Hãy Mở Tâm Bao La Như Đại Dương

09/10/201012:00 SA(Xem: 8854)
Hãy Mở Tâm Bao La Như Đại Dương

HÃY MỞ TÂM
BAO LA NHƯ ĐẠI DƯƠNG

 Hãy nhìn thẳng vào tâm của chúng ta. Nếu chúng ta thật sự tin tưởng rằng tất cả những lạc thú của chúng ta đều đến từ vật chấtchúng ta phải dành cả cuộc đời để theo đuổi chúng, thì chúng ta đã có một quan niệm sai lầm, đã lầm lẫn một cách trầm trọng. Thái độ này không khôn ngoan chút nào cả. Thoạt tiên mới nghe điều này, có thể chúng ta sẽ nghĩ, “Ồ, tôi không như vậy, tôi hoàn toàn không tin vào sự vật bên ngoài có thể mang lại hạnh phúc cho tôi.” Nhưng hãy nhìn sâu xa hơn vào trong tấm gương của tâm chúng ta, chúng ta sẽ thấy rằng phía bên kia của sự khôn ngoan này, như thái độ thận trọng trong những hoạt động thường ngày cho biết chúng ta làm việc rất chu đáo khôn ngoan, là chúng ta thực sự tin vào quan niệm sai lầm trên. Bây giờ, chúng ta hãy định tâm lại, rất thành thật tự nhìn sâu vào tận đáy tâm hồn của chúng ta xem chúng ta có thực sự bị hay không bị ảnh hưởng bởi một cái tâm như vậy.

Một cái tâm thực sự tin tưởng vào thế giới vật chất là một cái tâm qúa hẹp hòi, qúa giới hạn; nó không còn một chỗ nào trống. Bản tính tự nhiên của nó qúa bệnh, không lành mạnh, danh từ Phật giáo gọi là tâm nhị nguyên, tâm đối đãi.

Trong một số quốc gia, người ta sợ những kẻ có hành động khác thường, như nghiện ngập cần sa ma túy. Người ta làm luật để chống những người này và thành lập những hàng rào kiểm soát biên giới để tránh sự xâm nhập chúng vào xứ sở họ. Hãy thử nhìn vấn đề gần hơn một chút xem sao. Nghiện thuốc không phải tự thuốc mà tự tâm của con người. Có thể vì cần khoái cảm, vì sợ những thái độ tâm lý --tâm ô nhiễm-- nên người ta mới dùng thuốc và dấn thân vào những hành vi tự hủy hoại mình, có thể chúng ta cũng đã thổi phồng vấn đề này một cách qúa đáng mà quên hẳn đi vai trò của tâm. Đây là một sự sai lầm trầm trọng, chính sự sai lầm này, chính cái ảnh hưởng tâm lý này còn tệ hại hơn vấn đề dùng thuốc nhiều lắm.

Những quan niệm lệch lạc, không đúng thì nguy hiểm hơn thuốc rất nhiều. Cần sa ma túy tự nó không thể bành trướng nhanh và rộng rãi, nhưng một tư tưởng sai lầm có thể ảnh hưởng rất xa, rất lâu, ở bất cứ chỗ nào và là nguyên nhân cho rất nhiều rắc rối, rất nhiều xáo trộn cho cả một quốc gia. Tất cả những hiện tượng này đều do tâm mà ra. Vấn đềchúng ta đã không thấu hiểu được tâm lý tự nhiên của tâm. Chúng ta đã qúa chú trọng đến những sự kiện vật chất ở bên ngoài của con ngườihoàn toàn không biết, không tỉnh thức, không kiểm soát được những tư tưởng sai lầm và những ý niệm bị ô nhiễm đang tràn qua tâm của chúng ta trong từng giây phút. 

Tất cả những bệnh tâm thần đều do tâm mà ra. Chúng ta nên huấn luyện tâm của chúng ta thay vì cứ đi khuyên bảo mọi người: “Ồ, anh không vui, chị không được hạnh phúc vì anh, chị qúa dở. Chỉ cần có một cái xe thật đẹp là được rồi...” hay nên mua sắm vật này, thứ kia... Khuyên người ta đi mua sắm để được hạnh phúchoàn toàn không khôn ngoan chút nào. Nguyên nhân cốt tủy của tất cả mọi vấn đề của con người là có một cái tâm bất mãn chứ không phải tại thiếu thốn vật chất. Sự khác biệt vĩ đại giữa tâm lý học của Đức Phật và những gì đang được áp dụng bên phương Tây là cách con người đối diện với bệnh tâm thần và làm sao để chữa trị nó. 

Khi bệnh nhân trở lại và nói, “ Tôi đã mua xe như lời bác sĩ khuyên, nhưng tôi vẫn không có hạnh phúc,” có thể bác sĩ sẽ nói, “anh mua chiếc xe đó thường qúa, nên mua chiếc đắt tiền hơn” hay “nên chọn cái mầu khác.” Mặc dù anh ta về làm theo lời bác sĩ khuyên bảo, anh ta cũng vẫn trở lại với bộ mặt chẳng vui. Mặc dù con người có thay đổi hoàn cảnh thế nào đi nữa, vấn đề căn bản cũng vẫn còn, bệnh vẫn chưa hết. Tâm lý học Phật giáo đề nghị, thay vì tiếp tục thay thế từ điều kiện này qua điều kiện khác, từ rắc rối này qua rắc rối khác mà không có lối thoát, hãy chấm dứt ngay chuyện xe pháo một thời gian xem chuyện gì sẽ xẩy ra. Đây chỉ là sự thay thế, thay thế một vấn đề bằng một vấn đề bí tắc khác. Tưởng rằng càng thay thế cách giải quyết càng làm cho người ta nghĩ họ sẽ khá hơn, nhưng không bao giờ khá hơn. Thực ra họ vẫn kinh nghiệm, vẫn đối diện với cùng một vấn đề. Dĩ nhiên, tôi không có ý nói nó hoàn toàn giống như vậy. Tôi chỉ đơn giản cố gắng trình bày vấn đềcon người đã giải quyết bệnh tâm thần bằng phương pháp vật chất như thế nào.

