Phần Hai Thực Hành Nuôi Dạy : Những Thực Tập

23/11/201012:00 SA(Xem: 6206)
Phần Hai Thực Hành Nuôi Dạy : Những Thực Tập
PHẦN HAI
THỰC HÀNH NUÔI DẠY :
NHỮNG THỰC TẬP


DẪN VÀO NHỮNG THỰC TẬP


Hãy nhanh chóng một cách chậm chậm và bạn sẽ mau đến đích.
Milarepa


Trong phần một của cuốn sách này, người ta đã quen biết với con cọp bên trong và người ta đã hiểu sự cần thiết phải điều phục nó. Phần hai này gồm những công việc thực hành : một toàn bộ những bài thực tậpmục đích chỉ cho chúng ta làm sao chế ngự tâm thức mình và trau dồi lòng bi một cách thực tiễn trong đời sống hàng ngày, vì chính ở trong lòng đời sống hàng ngày mà việc đó phải được làm. Những trách nhiệm nghề nghiệp hay gia đình của chúng ta không phải là một chướng ngại ngăn cản chúng ta làm việc trên chính mình ; trái lại chúng là một mảnh đất tuyệt hảo, giàu vô số những cơ hội để học và để trưởng thành. Đó cũng là một chỗ kiểm nghiệm không bao giờ nói dối : thử thách của hàng ngày phát hiện nhanh chóng những yếu đuối và những thiếu sót của chúng ta và ngay sau đó người ta thấy cái cần phải tẩy xóa, làm lại hay làm vững chắc thêm. Không phải vuốt ve ý tưởng bỏ đi tất cả để ra đi tìm trí huệ : nó không ở đâu khác ngoài chính mình, ở nơi mà người ta đang ở. Bước đầu tiên tiến về sự trưởng thành có lẽ cốt ở không chối bỏ thực tại – của cái mà người ta là và của tình huống hiện tại – thay vì những giấc mộngchắc chắn người ta chẳng bao giờ thực hiện được và chúng chỉ là những bằng cớ của chủ nghĩa an nhàn bất động.

Tất cả chúng ta đều có một hành trang nào đó, từ khi sinh ra, đã học nhiều điều ích lợi, nhưng cũng mang lấy một số những thói quen xấu góp phần lớn vào những vấn đề và những khổ đau của chúng ta. Được nền giáo dục của chúng ta khuyến khích để phát triển bản ngã, người ta thường quen cho nó một ưu tiên luôn luôn, xem đấy là một chiều hướng tự nhiên. Người ta càng bị điều kiện hóa bởi những giá trị hiện đại bao nhiêu khi chúng thường ưu đãi chủ nghĩa cá nhân : sự quan trọng của quan niệm “nhân cách”, sự phá hủy gia đình và làm yếu sự liên đới cộng đồng, tuyên dương thành công vật chất và những lạc thú tiêu dùng với sự thành công đó.

Trong một thời gian đầu, sẽ ích lợi khi phân tích một ít những thói quen và sự bị quy định của mình để phân biệt cái gì cần giữ gìn và trau dồi và cái gì tốt hơn hết là nên bỏ. Đó sẽ là dịp để biết một số tính khí hiện thời của chúng ta thường là những thói quen xưa cũ, hay thậm chí những phản xạ gắn liền với chúng ta từ thời thơ ấu, mặc dầu chúng hoàn toàn không phù hợp với tình trạng tâm thức hiện thời của chúng ta nữa. Cũng giống như con bướm kéo theo sau nó những mảnh của con nhộng của mình.

Những bài thực tập sau sẽ cho chúng ta những phương tiện để đối mặt với mọi trường hợp của đời sống hàng ngày, một cách quân bình tốt nhất. Phải tìm ra một sự quân bình, một điều độ nào đó, để có thể nhận những sự vật như chúng đến, không tự chiến đấu để sửa sang chúng một cách thường trực bằng cách từ chối cái người ta không ưa và chỉ theo đuổi cái làm cho người ta thích. Chỉ sự kiện ngừng dứt cuộc chiến đấu vô bổ này sẽ cất nhẹ cho chúng ta khỏi một trọng lượng lớn lao của thất vọngcăng thẳng : luôn luôn khó khăn lắm khi chèo ngược dòng !

Thường người ta khổ đau vì họ phản ứng quá mạnh với điều đến với mình – vui hay buồn. Đây cũng thế, cần phải điều hòa để không để cho những biến cố tràn ngập : thế nên người ta học điều phục con cọp tâm thức để tìm thấy một sự ổn định bên trong và không hoàn toàn phụ thuộc vào sự thuận lợi của những hoàn cảnh bên ngoài nữa. Nếu ngày này qua ngày khác, người ta có can đảm giáp mặt với sự giận dữ hay khổ đau của mình trong những bài tập thiền định, cuối cùng người ta có thể đối mặt với chúng khi gặp chúng trong cuộc sống hàng ngày. Người ta dạy dần dần con cọp để không sợ lửa nữa, cho đến một ngày có thể nhảy qua một vòng lửa.

