Phần Hai ( B ) Giáo Pháp Uyên Thâm Của Giải Thoát Tự Nhiên Qua Sự Thiền Định Hiền Minh Và Phẫn Nộ: Giai Đoạn Hoàn Thiện Các Hướng Dẫn Về Sáu Bardo

26/10/201012:00 SA(Xem: 10171)
Phần Hai ( B ) Giáo Pháp Uyên Thâm Của Giải Thoát Tự Nhiên Qua Sự Thiền Định Hiền Minh Và Phẫn Nộ: Giai Đoạn Hoàn Thiện Các Hướng Dẫn Về Sáu Bardo
5

Sự Giải Thoát Tự Nhiên Của Nhận Biết
Những Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm

Về Tiến Trình Chuyển Tiếp Của 

Thiền Quán Ổn Định

Trong chủ đề chung thứ ba này, tiến trình chuyển tiếp của thiền quán ổn định – được gọi là “sự giải thoát tự nhiên của nhận biết,” với những hướng dẫn thiết thực có thể so sánh với một phụ nữ trẻ nhìn chăm chú vào gương và thấy rõ ràng những gì chưa thấy rõ – là chủ đề được dạy. Trước đó, sự nhận biết được chỉ ra và trình bày như “đơn giản là đây”, kết quả trong tâm kiên trì thấy rõ như trong sángnhận biết. Do bám chấp vào nó như điều đó bạn không thể giải thoát. Do vậy, ở đây là các hướng dẫn để nâng cao thiền quán ổn định qua việc nhận dạng sự nhận biết bằng cách thực hành đó là không bám chấp và siêu vượt lên trí năng. Duy trì sự nhận biết qua sự khảo sát cẩn thậngiải thoát, nên được gọi là “các hướng dẫn về sự giải thoát tự nhiên của nhận biết.”

Chướng ngại nền tảng để đạt giải thoát là bám chấp. Chẳng hạn, trong thực hành Hinayana, vẫn còn chấp bám vào nhân dạng cá nhân làm cản trở sự thành tựu tâm linh tỉnh thức của hành giả. Loại bám chấp giới thiệu trong giáo lý này là bám chấp vi tế vào tự thân sự nhận biết, và sự giải thoát tự nhiên của nhận biết xảy ra khi sự bám chấp này ngưng lại. Về phần phép loại suy, hãy hình dung một phụ nữ trẻ đẹp đáng yêu nhìn vào gương, tự trang điểm đẹp đẽ đẹp nhất mà cô có thể. Cô muốn người khác nghĩ cô ta rất trẻ đẹp. Nhờ nhìn vào gương cô ta có thể phát hiện bất cứ thiếu sót nào trong vẻ ngoài của cô, và sau đó có thể sửa lại chúng. Tương tự, giáo lý này trình bày cho chúng ta cách làm thế nào để nhìn vào gương của tánh giác và nhận thức những gì trước đó không thấy rõ.

Trước giai đoạn này của thực hành, vị thầy tâm linh của bạn nên chỉ ra các đặc tính quan trọng nhất của giác tánh. Nhưng sau đó chính những phẩm tính này có thể trở thành đối tượng của bám chấp vì ngay cả nếu bạn nhận ra bản tánh của sự nhận biết, bạn vẫn sẽ chấp vào nó. Bây giờ giai đoạn này của thực hànhý định dẫn dắt bạn vượt lên bám chấp đó trong cách siêu vượt lên trí năng. Giữa các tín đồ đạo Phật, không chỉ hành giả của Hinayana chịu thua sự bám chấp. Ngay cả trong thực hành của Vajrayana, khuynh hướng bám chấp có thể bị duy trì trong nhiều cách, chẳng hạn như trong giai đoạn phát triển.

Có lần, một vị lama ở Tây Tạng với danh hiệu Kushok Abu, người mà một số người xem là một hóa thân của Ngài Khyentse Yeshe Dorje. Ngài là một đại lama với sự giác ngộ thâm sâu siêu phàm. Vị lama này bình luận rằng nếu người ta thực hành giai đoạn phát triển với sự bám chấp, hình dung chính họ như các Bổn Tôn phẫn nộ với miệng mở rộng, nhe nanh, v.v... điều này chỉ dẫn đến việc tái sanh như một quỷ vương. Tương tự, nếu thiền định về các vị hộ Pháp với bám chấp, điều đó cũng có thể dẫn đến tái sanh như ma quỷ. Vấn đề ở đây không nằm trong sự quán tưởng mà trong sự bám chấp. Giai đoạn hoàn thiện có thể hoạt động như một giải độc cho sự bám chấp có khả năng xảy ra trên giai đoạn phát triển. Trái lại, giai đoạn phát triển là sự giải độc cho tính cực đoan của đoạn kiến (chủ nghĩa hư vô), có thể xuất hiện trên giai đoạn hoàn thiện.

Tương tự, có những kỹ thuật khác nhau, có dấu hiệu và không có dấu hiệu để phát triển an định (thiền chỉ). Nhờ chuyển từ phương pháp có dấu hiệu đến không dấu hiệu, sự bám chấp được tiêu trừ. Trong tiến trình đó bạn phải chắc không kết thúc trong một loại hôn trầm, vì chẳng có bất cứ lợi ích nào. Trong mọi thực hành khác nhau này, vấn đề thiết yếu là bám chấp, là chướng ngại chính cho việc giải thoát tự nhiên của bạn. Một số trong các bạn có thể tự hỏi, “Việc khao khát giải thoátgiác ngộđáng giá không? Có tư tưởng vị tha, mong muốn phục vụ người khác, có tư duy bi mẫn là đáng giá không? Và có hay không việc bám chấp vào một phần của tiến trình tâm linh này?” Tôi không có bất cứ câu trả lời nào cho điều đó. Bạn nên từ từ tìm kiếm.

Nhóm từ “duy trì sự nhận biết qua việc khảo sát cẩn thận” có nghĩa duy trì nhận biết liên tục của tự thân sự nhận biết qua sự quán sát và khảo sát kỹ lưỡng. Theo trích dẫn của Ngài Dudjom Lingpa, “Đừng bao giờ để nhận biết của bạn rời khỏi không gian.” Nói khác đi, là luôn giữ sự nhận biết của bạn trong không gian phía trước. Do vậy điều này được gọi là hướng dẫn về sự giải thoát tự nhiên của nhận biết.

THIỀN ĐỊNH BÌNH ĐẲNG CỦA BA BẬC KHÔNG GIAN

Chỉ có sự nhận biết được chỉ ra như trước và biết bản tánh của bạn là chưa đủ. Như một phép loại suy, vì để cho con ngựa hoang của hành giả đi rong tự do trong nhiều năm, chủ nhân của nó không nhận ra, và một khi được người chăn gia súc chỉ ra cho họ nhận ra con ngựa của mình cũng vẫn chưa đủ. Phải dùng phương pháp để bắt giữ con ngựa hoang này, sau đó khuất phục và bắt nó làm việc. Tương tự, chỉ nhận ra tâm hoang dã này là chưa đủ. Người ta nói rằng, “Ồ, vào lúc này, khi tiến trình chuyển tiếp của thiền quán ổn định xuất hiện với tôi, quan điểm nhầm lẫn của sự sao lãng bị loại bỏ, và không dao động, không bám chấp, tôi đi vào lãnh vực thoát khỏi các cực đoan.”

Bạn có thể được vị thầy tâm linh của mình chỉ ra bản chất của tánh giác bạn như đã mô tả trước đây, nhưng chỉ được chỉ ra nó và có một số cái nhìn thoáng qua về nó là chưa đủ. Trong lịch sử của Phật giáo Tây Tạng ở phương Tây, người đầu tiên nuôi dưỡng nhiều ngựa hoang của phương Tây là Ngài Chogyam Trungpa Rinpoche. Không chỉ cho người ta cỏ Ngài còn cho một số trong họ thuốc lá và rượu. Khi làm vậy Ngài cũng có vẻ đi theo đường của họ. Ngài có vẻ thích thuốc lá, phụ nữ, rượu, v.v... Do làm như vậy, Ngài bộc lộ bản tánh cho chính họ, và mở ra con đường cho các đại lama khác – bao gồm Ngài Gyalwa Karmapa, Đức Dalai Lama, và nhiều vị đại lama khác – để vây bắt những con ngựa hoang ở phương Tây này. Cơ hội để tôi được giảng dạy bây giờ không phải do năng lực của tôi, mà do sự chuẩn bị đã hoàn tất của Ngài Chogyam Trungpa Rinpoche và các vị đại lama khác đã giảng dạy ở phương Tây này.

Để hiểu chiến lược của Ngài Chogyam Trungpa Rinpoche, hãy tưởng tượng một vùng trong đó trời mưa khác thường mà khi người ta uống nước từ cơn mưa đó sẽ trở nên điên loạn. Có một vị vua không uống nước đó, và không bị điên; nhưng bởi mọi người đều điên trong khi vị vua này thì không nên họ không nghe lời ông ta. Do ông ta trái ngược với mọi người nên họ không cảm nhận được mối liên hệ với ông ấy. Vị vua nhận ra điều này, biết rằng ông cần phải lãnh đạo họ, và cũng biết rằng ông không làm được điều ấy cho đến khi nào ông tỏ ra giống họ và tất cả đều điên. Vì vậy ông uống nước, tỏ vẻ bị điên loạn giống họ, và sau đó họ đã nghe lời ông. Họ bảo rằng, “Ồ, ông ấy cũng giống chúng ta”. Đó chính là chiến lược của Ngài Chogyam Trungpa Rinpoche; Ngài tỏ ra bị điên giống tất cả chúng ta để có thể dẫn dắt chúng ta một cách hiệu quả, và người ta sẽ nghĩ rằng, “À, ngài là một trong chúng ta. Ngài cũng giống chúng ta mà thôi!”

Giống như một cây kiếm không thể tự cắt chính nó và mắt không thể tự thấy chính nó, chúng ta không thể nhận ra bản tánh riêng mình. Tại đây trong phương Tây và ở nơi khác, các vị thầy của đạo Phật đã tham gia nhiều hoạt động đa dạng rộng rãi, một số đã gợi ra nhiều chỉ trích. Xét về một khía cạnh, nhiều phê bình đó hoàn toàngiá trị; nhưng từ một khía cạnh khác, những người nói về lỗi của người khác, người mà phê bình, xem thường, và lăng mạ cũng có thể nói là thiển cận. Đó là, họ chỉ thấy các biểu hiện cư xử bên ngoài mà không thấy những gì đang diễn tiến bên trong. Họ không thấy nguồn xuất phát của hành động đó, và không thấy lý do bên trong của cách cư xử nên họ khinh thường. Họ không thấy loại cư xử này liên hệ ra sao với hoàn cảnh hiện nay ở phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ. Họ cũng không có đầy đủ thấu suốt trong sự áp dụng của phương tiệntrí tuệ vào nhiệm vụ của chư Bồ Tát; vì chư Bồ Tátthể tham gia trong các hoạt động đa dạng và rộng rãi để phục vụ chúng sanh được hiệu quả trong những hoàn cảnh khác nhau.

Kết quả cốt lõi ở đây thật sự là karma của riêng bạn, quá trình lịch sử của hành động và công đức của cá nhân bạn. Những gì bạn thấy và bạn phán đoán ra sao chủ yếu được xác định bởi các yếu tố này: karma và công đức của chính bạn. Nếu thiếu karma thanh tịnh hay công đức, bạn sẽ không thể thấy những gì đang thực sự diễn tiến, vì hậu quả lâu dài của hành động người khác có thể phát sinh khác biệt hơn những gì bạn mong đợi. Điều này giống như cố dùng tay che mặt trời; bạn chỉ có thể che chắn một khoảng không gian rất nhỏ dưới mặt trời, nhưng không thể che được tự thân mặt trời. Thậm chí dù toàn bộ thế gian hợp lại nâng cao một người thiếu karma thanh tịnhcông đức là điều không thể có. Một cách từ từ, dần dần, khi chúng ta tiến bộ trong thực hành của mình, những điều này sẽ trở nên ngày càng rõ ràng hơn. Điều duy nhất có thể làm chúng ta thoái lui là sự che ám do chính chúng ta gây ra.

Về mặt tìm kiếm lỗi lầm, đừng tìm kiếm lỗi lầm của các vị thầy trước đã viên tịch hoặc những vị mà bạn đã được rèn luyện. Nếu bạn muốn tìm lỗi của một vị thầy, tôi đề nghị bạn nên tìm nơi tôi. Với những người nhẫn tâm, bạn có thể nói về lỗi lầm của người khác và lăng mạ họ. Nếu có một ít lòng nhân từ, bạn có thể nói, “Ôi, tội nghiệp thay,” và cảm thấy một ít lòng bi cho người khác vì lỗi lầm của họ. Mặt khác, bạn có thể trau dồi kiến thanh tịnh về người khác, nhưng điều này rất khó, có lẽ quá khó nên hoàn toàn không thể bàn đến được.

Về những người tiêu tốn thời gian của họ để tìm lỗi người khác, lăng mạ, tỏ thái độ xem thường và khinh rẻ người khác thì họ là gì? Họ là chư Phật chăng? Chắc chắn là không. Họ là chư Bồ Tát chắc? Đừng hòng! Chư Phật và Bồ Tát rất bi mẫn, và các Ngài không tự cho phép lăng mạ, phỉ báng và bày tỏ sự coi thường người khác. Điều đó không thể xảy ra. Vậy những người tìm kiếm lỗi người khác thì chính họ có bị che ám không? Chắc chắn có. Và vì họ là chủ thể cho sự che ám và ảo tưởng chính họ, họ không chỉ thấy bất tịnhbất tịnh mà còn thấy thanh tịnhbất tịnh. Họ thấy mọi sự đều bất tịnh vì sự che ám của chính họ. Đây là do vô minh của chính họ, là sự che ám xuất hiện từ ảo tưởng. Đây là cách họ thấy thế gianphản ứng với thế gian như vậy.

Hãy nhớ rằng chư Phật không đi lăng mạ người khác, các Ngài không phỉ báng hay khinh rẻ chúng sanh. Điều đó đơn giản không có trong bản tánh các Ngài. Bất cứ trong chúng ta khi nào trong tiến trình lăng mạ, phỉ báng hay làm bẽ mặt người khác, không quan tâm đến các phẩm tính của người khác, chính trong hành động lăng mạ người khác, bằng cách đó chúng ta bộc lộ các lỗi lầm của mình. Chính hành động lăng mạ, khinh thị, vu khống, v.v... là con đường làm bộc lộ lỗi lầm của chính chúng ta. Nếu chúng ta siết chặt một con rắn thì sự phóng chất độc của nó, bình thường bị che giấu sẽ lòi ra. Cũng giống như thế, ngay khi chúng ta thóa mạ ép buộc ai đó thì lỗi lầm của chính chúng ta sẽ bộc lộ. Là một Phật tử, việc tiếp tục xu hướng lăng mạ và phỉ báng người khác như vậy là không được. Khi chúng ta bắn mũi tên khinh miệt đến người khác, kẻ bị trúng thương trước tiên là chính chúng ta. Những lời nói gay gắt giống như một con dao hai lưỡi. Hãy nghĩ rằng, “Tôi đang có một cây gươm thật sắc”, bạn sẽ giương cao lưỡi kiếm của lời nói, nhưng khi bạn hạ kiếm xuống để đánh ai đó, lưỡi kia của ngọn kiếm sẽ chẻ đôi bạn.

Những người mới bắt đầu phải thực hànhthiền định với sự chú tâm kiên định. Con ngựa hoang chưa bị thuần hóa cần được thuần phục với lòng nhiệt tình một cách kiên trì. Nếu bạn dao động, bạn sẽ mất kiểm soát con ngựa, té xuống và tự làm bản thân bị thương. Tương tự như thế, nếu người mới bắt đầu theo đuổi những suy nghĩ bình thường, họ sẽ bị hạ cấp xuống trạng thái đau khổ của tồn tại và sẽ bị tổn thương; vì thế cần duy trì thiền định với sự tập trung không dao động.

Khi thấy được bản chất của nhận biết do người thầy tâm linh chỉ ra, bạn sẽ có một số hiểu biết; nhưng chỉ có như vậy thì chưa đủ. Cái hiểu này được xem giống như một miếng vá: bạn khâu nó lại, nhưng nó rất dễ dàng rớt ra. Cái hiểu ban đầu này cần được duy trì. Sự giải thoát tự nhiên của nhận biết này chính là cái hiểu của nhận biết của chính bạn. Tới khi nào hiểu được nhận biết hiện tại của chính minh, ta không đặt hy vọng vào các chúng sanh khác. Giải thoát nằm ở sự nhận biết của chính ta; vì thế đừng hy vọng vào người khác sẽ đem đến giải thoát cho mình.

Đặc biệt là ở phương Tây này, khi nói đến thiền định, người ta nghĩ đến cái gì đó phải thật đặc biệt. Khi bạn thực hành thiền định, bạn mong được thấy, được cầm, cảm giác, ngửi hoặc nếm cái gì đấy rất đặc biệt. Những quan điểm ấy là sai lạc. Trong thực hành thiền định thực tế, bạn đặt các nếm trải của sinh tử luân hồi sang một bên và để cho chúng như thể chúng là, bạn không làm gì đặc biệt cả. Do tính chất tự nhiên của sự tỉnh thức vượt lên trên sự sinh ra, trụ và diệt, vậy thì làm sao thiền định thực sự có thể là làm hành động gì đó được? Chẳng có gì để thiền định về, và cũng chẳng có nền tảng nào để thiền định. Bản chất của điều này là kết quả. Tự thân của kết quả tâm linh chuyển thành con đường. Có một kết quả hoặc thực hành tâm linh tột độ hay không? Để chuyển kết quả vào con đường, bạn thực hành mà không có hy vọng thành tựu bất cứ điều gì. Bạn có thể hỏi, “Vậy thì tôi sẽ thành Phật chăng? Nếu tôi thực hành, chẳng phải điều này dẫn tôi đến Phật quả sao?” Bạn chuyển kết quả đó là Phật tánh vào con đường. Nhiều người vỗ tay trong tranh luận về điểm này và kết quả là tay họ trở nên rất, rất đỏ. Ngoài ra, một số người có thể hỏi, “Bạn có trở thành một vị Phật như kết quả của con đường thực hành này hay không? Trong thực tế kết quả có đến sau thực hành này hay không?” Câu trả lời của tôi cho điều này là, “Bạn có thỏa mãn với sự chuyển hóa kết quả vào con đường hay không?”

Lấy phép loại suy về các bậc cha mẹ. Cha mẹ nuôi dưỡng con cái bằng việc cho ăn và chăm sóc chúng trong mọi cách. Bằng tiến trình dần dần này, đứa bé trưởng thành. Khi cha mẹ đang nuôi dưỡng đứa bé, thì có bất kỳ người nào đến với họ và nói, “Đứa bé này phải con của các bạn hay không”? Hay bất cứ điều gì xảy ra nếu có ai đó ở ngoài gia đình đến và nói, “Đứa bé này là của bạn à”? đứa bé đó của họ là hoàn toàn đúng. Tương tự, bản tánh chính chúng ta là kết quả; mà trong tiến trình thực hành của mình, chúng ta đem bản tánh mình đến trưởng thành, giống như cha mẹ đem con họ đến trưởng thành bằng việc chăm sóc chúng. Nó hoàn toànbản tánh của chúng ta, và ai đó nói với chúng ta nó là như vậy hay không như vậy đều hoàn toàn chẳng thay đổi được bất cứ điều gì. Điều đó đúng như cách nó là.

“Thiền định” là tên khác cho sự không thiền định về bất cứ điều gì; và về mặt ý nghĩathiền quán thăng bằng trong sự thiền quán ổn định của ba bậc không gian đã dạy trong Tantra Ba Diễn Đạt Của Giải Thoát Tự Nhiên Bằng Sự Quán Sát:

Ôi Đấng Thế Tôn Bí Mật, đó là những hướng dẫn để thực tế hóa Dharmakaya: không gian bên ngoài là không gian trống rỗng xảy ra ở giữa này; không gian bên trong là kinh mạch rỗng, trống không kết nối đến mắt và trái tim; không gian bí mật là cung điện quý báu của chính tim bạn. Hãy hướng sự nhận biết đến mắt bạn, hướng mắt bạn vào khoảng không gian ở giữa, và nhờ để cái nhìn chăm chú của bạn vào đó; trí tuệ bổn nguyên xuất hiện thoải mái. Khi ý thức được hướng đến mắt bạn, chỉ có nhận biết phi khái niệm sẽ xuất hiện, không bị che ám bởi bất cứ quan niệm ép buộc nào.

Thực hành chính của thiền định được gọi là “sự thiền định của ba bậc không gian” là sự thực hành trong khi thân ở tư thế bảy thuộc tính Vairocana. Tự tâm rỗng không bên trong này tập trung vào con đường nối liền với kinh mạch rỗng, trống không. nhận dạng lỗ mở đỉnh đầu được gọi là “ánh sáng trói buộc chất dịch” bắt buộc hướng sự nhận biết của bạn đến mắt. Hãy để đôi mắt nhìn chăm chú cố định vào không gian bên ngoài trong sạch này; và cũng tập trung sự nhận biết vào không gian phía trước bạn. Không thiền định về bất cứ gì, chỉ không dao động, hãy để nó được ổn định, minh bạch và bình thản.

Thực hành này hoàn toàn giống với thực hành Nhảy-qua. Bạn có thể học hỏi ý nghĩa của thực hành này chỉ bằng việc kinh nghiệm nó cho chính bạn. Giống như bạn phải nuôi dưỡng con bạn để chúng trưởng thành, bạn cần nuôi dưỡng chính bạn qua thực hành này. bằng việc đọc các giáo lý này vào lúc ban đầu bạn có thể có một số hiểu biết; nhưng chỉ điều đó là không đủ.

Trước tiên hãy thực hành trong một thời ngắn và khi quen thuộc hãy thực hành thời công phu dài hơn và dài hơn nữa. Khi kết thúc thời công phu, đừng đứng dậy đột ngột mà hãy đứng lên chậm rãi không làm mất cảm giác thiền định; và tiếp tục không làm mất cảm giác của nhận biết, không dao động và không bám chấp. Khi bạn ăn, uống, nói năng, và tham gia vào mỗi hoạt động hãy làm như vậy không đánh mất sự canh chừng của việc chú tâm không dao động. Nếu điều này xảy ra trong thiền quán bình đẳng mà không xảy ra sau đó, nhờ hòa nhập điều này với thực hành tâm linh của bạn và mọi hoạt động đi, đứng, nằm, ngồi, thì bất kể những gì bạn làm sẽ xuất hiện như thiền định.

Sự nhận biết từ thực hành như vậy không là điều bạn có thể giải thích cho người khác giống như tài sản vật chất. Tuy nhiên, nếu một người tuyên bố là có nhận biết và đã quán sát kỹ lưỡng, thì sau một lát, trong thực tế người này có được nhận biết hay không sẽ trở nên rõ ràng.

bản tánh của karma là rất vi tế nên điều quan trọng ở đây là sự đặc biệt cẩn thận. Khi đạt được Phật quả, chúng ta có thể nói đã vượt lên sự phân biệt giữa thiền định và không thiền định, vì nó sẽ là sự thật. Cho đến lúc đó, điều quan trọng là rất cẩn thận với những tuyên bố như vậy về chính mình, dẫn giải rằng, “Ồ tôi đã thiền định mọi lúc. Với tôi không có sự khác biệt giữa thiền định và hậu thiền định,” Thậm chí một người ngu có thể nói điều này dễ dàng và nếu bạn vội vã tuyên bố như vậy về thành tựu tâm linhnhận biết của mình, bạn chỉ làm hổ thẹn chính bạn.

Có những giai đoạn khác nhau của thực hành. Chẳng hạn, bạn có thể thiền định tốt vào ban ngày nhưng ban đêm lại không được. Đó là, khi ngủ thiếp đi, bạn rơi vào giấc ngủ sâu và vào trạng thái mộng thông thường, nên bạn không thực hành. Điều đó giống như một người thanh thiếu niên. Hoặc trong hoàn cảnh bình thường bạn có thể có khả năng thực hành tốt, nhưng khi vấn đề phát sinh thực hành của bạn bị tan vỡ. Điều này giống như một đứa bé yếu đuối. Đứa bé đi loanh quanh và dường như khỏe mạnh nhưng ngay khi gặp phải khó khăn, sự yếu đuối của nó trở thành hiển nhiên. Về sự tiến bộ này, trước tiên hãy kiểm soát tâm để bạn có thể có được kinh nghiệm đích thực trong lúc thực hành theo nghi thức thiền định. Nếu có thể thiết lập một nền tảng ở đây, bạn có thể có khả năng đem kinh nghiệm này vào trạng thái hậu thiền định. Nếu có thể duy trì trạng thái hậu thiền định này trong lúc và sau nghi thức thiền định suốt ngày thì điều này lần lượt sẽ giúp bạn chuyển hóa giấc ngủ của bạn vào trạng thái thiền định. Nếu có được một số nhận biết, điều này sẽ giúp bạn kéo dài việc thực hành ngay cả khi đối mặt với những vấn đề, nghịch cảnhchướng ngại nghiêm trọng. Điều đó lần lượt cho quyền bạn chuyển hóa tiến trình chuyển tiếp sau khi chết. Đó là mục đích của thực hành hiện nay. Đây là con đường tiệm tiến và nhờ việc thiết lập một nền tảng và phát triển nó một cách dần dần, sự thực hành mở rộng suốt toàn bộ đời bạn, ngày và đêm, thậm chí vượt lên cuộc sống này. Tương tự, về truyền thống Zen (Thiền), có nói rằng một khi vị thầy nhận đệ tử, người đệ tử đó được nuôi dưỡng từ lúc bé trở đi. Điều này thật sự đáng khâm phục. Tương tự, thực hành này cần được duy trì suốt mọi giai đoạn ở trên.

Có một luận thư trình bày: “Khi thiền định, hoàn toàn không thiền định về bất cứ cái gì, vì trong bản tánh tuyệt đối của thực tại, chẳng có gì để thiền định trên đó.” Quyển Thành Tựu Viên Mãn Tối Cao Trình Bày:

Ồ, đây là sự bộc lộ của chính tôi, bậc hoàn toàn thành tựu, rỗng rang: thân người là bất sinh, và quan niệm là samadhi. Thiền định và phi thiền định không lệ thuộc vào hoàn cảnh. Đối tượng của thiền định là mọi hiện tượng chỉ như chúng xuất hiện. Không có bất cứ cách đặt sự nhận biết vào bất kỳ chỗ nào, hãy để nó trong trạng thái của chính nó, không biến đổi, là sự thiền định.

Và:

Ôi Đấng anh hùng Vajra, trở nên quen thuộc với thực tại. Nếu suy ngẫm thực tại, sự nhận biết huyền bí không xuất hiện, thì những ai bám chấp và quen thuộc với lời nóiâm thanh sẽ không gặp sự truyền miệng của chính Ta, bậc thành tựu viên mãn.
Và:

Đừng áp đặt tâm bạn vào bất cứ thứ gì và đừng thiền định. Đừng biến đổi thân, khẩu, ý của bạn mà hãy buông lỏng chúng. Không quan tâm đến các hành tinh, chòm sao, ngày âm lịch, và thời gian,45[45] đừng ràng buộc tâm bạn và hãy tự tại với mantra và mudra (thủ ấn).

SỰ TỰ-GIẢI THOÁT 
KHỎI MỌI THỨ XUẤT HIỆN SAU THIỀN ĐỊNH

Theo sau sự thiền định bình đẳng như vậy, điều quan trọng là được hướng dẫn. Sau khi thiền định, hãy thực hành việc không làm mất cảm giác của thiền định bình đẳng và nói riêng bất cứ niệm tưởng nào khởi lên, hãy lặp lại việc để chúng xuất hiện và tan biến. Mỗi một niệm tưởng đều tan hòa vào trạng thái của giải thoát tự nhiên. Hãy giải thoát mỗi niệm tưởng ngang bằng nhau trong trạng thái của không bám chấp. Ngoài ra, đặc tính tự nhiên của niệm tưởng là an trụ bổn nguyên trong giải thoát tự nhiên. Khi một niệm xuất hiện trước như sân hận, và sau đó xuất hiện như lòng bi, cái sân hận trước đó chẳng đi bất cứ đâu. Nó giải thoát vào sự giải thoát tự nhiên, không được giải thoát bởi bất kỳ ai. Sự thù hận chưa từng tồn tại bất di bất dịch. Ngoài ra, sự sinh ra thù hận là sự tự-hiện và là hình tướng tự nhiên của năng lực sáng tạo của trí tuệ bổn nguyên. Do vậy, vì nó không thể nói rằng “nó xuất hiện từ đây”, bản tánh của thù hận là bất sinh. Trong lúc đó, sự thù hận này không có chỗ trụ. Nếu có và nếu mọi thù ghét đều xuất hiện từ thời vô thủy cho đến nay chúng được bàn bạc và đo lường, điều này không thể có, vì để nó có thể thích hợp vào vũ trụ với hàng ngàn thiên hà. Bản tánh của sự thù ghét là bất sinh và không có vị trí, nên dù khởi lên nó vẫn chưa từng được đặt nền tảng trong thực tại. Do đó, sự thù ghét xuất hiện ngày hôm qua rồi hôm nay đi đâu? Sự thù ghét đến từ hôm nay sẽ xuất hiện vào ngày mai ở đâu và nó sẽ hiện hữu ở đâu? Sự thù ghét ở đâu mà xuất hiện ở hôm nay ngay bây giờ? Khi tình thương phát sinh thì thù ghét đi đâu?

Tất cả chúng đều xuất hiện từ năng lực sáng tạo của trí tuệ bổn nguyên tự hiện, nên chúng là không thêm không bớt ngay cả nếu chúng bị loại bỏ. Chúng giải thoát tự nhiên ngay trong đặc tính của chính chúng nên không bị hủy hoại hay giải thoát bởi các đối trị khác. Nhìn một cách không che đậy, sự thù ghét là hiện diện bổn nguyên như sự tự-giải thoát và dễ dàng giải thoát vào trong chính trạng thái của nó. Ngay bây giờ không có nền tảng thêm vào của giải thoát; bằng việc nhận dạng thù ghét như trí tuệ bổn nguyên tự hiện và nhờ chuyển hóa tự thân thù ghét vào con đường của thiền định thực tế. Thì mọi hình tướng xuất hiện đều là thiền định. Do đó không cần tìm kiếm ở đâu khác để thiền định, vướng mắc của tâm thức bám chấp xảy ra trong thiền định sẽ sáng tỏ ngay nơi chúng bị vướng mắc.