Bây giờ, chúng ta hãy nhận định bản tính tự nhiên của tâm. Là một con người, chúng ta luôn luôn tìm kiếm sự thỏa mãn, sự vừa ý hài lòng. Nếu thấu hiểu tâm bản nhiên, chúng ta có thể tự bằng lòng, tự hài lòng với chính mình một cách sâu xatrường cửu. Để được như vậy, chúng ta phải nhận diện được tâm bản nhiên của chính chúng ta. Chúng ta nhìn thế giới vật chất rất rõ, nhưng chúng ta hoàn toàn mù với thế giới nội tâm của chúng ta, ở đó những quan niệm sai lầm thường xuyên hiện hành làm cho chúng ta luôn luôn bất mãnbuồn chán. Đây là vấn đềchúng ta cần phải khám phá, tìm hiểu.

Vì thế, chúng ta hãy thành thật quyết tâm không để bị ảnh hưởng bởi những quan niệm sai lầm là chỉ có thế giới vật chất mới mang lại sự thỏa mãngiá trị cho cuộc đời của chúng ta. Như tôi đã trình bày ở trên, sự tin tưởng này, sự quyết tâm này cũng không hẳn là một điều khôn ngoan, vì gốc rễ của sự ô nhiễm đã ăn rất sâu trong tâm khảm của chúng ta. Có rất nhiều thứ ham muốn mãnh liệt đã chôn sâu dưới lớp vỏ thông minh của chúng ta; nó nằm sâu trong sự thông minh đến nỗi nó còn khôn ngoan và dũng mãnh hơn chính cả sự thông minh.

Có người nghĩ rằng, “Căn bản tâm lý của tôi là âm thanh. Tôi không đặt niềm tin vào vật chất; tôi đang theo đạo.” Chỉ đơn giản học hỏi một vài triết thuyết hay giáo lý của một tôn giáo không đủ để làm chúng ta trở thành một người sống tâm linh. Có rất nhiều giáo sư đại học giảng dậy rất rõ về các học thuyết của Phật giáo, Aán độ giáo hay Thiên Chúa giáo, mà không có một đời sống tâm linh. Họ giống như những người hướng dẫn du lịch trên con đường tâm linh. Nếu chúng ta không thật sự thực hành để có được những kinh nghiệm bản thân về những điều chúng ta đã học hỏi thì sự học hỏi này chẳng có ích lợi gì cho chính chúng ta và cho những người khác. Có một sự khác biệt vĩ đại giữa sự giảng giải thông minh về tôn giáo và sự thực hành chuyển hóa sự hiểu biết này thành những kinh nghiệm tâm linh.

Chúng ta phải thực hành những gì chúng ta đã học để biến chúng thành những kinh nghiệm sống của chính chúng tathông hiểu kết quả của từng hành động mà nó mang lại. Uống một ly trà -- cho đã cơn khát -- đôi khi còn ích lợi hơn là có những văn bằng triết học mà chẳng giúp ích được gì cho chúng ta, bởi vì chúng ta không có chìa khóa. Chỉ tốn thời giờsức lực nếu học mà không thực hành.

Tôi hy vọng rằng qúy vị hiểu danh từ “tâm linh” thực sự có nghĩa là gì. Nó có nghĩa là tìm kiếm, nghiên cứu bản tính chân thật của tâm. Không có “tâm linh” ở bên ngoài. Xâu chuỗi của tôi không phải là tâm linh. Bộ áo cà sa của tôi không phải là tâm linh. Tâm linh chính là tâm, một người sống tâm linh có nghĩa là một người đang tìm kiếm bản tính tự nhiên của họ. Qua việc tìm kiếm, nghiên cứu này, họ hiểu được những hậu quả của từng hành vi của họ, những sinh hoạt của thân (hành động) khẩu (lời nói) và ý (ý tưởng) của họ. Nếu chúng ta không hiểu được những nghiệp quả của những gì chúng ta làm, chúng ta suy nghĩ thì chúng ta không thể trở thành một người sống tâm linh. Chỉ biết, chỉ thuộc giáo lý, đạo lý của tôn giáo không đủ để làm chúng tamột đời sống tâm linh.

Để đi vào con đường tâm linh, chính chúng ta phải bắt đầu hiểu được thái độ tinh thần của chúng ta và hiểu được tâm của chúng ta nhìn sự vật như thế nào. Nếu chúng ta chỉ chấp, chỉ bám víu vào những chuyện quá nhỏ nhặt, thì cái tâm hạn hẹp, cái tâm vướng víu không để cho chúng ta an hưởng cuộc sống. Nếu chúng ta để chúng ta bị lệ thuộc vào những nguồn năng lực ở bên ngoài thì tâm của chúng ta sẽ bị hạn chế như chúng. Một khi tâm trở nên hẹp hòi, nhỏ bé thì những điều hạn hẹp, thấp kém sẽ gây xáo trộn đời sống của chúng ta một cách rất dễ dàng. Hãy mở tâm chúng ta bao la như đại dương.

Chúng ta thường nghe những người có đạo nói rất nhiều về chuyện đạo đức. Cái gì là đạo đức? Đạo đức chính là trí tuệ hiểu được tâm bản nhiên. Một cái tâm hiểu được bản tính tự nhiên của mình thì cũng tự nhiên trở nên đạo đức, tốt lành, tích cực và tất cả những hành động được điều khiển bởi cái tâm đó cũng đạo đức, thánh thiện. Đó là những gì chúng tôi gọi là đạo đức. Bản chất tự nhiên của một cái tâm chật hẹp thì ngu si, vô minh, đó là cái tâm tiêu cực, không đạo đức.

