ơn cho bà mẹ của tôi, Chodzom Palsang, người cho tôi cuộc đời, cho tôi thân thể, người nuôi nấng tôi ngày đêm khi tôi còn là một đứa bé không đủ sức tự túc, người nuôi tôi lớn lên, là vị thầy đầu tiên của tôi, và dạy dỗ tôi những cách thức của thế giới, gồm cách nào làm những việc nhỏ nhất mà không có chúng thì tôi không thể còn sống đến ngày nay. Bà mẹ của tôi sanh ra thân thể con người này được phú bẩm với tám điều tự do và mười khả năng. Người ta có thể đọc những điều này trong những bản văn Lam Rim khác nhau, giải thích những thực hành sơ khởi.

Tôi viết Tấm Gương Của Những Điều Thiết Yếu khi tôi ở Dordogne, sau khi ở Pháp đã năm, sáu năm, để kể cho bà mẹ sùng mộ của tôi về điều đã xảy ra cho đứa trẻ lang thang của bà, nó đã đến những xứ sở ngoại quốc nơi người ta bay trên trời trong những con chim màu bạc và du hành trên mặt đất và mặt biển trong những máy móc quyền năng ; nơi có rất nhiều màu sắc và kinh nghiệm đủ loại ; nơi có mọi loại đàn ông và đàn bà đủ màu sắc, to lớn và nhỏ bé, nơi một số người mặc hàng trăm áo quần như đồ trang sức cho thân thể họ, và những người khác mặc những đồ chật cứng hay đi trần truồng trên bờ biển ; trong khi tôi lang thang với không gì khác hơn những áo, khăn bọc bên ngoài màu vàng cam đã cũ và một mũ rơm che cho cái đầu trọc nhăn nheo khỏi nắng ; nơi có những bộ máy cao hàng trăm lần cây cối, những buy đinh xuống đến hàng trăm mét dưới mặt đất, và người ta đi trong những con tàu siêu tốc, những máy bay siêu thanh, trong những tàu ngầm nguyên tử ; nơi những nhà khoa học hình như có quyền kiểm soát ngay cả mặt trời đất, nước,-mặt trăng mọc, và có thể chơi với năm đại như các chư thiên, như những nhà-lửa, gió và không gian huyễn thuật, bay đến mặt trăng, ngay cả đi đến mặt trời ; nơi người ta giàu quá sức tưởng tượng, và người nghèo không ai giúp đỡ ; người ta có quá nhiều kinh nghiệm như mộng khác nhau ; những điều thích thú người ta chưa bao giờ nghe, mơ tới, cũng không tin nổi ở Tây Tạng ; và người ta có vẻ lạc mất trong bóng tối của mê lầm, cũng như rất nhiều người ở Tây TạngẤn Độ, có hay không có lợi còn khát khao hòa bình, hài lòng và thỏa-lộc vật chất nguyện, thiếu vắng bình anchứng ngộ tâm linh.

Tôi đã thấy rất nhiều loại phô diễn khác nhau đến nỗi người ta không thể diễn tả ra hết. Nhưng nếu bạn thấy cái ấy rõ ràng và có một cái nhìn sáng tỏ về nó, tất cả những trò phô diễn khó tin, thần diệu ấy chỉ là sự phô diễn như mộng của tâm thức mình. Nó chỉ là vấn đề của tri giác thấy biết của mình, như thế nào người ta kinh nghiệm những sự vật, giống như một ly nước được thấy bởi một con cá nhỏ sống trong ấy như căn nhà của nó, thì rất khác với cái nhìn của con người chúng ta.

Dầu kỳ lạ bao nhiêu, khi người ta nhận biết mọi sự như là sự phô diễn hay phóng chiếu của tâm thức chính mình, khi chúng ta thấy rằng mọi tri giác tùy thuộc vào nghiệp của mình, bấy giờ người ta không còn kinh ngạc, bởi vì người ta hiểu những sự vật hoạt động thực sự như thế nào, và chúng là thế nào, và chúng ta có thể sống một cách hòa bình, đánh giá mọi sự đúng như chúng là. Có rất nhiều sự vật để thấy. Nhưng thật sự chúng là gì ? Đấy giống như một giấc mộng, một ảo ảnh, một ảo tưởng, một ảo giác huyễn thuật. Vài giấc mộng kéo dài một trăm năm và rồi tan biến. Vài giấc mộng kéo dài một phút hay một giờ rồi tan biến. Những giấc mộng khác có hình sắc cụ thể và có vẻ tồn tại lâu trước khi tan rã.

Mọi sự rốt ráo được giải quyết trong bản tánh tuyệt đối. Trong những hiện tượng như mộng như vậy, có cái gì để nhận chọn hay bám níu ? Có cái gì để phán xét ? Có cái gì để chối từ hay buông bỏ ? Không có cái gì để cầm khi bạn nhận biết-lên hay thả xuống. Khi bạn thức tỉnh có cái gì để-bản chất như mộng của mọi hình tướng thì sao ? Không có cái-làm ? Đấy chỉ là một giấc mộng gì nữa để làm trong đó, ngoài việc biết người đang mộng, người biết. Rốt ráo, ai là người đang mộng ?

Đại thành tựu giả Saraha nói, “Trong mười phương, có cái gì để tạo tác, để trông chờ hay để làm ? Hãy nhận biết sự vô tự tánh và không thực tại của mọi hiện tượng giả ảo.” Mọi sự là tự do, như chúng là. Với nó có cái gì để làm đâu ?

Ở ngoài, nó là vậy ; ở trong nó cũng là vậy. Bên trong là một trò phô diễn không ngừng, như phim ảnh của namtok, những tư tưởngý niệm diễn dịch, phải thế không ? Bên trong, cái gì là nền móng cho sự phô diễn của những hiện tượng tâm thức là namtok ? Chúng đến từ đâu ? Chúng trú ngụ ở đâu một cách tạm thời và đi đâu hay tan biến ở đâu ? Chúng là cái gì ? Tư tưởng hay ý niệm là cái gì ? Hãy khảo sát điều ấy ở bên trong, quan sát tâm thức, như người ta khảo sát trò phô diễn huyễn thuật không cùng ở bên ngoài, cảnh tượng như huyễn như mộng của thế giới thoáng qua này.

Mọi tư tưởng, cảm giác, tình cảm, tri giác, xúc giác, trạng thái của tâm thức, mọi ý niệm v.v… giống như những đám mây trên bầu trời tụ hội chốc lát rồi tan rã, biến mất trong cũng không gian kia. Ích gì mà bám níu vào chúng ? Ích gì mà cố gắng xua tan chúng ? Mọi sự là sự phô diễn như huyễn như mộng kỳ diệu của tâm thức mình. Không có gì đặc biệt để làm về sự ấy, chỉ trừ nhận biết bản tánh trống không thực sự của nó, và tự do ở trong bất cứ cái gì hình như có xuất hiện. Cần thiết gì khi phê phán những tư tưởngkinh nghiệm như là tốt hay xấu, như thích hay không thích, có lợi hay bất lợi. Hãy để chúng đến và đi đúng như chúng là, không trở nên dính dáng quá mức, không đồng hóa với bất cứ cái gì, cũng không nuông chìu chúng bằng cách theo chúng cũng không đè nén hay cấm đoán chúng. Đơn giản hãy để cho mọi sự bên trong và bên ngoài khởi hiện và biến mất trong đường lối của riêng chúng, như những đám mây trên bầu trời, và hãy ở bên trên và vượt trên tất cả, ngay giữa những hoạt độngtrách nhiệm hàng ngày của mình.

Có nhiều thứ để làm trong thế giới này, nhưng chỉ có một điều người ta cần phải biết, đó là bản tánh thực sự của mình. Đấy là phương thuốc vũ trụ, món thuốc bá bệnh chữa lành mọi bệnh hoạn. Cái gì có đến, thì có đi. Tự tánh mình, hiện thể nền tảng chân thật của mình, thì vượt khỏi hay không bị ảnh hưởng bởi những vết nhơ ngoại sanh hay những hiện tượng tạm thời. Nó không đến không đi ; nó vĩnh hằng bất động. Nhận biết nó, thì tính chất siêu việt nội tại bẩm sinh được chứng nghiệm. Bấy giờ sanh tửniết bàn không trình diện hy vọng hay sợ hãi cho hành giả ; nhị nguyên thôi có thể đạt được. Không có cái gì để hướng tới, không có cái gì để trở lui.

Như Guru Rinpoche đã nói, như Tilopa và Naropa đã nói, như đại thành tựu giả Saraha đã nói, “Với những vật bên ngoài, hãy điềm nhiên không lưu tâm. Với những vật bên trong (tự thân chủ thể) hãy điềm nhiên không lưu tâm. Không nhìn thấy trống không,-ngoài cũng như trong, hãy để nó như nó là tự dolồng lộng. Chẳng phải vật bên ngoài trói buộc chúng ta, mà là sự bám chấp bên trong làm vướng mắc chúng ta.”

Đây là giáo huấn cốt lõi tinh yếu của các đại thành tựu giả Ấn Độ và những yogi thành tựu của Tây Tạng. Nó căn cứ trên những lời dạy của chính Phật Thích Ca, ngài nói rằng gốc rễ của tất cả khổ đau là sự bám chấp, luyến ái. Không có lời dạy nào hơn điều này. Đây là gốc rễ của tất cả. Đây là nguyên lý đàng sau tất cả nhiều giải thích khác nhau.

Nhục dục không nằm trong những sự vật, nó ở trong tâm thức tham muốn, trong chính sự tham muốn. Tham muốn phong gán cho những đối tượng bằng dục vọng, nhục dục, và giá trị. Mặt khác, thì cái gì là đáng tham muốn một cách tối hậu ? Mọi sự nương dựa vào tâm thức, vào sự bị quy định của mình ; cái một người tham muốnmong mỏi thì đối với người khác có thể là ghê tởm và chẳng có chút giá trị gì. Thật rõ ràng, phải không ?

Bởi thế, dù bất cứ giáo lý gì người ta đã nhận, hãy ở trong tánh Như, tánh Không lớn rộng và cái rỗng rang sáng tỏ, vượt ngoài bám níu và trụ nắm. Đây là ngưỡng cửa của kinh nghiệm về bản tánh chân thật của Đại Toàn Thiện bổn nhiên, Đại Không : vượt khỏi ý niệmcố gắng, mở ra với sự không cố gắng của tự do thật sự và hiện thể vô ngại đích thực.