Như vậy, đúng như sự thù ghét chắc chắnbất sinh và tự giải thoát, biết rằng bất cứ dấu hiệu tinh thần nào khởi lên bao gồm tám vạn bốn ngàn phiền não tinh thần, tất cả chúng đều bất sinh và tự giải thoát. Do đó không có quan điểm loại bỏ niệm tưởng và trau dồi tính phi khái niệm. Nếu một thân cây tre rỗng ở bên trong thì mọi thân tre đều rỗng bên trong; nếu một mấu tre đặc thì tất cả mấu tre đều đặc. Nếu biết rằng một giọt nước thì ướt, bạn biết rằng tất cả giọt nước đều ướt. Tương tự, nhờ biết rằng ví dụ một của niệm tưởng là bất sinh và tự giải thoát, bạn biết được rằng mọi niệm tưởng đều bất sinh và tự giải thoát. Việc xác quyết một ví dụ của ý thức tinh thầnbất sinh và tự giải thoát được gọi là “sự xác quyết trên nền tảng chỉ trên một ví dụ”. Nếu người ta không chấp nhận ví dụ đó của ý thức, thì hãy tìm kiếm điều gì khác, vì chẳng có gì để nhận dạng: nên được gọi là “sự nhận dạng trên nền tảng của chính mình.” Vì đặc tính của nó được bộc lộ như sự tự giải thoát nên nó được gọi là “xây dựng tự tin trên nền tảng của giải thoát.”

Trong việc xây dựng tự tin trên nền tảng của giải thoát có bốn con đường giải thoát lớn. Bất chấp niệm tưởng nào khởi lên đăïc tính của chúng vẫn là giải thoát bổn nguyên, tự giải thoát, giải thoát tức thờihoàn toàn giải thoát. Khi một niệm tưởng bám luyến đột ngột khởi lên, đặc tính của nó vẫn là giải thoát bổn nguyên nên giờ đây không có nền tảngï thêm vào của giải thoát. Nó tự giải thoát chính nó, không được giải thoát bởi bất kỳ ai khác, nên không có sự giải độc nào khác để giải thoát nó. Khi một niệm tưởng tự nó quán sát lập tức, nó không có tự tánh và chẳng có gì để thấy; vì nó lập tức giải thoát, nó thay đổi. Vì niệm tưởng khởi lên xảy ra bởi chính nó nên nó cũng hoàn toàn giải thoát; thế nên bây giờ không cần cố gắng để giải thoát nó.

Nếu một niệm tưởng khởi lên, nó là sự giải thoát bổn nguyên, nếu hai niệm tưởng khởi lên, chúng đều tự giải thoát, giải thoát lập tứchoàn toàn giải thoát. Vì cho đến nay, điểm trọng yếu của cách thức giải thoát của chúng chưa được tìm hiểu, nên niệm tưởng bám chấp theo cách thông thường; và kết quả là bạn lang thang trong chu trình sinh tử và chẳng có thời gian khi bạn giải thoát. Bây giờ, với bốn loại giải thoát, bạn đã biết được vấn đề. Một khi vị thầy tâm linh của bạn chỉ ra nó và sự chắc chắn giải thoát đã xuất hiện, những gì bạn phải làm bây giờ với thiền định là cần sử dụng việc vô hiệu hóa về bám chấp tâm thức phải không? Bất cứ những gì xuất hiện hãy để chúng đi như sự tự giải thoát. Đừng thiền định; hãy để sự nhận biết tự do lang thang. Hãy đặt sự nhận biết của bạn một cách bình đẳng.

Có bốn loại giải thoát không khởi nguyên từ các hướng dẫn thâm sâu của vị thầy tâm linh. Bạn không phát hiện chúng bởi những người can đảm, tốt bụng. Bạn không tình cờ phát hiện chúng bởi người rất may mắn. Đặc tính của tất cả chúng sanh vẫn là bốn loại vĩ đại này, nhưng không nhận ra chúng là sự giải thoát. Bị trói buộc bởi sự không thể bám chấp, họ vẫn còn lang thang trong chu trình sinh tử. Trong lúc lang thang họ chưa từng tách khỏi bốn con đường giải thoát lớn. Việc tách rời họ khỏi chúng là điều không thể, và chúng cũng sẽ không như vậy. Trong khi đặc tính của họ là giải thoát, mà vì bám chấp nên họ là chủ thể của nhầm lẫn và tiếp tục kinh nghiệm đau khổ.

Chẳng hạn ngay cả khi họ chịu kinh nghiệm đau khổ của địa ngục Avici (A TỳVô Gián) họ chịu đựng mà không nhận biết rằng đặc tính của họ vẫn tồn tại trong bốn loại đại giải thoát. Nếu biết được đặc tính bẩm sinh của niệm tưởng đau khổgiải thoát thì họ sẽ chẳng bị bất kỳ đau khổ nào nữa. Đối với người bị ba loại vô minh che ám, họ không biết cách thức giải thoát của chúng.

Dù bạn tiếp nhận giáo lý truyền miệng này hoặc học tập bản văn viết, thì điều quan trọng nhất là áp dụng giáo lý này vào thực hành. Vì đây là giáo lý Atiyoga nên việc cố thực hành chúng là vô ích nếu chính bạn không tận tâm với các thực hành chuẩn bị.

Hãy nhấn mạnh việc thực hành của bạn hơn là suy nghĩ về việc bạn làm thế nào để có thể phổ biến giáo lý này cho người khác. Kể với người khác về giáo lý này là không lợi ích hoặc đảm nhận vai trò của một vị thầy tâm linh nếu bạn chỉ có hiểu biết dựa trên khái niệm và có thể bạn thực sự gieo trồng hạt giống cho việc tái sanh thấp. Hãy áp dụng giáo lý vào thực hành, có kinh nghiệm trong chúng và sau đó bạn có thể giảng dạy từ chính sự nhận biết của bạn. Nếu không đủ phẩm tính để dạy điều này, thậm chí nếu bạn nghĩ mình hành động vì lòng vị tha hay lòng bi thì bạn đang tạo sai lầm. Hãy thận trọng khi gán những động cơ cao quý cho chính bạn. Nếu bạn nghĩ có thể phục vụ cho Giáo Pháp hiệu quả hơn vác vị đại lama – như Đức H.H. Dalai Lama, H.H. Dudjom Rinpoche, Gyalwa Karmapa, v.v... – bạn cần suy nghĩ lại. Trái lại, nếu bạn tham gia trong thực hành này đơn thuần vì lợi ích chúng sanh thì điều đó là tốt. Nhưng hãy nhớ rằng rất khó có được động cơ thoát khỏi tám mối quan tâm thế gian và tất cả dấu vết của sự tự cho mình là trung tâm

Giữa hai loại của Tâm linh Tỉnh Thứctâm linh khao khát tỉnh thứctâm linh mạo hiểm hướng đến tỉnh thức. Bây giờ với chúng ta nên tập trung thật sự vào cái trước. Tâm linh mạo hiểm hướng đến tỉnh thức đòi hỏi nền tảng vững chắc trong việc lắng nghe, tư duy, và thiền định, cũng như rèn luyện tất cả sáu hoàn thiện (lục ba la mật). Điều này thật không dễ dàng. Hãy nuôi dưỡng chính bạn như cha mẹ nuôi con. Hãy tự chăm sóc, cho chính bạn ăn bằng thực hànhcuối cùng khi đến lúc trưởng thành tâm linh bạn sẽ có khả năng làm bất cứ điều gì cần thiết. Nếu bạn thật sự muốn phục vụ Giáo Phápchúng sanh, hãy sử dụng những gì bạn đã có để đáp ứng lý tưởng cao thượng và tôn quý này, cụ thểsử dụng thân, khẩu, ý của bạn. Ví dụ, với thân, bạn có thể cúng dường đảnh lễtham gia vào các thực hành sùng kính khác nhau. Về mặt phục vụ chúng sanh hãy thực hành hoàn thiện thứ nhất, sự hoàn thiện của rộng lượng (bố thí ba la mật). Hãy bố thí và giúp ích theo cách mà bạn có thể, hoặc vật chất hay cách khác. Sau đó thực hành dần dần hết năm hoàn thiện khác. Hãy trau dồi và thực hành các hoàn thiện trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền địnhtrí tuệ. Phát triển qua rèn luyện trong các thực hành này một cách dần dần, tích lũy công đức và tịnh hóa dòng tâm thức bạn. Đó chính là cách phục vụ chúng sanh thiết thực bằng phương tiện của thân, khẩu và ý bạn. Song, nếu không có bất cứ kinh nghiệm thực sự nào về Đại Viên Mãn, những khó khăn sẽ xuất hiện từ việc cố giảng dạy nó. Trái lại, nếu áp dụng giáo lý này vào thực hành, sự nhận biết sẽ dần dần xuất hiện, và bạn sẽ ở vị trí chia sẻ giáo lý này với người khác.

Một nguồn kinh điển khác về bốn loại đại giải thoát là Tantra Nguyên Thủy về Âm Thanh Thấm Nhuần:

Tánh giác (sự nhận biết) của chính bạn thoát khỏi sự khái niệm hóa nên nó có bốn loại đại giải thoát. Vì nó giải thoát bổn nguyên (là quan điểm không thay đổi bất cứ thứ gì), đó là không có nền tảng thêm vào. Vì nó tự giải thoát (là quan điểm không nghiên cứu tra xét) nên không có sự giải độc. Vì nó giải thoát lập tức (là quan điểm hãy để nó trong trạng thái của riêng nó), nó biến mất ngay nơi nó được thấy. Vì nó hoàn toàn giải thoát, nên không có nỗ lực.

Sự giải thoát bổn nguyên hiện nay có nghĩa chẳng có gì đặc biệt để làm và không có gì cần thay đổi , vì sự nhận biếtgiải thoát bổn nguyên giống như mặt trời hiện diện từ ban sơ, ngay cả dù nó có thể bị mây tạm thời che phủ. Vì sự nhận biết tự giải thoát nên không cần giải độc khác như thiền định. Tuy nhiên, cho đến khi chúng ta vẫn còn đang trên con đường, những kỹ thuật thiền địnhcần thiết; nói một cách thực tế chúng ta cần phải sử dụng chúng.

Về mặt giải thoát tự nhiên của sự nhận biết, không phải nhận biết biến mất “ngay nơi nó được thấy” mà đúng hơn là ngay lúc nhận ra bản tánh của nhận biết, mọi bất tịnh và che ám biến mất lập tức. Điều này giống như sự tương tự của sợi dây mà tưởng là con rắn. Ngay khi bạn thấy nó thực sự là một sợi dây, toàn bộ hình tướng của con rắn lập tức biến mất. Vì thế, không có gì cần tác động vào tâm để làm mất tác dụng những bất tịnh và làm nó biến mất. Chẳng có điều gì làm chúng biến mất hay bất cứ thứ gì ngăn cản chúng khỏi biến mất. Sự nhận biết là “hoàn toàn giải thoát,” vì sự giải thoát tuyệt đối, hoàn toàn của nó về mặt bên trong và bên ngoài và về mặt ba thời – quá khứ, hiện tại và tương lai. Do đó không cần nỗ lực sử dụng thân, khẩu và ý để giải thoát nó.

Chuỗi Ngọc Trai trình bày:

Vì nó giải thoát bổn nguyên nên cao quý vĩnh viễn. Vì nó tự giải thoát nên hoàn cảnh khách quan bị cạn kiệt. Vì nó giải thoát lập tức nên hình tướngthanh tịnh. Vì nó giải thoát khỏi các cực đoan nên bốn lựa chọn được tịnh hóa. Vì nó giải thoát khỏi tính độc nhất nên vô số trở nên trống rỗng.

Trong sự tự giải thoát của nhận biết, nguyên nhânhoàn cảnh hoàn toàn biến mất. Trong sự giải thoát tức thời của nhận biết, hình tướngthanh tịnh bổn nguyên. Sự thanh tịnh như vậy không xảy ra sau một lúc nào đó và cũng không đến từ bất cứ đâu khác hơn là chính bản tánh của nhận biết. Sự nhận biết giải thoát khỏi mọi thái cực của thường kiến, đoạn kiến v.v.. “Bốn lựa chọn” là hiện hữu, không hiện hữu, cả hai hiện hữu và không hiện hữu, và chẳng hiện hữu cũng không phi hiện hữu. Sự nhận biết giải thoát khỏi bất cứ bốn lựa chọn này. Vì nó là bản tánh duy nhất của toàn thể luân hồiniết bàn, nên sự nhận biết là “vô số trở nên trống rỗng.”

Do đó, vì mọi âm thanhsắc tướng vẫn trong bốn loại giải thoát, chúng không bị trói buộc bởi bất cứ thứ gì. Mọi sự đều tự hiện từ trạng thái của chính nó và tự-giải thoát. Bất cứ những gì xuất hiện đều thoát khỏi ba thái cực, sinh, trụ và diệt, nên tự thân thực tại là sự tự-xuất hiện. Do đó, chỉ tùy theo vị thầy tâm linh chỉ ra điều này, một khi biết tự thân thực tại là tự-xuất hiện bạn sẽ nhận ra sắc tướngý thức như tự thân thực tại.

Trong bốn loại giải thoát, chẳng có gì bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì, nhưng trong chu trình sinh tử, chúng ta bị ràng buộc bởi sự tự bám chấp, bám chấp vào bản ngã cá nhân và bám chấp vào hiện tượng. Tuy nhiên, về mặt bản tánh riêng chúng việc nhắc đến bốn loại giải thoát, mọi âm thanhsắc tướng đều không bị ràng buộc bởi bất cứ thứ gì cũng chẳng có gì giải thoát chúng; nên sự giải độc là không cần thiết.

Tôi đã quan sát rằng nhiều người trong các bạn khi thiền định giống như một cây cung căng thẳng tìm mục tiêu và hướng mũi tên đến mục tiêu. Tâm các bạn đầy căng thẳng và bạn cố giữ chắc. Mặt khác, sự trang nghiêmkiên nhẫn như vậy là tốt. Bạn bị mê hoặc với đối tượng thiền định của mình giống như con nai bị thôi miên bởi âm thanh của đàn guitar. Trái lại, quá nhiều căng thẳngnỗ lực trong thực hành có thể tạo ra vấn đề. Bạn quá căng thẳng, cố bám chặt vào đối tượng mà nó xuất hiện thay đổi bất thường. Để chống lại việc căng thẳng, sinh động thái quá. Hãy nhẹ nhàng một chút trong thiền định. Hãy để tâm bạn được nhiều khoảng không hơn.
Hãy nhớ phép loại suy về việc thuần hóa con ngựa hoang trước đây. Nếu bạn hùng hổ nắm chặt dây cương buộc ngựa và kéo mạnh trong lúc nhăn mặt và cố giữ con ngựa, thì nó cũng sẽ phản ứng hung hăng. Điều này sẽ chỉ làm cả hai thêm mệt. Một cách tiếp cận khéo léo hơn là thuần phục con ngựa này một cách nhẹ nhàng, nên con ngựa này cũng sẽ phản ứng nhẹ nhàng. Tôi nghĩ đó là trí tuệ trong cách tiếp cận này vì chính bản chất của việc kỷ luật và cái chịu kỷ luật đều là sự nhận biết. Do đó, nếu bạn chọn cách tiếp cận nhẹ nhàng và dễ dàng này, tôi nghĩ sẽ có ít vấn đề hơn.

Bất kể những gì xuất hiện đều giải thoát trong chính trạng thái của nó, nên hình tướng thoát khỏi sự xác nhận và phủ nhận, như đã được trình bày trong tantra nguyên thủy về Sự Thể Nhập Của Âm Thanh:

Vì thế, mọi sự đều là tự thân thực tại, và tách khỏi điều này thì chẳng có gì để chấp nhận và chẳng có điều nhỏ nhất nào bị bỏ qua. Bất cứ những gì xuất hiện đều là tự thân thực tại, và tách khỏi điều này chẳng có tự thân thực tại nào được tính toán trước. Bất kể những gì được làm, tính không khái niệm xuất hiện. Không lấy hay bỏ, nó là sự tự-hiện.
Quyển Khảm Châu Báu trình bày:

Khi thể nhập ý thức chiếu sáng trên đối tượng, sắc tướng là sự tự-hiện. Vào lúc đó hãy để ý thức được tự do.

Tánh Giác Tự-Hiện trình bày:

Ý nghĩa của việc chẳng có gì để thiền định là không loại bỏ bất cứ thứ gì. Nếu không bám chấp hay bám luyến, bạn phát hiện sự không thể vượt trội. Không có sự loại bỏthoát khỏi một đối tượng là bị loại bỏ, không có người loại bỏ đối tượng vậy làm thế nào có bất cứ gì bị loại bỏ?

Đồi Châu Báu trình bày:

Ôi, Ngữ Vajra, với ý thức rỗng không của Ngài quán sát trí tuệ bổn nguyên của mọi hình tướng. Tất cả hình tướng của mỗi loại xuất hiện để giúp đỡ nó – kỳ lạ thay!

Ý thức của bạn là ý thức rỗng không, vì nó không có bất cứ loại thực chất, bản chất hay cốt tủy nào. Hình tướng được biểu lộ sáng tạo của nhận biết, mà đúng hơn là chúng xuất hiện để trợ giúp nhận biết. Điều này giống như mối tương quan giữa bùn và hoa. Bùn không cản trở hoa mà đúng hơn là giúp hoa nở.

Bất cứ những gì xuất hiện, nó đều bất động từ nền tảng của nó – ha, ha! Với nhận biết rỗng không của bạn quán sát hình tướng hoàn toàn giải thoát. Chúng vĩ đại như sự giải độc của chính chúng. – ngạc nhiên thay! Các phiền não tinh thần giải thoát trên chính chúng – ha ha! Với tánh giác rỗng không của bạn, quán sát bản chất không thực46 đó là giải thoát bổn nguyên. Không cần nỗ lực, kết quả được thành tựungạc nhiên thay! Do biết một điều, tất cả luân hồiniết bàn đều tịnh hóa trong tính bất nhị – ha ha!
Một lần nữa Tánh Giác Tự-Hiện trình bày:

Đừng bám chấp hình tướng. Đừng khẳng định không hiện hữu. Đừng loại bỏ hiện hữu. Đừng thành tựu Phật quả. Đừng thực hành thiền định. Đừng trau dồi cái thấy. Đừng ngưng lại với hình tướng lừa dối. Đừng kinh nghiệm hình tướng thanh tịnh.

Luận thư này cũng trình bày:

Với cái thấy hãy quán sát trí tuệ bổn nguyên tự-hiện. Nó vượt lên đạo đứcđồi bại, thiền định và cái thấy – ngạc nhiên thay! Không lay chuyển nền tảng, bất cứ hành động nào của thân bạn thực hiện, chúng đều thoát khỏi đạo đứcđồi bại, lợi ích và gây hại – ha ha!

Trong cách kinh nghiệm này, bất cứ hành động nào của thân bạn thực hiện, nền tảng vẫn không lay chuyển. Điều này có thể hiểu dưới dạng đại dương. Ngay cả dù mặt biển có thể chuyển động thành sóng nhưng dưới đáy sâu lại không chuyển động. Tương tự, hành động của thân giống như sóng trên mặt biển trong khi bản tánh của nhận biết giống như dưới đáy biển.

Hãy quán sát loại đặc tính hiện diện của sự vật. Các hình tướng này không thay đổi vẻ ngoài hoặc đổi màu sắc của chúng, bất cứ hạnh phúc hay đau khổ nào bạn diễn trong đời sống, trong thực tại chẳng có thay đổi – ha ha! Hãy quán sát trí tuệ bổn nguyên đại rỗng không, đó là suối nguồn của mọi sự. Đa dạng các hoạt động tưởng tượng và hồi ức xuất hiệnngạc nhiên thay! Bất cứ những gì được làm đều giải thoát, không sinh ra, trong sự phát triển bất tận – ha ha!

“Loại hiện diện” này đơn giản ám chỉ bản chất của hiện tượng. Hình tướng không thay đổi theo bất kỳ cách nào về mặt bản tánh thực sự của chúng. Toàn bộ trích dẫn này ám chỉ bản tánh của sự nhận biết. Dĩ nhiên, trên bình diện quy ước hay tương đối, có sự hoan hỷ, phiền muộn và nhiều thay đổi; nhưng bản tánh của nhận biết vượt lên bất cứ sự thay đổi như vậy. Các hoạt động đều xuất hiện tự nhiên; chúng tự-hiện.

Thành Tựu Tối Cao Toàn Khắp trình bày:

Hãy không sao lãng khỏi cái thấy của niệm tưởng giải thoát trong trạng thái của chính chúng; hãy để mặc chúng trong bản chất của chúng không nỗ lực. Mọi sự đều tự-hiện và giải thoát trong chính trạng thái của chúng.

Vì thế, mọi hiện tượng hình tướngý thức chẳng bị điều gì trói buộc và chẳng được giải thoát bởi điều gì. Khi bạn nhận ra chúng xuất hiện từ trạng thái bổn nguyên thoát khỏi ràng buộc và giải thoát ra sao thì bất cứ chỗ nào cũng chẳng có lấy hay bỏ. Do biết rằng bất cứ những gì xuất hiện đều là bản tánh của tự thân thực tại, tách khỏi điều đó thì chẳng có thiền định cao quý nào để thực hành. Một niệm xấu không bị loại bỏ. Bất cứ những gì xuất hiện đều thoát khỏi sự trói buộcgiải thoát. Trí Tuệ Viên Mãn Trình Bày, “sắc tướng thì không trói buộckhông giải thoát... toàn giác là không trói buộckhông giải thoát.” Hãy nhận ra điều đó và được giải thoát. Kết quả giống như đi đến một hòn đảo đầy châu báu và vàng, mọi sự đều giải thoát trong đại rỗng không của tự thân thực tại. sự thiền định bám chấp đối tượng được giải thoát trong chính trạng thái của nó và bạn sẽ thành Phật không có tiến trình chuyển tiếp.

Hãy nhớ rằng tất cả điều này gắn liền với bản tánh của nhận biết. Từ viễn cảnh đó, tất cả trình bày này vẫn đứng vững. Chẳng có thiền định tối ưu nào được thực hành để ngửi, thấy, hay nắm giữ vào điều gì đặc biệt. Một khi bạn đạt được toàn giác cũng giống như trên một hòn đảo chỉ có vàng và ngọc quý, mọi thứ bạn thấy ở đó đều cùng bản chất. Ở đây, trong nhận thức giác ngộ đó, mọi sự bạn thấy xuất hiện đều như tự thân thực tại nên không có hình tướng thông thường.

Có ba cách thành Phật. Cách tốt nhất là do nhận ra ý nghĩa của bốn loại đại giải thoátthành Phật trong chính kiếp sống này, như các kết tập của bạn (uẩn) cùng với các nhiễm ô của nó đều biến mất. Cách trung bình là trở thành Phật trong lúc cận tử bằng phương tiện của các hướng dẫn về chuyển di, hoặc thành Phật trong tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại nhờ năng lực của chân lý biểu lộ thích hợp. Tối thiểuthành Phật nhờ được giải thoát vào một cõi tịnh độ của Nirmanakaya trong tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành, hoặc chọn lựa một nơi sinh tốt, nhận tái sanh, gặp được Giáo Pháptrở thành Phật. Ở đây là những hướng dẫn về con đường tốt nhất để thoát khỏi sự khao khát samadhi trong tiến trình chuyển tiếp của thiền quán ổn định, về việc nhận ra bốn loại đại giải thoáttrở thành một vị Phật. Đó là những hướng dẫn về tiến trình chuyển tiếp của thiền quán ổn định được gọi là “sự giải thoát tự nhiên của nhận biết.” Samaya.

Đã niêm, đã niêm, đã niêm.

Để thành tựu Phật quả trong “cách tốt nhất” là đạt được thân cầu vồng, đặc biệt là “thân cầu vồng đại chuyển di,” trong đó bạn hoàn toàn chuyển hóa ngay cả việc chẳng để lại móng tay sau khi chết. Năng lực của chân lý trở thành hiển nhiên bằng phương tiện của hai giai đoạn phát triểnhoàn thiện. Chìa khóa để thoát khỏi sự khao khát samadhi là giải thoát bám chấp. Vị đệ tử tốt nhất là một “người làm ngay lập tức”, là người có được nhận biết ngay khi bản tánh của sự nhận biết được chỉ ra. Loại người nào là người làm ngay lập tức hoặc là người sẽ đạt thân cầu vồng của đại chuyển di? Đó là người trải qua tiến trình nhiều kiếp, trước tiên đã rèn luyện theo sutra (kinh điển) rồi sau đó theo tantra (mật tông) và cuối cùng theo Đại Viên Mãn. Nhờ phương tiện rèn luyện lâu dài từ kiếp này sang kiếp khác, người như vậy đã chín muồi tâm linh và sẵn sàng đi đến hoàn toàn tỉnh thức.

Người này giống như một garuda (kim xí điểu) lập tức sẵn sàng bay ngay khi mới nở, trái với các loài chim khác phải phát triển và tập luyện đôi cánh trước khi chúng rời khỏi tổ. Vì thế, người làm ngay lập tức cũng giống như kim xí điểu trong khi phần lớn người bình thường chúng ta giống như các loài chim thông thường phải thực hành dần dần. Phải rèn luyện trong sáu hoàn thiện: bố thí, trì giới, v.v.. Nếu hành giả đi theo toàn bộ lộ trình của con đường qua ba vô số a tăng kỳ cuối cùng lên tới thành tựu tột bậc trong giải thoát viên mãn. Tất cả chúng ta ở đây phải rèn luyện dần dần, chúng ta cần tham gia trong rèn luyệnthực hành với thân, khẩu, ý. Theo cách này dòng tâm thức chúng ta sẽ dần dần chín muồi.

Có những luận thư phi thường với các giáo lý uyên thâm về Đại Viên Mãn như là Bảy Kho Tàng Của Longchen Rabjampa, và có những lama phi thường đã đến đây để cống hiến các giáo lý này. Nhờ tiếp nhận các giáo lý như vậy, nhờ đọc các quyển sách từ tác phẩm chính yếu ngày càng phát triển về Đại Viên Mãn được phiên dịch sang ngôn ngữ phương Tây, và nhờ thiền định dần dần, cái thấy của Đại Viên Mãn sẽ được nhận biết.

Những lợi ích của việc tịnh hóa tâm thức phiền não của chúng ta như tham, sân và ảo tưởng là gì? Lợi ích trước tiênchúng ta sẽ không bao giờ quay trở lại chu trình sinh tử này. Sự giải thoát của chúng ta sẽ không thể thay đổi. Người ta thường nói chúng ta hiện nay là chủ thể của mara, quỷ vương của các kết tập tâm sinh lý của sắc tướng, cảm nhận v.v... Khi tâm chúng ta được tịnh hóa, sẽ chiến thắng các kết tập của mara. Chúng ta thoát khỏi đau khổ và các kết tập. Kết quả của việc tịnh hóa tâm thức phiền nãochúng ta sẽ thấy mọi giáo lý và các vị thầy tâm linh của chúng ta như các bậc hoàn toàn thanh tịnh. Niềm tin của chúng ta trong Giáo Pháp sẽ tăng trưởng to lớn. Chúng ta sẽ thực sự thấy vị thầy tâm linh của mình là một vị Phật. Cái thấy thanh tịnh này không phải là điều gì đó giả tạo hay gian khó. Kết quả khác là khi chúng ta tham gia với chúng sanh khắp thế gianquán sát họ nỗ lựchạnh phúc biết bao nhưng không tìm thấy, họ mong ước thoát khỏi đau khổ và không tìm thấy nó ra sao và phần đông họ tiếp tục gieo trồng hạt giống đau khổ và kết quả của vụ mùa là đau buồn – chúng ta sẽ kinh nghiệm lòng bi vô lượng cho tất cả chúng sanh. Có một số biểu hiện chứng tỏ như một kết quả của việc tịnh hóa dòng tâm thức phiền não tinh thần của chúng ta.

Trái lại, giờ đây khi tâm chúng ta vẫn còn là chủ thể của rất nhiều phiền não tinh thần, chúng ta dao động giữa bám luyến và thù ghét, gây hấn, cạnh tranh v.v... Lòng bi đích thực không phát sinh và chúng ta tiếp tục tham gia trong các hoạt động bất thiện nhiều lần. Tới mức độ như chúng ta tiếp tục theo đuổi khuynh hướng bất thiện, chúng ta giống như Angulimala, người xâu các ngón tay của tất cả những người bị ông ta giết thành chuỗi. Nếu tiếp tục trong những khuynh hướng bất thiện thì giáo lý Đại Viên Mãn sẽ chẳng lợi ích gì cho chúng ta.

Người có ít hiểu biết về Phật giáo có thể tiếp nhận giáo lý này, chừng nào họ còn làm như vậy với mục đích thực hành. Nếu động cơ của bạn đơn giản là tò mò thì giáo lý này sẽ chuyển thành chất độc với bạn. Để minh họa cho điều này, có lần có hai người đến một vị lama để được chỉ dẫn tâm linh. Vị lama ban cho họ giáo lý về Đại Viên Mãn. Một người hiểu được âm thanh của giáo lýnhập thất để áp dụng giáo lý vào thực hành. Người kia nghe được giáo lý Đại Viên Mãn rồi bỏ đi với ấn tượng rằng vị lama đã nói không có khác biệt giữa đạo đứcđồi bại. Nghĩ rằng không cần phải từ bỏ hay đi theo bất cứ gì nên ông ta hoàn toàn không kềm chế, cư xử của ông ta trở nên bất thiện không thể kềm chế. Lỗi lầm của ông ta là suy nghĩ rằng không có khác biệt giữa điều thiện và bất thiện. Sự việc ông ta có nhận thức hoàn toàn sai lầm về giáo lý là nghiệp của ông; kết quả của điều đó là ông tham gia vào tất cả mười hành động bất thiện và các thứ khác. Cuối cùng hai người này gặp lại nhau và so sánh các nhận thức về việc họ đã làm liên quan đến những gì họ nghĩ là đầy đủ với hướng dẫn của vị lama. Họ thấy quan điểm của họ hoàn toàn không tương thích với nhau nên quyết định trở lại vị lama để tìm ra chân lý. Họ đến vị lama và giải thích tình hình. Vị lama nói người đi nhập thất là đúng và người hành động không kềm chế là sai. Vào lúc đó, người bị nói là hoàn toàn sai trở nên rất giận, ông ta tự bào chữa là cùng nhận được giáo lý như người kia, và ông rất siêng năng mà giờ đây lại nói ông ta làm mọi thứ đều sai nên ông ta bỏ đi. Cuối cùng, ông ta tái sanh làm loài vật. Vị hành giả kia trở thành Phật.