Những bài thực tập nhằm tạo ra một không gian, để hiểu rõ hơn cái gì đang xảy ra. Người ta tự cho mình một bước thụt lui đối với những biến cố và những khó khăn của đời mình. Như bài thực tập Quả Cầu Cầu Vồng (số 15), với những quán tưởng của nó về những ánh sáng màu sắc khác nhau, có thể cho chúng ta học đối mặt với những cảm xúc mãnh liệt chúng rất thường làm cho chúng ta hụt hẫng. Những bài thực tập về Người Bạn (số 7) và Kẻ Thù (số 11) giúp chúng ta tương đối hóa ý nghĩ người ta tạo ra về tình bạnthù oán. Người chúng ta xem như một kẻ thù về lâu sau này có thể trở thành người bạn quý nhất, vì nó cho chúng ta cơ hội học sự nhẫn nhục và lòng bi. Ngược lại, những người chúng ta gọi là “bạn”, không phải luôn luôn nhất thiết làm điều tốt cho chúng ta : họ có thể thậm chí là một chướng ngại trầm trọng cho sự phát triển bên trong nếu chúng ta quá luyến chấp vào họ, hay nếu tình thương yêu của họ quá có tính sở hữu.

Những bài thực tập được đề nghị ở đây tạo thành một toàn bộ những kỹ thuật làm chủ tâm thức mà người ta có thể xem như một hình thức “trị liệu”. Đó là một trị liệu toàn thể (như đức Phật được tôn xưng là bậc Đại Y Vương – dịch giả) hơn là ý nghĩa của sự chữa trị hay đề phòng một bệnh trạng đặc biệt : một sự tái quân bình hay một sự tái giáo dục toàn diện. Dù người ta không bệnh theo nghĩa thường tình, người ta đã mất cảm thức bản năng của sự quân bình mà một số người thuộc tổ tiên xa xưa của chúng ta đã có. Khi làm cho cuộc đời chúng ta được dễ dàng, thuận tiện, văn minh đô thị cũng làm chúng ta mong manh dễ vỡ và xa cách những thực tại tự nhiên. Đến nỗi người ta bị bắt buộc học lại điều mà người ta không biết làm một cách tự phát nữa : học tôn trọng những nhịp điệu sinh học và môi trường tự nhiênchúng ta tùy thuộc vào, làm quân bình sự dinh dưỡng của chúng ta, tập thể dục để bù cho một cuộc sống quá ít hoạt động... Không đặc trưng sao khi thậm chí người ta cần phải học lại thở cho đúng, trong khi thở là một bản năng sinh lý sơ khai nhất nơi một con người ? Chính trong mức độ những bài thực tập đề nghị ở đây có thể giúp tự giáo dục lại để tìm lại sự quân bình của mình mà người ta có thể nói đến một sự “trị liệu” – một sự can thiệpý thức với mục đích tái lập những cơ chế tự nhiên của sự quân bình. Thật ra, có nhiều cái có một giá trị trị liệu, chỉ cần người ta biết nhận ra và khai thác nó đúng đắn : thực phẩm người ta ăn, y phục người ta mặc, cách bước đi và tư thế ngồi, những cử động, những màu sắc và âm thanh chung quanh – tất cả những cái đó có thể có tác dụng trị liệu đối với chúng ta, nghĩa là giúp chúng ta tìm thấy một sự quân bình tốt hơn, nhất là giữa thân và tâm. Phần đông chúng ta làm việc với cái đầu hơn là với thân thể, điều này chỉ làm nặng thêm khuynh hướng tự nhiên của chúng ta là trải nghiệm thế giới qua những tư tưởng hơn là qua cách trực tiếp và đơn giản hơn. Người ta ít có cố gắng thân xác và có khuynh hướng tạo tác lo âu hơn...

Dầu danh từ người ta gán cho những thực tập này là gì – “thiền định” hay “trị liệu” – trong mọi trường hợp chúng có thể giúp chúng ta tái lập cảm thức những quân bình tự nhiên, đấy chỉ là nhờ sự thư giãn cần thiết trong việc thực hành chúng. Sự buông xảcần thiết cho mọi hình thức trị liệu hay thiền định ; khi người ta vừa có một cố gắng thể xác và người ta nghỉ một lát để uống một chút cà phê hay một tách trà, đó vừa là một chốc lát làm tươi mới lại vừa là thư giãn, điều đã hơi giống với một thực tập thiền định hay trị liệu, nếu người ta biết thư giãn tốt. Ngược lại, nếu người ta suốt ngày uống cà phê, thì không chỉ người ta không thư giãn mà còn căng thẳng và kích động hơn trước. Cũng thế, người ta sẽ không rút ra được gì hay từ những bài thực tập này nếu họ phóng mình vào trong đó mà hoàn toàn co rút và căng thẳng. Không phải một cái gì kỳ diệu làm cho bạn tức thời đi từ sự rối loạn qua một trạng thái ân sủng, nhưng những bài thực tập đòi hỏi một sự tập trung nào đó. Thế nên, khi cảm thấy căng thẳng, kích động, quan trọng là trước tiên tạo ra trong đầu khoảng không gian bằng cách thư giãn một ít trước khi bắt đầu những bài thực tập. Trong trường hợp đó, người ta có nhiều lợi lạc khi bắt đầu với một hoạt động thể xác nhẹ nhàng – một cuộc đi dạo, làm vườn, nấu ăn sơ sài – sau đó người ta cảm thấy bình an và thư giãn hơn, sẵn sàng làm việc với những “bắp thịt” tâm thức.

