Các Tiểu Sử Ngắn Gọn

01/10/201012:00 SA(Xem: 8524)
Các Tiểu Sử Ngắn Gọn

Các Tiểu sử ngắn gọn
dòng hóa thân của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche 

người bảo vệ toàn khắp của ‘Đại dương các Vị Truyền PhápMạn Đà La’

 

 

 
Quả thực, gần như không thể thâu thập một biên niên sử chi tiết về dòng hóa thân của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche. Nhưng một cố gắng khiêm tốn để có được một thoáng nhìn về dòng hóa thân vinh quang của ngài (những vị chính yếu) từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho tới bây giờ sẽ gây truyền cảm hứng cho nhiều người để thi đua với ngài và điều này phù hợp với những lời dạy minh triết đáng tin cậy. 

Một vài vị được biết nhiều ở Ấn Độ

1. A La Hán Charka hay Dachompa (Người tiêu diệt kẻ thù)

Trong thời gian dài ngài đã là người trợ giúp của một Bồ Tát đối với nhiều vị tiền nhiệm của Đức Phật. Ngài là một thượng thư thân cận cao cấp trong triều đình của Vua Tịnh Phạn, thân phụ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau này Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ban những bài thuyết pháp tại Nyanyoe về việc đạt được sự toàn giác và ngài là sứ giả cuối cùng được Vua Tịnh Phạn gởi tới để thuyết phục Đức Phật trở về vương quốc. Thay vào đó, bị cuốn hút bởi ân phước của Đức Phật, giống như tất cả những người khác trước đó, ngài trở thành một tu sĩđạt được quả vị A La hán (Dachompa, người Tiêu diệt Kẻ thù) ngay trong đời này. Đức Phật đã tiên tri thật rõ ràng rằng ngài là một Chiến sĩ kiệt xuất trong việc thấm nhuần niềm tin nơi ‘Cư sĩ’ và điều phục họ bằng Giáo Pháp

2. Tramsey Rigche Serma (một người Bà la môn)

Ngài là một bậc lão thông mọi phương diện của Kinh Veda (Vệ-Đà) và mọi ngành của nó.

3. Drupchen Palkyong (Một đại thánh)

Đã đạt được cấp độ cao cấp Sa-lam (Nền tảng và Con Đường) – con đường tuần tự tới Giác ngộ - với các thực hành Mật thừa sâu rộng của cả hai giai đoạn phát triểnthành tựu, đạt được sự chứng ngộ đích thực về Đại Lạc

4. Gyalpo Padma Chen (Vị Vua vĩ đại của Oddiyana)

Gyalpo Padma Chen, vị vua vĩ đại của Oddiyana, xứ sở của các giáo lý Mật điển Kim Cương sâu xabí mật của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Đức Phật thứ 4).

5. Gyalpo Rabsang (một vị vua)

Một vị vua vĩ đại cai trị vương quốc bằng sự công chính về mặt Tâm linh lẫn Thế tục.

6. Gyalpo Shinta Chen (một vị vua)

Ngài là một Chiến sĩ điều khiển cỗ xe Tâm linh lẫn Thế tục

7. Gyalpo Langpo Kyong (một vị vua)

Cai trị vương quốc với năng lực vĩ đại, điều phục người xấu bằng cách dùng Pháp luật nghiêm ngặt thúc bách và chăm sóc người tốt lành với thiện tâm.

8. Trupthop Thoortroepa (một vị thánh-nghĩa địa)

Ngài đã sống một cuộc đời giản dị không dính mắc để luôn luôn nhắc nhở mình về lẽ ‘vô thường’.

Và một số vị thuộc các dòng hóa thân nổi danh sau này ở Tây Tạng

9. Ra Lotsawa Dorje Drak (một Hành giả và Dịch giả Vĩ đại) 

Được tin tưởng là một hiển lộ của Jigche hay Vajrabhairava (Bổn Tôn) ngài đã khai phá thực hành Mật thừa chân thực và sự trao truyền Mật điển Pal Dorje Jigche ở Tây Tạng. Được coi là Hành giảnăng lực siêu nhiên khắp mười phương.

10. Akhu Trothoong Pawu (Một người Dũng cảm)

Ngài là một người dũng cảm (chiến sĩ) và một thượng thư thân cận dưới triều Vua Gesar Gyalpo thần kỳ.

11. Chayulwa Shonnu Woe (một hành giả)

Thực hành xuất sắc trong sự ẩn dấu, ngài đã đạt được cấp bậc cao của các con đường có thể hoàn toàn đưa dẫn mọi giáo lýthực hành vô giá của Jowo Kanampa thành thực hành liên tục của ba loại người (ba loại căn cơ thượng, trung và hạ).