Một số người có thể hiểu lầm và hỏi : Vậy thì việc gì phải phiền hà với những hành động đức hạnh và tích tập công đức hay giúp đỡ những người khác ? Tại sao phát sinh từ và bi ? Những người khác có thể nghĩ : Tại sao không tiếp tục thực hiện những hành động xấu, bởi vì trong tánh Không mọi sự đều bình đẳng ? Đây là một hiểu sai trầm trọng. Đây là một hiểm nguy, một sự trệch hướng khỏi cái thấy. Đây là chủ nghĩa hư vô, đoạn diệt, nơi vực thẳm há miệng của cái Không giả hiệu đang mời gọi.

Khi người ta chứng ngộ trạng thái tự nhiên, bản tánh tự nhiên của tất cả chúng sanh, bấy giờ tự nhiên có sự triển nở của lòng bi, lòng từ, ân cầnthiện cảm, bởi vì người ta chứng ngộ rằng không có một cái bản ngã tách rời với những người khác. Khi ấy người ta đối xử với những người khác như với chính mình. Không có nguyên nhân cho mối ác cảm, luyến bám, hay lợi dụng. Sự chứng ngộ tâm linh đích thực sẽ tự nhiên kèm theo những phẩm tính không thể nghĩ bàn như bi, từ và sự trợ giúp. Mỗi người được thấy như là chính mình, không phải một thực thể thường hằng mà là một khối kết nối những lực lượng tạm thời và bị quy định bởi nghiệp. Thế nên người ta làm vơi cạn khổ đau và khốn khổ bất kỳ khi nào chúng xuất hiện, bên trong hay bên ngoài, cho chính mình hay cho những người khác. Tại sao bạn không thể nhỉ ? Không ai muốn khổ, đúng không ?

Khi bạn chứng ngộ thật tánh của mọi sự, làm sao bạn có thể không có lòng bi tự nhiên và khó tin đối với tất cả những ai chưa chứng ngộ nó ? Tất cả chúng sanh đều ước ao hạnh phúc, tuy nhiên do vô minh, nên vẫn tiếp tục tạo thêm những khổ đau nữa cho chính mình. Một nguyên nhân quá đỗi cho lòng bi ! Chúng sanh thấy cái lợi lạcvô ích, và không biết nó. Một nguyên nhân nào hơn cho lòng bi ! Nơi nào có khổ đau và mê lầm khởi lên, lòng bi khởi lên để giải thoát và làm nhẹ cho chúng sanh sự khổ đau từ mê lầm đó. Đấy là sự tuôn trào tự nhiên của sự chứng ngộ đích thật bản tánh chân thật.

Nó cũng giống như khi người ta thấy những đứa bé chạy ra đường, người ta tự nhiên phóng ra để cứu chúng khỏi bị xe đụng. Đó không phải là một vấn đề để suy nghĩ. Đó không phải là vấn đề chúng là con của ai. Người ta chỉ tự nhiên đáp ứng. Đây được gọi là lòng bi, nhưng không phải là một lòng bi được ý niệm hóa. Nó chỉ là một hành động thích hợp, sự lành mạnh căn bản. Đây là thái độ giác ngộ tự phát, lòng bi tự nhiên, là kết quả của chứng ngộ thật sự.

Trong những giáo huấn cốt lõi tinh yếu này có nói rằng khi người ta nhận biết chân tánh, hay thấy biết khuôn mặt xưa nay của mình, ngay cả một người có khuôn mặt chó, ngay cả một người có khuôn mặt sư tử, cũng trở thành Phật ngay trong đời này. Ngay cả một người mù chữ, một người học rộng, đều trở thành Phật ngay trong đời này. Điều này nghĩa là không có những tiên quyết đặc biệt nào cho sự chứng ngộ, chỉ có một sự thấu qua toàn triệt, nó không cần dựa vào học vấn, mộ đạo, địa vị hay uy tín.

Xin chớ nghĩ chúng ta ở đây trong thế giới này một thời gian lâu. Đây là một cuộc gặp gỡ rất ngắn ngủi. Và tuy nhiên, đây là khoảnh khắc của Đại Toàn Thiện ; nó vượt khỏi sự kéo dài, siêu vượt thời giankhông gian. Chúng ta có sự tiếp xúc đầy phước đức với một giáo lý và một cơ hội để thực hành. Đấy không chỉ là hạt giống đã được gieo, bởi vì người ta có thể thực sự kinh nghiệm quả ngay lúc này. Nếu người ta thực sự đã chín muồi hay đi sâu vào thực hành, đây là khoảnh khắc ấy ; nó không phải ở tương lai. Chớ nghĩ người ta cần thời gian thêm nữa. Nó là vấn đề thực hành ngay lúc này.

Suy nghĩ về những lời dạy không nhất thiết có nghĩa là bạn phải nghiên cứu những thứ băng đĩa và sách vở đã gom góp được. Chỉ suy nghĩ về bất cứ điều gì còn đọng lại trong tâm thức từ những lời dạy này, ngay dù nó chỉ là một chủ đề hay lời nói nhỏ nhất, như vô thường, hay vô tự tánh, hay như mộng. Bởi vì thời gian thực hành không phải là thời gian để lãng phí hay đùa cợt. Người ta cũng có thể đùa cợt một cách trí thức với những nghiên cứu, những tranh luận và sách vở, chúng có thể cung cấp thích thú lớn lao, nhưng cũng chỉ là một sự xao lãng, phóng dật, chỉ là những hình thức hý luận của sự đùa cợt.

Mọi người thích không làm gì và hưởng thụ. Bản thân tôi ưa nghiên cứu hàng trăm ngàn bài kệ vinh quang của những giáo lý Đại Toàn Thiện. Tuy nhiên, nghe băng không phải là cách thức rốt ráo để chứng ngộ Đại Toàn Thiện. Đôi khi một số nghiên cứu chỉ làm tăng thêm tính diễn dịch và làm sanh thêm nghi ngờ và những câu hỏi rắc rối. Bấy giờ chúng ta có thêm nhiều thẩm xét, trong khi ngay giờ đây chúng ta có thể giải quyết tất cả những nghi ngờvấn đề có thể có chỉ bằng thực hành.

Khi chúng ta biết làm thế nào để thực sự thực hànhthiền định, không cần gì phải tìm kiếm những đường lối khác để làm và những lời dạy khác về chuyện đó. Rất thú vị có nhiều loại giáo lý khác nhau, nhưng nếu chúng ta muốn thực sự cắt đứt gốc rễ nhị nguyên, chúng ta cần áp dụng sự thực hành vào chính chúng ta ngay hiện giờ, không phải lúc nào khác trong tương lai, sau khi đã sưu tầm mọi lời dạy có thể có về chủ đề.

Tôi đã cố gắng rất khó khăn suốt toàn bộ đời tôi để nhận được mọi trao truyền và lời dạy từ hai mươi lăm vị thầy Tây Tạng giác ngộ của những dòng phái khác nhau. Nhưng thật ra, tất cả điều chúng ta cần biết là làm sao thiền định và đưa những điều ấy vào thực hành.

Nếu một ít lời khuyên chân thành này có thể làm lợi lạctỏ ra ích dụng cho bạn, thì tất cả những công sức suốt đời của tôi là có ý nghĩa. Một vài cá nhân có thể nghĩ rằng Đại Toàn Thiện chỉ là một loại ngưỡng mộ khác hay phiêu diêu ngoại lai xa lạ. Nếu có nhiều tranh luận, tỷ giảo tôn giáo, chẻ sợi tóc làm tư về triết học, và so sánh, có lẽ những cố gắng của tôi là vô ích.

Tôi mong rằng bạn hiểu điều tôi đang cố gắng nói. Hãy thực hành tốt, và lợi dụng những khoảnh khắc này và những lời dạy này. Nguồn gốc là tin vào Tam Bảo : ba cấp độ hiểu biết bên ngoài, bên trong và bí mật về Phật, Pháp, Tăng. Sùng mộ hiến dâng và lòng bi cũng có thể cực kỳ hữu ích, bởi vì chúng làm hiển lộ sự tươi mới của bản thân tánh giác, và nâng cấp sự hiển lộ lộng lẫy vinh quang của rigpa. Chớ bỏ qua tính chất trợ giúp nâng đỡ của những thực hành tương đối. Hãy dùng bất cứ thứ gì có ý nghĩathực tế khả thi cho bạn.

Không có ai khác có thể thực hành cho bạn. Nó phải thích hợp với chính bạn, không phải là một bắt chước sự thực hành của ai khác, dầu bề ngoài nó có vẻ tốt đẹp bao nhiêu. Xin hãy làm sáng tỏ những sự việc cho chính bạn, càng nhiều càng tốt. Bấy giờ mọi việc sẽ hoàn mãn.

Sarva mangalam. Nguyện mọi sự đều tốt lành !

8 Tấm Gương Kim Cương của Tỉnh Giác
Một bài ca tự phát
Dordogne, Pháp 1982
Nhóm dịch thuật Padmakara

Đảnh lễ vua thống ngự bên trong : tỉnh giác tự hữu.
Tôi là kim cương của tỉnh giác.
Hãy nhìn xem, các bạn kim cương ! Khi thấy tôi, hãy tỉnh giác.
Tôi là tấm gương của tỉnh giác,
Tôi chiếu soi sự chú tâm cẩn thận của các bạn.
Hãy nhìn cho rõ ràng từng khoảnh khắc, và thấy trực tiếp vào tinh túy tối hậu của tâm.

Tỉnh giác là gốc rễ của Pháp.
Tỉnh giác là thân của thực hành.
Tỉnh giác là pháo đài của tâm thức.
Tỉnh giác là sự giúp đỡ cho trí huệ về tánh tỉnh thức bẩm sinh.
Tỉnh giác là chỗ dựa của Mahamudra, Maha Ati, Dzogchen và Madhyamika.

Mất tỉnh giác sẽ cho phép các lực lượng xấu chiến thắng các bạn.
Không có tỉnh giác các bạn sẽ bị cuốn xa bởi biếng lười.
Mất tỉnh giác là kẻ tạo ra nghiệp xấu.
Không có tỉnh giácchánh niệm, không gì có thể thành tựu.
Mất tỉnh giác sẽ chất chồng một đống phân
Không có tỉnh giác các bạn sẽ ngủ trong một biển nước đái.