Lời răn dạy của câu chuyệnlời khuyên của tôi là bạn nên thực sự thực hành, và nên nhớ rằng hành động của bạn sẽ có nghiệp quả tương ứng. Điều quan trọng là vô cùng chu đáo về hành động của chúng ta. Giống như người thứ nhất trong câu chuyện, chúng ta cần chu toàn về hành vi của mình. Điều quan trọng là thật sự thực hành, thực sự trau dồi lòng bi; và điều rất quan trọng là chúng ta không phạm sai lầm. Việc tôi tiếp tục trở lại chủ đề này không vì tôi nghĩ các bạn khờ dại khiến tôi phải tự lập lại. Thật ra tôi lập lại điều này với hy vọng rằng thực hành của bạn sẽ tiến xa hơn. Lý do cho việc nhấn mạnh lại những điểm này là từ kinh nghiệm của cá nhân tôi. Trước đây đã lâu khi tôi giảng dạy ở Berkeley, tôi giảng về bản tánh của karma, sự bất lợi của chu trình sinh tử, v.v... Sau một lúc các đệ tử yêu cầu tôi ngưng giảng loại chủ đề này vì họ không muốn nghe nhiều về samsara. Tôi nghĩ, “Tốt thôi, đây là một đất nước tự do. Nếu họ không muốn nghe, thế là xong.” Tuy nhiên, khi tôi tiếp tục theo dõi, một số đệ tử vẫn không hiểu. Đừng cố đưa lý do để che đậy những chủ đề không thích, hãy đối mặt với chúng. Đó là cách phản ứng tốt nhất.


 
 

6

Giải Thoát Tự Nhiên Của Sự Quan Tâm Về Chuyển Di:
Các Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm Về
Tiến Trình Chuyển Tiếp Của Cận Tử

Trong chủ đề phổ biến thứ tư, tiến trình chuyển tiếp của cận tử (các hướng dẫn thiết thực giống như việc gửi đi mệnh lệnh đã đóng dấu của nhà vua), sự giải thoát tự nhiên của quan tâm về chuyển di đã được dạy. Đó là hướng dẫn thiết thực để trở thành một vị Phật vào lúc chết cho người nào sẽ chết có tâm thức bình thường, cho người không rèn luyện trong chu trình trước đó của Xuyên Thấu, hay trong thân huyễn, giấc mộngthanh tịnh quang, người chưa nhận ra bốn loại đại giải thoát và nhất là những người đã nhận được hướng dẫn này nhưng không có thời gian để thiền định. Có những nhân viên nhà nước, chủ nhà và người rối trí đã nhận được hướng dẫn thiết thực uyên thâm nhưng không áp dụng vào thực hành, đã bỏ rơi các hướng dẫn này trên giấy và chỉ nghe Giáo Pháp. Sự giải thoát tự nhiên của quan tâm về chuyển di này là một phương pháp quan trọng, hùng mạnh để thành Phật không cần thiền định.

Chúng ta không cần tìm kiếm “chủ nhà” và “người sao lãng” ở đâu khác. Giáo lý này là của chúng ta. Chúng ta sao lãng vì kẹt trong tám mối quan tâm thế gian và chỉ hiểu biết một cách khái niệm về Giáo Pháp. Chúng ta bỏ rơi giáo lý trên giấy hay băng ghi âm và sau đó quên đi. Ở Tây Tạng, một cách truyền thống giáo lý chắc chắn không được ghi chép và nhìn chung người ta cũng không ghi chú. Việc ghi chép giáo lý để thuận tiện cho thực hành của mình là tốt; nhưng nếu không biết cách áp dụng giáo lý vào thực hành, thì các ghi chép như vậy chỉ trở thành kho trữ. Do vậy, giáo lý về sự quan tâm đến chuyển di này là rất quan trọng.

Mỗi người sinh ra đều chắc chắn sẽ chết, và không một ai nói được khi nào cái chết sẽ xảy đến, nhưng vì nó sẽ sớm xảy ra, nên mọi lúc hãy lắng nghe và chú tâm đến cái chết.

Ngay khi sinh ra, bạn đã bị cái chết ghi dấu. Chẳng còn nghi ngờ gì về cái chết. Có cái gì hoàn toàn chắc chắn khi nào cái chết sẽ xảy ra không? Sự thực là chúng ta chắc chắn sẽ chết và hoàn toàn chắc chắnchúng ta không biết khi nào sẽ chết. Nhìn chung, chúng ta sống như thể có hàng ngàn năm để đi, như thể cái chết là một viễn cảnh rất và rất xa xôi. Trong lúc đó thậm chí chúng ta có thể tự tin rằng nếu thực sự chết chúng ta sẽ được sinh vào một cõi tịnh độ hoặc cái chết sẽ là điều gì đó hoàn toàn ngẫu nhiên giống như việc đi đến một cánh cửa kế tiếp hay giống như đi từ California đến Oregon. Nhưng nó không giống như vậy.

Hãy khảo sát các dấu hiệu xa về cái chết, dấu hiệu gần của cái chết, dấu hiệu không chắc chắn và dấu hiệu chắc chắn của cái chết phù hợp với sự giải thoát tự nhiên của các dấu hiệu: những dấu hiệu của cái chết.

Về mặt “các dấu hiệu của cái chết” – xa, gần, v.v... – chúng ta thực sự không cần một thầy bói hay một người đặc biệt nào biết rõ về nhiều dấu hiệu khác nhau của cái chết. Chẳng cần thiết phải như vậy. Chúng ta có thể chỉ nhìn vào chính tiến trình của tuổi tác. Nếu chú ý đến tiến trình của tuổi tác thì đó là một dấu hiệu của cái chết. Khi chúng ta già, chúng ta phải biết rằng cái chết sắp xảy đến; đây là dấu hiệu gần của cái chết. Bệnh tật là một dấu hiệu của cái chết. Đặc biệt, khi chúng ta già, chúng ta có thể biết rằng một chân của mình đã bước qua ngưỡng cửa của cái chết. Chúng ta không cần sự chuyên nghiệp, tất cả điều chúng ta cần là sự chân thật.

Nghiêm chỉnh áp dụng phương tiện lừa gạt cái chết phù hợp với các dấu hiệu của cái chết. Nếu bạn thực hiện sự chuyển di khi các dấu hiệu của cái chết chưa hoàn tất hay không áp dụng phương tiện đánh lừa cái chết, điều này gây ra hành động sai lầm của việc giết một Bổn Tôn, và bạn không để ý đến sự bất thiện của việc phạm tội tự tử. Vì điều này thậm chí là việc làm còn xấu hơn quả báo lập tức, bằng mọi phương tiện thực hiện thông thường hay đặc biệt của phương tiện lừa gạt cái chết ba lần hay nhiều hơn phù hợp với Sự Giải Thoát Tự Nhiên Của Sợ Hãi: Lừa Gạt Cái Chết. Nếu phương tiện của lừa gạt cái chết được thực hiện ba lần mà dấu hiệu của cái chết không thay đổi thì cái chết là chắc chắn, do vậy hãy bắt đầu chuẩn bị cho sự chuyển di.

“Lừa gạt cái chết” có nghĩa làm điều gì đó ngăn cản sự nguy hiểm của cái chết sắp xảy ra, nên nó có nghĩa là cứu một mạng sống. Hãy áp dụng các biện pháp lừa gạt cái chết khi bạn thấy các dấu hiệu gần hoăïc xa của cái chết. Cách bạn lừa gạt cái chết là nhờ tham gia vào thực hành Giáo Pháp để tăng tuổi thọ bạn. Các thực hành như vậy bao gồm việc phóng sanh cá hay loài vật khác sắp bị giết và đó cũng là các thực hành Giáo Pháp khác được thực hiện để trường thọ.

Có nói rằng thậm chí nếu bạn là một người đã vi phạm năm hành động quả báo lập tức (ngũ vô gián tội), với sự chuyển di vào lúc thích hợp bạn sẽ tái sanh trong trạng thái của cuộc sống thuận lợi hoặc được giải thoát, nên lợi ích của nó rất to lớn. Về sự chuyển di có hai phần: rèn luyệnáp dụng.
Nếu bạn thực hành trung thực giáo lý về chuyển di này cùng với bốn năng lực cứu chữa và sự thực hành tịnh hóa Vajrasattva, thì ngay cả nếu bạn đã vi phạm những tội ác khủng khiếp đều có thể được tịnh hóa và bạn sẽ được tái sanh thuận lợi hoặc đạt được giải thoát.

RÈN LUYỆN

Như phép loại suy, một người đàn ông nghi ngờ kẻ thù bên ngoài của ông ta nên mặc áo giáp, chuẩn bị cung tên và luyện tập trước khi kẻ thù hiện diện để bất cứ khi nào kẻ thù xuất hiện, ông ta sẵn sàng chiến đấu. Tương tự, vì không biết khi nào bạn sẽ chết nên hãy rèn luyện ngay bây giờ, vào lúc bạn chết nó là điều quyết định để bạn sẵn sàng áp dụng hướng dẫn này vào hành động.

Sự thực hành chuyển di có thể làm vào lúc được dạy hoặc bạn có thể tham gia khi được hướng dẫn đặc biệt về chuyển di. Vì trong hướng dẫn lúc khởi đầu là suy niệm về sự khó được cuộc sống làm người với nhàn rỗi, thuận lợi và sự đau khổ của chu trình sinh tử. Nhờ làm như vậy sẽ không còn ảo tưởng với sinh tử và phát sinh quan điểm mong ước thoát khỏi nó. Trên nền tảng đó hãy nghiêm chỉnh nhớ lại rằng dù bạn đã có được điều gì đó khó có, nó sẽ chẳng tồn tại lâu vì bạn sẽ chết.

Sau đó ngồi xếp bằng theo tư thế bodhisattva trên một đệm thoải mái và khóa lỗ mở luân hồi. Thân bạn thẳng đứng che hai đầu gối bằng hai bàn tay trong ấn xúc địa và duỗi hai vai. Kế tiếp quán tưởng chữ HUM màu xanh dương đậm tỏa sáng tại ngực bạn và một bản sao của chữ HUM đi xuống ống hậu môn và đóng hoàn toàn lỗ mở của địa ngục. Một bản sao khác xuất hiện và đi đến lỗ mở của sự trở thành,47 nó đóng lại lỗ mở của ngạ quỷ. Tương tự, quán tưởng một chữ HUM đóng lại lỗ mở súc sinh trong ống tiểu và các chữ HUM tỏa sáng tại rốn, miệng, hai lỗ mũi, sau đó hai mắt và hai lỗ tai, mỗi lỗ hoàn toàn được đóng kín. Hãy quán tưởng chữ HAM màu trắng lộn ngược tại lộ mở Brhama trên đỉnh đầu bạn và đóng nó lại.

Chính giữa thân bạn hãy quán tưởng kinh mạch trung ương thẳng đứng giống như ruột của con cừu thịt bơm căng, với đầu dưới của kinh xuống tới dưới rốn và đầu trên lên tới lỗ mở Brhama (lỗ mở Phạm Thiên – giữa đỉnh đầu tương ứng với huyệt Bách Hội). Kinh mạch có màu trắng óng ánh vàng, nó đi thẳng qua giữa thân. Tại chỗ cuối ở dưới rốn nơi ba kinh mạch hội tụ là một bindu màu trắng rực rỡ của bản tánh sự nhận biết. Nó trong suốtrõ ràng, nhịp đập cùng với hơi thởâ và rung rinh như thể vừa mới đứng dậy. Trong không gian trên đỉnh đầu bạn, hãy quán tưởng vị thầy tâm linh của bạn đang hiện diện với vẻ mặt mỉm cười của Phật Vajradhara. Kéo năng lực thân thể của bạn lên trên và tập trung nó, đóng kín hậu môn một cách mạnh mẽ, trợn mắt nhìn lên trên, ép lưỡi lên vòm họng và kết ấn kim cang quyền (ngón tay cái đặt dưới gốc ngón tay đeo nhẫn rồi nắm chặt bốn ngón tay lại). Trong lúc kéo mạnh năng lực bên trong của bạn từ dưới rốn lên trên, miệng nói “HIG KA, HIG KA”. Tùy theo năng lượng sự sống ở dưới, bindu được kéo lên một cách tự động qua kinh mạch trung ương. Do vậy, với bảy HIG KA nó được kéo lên rốn, sau đó với bảy HIG KA lên đến ngực, rồi bảy lần nũa tới cổ họng, kế tiếp bảy lần nữa đến điểm giữa hai chân mày, rồi với bảy HIG KA nó lên tới chữ HAM tại lỗ mở Brhama. Hãy quán tưởng bindu đi xuống trở lại, lướt nhẹ nhàng xuống dưới rốn, tại đó nó được nghỉ. Hãy buông lỏng một chút với cảm giác đó.

Dấu hiệu thành công trong chuyển di nhờ làm bảy lần như vậy bao gồm sự kiện một chất nhờn ấm chảy ra tại lỗ mở Brahma, có cảm giác châm chích, ngứa ngáy, tê cóng, sưng phồng và mềm đi trên đỉnh đầu và sự tiết huyết tương và máu tại lỗ mở Brahma. Vào lúc đó, vị thầy tâm linh nên cẩn thận kiểm tra lỗ mở Brahma. Khi chọc với một lông công hay cọng cỏ nó sẽ ngập hoàn toàn, điều này chứng tỏ bạn đã rèn luyện trong chuyển di. Tuy nhiên, nếu không ngưng ở đó mà tiếp tục thực hành sẽ làm giảm tuổi thọ của bạn; vậy hãy ngừng sự quán tưởng và adhisara. Xoa bóp đỉnh đầu của bạn với bơ hay dầu ngũ cốc.

Nếu không xảy ra dấu hiệu theo cách đó, nếu bạn cố gắng kéo mạnh bindu nhiều lần, dấu hiệu sẽ xảy ra. Nếu nó không đến lỗ mở Brahma ngay cả dù đỉnh đầu bạn đã phồng lên, nhức đầu v.v... Vì thế, hãy quán tưởng chữ HAM tại lỗ mở Brahma và bindu xuất ra từ lỗ mở Brahma không bị cản trở và chạm vào chân vị thầy tâm linh của bạn. Sau đó quán tưởngquay trở lại xuống lỗ mở Brahma rồi đi xuống nghỉ ở dưới rốn. Do làm như vậy bảy lần lỗ mở Brahma sẽ mở ra. Máu hay bạch huyết sẽ chắc chắn tiết ra và một cọng cỏ có thể nhét vào lỗ mở. Kế tiếp nếu lỗ mở Brahma không được đóng lại với chữ HAM thì bạn sẽ bị giảm thọ, nên việc đóng nó lại là điều quan trọng. Từ giờ trở đi điều quan trọng là bạn không niệm HIG KA hay thực hiện adhisara, mà chỉ thực hành di chuyển bindu qua kinh mạch trung ương và đóng lỗ mở Brahma với chữ HAM. Đó là sự rèn luyện trong chuyển di.

Vì HIG KA là mantra để kết thúc cuộc sống,49[49] hãy kéo bindu lên cho đến khi bạn thành công trong chuyển di, nhưng sau khi thành công đừng kéo nó lên với HIG KA. Nếu nỗ lực mạnh mẽ thực hiện chuyển di quá nhiều bạn sẽ luôn gần như bị hôn mê, ý thức sẽ bị ép lên trên và bạn sẽ bị chóng mặt v.v... Nếu xảy ra điều đó hãy đấm mạnh vào lòng hai bàn chân bằng nắm tay của bạn, xoa bóp trên đỉnh đầu và quán tưởng mạnh mẽ một stupa (bảo tháp) bằng vàng, nặng trên mỗi bàn chân bạn. Nhờ làm vậy nhiều lần các triệu chứng này sẽ an định. Phần lớn điểm then chốtsự quán sát trong thực hành.

Sự bàn luận trước đây liên quan đến “rèn luyện về chuyển di” được thực hành tốt nhất khi bạn không bị bệnh và trước khi các dấu hiệu của cái chết xảy ra. Samaya.

Tây Tạng khi người ta cảm thấy họ chẳng mấy chốc sẽ chết thì việc cho đi mọi thứ của họ là điều rất phổ biến. Những người giàu có bắt đầu phân phát tất cả tài sản của họ cho người khác và thậm chí những người nghèo cũng cúng dường mọi thứ lên Tam Bảo. Bất kể đất đai, nhà cửa, gia súc và các sở hữu khác mà họ có sẽ được dâng cúng cho tặng trong những tháng và tuần lễ cuối cùng trước khi họ chết. Ngay cả các tu sĩ thường có chỗ ở trong tu viện họ cũng sẽ cho đi trước khi chết. Nếu họ sắp chết, của cải sẽ chẳng làm được điều tốt nào.

Khi người Tây Tạng đến Ấn Độ như dân tị nạn phần lớn đều kiệt sức nghèo khó. Nhiều tu viện tị nạn tạm thời được đặt ở Buxa phía đông Ấn Độ, khi họ thấy cái chết sắp xảy ra, họ muốn cho đi một ít gì họ có để làm một cúng dường trà quan trọng cho các vị tu sĩ khác. Mục đích của điều này là chiến thắng mọi bám luyến vào của cải vật chất. Các vị tu sĩ sắp chết thường không cho họ hàng mà thường cho các tu sĩ khác, Tam Bảo, vị thầy tâm linh của họ v.v... Cho đi mọi thứ làm giảm bám luyến của hành giả, làm dễ giải thoát khỏi sinh tử.

Đây là lợi ích hiển nhiên của hành động thiện về bố thí trước khi bạn chết. Tuy vậy, nếu chưa làm được thì sau khi bạn chết người khác có thể thực hiện công đức nhân danh bạn, nhưng rất khó có lợi ích thật sự. Lý dodòng tâm thức của người chết đang lang thang đây đó trong samsara và dòng tâm thức của người đang thực hành sùng kính có thể bị sao lãng. Kết quả là có hai người lang thang và người này làm lợi ích cho người kia là khó có. Ngoài ra ý thức của người đã chết đang lang thang đây đó cũng có khả năng thấu suốt. Họ có thể thấy tâm của người đang tụng niệm nghi lễ cho lợi ích của người chết. Nếu ý thức của họ thấy người đang tụng niệm sùng kính mà tâm họ lại đi rông khắp nơi thì họ có thể phản ứng một cách tiêu cực. Người đã chết có thể mất lòng tin và kết quả là họ có thể đi xuống cõi thấp.

Chỉ có lợi ích trong việc thực hiện công đức trước khi bạn chết. Chẳng có bất cứ thiệt thòi nào và nó chỉ giúp ích bạn. Có thể có một vị lama rất vĩ đại làm lợi ích cho một người đã chết nhưng vẫn khó khăn. Hãy nhìn vào chính bạn và khảo sát điều này dựa trên kinh nghiệm. Bạn có lợi ích từ vị thầy tâm linh của mình trong lúc đang nằm mộng hay không? Nếu không, thì sẽ hoàn toàn khó khăn sau khi bạn chết và trong tiến trình chuyển tiếp. Vậy việc cống hiến nghiêm chỉnh chính bạn trong đạo đức là điều tốt nhất là công đức bố thí ngay trước khi bạn chết. Nếu bạn có thể làm điều đó thì thật tuyệt vời.

SỰ ÁP DỤNG

Trước tiên, động cơ là rất quan trọng, hãy trau dồi động cơ Mahayana, Tâm Linh của Tỉnh Thức. Đừng nghĩ giáo lý về chuyển di tâm thức là việc gì đó mà bỏ qua. Trái lại, thực hành này có thể hoạt động như một nguyên nhân cho trạng thái toàn giác cho chính bạn và người khác.

Nếu các dấu hiệu của cái chết đã đầy đủ và chúng không biến mất ngay cả khi đã thực hiện phương tiện lừa gạt cái chết được ba lần, vào lúc đó tâm thức được chuyển di. Điều này có bốn phần: sự chuyển di của Dharmakaya, Sambhogakaya, Nirmanakaya và sự chuyển di thông thường.

Điều này đòi hỏi phải xem xét các dấu hiệu của lúc gần chết, và nếu bạn tham gia trong thực hành kéo dài sinh mạng mà vẫn không hoạt động ngay cả sau khi đã cố làm ba lần, thì bạn sắp chết. Bây giờ là lúc áp dụng giáo lý này vào hành động. Trong truyền thống Tây Tạng không có hệ thống hỗ trợ cuộc sống và không có các thủ tục bệnh viện đặc biệt nào để duy trì cuộc sống của người sắp chết. Khi người ta thấy gần chết họ sẽ áp dụng thực hành này.

Sự Chuyển Di Dharmakaya

Than ôi, giờ đây khi tiến trình chuyển tiếp của cận tử sắp xảy đến với tôi, tôi phải bỏ lại bám luyến, tham dục, và bám chấp mọi thứ và tôi phải dấn thân không dao động vào kinh nghiệm rõ ràng của các hướng dẫn thiết thực. Giác tánh bẩm sinh chính tôi sẽ được chuyển di lên phạm vi của không gian.

Cho đến nay, thậm chí chúng ta chưa thực hiện được tính tư lợi của chính mình huống chi quan tâm đến người khác, vì rơi vào bám luyến, thèm khát và bám chấp mọi kiểu sự vật. Chúng ta có thể đã tiếp nhận các hướng dẫn cốt tủy của Giáo Pháp nhưng lại thực hiện quá nhẹ nhàng. Mặc dù chúng ta có thể đã thọ quy y nhưng việc thọ quy ythể không thực sự hay không có ý nghĩa với chúng ta. Bên lề cái chết nó là điều bắt buộc để từ bỏ các bám luyến của chúng tađi vào kinh nghiệm rõ ràng của các hướng dẫn thiết thực về chuyển di.

Mắc bệnh tật chết người hoặc thấy các dấu hiệu đầy đủ của cái chết là biểu hiện của tiến trình chuyển tiếp của cận tử. Các hướng dẫn thiết thực về tiến trình chuyển tiếp lúc cận tử giống như một thiếu nữ đáng yêu nhìn vào gương để thấy những gì không rõ ràng trở nên rõ ràng. Ở đây có hai phần: có người khác gây ra sự quán tưởng và chính bạn tạo ra sự quán tưởng.

Nếu bạn biết hệ thống xa lộ trong một vùng nào đó và đột nhiên kẻ thù bạn lộ diện, bạn sẽ biết cách đào thoát ra sao. Tương tự, những gì không rõ ràng ở đây trở nên rõ ràng qua giáo lý này. Tốt nhất là bạn có thể tự tạo quán tưởng cho thực hành chính mình, còn nếu không thể thì có thể nhờ người khác giúp đỡ tạo quán tưởng.

Có người khác tạo quán tưởng. Chính bản thân bạn có thể biết các dấu hiệu đầy đủ của cái chết, hoặc ngay cả nếu không thể biết thì thầy thuốc và điều dưỡng có thể biết điều này tùy theo triệu chứng của bạn. Nếu sự chú tâm của bạn rõ ràng, bạn cũng có thể khảo sát các dấu hiệu cận kề của cái chết; và nếu bạn sắp chết và nếu vị thầy tâm linh của bạn sống gần đó hãy mời Ngài đến cùng tham gia với bạn.

Tây Tạng, các lama đôi lúc trực giác được một người sẽ chết trong khoảng thời gian nào đó. Với kiến thức đó người ta có thể chuẩn bị phù hợp. Ở Tây Tạng việc mời vị thầy tâm linh của người đó đến trợ giúp qua sự chuyển di lúc cận tử cũng phổ biến.

Cho đi bất cứ những gì bạn có đến vị thầy tâm linh đầu tiên của bạn, thậm chí không có một khoảnh khắc bám luyến nào. Nếu bám luyến dù một vật nhỏ nhất sẽ ném bạn vào trạng thái khốn cùng của sinh tử, như đã trình bày trong Chuyện Kể Về Ba Tai Họa Lớn Của Tu Sĩ. Ngay cả nếu không có quyền cho trong thực tế, hãy giải thoát một cách tâm thức bằng sự cúng dường trong tâm bạn. Đặc biệt đừng để vật gì ở gần làm khởi lên bám luyến hay thù hận. Đó là ý nghĩa của nhóm từ “Tôi phải rũ bỏ bám luyến, thèm khát và bám chấp bất cứ thứ gì của chính tôi.” Vào lúc đó hãy phát sinh sự từ bỏ sạch sẽ như đã trình bày trong Tantra Của Sự Hợp Nhất Mặt TrờiMặt Trăng, “Với hoan hỷ và cho tặng, làm vui lòng vị thầy tâm linh của bạn, tăng đoàn và các đối tượng đặc biệt để tích lũy công đức.”50[50] 

Điểm trọng yếu ở đây là thậm chí không có một khoảnh khắc bám luyến nào vì bám luyến và chấp bám là các nguyên tố ban đầu làm kéo dài mãi mãi những gì đang xảy ra của chúng ta trong samsara. Không chỉ tự thân sự bám luyến làm bất lợi vào lúc chết, mà nếu có bám luyến thì bạn cũng đã châm mồi cho thù hận. Chẳng hạn, khi bạn gần chết nếu thấy người mà bạn ghét lấy của cải của bạn, bạn có thể thấy rất tức giận và thất vọng vì bạn chẳng thể làm được gì, và điều đó dẫn đến thù hận. Chết đi với trạng thái tâm thức thù hận là rất có hại, nên điều quan trọng là phải thoát khỏi bám luyến và thù hận. Tối thiểu vào lúc chết hãy buông xả, thậm chí nếu bạn không thể hoàn toàn trừ tiệt bám luyến trước đó. Ít nhất hãy tạm thời thoát khỏi nó trong tiến trình cận tử. Nếu bạn có thể hoàn toàn trừ tiệt bám luyến thi thật tuyệt với vì nó sẽ dẫn đến sự giải thoát chính bạn.

Ví dụ nếu bạn bị tai nạn xe cộ và thấy mình bị chấn thương nghiêm trọng, bạn không thể viết di chúc mới hay tài sản của bạn với hơi thở sắp chết của mình. Những gì có thể làm là hãy cho đi trong tâm thức mọi thứ bạn có, bao gồm không chỉ của cải vật chất mà còn họ hàngmọi người chung quanh bạn. Hãy buông bỏ bám luyến mọi thứ. Một cái chết đột ngột như vậy cũng có thể xảy ra nếu bạn ở trong lực lượng vũ trang và bị giết trong chiến đấu. Nếu bạn chết ở nước ngoài, việc cho đi mọi tài sản của bạn trong thực tại là không thực tế. Tuy vậy bạn có thể cho đi trong tâm thức và đó là những gì nên làm.

Khi bạn sắp chết điều quan trọng là đừng để bất cứ thứ gì trong tầm mắt làm gợi lên sự bám luyến. Chẳng hạn đừng để người mà bạn bám luyến nhiều ở gần quanh khi bạn chết. Nếu có người mà bạn không thích hoặc oán giận v.v... thì vào lúc đó họ nên tránh xa. Bạn bè hay người khác mà bạn ít thương hay ghét nên giúp bạn. Nếu thấy thứ gì mà bạn nhiều bám luyến họ có thể dời thứ đó đi để tạo môi trường thực sự trung hòa không kích động sự bám luyến hay thù ghét cho bạn. Trong thực tế việc ở cùng với những đồ vật này mà bạn thiếu tự chủ là điều không tốt, nên đây là một phương pháp bảo vệ bạn.

Kế tiếp, một khi vị thầy tâm linh của bạn đã đến nếu trước đó giới nguyện của bạn bị sứt mẻ hãy sám hốisửa chữa lại bất cứ vi phạm nào, nếu bạn chưa có hứa nguyện hãy xây dựng một nền tảng bằng cách thọ quy y và nhận hứa nguyện.

Nếu vi phạm bất cứ hứa nguyện tantric nào liên quan đến vị thầy tâm linh của bạn hoặc bất kỳ người nào khác, thì bây giờ là lúc để sám hốisửa chữa. Ngoài ra nếu bạn đã nhận bất kỳ giới luật hoặc hứa nguyện nào khác như giới luật tu viện của người mới xuất gia (sa di giới), cụ túc giới (tỳ kheo giới), bồ tát giới hay giới luật và hứa nguyện tantric, bạn nên sám hối bất kỳ sự vi phạm nào và sửa chữa chúng.

Kế tiếp, nếu trước đó bạn đã rèn luyện chuyển di, thân bạn trong tư thế thiền định và có vị thầy tâm linh dẫn dắt bạn trong quán tưởng chuyển di trước đó nhiều lần. Biểu hiệu của sự thành công là ngay khi bạn ngừng thở, đỉnh đầu sưng phồng lên hoặc chắc chắn sẽ có biểu hiện thành công như máu hay bạch huyết.

Các biểu hiện thành công chuyển di bao gồm không chỉ đỉnh đầu phồng lên mà còn một cảm giác châm chích trên đỉnh đầu và tóc trên đỉnh đầu có thể nhổ ra dễ dàng không cần dùng sức hoặc tóc có thể rụng. Nếu có những dấu hiệu này bạn chẳng cần làm gì hơn, vì sự chuyển di đã thành công.

Nếu các biểu hiện này xảy ra, không cần thực hiện sự quán tưởng về chuyển di, còn nếu không có, vị thầy tâm linh nên để môi ngài sát lỗ tai bạn hoặc dùng một khúc tre hay một tờ giấy cuộn lại đặt vào lỗ tai bạn. Sau đó Ngài sẽ dẫn dắt bạn trong việc quán tưởng phù hợp với Sự Giải Thoát Qua Việc Nghe Trong Tiến Trình Chuyển Tiếp, bằng việc đọc chậm rãi vào tai bạn với những lời khởi đầu của tiến trình chuyển tiếp của thanh tịnh quang của tự thân thực tại lần lượt qua tiến trình chuyển tiếp. Nhờ làm như vậy chắc chắn sẽ thành công.

Vị thầy tâm linh có thể sử dụng bất cứ thứ gì như một mảnh giấy cuộn tròn lại hay một ống dẫn để truyền tiếng nói vào tai người sắp chết. Vào lúc này việc đọc Sự Giải Thoát Qua Việc Nghe Trong Tiến Trình Chuyển Tiếp là phổ biến, cũng được biết là Tạng Thư Sống Chết. Điều rất quan trọng là người đọc phải nói thật chậm rãi và rõ ràng để người sắp chết có thể nghe được. Nếu bạn nói quá nhanh có thể gây nhầm lẫn và khích động cho người sắp chết. Trong thực tế, một vật gì đó như ống dẫn có thể không cần thiết khi người sắp chết có thể nghe được rõ ràng giọng nói của bạn. Trái lại, bạn có thể nói lớn hơn bình thường để người sắp chết có thể nghe được giọng nói của bạn rõ ràng.