Những lời khuyên thực tiễn cho sự thực hiện những bài thực tập

Những bài thực tập được trình bày trong hình thức một chuỗi được yêu cầu đi theo thứ tự. Sự tiến hành những bài thực tập không phải được tổ chức theo lối tùy ý, nó là một tập sự tuần tự những khả năng tâm thức khác nhau. Vậy quan trọng là phải xem những thực tập này như một tổng thể và thực hành chúng lần lượt, theo một chương trình vạch sẵn. Không nên chờ đợi gì nhiều nếu người ta nhảy qua những bài thực tập người ta không thích, hay tập trung đặc biệt vào những bài thực tập người ta thích ý, hay bay chập chờn giữa nhiều cái. Đó là một toàn thể mà mỗi thành phầncần thiết để bảo đảm sự liền lạc ổn cố và hiệu quả của tất cả. Nếu một lực sĩ chỉ làm việc với bụng và ngực, nó sẽ có một phần trên quá nở, đặt trên đôi chân cào cào, thay vì một thân thể hài hòa của một người trau dồi toàn thể những bắp thịt của nó một cách quân bình.

Hiển nhiên người ta nên thực hành những thực tập này càng đều đặn càng tốt, những lợi lạc tùy theo mức độ cố gắng mà họ đầu tư vào. Chúng ta hãy biết rằng nếu điều gì chúng ta giữ trong lòng, chúng ta luôn luôn tìm thấy phương tiện để làm điều đó : nếu những người làm việc suốt ngày từ chối sự êm ái của cái giường vào lúc bình minh để chạy bộ hay chơi quần vợt, chính là bởi vì họ tin rằng điều đó làm tốt đẹp cho họ, và họ sẵn sàng có cố gắng cần thiết để kiếm được lợi lạc phụ đó. Nếu người ta thấy rằng những thực tập có một xác đáng nào đó cho mình, người ta sẽ tìm ra thời gian để làm chúng, như những người chạy bộ buổi sáng sớm. Người ta càng đầu tư vào cái gì, người ta càng thành công trong cái đó. Điều đó muốn nói rằng, mọi thực hành đều ích lợi, dù nó có giới hạn thế nào, và dù người ta còn chưa có thể có một sự thường xuyên. Thậm chí, trong một thời gian đầu, người ta chỉ đọc những bài thực tập, người ta có thể có ý thích trở lại với chúng và thực hành chúng về sau, vào một lúc người ta thực sự cảm thấy chúng là nhu cầu.

Càng tiến trong chương trình những bài thực tập, có lẽ người ta sẽ có cảm tưởng rằng một số được thích hơn những cái khác, chuyện đó không có gì trầm trọng. Quan trọng là làm tất cả với hết lòng mình, cái này sau cái kia, mà không trú trong ý tưởng về một “kết quả”. Bạn chớ nản lòng khi gặp vài khó khăn và hãy đơn giản kiên trì trong sự thực hành của bạn. Ngược lại, nếu bạn đến một điểm mà bạn có cảm tưởng mình đang liên tục chiến đấu với chính mình, hay chiến đấu với bài thực tập đang đặt cho bạn những vấn đề nan giải, tốt hơn là ngưng lại và hãy tự cho mình một sự nghỉ mệt một hai ngày, trước khi làm lại. Thật vậy, người ta chẳng được gì khi cưỡng ép quá, vì việc đó chỉ làm mình thêm căng thẳng, trong khi trái lại, cần để tâm thức thư giãn tối đa. Trong thời gian nghỉ thực tập, chớ ngừng tất cả những thực hành mà hãy dùng ba cái đầu tiên, “Thư Giãn” (số 2), “Cảm Nhận” (số 3) và “Tự Mở Mình Ra” (số 4). Chúng sẽ giúp bạn thư giãn để trở lại với thực tập “khó” với tâm thức đã lại tươi mới.

Nếu bạn bị nhiều tư tưởng tấn công trong khi thực tập, chớ có lo âu. Ngay khi biết sự xao lãng của mình, bạn chỉ thư giãn, rồi tập trung trở lại vào đối tượng thiền định. Nếu như vậy không đủ, người ta cũng có thể nghỉ ngơi một chút hay làm những thực tập thư giãn, trước khi nắm lại sợi dây thực tập. Phải học cách nhận ra khi nào người ta sẽ quá cứng rắn hay trái lại quá dễ dãi, để giữ một mức độ trung dung.

Bạn sẽ nhận thấy có nhiều thực tập đặt nền trên một sự quán tưởng đức Phật. Không phải là Phật với tư cách là một nhân vật lịch sửtôn giáo, mà với tư cáchbiểu tượng chiến thắng của sự thanh tịnh nội tại của tâm thứcgiác ngộ, thức tỉnh và tràn đầy lòng bi – đối với những nhiễm ô đã tạm thời che đậy sự thanh tịnh đó. Tuy nhiên, nếu biểu tượng này làm khó khăn bạn vì những lý do trí thức hay tôn giáo, để thay thế hãy tưởng tượng tinh túy của lòng bi vũ trụ, trong hình thức một quả cầu bằng ánh sáng thanh tịnh rực rỡ.

Những thực tập sau đây không có ý định cho bạn những năng lực siêu phàm, mà giúp bạn đối mặt với mọi trường hợp người ta phải đương đầu trong đời sống hàng ngày. Nếu bạn có cảm tưởng tiến bộ tốt hơn, nhất là trong việc giáp mặt những khó khăn của bạn, thì bạn đang ở trên con đường đúng. Thế nghĩa là, phải biết kiên nhẫn và không chờ đợi có tức khắc những kết quả ngoạn mục : người ta không thể xóa đi trong ngày một ngày hai những thói quen và những phản xạ ích kỷ có hàng bao nhiêu năm. Người ta sẽ tìm thấy một sự an ủi và khuyến khích nào đó khi tự nhớ lại rằng người ta không làm công việc này chỉ cho mình nó hay vì một kết quả tức thời, mà cũng cho tất cả những người khác, và với những lợi lạc bao la dài hạn, cho họ cũng như cho chúng ta.