Không có tỉnh giác các bạn sẽ là một người máy không tim, một xác chết biết đi.
Các bạn đạo thân yêu, xin hãy tỉnh giác !
Bằng sự khát ngưỡng những lama linh thánh, chư Phật, chư Bồ tát và chư Tổ,
Nguyện các bạn kim cương đạt đến tỉnh giác kiên cốbước lên ngôi của tỉnh thức toàn thiện !

Vài lời này được ứng khẩu bởi con bò ngu răng vẩu, nhà sư rớt hỏng Jamyang Dorje, và cho các bạn kim cương của nó, họ được có con mắt Pháp.

Đức hạnh, hạnh phúcbình an ! Sarva mangalam !

9 Bài ca Kim Cương của Chỗ Ẩn Tu Công Viên Nai Dai Bosatsu Zendo
Living Manor, New York, 1992
David Christensen dịch

Đảnh lễ Phật nguyên sơ Samantabhadra.
Không nhận biết cảnh giới của các bậc Chiến Thắng, Pháp thân vô nhiễm sẵn đủ,
Chúng sanh lang thang trong thế giới bị nhân duyên 
quy định này,
Mắc kẹt giữa đồng bằng bao la của buồn rầu, nghiệp và 
phiền não.
Tốt hơn nhiều là hãy dừng tâm thức mệt lã của bạn.

Kye Ho ! Ôi, các bạn cực kỳ may mắn của tôi,
Đây trong chỗ tối thượng này của cõi giới tối hậu, bao la như bầu trời – long chen rabjam,
Hãy nhìn vào quang cảnh thanh tịnh diệu kỳ này.
Bên ngoài : không tạo tác, khu rừng tự nhiên này,
Được trang hoàng bằng muôn ngàn màu lốm đốm,
Cây, dây leo, lá hoa,
Mọi loài chim, nai, chồn, gà và thú hoang nô đùa,
Khi tiếng kêu du dương của muôn loài vang vọng vui tươi,
Và cơn mưa bông tuyết thoảng nhẹ từ bầu trời,
Hình dáng như hoa, cánh và những đồ vật thiêng liêng.
Trong nơi này, hoàn toàn thoát khỏi tạp âm của lảm nhảm 
thế gian vô nghĩa,
quấy nhiễu sự thực hành thiền định thanh tĩnh,
Ở trong khu rừng yên lặng tự nhiên này
Là nơi chốn tối thượng cho việc hoàn thành trí huệ và 
chánh định.
Emaho, kỳ diệu thay !

Bên trong : bản tánh vốn sẵn đủ, không tạo tác của tâm là Pháp thân,
Tự nhiên khởi lên, tự nhiên giải thoát,
Tánh sáng chói tự nhiên không ngăn ngại.
Cõi giới tâm-trí huệ bẩm sinh của Samantabhadra
Thì siêu vượt khỏi nguyên nhânđiều kiện,
Khỏi mọi sự vật, trụ trước, cố gắng và thi công chế tạo.

Tự do với mọi giới hạnthiên lệch, Phật bổn nguyên,
Tự tâm của chính mình, Samantabhadra.
Chớ tìm kiếm đâu khác ngoài chính mình, vuơng quyền tối hậu :
Rigpa, trí huệ tối thượng của tánh giác bổn nguyên,
Tâm-trí huệ tự nhiên như hư không.
Emaho !

Ở giữa : Không tạo tác, thân thể mình là một cõi Phật.
Các uẩn, các đại và môi trường giác quan
Vốn thanh tịnhtoàn thiện nguyên sơ,
Không tạo ra do đâu, mạn đà la bổn tôn như nhiên vốn sẵn.
Năm đối tượng của giác quan và những hiện tượng của sáu thức :
Bất cứ gì khởi lên chỉ phô diễn trí huệ của Lạc không tách lìa với tánh Không.

Bằng con đường mật truyền của Đại Toàn Thiện Dzogchen 
bổn nhiên,
Những bài ca và điệu nhảy kim cương và mọi thứ niềm vui sáng tạo cháy bùng,
Một tiệc cúng như biển cả của vui sướng không bờ.
Sanh tửniết bàn đồng đều được hưởng thụ trong một vị, như kinh nghiệm của Đại Lạc.

Mọi hiện tượng khác nhau dù chúng xuất hiện,
Không bao giờ lay động, dù một chút xíu, khỏi pháp giới.
Ở trong cõi giới bao la (longchen) của Pháp thân, tâm-trí huệ của Samantabhadra,
Tất cả vô cùng (rabjam) những hình tướng phong phú, dù chúng xuất hiện,
Đều toàn thiện và trọn thành trong cái nhận biết bình đẳng 
tự nhiên,
Đại Toàn Thiện bẩm sinh tự nhiên siêu xuất tâm, ý, ý thức,
Cái longchen rabjam cao cả, cõi giới vô cùng và vĩ đại.

Hàng trăm ngàn tia sáng vô nhiễm (drimé oser) của mặt trời
Tịnh hóa tự nhiên đại vô minh, bóng tối của lòng.
Tất cả sanh tử trọn toàn thiện (kunzang), tất cả niết bàn 
toàn thiện (kunzang)
Kim Cương tự khởi, bẩm sinh, đạo sư Jigme Lingpa vô úy,
Nguyện chúng ta đảm đương vương quyền tâm linh trong 
pháp thân bất động !

Bài này được viết bởi khenpo lang thang Nyoshul Jamyang Dorje, một con chó lạc khỏi xứ tuyết Tây Tạng, lúc nhập thất Đại Toàn Thiện hai tháng trên núi ở Hoa Kỳ, hướng dẫn bởi thiền giả Đại Toàn Thiện Lama Surya Das, cùng với nhiều vị thầy và bạn đạo Tây phương.

Mong rằng nó được công đức lợi lạc !

10 Bài ca Như Huyễn
Lá thơ Giáo Huấn của Khenpo Jamyang Dorje gởi cho các đệ tử
Dordoque, Pháp 1981
Nhóm dịch thuật Padmakara.

Kính lễ Guru !
Sự phản chiếu trí huệ như huyễn của Drimé Oser,
Không tách lìa với Jampel Pawo, vị cha của tất cả chư Phật,
Ngài hiển lộ trong thời thoái hóa này để dìu dắt chúng sanh đến giải thoát,
Ôi, bổn sư của con, Tenpai Nyima, ngài biết tất cả !
Bậc Pháp vương tự tại, chỉ bày bản tánh không mê vọng 
của tâm
Cho những ai vì mê lầm bị lừa gạt bỏi những hình tướng 
giả dối.

Kye Ho ! Hãy nghe cẩn thận, các bạn có phước đức,
Những con thiên nga ở trong hồ vinh hiển mùa hè của 
Phật pháp !
Cho những đệ tửanh chị em kim cương biết tôi đã lâu
Tôi gởi một lá thơ ngẫu phát để nói với các bạn tôi là thế nào, một bài ca của huyễn.
Chớ nghĩ tôi sai lầm khi tự biểu lộ công khai,
Mà hãy nghe kỹ nó, người bạn hay vui đùa của những lỗ tai hoa sen vàng của các bạn.

trong đời này tôi không có phẩm tính gì lớn lao,
Nhờ công đức của những hành động thanh tịnh đã tích tập trước kia,
Tôi đã gặp Lama không gì sánh, viên ngọc của bầu trời.
Với đức tin như một hồ sữa không vết bẩn, trắng tinh trên mặt và dưới đáy,
Tôi cố gắng phụng sự thiện tri thức của tôi, nguồn gốc của tất cả Pháp.
Và cũng như, dưới chân một ngọn núi bằng vàng quý báu,
Ngay cả một hòn đá cuội tầm thường cũng nhuộm màu rực rỡ,
Cũng thế tâm thức tôi – bị mắc bẫy trong những mạng lưới của tư tưởng lan man, bị trói buộc bởi mê vọng tầm thường,
Những dây xích sắt đâm buốt của phân biệt nhị nguyên mãnh liệt và bám chấp vào sự cứng đặc –
Đã tìm thấy sự nghỉ ngơi.
Một kẻ ăn xin, thoát ngoài hoạt động, nhàn nhã trong một trạng thái hân hoan, rỗng rang của tâm thức,
Tôi đã tiêu hủy mạng lưới của tám mối quan tâm thế gian của những hy vọngsợ hãi huyễn ảo.

Vua của Pháp, Longchen Rabjam nói,
“Những hoạt động thì không cùng, như sóng lăn tăn trên 
dòng nước,
Chúng chấm dứt khi ta bỏ chúng : đấy là bản tánh của chúng.”
Cũng thế, nhờ lòng tốt của lama dạy cho tôi sự không-hoạt động và tự-xuất hiện.
Bèn phát hiện trong tôi rằng không làm điều gì cả, mọi sự vốn viên thành.
Trước mặt không có gì tôi cần bảo vệ : là một thiền giả tôi hạnh phúc !
Đàng sau không có gì để phải duy trì : một mình, tôi vui sướng !
Tôi không có công việc gì để phải thoái thác : không có thời gian để mất, tôi an vui !
Tôi không biết đến những chương trình dài hạn : an nhàn, tôi hân hoan !
Bị chỉ trích, tôi không thất vọng : không mất tinh thần, tôi hạnh phúc !

Nhờ lòng tốt của lama ngài chỉ cho tôi con đường trung đạo 
vĩ đại,
Như Phật dạy, không đong đưa bởi những cực điểm của 
cuộc đời,
Dù tôi ngủ trong một ngôi nhà lộng lẫy bằng vàng ròng,
Tràn đầy những đống châu báu,
Tôi không cần phải kiêu căng hay cần thán phục.
Dù tôi ở trong những khu vườn bóng mát cây trái, nơi trú ngụ tuyệt hảo của người thấp kém,
Hay trong những lều cỏ,
Tôi không cần phải than trách. Tâm tôi không bị hy vọng và 
sợ hãi nắm giữ.
Nhờ lòng tốt của vị thầy dạy cho tôi sự ưu việt của Bồ đề tâm tối thượng,
Tôi nguyên vẹn tình thươnglòng tốt đối với bất kỳ ai cao sang hay thấp hèn mà tôi gặp,
Đàn ông hay đàn bà, những cha mẹ tôi từ xa xưa.
Tôi đối xử với tất cả họ như anh như chị, với tình thương 
trong lòng.
Vì điều này người ngu mê và ghen tỵthể chế giễu tôi,
Nhưng họ không thể thay đổi những tư tưởng tốt tự nhiên 
của tôi.