Như một phép loại suy, nếu vị vua gửi thông điệp cho người đáng tin cậy, việc người đó quên là không thể có; mà nếu người đó quên thì sự trừng phạt của nhà vua sẽ theo sau. Do vậy, vì sợ hãi ông ta bảo đảm thông điệp phải được nhận. Tương tự, trong trường hợp này vì sợ trạng thái khốn khổ trong sinh tử hãy nhớ chắc trong tâm các hướng dẫn thiết thực và bạn sẽ chắc chắn phát hiện tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại.
Nếu vị thầy tâm linh của bạn không hiện diện, hãy để người bạn tâm linh có cùng dòng truyền hướng dẫn bạn trong quán tưởng, hoặc một trong các huynh đệ vajra mà giới nguyện của họ vững chắc và những người mà kiến và hạnh tương hợp với bạn.

Thuật ngữ “người bạn tâm linh” đồng nghĩa với “lama” hoặc “vị thầy tâm linh”. Thậm chí nếu vị thầy tâm linh của bạn không hiện diện và nếu có người khác cùng dòng truyền thì bạn có thể mời người đó giúp trong tiến trình chuyển tiếp này. Bạn cũng có thể gọi Pháp hữu, huynh đệ vajra giúp đỡ nhất là những người có phẩm tính giới luật đạo đức cao. Nếu không có những người này và chẳng có Pháp hữu nào ở chung quanh, thì chỉ cần người nào có thể đọc được bản văn để giúp bạn. Điều này sẽ giúp được bạn và chắc chắn có còn hơn không. Nếu đạo đức của người đó thanh tịnh thì tốt hơn; nhưng nếu thậm chí không có thì điều quan trọng nhất là khi bạn sắp chết bạn nghe được lời nói rõ ràng, do vậy cần một người có thể đọc một cách rõ ràng.

Tantra Về Sự Hợp Nhất Của Mặt TrờiMặt Trăng trình bày:

Vào lúc đó, hãy kết hợp các hướng dẫn thiết thực của vị thầy tâm linh vào dòng tâm thức bạn. Thực hiện lập lại sự quán tưởng với những điểm này. Nên có vị thầy tâm linh, huynh đệ Giáo Pháp ruột thịt hoặc huynh đệ vajra hướng dẫn ý thức bạn quán tưởng.

Đó là có sự hướng dẫn quán tưởng của người khác.

Tự mình tạo quán tưởng. Nếu vị thầy tâm linh, Pháp hữu hay huynh đệ vajra không thể kết hợp với bạn hoặc nếu bạn chết trong nhập thất và bạn là người có kinh nghiệm tốt không cần người khác tạo quán tưởng, bạn có thể tự mình tạo quán tưởng bằng thực hành trước đó. Nếu bạn là người thấu suốt thanh tịnh quang, đã rèn luyện trong cái thấy của tánh Không và đã hoàn toàn nhận ra tánh giác thì sự chuyển di Dharmakaya là tốt nhất. Thế nên, giống như trước, không nên có một thứ gì gợi lên bám luyến hay thù ghét. Nếu thân bạn còn khả năng hãy ngồi theo tư thế bảy thuộc tính hoặc ngồi thẳng lưng. Nếu không được, hãy nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng bắc và tha thiết phát sinh Tinh Thần Tỉnh Thức vài lần, suy nghĩ, “Bây giờ tôi sắp chết. Do vậy trong tam giới của sinh tử nói chung và trong thời buổi suy thoái này nói riêng, tôi vui mừng vì có thể chuyển di tâm thức trong khi có bạn bè với các hướng dẫn thâm sâu như vậy. Giờ đây tôi phải nhận ra thanh tịnh quang của cái chết như Dharmakaya, tôi phải gửi vô lượng lưu xuất của tôi để rèn luyện người khác tùy theo nhu cầu của họ, và tôi phải phục vụ nhu cầu của chúng sanh cho đến khi sinh tử luân hồi trống rỗng.”

Tư thế nằm nghiêng về bên phải là tư thế của Đức Phật khi Ngài nhập niết bàn. Sự chuyển di Dharmakaya này cho người có kinh nghiệm trong tất cả giai đoạn nâng cao của thực hành. Người này chết đi với sự hướng dẫn của bạn bè về lý thuyếtthực hành. Trong cách này người đó thành tựu sự quan tâm của chính họ và người khác. Sự hoàn thành mối quan tâm của chính bạn là thực sự nhận ra bản tánh của Dharmakaya. Để hoàn thành mối quan tâm của người khác người ta phải liệu trước việc gửi vô số hóa thân để phục vụ nhu cầu của chúng sanh cho đến khi chu trình sinh tử trống rỗng.

Tây Tạng khi các hành giả già của Giáo Pháp kề cận cái chết, họ thường đặc biệt hạnh phúc khi thấy cái chết đến gần. Dĩ nhiên, lý do mà họ hài lòng là vì họ đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho tiến trình chuyển tiếp này. Về những người như vậy, có nói rằng, “Cái chết không phải là chết, mà là sự vượt qua của một vị Phật nhỏ.” Cũng giống như nói rằng về cái chết của loại người này là một kinh nghiệm giác ngộ. Trái lại, phần lớn chúng ta không chuẩn bị kỹ và nếu không chuẩn bị chu đáo thì hoàn cảnh hoàn toàn rất khác biệt. Nhiều người trong chúng ta sống như thể cái chết còn cách xa hàng ngàn năm mà không có bất kỳ quan tâm thực sự về hành động của chúng ta và các hậu quả. Loại cái chết của cách sống này là rất khác biệt.

Khi còn trẻ tôi đã chứng kiến nhiều lần các vị hành giả già của Giáo Pháp đã có kinh nghiệm hoan hỷ khi nhận ra họ đang đối diện với cái chết. Họ đã chuẩn bị cho cái chết suốt giai đoạn sống của họ bằng thiền định về vô thường, bản tánh của luân hồiđau khổ, thực tại của tánh Không v.v... Nhiều vị lama và hành giả già của Giáo Pháp chết theo cách này. Thỉnh thoảng có người nghe về việc họ hoan hỷ vào lúc chết cũng cố bắt chước họ, dù rằng chính bản thân người đó chẳng chuẩn bị. Song, khi họ chết thật sự họ sẽ trở nên quẫn tríđau khổ còn hơn người bình thường. Do đó, cái chết là điều gì đó phải được chuẩn bị. Tất cả các rèn luyện, lắng nghe, suy nghĩthiền định về Giáo Pháp của chúng ta nên chuẩn bị cho tiến trình chuyển tiếp này.

Kế tiếp hãy suy nghĩ không sao lãng, “Sự kiện tôi đã dâng hiến chính tôi đến vị thầy tâm linh và đã tìm kiếm hướng dẫn thâm sâu là cho mục đích đó,” và đi vào kinh nghiệm trong sáng một cách không dao động của các hướng dẫn thiết thực.

Sau đó tâm thức không thay đổi, thoát khỏi nền tảng của bất cứ thứ gì và bất kỳ gì làm chuyển di nó, hãy để mặc sự nhận biết của bạn trong một thời gian dài không tạo tác, kiên định không dao động, sống động, rõ ràng không che đậy, rỗng không và kiên quyết. Nếu hơi thở của bạn ngưng lại khi bạn đang trong kinh nghiệm đó thì thanh tịnh quang của nền tảng và thanh tịnh quang của con đường bây giờ được trau dồi, sẽ gặp nhau như cây cầu uốn cong bắc qua dòng sông. Đây là “sự gặp nhau của mẹ và con” của thanh tịnh quang.

Điều này cũng giống như sự tụ hội của hai dòng sông. Trong phép loại suy của một cây cầu bắc qua dòng sông, tất cả chín thừa của Giáo Pháp giống như dòng sông và Đại Viên Mãn giống như cây cầu bắc qua đó. Do đó, Đại Viên Mãn được gọi là bindu duy nhất, bản tánh thật sự của tánh giác, tinh túy (bản chất).

Sự định nghĩa các đặc tính của nền tảng, con đường và kết quả là như sau. Bản tánh của con đường là cái của chuyển tiếp, của thay đổi và của dao động. Bản tánh của con đườngthoát khỏi mọi dạng bám chấp, thèm khát và đeo đuổi. Bản tánh của kết quả là tỏa khắp một cách phổ quát và siêu việt. Nó là bản chất tinh túy của luân hồiniết bàn và trong nó chẳng có mười địa bồ tát hay năm con đường.

Đó là sự định nghĩa các đặc tính của kiến, thiền và hành. Cái thấy (kiến) là bản tánh duy nhất của tánh bất nhị của luân hồiniết bàn. Định nghĩa đặc tính của thiền là tất cả hạnh phúcđau khổ, hy vọngsợ hãi của chúng ta đều bình đẳng trong một vị. Bản tánh của hành là sự nhận biết không che đậy, chẳng lấy hay bỏ. Sự nhận biết không che đạây hay không thiền định này là sự nhận biết của chính chúng ta, là bản tánh của chúng ta và chẳng thể tìm kiếm ở đâu khác. Thậm chí không thể tìm kiếm nơi chư Phật. Ngoài ra, trong việc nhận ra bản tánh sự nhận biết của chính bạn, bạn nhận ra rằng tâm của tất cả chư Phật trong mười phương, ba thời và tâm bạn là bất khả phân. Nhận ra điều này là nhận ra ý định của tất cả chư Phật và với nhận biết này bạn đạt được trạng thái vô uý tuyệt đối, không bao giờ quay trở lại luân hồi.

Nghe về sự giải thoát không thể đảo ngược từ chu trình sinh tử này, một số người có thể cảm thấy một ít hoảng sợ, suy nghĩ rằng, “Một khi tôi đã hoàn toàn thoát khỏi chu trình sinh tử, rồi sau đó thì sao? Tôi sẽ bị lạc!” Đừng lo lắng, bạn sẽ không bị lạc. Sự nhận biết này là để thỏa mãn quan tâm của chính bạn và đáp ứng tự nhiên sự quan tâm của người khác. Bây giờ bạn có thể phục vụ nhu cầu của vô lượng chúng sanh, giống như tia sáng mặt trời chiếu ra khắp mọi nơi. Mặt trời không có ý định chiếu ra tia sáng để làm điều gì; mà đơn giản bản chất của mặt trời là chiếu ra các tia sáng này một cách tự phát. Tương tự, một khi thành Phật, bạn không cần phát sinh một ý định đặc biệt nào để phục vụ nhu cầu của chúng sanh, đúng hơn là sự phục vụ của bạn tuôn chảy không chướng ngại và tự phát. Do vậy, đừng lo nghĩ về việc bị lạc lối vì điều đó chỉ làm trượt vào chủ nghĩa hư vô (đoạn kiến). Chẳng có gì để buồn trong sự nhận biết như vậy. Chẳng có nền tảng để hoảng sợ. Ngoài ra, dù sao đi nữa cũng rất khó đạt được như vậy.

Dharmakaya bất sinh, phi chướng ngại cao nhất đã đạt được, và trong chốc lát bạn sẽ giải thoát. Riêng điều này nên lập lại nhiều lần với nhận biết dựa trên kinh nghiệm trong sáng. Do đó, điều này được gọi là “sự chuyển di Dharmakaya nguyên thủy,” và nó là sự chuyển di tốt nhất trong tất cả chuyển di.

Với những người chưa nhận ra nó và người thiếu nhận biết dựa trên kinh nghiệm, thậm chí nếu họ áp dụng sự chuyển di Dharmakaya cũng giống như phô bày một đồ vật cho người mù, hoặc chỉ ngôi sao cho con chó. Điều quan trọng là việc quán tưởngchuyển di phải thích hợp với khả năng tâm thức của hành giả.

Nếu thành công trong chuyển di Dharmakaya thì dấu hiệu bên ngoài là bầu trời trở nên trong sáng; dấu hiệu bên trong là vẻ rực rỡ của thân không biến mất trong một thời gian dài và có nước da trong sáng; dấu hiệu bí mật bao gồm sự xuất hiện của chữ AH trắng và một chữ HUM xanh dương đậm. Đó là sự chuyển di Dharmakaya. Samaya.

Trong việc thành công về chuyển di, bầu trời trở nên rất trong sáng thanh bình. Dấu hiệu khác đã xảy ra nhiều lần với các hành giả lớn tuổi của Giáo Phápxác chết không có mùi hôi và vẫn giữ được nước da sáng bóng như lúc sống trong một thời gian dài sau khi chết. Những dấu hiệu như vậy đã xảy ra nhiều lần trong quá khứTây Tạng lẫn Ấn Độ. Chẳng hạn, năm 1958, cả hai ngữ và thân lưu xuất của Ngài Dudjom Lingpa vẫn hoạt động. Nhân một dịp chúng gặp nhau và cùng chết thậm chí dù không bệnh tật. Ngay sau khi chết dù trong mùa đông lại xảy ra sấm sét là rất bất thường trong mùa đó. Ngoài ra còn có động đất, và người ta thấy có bông tuyết giống như hoa rơi xuống từ bầu trời. Những ngày sau đó, bầu trời trở nên hoàn toàn thanh bìnhtrong sáng. Đó là những dấu hiệu chắc chắn của một bậc vĩ đại nhập niết bàn.

Gần đây hơn ở Buxa, Ấn Độ, nơi khu định cư của nhiều tu sĩ tị nạn, có một vị lama là hóa thân hiện nay còn rất trẻ tên là Drugpa Kyabgon. Khi Ngài viên tịch vào năm 1961 hay 1962, Ngài vẫn ngồi thẳng trong tư thế nhập định sâu trong hai tuần sau khi viên tịch và chẳng có bất cứ mùi nào. Ngoài ra khi H.H. Dudjom Rinpoche viên tịch trong hai tuần có những dấu hiệu như sự xuất hiện của cầu vồng và bindu được chứng kiến bởi hàng ngàn người từ các nước khác nhau.

Sự Chuyển Di Sambhogakaya

Nếu bạn thực hành chủ yếu về giai đoạn phát triển và nhất là có một ít thấu suốt về tánh Không, thì sự chuyển di Sambhogakaya là thích hợp. Nếu bạn có thể ngồi thẳng trong tư thế trước đó và thực hiện quán tưởng chuyển di được làm trước lúc rèn luyện. Nói cụ thể, tại đỉnh đầu của bạn hãy quán tưởng vị thầy tâm linh của bạn ngồi trên một hoa sen, mặt trờimặt trăng trong thân tướng Sambhogakaya như Đức Vajrasattva, Vajradhara vĩ đại hoặc Đức Avalokiteshvara. Một cách cụ thể, hãy quán tưởng Ngài trong thân tướng vị Bổn Tôn đã chọn mà bạn sùng kính trong giai đoạn phát triển. Bên trong thân bạn, hãy quán tưởng rõ ràng một bindu trắng hoặc chủng tử tự của Bổn Tôn mà bạn đã chọn – như chữ AH trắng, chữ HUM màu xanh dương đậm, hay chữ HRIH đỏ – tại phần cuối của kinh mạch trung ương trong suốt, tinh khiết phía dưới rốn bạn. Tốt nhất nếu bạn quán tưởng rõ ràng các lỗ mở đều được đóng lại với chữ HUM.
Khi quán tưởng bindu trắng hay chủng tử tự của vị Bổn Tôn bạn chọn, hãy chắc chắn rằng nó được quán tưởng bên trong thân bạn, không phải thân của vị thầy tâm linh. Tốt nhất là bạn có thể đóng lại mọi lỗ mở dẫn đến nhiều trạng thái khác nhau của luân hồi với chữ HUM, nhưng nếu không thể làm toàn bộ quán tưởng đó cũng chẳng sao.

Nếu quán tưởng chúng không được rõ ràng, đừng chú ý đến các lỗ mở mà hãy tập trung chú tâm một điểm vào bên trong kinh mạch trung ương. Hãy đẩy mạnh năng lực thân thể của bạn lên trên; đóng lại mạnh mẽ các lỗ mở ở dưới, trợn mắt nhìn lên trên, ép lưỡi vào vòm miệng; kéo năng lượng sự sống ở dưới lên trên và tập trung ý thức của bạn vào bên trong kinh mạch trung ương. Kêu to “HIG KA, HIG KA,” kéo nó dần dần lên trên và khi nó đến lỗ mở Brahma hãy quán tưởng lỗ mở Brahma được che phủ với chữ HAM đang mở ra. Từ bên trong sự tinh khiết, màu trắng của nó (bindu), hãy quán tưởng ý thức của bạn bắn lên như một mũi tên và được thấm nhập vào ngực vị Bổn Tôn bạn chọn. Tập trung nhận biết của bạn ngay ngực vị Bổn Tôn đã chọn. Không được để nó đi xuống, hãy kéo nó lên và hòa nhập nhiều lần. Sau đó cũng để vị Bổn Tôn bạn chọn trong bản tánh không khách quan. Nếu hơi thở của bạn chết trong kinh nghiệm đó, bạn sẽ đạt được trạng thái của một Vidyadhara bất khả phân với vị Bổn Tôn bạn chọn và bạn sẽ trở thành Phật như một Sambhogakaya.

Trong quán tưởng trên bạn đẩy bindu trắng, đó là bản tánh của ý thức bạn lên ngực vị Bổn Tôn bạn chọn. Trong giai đoạn rèn luyện trước lúc thực hiện, bạn nói HIG khi ý thức đi lên và sau đó với KA bạn để ý thức đi xuống trở lại. Khi bạn thật sự sắp chết, tốt nhất đừng nói KA, chỉ nên nói HIG vì chỉ cần bắn ý thức bạn lên như mũi tên không cần kéo nó xuống. Đây là chuyến đi một chiều. Bạn đẩy nó lên và nó hòa nhập vào của vị Bổn Tôn bạn chọn hoặc vị thầy tâm linh, tan hòa ở đó không quay lại.

Theo cách đó, nếu bạn thành công trong chuyển di Sambhogakaya, dấu hiệu bên ngoài là bầu trời tràn đầy cầu vồng và ánh sáng; dấu hiệu bên trong bao gồm sự xuất tiết máu hay huyết tương và sự xuất hiện của vài giọt sương hay sự phồng lên tại lỗ mở Brahma trên đỉnh đầu của bạn; và dấu hiệu bí mật bao gồm việc xảy ra một hay năm loại xá lợi và sự xuất hiện của thân tướng Bổn Tôn, các dấu hiệu bàn tay của Ngài v.v... Đó là sự chuyển di Sambhogakaya. Samaya.

Thực hành trên đặc biệt dành cho những người đã rèn luyện thành thạo trong giai đoạn phát triển. Trong thực hành như vậy, bạn xem toàn bộ môi trường của bạn như cõi tịnh độ, loại bỏ bám chấp và các hình tướng thông thường. Bạn cũng thấy hình tướng bên trong và tất cả chúng sanh đều thanh tịnh, tuy xuất hiện nhưng không có tự tánh. Kiến thanh tịnh này là đặc điểm chủ yếu của giai đoạn phát triển và nó là điều cốt lõi để áp dụng thực hành này trong tiến trình cận tử cho sự chuyển di Sambhogakaya. Giáo lý này được áp dụng trong suốt tự thân tiến trình cận tử hoặc nếu bạn không thành công vào lúc đó, thì trong lúc kinh nghiệm tiếp theo sau khi chết lúc các hình tướng hiền minh và phẫn nộ xuất hiện. Thực hành này không dành cho mục đích cường điệu.

Sự Chuyển Di Nirmanakaya

Về phần tư thế của thân; do nằm nghiêng về bên phải năng lượng sự sống sẽ di chuyển từ lỗ mũi trái. Vào lúc đó hãy cầu nguyện một Nirmanakaya có thể xuất hiện trước bạn, như Phật Sakyamuni vĩ đại, Phật Maitreya, Phật Dược Sư, hoặc thân tướng của Đức Orgyen Padma, vị thầy tâm linh và bạn bè của bạn hoặc hình, tượng của một trong những người đó. Bày biện đồ cúng dường phong phú đến các vị đó. Nếu khônghình thức thực sự hãy quán tưởng nó một cách rõ ràng và tạo cúng dường lưu xuất trong tâm. Sau đó, bạn và người khác nên cầu nguyện, “Giờ đây trong việc phụ thuộc vào cái chết, cầu mong con thọ tái sanh như một Nirmanakaya vì lợi ích của tất cả chúng sanh, và cầu mong điều này là sự phục vụ to lớn cho thế gian. Cầu mong chính Nirmanakaya đó được phú cho các dấu hiệu của thân và biểu tượng giác ngộ, và cầu mong không có chướng ngại cho cuộc sống và hoạt động giác ngộ của con.”

Khi bạn cầu nguyện một Nirmanakaya ở phía trước, có thể là bất cứ đại diện khác nhau nào của thân, khẩu, ý của chư Phật. Việc đặt bất cứ biểu trưng nào về các vị đó là thích hợp. Chẳng hạn, nếu thấy chính bạn sắp chết trong bệnh viện thì việc có một biểu tượng của thân, khẩu, hay ý của chư Phật có thể không thực tế và không đơn giản khi bày biện bất kỳ cúng dường nào. Trong trường hợp đó, đừng lo lắng hay bối rối. Nếu bạn không có vật chất để cúng dường hoặc bàn thờ để đặt cũng chẳng sao. Hãy cúng dường thân, khẩu và ý của bạn và đừng bối rối. Điều đó là tốt. Việc chỉ lựa chọn cúng dường thân, khẩu và ý của bạn là điều tốt. Vì vô số kiếp trong quá khứ bạn đã kiên trì bám chấp vào thân, khẩu, ý như là “của tôi”. Chừng nào còn sự nhận dạng mạnh mẽ hay cảm giác về “thân, khẩu, ý của tôi,” triển vọng về việc cúng dường chúng là không cần bàn cãi. Trong tiến trình cận tử của một kiếp, nếu bạn có thể thành thật cúng dường thân, khẩu, ý của bạn thì có lợi ích to lớn trong đó hay không?

“Cầu mong con thọ tái sanh như một bậc Vidyadhara vĩ đại, phục vụ như biểu tượng của các Đấng Chiến Thắng trong ba thời.” Hãy phát sinh trong tâm thức một khao khát chân thực như vậy. Ở dưới rốn, hãy quán tưởng một nguồn Giáo Pháp ba góc và bên trong kinh mạch trung ương tinh khiết, trong suốt là một bindu trắng và đỏ, sắp bốc lên. Đóng lại lỗ mở ở dưới bằng việc rút nó lại và kéo lên trên. Năng lượng sự sống không lay chuyển ở dưới đẩy bindu lên trên và do nói “HIG KA, HIG KA,” nhiều lần khi bạn có thể, hãy rút nó lên trên. Nó đến lỗ mở ở lỗ mũi trái với nhận biết đi kèm năng lượng sự sống, và trong một chốc lát, giống như một mũi tên chúng hòa nhập vào ngược của vị Nirmanakaya ở phía trước bạn. Hãy để năng lượng sự sống và sự nhận biết như chúng là, không cần gom chúng lại. Lập lại điều này nhiều lần cho đến khi bạn thành công trong việc để ý thức ra đi. Sau khi ý thức ra đi trong kinh nghiệm đó chắc chắn sau này bạn sẽ được tái sanh như một Nirmanakaya để phục vụ nhu cầu của chúng sanh.

Nguồn Giáo Pháp có hình dạng như một hình tứ diện. Bindu màu hồng như màu của hoa dâu nở. Hãy quán tưởng sự nhận biết của bạn hòa nhập vào ngực của vị Nirmanakaya ở phía trước hoặc vào vị thầy tâm linh của bạn. Sự nhắc đến “việc tống ra từ lỗ mũi trái” là khác thường. Một số giáo lý về chuyển di tâm thức chỉ nói đến việc hướng sự nhận biết lên trên qua đỉnh đầu. Nếu bạn có thể làm được điều này thì thật tốt. Tuy nhiên, bản văn này giới thiệu sự lựa chọn khác và cũng không mâu thuẫn với các phương pháp khác về mặt kết quả cuối cùng của thực hành.

Theo cách đó nếu thành công trong chuyển di Nirmanakaya, các dấu hiệu bên ngoài bao gồm sự xuất hiện trong bầu trời có mây và cầu vồng như một cây như ý giống như một cái lọng mở rộng, và mưa hoa từ bầu trời; những dấu hiệu bên trong bao gồm sự xuất hiện của máu, huyết tương, dịch phục hồi hoặc những giọt sương từ lỗ mũi trái; và các dấu hiệu bí mật bao gồm sự xuất hiện của nhiều xá lợi nhỏ, sọ không bị vỡ mà còn nguyên (ngay cả khi thân được hỏa thiêu) và xuất hiện biểu tượng tay của các Bổn Tôn. Đây là sự chuyển di Nirmanakaya. Samaya.

Dịch phục hồi là bodhicitta trắng và đỏ đã được mô tả trong tantra. Về một số trường hợp xảy ra ở Tây Tạng, chất dịch trắng và đỏ này chảy ra từ lỗ mũi của hành giả sắp chết. Ngoài ra, khi thân của hành giả này được hỏa thiêu, sọ không bị cháy và không bể, và có thể có những biểu tượng tay của Bổn Tôn thực sự xuất hiện trên chính hộp sọ.

Sự Chuyển Di Mãnh Liệt

Các hướng dẫn trước áp dụng cho cái chết dần dần, nhưng trong trường hợp chết đột ngột thì không có thời gian cho thực hành thiền định như vậy; do vậy “sự chuyển di lập tức” là điều quan trọng. Ngoài ra, vì không biết hoàn cảnh về cái chết của bạn sẽ là gì, ngay bây giờ bạn phải luân phiên giữa thực hành rèn luyện chuyển di và sự chuyển di tức thời.

Như thế, trong chương này, có tiêu đề “Giải Thoát Tự Nhiên Của Sự Quan Tâm Về Chuyển Di: Các Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm Về Tiến Trình Chuyển Tiếp Của Cận Tử,” sự chuyển di Dharmakaya, Sambhogakaya và Nirmanakaya đã được dạy. Tất cả các điều này làm người sắp chết có khả năng thành thạo về tiến trình cận tử. Nhưng bạn có thể chết đột ngột như trong một tai nạn, trong trường hợp đó bạn chẳng thể làm được gì với thân thể hoặc các sở hữu của bạn vào lúc chết. Do vậy điều rất quan trọng là hãy chuẩn bị khả năng này ngay bây giờ. Tất cả chúng ta chắc chắn sẽ chết và cái chết sẽ tách rời chúng ta khỏi mọi thứ mà chúng ta nhận dạng: thân thể, của cải của ta v.v... Do đó việc buông bỏ bám luyến và cho đi mọi thứ ngay bây giờ là có lợi. Buông bỏ hoàn toàn thân thể, tài sản của bạn và mọi thứ khác để có cảm giác chúng chẳng còn thuộc về bạn. Không liệu trước bất cứ phần thưởng, biết ơn hoặc sự yêu mến nào – “tôi thương bạn”, một cái ôm, một nụ hôn, một ít quà tặng hoặc bất kỳ điều gì khác – hãy dâng cúng không có bất cứ bám luyến có điều kiện nào. Chẳng có ai tiếp nhận sự dâng cúng này. Đức Phật Sakyamuni không ra từ đám mây và nói, “Cám ơn” hoặc “Đồ của Ta đâu?” và đem đồ cúng dường đi. Mục tiêu của sự dâng cúng này là giải thoát mọi bám chấp vào mọi thứ mà bạn nhận dạng. Bám chấp này giống như thần chết được mô tả với miệng há rộng, nhe nanh, hai bàn tay ôm chặt sinh tử luân hồi. Việc có vị thần chết thực sự hiện hữu hay không lại là một vấn đề khác. Nhưng việc bám chấp thực sự được mô tả rõ với miệng mở rộng và hai bàn tay giữ chặt ba cõi dục giới, sắc giớivô sắc giới. Ngoài ra, sự chấp bám rất tham lam háo hức, nó bám chấp vào mọi loại hiện tượng. Vì vậy thậm chí nếu chúng ta không thể hoàn toàn loại bỏ sự bám chấp của mình, điều quan trọng là ngay bây giờ chúng ta có thể bắt đầu làm mọi thứ để giảm bớt bám chấp.

Chúng ta có thể hỏi liệu mình thực sự có bất cứ năng lực nào hoặc làm chủ trên thân thể chúng ta, để tài sản hoặc những thứ bên ngoài mà chúng ta có mối kết nối trực tiếp hay không. Không chỉ chúng ta thiếu sự làm chủ thực sự trên thân thể mình mà cũng chẳng thể kiểm soát được ý thức của chúng ta. Hãy quán sát tâm bạn và chính bạn thấy. Có phải tâm này hoàn toàn dưới sự kiểm soát hoặc nó vận hành dưới năng lực ảnh hưởng của chính nó? Trong tiến trình của cuộc sống bạn, sự kiện xuất hiện không đơn giản tùy theo bạn muốn mà phụ thuộc vào hành động trước của bạn hay karma. Chẳng hạn, bạn có thể có ý định tốt nghiệp trung học hoặc đại học, nhưng được hay không? Nếu không, bạn có thể đã có ý định nhưng kết quả của chính hành động bạn đã xen vào và điều này xác định nhiều sự kiện trong cuộc sống của chúng ta. Loại công việc chúng ta được, loại công việc chúng ta mất, chúng ta đi đâu, chúng ta ở đâu – tất cả điều này bị ảnh hưởng bởi hành động chúng ta đã làm trong quá khứ. Do đó, vì không có sự tự kiểm soát trong quá trình sống của chúng ta, làm sao chúng ta có thể tìm thấy sự tự kiểm soát như vậy sau khi chết?

lý do này, điều quan trọng là chuẩn bị ngay bây giờ cho tiến trình cận tử và làm mọi điều có thể để giảm bớt sự bám chấp của chúng ta vào bất cứ loại hiện tượng nào. Chúng ta phải có khả năng thấy cho chính mình rằng sự bám chấp vào thân, khẩu và ý có giúp ích gì cho chúng ta hay không. Tất cả chúng ta ở đây đều được giáo dục, tất cả chúng ta đều được đến trường ở nhiều trình độ khác nhau. Tất cả chúng ta đều được học cách suy nghĩ ra sao, do vậy chúng ta có khả năng thẩm xét chủ đề này cho chính mình. Chúng ta phải có khả năng nhận dạng sự bám chấp của mình và thấy trên nền tảng của kinh nghiệm chính mình, với sự thông minh của mình liệu có bất cứ lợi ích nào trong việc bám chấp hay không. sự bám chấp là nguyên nhân gốc rễ cho sự tái sanh liên tục trong chu trình sinh tử này được biết là samsara. Nó thực sự là cái còng tay; dù còng tay bằng vàng hay bằng sắt, nó đều trói buộc chúng ta.