Nếu mặc dù với một liều lượng cố gắngkiên nhẫn đủ khá, người ta tiếp tục có nhiều khó khăn khi đối mặt với những sự việc hàng ngày, với trong mình hay xung quanh mình, người ta có thể tiếp xúc với tác giả (để tiếp xúc với tác giả về những bài thực tập, xem Phụ lục cuối sách) hay những người cộng tác với chương trình thực tập này. Người ta cũng có thể nhờ một vị thầy tâm linh giúp đỡ, hay tham dự một nhóm đã từng thực hành những bài tập này và họ có thể cho một sự nương dựa nào. Tuy nhiên, quan trọng là chớ lao ngay vào vòng tay của một “guru” đầu tiên vừa mới đến, và cần biết về giá trị của vị thầy hay của nhóm liên quan.

Khi chương trình những thực tập hoàn toàn chấm dứt, người ta có thể dùng theo ý muốn một thiền định nào đó đối với những khó khăn đặc biệt mà họ sẽ gặp. Mỗi bài thực tập đóng một vai trò riêng, và toàn bộ tạo thành một chuẩn bị tốt đẹp cho những ai muốn theo đuổi một hành trình tâm linh lâu dài và có kết quả. (Đối với đạo Phật, cái gì có ở đích cuối cùng phải đã có ở những bước đầu tiên. Những bài thực tập này đặt nền trên căn bản Phật tánh và đưa đến mục đíchPhật tánh, trí huệđại bi, vì thế giải thoát hay chứng ngộ viên mãn Phật tánh là sự khai triển và thành tựu rốt ráo những thực tập này ở mức độ cao nhất – ghi chú thêm của người dịch tiếng Việt).

Một điểm chót quan trọng : điều người ta học và hiểu về những thực tập không phải là để cho chữ nghĩa chết khô, mà để được đưa vào thực hành. Ích lợi gì khi thiền định về lòng bi trong một giờ đồng hồ nếu giờ phút sau đó người ta đã có một màn gây lộn với vợ hay cãi nhau với hàng xóm ? Điều bạn đã học phải trở thành một bản chất thứ hai, một cái gì theo bạn khắp nơi và trong mọi hoàn cảnh. Để làm vững chắc động lực của bạn và tránh quy về chính mình, bạn hãy kết thúc mỗi thời làm việc với những thực tập bằng một ý nghĩ cho những người khác, theo chủ đề sau :

Tôi ước mong có thể áp dụng trong cuộc đời hàng ngày của tôi và chia xẻ với tất cả những ai khổ đau về thể xác hay tâm thức, tất cả điều gì tôi đã học hay hiểu hôm nay. Nguyện rằng những nỗ lực của tôi liên hiệp với năng lực của lòng bi vũ trụ để giúp đỡ họ vượt qua những khó khăn của họ và tìm thấy lại hạnh phúc.

Câu hỏi : Có nên tránh đặt ra những mục tiêu quá tham vọng khi người ta làm những thực tập ?

Trả lời : Không ích lợi lắm khi hy vọng những kết quả quá lớn lao, bởi vì điều đó dẫn chúng ta đến chỗ hơi bắt ép những sự việc. Những thực tập không phải được làm để chuyển hóa đen ra trắng trong ngày một ngày hai, mà để cho người ta hòa nhập những giáo pháp vào đời sống hàng ngày.

Câu hỏi : Khi thầy nói đến cái ngã (cái ta) được làm mạnh thêm bởi giáo dục, đó có phải cùng một thứ với một cảm giác mạnh mẽ về bản sắc của nó ? Có cái gì tốt đẹp trong cái ngã không ? Nó không cần thiết với chúng ta để sinh hoạt bình thường trong thế giới này sao ?

Trả lời : Rõ ràng người ta cần một cái ngã có chức năng nào đó, một cái gì để nói : “Tôi muốn đi đến chỗ kia, tôi phải làm điều đó.” Nhưng một khi cái ngã đã đóng vai trò thiết lập một bản sắc sơ khai này, không cần thiết phải bám vào nó nữa và phải sẵn sàng lìa bỏ nó, như khi người ta vất bỏ một đôi giày cũ mòn. Vậy thì người ta cần một hình thức cái ngã nào đó lúc ban đầu, nhưng khi nó đã phục vụ xong, người ta không cần đến nó nữa.

Câu hỏi : Nếu vì lý do này hay lý do khác mà người ta không muốn quán tưởng đức Phật, người ta có thể thế chỗ bằng cách tưởng tượng đức Jesus hay một đạo sư vĩ đại khác mà người ta tin tưởng không ?

Trả lời : Khi người ta nói đến một vị “Phật”, người ta muốn nói đến một người có mọi phẩm tính mà danh từ đó diễn tả : một người mà tâm thức hoàn toàn trong sạch và đã thức tỉnh với bản tánh thật sự của những sự vật, mà lòng bi là toàn khắp vũ trụ, và hoàn toàn tận tụy vì những người khác. Nếu đó là điều mà đức Jesus hiện thân đối với bạn, bấy giờ là như nhau khi hình dung Chúa hay Phật.