Đối với người trong đường phố, tôi thì vô tư và trẻ con, dù điều gì xảy ra.
“Ông ta là một kẻ lang thang không mục đích. Ông ta chẳng chú trọng gì đến giàu sang,”
Nhưng bị phóng dật do tích tập và bảo vệ cái nền tảng này của mọi sự khổ đau, hủy diệt và cãi cọ,
Người ta cắt động mạch chính của tâm đức hạnh,
đời người ta bị thổi tung xa như giấy trong gió :
Thế nên tôi không quý trọng gì thứ vũ khí này để tự giết 
chính tôi !

Nhờ lòng tốt của lama ngài dạy cho tôi rằng không phải cần bất cứ thứ gì,
Tôi không hy vọng giải cơn khát với dòng nước ảo ảnh của tám mối quan tâm thế gian.
Bởi vì khen và chê đầy thành kiến đều như tiếng vang của 
âm thanh,
tâm thức con người giống như những tia mặt trời trên một đỉnh núi tuyết,
Không mong đợi gì từ ai, tôi không trói buộc với một đoàn 
tùy tùng.
Tôi không tìm cách nắm bắt những sắc màu của cầu vồng do không hiểu bản chất của nó,
Và dù những người khác có không thích tôi, tâm tôi hạnh phúc.
Nhờ lòng tốt của lama người giới thiệu tôi vào cái lạc trí huệ của giai đoạn thành tựu,
Tôi dùng sự nâng đỡ của phối ngẫu trí huệ, sứ giả của phương tiện thiện xảo :
Mùi vị của đại lạc, sữa vắt từ con bò của trời cao,
Đóng dấu ấn những uẩn, các đại, các thức giác quan và tất cả mọi sự, thế giớichúng sanh,
Và mọi hình tướng khởi lên như là ấn của đại lạc.
Hạnh phúc thay, tôi, một thiền giả hưởng thụ bốn niềm vui của đại lạc !
Nhờ lòng tốt của lama ngài giới thiệu tôi vào “tất cả mọi sự đều như huyễn,”
Hình tướng được phát hiện là không ngăn ngại và bốc hơi trong bánh xe không ngừng của huyễn hóa,
Âm thanh như những nốt nhạc trong sáng và không sanh của một tiếng vang,
Và những tư tưởng lan man vô mục đích khởi lên tự chính chúng, phân tán và tan biến như mây.
Key Ho ! Hỡi các bạn ! Hãy nhìn vào trò trình diễn kỳ diệu này !
Trong đồng bằng của bản tánh tuyệt đối, từ khởi thủy, vượt khỏi trói buộctự do,
Đứa con của người đàn bà vô sinh cỡi con voi của huyễn,
Đầu nó trang hoàng bằng hoa trời, đến đây nhảy múa và 
hát ca !
Có ai áp đặt mô thức của những lý thuyết của tư tưởng diễn dịch
Lên thế giới hiện tượng, sự khiêu vũ bày lộ của Pháp thân vua ?
Kỳ diệu làm sao trò trình diễn như huyễn này của sanh tửniết bàn !
Khi vị thầy tốt lòng đưa tôi vào bản tánh tuyệt đối như huyễn tuyên bố,
“Trong hư không-trí huệ bổn nhiên, không bụi bặm, trong sạch và toàn khắp,
Sự chứng ngộ thân tuyệt đối không thiên lệch thì thoát khỏi rơi vào những biên kiến.
Ích lợisự thiền định bám vào thực tại cụ thể và những hy vọng cùng sợ hãi ?”
Dù nếu người ta vẫn bình thường, không thiền định, có gì là mê lầm ?
Kỳ diệu biết bao thiền như hư không của sự không làm của bản tánh tuyệt đối !
Người non nớt, bám vào thực tại cụ thể, huênh hoang đã làm nhiều thứ ở nơi không có gì để làm.
Họ như con nai khát cố gắng chạy đến dòng nước trong ảo ảnh.
Những tạo vật mê mờ đáng thương, bị hành hạ bởi mệt mỏi 
vô ích !
Nhờ lòng tốt của thầy ngài chỉ cho tôi hình tướngviệc làmhuyễn ảo,
Khi vô số ánh sáng sắc màu của sanh tửniết bàn,
Trò chơi vô ngại và tự chiếu sáng của trí huệ của hư không tuyệt đối,
Khởi lên trong xứ sở của huyễn như trò chơi của huyễn,
Thiền giả như huyễn đạt đến lãnh vực tự thành của huyễn.
Nó biết làm gì với những hình tướng xuất hiện như mộng như huyễn này,
Trống không, rỗng lặng và không tự tánh, như lõi tre,
Những sắc tướng không thể chất như mặt trăng trong nước, như hoa đốm giữa không trung ?

Nhờ lòng tốt của thầy ngài phát hiện mọi hình tướng đều 
như huyễn,
Đám sương mù của phán xét lan man của phân tích trí thức
Và sự hấp dẫn mãnh liệt với những sự vật như huyễn, tan biến trong vốn tự giải thoát,
Trong hư không tuyệt đối, nó vốn không sanh, vượt khỏi tư tưởngbiểu lộ.
Không còn nữa sự ràng buộc của hy vọngsợ hãi !
Không còn nữa sự ràng buộc của lấy và bỏ !
Ema ! Hãy nghe kỹ, các bạn thân yêu !
Dầu tôi không khôn ngoan không thông thái, đây là điều 
tôi nghĩ :
Trong thực chất, khi thiền giả như huyễn đã cạn kiệt hết chấp nhận và từ chối,
Sanh tửniết bàn khởi lên như một trò như huyễn.
Thực vậy, điều này chính là quả, thoát hết mọi che chướng.
Ngoài điều ấy, tri thứchiểu biết vĩ đại có ích gì ?
Nhờ lòng tốt của thầy, vị bảo vệ vinh quang không gì sánh, ngài nói tất cả những điều này,
Tôi đã nhận di sản là những giáo huấn của Longchen Rabjam,
Nó không thể đánh giá theo vàng và ngọc.
Dù tôi nghĩ tôi có thể chỉ ra, trong cách thức thuần túy 
trí thức này,
Sự thấu hiểu tinh túy tâm yếu của hư không sáng ngời và 
tuyệt đối,
Tôi đã không có được chút kinh nghiệm nào về nó, cũng không nói đến bất kỳ chứng ngộ nào.
Nếu tôi đã làm những điều lầm lỗi, tôi sám hối chúng với những bổn tôn và những vị thầy.

Như bậc vua của thế giới, Drimé Oser, nói,
“Hỡi các đệ tử và các anh chị em kim cương từng biết tôi,
Giờ đây, khi các bạn có điểm nương tựa là viên ngọc như ý cùng tự do và đầy đủ,
Phật pháp sáng ngời như một núi tuyết rực rỡ trẻ trung,
Tất cả các bạn, như sư tử con thời niên thiếu
Hãy theo đức Phật, sư tử giữa loài người !
Sau khi đưa những kinh nghiệm và sự chứng ngộ đến chỗ 
viên mãn,
Các bạn sẽ sớm đạt đến vương quốc của pháp giới tuyệt đối 
an lạc !”
Dầu cho tôi, một kẻ làm điều xấu đáng vào địa ngục một 
ngày kia,
Tôi cũng chắc chắnmay mắn được lama kính yêu giải thoát,
Và tôi mong muốn và cầu nguyện rằng vào lúc đó tất cả chúng sanh từng có một tiếp xúc với tôi
Được vui hưởng giác ngộ không gì vượt hơn
Trong cõi Phật hoa sen xanh đẹp đẽ của Như Lai.
Cho đến lúc ấy tôi cầu nguyện rằng do năng lực của nghiệp tương đối,
Anh chị em kim cương chúng ta gặp nhau hoài mãi,
Và hưởng thụ giáobí mật của vị thầy toàn giác Longchenpa,
Rượu thiêng của kho tàng tâm yếu của quang minh.
Hơn nữa, cho các bạn chư tăng ni, xứng đáng với sự tôn thờ của người và trời,
Tôi dâng cúng một đóa hoa sen trắng và một lời cầu nguyện :
Nguyện bàn chân hoa sen của các vị ở lại cho vô số kiếp,
Và nguyện vô cùng tia sáng của giáo lý và sự thực hành của Pháp
tỏa sáng khắp trăm phương.

Dù tánh giác tự tri, vua làm ra tất cả, thì vượt khỏi chuyển động và cố gắng,
Những lời này, những kẻ thành thật mang những tin tức 
của tôi,
Là sự tự biểu lộ của tánh giác, khúc ca nhảy múa của đứa trẻ của tâm :
Chúng đến từ cung điện chiếc lều đỏ sâu thẳm trong lồng ngực,(1)
Trong đô thị vĩ đại núi non của thân,
Qua lối đường bí mật của luân xa hân hoan mười sáu cánh,(2)
Gởi đi trên con đường của giấy trắng đến hoa mắt như một 
núi tuyết,
Đến tu viện Namling Shedrup trong Rừng Trầm.(3)

11 Một Bài Ca Ngẫu Phát cho Damchư Zangmo : 
Tâm Yếu Thiêng Liêng của Những Giáo Huấn Cốt Lõi
Lời khuyên dạy trong hình thức một bài ca, cho Damchư Zangmo
Dịch bởi Surya Das, David Christensen,
và Corinna Chung, 1986

Tôn kính đến đạo Sư.

Đến hiện thân của vua Pháp, Longchen Rabjam,
Đến chúa tể những bộ Phật, Shedrub Tenpai Nyima,(4)
Đến hai đại terton(5) không ai sánh, những lama khác, và hai mươi lăm vị dẫn đường tâm linh tối thượng của con,

Con xin tôn kính lễ lạy.

Lời khuyên này gởi đến Damchoš Zangmo và những người bạn lòng khác, và những đệ tử đã nương dựa vào tôi.