Có những người được biết như hành giả lại hoàn toàn vi phạm Phật Pháp. Tuy nhiên, người như vậy thường có rất nhiều bám luyến đến truyền thống Giáo Pháp, dòng truyền của họ, hay môn phái và có ác cảm, coi thường hoặc chống đối các dòng truyền khác. Đây không phải là cách Đức Phật trình bày Giáo Pháp của Ngài, và cũng không phải là mục tiêu mà Ngài dạy Giáo Pháp. Đôi khi tôi cũng nghe người ta bình luận, “Ồ, như vậy và như vậy là một lama tốt, nhưng ông ta không thực sự biết được thế giới thực.” Hãy nhìn những vị đại lama của quá khứ, như Ngài Milarepa, Guru Rinpoche, và Tsongkhapa. Nhiều người trong các Ngài là khất sĩ sống dựa vào bình bát. Vậy các Ngài có rơi vào phạm trù của lama tốt nhưng không biết thế gian hay không? Loại đánh giá này đơn giản là lớp vỏ che đậy tính suy nghĩ tự phụ của chính mình là thông minh, hoặc nhiều tri kiến hơn chư Phật.

Có nhiều hoàn cảnh dẫn đến cái chết của chúng ta, nhưng chúng ta chẳng có ý niệm cái nào thực sự tấn công mình. Do vậy, điều quan trọng là hãy luân phiên thực hành các rèn luyện chuyển di trước đó và thực hành hiện nay, điều này được gọi là “sự chuyển di tức thời.”

Nó giống như vầy: hãy nhớ mạnh mẽ trong tâm, “Nếu bị chết bất thình lình, tôi phải tập trung trên đỉnh đầu tôi.” Quyết định này là quan trọng chủ yếu. Chẳng hạn, vào buổi chiều của ngày 22 âm lịch, nếu có quyết định chân thực hãy nghĩ rằng bạn thức dậy ngay khi mặt trăng mọc, khi mặt trăng mọc vào giữa đêm, bạn sẽ thức dậy. Nó cũng giống như vậy. Ngoài ra, ngay bây giờ hãy nhanh chóng quyết tâm tập trung chú ý trên đỉnh đầu bạn bất cứ khi nào nỗi sợ hãi xuất hiện. Kế tiếp trong trường hợp “chết đột ngột”, như té xuống từ sườn núi cao, dốc, tư tưởng sẽ khởi lên, “Tôi sắp chết!” Ngay khi xảy ra điều này, tốt nhất là nhớ lại vị thầy tâm linh của bạn hoặc vị Bổn Tôn đã chọn trên đỉnh đầu bạn. Nếu khôngthời gian làm điều đó thì điều quan trọng then chốt là hướng sự tập trung vào đỉnh đầu bạn. Lý do tại sao sự chú ý của chúng ta trở nên tập trung vào lúc đó, là khi kinh nghiệm nỗi sợ hãi to lớn chúng ta thường đột ngột kêu lên “Mẹ ơi!” Do vậy, vào lúc đó chúng ta cũng phải chắc chắn nhớ lại vị thầy tâm linh của mình hoặc hướng sự nhận biết lên đỉnh đầu. Vì thế, điểm này là rất thâm sâu.

Trong thực hành này, bạn tập trung trên đỉnh đầu mình và ngay cả nếu không thể quán tưởng rõ ràng, hãy hình dung bạn cũng như thân lưu xuất của Đức Phật, hãy là Đức Phật Amitabha, vị thầy tâm linh của bạn hoặc bất cứ vị nào khác. Quyết tâm này là quan trọng cốt yếu.

Vào ngày 22 âm lịch, một tuần sau khi trăng tròn, mặt trăng mọc rất trễ vào ban đêm. Bản văn này được viết ở Tây Tạng, ở đó chưa có đồng hồ đeo tay, nên tác giả không thể đơn giản nói, “Nếu bạn muốn thức dậy vào hai giờ sáng, hãy liệu trước, rồi thức dậy vào lúc đó.”

Trong tiến trình cuộc sống bạn, ngay khi nghĩ rằng bạn có thể sắp chết, hãy tập trung chú ý vào đỉnh đầu bạn. Nếu có thể làm điều đó trước khi bạn chết, điều đó sẽ góp phần cho sự giải thoát của bạn. Hoặc thậm chí sau khi nhận ra bạn vừa mới chết, nếu hướng sự nhận biết lên đỉnh đầu bạn, đến vị thầy tâm linh hoặc hóa thân khác của Đức Phật, điều đó cũng sẽ dẫn bạn đến giải thoát. Thế nên, điều quan trọng là nhớ lại sự tập trung này trước hoặc ngay sau khi chết. Hãy quyết tâm rằng nếu thấy chính bạn có nguy cơ sắp chết, bạn phải hướng sự nhận biết lên đỉnh đầu bạn. Nếu không làm được và nếu chẳng nhớ lại thực hành Pháp trong tiến trình cận tử, hầu như bạn sẽ chỉ kinh nghiệm sự sợ hãi, hy vọng, và rối loạn vào lúc chết. Ngay cả bây giờ, khi cuộc sống người ta không xấu và kinh nghiệm ít đau khổ, nhiều người diễn tả rằng họ cảm thấy rối loạn. Nếu bạn rối loạn khi không đối mặt với cái chết và khi không kinh nghiệm nhiều đau khổ, làm sao bạn cho rằng có thể chịu đựng khi thật sự sắp chết? Nó sẽ diễn tiến xấu đi. Người phương Tây có tính cách đồi bại, nuông chiều trong sự rối loạn này hơn là làm điều gì đó chống lại nó.

Khi nhận ra bạn sắp chết, điều có lợi íchquán tưởng vị thầy tâm linh trên đỉnh đầu hoặc bất cứ vị nào khác là đối tượng của niềm tin bạn, như Đức Avalokiteshvara, Phật Sakyamuni, hoặc bất kỳ hóa thân nào của Đức Phật. Ngoài ra, đây cũng là lúc để nhớ lại các giáo lý thiết thực bạn đã tiếp nhận liên quan đến tiến trình cận tử. Khi cái chết sắp xảy đến với bạn, điều quan trọng nhất là suy nghĩ về người mà bạn có niềm tin nhiều nhất.

Tây Tạng khi tai họa xảy ra, việc người ta kêu lên trong đau khổ, “lama kyeno!” là rất phổ biến, có nghĩa “vị thầy tâm linh biết hết!” Đây là sự kêu cầu các bậc giác ngộ này hiện diện. Đúng vào lúc khủng hoảng hãy kêu cầu bất cứ bậc giác ngộ nào mà bạn có niềm tin. Trái lại, ở phương Tây nếu người ta kêu lên trong đau buồn đến “tam bảo”, có thể họ ám chỉ đến nhà cửa, xe cộ và bạn gái của họ.

Không có quan điểm trong việc kêu lên “Ôi, Trời!” hoặc “Ôi, Lama!” hay “Ôi Tam Bảo” nếu đó là lời vô nghĩa với bạn. Điều quan trọng là biết ý nghĩa của đối tượng bạn sùng kínhquen thuộc với những phẩm tính xuất sắc của đối tượng quy y. Tới mức khi bạn nhận biết các phẩm tính này và kêu cầu các đối tượng quy y đúng vào lúc khủng hoảng hoặc vào lúc chết thì lúc đó sẽ có ân phước thực sự. Nếu phát triển sự quen thuộc với thực hành này trong tiến trình sống của bạn, điều này chắc chắn sẽ là phản ứng tự nhiên của bạn vào lúc chết.

Tương tự, chẳng hạn khi bạn hoàn toàn bị ngập trong biển lửa, hoặc bị cuốn trôi trong một dòng sông to lớn, hay bị sét đánh xuống đầu, tên bắn trúng ngực, hãy nhanh chóng tha thiết nhớ lại vị thầy tâm linh hoặc hướng sự nhận biết ngay trên đỉnh đầu bạn. Điều đó cũng được gọi là “sự chuyển di tức khắc” và “chuyển di mãnh liệt”. Vì đây là rèn luyện rất thâm sâu nên hãy rèn luyện tâm thức trong đây thật tốt.

Trong phần trước về chuyển di Nirmanakaya, người sắp chết được khuyến khích nằm nghiêng về bên phải và thải ra năng lượng sự sống, hay hơi thở từ lỗ mũi trái. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là tập trung sự nhận biết tại đỉnh đầu. Bạn có thể nhớ lại các khía cạnh khác của thực hành phức tạp hơn về việc đóng lại mọi lỗ mở với những chủng tử tự được thiết kế để giúp tâm thức xuất ra từ đỉnh đầu. Nếu bạn làm được tất cả thực hành phức tạp, điều đó sẽ tốt hơn, nhưng điều quan trọng nhất là tâïp trung sự nhận biết trên đỉnh đầu.

Có nói rằng khi sự sợ hãi rất lớn khởi lên, đó cũng là thuận lợi để kêu cầu danh hiệu của chư Phật, hãy kêu lên “Người cha tâm linh!” hoặc “Orgyen!” Đây là trường hợp có những thuận lợi không thể tưởng khi tập trung sự chú ý của bạn vào vị thầy tâm linh tại đỉnh đầu bạn.

Kế tiếp, có những khác biệt lớn về phần đường dẫn của sự chuyển di tâm thức, cụ thể là, có chín bậc phân loại liên quan đến khả năng cá nhân siêu phàm, trung bình và thấp. Lỗ mở Brahma trên đỉnh đầu là đường dẫn để đến cõi tịnh độ của chư dakini, do vậy nếu tâm thức bạn xuất ra từ đó, bạn sẽ chắc chắn giải thoát. Đó là đường dẫn cao nhất, nên việc rèn luyện tập trung sự chú ý của bạn vào đó là điều quan trọng. Nếu tâm thức bạn xuất ra từ mắt, bạn sẽ sinh ra là một vị vua của thế gian; và nếu xuất ra ở lỗ mũi trái bạn sẽ có được thân người thanh tịnh. Đó là ba lỗ mở siêu phàm.

Nếu tâm thức xuất ra từ lỗ mũi phải bạn sẽ sinh ra như một yaksa;51 nếu nó xuất ra hai lỗ tai bạn sẽ sinh ra là một vị thần của cõi sắc giới; nếu xuất ra từ rốn bạn sẽ sinh ra như một vị thần cõi dục giới. Đó là ba lỗ mở trung bình.

Nếu tâm thức xuất ra từ lỗ tiểu bạn sẽ sinh làm súc vật; nếu xuất từ lỗ mở của sự trở thành, đó là đường dẫn trong đó dịch tái tạo và bindu trắng, đỏ di chuyển; bạn sẽ sinh làm preta (ngạ quỷ), và nếu xuất ra từ hậu môn bạn sẽ sinh vào địa ngục. Đó là ba lỗ mở thấp.

Vì thế có sự khác biệt rất lớn trong đường dẫn của sự chuyển di tâm thức, do vậy vào lúc chết việc hướng sự nhận biết vào đỉnh đầu của bạn sẽ có vô số thuận lợi. Đó là sự chuyển di mãnh liệt. Samaya.

Sự Chuyển Di Thông Thường

Những người trong các bạn chưa nhận ra ý nghĩa của tánh Không và không hiểu ý nghĩa của giai đoạn phát triểnhoàn thiện thì nên nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng bắc. Vị thầy tâm linh, anh chị em ruột, hoặc bạn bè của bạn nên dẫn dắt sự quán tưởng của bạn; và nếu thân bạn có khả năng, họ nên để bạn thọ quy y, trau dồi tâm linh tỉnh thứcsám hối tội lỗi. Sau đó thọ những nguyện thông thường và nếu có thời gian hãy thọ nhập môn tantric. Nhờ lúc sắp chết với động lực nghiệp tối ưu của việc có các giới nguyện rõ rệt không thể phai mờ, bạn được giải thoát khỏi các trạng thái khổ cực của luân hồi và có vô số thuận lợi.

Nếu bạn chưa có nhận biết của thực tại về tánh Không và nếu chưa thành thạo nhiều trong giai đoạn phát triểnhoàn thiện thì bạn nên thực hành sự chuyển di thông thường này. tinh hoa của giai đoạn phát triển là nhìn mọi hình tướng như thân của Đức Phật; mọi âm thanh như ngữ của Phật, và mọi sự kiện tinh thần như ý của Phật. Tinh hoa của giai đoạn hoàn thiệnnhận ra bản tánh của tự thân thực tại. Nếu bạn không có bất cứ kinh nghiệm, nhận biết hoặc hiểu biết nào như vậy, bạn nên nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng bắc. Sau đó thọ nguyện quy y, nguyện bồ tátphát lồ sám hối bất cứ hành động không đạo đức nào đã vi phạm.

Tây Tạng, khi người ta thấy chẳng mấy chốc họ sẽ chết, thường họ sẽ nhận một lễ nhập môn liên quan đến các hóa thân hiền minh và phẫn nộ của Đức Phật. Điều này có thể có lợi ích xác thực cho người sắp chết. Nếu bạn chẳng chuẩn bị cho cái chết dù là sắp xảy ra hay còn cách xa mà người khác tụng niệm cầu nguyện đại diện cho bạn sau khi bạn chết thì rất khó có lợi ích thiết thực nào cho bạn. Nếu điều này được làm với một vị lama giác ngộ cao thì có thể có một số lợi ích và sẽ chỉ có một chút lợi ích nếu cầu nguyện này được làm bởi người bình thường. Nếu bạn có thể thọ giới, nguyện tantric ngay trước khi chết thì gần như không có khả năng giới nguyện này bị sứt mẻ trước khi bạn chết. Điều đó cho bạn động lực nghiệp tối ưu khi bạn chết và nó là cách tốt nhất đem cuộc sống bạn đến lúc kết thúc.

Một vấn đề chủ yếu trong số các Phật tử Mỹ là không bắt đầu dấn thân vào thực hành mà họ được dạy. Tổng quát, Phật tử ở Mỹ trong truyền thống đạo Phật Tây Tạng đã nhận được đầy đủ giáo lý về quy y và đã thọ nguyện quy y, thọ bồ tát giới. Nhiều người trong các bạn đã nhận nhiều lễ nhập dòng nên vào lúc chết sẽ không phải là lễ nhập dòng lần đầu tiên. Nhưng trong tiến trình của cuộc sống bạn dường như thấy ít có thời gian để thực hiện giáo lý này. Do vậy, khi đối mặt với cái chết của chính bạn, đừng nên cố gắng làm điều gì đó thật đặc biệt. Nếu bạn có thể chỉ cần hướng niềm tin vào các đối tượng quy y Phật, Giáo PhápTăng Đoàn, và nhớ lại tinh thần mà bạn đã đi vào thực hành – để cố gắng cho tâm linh tỉnh thức vì lợi ích của tất cả chúng sanh – điều đó là đủ.

Trong trường hợp người ta thậm chí không thể làm được điều đó, hãy kêu tên người đó và nói, “Trên đỉnh đầu của bạn là Đức Thế Tôn của Lòng Đại Bi.52 Hãy sùng kính Ngài!” và vỗ vào đỉnh đầu người đó. Nhẹ nhàng giật tóc ở lỗ mở Brahma. Điều đó làm cho tâm thức thoát ra lỗ mở Brahma.

Trong trường hợp người đó không khác hơn một con vật và ngay cả không có khả năng hãy để đầu người đó quay về hướng bắc và nói nhiều lần, “Kính lễ Đức Phật Raknasikhin.” Điều đó sẽ chắc chắn giải thoát người đó khỏi trạng thái khổ cực của sinh tử, vì trước đó Đức Phật này đã nguyện, “Cầu mong tất cả những người nghe được danh hiệu Ta đều được thoát khỏi các trạng thái khổ cực của sinh tử.” Ngoài ra, có nói rằng nếu người nào thốt lên danh hiệu của Đức Phật, Bậc Chữa Lành Thần Hiệu, Vua của Ánh Sáng Xanh Da Trời, chỉ cần nghe được danh hiệu này, người đó sẽ được bảo vệ khỏi các trạng thái khổ cực của sinh tử. Tương tự, hãy kêu lớn mọi danh hiệu của chư Phật mà bạn biết, tụng niệm bất cứ các tinh hoa ban phước nào bạn biết như mantra lục tự. Nói cụ thể, nếu bạn có mantra bảo vệ treo trên cổ hãy đọc nó. Tụng niệm bài Giải Thoát Qua Sự Nghe và cúng dường bất cứ bài nguyện nào bạn biết. Nhờ làm như vậy, có khả năng thiết lập được một động lực nghiệp tối ưu nên điều này có được thuận lợi rất lớn. Có nói rằng tối thiểu chỉ nhờ người sắp chết nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng bắc sẽ không đi vào các trạng thái khổ cực của sinh tử.

Nếu bạn không thể nhớ lại danh hiệu của Đức Phật Raknasikhin, hãy nhớ Đức Phật Amitabha. Bạn cũng có thể tụng niệm mantra lục tự OM MANI PADME HUM hoặc mantra một trăm âm của Đức Phật Vajrasattva.

Vì thế, mọi lợi ích của việc thực hành Giáo Pháp sẽ đến vào lúc gần chết, nên điều quan trọng là khéo léo vào lúc sắp chếtø. Đây là những hướng dẫn về tiến trình chuyển tiếp lúc cận tử, được gọi là “sự giải thoát tự nhiên của việc quan tâm về chuyển di.” Samaya.

Đã niêm, đã niêm, đã niêm.

Bất kể các thực hành nào bạn đang làm, nó phải liên quan đến cái chết của bạn và giúp bạn trong tiến trình cận tử. Nếu nó không cho bạn bất cứ lợi ích hiển nhiên nào khi chết, bạn đã bị mất hiệu quả. Như một loại suy, nếu bạn làm món canh bằng các miếng phổi khô, tất cả các miếng phổi sẽ nổi lên mặt canh. Tương tự, nếu bạn đặt bắp rang vào nước, nó sẽ nổi ngay lên mặt nước. Đừng để thực hành của bạn giống như món canh phổi khô hay bắp rang nổi lên mặt nước. Sự thực hành của bạn phải có một số giá trị vững chắc lâu dàilợi ích hiển nhiên cho bạn khi chết. Đây là điều rất quan trọng cho dù bạn là học giả, hành giả hay thiền giả.

Mặt khác, đây là lợi ích chắc chắn trong bất cứ thực hành Giáo Pháp nào mà bạn tham gia, bao gồm sự nghe, tư duy, thiền định, sùng kính v.v... Trái lại, ở Mỹ thường người ta chẳng bao giờ thỏa mãn. Có hai loại không thỏa mãn. Cái đầu tiên không thỏa mãn khi bạn đang tham gia trong lắng nghe, suy nghĩ hay thiền định, cho đến khi bạn thực sự đạt giải thoát. Loại không thỏa mãn này nảy ra sự thiếu tự mãn, đó là điều tốt. Với loại không thỏa mãn thứ hai bạn có thể nhận được Giáo Phápnăng lực đem bạn đến giác ngộgiải thoát trong chính kiếp sống này. Nhưng vì không thỏa mãn chúng ta bỏ quên chúng và không áp dụng vào thực hành. Đúng ra là bạn chờ đợi cho giáo lý được nói là cao quý, bí mật và mật truyền hơn và chạy theo chúng với hy vọng sẽ có hiệu quả đặc biệt hơn. Ví dụ, trước tiên bạn có thể nhận được giáo lý cao quý về quan điểm Madhyamaka (trung đạo) và có được một số hiểu biết về trí tuệ nhưng không thực hiện quan điểm này vào thiền định. Sau đó có thể bạn nghe về Mahamudra rồi chạy theo. Chẳng thực hành theo giáo lý nào, có thể bạn lại nghe về Atiyoga, Đại Viên Mãn và nghĩ rằng giáo lý đó còn cao hơn. Nhưng một thói quen xấu đã được thiết lập và bây giờ bạn lại quen với việc đi tìm nhiều giáo lý mật truyền hơn. Trong tiến trình bạn chẳng đặt được một nền tảng nào cho bất cứ điều gì. Đây là vấn đề của xứ sở này. Những người mới bắt đầu không biết cái nào tốt nên họ không đáng trách.

Khuynh hướng phổ biến khác là chấp nhận quan điểm phù phiếm hướng đến Giáo Pháp, một loại tâm thức hổ lốn lý sự hết giáo lý này đến giáo lý khác mà không thực sự nghiền ngẫm và lĩnh hội giáo lý đã tiếp nhận. Đó là vấn đề, và giải pháp là tự mình cam kết vững chắc với giới luật tâm linhthực hiện trong thực hành từng giai đoạn. Hãy thiết lập một nền tảng trong thực hànhxây dựng trên đó. Khi xem lại cuộc sống của chúng ta từ thời còn bé đến nay, chúng ta có thể tự hỏi, “Thực tế cho đến bây giờ chúng ta đã xây dựng được nền tảng gì rồi?” Nhiều người trong chúng ta thậm chí chưa thực sự hoàn thành khóa học của mình, điều đó cho thấy cùng một dạng thái độ không tham gia xuyên suốt với một dự định tốt. Chúng ta đã có nhiều cơ hội để nâng cao khóa học của mình nhưng lại không tận dụng và để cơ hội trôi qua. Do vậy, hãy tập trung vào thực hành của bạn và lĩnh hội những gì bạn đã được dạy.

Một số người rất kiên trì bám chấp vào một hệ phái hay truyền thống Phật giáo riêng. Ví dụ một số hành giả Hinayana nghĩ rằng phái của họ là giáo lý duy nhất thật sự của đạo Phậtgiáo lý Mahayana là không trung thực. Có thể một số người đi theo truyền thống Mahayana nghĩ rằng Hinayana là không trung thực hay thấp hơn. Dĩ nhiên, loại quan điểm bè phái này chẳng có bất kỳ lợi ích nào. Mặt khác nó cũng chẳng có lợi ích gì. Nếu đi theo Hinayana, bạn đang tập trung trên nền tảng của toàn bộ thực hành đạo Phật. Điều này đòi hỏi thiền định về Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và trau dồi quan điểm thoát khỏi luân hồi sinh tử. Trên nền tảng đó bạn có thể tiến tới Mahayana và trau dồi tâm linh tỉnh thức, trau dồi trước hết mọi tinh thần khao khát giác ngộ. Để điều này được dễ dàng, bạn phải trau dồi tứ vô lượng tâm của lòng từ, bi, hỷ, xả v.v... Trên nền tảng đó bạn có thể tiến đến việc trau dồi sự mạo hiểm đến giác ngộ với sự trau dồi sáu hoàn thiện v.v... Trên nền tảng đó bạn có thể đi vào Vajrayana. Có nhiều đại lộ của thực hành, chẳng hạn nếu bạn tập trung trên giai đoạn thực hành phát triển và có được nhận biết của các hóa thân hiền minh và phẫn nộ của các bậc giác ngộ, điều đó sẽ dẫn bạn đến giải thoát. Trên nền tảng thực hành này bạn có thể đi vào Atiyoga hay Đại Viên Mãn. Tuy nhiên, nó được thiết lập bởi nền tảng mà bạn có thể hoàn thành từ chuỗi thực hành trên. Nếu không thiết lập được nền tảng đó mà chỉ tiến tới điều gì khác và sau đó từ bỏ thì cũng không có lợi ích. Mọi biểu lộ của tâm thức bè phái là biểu lộ tương tự của vấn đề cũ kỹ; bám luyến và thù ghét. Việc nói “Tôi là người thuộc phái Nyingmapa” hay “Tôi thuộc phái Gelugpa” với thái độ cam kết với con đường riêng cho đến khi đạt được cực điểm của nó là điều tốt. Nhưng nếu bạn không đến được kết quả của con đường mà chỉ bám luyến vào nó thì chẳng có lợi ích. Nếu bạn đang theo một con đường của Phật giáo, việc thực hành cắt đứt của bạn phải là sự hàng phục ba độc của tâm bạn: tham, sân và si. Sự thực hành Pháp của bạn phải hoạt động như sự giải độc cho ba độc này.

Nếu sự thực hành Giáo Pháp của bạn không chống lạihàng phục được các phiền não trong tâm thức thì việc bạn là một Phật tử là điều đáng ngờ. Là một Phật tử có nghĩa để khuất phục được chất độc trong tâm thức bạn, để trau dồi tâm linh tỉnh thức và để chuyển tâm bạn khỏi sinh tử. Nếu, trong tiến trình thực hành của bạn, chẳng có điều gì kể trên xảy ra vậy việc gọi chính bạn là một Phật tửý nghĩa gì?

Một số trong các bạn có thể muốn thực hành Atiyoga, Đại Viên Mãn. Tại sao được gọi là “Đại?” Tại sao nó được gọi là “Viên mãn?” Nó được gọi là Viên mãn vì mọi phẩm tính của giác ngộ đều được viên mãn trong thực hành này. Nó được gọi là “Đại” vì không có gì lớn hơn được. Tuy vậy, nếu chấp nhận quan điểm bè phái bám chấp vào chính bạn như hành giả của Đại Viên Mãn, thì bạn không biết Đại Viên Mãn là gì. Giáo lý về Đại Viên Mãn trình bày rằng toàn bộ luân hồiniết bàn đều cùng một bản tánh. Nếu đó là trường hợp, trong lúc này bạn đang bám chấp vào khái niệm là một hành giả của Đại Viên Mãn thì bạn ở đâu trong luân hồi và niết bàn? Nếu ngay cả bạn không biết ý nghĩa của thuật ngữ “Đại Viên Mãn,” tôi đề nghị bạn nên dừng lại việc tuyên bố như vậy về chính bạn. Mọi hiện tượng đều cùng một vị và tất cả Giáo Pháp đều cùng một vị. Chẳng hạn, trong truyền thống Gelugpa, có một thực hành phổ biến được biết như Lama Chopa, là sự thờ phụng hay sùng kính đến vị thầy tâm linh. Trong thực hành này bạn niệm, “Ngài là vị thầy tâm linh”, “Ngài là vị bổn tôn đã chọn” “Ngài là Dakini” “Ngài là Hộ Pháp” v.v... Sự thực hành tập trung trên vị thầy tâm linh là vì mục đích kinh nghiệm các phẩm tính giác ngộ của vị thầy tâm linh. Sự thực hành như vậy được tìm thấy trong tất cả truyền thống của Phật giáo Tây Tạng không chỉ trong phái Gelugpa. Đó là cùng một vị trong tất cả truyền thống này.

Giữa nhiều dạng thực hành có thể sử dụng được cho chúng ta, nếu tập trung chỉ trên guru yoga và nếu chúng ta làm điều này thật tốt sẽ thấy toàn bộ ý nghĩa của giai đoạn phát triểnhoàn thiện đều được bao gồm trong đó. Toàn bộ con đường Hinayana và Mahayana đều bao gồm trong đó. Toàn bộ tantra và Atiyoga đều bao gồm trong đó. Nếu bạn có thể thực hành tốt guru yoga, điều đó là đủ. Bạn không cần làm gì nhiều ngoài thực hành của mình, chỉ thực hành và làm tốt nó. Nếu không làm được và đi vòng quanh với cảm giác kiêu ngạo rằng bạn đang đi theo cái cao nhất của mọi thực hành và bạn là một hành giả của Atiyoga, bạn chỉ đem lại sự hổ thẹn trên chính bạn.

Một số trong các bạn có thể đôi khi đảm nhận vai trò của một Pháp sư. Nói chung, tư tưởng có thể dễ dàng khởi lên rằng dù thế nào chăng nữa thường thì vị thầy cao hơn đệ tử và đó là điều tại sao vị thầy giảng dạy và người khác được nhận giảng dạy. Nếu thỉnh thoảng bạn đảm nhận vai trò của một vị thầy tâm linh, người cố vấn hoặc người hướng dẫn, điều quan trọng trước tiên là hãy khảo sát tâm bạn. Khi bạn đến gần Pháp tòa. Từ điểm lợi thế của tánh không hãy thấy Pháp tòa là rỗng không. Khi bạn bước lên ngai để ban Giáo Pháp, điều quan trọng trước tiên là hãy nhớ lại những phẩm tính xuất sắc của Đức Phật, Giáo Pháp, Tăng Đoàn và các phẩm tính của vị thầy tâm linh bạn. Hãy cầu khẩn sự ban phước của các Ngài. Hãy nhớ lại lòng từ của các Ngài. Hãy cúng dường trong tâm. Với thái độ tôn kính, hãy suy nghĩ về những điều này khi bạn sắp bắt đầu ban giáo lý. Kế tiếp, khi để ý những người đến với bạn cầu giáo lý, hãy đáp ứng sự thỉnh cầu và mối quan tâm của họ với tinh thần rộng lượng. Điều này là tặng phẩm của bạn cho họ. Cống hiến giáo lý với động cơ sống để lợi ích người khác. Với động cơ như vậy, trong thực tế đó là lợi ích cho người khác và cũng là lợi ích cho chính bạn. Chính hành động cống hiến giáo lý cho người khác khiến tịnh hóa các nhiễm ônghiệp bất thiện bạn đã tự tích lũy và giúp bạn tích tụ công đức cho chính mình. Trong hai cách này đều là lợi ích cho bạn. Ngoài ra, khi đang giảng dạy bạn nghe giáo lý bạn đang ban và như vậy bạn cũng đang giảng dạy chính mình. Thậm chí bạn có thể học được từ những lời được thốt ra từ chính miệng bạn. Khi bạn đang giảng dạy việc quán tưởng vị thầy tâm linh hoặc các đối tượng quy y khác trên đỉnh đầu bạn cũng rất hữu ích. Bất kể truyền thống nào bạn theo, là Gelug, Kagyu, Sakya hay Nyingma, hãy mang trong tâm vị nào mà bạn có lòng tin lớn nhất. Thậm chí nếu có niềm tin vào nhiều vị, bạn vẫn có thể quán tưởng chỉ một vị, nhưng hình dung vị này cùng bản tánh như tất cả đối tượng quy y đó. Tất cả các Ngài đều bao hàm trong một.

Bạn thực có niềm tin và thực sự có lòng bi vậy phải nhớ điều này trong tâm khi đảm nhận vai trò vị thầy. Trái lại, nếu bạn bước lên Pháp tòa với cảm giác là người đặc biệt trong lúc người khác là bình thường, ngay cả điều này cũng không phải là thái độ của người Phật tử. Hãy nhìn tấm gương của người khác. Khi Đức Dalai Lama sắp ban giáo lý, trước tiên Ngài đến Pháp tòađảnh lễ ba lần. Tại sao Ngài làm điều này? Ngài đang nhớ lại những phẩm tính của Đức Phật, Giáo Pháp, Tăng Đoànvị thầy tâm linh của Ngài; và Ngài làm điều này với thái độ tôn kính và yêu quý. Ngài không đảnh lễ đến ngai và nghĩ, “Đó là nơi tôi sắp ngồi và vì là người trong sạch nên cúi lạy ngai này mà tôi sắp ngồi.”

Nếu bạn giảng dạy Giáo Pháp hãy làm với thái độ tôn kính và yêu quý này, bạn sẽ không cần làm bất cứ điều nào khác thường. Bạn chỉ làm theo cách đơn giản này. Mặt khác, nếu động cơ của bạn và Giáo Pháp không thích hợp thì chẳng có lợi ích trong sự giảng dạy của bạn. Sẽ chẳng lợi ích cho bạn khi chết, đúng hơn là có hậu quả bất lợi. Kết quả sẽ là sự giảng dạy Giáo Pháp không trung thực và điều này sẽ chỉ gây cho bạn tái sanh vào một trong các trạng thái thấp của sinh tử.