Câu hỏi : Nếu người ta bắt đầu thực hành những thực tập đều đặn và người ta phải ngưng chúng trong vài tuần hay vài tháng vì một lý do nào đó, người ta có thể bắt đầu làm lại từ chỗ người ta đã ngừng hay tốt hơn là bắt đầu trở lại hết ?

Trả lời : Tất cả tùy thuộc vào cái mà bạn đã rút ra được từ những bài tập bạn đã làm. Nếu bạn có cảm tưởng bạn đã thâu hóa chúng khá tốt và chúng thật sự làm lợi lạc cho bạn, bạn có thể tiếp tục từ chỗ bạn đã dừng trước kia. Nếu không phải thế, tốt hơn là bắt đầu lại từ đầu.

Câu hỏi : Làm sao để tránh khỏi rơi vào những cạm bẫy của thực hành tâm linh, như sự kiêu mạn khi người ta cảm thấy có những tiến bộ ? Tôi tự hỏi khi người ta thực hành một mình, với sách, không có thầy bên cạnh, người ta sẽ tiến bộ thiên lệch chăng ?

Trả lời : Rất có thể hình ảnh mà bạn tạo ra về chính bạn từ khi sanh ra không tương đồng với thực tế, nếu bạn không bao giờ phân tích. Có thể bạn tự tạo ra một ý tưởng về mình hoàn toàn không có cơ sở nào cả, nhưng bạn không biết gì, hơn nữa không có ai đã nói với bạn hình ảnh ấy về bạn có trung thực hay không. Người ta có thể tự nhủ “tôi là ánh sáng”, hay là Phật hay là Chúa, nhưng rõ ràng đó chỉ là một tưởng tượng ảo giác. Thế nên rất ích lợi khi có người nói cho chúng ta rằng chúng ta không đẹp, không đức hạnh, không dị thường như chúng ta tin như vậy, bởi vì điều đó tránh cho chúng ta tin vào hình ảnh về mình mà chúng ta phóng chiếu và tránh cho chúng ta tiếp tục đồng hóa với nó. Và chính trong chiều hướng đó mà một vị thầy có thể làm cho chúng ta bớt loại sai lầm này khi lột trần những ảo tưởng của chúng ta và dẫn dắt chúng ta trong hướng đi đúng. Vậy thì quả là đúng rằng người ta có thể tự lừa dối mình khi chỉ tín nhiệm vào độc nhất một cuốn sách, bởi vì người ta có nguy cơ giải thích nó riêng biệt theo hình ảnh mà người ta tự tạo về mình, và một đường lối như vậy hoàn toàn nghèo nàn, kém cỏi. Tôi cũng thêm rằng một cuốn sách thế nào cũng có những giới hạn nội tại : nó cho một khuôn khổ quy chiếu tổng quát, xác định một lần cho tất cả trên giấy, trong khi cuộc sống thì thường trực biến đổi và mỗi trường hợp người ta gặp là độc nhất.

Câu hỏi : Vậy thì làm sao tránh loại vấn đề này khi người ta không làm việc dưới sự hướng dẫn của một vị thầy ?

Trả lời : Hãy nhấn mạnh vào lòng bi đến mức nào bạn còn có thể, và hãy để bạn được hướng dẫn bởi nó trong khi chờ đợi gặp được một người nào biết đường lối mà chúng ta đang nói ở đây.

Câu hỏi : Một sự tăng trưởng những cảm xúc tiêu cực và những khó khăn có phải tất yếu là dấu hiệu là có cái gì không ổn trong thực hành hay đó là một tác dụng phụ của việc “chữa trị” đã đưa lên bề mặt những khuynh hướng có thức ?

Trả lời : Khó mà nói một cách trừu tượng như vậy ; đó có thể là cái này hoặc cái kia, hay cả hai. Có thể người ta luôn luôn có những phiền não này trong họ, nhưng người ta còn chưa biết bởi vì người ta ít ý thức đến cái gì xảy trong tâm thức. Khi người ta luôn luôn có khuynh hướng có một ý kiến quá tốt về mình, người ta chỉ thấy cái người ta muốn thấy – những mặt tốt. Đến nỗi rằng những phiền não có vẻ khởi lên chẳng từ đâu cả khi người ta lại ý thức đến chúng và tự phân tích. Có lẽ đó không phải là một nhận xét khích lệ lắm, nhưng dầu sao, cái đáng nói là chớ xem quá nghiêm trọng những tình cảm và những phiền não này khi chúng được tìm thấy ở trong mình. Chỉ cần ý thức cái gì đang xảy ra nơi mình, và nếu người ta không phân cực vào một cái gì, thì người ta không phải có những vấn đề lớn lao.

Câu hỏi : Hiện giờ có nhiều người đề nghị nhiều loại hệ thống “trị liệu”. Những hệ thống khác nhau này nói chung đều ích lợi, và chúng khác với đường lối đặt nền trên đạo Phật của ngài như thế nào ?