12. Terton Chenpo Ogyen Lingpa (một Nhà Khám phá Kho tàng)

Một Nhà Khám phá kho tàng được tiên tri bởi chính Guru Padmasambhava (Nhà Sáng lập truyền thống Nyingma và chịu trách nhiệm chính trong việc truyền bá Phật GiáoTây Tạng, nếu không, Giáo Pháp sẽ bị ngăn trở bởi các thế lực xấu ác.) 

13. Drubchen Rigzin Dorje (một hành giả)

Ngài là một Hành giả nổi danh có khả năng thường xuyên kinh nghiệm Đại Lạc tự nhiên, sâu xatrong sáng

14. Drubthop Dorje Duedul (một vị thánh)

Người vô địch nổi tiếng chiến thắng mọi sự xấu ác trong và ngoài.

15. Khechok Gyamapa (một học giả vĩ đại)

Một học giả nổi tiếng, tinh thông Tam tạng Kinh điển của Phật Pháp

16. Trichen Dhondup Gyatso, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche Tehor Nagtsangpa thứ Nhất (1655-1702)

Được đại chúng biết tới với danh hiệu Trichen Dhondup Gyatso, ngài sinh tại Tehor Nagtsang năm 1655 và tới vùng trung tâm của Giáo Pháp (Lhasa) năm 1667. Gia nhập Nhà Hardong của Đại Học Tu viện Drepung Tashi Gomang vĩ đại, ngài đã hoàn thành một cuộc nghiên cứu sâu rộng về năm Bản Văn Chính ngay từ Duedra (các chuẩn bị để điều chỉnh những thiện xảo khi tranh luận cho việc áp dụng sau này) và được ban thưởng xứng đáng Học vị Geshe Lharampa Hạng Nhất (Học vị Tiến sĩ Siêu Hình Học) tại Đại Lễ Monlam Chenmo (1) tại Lhasa. Khi còn trẻ, ở tuổi 28, ngài trở thành Tu viện trưởng của Palden Tashi Gomang. Năm 41 tuổi, ngài trở thành Tu viện trưởng của Tu viện Mật thừa Palden Gyudmed. Và cuối cùng, ngài lên làm vị Hộ trì Pháp tòa Gaden lừng lẫy (chức vụ tối cao trong dòng Gelug) năm 1702 lúc 48 tuổi khi từ bỏ chức vụ Sharpa Choeje. 

Ngài là Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 Tsangyang Gyatso. Ngài sống ẩn dật tại Tu viện Chayul Mangra tại miền trung thượng sau khi hoàn tất thật thành công nhiệm kỳ Gaden Tripa kéo dài 7 năm và thị tịch năm 73 tuổi (1727).

17. Gedun Tenpai Gyaltsen, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 2 (1728-1790)

Ngài được coi là một người được thêm vào đầy thú vị cho Nhà Telghong ở miền Chayul Mangra (Trung Thượng Tây Tạng) vào năm 1728. Ngài được nhận vào Chayul Mangra Gon, Trụ xứ (Trung tâm Nghiên cứu) của vị Thầy nổi tiếng phái Kadampa Geshe Shonnu Woe sau khi được xác nhậnhóa thân của người tiền nhiệm Trichen Dhondup Gyatso. 

Khi đến tuổi, ngài tới Lhasa và vào Tu viện Drepung Tashi Gomang và chìm đắm trong việc nghiên cứu nghiêm ngặt tất cả năm Bản Văn Chính.

Danh tiếng học giả của ngài lan xa rộng với việc ngài biểu lộ kiến thức sâu rộng tại cuộc Tranh luận Geshe Lharampa trong Đại Lễ Monlam Chenmo giữa giáo đoàn rộng lớn các bậc uyên bác

Ngài được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 7 Kelsang Gyatso bổ nhiệm làm Đạo sư-Bảo Trợ (U-la) của Tu viện Kham Den Choekhor Ling và được phái tới tỉnh Kham. Được ban cho danh hiệu nổi tiếng ‘Ertini Dalai Hothothu’ bởi việc phụng sự mẫu mực và sáng chói cho Giáo Pháp. Ngài lìa bỏ nhục thể vào năm 1790.

18. Lobsang TenpaiGyaltsen, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 3 (1791-1810)

Sinh tại Lingtsang, Kham Dherge năm 1791.