Nếu chúng ta hiểu được tâm lý rất tự nhiên của tâm chúng ta, thì sự buồn chán, sự phiền muộn sẽ tự tan biến ngay; thay vì hận thù, xa lạ với mọi người thì tất cả sẽ trở thành bạn thân. Tâm hẹp hòi luôn luôn từ chối, trí huệ luôn luôn tiếp nhận. Hãy kiểm soát tâm của chúng ta xem điều này đúng hay sai. Mặc dù chúng ta có được tất cả mọi thứ ở thế gian này, chúng ta cũng vẫn chưa thỏa mãn, chưa hài lòng. Điều này chứng minh sự thỏa mãn chân thật chỉ có ở nội tâm, không thể kiếm tìm ở bên ngoài.

Đôi khi chúng ta ngạc nhiên về những chuyện của thế giới văn minh: “ Trời! Khoa học tiến bộ quá, thật là tuyệt! Chưa từng thấy như vậy.” Nhưng hãy đi lùi lại và nhìn kỹ hơn, có rất nhiều thứ khi mới chế ra mà chúng ta cho rằng quá tuyệt diệu bây giờ đang gây trở ngại cho chúng ta. Cái mà chúng ta đã chế tạo ra để giúp đời sống chúng ta, bây giờ đang gây phiền phức cho chúng ta. Đừng chỉ nhìn những sự kiện ở ngay chung quanh ta, hãy nhìn xa hơn, rộng rãi hơn, quý vị sẽ hiểu được sự thật mà tôi muốn nói. Khi chúng ta vừa mới chế ra được vật gì, chúng ta nghĩ, “ Ồ, cái này thật hữu ích.” Nhưng dần dần niềm hứng khởi này đi vào bên trong (tâm) và nó sẽ tự phá hủy nó. Đó là bản tính tự nhiên của bốn nguyên tố (tứ đại): đất, nước, lửa và gió. Đây là vấn đề mà khoa học Phật giáo đã dậy cho chúng tôi

Thân xác của chúng ta cũng không thoát khỏi định luật này. Cho tới khi nào những nguyên tố này còn hòa hợp với nhau thì thân xác chúng ta phát triển tốt đẹp. Nhưng khi nào chúng chống đối nhau, không cân bằng với nhau thì đời sống của chúng ta cũng chấm dứt. Tại sao chuyện này xẩy ra? Bởi vì giới hạn tính tự nhiên của tất cả mọi hiện tượng là: khi năng lực bị thất thoát, không còn, thì sẽ bị tiêu hủy; như những tòa nhà cũ và nứt nẻ mà chúng ta thấy ở chung quanh đây. Khi thân xác của chúng ta bị bẹânh và già yếu là triệu chứng cho chúng ta biết những nguồn năng lực ở bên trong chúng ta bị xáo trộn, không cân bằng. Đây là bản tính tự nhiên của thế giới vật chất; chẳng có liên hệ gì đến vấn đề tin hay không tin. Cho tới khi nào chúng ta còn sinh vào thế giới thịt, máu và xương này thì chúng ta sẽ còn kinh nghiệm, còn tiếp nhận những điều kiện xấu, dù chúng ta tin hay không tin. Đây là tiến trình rất tự nhiên của thế giới thân xác.

Tuy nhiên, tâm của con người hoàn toàn khác. Tâm của con người có khả năng phát triển vô giới hạn. Nếu chúng ta khám phá được sự thỏa mãn chân thật đến từ tâm của chúng ta, dù trong một sự kiện nhỏ bé, thì chúng ta sẽ nhận ra rằng chúng ta có thể phát triển vô giới hạn kinh nghiệm này. Do đó chúng ta có thể khám phá ra được sự thỏa mãn bất tận, thường hằng, sự toàn mãn, viên mãn.

Điều này rất đơn giản. Qúy vị có thể tự tìm thấy ngay bây giờ. Chúng ta kinh nghiệm được những cảm giác thỏa mãn, hài lòng ở đâu? Ở mũi của quý vị? Ở mắt? Ở trên đầu? Ở trong phổi? Ở trong trái tim? Ở trong bao tử? Thực sự tất cả những cảm giác đó ở đâu? Hay là ở dưới chân? Ở tay? Ở trong óc?... Không! Chúng ở trong tâm của quý vị! Nếu chúng ta bảo nó ở trong óc, thì tại sao chúng ta không bảo nó ở mũi hay ở chân được? Tại sao chúng ta lại phân biệt như vậy? Nếu chân chúng ta bị đau, chúng ta cảm thấy ở dưới kia, không phải ở trong đầu. Muốn nói gì thì nói, bất cứ những gì chúng ta cảm thấy như đau, sung sướng, vui buồn hay bất cứ những kinh nghiệm cảm giác nào chúng ta có, chúng đều là sự diễn dịch của tâm.

Khi chúng ta nói, “ Hôm nay tôi có một ngày tốt,” nó cho chúng ta biết một điều là chúng ta đang giữ, đang có trong tâm tưởng một ngày xấu. Nếu tâm không sáng tạo một cái tên, một cái nhãn hiệu thì chẳng có kinh nghiệm tốt cũng như kinh nghiệm xấu. Khi chúng ta nói bữa cơm chiều nay ngon có nghĩa là chúng ta đang giữ một kinh nghiệm về một bữa cơm chiều không ngon ở trong tâm. Không có kinh nghiệm bữa cơm xấu thì không thể nói bữa cơm tối nay ngon được.

Tương tự như vậy, “Tôi là một người chồng tốt,” “Tôi là một người vợ xấu,” cũng chỉ là sự diễn dịch của tâm. Một người nào đó nói, “ tôi không tốt” chưa chắc họ đã xấu; người khác nói, “ tôi tốt,” chưa chắc họ đã tốt. Người đàn ông tuyên bố, “Tôi là người chồng tốt,” bởi vì tâm của người này chất đầy sự kiêu căng, tự hào. Cái tâm chật hẹp của ông ta -- bị đắm chìm trong ô nhiễmtin tưởng mãnh liệt là ông rất tốt -- đang gây khổ đau cho bà vợ. Vậy thì, ông ta là người chồng tốt như thế nào đây? mặc dù ông ấy vẫn cung cấp thức ăn, quần áo cho bà vợ hàng ngày, ông ta là một người chồng tốt như thế nào được khi mà bà vợ cứ phải sống với cái tâm kiêu ngạo, hung hăng của ông ta?