Đó là loại thái độ một vị thầy phải có để giảng dạy Giáo Pháp. Bây giờ, về phần học trò ra sao? Tôi đã du hành vòng quanh xứ sở này đã nhiều, đã từng đến các trường học và đã thấy cách cư xử của học trò trong trường học ở Mỹ. Học trò thường giơ chân lên hướng về vị thầy; họ ngồi dựa lưng vào ghế quay lưng về mặt vị thầy, trong tư thế đó họ hỏi người thầy và vị thầy trả lời trong lúc nhìn vào lưng họ. Điều đó có thể được tán thành ở trường Mỹ; nhưng với Giáo Pháp thì không được tán thành. Tư thế đó không làm tổn thương vị thầy dù ở bối cảnh Giáo Pháp hoặc thế gian mà nó làm hại học trò. Về một mặt nào đó xứ sở này vô trật tự, chẳng có quy tắc nào về tư thế của học trò phải có trong lớp học. Tuy nhiên, loại tư thế vô tình hoặc có lẽ thậm chí kiêu ngạo này thực sự gây bất lợi cho bản thân người học trò. Chẳng có lợi ích hay tổn hại nào cho vị thầy mà là làm hại học trò. Nếu bạn muốn học đúng cách hoặc có lợi nhất, cách cư xử về phần của đệ tử trong Giáo Pháp, bạn có thể tìm thấy thảo luận chi tiết về điều này trong bản văn được gọi là Năm Mươi Bài Kệ Về Sùng Kính Guru, đã được dịch sang tiếng Anh. Hãy nhớ rằng năm mươi bài kệ về mối liên quan đến vị thầy tất cả đều vì lợi ích cho đệ tử, không phải lợi ích cho vị thầy. Cư xử theo cách đúng là vì lợi ích của đệ tử, tịnh hóa những khuynh hướng và dấu vết bất thiện, tích lũy công đức và trau dồi những phẩm tính xuất sắc về phần của đệ tử.

Giữa bốn phẩm cấp tâm linh của Phật giáo Tây Tạng – Gelug, Sakya, Nyingma và Kagyu – phái Gelug có chiều hướng là gương mẫu nổi bật nhất trong cách đệ tử sùng kính đến vị thầy. Họ thực sự gương mẫu. Mặc dù không thuộc phái Gelugpa, tôi đã sống bảy hay tám năm với các thành viên của phái này nên thấy cách họ cư xử ra sao. Mặt khác tôi cũng không thuộc phái Nyingmapa, cũng như Sakyapa hoặc Kagyupa. Tôi là một Phật tử và có niềm tin vào tất cả truyền thống này. Tôi không khẳng định có kiến thức hoặc hiểu biết về tất cả nhưng thật sự có niềm tin vào tất cả phái này. Do sự khẳng định ở trên về Gelugpa, tôi không ngụ ý rằng các phái khác không tốt. Đạo đức của họ cũng xuất sắc, nhưng tôi thấy Gelugpa đặc biệt nổi bật trong khía cạnh riêng biệt đó của thực hành. Và, dĩ nhiên ba phái khác thực sự biết đệ tử của họ phải liên hệ với vị thầy tâm linh ra sao. Song, có thể dưới ảnh hưởng của các vùng khác nhau ở Tây Tạng nên mỗi truyền thống này có khuynh hướng ưu thế hơn, bạn sẽ thấy một số khác biệt giữa bốn truyền thống tâm linh. Chẳng hạn, truyền thống Gelugpa đã được nuôi dưỡng rất mạnh ở khu vực Lhasa, thủ đô của Tây Tạng. Xã hội Lhasa có cách cư xử lịch thiệp và được tu dưỡng rất tốt. Cư dân ở Lhasa có xu hướng thời lưu nên điều này đã ảnh hưởng truyền thống tâm linh chiếm ưu thế nhất ở đó, đó là Gelugpa. Nếu bạn đến những nơi khác của Tây Tạng như Golok, Kham, hoặc Amdo ở phía bắc Tây Tạng thì không có văn hóa xã giao tế nhị lịch sự như vậy. Những vùng này là nơi truyền thống Nyingmapa và Kagyupa được nuôi dưỡng mạnh mẽ nhất. Do đó, có thể các truyền thống này bị ảnh hưởng tùy theo xã hội. Bản thân tôi từ Gyalrong trong vùng Kham-Amdo nên tôi không được lớn lên trong môi trường văn hóa tế nhị. Tôi không học được nhiều phép xã giao. Nếu bạn có thể cư xử lịch thiệp đến vị thầy tâm linh thì đó là điều tốt. Cùng lúc, điều quan trọng là cách cư xử bên ngoài của bạn với vị thầy tâm linh phải không giả tạo hay dối trá. Sự trung thực, trong sạchkính trọng là những gì tôi xem là quan trọng.

7

Sự Giải Thoát Tự Nhiên Của Cái Thấy:
Những Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm Về
Tiến Trình Chuyển Tiếp Của Tự Thân Thực Tại

Trong chủ đề chung thứ năm, tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại (hướng dẫn thiết thực, giống như đứa trẻ bò vào lòng mẹ, về lòng tin liên quan đến tự thân hình tướng), nên sự giải thoát tự nhiên của cái thấy đã được dạy. Sự hướng dẫn về tiến trình chuyển tiếp của cuộc sống đưa đến giải thoát tự nhiên của nền tảng, sự hướng dẫn về tiến trình chuyển tiếp của thiền quán ổn định đưa đến giải thoát tự nhiên của nhận biết v.v... đưa đến sự xác quyết qua thẩm tra bản tánh của sinh tử của tự thân thực tại thanh tịnh bổn nguyên rồi thực hành. Chúng được gọi là “chu trình Xuyên Thấu nền tảng.” Nhờ nhận ra tánh giác nhận biết trực tiếp tự thân thực tại và trở nên quen thuộc với nó, giờ đây bạn định rõ được tướng mạo của tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại; và điều đó được gọi là “con đường giải thoát của sự Nhảy Vọt Qua.” Trong đây có bốn chủ đề: (1) đánh vào những điểm then chốt của thân, khẩu và ý, (2) sự bừng sáng của nhận thức trực tiếp trên bản thân mình nhờ ba loại điểm then chốt, (3) cách bốn cái thấy xuất hiện do thực hành, và (4) cuối cùnglời khuyên kết thúc.

Sự thực hành của tiến trình chuyển tiếp đầu tiên, thứ hai v.v... là cho mục đích nhận ra tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại. Tương tự, trong Paramitayana năm hoàn thiện đầu tiên (năm ba la mật) được trau dồi vì mục đích của hoàn thiện thứ sáu, tức trí tuệ.

ĐÁNH VÀO CÁC ĐIỂM THEN CHỐT CỦA THÂN, KHẨU VÀ Ý

Trong việc đánh vào các điểm then chốt có ba phần: (a) các điểm then chốt của thân, (b) các điểm then chốt của khẩu, và (3) các điểm then chốt của ý.

Các Điểm Then Chốt Của Thân

Trong các điểm then chốt của thân cũng có ba phần: (i) tư thế Nirmanakaya, ngồi xổm như một rsi, (ii) tư thế Sambhogakaya, như con voi nghỉ ngơi, và (iii) tư thế Dharmakaya, giống như sư tử trong tướng con chó. Tantra Nguyên Thủy về sự Xuyên Thấu của Âm Thanh trình bày:

Với tư thế sư tử của Dharmakaya, hành giả thoát khỏi mọi sợ hãi lừa dối và thấy với mắt vajra. Dựa vào tư thế Sambhogakaya của con voi nghỉ ngơi, hành giả lưu xuất thân tướng của tự thân thực tại và thấy với mắt của Giáo Pháp.

Chuỗi Hạt Ngọc Trai trình bày:

Có ba loại điểm then chốt của thân, cách thức của sư tử, của voi, và giống như rsi.

Với không hơn bảy học trò khi bầu trời trong sáng và không có gió hãy dẫn học trò của bạn đến nơi hiu quạnh. Trước tiên, tư thế Dharmakaya giống như sư tử trong dạnh con chó đòi hỏi vị trí của thân trong hình dáng một con chó. Đặt hai lòng bàn chân bạn trên đất; tay kết ấn kim cang quyền; bấu ngón chân cái xuống đất; duỗi phần thân trên của bạn như sư tử, đem hết sức của bạn làm dựng đứng; dồn sức mạnh của bạn vào cổ họng và hướng tri giác vào đối tượng của nó.

Sự rèn luyện trước này cần được dạy khi bầu trời hoàn toàn trong sáng, không mây, không mưa và không có sương mù. Bạn có thể rời thành phố để hoàn thiện rèn luyện này. Khi bạn “dồn sức mạnh vào cổ họng,” bạn uốn cong cổ một chút. Trong khi ép cằm xuống bạn vươn cổ ra sau. Khi “hướng tri giác vào đối tượng của nó,” giác quan mà bạn hướng là thị giác, hay cái nhìn chằm chằm của bạn.

Trong thời kỳ thực hành này liên quan đến giai đoạn Nhảy vọt qua của thực hành Đại Viên Mãn, được dạy một các truyền thống chỉ cho một vài đệ tử vào lúc họ đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho thực hành này. Họ đã hoàn tất đầy đủ mọi thực hành chuẩn bị; đã rèn luyện trong thực hành liên quan đến kinh mạch và năng lượng cần cho sự sống và đã rèn luyện trong giai đoạn phát triểnhoàn thiện. Họ cũng đã rèn luyện trong thực hành Xuyên Thấu, đòi hỏi kinh nghiệm trong sự trau dồi chỉ và quán. Các đệ tử với nền tảng thực hành như vậy là kinh mạch thích hợp cho sự trau dồi của giai đoạn nâng cao của Nhảy-vọt lên.

Giáo lý cao cấp Đại Viên Mãn không thiết kế cho người thậm chí không có bất cứ ý thức quy y nào. Vậy tại sao tôi lại cống hiến điều này như giáo lý công truyền? Có một số vị đại lama đương thời nói rằng bây giờ là lúc để ban giáo lý công khai này. Ngài Yangthang Tulku Rinpoche, Đức Jigmey Phuntsok, và Đức Orgyen Kusum Lingpa đã tuyên bố rằng bây giờ là lúc khi giáo lý về sáu tiến trình chuyển tiếp đã được dạy rộng rãi. Bản thân Ngài Karma Lingpa, vị lama hiển lộ đầu tiên giáo lý này cũng viết một bài nguyện rằng giáo lý này có thể được nuôi dưỡng trong cuối thời đại suy thoái và cư xử của con người không thích hợp với Giáo Pháp. Do vậy, thời điểm cho giáo lý này trở nên công khai là bây giờ.

Tuy nhiên, nếu bạn học giáo lý này theo cách hời hợt hoặc tò mò vu vơ sẽ dẫn bạn tái sanh vào cõi thấp trong trạng thái khổ cực của sinh tử. Nhưng nếu lắng nghe và học giáo lý này với niềm tin. Thậm chí không thực hành chúng, bạn cũng sẽ nhận được hạt giống giải thoát, đó là lợi ích to lớn. Thế nên, không ai nên bác quan điểm này và không ai nên khuyên các Pháp hữu của họ không tiếp nhận giáo lý về Đại Viên Mãn này, vì chúng quá bí mật hay cao cấp với họ. Xin đừng hủy lời khuyên của các vị đại lama này.

Chẳng hạn, giáo lý về “giải thoát qua sự nghe” trình bày rằng chỉ cần nghe giáo lý này với niềm tin đã đặt hạt giống giác ngộ trong dòng tâm thức của hành giả. Thế nên đừng để hoài nghi ngăn cản người khác có cơ hội tiếp nhận giáo lý này. Những hoài nghi như vậy không có trí tuệ vượt hơn Ngài Karma Lingpa, người đã phát hiện giáo lý này đầu tiên. Hãy nhớ rằng Ngài là người nói đây là thời điểm thích hợp giáo lý này nên được công truyền. Giáo lý rất quý báu và có thể đại lợi ích cho bạn vào lúc chết. Dù thế nào đi nữa đừng cản trở lẫn nhau trong thực hành của bạn.

Thứ hai, tư thế Sambhogakaya giống như con voi nghỉ ngơi đòi hỏi nằm úp mặt xuống như con voi; ép hai đầu gối vào ngực đưa các ngón chân ra ngoài; ép cùi chỏ trên đất và nâng cổ họng bạn lên một chút.

Thứ ba, tư thế Nirmanakaya giống như vị rsi ngồi xổm, đòi hỏi thân bạn trong tư thế ngồi xổm; đặt hai mắt cá cùng nhau; cắm hai lòng bàn chân trên đất; hoàn toàn duỗi thẳng thân, ép hai đầu gối tựa ngay ngực bạn, bắt chéo hai cổ tay ôm hai đầu gối và vươn cột sống thẳng, đứng.

Do đánh vào ba loại điểm then chốt của thân, bạn đánh vào điểm then chốt của sự hiện diện trí tuệ bổn nguyên của tánh giác trong thân để nó được nhận biết trực tiếp. Điều này giống như việc con rắn có nọc độc, nếu nó không bị ép lấy nọc, nọc độc vẫn tiềm ẩn.

Các Điểm Then Chốt Của Khẩu

Trong các điểm then chốt của khẩu cũng có ba phần: (i) rèn luyện trong khẩu, (ii) tịnh khẩu, (iii) kiên quyết. Trước tiên, rèn luyện trong khẩu đòi hỏi trong một ngày không được nói nhiều hơn ba hay bốn lần và càng ngày càng ít nói hơn. Thứ hai, tịnh khẩu đòi hỏi hoàn toàn không nói bất kể điều gì. Thứ ba, kiên quyết đòi hỏi sự kiên định như thể bạn bị câm hoàn toàn không nói bất cứ gì.

Các Điểm Then Chốt Của Ý

Không để nhận biết của bạn bị sao lãng ở nơi khác, đừng để nó chuyển hướng mục tiêu tập trung của bạn.

SỰ BỪNG SÁNG CỦA NHẬN THỨC TRỰC TIẾP TRÊN CHÍNH MÌNH TRONG VIỆC PHỤ THUỘC VÀO CÁC ĐIỂM THEN CHỐT

Ở đây có ba phần: (a) các điểm then chốt của những lỗ mở, (b) các điểm then chốt của đối tượng, (3) các điểm then chốt của năng lượng cần cho sự sống.

Các Điểm Then Chốt Của Những Lỗ Mở

Điểm then chốt của lỗ mở là mắt, Tantra nguyên thủy về Âm thanh xuyên thấu trình bày:

Về phần lỗ mở,53 hãy nhìn bằng mắt của ba kaya.

Vô Tự trình bày:

Về phần mắt, hãy nhìn chằm chằm vào lãnh vực không gian.

Chuỗi hạt Ngọc trai trình bày:

Về mặt các lỗ mở, đừng chuyển động từ chính nơi đó.

Dấu vết Nirvana trình bày:

Các điểm then chốt của những lỗ mở là nhìn chằm chằm lên trên, xuống dưới, và bên cạnh.

Ở đây có ba phần: Mục đích của cái nhìn chằm chằm Dharmakaya, bạn trợn mắt nhìn lên trên là để ngưng lại lập tức những hình tướng lừa gạt; mục đích của cái nhìn chằm chằm Sambhogakaya, trong đó bạn nhìn sang bên là để thấy kiến thanh tịnh của trí tuệ bổn nguyên và mục đích của cái nhìn chằm chằm Nirmanakaya đó là nhìn xuống dưới là để có được sự kiểm soát trên năng lượng sự sống và tâm. Thế nên, đừng tách rời ba cái nhìn chằm chằm, đó là các điểm then chốt của những lỗ mở.

Trong cái nhìn chằm chằm Dharmakaya, bạn hơi trợn mắt lên trên nhưng không nhiều giống như bạn chết. Một số lama dạy rằng sau khi hành giả thực hiện bất kỳ tư thế nào ở trên, hành giả hãy để cái nhìn chằm chằm nghỉ ngơi trong bất cứ cách nào thoải mái. Tuy nhiên, theo truyền thống có sự phù hợp giữa các tư thế và cái nhìn này. Đó là cái nhìn chằm chằm Dharmakaya tương ứng với tư thế Dharmakaya v.v...

Các Điểm Then Chốt Của Đối Tượng

Ở đây có hai phần: bản tánh tuyệt đối bên ngoài và bản tánh tuyệt đối bên trong. Tantra Nguyên thủy về Âm thanh Xuyên thấu trình bày:

Bản tánh tuyệt đối là bên ngoài và bên trong. Bên ngoài được biết như bầu trời không mây, và bên trong là con đường của ngọn đèn.

Ngọn Đèn Rực Rỡ trình bày:

Nhờ đặt nhận biết của bạn trong bản tánh tuyệt đối bên ngoài, sự nhận biết của chính bạn được tịnh hóa trong trạng thái của chính nó và trong sự xuất hiện của nó.

Tánh Giác Tự-Hiện trình bày:

Bản tánh tuyệt đốihào quang tự nhiên.

Dấu Vết Nirvana trình bày:

Điểm then chốt của đối tượng là không gian thoát khỏi điều kiện.

Bản tánh tuyệt đối bên ngoài là không gian thoát khỏi điều kiệnbản tánh tuyệt đối bên trong là ngọn đèn của bản tánh tuyệt đối hoàn toàn thanh tịnh. Vì không gian trống rỗng là đối tượng xuất hiện đến sự nhận biết rỗng không, do tập trung vào điểm then chốt của đối tượng, trí tuệ bổn nguyên xuất hiện tự do.

Các Điểm Then Chốt Của Năng Lượng Sự Sống

Ở đây có ba phần: giữ lại, tống ra và nhẹ nhàng ổn định. Tantra Nguyên thủy về Âm thanh Xuyên thấu trình bày:

Bằng mọi phương tiện hãy nhẹ nhàng với năng lượng sự sống. Điều này xảy ra nhờ thải hết chúng ra.

Dấu Vết Nirvana trình bày:

Điểm then chốt của năng lượng sự sống là phải rất nhẹ nhàng.
Trước tiên nhẹ nhàng giữ chúng, sau đó tống chúng ra ngoài xa như một mũi tên và sau đó rất nhẹ nhàng để năng lượng sự sống lắng xuống tự nhiên. Về phần điểm then chốt của sự nhận biết, hãy giam hãm tính cách. Vô Tự trình bày:

Tinh túy xuất hiện giống như tính cách, vi tế, lung linh và phóng ra.

Giác Tánh Tự-Hiện trình bày:

Thân ánh sáng mang năm trí tuệ bổn nguyên xuất hiện rực rỡ như tính cách, đến và đi, phóng ra và che lại.

Sức Mạnh Hoàn Hảo Của Sư Tử trình bày:

Thực tại của tánh giác tự-hiện là sự hiện diện như tính cách của trí tuệ bổn nguyên.

Hành giả giam hãm tính cách bằng việc giữ chúng ở trong. Để biết ý nghĩa của chữ “tính cách” bạn phải tham gia trong thực hành Nhảy-vọt lên tối thiểu trong vòng vài tháng. Trong thực hành này dòng ánh sáng trong trẻo, tượng hình, và cách sắp xếp xuất hiện trong phạm vi cái thấy của bạn. Lung linh, vi tế, phóng ra, và trong suốt, các hình tướng này là biểu hiện bên ngoài của trí tuệ bổn nguyên của tánh giác. Theo sau sự xuất hiện các hình tướng này nhiều loại bindu cũng xuất hiện, trong đó ánh sáng cầu vồng và cái thấy của vị bổn tôn bạn chọn có thể được thấy. Hàng loạt các hình cầu đồng tâm cũng xuất hiện bên trong những bindu này. Cái thấy của các bindu này là biểu hiện sáng tạo của trí tuệ bổn nguyên trong lúc tính cách là tự thân sự nhận biết, có thể nói là trí tuệ bổn nguyên của tánh giác. Một lần nữa bạn phải áp dụng giáo lý vào thực hành, và chính mình thấy chúng có ý nghĩa gì.

Để có một số gợi ý của kinh nghiệm này, mắt bạn hơi liếc nhìn một chút trong lúc nhìn chằm chằm vào ánh sáng đèn điện. Bạn sẽ có thể thấy kiểu ánh sáng, đó là tiền thân của hình tướng sẽ xuất hiện trong thực hành xác thực Nhảy-vọt lên. Trong thực hành như vậy, bạn có thể nhìn chằm chằm vào nguồn ánh sáng như mặt trăng. Giáo lý Nhảy-vọt lên nói, “Khi mặt trời mọc ở hướng đông, bạn nên quay mặt về hướng tây. Khi nó ở hướng tây bạn nên nhìn về hướng đông.” Điều này ngăn mắt bạn không bị hại. Đừng thực hành Nhảy-vọt lên trong lúc nhìn mặt trời vì bạn sẽ bị mù. Thậm chí tốt hơn đừng nhìn trực tiếp vào đèn nến. Nhìn vào ánh sáng điện mờ cũng được và thấy một số hình ảnh nhưng đừng nhầm lẫn đó là thực hành chân chính của Nhảy-vọt lên.

Dấu vết Nirvana trình bày:

Hãy giam hãm các tính cách của nhận biết.

Do đó, nhờ không tách rời ba điểm then chốt, quán sát các hình tướng của sự nhận biết. Thoạt tiên, làm điều này trong nhiều thời ngắn, sau đó tiếp tục ngày càng dài hơn. Kế tiếp thực hành vào những lúc đặc biệt trong ngày và đêm. Bạn sẽ rèn luyện trong một tháng rưỡi.

Chúng ta thường được khuyên bắt đầu bằng những thời ngắn và dần dần tiến dài hơn. Nhưng nhiều người lại làm ngược lại; họ bắt đầu tiến hành với thời dài và sau đó giảm xuống cho đến lúc bỏ hẳn. Hãy bắt đầu bằng những thời ngắn rồi dần dần gia tăng thời gian của mỗi thời và giảm số thời trong ngày. Bạn có thể tiến dần thời công phu lên một giờ, một giờ rưỡi, hai giờ và mười hai giờ, sau đó là suốt ngày. Đây là chiến lược các vị lama ở quá khứ đã đi theo. Nếu bạn thực hành tốt giống như vậy thì sau một tháng rưỡi bạn sẽ hoàn thiện nó.

CON ĐƯỜNG TRONG ĐÓ BỐN CÁI THẤY XUẤT HIỆN TÙY THEO THỰC HÀNH NHƯ VẬY

Ở đây có bốn phần; cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại, cái thấy của kinh nghiệm tiến bộ, cái thấy của nhận biết tột bậc và cái thấy của sự tiêu hủy vào trong tự thân thực tại. Dấu vết Nirvana trình bày:

Về phần cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại, quan điểm bám chấp vào sự tan rã khái niệm. Về phần cái thấy dựa trên kinh nghiệm tiến bộ, trí tuệ bổn nguyên của tiến trình chuyển tiếp được làm cho xuất hiện. Nhờ sự nhận biết tột bậc, bạn nhận ra Sambhogakaya. Nhờ cái thấy của sự tiêu hủy vào tự thân thực tại, bạn đạt được quả của Đại Viên Mãn, thoát khỏi hoạt động. Vì thế một khi bạn đến tột bậc của nền tảng và con đường thì chẳng còn tìm kiếm nirvana ở đâu khác.

Cái Thấy Trực Tiếp Của Tự Thân Thực Tại

Vị thầy tâm linh dạy, “Hãy thực hiện các điểm then chốt của thân giống vậy, thực hiện các điểm then chốt của khẩu giống điều này và các điểm then chốt của ý hãy tập trung trên đó.” Nhờ thực hành như vậy không dựa trên sự thêm vào đối với sự phân tích tâm thứclời nói, đệ tử thấy trực tiếp như đối tượng cái thấy của sự nhận biết tự thân thực tại trong không gian trống rỗng của họ, không bị nó làm nhiễm ô bởi bất kỳ quan niệm ép buộc nào do vậy, điều đó được gọi là “cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại.”

Cái thấy này xuất hiện trực tiếp không có bất cứ sự thêm vào của quán tưởng. Ví dụ, trong giai đoạn phát triển, bạn thêm vào nhiều quán tưởng dựa trên kinh nghiệm của bạn. Bạn thêm vào nơi chốn, bổn tôn trong nơi chốn v.v.... bạn cũng thêm vào lời nói như lời của sadhana, nên bạn gây ra kinh nghiệm này qua lời và quán tưởng. Đó là sự thêm vào cũng như các loại thực hành khác.

Tuy nhiên, trái với điều đó, trong thời kỳ Nhảy-vọt lên, cái thấy xuất hiện không dựa vào bất cứ sự thêm vào nào dù của quán tưởng hay tụng niệm. Điều này xảy ra trên nền tảng của không gian trống rỗng. Đây là nơi cái thấy được kinh nghiệm và nó không cách nào bị nhiễm ô bởi quan niệm ép buộc hoặc suy nghĩ thông thường. Điều đó được gọi là cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại. Lý do tại sao giai đoạn Nhảy-vọt lên của Đại Viên Mãnthật kinh sợ vì nó là sự trực tiếp. Nó không có trung gian bởi quan niệm ép buộc và không lệ thuộc vào khái niệm hay lời nói thêm vào.

Tantra Nguyên Thủy Về Âm Thanh Xuyên Thấu trình bày:

Cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại chắc chắc xuất hiện từ các lỗ mở của giác quan và nó rực rỡ trong bầu trời không mây.

Vì thế, nhờ thực hành phù hợp với các điểm then chốt, giữa hai lông mày bạn ở đó được gọi là “ngọn đèn của tự thân thực tại bổn nguyên.” Nó xuất hiện giống như màu sắc của cầu vồng hoặc con mắt của lông công. Bên trong nó được gọi là “ngọn đèn của bindu trống rỗng,” và nó giống như những vòng tròn gợn sóng đồng tâm khi bạn ném hòn đá vào hồ nước.

Trong giai đoạn thực hành này, bạn có thể thấy hào quang trắng hay xanh dương. Loại cái thấy bạn kinh nghiệm tùy thuộc vào sự chuyển hóa của chính bạn, nên thay đổi từ người này sang người khác.

Bên trong hình dạng giống như những dĩa tròn của một khiên, xuất hiện ở đó một bindu kích thước bằng hạt mù tạt hay hạt đậu. Bên trong đó là “tính cách vajra của nhận biết” điều đó là sự tinh tế, giống như nút buộc trong bộ phận đuôi ngựa, giống như chuỗi xích sắt, như hàng rào hoa di chuyển với gió v.v... Tất cả chúng xuất hiện đều trong sự kết hợp của hai hay ba v.v... và chúng được gọi là “bindu độc nhất của tính cách nhận biết chính bạn.”

Trong giai đoạn thực hành này, bạn có thể thấy nhiều ánh sáng sủi tăm nhỏ xíu, thanh mảnh. Chúng vô số và có thể xuất hiện trong nhiều màu sắc khác nhau. Tất cả chúng đều sủi tăm, tỏa sáng lung linh, nhanh như tên bắn và di chuyển vòng quanh. Chúng không “ở ngoài kia”, hiện hữu như một số thực tại độc lập trong không gian trước bạn. Đúng hơn là ánh sáng này xuất hiện theo sự di chuyển của năng lượng sự sống trong thân bạn. Khi bạn dần dần an địnhđiều phục được năng lượng sự sống trong thân, thì cái thấy này cũng lắng xuống.

Đa dạng các cái thấy có thể xuất hiện trong giai đoạn thực hành này. Những dây ánh sáng nhỏ này có thể giống như tóc, hay sợi tơ ánh sáng đi qua khu vực của cái thấy bạn. Đôi khi chúng giảm số lượng trong lúc bạn nhìn chằm chằm vào nó. Đôi lúc chúng có thể trở nên dầy đặc hơn. Thỉnh thoảng chúng có thể thẳng và đôi khi có thể cong, đôi khi chúng cũng có thể xuất hiện trong khuôn tròn. Chúng có thể thay đổi trong mọi cách khác nhau này.

Bản tánh tuyệt đối và sự nhận biết chẳng kết hợp cũng chẳng tách rời mà hiện diện trong cách mặt trời và những tia sáng của nó. Dấu ấn của bản tánh tuyệt đốihào quang, sự biểu lộ của trí tuệ bổn nguyên là bindu, dấu ấn của sự nhận biếthiện thântính cách. Về mặt vị trí, chúng hiện diện ở giữa citta,54[54] và về mặt con đường chúng xuất hiện trực tiếp đến mắt, đó là tinh túy nguyên chất của các giác quan. Tantra Nguyên Thủy Về Âm Thanh Xuyên Thấu trình bày: 

Cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại chắc chắn xuất ra từ các lỗ mở của giác quan và nó chiếu sáng rực rỡ trong bầu trời không mây.

Vì thế, quan điểm phân tích, bao gồm quan điểm bắt phải bám chấp vào khái niệm, ngôn từ, hiểu biết trí năng v.v... đều tan biến. Dấu vết Nirvana trình bày:

Đối với cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại, quan điểm gây ra bám chấp vào khái niệm được tan biến.

Cái Thấy Của Sự Tiến Bộ Cái Thấy Dựa Trên Kinh Nghiệm

Giữa kinh nghiệm cái thấy và kinh nghiệm nhận thức, kinh nghiệm nhận thức xuất hiện trong nhiều cách khác nhau như cảm giác cực lạc, cảm giác trong sángcảm giác của rỗng không. Tính không ổn định và nhất thời đều chung cho các yana khác nhau và ít được nhấn mạnh. Hơn nữa, nhiều truyền thống như Mahamudra cũng nói rằng kinh nghiệm nhận thức giống như màn chehành giả không nên đặt tin tưởng vào giá trị của kinh nghiệm này. Đúng hơn, hành giả nên đặt sự nhấn mạnh rõ rệt nhất về giá trị của nhận biết. Ở đây, tiêu chuẩn cho giá trị nhận biết được xác định bằng con đường của kinh nghiệm cái thấy và vì kinh nghiệm cái thấy là không tạm thời, chúng phải được nhấn mạnh rõ rệtõ nhất.

Vì thế, như một kết quả của việc tham gia trong kinh nghiệm của cái thấy, vào lúc bản tánh tuyệt đối và sự nhận biết trở nên rõ ràng và vào lúc chúng không rõ ràng. Nhờ tiếp tục thực hành, bản tánh tuyệt đối và sự nhận biết bị tách khỏi điểm giữa hai chân mày, chúng bị tách khỏi hiện tượng giác quanngọn đèn của bindu rỗng không, được tiếp cận và xuất hiện rõ ràng. Bindu chuyển thành kích cỡ của hạt đậu và sự nhận biết bắt đầu giống con chim sắp bay.