Trả lời : Tôi không thể trả lời thay cho những người khác, nhưng tôi tưởng tượng có nhiều người đề nghị những biện pháp trị liệu lợi lạc, điều đó là tốt. Có những cái khác thành công ít nhiều, và một số thậm chí gây ra tai hại. Thật ra, phẩm chất của một phương pháp chữa lành tùy thuộc nhiều vào động cơ của nhà trị liệu, trong mức độ nhân cách của người ấy có một ảnh hưởng lớn trên những phương pháp của mình. Nhưng điều ấy còn tùy thuộc vào mức độ kinh nghiệm, và giá trị truyền thống mà người ấy dựa vào : có một khác biệt lớn lao giữa một hệ thống “gia đình” mà một người nào đó đã biến chế từ những ý tưởng riêng của mình và của những người khác rải rác đó đây, với những phát huy được truyền thừa bởi một truyền thống đã có những chứng cớ của nó. Trong nhãn quan Phật giáo, sự chữa lành được đặt nền trên những kỹ thuật tâm thức nhắm đến thu hoạch sự điều phục tâm thức. Điều này muốn nói rằng người nào biết làm sao hàng phục tâm thức – bằng kinh nghiệm cá nhân và không chỉ qua một hiểu biết lý thuyết – được đánh giá là có đủ thẩm quyền để dạy những phương pháp ấy.

Câu hỏi : Làm thế nào tôi có thể làm mạnh động lực của tôi, ý muốn thực hành lòng bi của tôi ? Tôi hoàn toàn tin sự cần thiết làm việc đó, nhưng luôn luôn có một cái gì ngăn cản tôi – sự lười biếng, những bế tắc trong tâm trí.

Trả lời : Điều quan trọng là làm hết sức mình, tính đến những điều kiện của riêng mình, hơn là chờ đợi được hoàn hảo để giúp đỡ những người khác. Khi giúp đỡ họ, người ta cũng tự giúp đỡ chính mình, và dù cho người ta lầm lẫn, người ta cũng có thể rút ra những bài học để tự cải thiện. Đặt sự thực hành của bạn trên ý tưởng rằng bạn sẵn sàng giúp đỡ mọi người nào cần đến bạn và làm tất cả những gì bạn có thể làm được trong chiều hướng đó tốt hơn là nói với những người khác : “Tôi rất thích giúp các bạn, nhưng tôi còn chưa hoàn toàn sẵn sàng.”

Câu hỏi : Đâu là sự khác biệt hay là mối tương quan, giữa trị liệuthiền định ?

Trả lời : Không có sự khác biệt giữa chữa lành và thiền định. Trị liệu muốn nói đến điều trị, chăm sóc, chữa lành, và cũng phòng ngừa những bệnh tật, những mất quân bình. Chúng ta hãy lấy một thí dụ đơn giản để phác họa : nếu bạn làm đứt tay và bạn dán miếng băng lên đó, thì ấy là một trị liệu vật lý ; nếu đồng thời bạn lợi dụng điều đó để học không tự làm đứt tay một lần nữa, điều này thuộc về phương diện tâm thức của sự trị liệu. Mọi sự trị liệu liên hệ với phương diện tâm thức đều liên kết với thiền định.

Câu hỏi : Thế có phải muốn nói rằng, khi người ta biết thiền định đúng, tức là người ta đang làm trị liệu bằng cách thiền định ?

Trả lời : Vâng, đúng thế. Nhưng điều đó cũng áp dụng cho những việc khác : ăn, ngủ, mặc quần áo, và thư giãn, tất cả những cái đó tham gia vào sự trị liệu theo nghĩa rộng – mọi cái đáp ứng đầy đủ cho những nhu cầu của chúng ta.

Câu hỏi : “Có lòng bi” hiểu cho đúng là thế nào ?

Trả lời : Theo tôi, có lòng bi nghĩa là bao gồm tất cả mọi người vào trong cuộc đời của bạn. Để được như vậy phải hiểu rằng tất cả chúng ta không trừ một ai đều đi tìm hạnh phúc và đều tránh đau khổbất hạnh. Phiền não, đó là do vô minh của chúng ta về bản tánh đích thực của những sự vật mà người ta không thể tìm thấy hạnh phúc, trong khi người ta không ngừng có những khổ nhọc và khó khăn đủ mọi loại. Lòng bi, đó là tình thươngđiều kiện. Đó là ý chí giúp đỡ bất kỳ ai cần sự giúp đỡ của bạn, và với cùng một chăm sóc ân cần cho tất cả : người mà bạn giúp đỡ có thể là hữu ích cho bạn hay thậm chí giận dữ, hung bạo với bạn, hay tố cáo bạn những việc bạn không hề làm – tất cả chẳng thay đổi gì được ý chí muốn giúp đỡ họ. Ngược lại, những phản ứng như vậy chỉ làm cho ý chí đó mạnh thêm. Người ta không chờ đợi cái gì cho mình, không mong chờ một kết quả nào. Và nếu một tình cờ bi thảm khiến người ta ngồi tù vì điều người ta đã giúp đỡ một ai đó, lòng bi sẽ đưa đến sự vui mừng đã có thể mang lấy gánh nặng của người khác, đổi lấy hạnh phúc của mình. Thế đó là lòng bi thật sự, cái cho đi tất cả mà không chờ đền đáp.

Câu hỏi : Thầy đã nói có một lúc mà, nếu người ta thực hành đúng đắn những bài thực tập, người ta có thể tự nhủ người ta đang đi trong chiều hướng đúng. Thầy nghĩ điều đó như thế nào ? Có những dấu hiệu cho phép người ta đánh giá những tiến bộ của mình không ?