Tới Xứ trung tâm của Giáo Pháp (Lhasa), ngài vào Ling Khangtsen, Đại Học Tu viện Drepung Loseling bởi Lingtsang Den Choekhor Ling nhập vào Tu viện này – và do đó tất cả các tu sĩ của nó tới miền trung tâm để theo đuổi những nghiên cứu Phật giáo Cao cấp. Sau này ngài an trú ở Ling Khangtsen mặc dù được xác nhậnhóa thân của vị tiền nhiệm Tritul và người ta đã hết sức nỗ lực để đón chào ngài tới Tu viện Palden Gomang.

Và kể từ lúc này ‘Lingtul (hóa thân Ling) và người kế vị thứ 75 Pháp Tòa Gaden Tripa là một Giáo Thọ hay ‘yongzin’ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 11. Dòng truyền thừa hóa thân vinh quang của ngài được đại chúng biết đến với tên ‘Yongzin Ling Rinpoche’ hay ‘Ling Yongzin’.

Thật không may, trong khi hoàn toàn mê mải nghiên cứuthực hành Pháp, ngài qua đời khi chưa tốt nghiệp vào năm 1810, ở tuổi 20.

19. Ngawang Lungtok Yonten Gyatso, Yongzin Ling Rinpoche thứ 4 (vị Hộ trì Pháp tòa Gaden thứ 75 và Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 (1811-1853)

Năm 1811, ngài ra đời, thân mẫu là Dolma ở Pomed và được đặt tên là Tashi.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 9 Lungtok Gyatso đặt Pháp danh cho ngài là Ngawang Lungtok Yonten Gyatso bởi ngài được xác nhậnhóa thân của vị tiền nhiệm Lobsang Tenpai Gyaltsen, là kết quả của việc tuyển chọn theo truyền thống lắc bình Vàng thiêng liêng qua vài giai đoạn. 

Khi học tại Ling Khangtsen, Đại học Tu viện Drepung Loseling và là kết quả của nhiều năm nghiên cứu mãnh liệt; ngài đã cuốn hút tất cả mọi người nhờ kiến thức phi thường của ngài về toàn bộ Năm Bản Văn Chính tại Kỳ Thi Tranh luận Geshe Lharam trong Đại Lễ Monlam Chenmo (1) tại Lhasa dưới sự chứng kiến của những tu sĩ uyên bác, minh triết của SeDreGa-soom.

Sau khi hoàn tất việc nghiên cứu ‘Kinh điển’, ngài vào Đại Học Tu viện Mật thừa Gyutoe để theo đuổi những nghiên cứu Mật thừa và ngài đã tinh thông mọi chủ đề của tất cả bốn loại hay cấp độ Tantra.

Ngài đã giảng dạy rộng rãi sau khi trở thành Sharpa Choeje (vị Hộ trì Pháp tòa Gaden đang chờ ở Shartse) và ngự trên Pháp tòa Gaden Tôn quý vào năm 1847 khi đúng 40 tuổi.

Gần như đồng thời, năm 1847 ngài trở thành một Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 Khedup Gyatso.

Cùng lúc đó, ngoài vô số đệ tử sùng mộ ở Tây Tạng, Trung quốcMông Cổ, ngài đã làm thỏa mãn sự khao khát tâm linh của nhiều vị thánh-học giả. Khi đã thành công nhiệm kỳ của Gaden Tripa năm 1853, ngài rời bỏ thế giới này vào năm 1855. 

20. Lobsang Lungtok Tenzin Thinley, Kyabje Yongzin Ling

Rinpoche thứ 5 (Sharpa Choeje) 1856-1902
Sinh năm 1856, và được xác nhậnhóa thân của vị tiền nhiệm Ngawang Lungtok Yonten Gyatso bởi ngài đã có một cách cư xử vô cùng thu hút ngay khi còn rất nhỏ. 

Sau đó, ngài vào Đại Học Tu viện Drepung Loseling và Tu viện Mật thừa Gyutoe để lần lượt theo đuổi những nghiên cứu Kinh điểnMật điển. Nhờ vô cùng thông tuệ và sau nhiều năm làm việc cật lực và nghiêm ngặt, ngài trở thành một học giả được coi là tinh thông Kinh điển lẫn Mật điển

Chỉ đơn thuần thông hiểu kiến thức không làm ngài thỏa mãn, ngài lao vào thiền định ở những nơi cô tịch như Drigung Chayul Mangra Gon khi nỗ lực sắp xếp mọi thực hành thành một phương tiện để điều phục tâm thức phóng túng – và nỗ lực chân thành của ngài đã đạt được kết quả và được biểu hiện bởi cách hành xử an tịnhnội quán vô cùng sâu xa về những chủ đề trọng yếu như tánh Không.