Nếu chúng ta hiểu được những hoàn cảnh gây tâm lý về những vấn đề của con người, chúng ta sẽ phát triển được tình yêu thương chân thành đến với mọi người. Chỉ nói về, chỉ bàn về tình yêu thương thì không đủ để chúng ta phát triển tâm từ bi. Có những người từng đọc hàng trăm cuốn sách nói về tình yêu mà tâm họ hầu như đi ngược lại. Lòng từ bi không chỉ là triết thuyết, không chỉ là lời nói; nó biết tâm làm việc như thế nào, tâm hiện hành như thế nào. Chỉ như vậy chúng ta mới phát triển được tình yêu thương, chỉ như vậy chúng ta mới có thể sống một đời sống tâm linh. Ngoài ra, dù có nói tôi đang sống một đời sống tâm linh thế nào đi nữa, cũng chỉ là kiểu thông minh của người đàn ông gàn bướng tự cho mình là người chồng tốt. Đó là chuyện giả tưởng, tâm của chúng ta tạo ra mà thôi.

Nếu chúng ta dành cuộc đời của chúng ta để kiểm soát cái tâm điên cuồng và hướng dẫn những nguồn năng lực tâm linh thì có giá trị biết bao. Nếu chúng ta không biết cầm cương sức mạnh của tinh thần thì sự lầm lẫn sẽ tiếp tục phá rối tâm chúng ta và đời của chúng ta sẽ uổng phí biết bao. Hãy khôn ngoan, hãy có một cái tâm luôn luôn tỉnh thức, như vậy đời của chúng ta mới thực sự có giá trị.

Tôi không còn gì để trình bày thêm nữa, nhưng nếu quý vị có những câu hỏi, xin cứ đặt ra.

Hỏi: Tôi hiểu những gì ngài trình bày về biết được bản tính của tâm sẽ mang lại hạnh phúc cho chúng ta, nhưng ngài dùng danh từ “thường hằng, bất diệt” để ám chỉ nếu chúng ta thấu triệt được tâm của chúng ta, chúng ta có thể chuyển hóa được sự chết của cái thân xác này. Điều này đúng không, thưa ngài? 

Lạt ma: Đúng, rất đúng. Nhưng chưa hoàn toàn. Nếu chúng ta biết bằng cách nào, khi nào những nguồn năng lực âm của thân xác khởi phát, chúng ta có thể biến nó thành trí tuệ. Bằng cách này, những nguồn năng lực âm sẽ tự tiêu hóa và sẽ không còn che kín, ngăn cản hệ thần kinh tâm linh của chúng ta nữa.

Hỏi: Đó là thân của tâm hay là tâm của thân?

Lạt ma: Anh có ý nói gì?

Hỏi: Bởi vì tôi nhận biết được thân xác.

Lạt ma: Bởi vì anh nhận biết được nó? Anh có nhận biết được xâu chuỗi này không?

Hỏi: Có.

Lạt ma: Cái đó có làm ra tâm không? Bởi vì anh nhận biết nó?

Hỏi: Đó là điều tôi muốn hỏi ngài.

Lạt ma: Ồ, đó là câu hỏi rất hay. Tâm của anh và thân xác của anh có một sự liên kết rất chặt chẽ; khi một sự kiện gây ảnh hưởng đến thân xác nó cũng ảnh hưởng đến tâm. Nhưng điều này không có nghĩa là sự liên hệ tự nhiên của cái thân xác này, thịt xương, là tâm. Chúng ta không thể nói như vậy.

Hỏi: Phật giáo có ý nói gì khi đề cập đến: giác ngộ, tình huynh đệ, tình thương bao la, siêu thức, nhận thức sự thật, nhập niết bàn?

Lạt ma: Siêu thức là tâm thức hoàn toàn ở trong tình trạng tỉnh thức, tình thương yêu bao la là sự vắng bóng của thiên lệnh, nghiêng về bên này hay bên kia; tình yêu bao la đặt căn bản trên sự nhận thức tất cả chúng sinh trong vũ trụ đều bằng nhau trong việc kiếm tìm hạnh phúcngăn ngừa sự bất hạnh. Hiện tại, tâm nhị nguyên của chúng ta cộng thêm những quan niệm sai lầm, chúng ta thường hay phân biệt: “Đây là bạn thân của tôi, tôi chỉ muốn cô ta thuộc về tôi, tôi không muốn ai nhìn cô ta.” Người tu tập Phật Pháp quan niệm ngược lại, yêu thương đồng đều muôn loài chúng sinh. Mục đích tối thượng là đạt giác ngộ. Nói một cách vắn tắt, khi Đức Phật dậy bảo chúng ta, Ngài nhấn mạnh đến việc tìm hiểu tâm bản nhiên là để chúng ta nhận thức được tất cả những vấn đề anh vừa đề cập đến.

Hỏi: Nhưng cái gì được coi là quan trọng nhất mà Đức Phật nhắm tới?

Lạt maMục đích tối thượng là đạt giác ngộ và phát triển tâm từ bi. Một cái tâm hẹp hòi không thể nhận thức được, không thể kinh nghiệm được sự thật.

Hỏi: Trong những bức tranh của Tây Tạng, màu sắc ảnh hưởng đến thiền địnhtâm lý như thế nào?

Lạt ma: Tâm khác nhau cho những nhận thức khác nhau về màu sắc. Thí dụ, khi giận dữ, tức bực ta thấy màu đỏ. Tâm trong trạng thái khác nó sẽ nhận thức mầu khác. Trong vài trường hợp, một người bị rối loạn tinh thần, không còn khả năng sinh hoạt, mầu sắc có thể giúp họ lấy lại trạng thái bình thường. Nếu chúng ta hiểu biết về lãnh vực này, chúng ta sẽ thấy rằng mầu sắc cũng do tâm của chúng ta. Khi tức giận, chúng ta thấy màu đỏ, nó từ bên trong hay bên ngoài? Qúy vị hãy thử tìm hiểu xem.