Trả lời : Tôi nghĩ rằng nếu bạn nhận thấy rằng khi thực hành những bài thực tập bạn đến chỗ sống những biến cố hàng ngày tốt hơn và đối mặt với chúng tương xứng hơn, đó là có một tiến bộ nào đấy. Nếu thực hành đúng đắn những bài thực tập, người ta sẽ có ít khuynh hướng tự tạo ra những vấn đề và tự đặt mình trong những tình huống khó khăn. Người ta sẽ phát triển cái tốt nhất của chính mình để trở thành một con người xứng đáng với danh từ này.


CHƯƠNG TRÌNH LÀM VIỆC

Đây là vài chỉ dẫn cụ thể sẽ cho bạn một ý tưởng về thời gian cần thiết để trải qua mỗi một thực tập, để bạn có thể tổ chức công việc của bạn.

Những điểm sơ khởi :

Chúng ta hãy nhấn mạnh một lần nữa vào sự quan trọng cần theo THứ Tự những bài tập và chỉ đi qua cái tiếp theo sau khi đã làm xong thời gian “học nghề” dự kiến cho mỗi bài.

THờI GIAN NHữNG THờI THựC HÀNH tùy thuộc vào sự mong muốn của người ta muốn thực sự rút ra lợi lạc tối đa của những thực tập. Chẳng hạn nếu người ta quá bận và chỉ có nửa giờ một ngày cho chúng hay là có thời gian nhưng người ta không cảm thấy có thể tự bó buộc để theo trọn vẹn chương trình được yêu cầu thì làm sao ? Tốt hơn là chẳng làm gì cả ? Thật ra, mọi nỗ lực đều khó nhọc : cốt yếu là bạn tự định một thời khóa làm việc hàng ngày kéo dài bao lâu, theo những bổn phận bắt buộc của bạn, và giữ như vậy. Có lợi lạc hơn nhiều khi thực hành nửa giờ mỗi ngày, đều đặn, hơn là một giờ lúc này, hai giờ lúc khác. Chính sự liên tục của nỗ lực là điều quan trọng.

Lúc ban đầu, có lẽ người ta thích làm hai thời ngắn hơn là một thời dài ; điều đó không thành vấn đề, miễn là đều đặn.

Thời gian tổng thể để thực hành một thực tập – vài ngày, một tuần hay hơn nữa – là một TốI THIểU theo chỉ định ; người ta không được gì cả nếu muốn đi qua quá nhanh đến bài thực tập tiếp theo.

Lịch và thời gian tối thiểu
thực hành những bài thực tập

1. TƯ THế : vài phút trước khi bắt đầu mỗi thời làm việc. Tùy ý theo nhu cầu.
2. THƯ GIÃN (BUÔNG Xả) : một phần tư giờ, trước mỗi thời. Tiếp theo, tùy ý theo nhu cầu.
3. CảM NHậN : 1 tuần, một thời một giờ mỗi ngày.
4. Tự Mở MÌNH RA : 3 ngày, một thời 20 phút mỗi ngày. Tiếp theo, tùy ý, khi nào người ta cảm thấy quá co rút.
5. CầU VồNG : 1 tuần, một giờ mỗi ngày.
6. TấM GƯƠNG :
Phần đầu – 1 tuần là tối thiểu ; 15-20 phút một hoặc hai lần mỗi ngày.
Phần hai – 3 hay 4 tuần ; 15-20 phút mỗi ngày.
7. BạN : 3 đến 4 tuần ; 45 phút mỗi ngày.
8. ĐứC PHậT BÊN TRONG : 1 tuần ; một thời một giờ bốn mươi lăm phút mỗi ngày.
9. LÀM SốNG ĐộNG ĐứC PHậT BÊN TRONG : 4 tuần ; một thời một giờ mười lăm phút mỗi ngày.
10. TRIểN Nở, THU RÚT : 3 tuần ; một giờ mỗi ngày.
11. Kẻ THÙ : 4 tuần ; một giờ hai mươi phút mỗi ngày.
12. NHậN TRÊN CHÍNH MÌNH Sự KHổ ĐAU CủA CHA MẹGIA ĐÌNH : 2 tuần ; một giờ mười lăm phút mỗi ngày.
13. NHậN TRÊN CHÍNH MÌNH Sự KHổ ĐAU CủA Xứ Sở MÌNH, NHữNG BạN BÈ VÀ THÚ VậT : 2 tuần ; một giờ mười lăm phút mỗi ngày.
14. NHậN TRÊN CHÍNH MÌNH Sự KHổ ĐAU CủA NHữNG Kẻ THÙ CủA MÌNH : 4 tuần ; một giờ rưỡi mỗi ngày.
15. KHốI CầU CầU VồNG : 6 tuần tất cả ; một giờ mỗi ngày trong một tuần, cho mỗi màu.
16. LÒNG BI VŨ TRụ : 4 tuần ; nửa giờ mỗi ngày.
 
 


Bài Thực Tập số 1
TƯ THẾ


Bạn đã quyết định học điều phục con cọp bên trong, để tìm thấy bình an trong chính bạn. Đây là vài chuẩn bị thực tiễn để cho bạn dễ dàng trong khi tập sự những thực tập : cần xác định nơi chốn và tư thế mà bạn sắp sử dụng.

Chọn một nơi thích hợp

Nơi ở là đặc biệt quan trọng với người mới học. Phải ở một nơi tương đối yên tĩnh, xa tiếng ồn, những chuyện vãn, và tổng quát hơn là xa mọi thứ có thể làm cho bạn nhiều xao lãng.