I
Trong cuộc đời này chúng ta đã có được một thân người bẩm chất tốt đẹp, tự dorực rỡ,
Đã gặp một vị thầy tối thượng, chân chánh,
Và đã nhận những giáo huấn cam lồ của sự trao truyền qua tai.
Vào lúc này, không để cho ba cửa(6) của chúng ta thờ ơ
Hãy thực hành để thành tựu giác ngộ theo đường lối sau đây : 
Trước tiên, với năm tri giác(7) về vị thầy như là Phật và v.v…
Ở trên đỉnh đầu hay trong tim mình,
Hãy quán tưởng lama, bậc chúa tể của Pháp, tốt lòng, không 
gì sánh,
Với sùng mộ nhiệt thành đủ làm cho tóc bạn rung động,
Cầu nguyện với lời du dương, khao khát, 
Và rồi nhận bốn quán đảnh truyền pháp, hòa hợp tâm bạn với tâm ngài.
Tất cả vô số sadhana của chư Phật Chiến Thắng,
Nếu cô đọng lại, đều là guru yoga, có nói như thế.
Trong mọi bí mật vĩ đại, những kinh và tantra rốt ráo,
đặc biệt những tantra Dzogchen, 
“Phương pháp của Viên Ngọc Tất Cả Hiện Thân” này được 
tán dương bậc nhất.
Bởi thế, chúng ta nên nương vào một vị thầy kính yêu như nương dựa vào chính trái tim mình,
Ngài điềm tỉnh, điều ngựhoàn toàn bình an,
Với những phẩm tính đức hạnh cao cả và giàu có hiểu biết.
Nếu chúng ta không quy y vào sự hiện thân quý báu này của mọi quy y,
Sẽ không thể đạt đến giác ngộ
Làm sao một người mù có thể du hành không có người 
hướng dẫn ?
Bởi thế, hãy cầu nguyện liên tục người hướng dẫn vĩ đại đưa đến giải thoát,
Hỡi những bạn lòng của ta.
Quy y là nền tảng của Pháp
Không có nó, không thể đi vào ngôi nhà giải thoát.
Xem vị thầy như bạn đồng hành của chúng ta trên con đường,
Do có ba niềm tin,(8) người ta cần luôn luôn kêu gọi đến quy y.
Những bạn lòng, chớ hiểu lầm căn bản của Pháp thiêng liêng !
Nếu chúng ta mất chánh niệm, chúng ta sẽ bị hủy hoại,
Bởi những quỷ ma trộm cướp.
Tất cả vô số hành động tốt lành trong đời này và những đời sau
Được hoàn thành qua chánh niệm,
Thế nên luôn luôn nhớ sự hiện diện tỉnh giác của tâm, 
Các bạn lòng của ta !

Đường ra khỏi vòng sanh tử này,
Cửa vào vĩ đại của con đường giải thoát,
Và bước sơ khởi cho mọi thực hành Pháp,
Là riêng sự từ bỏ đích thật, có nói như vậy.
Thế nên hãy suy nghĩ sâu xa về sự từ bỏ,
Các bạn lòng của ta !

Suốt thời tuổi nhỏ, xao lãng bởi ham chơi ;
Thời thanh niên, thân thể tuổi trẻ xao lãng bởi dục tình ;
Tóc bạc và đầy nếp nhăn, gần với cái chết :
Đời người này trôi qua vô ích, những bạn lòng của ta !

Trong thế giới này, mỗi phút thời gian
Ngày và đêm, mỗi khoảnh khắc phóng qua.
Những ai đang sanh ra, những ai đang chết,
Những ai hạnh phúc, và những ai khốn khổ
Những ai đang kêu khóc, những ai đang cười vui… :
Thấy mọi sự vô thường như một tia chớp,
Thật đáng buồn khi vẫn lơ là không quan tâm,
Như thể bạn đã đạt được năng lực của đời sống kim cương
Và -sẽ sống đến ngày Phật Di Lạc thị hiện ra đời
Thế nên chớ dửng dưng, những bạn lòng của ta !

Bản chất của mọi sự là như huyễn và chóng vánh.
Những người với tri giác nhị nguyên nhìn khổ đau như là 
hạnh phúc,
Như những người liếm mật trên lưỡi dao cạo.
Đáng thương biết bao, những người bám chấp nặng nề vào thực tại cụ thể !
Hãy xoay sự chú ý của bạn vào bên trong, những bạn lòng 
của ta !

Khi bạn hạnh phúc, mọi sự có vẻ rất đáng ưa,
Khi không thế, tất cả đều đe dọabức bách,
Những tâm trạng con người giống như những khoảng sáng và tối trên dãy núi.
Không có ai để nương vào trong thời này,
Thế nên hãy chỉ ngón tay vào chính mình hỡi các bạn lòng !
Cuộc đời làm người tự do và phú bẩm này giống như một viên ngọc như ý,
Chớ trở về tay không từ hòn đảo châu báu này,
Hỡi các bạn lòng của ta !

Ở đây trong thành phố lớn của sáu nẻo chúng sanh,
Giống như một hòn đảo của quỷ hay một ổ rắn độc,
Hay một hố than hừng nhức nhối,
Hãy xem biết bao khổ đau thường trực bức bách, các bạn lòng của ta !
Cả sinh lựcđời người đổ ào như nước của một thác dốc 
trên núi,
Vô thường nhanh chóng đi đến, những bạn lòng của ta.
Ba cõi của sanh tử giống như ngục tù không thể trốn thoát,
Thế nên chớ bám luyến quá độ vào vòng sanh tử,
Hỡi các bạn lòng của ta !

Nương dựa vào những bạn bè thất thường thì giống như đuổi bắt những cầu vồng :

Khi bạn cần họ, họ không giúp đỡ, các bạn lòng của ta.
Mọi hiện tượng hợp tạo như chớp nhoáng trên bầu trời,
Thế nên chớ nương dựa vào cái gì, các bạn lòng của ta.
Gia đình người ta thì chóng qua như du khách đến chợ,
Thế nên chớ cãi vã và oán giận đối với họ, các bạn lòng của ta !

Của cải thì phù du, như sương trên cỏ,
Thế nên hãy rộng lượng cho đi với những nguyên nhân tâm linh, những bạn lòng của ta.
Điều duy nhất lợi lạc là Pháp cao cả, thiêng liêng,
Thế nên chớ làm cho mình ngu muội, những bạn lòng của ta !
Sự nương dựa trường cửu là một vị thầy đích thực,
Thế nên chớ đạo đức giả với samaya của mình, các bạn lòng của ta !

Nếu bạn cắt đứt đầu, thân thể không thể làm gì được cả,
Nếu bạn làm hỏng samaya của mình, bạn sẽ không thành tựu mục đích của Pháp.
Bởi thế, bằng thường trực duy trì sự cảnh giác, tỉnh giácthận trọng
Hãy bảo vệ samaya của bạn, các bạn lòng của ta.
Nếu người ta thanh tịnh bên trong, tất cả sẽ thanh tịnh 
bên ngoài,
Thế nên hãy có cái nhìn thanh tịnh về mọi sự vật, các bạn lòng của ta !
Cánh đồng tối thượng của công đức và những gương mẫu của đường lối, là Tăng già hướng dẫn,
Thế nên chớ rơi vào quan điểm sai lầm và phê phán, các bạn lòng của ta. 
Dầu cho một đệ tử của Phật có trở nên bất toàn thế nào,
Một trăm người thường còn không bì nổi với người ấy,
Thế nên hãy luôn luôn phụng sựkính trọng họ, các bạn lòng của ta !

Bởi vì bạn không biết những ai cao cả về tâm linh,
Chớ túm bắt trong bóng tối như một người mù, những bạn lòng của ta.
Vì bạn không biết những thiền giả ẩn dạng họ ở nơi nào,
Bạn phải kính trọng tất cả, những bạn lòng của ta !

Từ một hành động tốt nhỏ, một lợi lạc lớn lao sẽ khởi sanh,
Thế nên chớ nên khinh thường những hành động đơn giản, những bạn lòng của ta !
Bất kỳ ai, chỉ nghe danh hiệu Phật,
Dù chỉ đưa một tay lên với tâm thành kính,
Là đã trồng hạt giống của giác ngộ viên mãn, có nói như vậy,
Thế nên chớ lầm lỗi, những bạn lòng của ta !

Nếu chúng ta không biết vị thầy khi ngài có mặt,
Và rồi cầu nguyện đến ngài từ xa, thế là quá chậm trễ.
Khi chúng ta có một lama mà không thiền định về những giáo huấn cốt lõi của ngài,
Để rồi lạc hướng trong những tư tưởng vô tích sự sau đó, những bạn lòng của ta.
Nếu bạn không thành tựu Pháp thiêng liêng trong đời này,
Trong những đời tới sẽ là khó khăn, hỡi các bạn lòng của ta !

Ôi, tất cả chúng sanh vô minh lang thang của ba cõi
Lưu chuyển giữa những răng nanh của quỷ dữ vô thường 
sanh tử,
Nhưng họ không thấu hiểu điều này.-than ôi !
Ngày mai hay chiều nay, ai biết được khi nào cái chết sẽ đến ? 
Vậy mà không ai lo âu về chuyện đó,
Vẫn lơ là và tự mãn triền miên.
Ôi, đáng thương thay chúng sanh tự lừa dối mình như thế nào !

Ngày mai hay cuộc đời tới của bạn,
Ai biết cái gì sẽ đến trước tiên ?
Nếu bạn không giữ những giáo huấn cốt lõi của lama trong tâm,
Bạn sẽ chỉ tự lừa lấy mình, các bạn lòng của ta !

Hãy xoay sự chú ý vào bên trong, hãy thẩm xét tỉ mỉ 
chính mình,
đảm đương cái có ý nghĩa, những người gọi là bạn lòng 
của ta.
Cấp bách, cấp bách, hãy thực hành Pháp siêu việt, và chớ ngó đến tương lai,
Hãy thực hành ngay lúc này Pháp cao cả, các bạn lòng của ta.

II

Cánh cổng của Pháp là sự từ bỏ,
Thế nên Damchoš Zangmo, mối liên hệ trong nghiệp quả,
Hãy nghe một lần nữa, bạn lòng của ta.