Tác phẩm ‘Bậc thang thứ 18’ của ngài được viết năm 25 tuổi, cho tới bây giờ tác phẩm đó vẫn còn rất lợi lạc.

Ngài trở thành Lama Uze (2) và tu viện trưởng của Tu viện Mật thừa Gyutoe rất sớm. Năm 1895, ngài trở thành Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 Thubten Gyatso, và đã truyền đạt cho Đức Đạt Lai Lạt Ma những giáo lý về Kinh điểnMật điển bao la như đại dương của ngài.

Ngài đã thực hiện rất nhiều công việc lợi lạc cho Giáo Phápchúng sinh ngay cả sau khi ngài đã ngự trên Pháp Tòa Sharpa Choeje. Ngài mất năm 1902.

21. Thupten Lungtok Namgyal Thinley, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 6 (vị Hộ trì Pháp Tòa Gaden thứ 97) 1903-- 1983

Năm 1903, ngài tái sinhý hướng trong cõi sinh tử này vì lợi lạc của chúng sinh tại Toelung Karbok. Ngài được xác nhậnhóa thân của vị tiền nhiệm Lobsang Lungtok Tenzin Thinley qua những tiên tri hết sức rõ ràng không thể sai lạc của nhiều vị Hộ Pháp như Hiện Thân Vấn Linh Nechung của tu viện Drepung và Gadong. Hai vị Hộ Pháp này đã khẩn cầu và nhập định và được linh kiến siêu nhiên của Đức Đạt Lai Lạt Ma chứng thực. 

Ngay lập tức, ngài đã biên soạn một bài tán tháncầu nguyện – Món quà tuyệt hảo của sự bất tử và mọi ước nguyện, một lời cầu nguyện đời sống vĩnh cửu – cho hóa thân trẻ tuổi. Năm 1912 (Thủy-Tý), khi lên 9 tuổi, ngài vào Đại Học Tu viện Drepung Loseling, một Trụ xứ dành cho những Nghiên cứuThực hành Phật giáo Cao cấp. Năm sau (năm Thủy-Ngưu) ngài nhận các giới nguyện Sa Di (Sramanera) và trong năm 1922 (năm Thủy-Tuất) khi 20 tuổi, nhận Cụ túc giới từ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba. Năm 1924, ngài dự Vòng thi Tranh luận Geshe Lharampa trong Đại Lễ Monlam Chenmo tại Lhasa và làm mê hoặc mọi người bằng kiến thức sâu xa của ngài về Năm Bản Văn Chính. 

Năm 1938 ở tuổi 36, ngài bắt đầu giữ chức vụ Tu viện trưởng của Tu viện Mật thừa Gyutoe. Năm 1940 ngài được bổ nhiệm làm Tsenshab (bạn và người hướng dẫn Tranh luận) của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Bốn Tenzin Gyatso và cuối cùng lên làm Thầy Phó Giáo (1941) và Trưởng Giáo (1953) cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Năm 1949 ngài đảm đương trách nhiệm Sharpa Choeje. 

Ngài đã ban Cụ túc giới cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 trước thánh tượng Jowo ở Lhasa trong Đại Lễ Monlam Chenmo tại Lhasa năm 1954. Năm 1965, tại Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng), ngài chính thức được tôn phong vị Hộ trì Pháp tòa Gaden phù hợp với huấn dụ được niêm kín vào năm 1960 của Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ thị ngài lên Pháp tòa Tôn quý Gaden.

Ngày 25 Tháng Mười hai năm 1983 ở tuổi 81, ngài lìa bỏ chúng ta sau khi an trụ trong thiền định sâu xa trong một thời gian dài.

22. Tenzin Lungtok Thinley Choephak, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 7 (1985- ) 

Sinh tại Bir, Khu Định cư Tây Tạng (Ấn Độ) năm 1985. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã xác nhận ngài là hóa thân của vị tiền nhiệm Thupten Lungtok Namgyal Thinley và một lễ đăng quang đã được tổ chức sau đó.

Năm 1990, ngài chính thức được nhận vào Tu viện Drepung và Loseling với những buổi lễcúng dường được thực hiện cho Tăng đoàn linh thánh. Năm lên 8, từ Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài liên tiếp nhận giới Upasaka (giới của cư sĩ), Pravraja (giới xuất gia) và Sramanera (Sa di). 