Như đã nhắc đến trước đây một hành giả ngay lập tức là người có được nhận biết tức thời trên việc nghe giáo lý cũng giống như chim garuda; ngay khi chim con mới nở lập tức nó có thể bay. Trái lại, người bình thường chúng ta càng giống như con nít: chúng ta cần đi qua nhiều giai đoạn rèn luyện khác nhau, nghe giảng giáo lý, hiểu được quan điểm và dấn thân vào thực hành. Sau đó sự nhận biết dần dần xuất hiện.

Nhờ tiếp tục thực hành, cái thấy của năm ánh sáng chuyển hóa khiến chúng xuất hiện trong kiểu không mạch lạc, ngang, dọc, giống như mũi giáo, tương tự như lều bằng lông trâu yak đen, và giống như ô vuông của bàn cờ; và ánh sáng này tỏa khắp mọi thứ phía trước bạn. Ngoài ra, các bindu cũng chuyển hóa để chúng giống như một gương và sự nhận biết xuất hiện trong cách của con nai đang chạy. 

Nhờ tiếp tục thực hành, cái thấy của bản tánh tối thượng xuất hiện trong vẻ ngoài của lưới ngọc, hàng rào, đầy đủ và một nửa của hàng rào ánh sáng, kẻ ô vuông, sáng rực, giống như mũi giáo, và một bảo tháp nhiều tầng, hoa sen ngàn cánh, hào quang, mặt trờimặt trăng, lâu đài, thanh kiếm, chày vajra, bánh xe, và giống hình dạng của mắt con cá. Ngoài ra, ánh sáng đó tràn đầy môi trường bạn sống trong đó. Bindu giống như bình bát bằng đồng và sự nhận biết của bạn giống như con ong bay lượn trên mật.

Tất cả cái thấy như vậy có thể xuất hiện như một hay nhiều hiện tượng. Tuy nhiên, điều quan trọng là bạn đừng lấy làm ghê gớm lắm về các hình tướng đó. Đừng phản ứng bám chấp hay thù ghét chúng. Đơn giản chỉ chứng kiến chúng.

Nhờ tiếp tục thực hành, ánh sáng tràn ngập môi trường, bindu trở thành như lớp da bảo vệ của con tê giác, ánh sáng tỏa sáng khắp nơi bạn nhìn, bản tánh tối thượng và sự nhận biết liên tục xuất hiện cả ngày lẫn đêm. Thân của bổn tôn xuất hiện trong mỗi bindu và các hiện thân cá nhân thiêng liêng vi tế xuất hiện ở giữa sự nhận biết. Sự nhận biết vẫn bất động.

Các bổn tôn có thể xuất hiện bên trong bindu làm nên tính cách của nhận biết, và trong lúc, “sự nhận biết vẫn bất động.”

Khi những hình tướng như vậy khởi lên, hiện tượng của tiến trình chuyển tiếp được thiết lập trong cách đó để sau này không còn trạng thái trung gian giữa chết và tái sanh.55[55] Vì thế, sự thực hành tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại chỉ là thực hành chính này.

Tantra Nguyên Thủy Về Âm Thanh Xuyên Thấu trình bày:

Trong sự tiến bô của cái thấy dựa trên kinh nghiệm, màu sắc của trí tuệ bổn nguyên chiếu ra ngang và dọc; các bindu xuất hiện rõ ràng như nhiều hiện thân thiêng liêng khác nhau và môi trường tỏa sáng xuất hiện đến sự nhận biết.

Dấu vết Nirvana trình bày:

Đối với sự tiến bộ của cái thấy dựa trên kinh nghiệm, trí tuệ bổn nguyên của tiến trình chuyển tiếp được làm cho xuất hiện.

Có nhiều vấn đề khác nhau chắc chắn xuất hiện trong giai đoạn tha thiết thực hành Giáo Pháp. Trước tiên, có thể bạn có khả năng làm nhẹ bớt một số vấn đề này. Song, nếu chỉ thực hành vì lợi ích chính mình thì chẳng bao giờ bạn thành tựu được bất cứ gì. Đã có vô số các bậc giác ngộ trong quá khứ và không một ai đạt được giác ngộ tâm linh qua sự tự cho mình là trung tâm. Nó không hoạt động. Chúng ta đã ở trong chu trình sinh tử này từ thời vô thủy và nó là sự tự cho mình là trung tâm khiến kéo dài mãi mãi chu trình sinh tử này. Nó là một phần của vấn đề, không phải là một phần của giải pháp. Nó xuất hiện qua sự biểu lộ bám luyến và thù ghét. Sống theo nguyên tắc bám luyến và thù ghét là không thích hợp với Giáo Pháp và thậm chí nó không thích hợp với sự hoàn thành các mục đích thế gian. Ba độc tham, sân và si phải được trục xuất giống như nọc rắn độc. Đặc biệt là chất độc của bám luyến phải được loại bỏ. Tới mức độ mà bạn có thể dẫn dắt cuộc sống mình thoát khỏi ba độc này thì bạn sẽ thành tựu các mục đích thế giantâm linh của bạn.

Trong lúc nhiều người hỏi tôi làm thế nào để phong phú thực hành tâm linh của họ, tôi thấy rằng các đối thoại của họ phần nhiều là biểu lộ của tham và sân. Tôi có thể bảo đảm rằng chừng nào người ta còn nuôi dưỡng các chất độc của tâm thức này thì sẽ chẳng có tiến bộ trong thực hành tâm linh của họ. Chừng nào mà cuộc sống bạn vẫn theo nguyên tắc của bám luyến và thù ghét thì giáo lý của đạo Phật về Tứ Diệu Đế sẽ trở nên vô dụng. Giáo lý về Bốn Tư Duy làm Chuyển Tâm cũng trở nên vô nghĩa. Giáo lý về sáu hoàn thiện trở thành vô dụng. Tất cả đều lãng phí. Trong trường hợp đó chẳng có quan điểm nào trong việc là người Phật tử. Phật giáo không thích hợp để sử dụng trên bạn.

Cái Thấy Của Sự Nhận Biết Tột Bậc

Sau đó, nhờ tiếp tục thực hành, năm hiện thân thiêng liêng với phối ngẫu xuất hiện bên trong mỗi bindu trước đó. Các Ngài là vô sốbất biếnđạt đến một số lượng tột bậc, như thể khoảng gần bằng một vốc tay hay một cân. Thậm chí sau đó bạn có thể ngừng thiền định. Vào lúc đó thân bạn được giải thoát vào thanh tịnh quang; các nguyên tố của thân tiến đến thanh tịnh tự nhiên của chúng; xuất hiện nhưng vẫn không có tự tánh, bạn được giải thoát tự nhiên như một Sambhogakaya và Sambhogakaya được nhận biết một cách không che đậy, bám chấp vào hiện thângiải thoát vào chính trạng thái của nó.

Với giai đoạn kế tiếp của kinh nghiệm xảy ra này, bạn phải tiếp tục thực hành. Đừng từ bỏ như đã thường xảy ra. Nhờ tiếp tục thực hành, năm hiện thân thiêng liêng của chư Phật xuất hiện cùng với các phối ngẫu bên trong mỗi bindu trước đó. Trong cái thấy trước có nhiều bindu tràn đầy trong phạm vi cái thấy của bạn, bạn sẽ thấy năm vị Phật với phối ngẫu của các Ngài. Nếu bạn đạt đến điểm này trong tiến trình thiền quán, bạn chẳng còn thiền định nữa. Từ điểm này trở đi kinh nghiệm sẽ xuất hiện phù hợp với chính nó.

Điều này giống như nghề nông, một khi đất đã được cày cấy kỹ và gieo hạt, nếu mặt trời ló dạng người nông dân có thể nghỉ ngơi. Bây giờ mọi sự xảy ra theo tiếân trình tự nhiên. Tương tự, một khi con bạn đã trưởng thành chúng vượt khỏi sự kiểm soát của bạn nên bạn có thể nghỉ ngơi và chỉ xem điều gì xảy ra. Giống như vậy, trong giai đoạn phát triển tâm linh này bạn có thể chỉ ngồi và nghỉ ngơi; phần còn lại của sự phát triển tâm linh bạn sẽ tự nó chăm nom.

Vào lúc đó, bạn được giải thoát tự nhiên như Sambhogakaya. Ngoài ra cũng chẳng có ý niệm về, “Tôi là hiện thân này”. Mọi bám chấp như vậy đã được giải thoát và bạn giải thoát trong chính trạng thái của mình.

Tantra Nguyên Thủy Về Âm Thanh Xuyên Thấu trình bày:

Trong cái thấy của sự nhận biết tột bậc, các dấu hiệu và biểu tượng của Sambhogakaya xuất hiện rõ ràng và từ màu sắc vô hạn của cầu vồng, các bổn tôn và phối ngẫu của năm gia đình xuất hiện. Sau đó năm đôi hợp nhất với bindu chiếu sáng rực rỡ; và với sự xuất hiện của thân các bổn tôn với phối ngẫu, các hình tướng lừa dối tan hòa vào cõi tịnh độ.
Dấu vết Nirvana trình bày:

Nhờ cái thấy của sự nhận biết tột bậc, Sambhogakaya được nhận ra.

Cái Thấy Của Sự Tiêu Diệt Vào Tự Thân Thực Tại

Sự tiến triển của cái thấy trước đi đến kết thúc, và trong kinh nghiệm của cái thấy đó không có bản tánh bám chấp vào sự xuất hiện hay không xuất hiện. Vào lúc đó, cái xảy ra này được gọi là, “cái thấy của sự tiêu diệt vào tự thân thực tại.” Kinh nghiệm bị dập tắt, thân vật chất bị tiêu hủy, sự bám chấp vào các giác quan bị phá hủy, sự tụ hội của các tư tưởng dối gạt bị tiêu hủy, mọi nguyên lý triết họchình tướng lừa gạt bị tiêu diệt, thân vật chất của bạn biến mất và bạn trở thành một vị Phật. Điều đó được gọi là “sự tiêu diệt vào tự thân thực tại,” vì nó đưa đến sự tiêu hủy của hoạt động, các hình tướng lừa dối và sự tiến bộ của cái thấy dựa trên kinh nghiệm. Nó được gọi là “sự tiêu hủy vào tự thân thực tại,” nhưng nó không phải không hiện hữu như trong trường hợp của chủ nghĩa hư vô, trong đó có sự tiêu hủy vào sự không có gì cả. Đúng hơn là trí tuệ bổn nguyên của tri kiến và các phẩm tính tối ưu trở nên hiển nhiên. Tóm lại, năng lực các phẩm tính của ba hiện thân được đem đến viên mãn.
Vào lúc đó, không có cảm giác “đây là hình tướng” hoặc “đây không phải là hình tướng.” Không có bất tịnh cũng như không có bất cứ cảm giác nào về việc “đây là sự thanh tịnh.” Mọi khái niệm xây dựng như vậy hoàn toàn được siêu vượt.

Cho đến nay các kinh nghiệm được tiêu diệt ở đây là nhiều cái thấy khác nhau đã xảy ra. Sự bám chấp vào tất cả đối tượng của năm giác quan về âm thanh, sắc tướng v.v... đều bị tiêu trừ. Thân vật chất của hành giả ám chỉ thân nhiễm ô, đó là thân được tạo ra bởi hành động trướcphiền não tâm thức cũng được biến mất. Đừng hiểu điều này theo cách đoạn kiến. Không phải nói rằng mọi sự chỉ trở nên không có gì. Tự thân thực tại đưa đến sự đáp ứng các phẩm tính của tâm linh tỉnh thức, bao gồm vô số hoạt động giác ngộ của Đức Phật. Việc nói thực tại quy ước biến mất giống như nói mọi đám mây bị tiêu tan trong bầu trời xanh trong, mà không ám chỉ mặt trời biến mất. Mặt khác, bạn không bám chấp vào bầu trời, nói rằng, “Điều đó thật sự hiện hữu.” Loại bám chấp đó đơn giản là một biểu lộ của cực độ khác của thuyết đoạn kiến, vì nó không đơn giản là không có gì cả. Song, vì tự thân thực tại không thể bị bám chấp như thực sự hiện hữu, nó thoát khỏi sự cực đoan của thuyết đoạn kiến.

Trí tuệ bổn nguyên của tri kiến là của hai loại: bản thể học và hiện tượng học. Tri kiến của bản thể học là tri kiến của thực tại như nó là. Tri kiến hiện tượng học là tri kiến của toàn bộ phạm vi hiện tượng. Trong Phật quả có hai cách thức tri kiến đi đến viên mãnvô số phẩm tính giác ngộ trước đó tiềm tàng bây giờ được hiển lộ.

Do đó, trên việc thấy cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại, trong việc tùy thuộc vào cái thấy tiến bộ của cái thấy dựa trên kinh nghiệm, trong đó bản tánh tuyệt đối và sự nhận biết tiến bộ ngày càng cao hơn, sự nhận biết được đem đến tột bậc, bạn kinh nghiệm cõi tịnh độ của ba hiện thân. Giống như mặt trăng đến lúc tròn, thân thể đi đến sức mạnh hoàn toàn của nó, khi sự tiến bộ của kinh nghiệm ngưng lại, trí năng bị tiêu hủy, hiện tượng được tiêu trừ, và bám chấp được tiêu diệt. Điều này đơn giản được gọi là “cái thấy của sự tiêu trừ vào tự thân thực tại.”

Bạn có thể tự hỏi liệu sự tiêu trừ vào tự thân thực tại của Đại Viên Mãncon đường tột bậc và phẩm tính của năm con đường của truyền thống sutra là giống nhau. Chúng hoàn toàn không giống nhau. Thậm chí nếu có người đã đi đến sự tột bậc của việc viên mãn năng lực sáu ngàn phẩm tính của mười địa bodhisattva và năm con đường của tự thân truyền thống sutra, người đó cũng không hoàn toàn thấy các phẩm tính và năng lực của tantra, và họ chưa viên mãn. Do vậy đây là một khác biệt lớn giữa sự tiêu trừ vào tự thân thực tạicon đường cuối cùng.

Tantra Nguyên Thủy Về Âm Thanh Xuyên Thấu trình bày:

Cái thấy của sự tiêu trừ vào tự thân thực tại là sự rỗng không của cái thấy dựa trên kinh nghiệm. Thân thể bị tiêu hao, các đối tượng của giác quan bị tiêu hủy, tập hội các tư duy lừa gạt được giải thoát tự nhiênkế tiếp có sự thoát khỏi ngôn từ đó là nền tảng của khẩu.

Và:

Vì thế, trên việc chấm dứt sự liên tục của thân, các kết tập nhiễm ô biến mất, dẫn đến Phật quả hiển nhiên.

Nếu gieo hạt giống cây táo, bạn nuôi dưỡngcho đến lúc lớn thì chẳng cần tìm táo ở đâu khác. Để bắt đầu, bạn có hạt táo; sau đó nuôi dưỡng nó và kế tiếp nhận được quả ngay đó chẳng cần đi đâu khác. Tương tự, chúng ta đã có nhân của Phật quả trong mình và cũng có thân người với cuộc sống nhàn rỗi và thuạân lợi. Trong bối cảnh này chúng ta có cơ hội lắng nghe, suy nghĩthiền định. Với sự kết hợp của nguyên nhân bên trong chúng ta và các điều kiện của cuộc sống làm người quý báu và nhiều giai đoạn thực hành khác nhau, chúng ta có thể gặt hái kết quả của giác ngộ viên mãn.

Như chúng ta đã biết từ các kinh nghiệm rộng rãi, chỉ có nguyên nhân thì chưa đủ mà phải có các điều kiện góp phần. Sự quyết định, điều kiện góp phần cho tỉnh thức tâm linh là sự kiên trì trong thực hành.
Dấu vết Nirvana trình bày:

Nhờ cái thấy của sự tiêu trừ vào tự thân thực tại, kết quả của Đại Viên Mãn, thoát khỏi hành động được đạt đến. Trong cách này, trên việc đi đến tột bậc của nền tảng và con đường, chẳng có nirvana để tìm ở đâu khác.

Đây là con đường tột bậc của Đại Viên Mãn. Nên không có những phẩm tính của nirvana và chẳng có con đường nào khác để tìm. Đây là sự tối thượng. Thậm chí nếu con đường tột bậc của các thừa thấp được đạt đến, nếu cánh cổng của những phẩm tính tantra không được thấy, thì hành giả phải đi vào tantra và rèn luyện trong sự nghe và suy nghĩ. Do vậy, ngay cả nếu hành giả đi đến tột bậc của thực hành sutra, hành giả vẫn chưa đi đến tột bậc của tantra. Vì đây là sự tột bậc của mọi con đường, chẳng có con đường nào cao hơn, nên nền tảng được viên mãncon đường được viên mãn. Vì không có con đường nào cao hơn nên được gọi là Đại Viên Mãn. Đó là giáo lý về con đường trong đó bốn cái thấy xuất hiện

LỜI KHUYÊN KẾT THÚC

Thiết lập nền tảng trong ba không hoạt động, thiết lập tiêu chuẩn của ba vị trí, đóng đinh vào ba thành tựuhoàn thiện bốn trạng thái của tự tin. Điều này được đề cập rộng rãi hơn ở nơi khác. Đây là những hướng dẫn về tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại được gọi là sự giải thoát tự nhiên của cái thấy. Samaya.

Đã niêm, đã niêm, đã niêm.

8

Giải Thoát Tự Nhiên Của Sự Trở Thành:
Các Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm
Về Tiến Trình Chuyển Tiếp Của Sự Trở Thành

Trong chủ đề chung thứ sáu, tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành (các hướng dẫn thiết thực giống như việc hoàn thành nhiệm vụ chưa hoàn tất về việc nối lại ống nước bị bể vào đường ống), giải thoát tự nhiên về sự trở thành đã được dạy. Những hướng dẫn thiết thực về thực hành của tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành là cho những người chưa thấy bốn cái thấy và chưa nhận ra tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại; chúng giống như việc hoàn thành nhiệm vụ chưa hoàn tất về việc nối lại ống nước bị bể vào đường ống.

ĐÓNG LẠI LỐI VÀO TỬ CUNG NHƯ MỘT 
HIỆN THÂN THIÊNG LIÊNG

Nếu bây giờ bạn là người thiền định về một hiện thân thiêng liêng, khi cái thấy của tiến trình chuyển tiếp xuất hiện – giống như tuyết, mưa, bão tuyết và bị nhiều người săn đuổi – ngay khi nhớ lại hình tướng rõ ràng của bổn tôn, mọi điều đó sẽ xuất hiện như vị bổn tôn bạn đã chọn. Để rèn luyện trong năng lực của điều đó, hãy ở một mình nơi hẻo lánh và thiền định giống như vầy: “Đây là gì? Về mặt hiện tượng hiện tại này, tôi đã chết và đang lang thang trong tiến trình chuyển tiếp; vậy nơi này, các bạn đồng hành, và các hình tướng không rõ rànghiện tượng của tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành, vì thế, trước đây tôi không nhận ra tiến trình chuyển tiếp đó và tôi lang thang. Bây giờ tôi phải xuất hiện như vị bổn tôn đã chọn.” Với suy nghĩ này hãy quán tưởng môi trường bên ngoài là cõi Phật nguyên sơ, các vị trong đó là tập hội các bổn tôn nguyên thủy của bạn đã chọn và mọi âm thanhâm thanh nguyên sơ của vị bổn tôn bạn chọn. Sau đó, đặt sự nhận biết của bạn một cách bình đẳng trong kinh nghiệm của không có đối tượng. Nhờ thực hành điều đó nhiều lần, khi tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành xuất hiện, bạn sẽ nhận ra tiến trình chuyển tiếp đó trước tiên. Kế tiếp trên việc nhớ lại giai đoạn phát triển, tiến trình chuyển tiếp sẽ xuất hiện như một hiện thân linh thiêng, lối vào tử cung sẽ được đóng lại và bạn sẽ đạt được trạng thái của một Vidyadhara.

Cái thấy của tiến trình chuyển tiếp xảy ra sau khi bạn chết. Ví dụ, nếu bạn áp dụng kiến thanh tịnh này vào hình tướng tuyết hay mưa trong tiến trình chuyển tiếp, chúng sẽ chuyển thành mưa hoa đổ xuống. Thân bạn và mọi thứ xung quanh xuất hiện trong tướng của vị bổn tôn bạn chọn. Nhờ phương tiện này bạn có thể đạt giải thoát. Tuy nhiên, chỉ bị lôi cuốn bởi ý niệm này thì chưa đủ. Bạn cần thực hành bằng sự nghe, tư duythiền định.

Hàng triệu, hàng tỷ, hàng tỷ tỷ lần chúng ta đã kinh nghiệm tiến trình chuyển tiếp. Đó là trong quá khứ chúng ta đã chết vô số lần nên chúng ta đã kinh nghiệm tiến trình chuyển tiếp vô số lần. Bây giờ để rèn luyện, hãy hình dung kinh nghiệm hiện nay của bạn hoàn toàn là tiến trình chuyển tiếp. Bạn làm điều này để chống lại khuynh hướng bám chấp trước đây vào những gì không thực sự hiện hữu như có thực và bám chấp vào các hình tướng lừa gạt như có thật. Đây là sự thiền định lan man đã được đi theo.

Thực hành đó tương ứng với giai đoạn phát triểnhoàn thiện. Trước tiên, để chống lại khuynh hướng đoạn kiến hãy quán tưởng chính bạn và mọi thứ trong môi trường của bạn là thanh tịnh. Sau đó để chống lại việc bám chấp vào thường kiến, hãy bổ sung thực hành trước về giai đoạn phát triển với giai đoạn hoàn thiện.

Sau khi chết lúc sắp nhận tái sanh kế tiếp bạn sẽ nhận ra tiến trình chuyển tiếp cho cái gì. Một khi đạt được trạng thái của một Vidyadhara, bạn có thể đi đến bất kỳ đâu bạn thích, đến bất cứ cõi tịnh độ nào hoặc nơi nào khác.

Nếu bạn thấy người ta hay súc vật giao hợp hoặc thấy một phụ nữ xinh đẹp lôi cuốn bạn, ngay khi khởi lên việc say mê cô ta, hãy nghĩ, “Than ôi! Đã lang thang trong tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành, tôi đang chuẩn bị đi vào tử cung. Vì vậy bây giờ tôi phải đóng lại lối vào tử cung.”

Ngăn Chận Người Đang Đi Vào

Ngay khi say mê cồn cào khởi lên, hãy nhanh chóng nhớ lại hoàn toàn việc quán tưởng sống động chính bạn như hiện thân của vị bổn tôn đã chọn. Với người chưa rèn luyện trong điều đó, khi thấy nam và nữ đang giao hợp trong tiến trình chuyển tiếp, nếu thọ tái sanh là nam bạn sẽ khởi lên ghen tức với người nam và say mê xuất hiện tới người nữ. Nếu bạn thọ tái sanh là người nữ, sự ghen tức sẽ khởi lên với người nữ và say mê người nam. Vào lúc đó nếu bạn đã quen thuộc với giai đoạn phát triển, thay vì khởi lên say mê và ghen tị bạn sẽ nhớ lại chính bạn như vị bổn tôn đã chọn đang đứng thẳng. Sự quán tưởng đó, sự xuất hiện của say mê cồn cào, sự đóng lại lối vào tử cung và sự chín muồi của bạn như hiện thân của bổn tôn xảy ra cùng lúc.

Do đó, mặc dù vào thời điểm hiện tại, khi có một phụ nữ xinh đẹp, lời nóicư xử lãng mạn, hoặc say mê mãnh liệt xuất hiện, hãy để điều đó là chất xúc tác cho bạn nhớ lại thân bạn một cách sống động như hình tướng rõ ràng của vị bổn tôn. Sau đó, không loại bỏ say mê, nó đến để giúp bạn. Dù sự say mê của bạn mạnh mẽ, nhờ rèn luyện trong giai đoạn phát triển của vị bổn tôn bạn chọn, bạn sẽ giải thoát không khó khăn trong tiến trình chuyển tiếp.

Sự nhắc đến việc thấy một phụ nữ xinh đẹp là dành cho người nam, vậy nếu bạn là người nữ thì hãy chuyển giống. Giáo lý này thích hợp cho chúng ta thực hành ngay bây giờ. Trong loại rèn luyện này bạn hình dung mình đã sẵn sàng trong tiến trình chuyển tiếp; và bạn bổ sung các thực hành này. Điều này có thể là một bộ phận phù hợp với việc thực hành Giáo Pháp của bạn. Trái lại, nếu bạn thực sự không thực hành Giáo Pháp và chỉ sử dụng Giáo Pháp để quyến rũ người khác, điều đó hoàn toàn không phải Giáo Pháp. Nó chỉ là nguyên nhân để bạn tái sanh như một preta hoặc một trong những trạng thái khổ cực của sinh tử. Do vậy, điều quan trọng là hiểu được bối cảnh đúng cách thức của thực hành này.

Bạn sẽ được giải thoát không khó khăn trong tiến trình chuyển tiếp nếu đặc biệt cẩn thận với những thực hành liên quan đến đam mê như vậy. Ngày nay việc người ta lạm dụng thực hành này là rất phổ biến. Phụ nữ gọi chính họ là dakini và sử dụng điều này như một giấy phép cho việc cố quyến rũ đàn ông. Người nam và người nữ nói dối về cấp độ nhận biết của họ, tuyên bốthông thạo trong giai đoạn phát triển v.v... Điều này đặc biệt phổ biến ở Mỹ. Ngoài ra, ở Ấn Độ một số đàn ông phương Tây để tóc dài, cột lại thành búi và giả vờ là người có nhận biết cao trong việc kiểm soát kinh mạch và năng lượng sự sống. Những người như vậy là nhầm lẫn.

thể tham gia trong thực hành chân chính về loại này, nhưng điều rất quan trọng là hãy làm cẩn thậnhoàn toàn không có bất cứ gian lận nào. Với phần lớn chúng ta không kiểm soát được tâm mình và nếu thiếu kiểm soát trong cuộc sống, thì sẽ chẳng hy vọng có được kiểm soát sau khi chúng ta chết. Khi lang thang trong tiến trình chuyển tiếp, chúng ta sẽ bị đẩy tới bởi hành động và thói quen trước của mình. Có những cơ hội trong tiến trình chuyển tiếp khi nỗi sợ hãi to lớn và đau khổ xuất hiện. Chúng ta sẽ có cảm giác mất thân thể và sẽ kinh nghiệm một thúc đẩy lớn lao kiếm được một thân mới. Điều đó sẽ bắt buộc chúng ta tìm ra một tử cung để có thể vào. Chúng ta có thể thấy nhiều loại chúng sanh khác nhau như súc vật, sự giao hợp, và sự thèm khát này có thể dẫn chúng ta tái sanh như loài vật, preta, hay địa ngục. Khi chúng ta không chống nổi thúc dục đó thì việc giải thoát là không thể. Thậm chí còn khó đạt được tái sanh làm người.

Ngăn Chận Lối Vào Tử Cung Khiến Bị Đi Vào

Nếu thấy nam và nữ giao hợp, ngay khi say mê và ghen tị khởi lên, hãy nói, “Tôi đang lang thang trong tiến trình chuyển tiếp. Than ôi, vào lúc này khi tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành xảy đến với tôi, tôi phải duy trì sự quán tưởng tập trung một điểm trong tâm thức và phải tha thiết kết thúc xuất sắc nhiệm vụ chưa hoàn tất.” Trên việc ngăn chận lối vào tử cung, hãy nhận thức về việc chuyển khỏi nó. Đây là thời điểm cho cái thấy thanh tịnh, nhiệt thành. Hãy tập quen thuộc với suy nghĩ về người nam và nữ đó như vị bổn tôn và phối ngẫu bạn đã chọn, quán tưởngtôn kính các Ngài và có cảm giác chân thành về việc tiếp nhận quán đảnh. Thậm chí nếu bạn không chứng kiến hành động giao hợp, hãy nhớ trong tâm và nhờ nhớ lại cái thấy rõ ràng về vị bổn tôn đã chọn. Vì thế giai đoạn phát triển sẽ đến để giúp bạn và lối vào tử cung của tiến trình chuyển tiếp về sự trở thành sẽ được đóng lại. Do vậy, điều này là thâm sâu. Samaya.

Cả hai thực hành trước về ngăn chận người bị đi vào tử cung và ngăn chận lối vào tử cung sẽ không bị đi vào cho người đã tự phát triển chính họ như vị bổn tôn đã chọn. Tại sao bạn nên làm quán tưởng đó? Đó là vì hai mục đích: sự thực hành như vậy có thể dẫn đến cả hai siddhi thông thường và tối thượng trong đời này. Sau khi chết, thực hành này hoạt động như sự chuẩn bị cho việc đạt được siddhi tối thượng, cụ thểgiác ngộ viên mãn. Đó là mục đích chân chính của việc tham gia trong giai đoạn phát triển. Nhờ hoàn thành mục đích này, hoặc trong đời này hay trong tiến trình chuyển tiếp sau khi chết, mối quan tâm của bạn sẽ được đáp ứng. Bạn cũng trong vị trí để sau đó phục vụ nhu cầu của người khác, do đó các quan tâm của người khác cũng được đáp ứng; và điều này cũng là phục vụ cho Giáo Pháp.

ĐÓNG LẠI LỐI VÀO TỬ CUNG NHỜ QUÁN TƯỞNG
VỊ THẦY TÂM LINH CỦA BẠN VỚI PHỐI NGẪU

Khi bạn chứng kiến sự giao hợp, hãy nhớ lại đối tượng của đam mê hoặc khi sự say mê của bạn khởi lên mạnh mẽ, hãy quán tưởng đối tượng say mê của bạn như Đức Guru Orgyen Padma và phối ngẫu Yeshe Tsogyal ôm chặt trong hợp nhất tính dục. Hãy loại bỏ thái độ ghen tức và hưởng ứng với lòng tôn kính và sùng mộ. Hãy quán tưởng mạnh mẽ việc tiếp nhận bốn quán đảnhđặc biệt là do nhớ lại ý nghĩa của quán đảnh thứ ba, hãy nhớ thực tại bẩm sinh trong tâm bạn sẽ đóng lại lối vào tử cungđược giải thoát trong tiến trình chuyển tiếp. Ngoài ra, hãy loại bỏ ghen tị rồi thiền định về vị thầy tâm linh với phối ngẫu, đây là thời điểm cho cái thấy thanh tịnh, chân thật. Do vậy điều này đã được nói.

Trong quán đảnh thứ ba bạn chấm ngón tay trỏ của bạn vào bột màu đỏ và chạm vào giữa ngực bạn, biểu tượng hóa sự hợp nhất của phương tiệntrí tuệ. Các thực hành như vậy được thiết kế để thuận tiện cho việc nhận ra bản tánh của tánh không, hoặc thực tại tối thượng. Tương tự, trong một số nhập môn người ta phô bày hình ảnh của một phụ nữ không che đậy và điều này có cùng mục đích.