Hỏi: Trong thực tế, những vấn đề liên quan đến đời sống thường ngày, có phải ngài nói rằng để có được những tư tưởng tốt, chúng ta cũng phải có trong tâm những tư tưởng xấu?

Lạt ma: Tôi nói rằng khi chúng ta diễn tả một sự vật tốt hay xấu là do tâm của chúng ta diễn dịch ra. Cái gì xấu đối với anh chưa chắc đã xấu với tôi.

Hỏi: Nhưng cái xấu của tôi vẫn là cái xấu của tôi.

Lạt ma: Cái xấu của anh nó xấu cho anh bởi vì tâm của anh cho cái đó là xấu.

Hỏi: Tôi có thể thoát ra khỏi tình trạng này không?

Lạt ma: Có. Anh có thể thoát ra khỏi nó. Anh hãy tự hỏi và tự trả lời, “ Tại sao tôi lại cho cái này xấu?” Chúng ta phải đặt câu hỏi cho cả hai phía, cho cả chủ thể (người hỏi) lẫn đối tượng (vật bị hỏi), cho cả bên ngoài lẫn bên trong. Hỏi như vậy, chúng ta sẽ khám phá ra sự thật nằm ở giữa hai bên, cái khoảng không ở giữa chính là cái tâm thống nhất. Đó chính là trí tuệ.

Hỏi: Khi vào tu viện, ngài bao nhiêu tuổi?

Lạt ma: Sáu tuổi.

Hỏi: Niết bàn là gì?

Lạt ma: Khi chúng ta đã chuyển hóa những ý niệm sai lầm, tâm rối loạn và đạt sự toàn mãn, đó là lúc chúng ta đạt niết bàn.

Hỏi: Hầu như tất cả các tôn giáo đều nói, chỉ có một con đường đi đến giác ngộ. Phật giáođồng ý tất cả mọi tôn giáo đều từ một nguồn mà ra không?

Lạt ma: Có hai cách để trả lời câu hỏi này, tuyệt đốitương đối. Hầu như tất cả mọi tôn giáo đều giống nhau ở chỗ đạt giác ngộ, ở mục đích, nhưng khác nhau ở cách tiếp cận với sự việc và phương pháp được dùng để đi đến mục đích. Tôi cho rằng điều này rất tốt. Nhưng cũng phải công nhận rằng có những tôn giáo đặt căn bản trên những quan niệm sai lầm. Tuy thế, tôi không chống đối họ. Thí dụ, một vài ngàn năm trước đây, có truyền thống Aán độ giáo tin rằng mặt trờimặt trăngthần thánh, có truyền thống vẫn còn tồn tại. Theo tôi, quan niệm đó là sai lầm, nhưng với tôi họ là những người tốt. Tại sao? Bởi vì mặc dầu triết thuyết của họ sai nhưng họ vẫn dạy bảo những căn bản đạo đức tốt cho con người và không bao giờ làm buồn lòng người khác. Điều căn bản này giúp cho tín đồ của họ có khả năng đạt đến đích là có thể khám phá ra chính họ, “ Ồ, tôi vẫn thường tin rằng mặt trờithượng đế, nhưng bây giờ tôi mới biết mình sai.” Do đó, tất cả mọi tôn giáo đều tốt, chúng ta không nên phê phán, “ Đạo này hoàn toàn đúng, đạo kia hoàn toàn sai.”

Hỏi: Theo ngài, đời sống của dân Tây Tạng ngày nay ra sao? Họ có được tự do theo đạo Phật như xưa không?

Lạt ma: Họ không được tự dohoàn toàn không được thực hành tôn giáo. Chính quyền Trung cộng ngăn cấm tất cả những hoạt động về tôn giáo. Các tu viện bị phá hủy, các thánh vật bị đốt bỏ.

Hỏi: Sách đạo bị đốt, nhưng những bậc trưởng lão vẫn giữ Đạo Pháp trong tâm của họ hay họ đã quên hết rồi?

Lạt ma: Không thể quên được, không thể tách rời tâm ra khỏi năng lực của trí tuệ. Vì thế, Đạo Pháp vẫn được giữ trong trái tim của họ.

Hỏi: Tất cả các tôn giáo, ví dụ như Aán Độ giáo, đều dạy tín đồ thực hiện điều lành trách điều ác để tạo những thiện nghiệp, để mang lại những kết qủa tốt trong đời sống. Theo Phật giáo, việc tích lũy những thiện nghiệp này giúp một người đạt giác ngộ như thế nào?

Lạt ma: Việc phát triển tâm linh không xảy ra khi có sự thay đổi nguồn gốc. Ô nhiễm (ô trược) được tẩy trừ dần dần, dần dần. Có một sự tiến bộ từ từ. Cần thời gian. Thí dụ, có những người không chấp nhận những điều Phật giáo dạy về tình thương bao la, như chúng ta nên muốn cho người khác cũng được hạnh phúcchúng ta đang muốn cho chúng ta. Họ nghĩ rằng, “ Tôi không thể yêu thương những người khác như tôi thương tôi được.” Họ cần phảithời gian để nhận ra được giá trị của lòng từ bi hay của sự giác ngộ, bởi vì tâm của họ còn bận rộn, còn đầy ắp những quan niệm sai lầm thành ra không còn chỗ cho trí tuệ. Nhưng hãy để từ từ, từ từ qua việc thực hành đạo giáo của họ, họ sẽ được hướng dẫn đến trí tuệ. Đó là lý do tôi nói rằng chúng ta cần nhiều tôn giáo khác nhau cho con người. Thân xác thay đổi dễ dàng nhưng vấn đề phát triển tâm linh phải cần thời gian. Hãy lấy một thí dụ, một vị bác sĩ có thể khuyên một bệnh nhân, “Nhiệt độ của anh cao qúa, không nên ăn thịt mà chỉ nên ăn bánh trong vài ngày.” Khi bệnh nhân khỏi, bác sĩ mới từ từ cho ăn thức ăn nặng. Đó là phương pháp bác sĩ hướng dẫn một bệnh nhân lấy lại sức khỏe.