Đức Phật Longchen Rabjam đã nói,
“Tất cả những giáo lý của chư Phật được cô đọng
Trong những giáo huấn cốt lõi về sự áp dụng thực hành ba cái tuyệt hảo”
Những thực hành mở đầu, phần chánh và kết luận,
Chúng là sinh lực thật sự của con đường.
Thế nên cách thực hành những cái ấy là như sau :

Nếu chúng có mặt, đủ cho sự thành tựu Phật tánh,
Nếu chúng vắng mặt, sẽ không có cách nào thành tựu giác ngộ.
Chúng là hạt giống không thể thiếu để thành tựu Phật tánh.

Bồ đề tâm thanh tịnh và quý giá tối thượng,
Không giả tạo, phải khởi ra trong hiện thể của bạn,
Không có cái này, không có cách gì đạt được Phật tánh.
Thế nên trước hết, sự chuẩn bị tuyệt hảo của việc phát sinh tâm vị tha của giác ngộ là quan trọng.

Trong tất cả chúng sanh trong vũ trụ,
Không ai chưa từng là cha mẹ của bạn,
Nhờ lòng tốt bao la của họ, họ đã tạo thành thân thể bạn,
Cho bạn đời sốngtài sản,
Và chỉ cho chúng ta những đường lối của cuộc đời.

Dù họ chỉ ước mong hạnh phúc,
Họ giống như người mù không có bạn dẫn dắt.
Vì tất cả chúng sanh bị hành hạ trong vòng sanh tử không thể chịu đựng này,
Hãy thành tựu bình an trường cửu, giác ngộ không gì vượt hơn,
Được thúc đẩy bởi mục tiêu vị tha lợi lạc trong cả hai 
phương diện,(9)
Bạn cần phát sanh tâm tối thượng, ý định đạt được giác ngộ viên mãn.

Bồ đề tâm này là viên ngọc như ý đầy đủ tất cả,
Nó là nền tảng của mọi giáo lý rộng rãisâu xa,
Nó là tâm điểm của mọi con đường kinh điển và tantra.

Một phương diện của bản chất hai chân lý
Là cấp độ tương đối, chủ đề chính của tất cả thực hành,
Vua của mọi phương tiện tối thượng.
Không có cái này, không có cách gì để thành tựu Phật tánh.
Nếu bạn thiếu phương tiện hoặc trí huệ 
Làm sao con đường được hoàn thành ?

Trong hai con đường tối thượng, cái thứ nhất
Con đường của những phương tiện thiện xảo được ca ngợi.
Để cho sự chuẩn bị trên con đường, hãy phát Bồ đề tâm.
“Cái này có những lợi lạc không thể đo đếm,” Đức Di Lạc toàn giác đã nói thế với Norzang.

Bồ đề tâm giống như mặt trăng loại trừ bóng tối. 
Bồ đề tâm giống như mặt trời chiếu sáng khắp nơi.
Bồ đề tâm bảo vệ khỏi những khủng khiếp của sanh tử.
Bồ đề tâm đẩy lùi những chướng ngại của bốn ma.(10)
Bồ đề tâm trừ khử cơn sốt của năm độc.(11)
Bồ đề tâm hoạt động như con ngựa giống của tinh tấn.
Bồ đề tâm là áo giáp cứng cáp của nhẫn nhục.

Bồ đề tâm thải trừ mọi sa đọa đạo đức.
Bồ đề tâm nâng đỡ sự thành tựu chú định.
Bồ đề tâm làm nảy sinh thanh tĩnh.
Bồ đề tâm làm trí huệ tối thượng khởi lên trong tâm.
Bồ đề tâm hoàn thiện những tích tập lớn lao của công đức.
Bồ đề tâm đưa đến cái thấy tánh Không.
Khi Bồ đề tâm hiện diện, mặt trăng của những phương tiện thiện xảo mọc lên.
Nếu bạn thiền định về Bồ đề tâm, mặt trời của quán chiếu thấu suốt sẽ rõ ràng.
Nếu bạn thiền định về Bồ đề tâm, tánh giác nguyên sơ hiển lộ tròn vẹn.
Bởi Bồ đề tâm, lợi lạc của những người khác khởi lên không 
cố gắng.
Qua Bồ đề tâm, những phẩm tính của mười địa bồ tát được hoàn thành.
Tất cả mọi phẩm tính tương đối và một trăm mười hai thứ tự do 
Của những đại Bồ tát ở địa thứ nhất,
Cho đến vô số, không thể diễn tả, không thể đo đếm 
Những huệ nhãn, thiên nhãn, thần thông vân vân,
Cũng như ba mươi hai tướng chánh và tám mươi tướng phụ
Của -vô số thân vàng ròng của chư Như Lai
Tất cả những phẩm tính giác ngộ này khởi lên từ sự tích tập phước đức,
Đều nảy sanh từ năng lực của Bồ đề tâm tối thượng, không 
gì sánh.

Bồ đề tâm hàng phục con quỷ chấp ngã
Bồ đề tâm giải thoát khỏi tù đày của sanh tử.
Bồ đề tâm làm bốc hơi đại dương khổ đau.
Bồ đề tâm làm bình đẳng khổ đau và hạnh phúc.

Bồ đề tâm giống như một cận vệ gan dạ
Bồ đề tâm giống như ngọn lửa lớn vào thời kết thúc của 
một kiếp.
Bồ đề tâm giống như trái tốt nhất của một cây thần diệu.
Bồ đề tâm mở cánh cửa vào kho tàng của vị tha.

Thiếu Bồ đề tâm sâu xatối thượng như thế,
Giống như Ram đầy thần lực, người ở trong rừng mười hai năm
Nhưng đã bị thúc đẩy bởi bám chấp để chiến đấu với những địch thủ của mình.
Hay giống như Gelong Thongpa, dù có thể bay tự do trên trời
Nhờ đã làm chủ năng lựctâm thức, lại bắt đầu một cuộc chiến đấu.
Lỗi lầm là không có Bồ đề tâm không gì có thể sánh.
Ngay cả chính Brahma (Phạm Thiên) sau khi đạt được phúc lạc vô dục
Sẽ trở thành một khúc củi cháy trong địa ngục A tỳ,
Và Indra (Đế Thích), dù được tôn thờ bởi toàn thể thế giới,
Do sức mạnh của nghiệp sẽ rơi trở lại xuống mặt đất.
Không có núi chúa Bồ đề tâmlỗi lầm.

Trong thế giới này nhiều người được ca ngợi là hàng cao 
cấp nhất,
Như vua chúa, tướng lãnh, thủ tướng và tổng thống,
Cuối cùng cũng tự hủy hoại mình và những người khác.
Lỗi lầm do thiếu gốc rễ Bồ đề tâm

Vô số Thanh văn, Bích Chi Phật, và những người cao cả khác
Có hai trăm năm mươi lời nguyện giới đức thanh tịnh.
Nhưng dù được trang hoàng bởi ba sự tu học,(12) những thực hành liên quan, kinh nghiệmchứng ngộ,
Không có Bồ đề tâm, gốc của tất cả Pháp,
Đôi khi, chỉ giải thoát cho chính mình, họ ở lại trong bình an vĩ đại.

Trong tất cả những phần bao la của Phật pháp,
Bồ đề tâm là tinh yếu cốt lõi,
Bồ đề tâm trừ khử sự tổn hại của ba cõi thấp.
Bồ đề tâm phát hiện con đường tối thượng của giải thoát.

“Nếu thiền giả có Bồ đề tâm,
Ngay dù ông ta không hoàn thành công đức nào qua thân 
và ngữ,
Ông ta cũng không lạc khỏi con đường giải thoát.”
Chokyi Wangpo(13) người thông thạo năm khoa học đã nói 
như thế.

“Năm tội ác kinh khủng nhất và vân vân, mọi hành động xấu lớn lao,
Sẽ bị Bồ đề tâm vô địch áp đảo,
Và mọi tội lỗi nhỏ hơn cũng sẽ được trừ sạch”
Đại phápẤn Độ Shantideva đã nói như vậy.

“Người nào ở trong Bồ đề tâm tối thượng,
Cuộc đời họ sẽ được xem là một khu vườn thích thú,
thành công hay ngay cả cơ cực,
Những thống khổ của các cõi thấp không còn đe dọa”
Đức Di Lặc đã nêu trong Sutra-alamkara.

Tóm tắt, Bồ đề tâm quý báu không gì sánh
Là tâm cốt của tất cả chư Phật ba đời.
Vì không có nó không có cách nào thành tựu giác ngộ,
Nó là gốc rễ đích thực của con đường
Của kinh điển, tantra và những giáo huấn cốt lõi.
Sự thực hành chuẩn bị tuyệt hảo phát Bồ đề tâm này
Được ca ngợi bằng một giọng bởi tất cả triệu triệu bậc thánh trong quá khứ.
Nó không nên trở thành chỉ là hiểu biết trí thức,
Mà phải được suy nghĩ lập đi lập lại,
kết hợp với con người của bạn, hỡi các bạn lòng của ta !

Chớ hãy tu hành Bồ đề tâm.-phóng dật, chớ phóng dật
Chớ hãy tu hành Bồ đề tâm.-lầm lỗi, chớ lầm lỗi
Chớ hãy tu hành Bồ đề tâm.-đi lạc, chớ đi lạc
Nếu nền tảng Bồ đề tâm không vững chắc,
Những giáo huấn cốt lõi cực kỳ sâu xa và chánh yếu của hai giai đoạn sáng tạothành tựu,
Và những thực hành khác, sẽ khó viên thành.
Bởi thế sự phát sanh sơ khởi của Bồ đề tâm là điểm bắt đầu của con đường.

III

Hãy nghe nữa các bạn lòng của ta !
Thứ hai là cái tuyệt hảo của sự thực hành chính yếu vô niệm,
Những tri kiến sâu xa của Mahamudra, Mahasandhi và 
Trung Đạo.
Không có cái này, mọi thực hành đều không có bản chất, như chỉ là một phản chiếu,
Như người mù không người dẫn dắt, có nói như thế.

Phương diện bổ túc của phương tiệntrí huệ ; con đường thiêng liêng này
Là sự thực hành tánh Không, chân lý tuyệt đối.
Người nào không nỗ lực thực hành điều ấy,
Làm sao người ấy có thể bay với chỉ một cánh trong hai cánh phương tiệntrí huệ ?
Bởi thế, thực hành chính yếu vô niệm tuyệt hảo là quan trọng.