ĐÓNG LẠI LỐI VÀO TỬ CUNG 
VỚI THỰC HÀNH VỀ BỐN CỰC LẠC

Sự rèn luyện trở nên rất thành thạo trong các hướng dẫn đại cực lạc về lỗ mở ở dưới, rồi tìm một mudra đủ phẩm tánh, dẫn cô ta đến nơi hẻo lánh và thiền định về huyễn thân với mudra. Sau đó cả hai bạn và mudra tự xem là các bổn tôn đã chọn. Trước tiên, sự thực hành liên quan đến sắc tướng đòi hỏi trao đổi cái nhìn thoáng qua của sự say mê. Sự thực hành liên quan đến âm thanh đòi hỏi lời nói lãng mạn và chú ý vào khẩu để khơi lên say mê. Sự thực hành liên quan đến mùi đòi hỏi ngửi hoa sen và hương thơm của mudra. Về phần vị giác, cắn và mút đường cứng hay đường thô; về mặt tiếp xúc, vuốt ve mơn trớn và bú hai vú, ôm và kích thích nhẹ nhàng, và xoa vùng trung tâm hoa sen. Cởi áo và nhìn vào vajra và hoa sen, khơi dậy đam mê; và khi mudra say mê với dục vọng, đam mê khởi lên và vajra sẵn sàng; nhẹ nhàng đưa vào hoa sen. Sau đó di động lên và xuống đến mức nền tảng của nó, vẫn trong cảm giác của rỗng không khoảng một chút trong lúc không di động. Nhờ chuyển động nhẹ nhàng, không làm mất kinh nghiệm đó, cực lạc đầu tiên xuất hiện và được nhận ra. Với cảm giác đó vẫn trụ hoàn toàn trong cực lạc và rỗng không. Nếu dường như cực lạc tan biến. Bằng việc chuyển động thọc mạnh vào nhiều hơn phù hợp với kinh nghiệm của bạn, khoái lạc sẽ gia tăngcực lạc tối thượng được nhận ra. Sau đó trí tuệ bổn nguyên của sự bất nhị, cực lạc bẩm sinh và tánh không được nhận ra. Nhờ thực hành đó, trong trường hợp tốt nhất vào lúc chết, một khi các nguyên tố dần dần thu rút lạicuối cùng tan hòa, rakta có được từ người mẹ khởi lên; Tâm linh Tỉnh thức có được từ người cha từ đỉnh đầu bạn đi xuống; bodhicitta trắng và đỏ xuất hiện như cái thấy của con đường trắng và con đường đỏ, sau đó chúng gặp nhau ở tim. Cùng với sự xuất hiện trong cực lạc vô lượng bẩm sinh, khi ý thức bị khuếch tán và bạn trở nên mê sảng, hơi thở bên trong ngưng lại. Do vậy, nếu một người thực hành bốn cực lạccon đường theo thủ tục của cực lạctánh không vào lúc đó và người nhận ra cực lạc bẩm sinh vào dịp quán đảnh thứ ba xác định điều này, người đó sẽ lập tức được nâng lên trạng thái vô biên. Vì thế sự trình bày thâm sâu của con đường theo thủ tụccon đường sứ giả của tantra giống như vậy.

Thậm chí nếu điều này không được nhận ra ở đây, trong tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại, ngay khi bạn thấy bổn tôn hiền minh và phẫn nộ với phối ngẫu ôm chặt trong sự hợp nhất, bạn sẽ nhớ lại và nhận ra trí tuệ bổn nguyên của cực lạc bẩm sinh trên cơ hội quán đảnh thứ ba và bạn sẽ đạt giải thoát. Nếu bạn không nhận ra nó ở đây, thì trong tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành, ngay khi thấy người nam và nữ đang giao hợp bạn sẽ nhận ra trí tuệ bổn nguyên của cực lạc bẩm sinh, trí tuệ bổn nguyên về sự cực lạc của kinh nghiệm trong khi quán đảnh và lối vào tử cung sẽ được đóng lại. Sau đó chắc chắn bạn sẽ giải thoát trong tiến trình chuyển tiếp và đạt được trạng thái của một Vidyadhara.

Do đó. Vì đây là con đường nhanh chóng và thâm sâu hơn các tantra khác, ngay bây giờ, không lo nghĩ về những gì người ta nói, hãy rèn luyện trong các hướng dẫn đại cực lạc về lỗ mở ở dưới. Vì đó là phần chính của sự thực hành tiến trình chuyển tiếp. Vì thế, điều quan trọng là tìm được phối ngẫu trẻ trung, đủ phẩm tánh và rèn luyện trong con đường thâm sâu của cực lạc. Các chi tiết được biết trong các hướng dẫn đại cực lạc về lỗ mở ở dưới. Đó là sự đóng lại lối vào tử cung với con đường của đam mê, và nó là triển vọng cho người bậc thượng56 nhiều may mắn. Samaya.

CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT ĐÓNG LẠI LỐI VÀO TỬ CUNG
VỚI SỰ GIẢI ĐỘC CỦA VIỆC TỪ BỎ NHƯ THẾ NÀO

Bây giờ những người thường giữ giới, tu sĩ mới xuất gia hoặc tu sĩ đã thọ cụ túc giới giữ gìn các nguyện nhấn mạnh thiền định về sự dơ bẩn hoặc thực hành từ bỏ mãnh liệt ngay khi họ chứng kiến sự giao hợp hay nhớ lại đối tượng của đam mê. Trong tiến trình chuyển tiếp khi họ thấy người nam và nữ đang giao hợp, họ sẽ nhớ lại sự rèn luyện của họ và từ bỏ. hoặc lối vào tử cung sẽ bị đóng để không bị đi vào hoặc họ sẽ tái sanh trong một tử cung hoàn hảo và có được một sanh ra may mắn. Con đường này thấp hơn một chút so với cái trước. 
Samaya.

Thiền định về sự dơ bẩn đòi hỏi việc quan sát hay hình dung các thành phần khác nhau của thân: máu, mỡ, mô liên kết v.v... Đây là một loại thiền định để chống lại đam mê. Nó được thiết kế cho người có giới luật và là biểu hiện cho ý định tha thiết của họ để duy trì giới luật thanh tịnh. Những từ bỏ như vậy sử dụng thiền định về sự dơ bẩn để chống lại thèm khát nhục dục, là nguyên nhân của sự kéo dài mãi mãi việc hiện hữu của chúng ta trong samsara. Tuy nhiên, những người như vậy không nên nghĩ rằng người nào tham gia vào giao hợp tính dụcthấp kém và cũng không nên phản ứng với họ bằng việc thù ghét. Thay vì áp dụng sự giải độc trực tiếp đến chính tâm họ, mà đúng hơn các từ bỏ khảo sát đối tượng của thèm muốn nhục dục như vậy, nhấn mạnh về sự dơ bẩn của nó. Trong cách này họ thay đổi nhận thức của họ về đối tượng như một phương tiện gián tiếp để chống lại khuynh hướng của chính tâm họ.

Bất kể thực hành nào bạn làm, hãy tham gia trong nó vì lợi ích của đời này và đời sau. Bất cứ tiếp cận nào bạn nhận, việc thực hành của bạn phải đem lại lợi ích cho chính bạn và người khác. Nó phải hoạt động như một giải độc cho sự đau khổ mãi mãi trong chu trình sinh tử này. Nếu nó không chống nổi đau khổ vậy thì tốt cái gì? Nhờ tiến bộ theo con đường thực hành này bạn có thể đạt được siddhi thông thường và tối thượng, đó là Phật quả.

Giờ đây, chúng ta nên có quan niệm tốt đẹp về các thực hành là gì. Hoàn cảnh hiện tại của chúng ta là đang lang thang trong samsara. Khi kinh nghiệm vận may tốt đẹp chúng ta trở nên hào hứng và phấn khích là điều phổ biến. Điều này biểu lộ sự thiếu kiên nhẫn trong bề ngoài của hạnh phúc. Trong nghịch cảnh, chúng ta kinh nghiệm tràn ngập phiền não. Cả hai cảm xúc tràn ngập này do phản ứng với hạnh phúcnghịch cảnh, là nguyên nhân của chấp ngã và từ việc tự cho mình là trung tâm. Chúng đều dẫn đến bám luyến và thù ghét. Với những người trong các bạn thực sự muốn chống lại đau khổ của mình một cách hiệu quả, tôi đề nghị bạn học luận thư của Ngài Santideva được gọi là Một Hướng Dẫn Đến Bồ Tát Đạo Của Cuộc Sống. Luận thư này đưa ra lời khuyên cho người đang đau khổ. Ngoài ra, sự đau khổ của bạn sẽ được nhẹ bớt nhờ thiền định về Bốn Suy Niệm Làm Chuyển Tâm, Tứ Diệu Đếbản chất của hành vi với các hậu quả của chúng. Đây là thuốc làm nhẹ bớt đau khổ của bạn. Các giáo lý lợi ích khác cũng được thấy trong bản văn với đề tựa Sự Chuyển Hóa Hạnh PhúcNghịch Cảnh Thành Con Đường Tâm Linh, đã được dịch trong quyển Trí Tuệ Cổ Xưa.

Khi thảm kịch xảy đến, nhất là ở Mỹ người ta rất thường nói, “Tại sao điều này xảy ra?” hoặc “Làm sao điều này lại xảy ra?” Người ta thường nghe sự phản ứng, “Tôi không thể tin điều này lại xảy ra!” hoặc “Tôi thật ngạc nhiên là điều này lại có thể xảy ra.” Chẳng có gì là tốt về sự chấp nhận bất lực và thừa nhận nghịch cảnh này. Nó khởi lên từ sự chấp ngã và nguồn gốc của nó từ năm độc của ảo tưởng, bám luyến, thù ghét, ghen tị và kiêu mạn. Chúng ta bị năm độc này làm chủ. Giữa năm độc này, bốn cái giống như các bộ trưởng của nhà vua. Nhà vua là sự ảo tưởng – bám luyến, thù ghét, ghen tị và kiêu mạn là các bộ trưởng. Phần còn lại của tám vạn bốn ngàn phiền não tâm thức cũng giống như thần dân của nhà vua. Khi chúng ta nghĩ, “Tôi là một người đặc biệt,” sự chấp ngã đó dẫn đến đau khổ và sinh vào cõi thấp. Con đường của việc nghe, suy nghĩthiền định là vì mục đích giải thoát chúng ta khỏi đau khổphiền não phát sinh từ chúng. Khi sự che ám của phiền não tâm thức bạn tiêu tan và biến mất, mặt trời của trí tuệ bổn nguyên sẽ chiếu sáng.

Với những người là vị thầy điều quan trọng là đừng kiêu căng và tự đắc. Đúng hơn, chúng ta cần thương xót các vị thầy. Điều quan trọng đầu tiên là động cơ. Dù nghe, suy nghĩ, hay thiền định thì động cơ là tối cao. Có những loại động cơ khác nhau. Có động cơ không danh dự, động cơ danh dự; có động cơ đạo đức và động cơ không đạo đức. Dĩ nhiên trong số này chúng ta cần phát sinh độngdanh dự và động cơ đạo đức, động cơ của Mahayana, đặc biệt là động cơ của Tâm linh Tỉnh Thức. Động cơ này chống lại việc tự xem mình là trung tâm, thay thế nó với động cơ tập trung vào lợi ích của người khác. Trái lại, nếu chúng ta giảng dạy, viết hay tranh luận với cảm giác chúng ta là người đặc biệt thì sẽ là điều hổ thẹn. Do đó, trước tiên, điều quan trọng nhất là phát sinh độngthích hợp.

ĐÓNG LẠI LỐI VÀO TỬ CUNG VỚI THANH TỊNH QUANG

Nhờ rèn luyện trong con đường hướng dẫn về Xuyên Thấu và hòa nhập với ý nghĩa của tánh không, cá nhân cấp cao sẽ nhận ra thanh tịnh quang nền tảng trong tiến trình chuyển tiếp của cận tử và, không cần tiến trình chuyển tiếp, họ sẽ tiến đến Dharmakaya vô biên. Thậm chí với cá nhân thấp nhất, thực tại của tánh khôngthanh tịnh quang sẽ xuất hiện sống động trong dòng tâm thức họ khi họ chứng kiến sự giao hợp tính dục trong tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành và họ sẽ được giải thoát. Samaya.

Để hiểu sự diễn giải, bạn phải nhớ lại tiến trình chuyển tiếp của giấc mộngthực hành gắn liền với sự giải thoát tự nhiên của ảo tưởng. Nếu rèn luyện trong thực hành vị bổn tôn bạn chọn khi trong tiến trình chuyển tiếp sau lúc chết, và bạn thấy một đôi đang tham gia trong hoạt động giao hợp tính dục, đó là lúc bạn tự phát sinh như vị bổn tôn đã chọn với phối ngẫu. Nhờ nhớ lại và thực hiện đầy đủ sự thực hành của giai đoạn phát triển ở đây, bạn sẽ được giải thoát. Nếu bạn có được kinh nghiệm tốt đẹp trong giai đoạn hoàn thiện hoặc trong Đại Viên Mãn, do phát sinh sự nhận biết của bạn về tánh không vào lúc này, bạn sẽ đạt giải thoát trong tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành.

ĐÓNG LẠI LỐI VÀO TỬ CUNG VỚI THÂN HUYỄN

Bây giờ, một khi bạn đã rèn luyện trong sự giải thoát tự nhiên về hình tướng của huyễn thân, khi nỗi sợ hãi của tiến trình chuyển tiếp khởi lên và lối vào tử cung xuất hiện, samadhi như-huyễn sẽ xuất hiện trong dòng tâm thức, và bạn sẽ giải thoát.

Điều này gắn liền với thực hành trước của tiến trình chuyển tiếp về giấc mộng và thân huyễn. Hãy nhớ lại có hai loại thân huyễn, thanh tịnhbất tịnh và điều đó được trau dồi trong thực hành yoga giấc mộng. Quan điểm của tất cả điều này là thấy thân, khẩu, ý của bạn và mọi thứ khác đều là bản tánh của huyễn ảo.

Để tổng hợp các điểm quan trọng nhất của tất cả thực hành này, hành giả của giai đoạn phát triển rèn luyện trong cái thấy của mọi hình tướng của tiến trình chuyển tiếp về lúc sống như bản tánh của chư thiênthiên nữ. Và hành giả của giai đoạn hoàn thiện rèn luyện trong cái thấy rõ ràng mọi thứ xuất hiện như sự tự-hiện, trí tuệ bổn nguyên và rỗng không. Ngoài ra, nhờ rèn luyện về mọi hình tướng như sự phản chiếu trong gương, xuất hiện nhưng không có tự tánh, những hình tướng như vậy và rỗng không là bất khả phân, các hình tướng lừa gạt của ban ngày sẽ xuất hiện như kiến thanh tịnh. Nhờ đó, hành giả thoát khỏi bám chấp vào sự hiện hữu thực sự của giấc mộnghành giả hoặc nhận ra trạng thái mộng như trạng thái mộng, hoặc nó xuất hiện như thanh tịnh quang. Nhờ đó, các hình tướng lừa gạt của tiến trình chuyển tiếp xuất hiện như kiến thanh tịnh và hành giả được giải thoát trong tiến trình chuyển tiếp.

Thực hành này bắt đầu vào ban ngày bằng việc trau dồi kiến thanh tịnh và rèn luyện trong bản tánh huyễn ảo của mọi thứ bạn kinh nghiệm. Trở nên quen thuộc với điều đó trong lúc ban ngày sẽ để dấu vết trên dòng tâm thức bạn và sẽ đem vào trạng thái mộng, nên kiến thanh tịnh này cũng xảy ra vào ban đêm. Quen thuộc với điều đó trong trạng thái mộng sẽ đem sang tiến trình chuyển tiếp sau khi chết. Trong cách đó, có khả năng nhận ra bản tánh của tiến trình chuyển tiếp như nó là gì, nhờ đó tự bạn giải thoát khỏi nó. Quan điểm của điều này là đạt giải thoát khỏi đau khổ của chu trình sinh tử cho chính mình cũng như cho người khác.

Vào ban ngày, chúng ta tự nhiên thấy mọi hình tướngbất tịnh. Khuynh hướng này đem vào ban đêm, nên giấc mộng cũng được thấy là bất tịnh. Vì thói quen này, các hình tướng trong tiến trình chuyển tiếp sau khi chết cũng được thấy là bất tịnh. Tất cả điều này xảy ra vì thói quen của chính tâm chúng ta.

Thực hành đó đòi hỏi sự liên tục, sự nhận biết của bạn nghỉ ngơi cân bằng trong sự không thay đổi, kinh nghiệm thanh tịnh nguyên thủy của hình tướng rõ rệt của hiện tại. Nếu niệm tưởng phát sinh, hãy thấy rõ chúng với sự tự tin của bốn loại đại giải thoát. Trau dồi ý thức đó bất cứ khi nào chúng xuất hiện là sự tự-hiện và tự-giải thoát. Ngoài ra, hãy suy ngẫm rằng, “Mọi đối tượng xuất hiện bây giờ là các đối tượng xuất hiện sau khi tôi chết và tôi đang lang thang trong tiến trình chuyển tiếp. Chúng hỗn độn và không bền. Các đối tượng hiện tại này cũng là đối tượng xuất hiện trong tiến trình chuyển tiếp của sự trở thànhchúng sanh được sinh ra, đi quanh quẩn cũng là chúng sanh của tiến trình chuyển tiếp. Âm thanh gầm thét của năng lượng sự sống, sấm, chớp, mưa, mưa đá, bóng tối, tiếng người nói ồn ào và tiếng chó sủa, hát và múa, trò chơi, chiến tranh, đối thoại bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, sự thực hiện nhiều hành động khác nhau, và những âm thanh chói tai, lộn xộn ngẫu nhiênhỗn độn khác nhau là chắc chắn có trong tiến trình chuyển tiếp. Những người bạn tôi gặp hôm nay và chiều tối này, họ hàng thân thuộc, và các người đi cùng cũng đã chết và đang lang thang với tôi trong tiến trình chuyển tiếp. Họ thực sự không hiện hữu, và giống như giấc mộng, ảo ảnh, họ không có chủ thể hiện hữu hay hiện hữu thực sự.”

Không dễ nhận ra sự bất biến, bản tánh thanh tịnh bổn nguyên của hình tướngchúng ta kiên quyết phân biệt giữa tốt và xấu, phân loại thực tại và cấu trúc sự vật theo quan niệm chính mình là trung tâm. Kết quả là, khi một số người cố nghỉ ngơi trong trạng thái phi cấu trúc, không nhiễm ô này của sự nhận biết, họ đã tự mình làm căng thẳng bằng việc ngồi thật thẳng và ráng sức thở. Điều đó không phải là trạng thái phi cấu trúc; nó chỉ là một trạng thái nhiều cấu trúc hơn. Mặt khác, một số người nghĩ rằng nghỉ ngơi trong trạng thái nhận biết phi cấu trúc có nghĩa lang thang quanh quẩn không mục đích trong một cách hoàn toàn ngẫu nhiên. Điều đó cũng là một cực đoan khác.

Việc tâm nghỉ ngơi trong trạng thái thanh tịnh bổn nguyên, phi cấu trúc của nó có nghĩa bạn không chạy theo bất kỳ niệm tưởng nào khởi lên dù chúng là thiện hay bất thiện. Vì thế, bất cứ những gì xảy đến trong tâm hãy để chúng đến và đi không cần phản ứng, không phân loại nó, và không hưởng ứng hoặc cố làm thay đổi nó. Điều này giống như quan sát gió, dù gió đến từ hướng đông, tây, nam hay bắc dù gió thổi theo hướng nào, gió vẫn có đó. Đó là tính chất của sự nhận biết phi cấu trúc. Điều này rất khó làm trong thực hành. Một lý do cho điều đó là ngay cả dù chúng ta có thể làm trong một thời gian ngắn, chúng ta không thỏa mãn. Chúng ta không tin nó.

 Khi bạn trau dồi ý thức rằng bất cứ những gì xảy đến đều là sự tự-hiện và tự-giải thoát, bạn hãy chỉ để nó đến và đi. Thấy mọi sự kiện tâm thức đơn giản trong bản tính của chính chúng. Khi niệm tưởng khởi lên, chúng không tích trữ ở một nơi nào đó như thể trong một ngân hàng tâm thức. Nêu có một ngân hàng như vậy, chúng ta sẽ là mọi thứ dơ bẩn. Đúng hơn, sự kiện tâm thức xuất hiện tự nhiên và chúng tự nhiên biến mất.

Trong thực hành ở đây, điều quan trọng là không làm mất sự nhận biết của bản tâm hoặc bản tánh của sự kiện tâm thức. Bất cứ những gì xảy đến, đừng ngăn chận nó. Ngay khi cố ngăn chận nó, bạn đã làm mất bản tánh của nó và bạn chẳng còn làm được thực hành này. Nếu cảm thấy rằng bạn phải làm điều gì đó khiến niệm tưởng biến mất, bạn cũng không làm thực hành. Nếu cảm thấy bạn cần kéo dài các sự kiện tâm thức này, một lần nữa bạn không thực hành. Sự thực hành ở đây là để sự nhận biết được nghỉ ngơi trong trạng thái tự nhiên, thanh tịnh bổn nguyên của nó.

Hãy nhớ lại rằng trong thực hành trước về tiến trình chuyển tiếp của giấc mộng, ngay trong lúc thức bạn nhìn vào các hình tướng ban ngày và nghĩ, “Đây là giấc mộng. Điều này thực sự là một giấc mộng. Ngay bây giờ, tôi đang nằm mộng.” Tương tự, trong tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành, trong lúc ngày và đêm bạn xem mọi thứ như các hình tướng hỗn độn, mơ hồ như sau khi bạn chết và đang lang thang trong tiến trình chuyển tiếp. Chúng không bền, thoáng qua và mau phai nhạt. Các đối tượng này là của tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành. Chúng sanh được sinh ra và đi quanh quẩn cũng là chúng sanh của tiến trình chuyển tiếp. Nói khác đi, khi bạn thấy người khác, hoàn cảnh v.v... vào lúc ban ngày hãy nghĩ rằng đó là những chúng sanh đang đi quanh quẩn trong tiến trình chuyển tiếp sau khi chết.

Chẳng hạn, trong toàn bộ giai đoạn của việc đàm luận hãy nghĩ về nó như đang xảy ra trong tiến trình chuyển tiếp. Mục đích của thiền định này là để trau dồi sự nhận biết liên tục, ngày và đêm, về sự không có tự tánh của hiện tượng. Trong cách này, chúng ta nhận ra cách thức mình bị nhầm lẫn như thường lệ vì bám chấp vào tự tánh của hiện tượng.

Một lần nữa hãy đặt sự nhận biết của bạn bình đẳng trong kinh nghiệm bắt đầu với việc quy y cho tới giai đoạn phát triển, giai đoạn hoàn thiện, tánh không, và Mahamudra. Nhờ phát triển sự quen thuộc với các xu hướng như vậy, bạn nên thường xuyên nghĩ, “Đây là tiến trình chuyển tiếp,” và thậm chí nói lớn tiếng, “Đây là tiến trình chuyển tiếp. Đây là tiến trình chuyển tiếp. Than ôi! Tôi đang lang thang trong tiến trình chuyển tiếp. Vị thầy ơi! Vị thầy ơi!” vào lúc đó hãy thốt ra nhiều lần “Bài Nguyện Kêu Cầu Giúp Đỡ,” “Các Lời Nói Chủ Yếu Của Tiến Trình Chuyển Tiếp,” “Sự Giải Thoát Qua Con Đường Hẹp,” và các bài nguyện bảo vệ khỏi sợ hãi. Hãy nhìn vào quyển Giải Thoát Qua Việc Nghe nhiều lần và toàn bộ vòng giáo lý về tiến trình chuyển tiếp.

Tóm lại, hãy rèn luyện tâm thức bạn trong Giáo Pháp của tiến trình chuyển tiếp. Không có thiền định nào cao hơn sự quán tưởng này. Liên tục thực hành sự quán tưởng tiến trình chuyển tiếp. Sau đó, nghỉ ngơi thăng bằng trong kinh nghiệm bất biến của tự-tâm. Nhờ khơi dậy dòng tâm thức bạn với sự quán tưởng của tiến trình chuyển tiếp, bạn tự áp dụng kiên trì thực hành tâm linh. Hãy đọc kỹ Giải Thoát Qua Sự Nghe Của Tiến Trình Chuyển Tiếp Về Tự Thân Thực TạiGiải Thoát Qua Việc Nghe Của Tiến Trình Chuyển Tiếp Về Sự Trở Thành. Hãy rèn luyện tâm bạn trong tất cả sáu ngọn đèn, các Pháp bổ sung của tiến trình chuyển tiếp, và trong sự nhận ra tiến trình chuyển tiếp. Nhờ làm như vậy, người giỏi hơn chắc chắn sẽ giải thoát trong đời này, người trung bình thì vào lúc chết, người thấp hơn thì trong tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại; và thậm chí người thấp nhất sẽ được giải thoát nhờ kết thúc nhiệm vụ chưa hoàn thành của họ trong tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành. Đây là các hướng dẫn về tiến trình chuyển tiếp của sự trở thành được gọi là giải thoát tự nhiên của sự trở thành. Samaya.

Vào lúc niệm tưởng bất thiện khởi lên trong tâm, bạn có thể bị sợ hãi. Thậm chí có vẻ chúng có thể mạnh hơn trước đó. Trong thực tế, những niệm tưởng như vậy hiện diện mọi lúc mà bạn không nhận ra chúng ngay lập tức. Việc chú ý đến chúng là tốt và nên quan tâm về chúng. Trước tiên, hãy nhận ra sự bất thiện khi nó khởi lên rồi dần dần từ bỏ nó. Ví dụ, từ bỏ sự bất thiện của việc sát sanh và hãy bảo vệ mạng sống của người khác. Ngay cả việc có được động cơ bảo vệ cuộc sống của người khác cũng là một phần của thực hành. Tương tự, hãy tránh mọi loại trộm cướp bao gồm lừa gạt, chơi hai mặt v.v... và trau dồi sự đối nghịch với trộm cắp đó là sự rộng lượng (bố thí).

Bạn có thể chính mình kinh nghiệm sự trong sáng hay thanh tịnh của tâm qua thực hành của Đại Viên Mãn và nhất là qua sự trau dồi thiền chỉ. Điều quan trọng là kết hợp thực hành này với cầu nguyện đến vị thầy tâm linh của bạn. Bạn có thể cầu nguyện đến vị thầy tâm linh như bất khả phân với Đức Padmasambhava, Vajrasattva, Phật Sakyamuni, Manjusri v.v... Lý do của việc thấy Ngài là bất khả phân nhằm tạo cơ hội bảo vệ khỏi các hình tướng thông thường. Một khi nhận ra vị thầy tâm linh như Đức Phật, Padmasambhava hoặc Vajrasattva, chúng ta không cần làm bất kỳ thực hành đặc biệt nào khác về vị bổn tôn đã chọn của mình. Vì bây giờ chúng ta đã nhận ra Đức Phật như Đức Phật.

Nhiều người có khao khát mạnh mẽ tham gia thực hành tâm linh trong nhập thất. Điều đó là tốt. Nhưng trước khi bạn bỏ đi nhập thất, điều quan trọng là thực hành ngay bây giờ. Việc nhập thất chắc chắnđáng giá nhưng không tuyệt đối cần thiết. Ngoài ra, chỉ đơn giản sống trong nhập thất không dẫn đến tỉnh thức tức thời. Nó thật không dễ. Con đường thiết thực nhất là thực hiện giáo lý này ngay bây giờ càng nhiều khi bạn có thể trong cuộc sống hàng ngày của bạn.

Hãy để thực hành của bạn trôi chảy trong hiện tại còn hơn việc liệu trước một số hoàn cảnh tương lai mà bạn tính toán là lý tưởng hơn. Để đạt tới giải thoát, bạn phải nhận ra giá trị to lớn và hiếm có về cuộc sống với nhàn rỗithuận lợi hiện nay của bạn, và thực hành kiên trì suốt cuộc đời bạn và trong tiến trình chuyển tiếp theo sau cuộc đời này.

Kỳ diệu thay! Sự giải thoát tự nhiên này, giáo lý cốt tủy về sáu tiến trình chuyển tiếp
Là sự tổng hợp của tất cả sự tư duy sâu lắng của các đấng chiến thắng;
cốt lõi của mọi Giáo Pháp uyên thâm của các yana;
giáo lý dựa trên kinh nghiệm để dẫn dắt chúng sanh trên con đường giải thoát.
Trong thời đại cuối của kiếp tương lai
Khi tất cả chúng sanh cư xử trái với Giáo Pháp,
Cầu mong con đường uyên thâm này giải thoát chúng sanh!
Cầu mong mọi người không loại trừ ai đều đạt được Phật quả viên mãn!
Cầu mong Giáo Pháp uyên thâm của giáo lý vĩ đại về sáu tiến trình chuyển tiếp này
Được gọi là sự giải thoát tự nhiên qua thiền định: các hướng dẫn dựa trên kinh nghiệm
Tiếp tục được giảng dạy cho đến khi chu trình sinh tử trống rỗng!
Samaya.
Kho tàng đã được niêm ấn.
Sự bí mật đã được niêm ấn.
Sự uyên thâm đã được niêm ấn.

Lời Kết

Thành tựu giả Karma Lingpa khám phá giáo lý này từ Núi Gampo Dar. Ngài đã tạo ra một dòng truyền duy nhấtbổ nhiệm Guru Nyida Ozer là vị thầy của Giáo Pháp uyên thâm này. Cầu mong đó là đức hạnh!
Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 101795)
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo
Sáng hôm qua, (ngày 18 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 4 xã Hải Thiện, Hải Lăng, Hải Ba, Hải Dương, Hải tại Tỉnh Quảng Trị. Xã Hải Thiện phát 170 phần quà, xã Hải ba & Hải Lăng 180 phần quà, xã Hải Dương 150 phần quà. Thật may mắn cho đoàn là cả ngày trời không mưa nên công việc cứu trợ được thuận duyên và thành tựu viên mãn.
.Xin một lời nguyện cầu cho xứ Huế | Cho Miền Trung, cho đất nước quê hương | Mau thoát cảnh..''trời hành cơn lụt''..| Gây đau thương, bao khổ cảnh đoạn trường..| Xin một lời nguyện cầu cho đất Mẹ | Mưa thuận gió hòa, thôi dứt bể dâu! | - Đời đã khổ, mong trời ngưng nhỏ lệ | Cho sinh linh an ổn.. thoát lo sầu...