Hỏi: Khi một vị sư hay một ni cô qua đời, thân xác của họ có biến mất không, hay họ mang theo với họ?

Lạt ma: Phải rồi, họ sẽ mang theo với họ trong cái túi vải sang bên kia thế giới....Tôi nói đùa vậy thôi. Không, không thể có chuyện đó. Nhưng cũng có những vị hành gỉa đã tự tiêu hóa thân xác của họ trong trí huệ, hoàn toàn biến mất. Điều này đã xảy ra. Nhưng họ không mang cái xác này đi với họ.

Hỏi: Vì tâm của chúng ta có thể lừa dối chúng ta, không có thầy chỉ dẫn chúng ta không thể khám phá ra sự thật, có phải trong các tu viện của Phật giáo các vị thầy thường hướng dẫn đệ tử của mình đạt trí tuệ rất nhanh theo một truyền thống không? Có phải bây giờ ngài đang thực hiện chuyện đó và ngài đang dạy như vậy?

Lạt ma: Phải, thường thường trong các tu viện đều sinh hoạt như vậy, tôi đã học những điều mà tôi đang dạy. Tại sao chúng ta cần phải có thầy? bởi vì lý thuyết trong sách vở thường rất khô khan, nó được để lại như vậy cũng giống như gió thổi qua cành cây. Chúng ta cần phải có chìa khóa để chuyển chúng thành kinh nghiệm sống, để hòa nhập chúng vào tâm của chúng ta. Rồi kiến thức này sẽ chuyển hóa thành trí tuệ để giải quyết tất cả mọi vấn đề. Thí dụ, Kinh Thánh chứa đựng rất nhiều phương pháp tuyệt hảo, nhưng nếu chúng ta không có chìa khóa để mở, làm sao nó nhập tâm chúng ta được. Một cuốn sách tuyệt hảo không có nghĩa là chúng ta chỉ đọc nó mà tiêu hóa được những gì chứa đựng ở trong đó. Một con đường duy nhất mà nó có thể xẩy ra cho chúng tachúng ta phải trau dồi và phát triển trí tuệ trước.

Hỏi: Thưa ngài, ngài nói rằng con đường giác ngộ là một tiến trình phát triển từ từ, nhưng ngài có chắc chắn rằng sự giác ngộ và sự không giác ngộ sẽ không thể xảy ra cùng một lúc không? Do đó, không có nghĩa là sự giác ngộ sẽ đến bất ngờ?

Lạt maDĩ nhiên, anh nói rất đúng. Chúng ta không thể vừa giác ngộ vừa vô minh. Đạt giác ngộ là một tiến trình xẩy ra từ từ, nhưng một khi đã đạt được, chúng ta sẽ không đi trở lại; khi chúng ta đạt đến tình trạng tâm toàn giác thì ngay lúc chúng ta kinh nghiệm nó, nó sẽ ở với chúng ta mãi mãi. Nó không giống như sự huyễn ảo của cần sa ma túy, khi đã “phê” họ có cảm giác tuyệt vời nhưng khi thuốc không còn ảnh hưởng, họ lại trở về đời sống bất an

Hỏi: Và như vậy chúng ta sẽ kinh nghiệm được sự giác ngộ thường hằng này ngay trong cuộc sống của chúng ta, trước khi chúng ta chết?

Lạt ma: Đúng. Điều này có thể có. Ngay trong cuộc đời này, nếu chúng ta có đủ trí huệ.

Hỏi: Ồ, .... nếu chúng ta có đủ trí huệ?

Lạt ma: Phải... đó là sự đạt đạo: nếu chúng ta có đủ trí huệ.

Hỏi: Tại sao chúng ta cần phải có thầy?

Lạt ma: Tại sao anh cần một ông thầy dạy Anh ngữ? Để nói chuyện. Cũng giống như chuyện giác ngộ. Giác ngộ cũng giống như sự truyền thông. Ngay trong thế giới trần tục này, khi đi chợ chúng ta cũng cần phải có một thứ ngôn ngữ để nói chuyện với những người bán hàng chứ. Nếu chúng ta cần thầy cho vấn đề này thì dĩ nhiên trên con đường tâm linh chúng ta cũng cần phải có thầy để chúng ta có thể đối diện được với những điều không biết trong đời quá khứ, tương lai và trong những cấp độ sâu thẳm của tâm thức. Hoàn toàn là những kinh nghiệm mới mẻ, chúng ta không biết đi đâu, chuyện gì sẽ xẩy ra. Chúng ta cần người chỉ dẫn để biết rằng chúng ta đang đi đúng đường mà không lạc vào huyễn ảo.

Hỏi: Ai dạy ông thầy đầu tiên?

Lạt maTrí Huệ. Ông thầy đầu tiên chính là trí huệ (Trí Bát Nhã).

Hỏi: Nếu ông thầy đầu tiên không có một ông thầy là con người thì tại sao chúng ta lại cần?

Lạt ma: Bởi vì không có sự khởi đầu cũng như không có sự kết thúc. Trí huệ là trí phổ quát (universal), là tâm thức tổng quát.

Hỏi: Phát nguyện tâm bồ đề sẽ đem chúng ta đến giác ngộ hay chúng ta phải giác ngộ trước rồi phát tâm bồ đề sau?

Lạt maTrước tiên phát nguyện tâm bồ đề, rồi tâm chúng ta mới đạt đến tình trạng an lạc quân bình, ở đó chúng ta không còn chấp, không còn đối đãi cái này cái kia; tâm chúng ta ở trong bình đẳng tính, danh từ Phật giáo gọi là ở bên kia bờ nhị nguyên.