Mọi ý niệm nền tảng bị cắt đứt bởi Trung Đạo ;
Giáo huấn cốt lõi của con đường là Đại Ấn ;
Kết quả tối hậuĐại Toàn Thiện.
Hỡi Damchoš Zangmo liên hệ duyên nghiệp của ta, 
Đây là cách thức thiền định về những thực hành này :

Không như một con bướm chấp chới trong bầu trời,
Mà nhờ những giáo huấn cốt lõi, Giống Như Chim Garuda Vĩ Đại Bay Vút Trong Không Gian,
Hãy hùng dũng cắt đứt mọi giới hạn bằng cái thấy thống trị trùm khắp.

Không phải với những cố gắng của những người ngu si ngoan cố,
Mà nhờ những giáo huấn cốt lõi, Ba Vòng của Pháp Tánh của Ba Điểm Chính Yếu,
Hãy an lập cái thiền định toàn quyền, bản tánh vốn sẵn của chính mình.

Không phải nhờ hoạt động phù phiếm, ngu ngốc,
Mà nhờ những giáo huấn cốt lõi của Đạt Đến Vị Bình Đẳng Bao La
Hãy làm bình đẳng nhất như những mùi vị của sanh tửniết bàn với hoạt động thông suốt thống nhiếp.

Không như ánh sáng của một con đôm đốm,
Mà nhờ những giáo huấn cốt lõi của Mặt TrờiMặt Trăng Không Khuyết và Không Che Ám,
Hãy rõ biết tánh Giác bổn nhiên, kết quả thống nhiếp.

Lại hãy nghe, các bạn lòng của ta ! 

Tâm yếu của chư Phật Chiến Thắng của ba đời,
Cái bí mật nhất của Kho Tàng Bí Mật Vĩ Đại của Những Dakini,
Ánh sáng tinh chất nhất của Mười Bảy Tantra về Quang Minh,
Tinh túy chính yếu của Một Trăm Mười Chín Giáo Huấn 
Cốt Lõi,
Điểm cô đọng thiết yếu nhất trong mọi điểm thiết yếu,
Là Kho Tàng Của Những Giáo Huấn Cốt Lõi Dòng Truyền Tai của Phật toàn hảo Drimé Oser :(14) 

Giáo Huấn Cốt Lõi của sự Làm Vỡ Tan Vỏ Bọc Vô Minh.
Giáo Huấn Cốt Lõi của sự Cắt Đứt Mạng Lưới Mê Lầm.
Giáo Huấn Cốt Lõi của Bình Đẳng như Hư Không.
Giáo Huấn Cốt Lõi Phá Hủy Căn Lều của Nhị Nguyên 
Phân Biệt
Giáo Huấn Cốt Lõi Chỉ Bày Sự Phân Biệt giữa Sanh TửNiết Bàn.
Giáo Huấn Cốt Lõi Chỉ Bày Tức Thời Tánh Giác Vốn Sẵn.
Giáo Huấn Cốt Lõi Tinh Chất Hóa Một Trăm Điểm Thiết Yếu.
Giáo Huấn Cốt Lõi Soi Sáng Cách Thức Duy Trì Các Kinh Nghiệm Thiền Định.
Giáo Huấn Cốt Lõi Phát Hiện Cái Biết Đơn Nhất Giải Thoát cho Tất Cả.
Chu Trình của người Bà La Môn Phân Biện Với Sự Xác Quyết Đế Vương.
Giáo Huấn Cốt Lõi Hiện Tiền Phát Lộ Giải Thoát Tự Nhiên…

Những cái này không nên chỉ là lý thuyết.
Hơn nữa, hãy đâm thủng lõi của mê lầm tương tục của vô minh
Với nghĩa căn cốt của ba lời sắc sảo.

Lại hãy nghe, các bạn lòng của ta !
Chớ thi thiết, chớ thi thiết, chớ làm biến đổi tâm bạn, 
Khi đi vào tạo tác và sửa sang,
Tâm sẽ bị quấy nhiễu,
trạng thái giả tạo này của tâm
Sẽ che ám trái tim của sự việc.
Tâm tự nó, tự do với tạo tác, là khuôn mặt bổn nguyên, đích thực của mình.
Hãy nhìn thẳng trần trụi vào bản tánh vốn sẵn này, không biến đổi,
Hộ trì dòng thiền định,
Tự do với tạp chất do giả tạo.

Mọi pháp được chứa đựng trong cái vô cùng của sanh tử và 
niết bàn,
Một cái là toàn thiện, hai cái là toàn thiện,
Tất cả đều toàn thiện trong tâm :
Hãy an trụ trong trạng thái bổn nhiên của tâm, Đại Toàn Thiện.
Một cái là giải thoát, hai cái là giải thoát,
Tất cả đều giải thoát trong địa vị của chúng :
Hãy an trụ trong trạng thái vốn giải thoát tự nhiên, Đại Toàn Thiện.

Thoát khỏi phóng tưởng, thoát khỏi bám chấp, thoát khỏi thiền định, vượt khỏi trí thức :
Hãy an trụ trong trạng thái vượt khỏi tâm, ý, ý thức, Đại Toàn Thiện.
Vô ngã, vô sanh, tự do với biên kiến, không thể diễn tả :
Hãy an trụ trong bản tánh bất khả tư nghì, Đại Toàn Thiện.

Hiện diện nguyên sơ, xảy ra tự nhiên, tất cả đều toàn thiện 
tự nhiên :
Hãy an trụ trong tính bình đẳng tự nhiên của Đại Toàn Thiện.
Chân thật bình đẳng, thanh tịnh bình đẳng, tất cả là bình đẳng :
Hãy an trụ trong tính bình đẳng của Đại Toàn Thiện.
Toàn khắp, pháp tánh rỗng rang, bầu trời lồng lộng :
Hãy an trụ trong trạng thái của Đại Toàn Thiện, bao la như 
hư không.
Tự do với chuồng cũi của biến đổi, tác nhân của biến đổi, và tất cả thứ gì biến đổi,
Hãy an trụ trong trạng thái của tánh tự nhiên không thi thiết vĩ đại.
An trụ không thi thiết, bạn sẽ gặp bổn tâm tự hữu.
An trụ trong không-thiền định, bạn sẽ thành tựu một cách tự nhiên Phật tánh vốn sẵn đủ.
Trong cảnh giới Không của trí huệ giác tánh bẩm sinh,
Hãy an trụ trong trạng thái của Phổ Hiền (Kuntuzangpo)(15) 
tự hữu. 

Bồ đề tâm tuyệt đối thì thanh tịnh như bầu trời,
Mặt trời trí huệ của tánh giác bẩm sinh lộ rõ nguyên sơ,
Phổ Hiền hiện diện tự khởi một cách bổn nguyên.
Bạn có thể nghĩ nó là vĩnh cửu, nhưng không phải,
Bạn có thể thấy nó như không hiện hữu, nhưng không phải,
Cũng như thế đối với vừa có vừa không và không có 
không không…
Bản tánh của tâm không khác biệt, thống nhất, như bầu trời.
Những tâm trí non nớt nghi ngờ chúng sai hay không sai.

Thanh -tịnh từ vô thủy, là ý nghĩa của Pháp thân vĩ đại
Phân tích nó bằng những tiến trình tri thức,
Thì dù chúng tatìm kiếm
Hết cả một đại kiếp, chúng ta sẽ không tìm ra nó.
Người không được chỉ cho biết, non nớt, cố gắng cởi tháo những nút thắt trong hư không :
Ôi, đáng thương biết bao, những người ngu mê ấy ! 
Rốt lại, có ích gì khi làm bao nhiêu tạo tác ?

Bất kỳ nơi nào có một điểm quy chiếu, ở đấy có cái thấy bị nhiễm độc,
Nơi nào có trụ, nơi đó là con đường lừa dối của thiền định,
Nếu có chọn lấy và chối bỏ, đó là hành động lầm lỗi,
Nơi nào có một mục đích trong tâm, quả sẽ bị ngăn ngại :
Hãy đơn giản ở yên trong một trạng thái không phóng tưởng, thoát khỏi bám nắm.

Bất cứ đối tượng thiền định nào, người thiền định nào,
Bất cứ phương pháp nào, chúng ta thiền định thế nào v.v…
Hãy vượt khỏi tất cả những thứ ấy vào trong Pháp giới,
Cảnh giới hiện diện bổn nhiên của tâm-trí huệ,
Sự không-hành của Phổ Hiền.

Người nào không bám níu
Vào những cực đoan nhị nguyên của sự tham thiền
Và không tham thiền,
Liền bước vào trạng thái bất nhị vĩ đại vượt khỏi trí thức.

Pháp tánh không thể tỏ bày một cách cục bộ bằng viết lách,
Và dầu những giải thích dài dòng cũng khó nhận ra :
Cái thanh tịnh đồng nhất, tánh Như nguyên sơ,
Vị bình đẳng vô biên.
Không gian vô vi bổn nhiên của Phổ Hiền.

Hãy nghỉ ngơi an ổn trong pháp giới vô cùng bao la,
Và không dựa gì vào những khó nhọc của hàng trăm con đường.
Bấy giờ mặt trời tâm-trí huệ của Drimé Oser Phổ Hiền 
Mọc lên chắc thật trong lòng bạn,
Thế nên hãy tinh chiết hàng trăm điểm yếu quyết vào trong một cái, những bạn lòng của ta !
Pháp thân thì hằng hằng bất biến.
Như con chim mù bay tìm những giới hạn của bầu trời,
Hay như một người mù khảo sát thân một con voi,
Người ta sẽ không bao giờ tìm ra những giới hạn của pháp tánh không tạo tác.

Cái tuyệt đối thì không cố gắng, chớ cố công quá nhiều,
Hãy buông bỏ chín hành động thân khẩu ý(16) của những thực hành bày đặt giả tạo, 
Và ở lại trong dòng tự nhiên bổn nguyên bao la.
Không nương dựa vào những con đường bày đặt giả tạo 
khác nhau,
Người ta thành tựu Phật tánh trong một đời,
Quả tối hậu, không bày đặt, tuyệt đối.
Drimé Oser và những vị khác đã nói như thế,
Cũng như một trăm ngàn vidyadhara thành tựu,
Thế nên hãy giữ ý nghĩa của điều này trong tâm, các bạn lòng của ta !