Và chẳng bao lâu, theo sự dẫn dắt của Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài lao vào hành trình tâm linh của ngài tại Đại Học Tu viện Drepung Loseling để nghiên cứu Năm Bản Văn Chính và nhiều luận giảng về chúng. Ngày 3 Tháng Ba năm 2004, khi ngài 20 tuổi, Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa làm Tu viện trưởng vừa làm Đạo sư (khen-lop), đã ban cho ngài Cụ túc giới (giới của Tỳ khưu) giữa Tăng đoàn ở bên phải và những nghi lễ puja tuyệt hảo

Năm 2006 ngài dự Vòng Tranh luận được tổ chức cho 25 Khangtsen (nhà) của tu viện về chương 4 của Bát nhã Ba la mật (Pharchin Kaabshipa), kế đó là Vòng Tranh luận đòi hỏi cố gắng hơn nữa tại sân Tranh luận của Loseling và Drepung Tsokchen – người này sau người kia với truyền thống tốt đẹp của Tây Tạng. Tất cả những vòng thi này lên tới cực điểm với cuộc tranh luận Tsoglang quan trọng (tranh luận trước Giáo đoàn) tại Drpung Tsokchen về sự kiện kiết tường Kỷ niệm Drepung Lubum (Hàng trăm ngàn con Rồng) dưới sự chứng kiến của toàn thể giáo đoàn của Tu viện Drepung gồm toàn các tu sĩ ưu tú.

Ngài đã viếng thăm Nam Hàn, Pháp, Mon (A.P. Ấn Độ), Ladhak (Jammu, Ấn Độ) và nhiều nơi khác trong vài thời điểm và đã ban nhiều giáo lý cho hàng ngàn người khao khát sùng mộ tùy thuộc vào những trải nghiệm và mức độ tâm linh của họ.

Hiện tại, ngài đang hoàn toàn chú tâm vào việc nghiên cứuthực hành Phật Pháp với hy vọng thi đua những công hạnh vĩ đại của người tiền nhiệm của ngài, vì lợi ích của chúng sinhPhật Pháp

Những ai muốn biết thêm về ‘Kyabje Yongzin Ling Rinpoche’ xin tham khảo:

1. Tiểu sử Tràng hoa Quý báu của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche, Bậc Hộ trì Pháp Tòa Gaden thứ 97 của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.
2. Các Tiểu sử Vắn tắt của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche (các dòng hóa thân) – do Ban Quản lý Yongzin Ling Ladrang biên soạn.
Nguyên tác: Brief biographies of incarnate lineage of Kyabje Yongzin Ling Rinpoche - the all-pervasive guardian of ‘Ocean of Apostles and Mandala’
http://www.loselingmonastery.org/index.php?id=52&type=p

Chú thích:
(1) Monlam Chenmo, cũng được gọi là Đại Lễ Cầu nguyện được tổ chức từ ngày mồng 4 tới 11 tháng giêng theo lịch Tây Tạng. Đây là buổi lễ tôn giáo vĩ đại nhất ở Tây Tạng và do Đức Tsong Khapa Losang Drakpa (1357-1419), triết gia, vị Thánh, Đạo sư, nhà cải cách xã hội vĩ đại, và người sáng lập truyền thống Geluk của Phật giáo Tây Tạng thiết lập
(2) Lama Uze: tương đương với chức Phụ tá Tu viện trưởng.
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

 

Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 101833)
Vào sáng ngày 22 Oct vừa qua, phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng lại tiếp tục lên đường cứu trợ cho 3 ngôi làng nghèo Thừa Thiên Huế, đó là Làng Phò Ninh, Làng Cổ Bi và Làng Hiền Sỹ. Đây là 3 ngôi làng thời gian qua bị nước lũ vây hãm không có đoàn nào vô làng cứu trợ được, may mắn là khi đoàn Từ thiện Trái tim BDDT có mặt thì nước lũ đã rút đi nhiều nên xe chở hàng cứu trợ đã có thể vào tận nơi để phát quà cho dân.
Sáng hôm qua, (ngày 21 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 2 xã Phú Lễ, xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền Tp Huế, đoàn đã phát tổng cộng là 300 phần quà tại nhà văn hóa cạnh chùa Quang Bảo- Phù Lễ. Chuyến cứu trợ lần này được sự nhiệt tâm giúp đỡ về mặt tổ chức cũng như vận chuyển hàng hóa của chư Phật tử chùa Quang Bảo & các thành viên trong Hội từ thiện nên đã diễn ra tốt đẹp và thành tựu viên mãn.
Được tin lũ chồng lũ, bão số 8, bão thế kỷ sắp tràn về miền Trung khốn khổ, tốc độ trên 200/km, hơn vận tốc của xe trên free way, nghĩa là nơi nào bão qua là nơi đó không còn dấu vết sự sống, ôi thương đau khủng khiếp.