Hỏi: Tâm chúng ta sẽ dẫn đưa chúng ta đi xa trên con đường tâm linh, thật như vậy sao? và ở một điểm nào đó, để đi xa hơn nữa, chúng ta có phải từ bỏ tâm của chúng ta không?

Lạt ma: Anh bỏ tâm của anh như thế nào? Nói đùa mà chơi thôi. Không, chúng ta không thể bỏ tâm của chúng ta được. Trong khi chúng ta còn là con người, đang sống mà chúng ta gọi là đời sống thường ngày, chúng ta có tâm; khi chúng ta đạt giác ngộ chúng ta cũng vẫn còn tâm. Tâm của chúng ta luôn luôn ở với chúng ta. Chúng ta không thể bỏ nó một cách dễ dàng: “Tôi không muốn có tâm.” Nghiệp lực làm cho tâm và thân dính liền với nhau. Chúng ta không thể từ bỏ tâm của chúng ta bằng bất cứ sự thông minh nào. Nếu tâm của chúng ta là một hiện tượng vật chất thì có thể được, nhưng điều đó không thể có.

Hỏi: Những vị lạt ma có bao giờ bệnh không, nếu có, họ dùng phương pháp nào để chữa bệnh? Ngài có dùng thần lực không?

Lạt ma: Có, đôi khi chúng tôi dùng thần lực; đôi khi chúng tôi dùng thần chú; đôi khi chúng tôi thiền định. Có khi chúng tôi làm puja. Quý vị có biết nó là cái gì không? Người ta thường nghĩ puja là tụng kinh, hát thánh ca và rung chuông, nhưng thực ra nó còn hơn thế nữa. Puja là tiếng Phạn có nghĩa đen là “cúng dường”; nhưng thật nghĩa chính là trí huệ, một tình trạng thức tỉnh của tâm. Do đó, nếu trí huệ của chúng ta rung lên “tinh, tinh, tinh” thì thật là tốt, nhưng nếu trí huệ không rung mà chỉ có tinh, tinh, tinh từ bên ngoài thì không phải là puja.

Hỏi: Những gì ngài vừa nói không khác xa việc từ bỏ triết lý vật chất của người Tây phương. Chúng tôi không đến gần với đối tượng nhưng đến bằng thái độ của chúng tôi đối với chúng.

Lạt ma: Khi anh nói thái độ, có phải anh đề cập đến khuynh hướng tinh thần muốn nắm giữ hay không muốn nắm giữ đối tượng vật chất không?

Hỏi: Đối tượng bên ngoài thực sự hiện hữu, nhưng chúng hiện hữu ở bên ngoài chúng ta, tâm thức của chúng ta tiếp nhận chúng trên cùng một bình diện. Tôi tin rằng khi chúng ta chết, đối tượng vẫn còn tồn tại, nhưng không phải cho chúng ta, không phải cho một cá nhân.

Lạt ma: Tôi đồng ý với anh. Khi chúng ta chết, sự vật vẫn còn, nhưng sự diễn dịch của chúng ta về chúng, sự phóng tưởng của chúng ta, thì biến mất. Đúng, nó là như vậy.

Hỏi: Như vậy, trên căn bản, nó chống lại triết lý vật chất như thế nào? Tại sao ngài lại cho rằng thế giới bên ngoài là huyễn ảo, trong khi, sau khi tâm thức của chúng ta ra đi, thế giới vật chất vẫn còn?

Lạt ma: Tôi nói thế giới vật chấthuyễn ảo vì đối tượng mà anh nhận thức được chỉ hiện hữu trong cái nhìn của chính tâm của anh. Hãy nhìn cái bàn này: vấn đề là anh nghĩ rằng khi anh biến mất, cái nhìn của anh về cái bàn vẫn còn, anh nghĩ rằng cái bàn này vẫn còn tiếp tục hiện hữu theo cách mà anh nhìn nó. Điều này không đúng. Cái nhìn của anh về cái bàn biến mất, nhưng cái nhìn khác về cái bàn thì tiếp tục hiện hữu.

Hỏi: Làm sao chúng ta có thể nhận diện được vị thầy thật?

Lạt maChúng ta có thể nhận diện được thầy của chúng ta bằng chính tâm thức riêng của chúng ta, đừng theo người nào một cách mù quáng. Hãy thử ông thầy tương lai của chúng ta càng nhiều càng tốt. “ Vị này có phải là thầy thật của tôi hay không?” Hãy kiểm soát, hãy suy nghĩ thật sâu đậm trước khi chúng ta theo lời khuyên bảo của ông thầy. Người Tây tạng chúng tôi có một lời chỉ dẫn là đừng nhận một ông thầy như một con chó say mê miếng thịt. Nếu chúng ta cho con chó đói một miếng thịt nó sẽ ngoạm ngay chẳng chần chừ gì cả. Điều căn bảnchúng ta hãy thử thách, hãy khám nghiệm vị lãnh đạo tinh thần, vị thầy tâm linh, vị cố vấn tinh thần, hay bất cứ tên gì mà chúng ta đặt cho họ, chúng ta phải vô cùng, vô cùng thận trọng trước khi nghe lời họ dạy bảo. Hãy nhớ những điều tôi trình bày trước đây về những quan niệm sai lầm và những triết thuyết ô nhiễm, chúng còn nguy hiểm hơn cần sa ma túy rất nhiều. Nếu chúng ta tuân theo những quan niệm sai lầm của ông thầy tinh thần giả thì hậu quả chẳng những rất tai hại cho kiếp này mà còn cho bao nhiêu kiếp sau nữa. Thay vì giúp chúng ta, nó sẽ tác hại chúng ta. Xin quý vị hãy vô cùng khôn ngoan trong vấn đề chọn vị thầy tâm linh.