Nào, nếu mắt bạn mở, chớ nhảy vào vách đá !
Chớ bỏ vương quyền tối cao, và trông chờ cái gì đâu khác !
Chớ bỏ qua con voi, và đi tìm những dấu chân nó !
Chớ vất bỏ cái nhân và giữ vỏ !

Giống như những phẩm tính đặc biệt phân biệt vàng và đồng.
Chân lý của sự phân biệt giữa tâm thức và rigpa sẽ rõ ràng khi bạn áp dụng sự thực hành.
Tánh giác vốn sẵn, viên ngọc như ý vương quyền tối cao
lời khuyên bảo tinh chất của lòng, hỡi các bạn lòng của ta.

IV

Sự thực hành tóm kết là cái tuyệt hảo của hồi hướng công đức.
Lấy bất kỳ công đức nào được hoàn thành ở đây như một ví dụ,
Và gồm nó chung với tất cả công đức được tích tập qua suốt 
ba thời
Bởi -chúng ta và tất cả chúng sanh
Vừa cả cái có quy chiếu và cái với sự thanh tịnh không quy chiếu -ba phần(17)
Như chư Phật và Bồ tát hồi hướng trọn vẹn công đức của
các ngài
Cho tất cả chúng sanh không trừ sót, vô biên như không gian,
Để nhanh chóng đạt được giác ngộ viên mãn vô thượng,
Hãy đóng dấu ấn niêm công đức này với một lời cầu nguyện tuyệt hảo của hồi hướng thanh tịnh.

Bằng việc này, những thiện căn sẽ không bị hư hoại bởi những hoàn cảnh,
tăng trưởng hơn gấp nhiều lần cho đến giác ngộ.
Dấu hiệu phân biệt duy nhất này, không tìm thấy ở những vị thầy khác(18)
Được tán thán mạnh mẽ trong những kinh, tantra và luận,
Như Kinh Hoa Nghiêm, Một Trăm Ngàn Bài Tụng Bát Nhã,
Kinh Vòng Hồi Hướng Toàn Thiệnvân vân.
Tất cả những giáo lý vô tận của chư Phật, không có ngoại lệ,
Được cô đọng trong sự thực hành ba cái tuyệt hảo này :
Sự phát sanh tuyệt hảo Bồ đề tâm như là chuẩn bị,
Sự thực hành tuyệt hảo thiền định vô niệm,
hồi hướng những công đức như là tóm kết.

Những Giáo Huấn Cốt Lõi Của Con Đường Phi Thường 
Của đức Phật Longchen Rabjam nói rằng,
“Sự phát sinh chuẩn bị của tâm giác ngộ,
Thực hành chính yếu vô niệm,
Và tóm kết với hồi hướng, tất cả được áp dụng thấu đáo :
Đó là ba cái vô giá để đi hết con đường giải thoát” 
Kho Tàng Của Viên Ngọc Như Ý cũng nói như vậy. 

Vào thời gian của nền tảng, những cái ấy là bản chất của hai chân lý,
Trong suốt con đường, là sự hoàn thiện của hai sự tích tập, công đứctrí huệ,
Vào thời gian của quả, là sự thành tựu của Pháp thânSắc thânvân vân.
Chúng là tinh túy-tâm của tất cả giáo lý của Phật.
Nhiều hơn đó thì không cần thiết, ít hơn thì không đủ.
Ba cái vô giá này là trái tim và đời sống của con đường,
Như thế, hãy đặt chúng vào lòng, hỡi bạn lòng thân quý.
Giáo huấn cốt lõi này, cao hơn thuốc trường sanh của lòng,
Được soạn thành qua sự chân thành như lời khuyên thành thực
Cho người đồng hành của tôi, Damcho Zangmo. 
Mong nó chuyển hóa một cách tốt lành thành cam lồ của 
tâm trí !

Bài này được hát ở Dordogne, xứ sở của phúc lạc lớn lao,
Trong khu rừng của Phổ Hiền tự hữu,
Trong căn lều của trời xanh trống trải hoàn toàn,
Và được trao tặng bởi con chó giữa loài người, một hình thể người giữa loài chó,
Ông sư xấu tệ, Jamyang rách rưới :

Do những công đức này, tâm bạn chảy vào nghĩa của pháp tánh,
Nguyện đây là nguyên nhân của sự hiện thực tâm trí huệ.
Hơn -nữa, từ giờ cho tới khi giác ngộ
Khác với người không đức hạnh, mê mờ, thế tục
Họ cư xử như những con chó, con heo, chiến đấu và tranh chấp trong những thành phố u tối,
Vật -lộn giành giựt không dứt, chất nặng khổ đau
Qua sự hội nhập mọi lạc thú vào con đường của giáo lý Mật thừa,
Tâm thoải mái trong sự bảo vệ nhanh nhạy của con đường 
bí mật,
Mong rằng chúng ta hưởng thụ những vũ điệu và những bài ca kim cương,
Thiện xảo toàn hảo trong việc kinh nghiệm trí huệ của Không-Lạc của bốn niềm vui,
Hiện thực hóa đại phúc lạc của tự thân tánh giác,
nguyện thân thể, tài sản và mọi công đức gom tụ trong ba thời của chúng ta,
Nuôi dưỡng sự thực hành làm trọn vẹn giác ngộ.

Nguyện ước vọng này, không chỉ là câu chữ,
Mà sự cầu nguyện thành tâm của tôi,
Được chư Phật và Bồ tát chấp nhận !

Thế nên bây giờ, từ vương quốc Pháp vĩ đại của Tây phương,
Đây là lời khuyên nhủ cho Damchoš Zangcho và những bạn lòng khác :
Mong rằng nó được công đức lợi lạc !

12 Ý Nghĩa Thiết Yếu
Dordogne, Pháp 1983

Con đảnh lễ bậc Thế Tôn vua của bầu trời !

Kye Ho ! Hãy nghe, bạn lòng tốt nhất của ta, 
Mặt trời thông tuệhiểu biết tuyệt vời :

Hãy vất bỏ mọi xao lãng, mọi ảo tưởng trải cùng,
trong một niệm hãy nhìn vào thực tại tuyệt đối, như nó đang là.
Giờ đây, đằng trước, đằng sau và cứ thế,
Trong mười phương, ở dưới và ở trên, 
Tất cả ba vô số tri giác – ngoài, trong và chặng giữa –
Dù chúng xuất hiện, tất cả chúng là thực tại tuyệt đối như thị,
Và sự biểu lộ tự nhiên của nó không gì khác hơn là trò phô diễn sáng tạo.

Bên trong, hãy nhìn vào bản tánh của tâm bạn,
Tâm như hư không, tự nhiên, không cố gắng,
Tự nhiên như thị, thanh tịnh bổn nhiên từ vô thủy,
Sự thật tối hậu, vượt khỏi sự hoàn thành do cố gắng với nhân và duyên,
Cái minh triết vĩ đại của tánh tỉnh thức bẩm sinh, tự chiếu sáng, tánh giác bổn nhiên của chính mình,
Siêu vượt khỏi mọi nơi chốn, dừng trụ, đến và đi, 
Trạng thái tự nhiên tự do với mọi ý niệm, phóng tưởng và mọi nhập định.
Mọi sự là dòng chảy tự nhiên, cái hằng cửu tự nhiên vĩ đại,
Minh triết vượt khỏi tư tưởng, diễn tảthí dụ,
Tâm Phật, bản tánh của pháp giới bao la,
Tâm-trí huệ của Samantabhadra tự hữu,
Chỗ đến tối hậu của tất cả các pháp,
Của những kinh điển, tantra, truyền thọ và giáo huấn cốt lõi,
Được tán thán bởi triệu triệu bậc học giảthành tựu trong quá khứ,
Không chỉ một lần mà lập đi lập lại.
Cái ấy ta yêu cầu bạn lấy làm tâm của mọi thực hành.

Sự thiền định đúng đắn về ý nghĩa này :
Điểm bắt đầu của thực hànhniềm tinước mong giải thoát khỏi sanh tử.
Nền tảng của sự thực hành là bốn chuyển hướng của tâm,(19)
Cơ sở của sự thực hànhquy yBồ đề tâm.
Người bảo vệ của sự thực hànhcầu nguyện hồi hướng hoàn toàn thanh tịnh.
Đây là điểm cốt yếu sâu xa của mọi con đường kinh điển 
và tantra.
Vì chúng làm cho chúng ta đạt đến điểm rốt ráo của con đường thực hành,
Chúng là những gốc rễ và không nên bị bỏ quên.
Bởi thế, con của lòng ta, ta yêu cầu con giữ nó trong lòng con !

Nếu người ta đi đến tinh túy, mọi cái này sẽ được bao gồm,
Nếu không, bấy giờ tất cả hiểu biếtnghiên cứu,
Dầu người ta cặm cụi với chúng hàng đại kiếp, cũng sẽ chỉ là nguyên nhân của lao nhọc.

Lời dạy cốt yếu này được nói lên
Bởi tôi, con người lôi thôi xấu xa Jamyang Dorje.
Tôi tặng lời khuyên giống như trái tim tôi này
Cho bạn, bạn lòng yêu quý nhất của tôi.
Chớ có ruồng rẫy nó, mà cất giữ nó trong lòng bạn,
Do công đức này, nguyện tâm bạn hoan hỷ trong thực hành 
Liên tục, không cách hở, ý nghĩa thiết yếu !
Đây là sự chỉ dạy cho hành giả Hoa Kỳ tên là Surya,
người học những truyền thống Phật giáo và không phải 
Phật giáo.

Géo !
Mangalam !

 

Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 97528)
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Penang - hòn đảo xinh đẹp đậm đà nét văn hóa độc đáo của đất nước Malaysia ( Mã Lai), một trong những điểm đến lý tưởng nhất trên thế giới trong những ngày này đã đón tiếp hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử từ các châu lục gồm 30 quốc gia về tham dự Đại Hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới (The World Buddhist Sangha Council - WBSC) lần thứ 10. Khách sạn Equatorial là địa điểm chính, nơi diễn ra suốt kỳ đại hội lần này từ ngày 10 đến 15.11.2018.