Hỏi: Vì ngài là một vị sư Phật giáo từ Tây Tạng nên tôi xin hỏi, ngài có nghe gì về Lobsang Rampa không? Oâng ta viết rất nhiều sách có vẻ phỉ báng Tây tạng. Oâng ta đã chết rồi, ông ta viết rằng hồn của một vị lạt ma Tây Tạng đã nhập vào ông ta nên ông ta có thể viết được như vậy. Có thật như vậy không thưa ngài, nếu không, làm sao ông ta viết được những cuốn sách này?

Lạt ma: Tôi không nghĩ rằng có thể có điều đó. Chúng ta cũng cần phải kiểm soát lại những gì ông ta đã viết. Có rất nhiều điều sai lầm trong những sách của ông ta. Ví dụ, khi viết về các vị lạt ma mở con mắt trí huệ, ông ta nói họ cần giải phẫu. Điều này không đúng. Con mắt trí huệ là con mắt của tâm linh, nó được khai mở bởi các vị lạt ma khi họ có được chiếc chìa khóa tâm linh. Tuy nhiên, người mở được con mắt này thì không bao giờ nói còn người không mở được con mắt này thì lại nói quá nhiều.

Hỏi: Thưa Lạt ma, ngài có ý nói gì về tâm nhị nguyên? Và “hãy tự tìm hiểu”, “hãy tự kiểm soát” là có ý gì?

Lạt ma: Từ khi chúng ta sinh ra đến bây giờ, có hai vấn đề (cái này cái kia, tốt xấu, trên dưới...vân vân...) luôn luôn xuất hiện, luôn luôn làm phiền tâm chúng ta; hai sự kiện, luôn luôn hai, không bao giờ có một. Đó là cái mà chúng tôi gọi là tâm nhị nguyên. Bất cứ khi nào chúng ta nhìn một vật, một sự kiện thì tự động, rất tự nhiên, tâm của chúng ta liền so sánh nó với một cái gì khác: “Cái khác thì sao?” Hai sự kiện này làm mất sự cân bằng của tâm chúng ta. Đó là sự hiện hành của tâm nhị nguyên. Về câu hỏi thứ hai, khi tôi nói hãy tìm hiểu, tôi có ý nói rằng chúng ta nên tự khám xét, tự khám nghiệm, tự nghiên cứu, tự điều tra xem tâm của chúng talành mạnh hay không. Mỗi buổi sáng thức dậy, hãy tự khám nghiệm tình trạng tinh thần của chúng ta để chắc chắn rằng nó sẽ không thay đổi bất thường trong ngày. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói về “hãy tự tìm hiểu”.

Hỏi: Nếu tất cả mọi sự việc đều do nghiệp quyết định, làm thế nào chúng ta có thể biết được động lực nào tốt, động lực nào đúng, chúng ta có cơ hội để chọn lựa một cách vô điều kiện hay không?

Lạt ma: Một nguyên động lực tinh khiết thì không được quyết định bởi nghiệp. Một nguyên động lực tinh khiết được phát khởi từ sự hiểu biết của trí tuệ. Nếu không có sự hiểu biết trong tâm của chúng ta thì không thể có được nguyên động lực tinh khiết. Thí dụ, nếu tôi không hiểu được tính ích kỷ tự nhiên của tôi, tôi không thể giúp người khác. Cho tới khi nào tôi chưa nhận thức được hành vi ích kỷ của tôi thì tôi luôn luôn đổ lỗi cho người khác về những vấn đề của tôi. Khi tôi thấu hiểu được tâm tôi, tất cả những nguyên động lực trong tôi sẽ trở nên trong sạch và tôi có thể thành thật chia sẻ những hành động của thân, khẩu và ý để mang lại an lạc cho người khác.

Cám ơn quý vị, đó là một câu hỏi rất hay, tôi tin rằng nguyên động lực tinh khiết này cho chúng ta dừng lại ở đây. Cám ơn quý vị nhiều. Nếu chúng ta có những động lực trong sạch, chúng ta sẽ ngủ ngon, sẽ có những giấc mơ tuyệt vời, sẽ an hưởng cuộc sống, cám ơn nhiều lắm.

(Lama Yeshe thuyết giảng tại Assemly Hall, Melbourne, Úc châu. Ngày 27-3-1975)




HÃY MỞ TÂM BAO LA NHƯ ĐẠI DƯƠNG
Nguyên tác Make Your Mind an Ocean của Lama Yeshe,
do Trung Tâm Yeshe Wisdom Archive xuất bản.
Vô Huệ Nguyên dịch.
Email: josephdynh@hotmail.com


XIN HỒI HƯỚNG TẤT CẢ CÔNG ĐỨC ĐẾN MUÔN VÀN CHÚNG SINH TRONG MƯỜI PHƯƠNG PHẬT VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ TÁT, CON KHÔNG GIỮ LẠI MỘT CHÚT GÌ CHO RIÊNG CON

 

Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 101368)
Ngôi chùa Phật giáo 700 tuổi đứng vững trước lũ sông Dương Tử Khi nước lũ đạt mức kỷ lục trên khắp miền trung và miền nam Trung Quốc, video xuất hiện vào ngày 14-7 cho thấy một ngôi chùa 700 tuổi kiên cường đứng trước mọi thứ mà sông Dương Tử có thể xô vào.
Thời gian cơn đại dịch hiểm ác Virus corona này, khi các nhân viên y tế tuyến đầu bận rộn trong việc phòng chống và kiểm soát Covid-19, một số người đang âm thầm quan tâm lo lắng cho người dân với tinh thần vô ngã vị tha, những người gián tiếp bị con ác quỷ Covid-19 này tấn công. Thượng tọa Tiến sĩ Bodhipala là một trong những chiến sĩ ở tuyến đầu của trận chiến chống đại dịch Covid-19, Ngài là một trong những anh hùng thầm lặng trên mặt trận không tiếng súng, chiến đấu với kẻ thù vô hình nhưng đầy hiểm nguy.
Thật sự ai có chút từ tâm hẳn cũng phải nghẹn thở khi nhìn hình ảnh người cảnh sát da trắng đè gối lên cổ người da đen cho đến chết, mặc lời van xin thảm thiết.