Người ta có thể ở ngoài trời, hay ở một chỗ yên tĩnh khác – một khu vườn. Những “tiếng ồn” tự nhiên như nước chảy hay chim hót không thành vấn đề, hơn nữa chúng còn thường làm thư giãn. Nếu có dịp, đặc biệt tốt khi ngồi trên đỉnh một ngọn đồi hay một chỗ bao quát cảnh vật, hay bên bờ biển, nếu không có nhiều thứ làm xao lãng ở chung quanh.

Nếu ở trong nhà, phải tìm một nơi yên tĩnh, nghĩa là một góc không bị quấy rầy bởi mọi loại làm bạn xao lãng (điện thoại, người nói chuyện, TV, radio hay âm nhạc). Chỗ ngồi phải thông thoáng và không nóng. Nói chung, một chỗ ngồi hơi nóng một chút hơn là quá nóng, để tâm thức không ngủ gật và cảnh tỉnh.

Một tư thế tốt


thế thân thể có một ảnh hưởng thật sự với chúng ta, trong mọi thời khắc của đời sống, hẳn thế, nhưng còn hơn nữa trong thực tập thiền định. Tư thế có thể làm thuận tiện hay ngược lại làm khó khăn cho hơi thở, sự tuần hoàn của máu và những năng lực thần kinh trong thân thể ; nó ảnh hưởng cách tích cực hay tiêu cực lên tình trạng những cơ quan của chúng ta. Y học Tây Tạng và y học Trung Hoa chứng tỏ rõ ràng thân thể chúng ta có một mạng kinh mạch tinh vi như thế nào, chúng vận chuyển năng lực qua toàn thân và những bộ phận khác nhau. Chính trên nguyên lý này đã lập nên khoa châm cứu và những kỹ thuật xoa bóp ; chúng cho phép chữa trị một số bệnh bằng cách tái lập những quân bình năng lực qua trung gian một số điểm năng lực ở những chỗ khác nhau của những đường kinh mạch. Thế nên tư thế ngồi là quan trọng, để cho không ngăn chặn sự lưu thông tự do của năng lực – gồm cả năng lực tinh tấn – trong thân thể.

Nếu ngồi tốt, những năng lực sẽ có thể di chuyển tự do trong thân thể và người ta không cảm thấy khó chịu hay không thoải mái. Điều này không chỉ nói đến một sự không thoải mái thân thể – người nào cũng biết tê rần như kiến chạy trong chân – mà cả tâm thức : nếu những năng lực (khí) không lưu chuyển tốt trong thân, người ta có thể cảm thấy khó chịu, bải hoải và mất quân bình, dễ bị kích động...

Nếu có thể, người ta được yêu cầu ngồi xếp bằng, tốt nhất trong tư thế hoa sen hay nửa hoa sen (kiết già hay bán già), (hình 1 và 2). Nếu không thể, vì đôi chân quá cứng hay những vấn đề sức khỏe riêng biệt, không phải khó nhọc tự làm đau đớn

khi vặn vẹo bằng bất cứ giá nào : người ta cũng có thể học ngồi đúng trên một cái ghế (hình 3). Nếu người ta còn trẻ và không có trở ngại đặc biệt, cần cố gắng vượt qua những đau đớn ban đầu và học một trong các tư thế này.

Dù ngồi thế hoa sen hay nửa hoa sen, phải luôn luôn xếp chân trái vào trước, chân phải đặt lên chân trái. Rồi điều quan trọng nhất : thẳng lưng lên để cho tạo thành một đường thẳng từ đáy xương sống đến ót. Thật vậy, chính trong lưng mà tất cả mạng thần kinh làm các bộ phận thông thương với bộ óc, và nếu thẳng lưng, những năng lực thần kinh sẽ lưu chuyển quân bình trong toàn thân. Để ngồi tốt, phải cảm thấy quân bình, vai thẳng mà vẫn thư giãn, không ép về phía sau và không có cái này cao hơn cái kia.

Một cái gối đệm là một phụ tùng quan trọng cho tư thế và nó giúp giữ lưng thẳng : người ta sẽ chọn một khối đệm vuông khá cứng, khoảng bốn mươi phân mỗi cạnh và dày từ sáu đến mười hai phân. Thế nghĩa là tùy mỗi người tìm thấy bề dày thích hợp nhất cho mình, theo hình thể và tư thế của mình. Nếu ngồi theo thế hoa sen, tốt hơn là dùng một gối đệm hơi dày hơn – khoảng mười hai phân.

Nếu thế hoa sen hay nửa hoa sen tạo ra nhiều vấn đề, người ta có thể ngồi trên ghế như nói ở trên hay quỳ gối, đùi hơi xa nhau, ngồi trên một ghế đẩu thấp hay trên nhiều đệm chất lên cho đủ chiều cao, để giữ lưng thẳng.

Về hai tay có hai tư thế để chọn. Người ta có thể chỉ đặt chúng duỗi thẳng nghỉ ngơi, bàn tay úp trên đùi, hai cùi chỏ hơi mở (hình 3 và 4). Hay tay này đặt trên tay kia, phía trước, nhẹ nhàng được đặt trên chân đã xếp : đặt bàn tay trái lên trước, lưng bàn tay trên chân, lòng bàn tay hướng về phía mình và những ngón tay hơi cong về phía trên, thành hình như cái lò luyện vàng bạc. Rồi đặt bàn tay phải lên, tư thế giống như bàn tay trái, và nối đầu hai ngón cái lại (như hình 1). Cần giữ hai tay mềm mại và thư giãn : không dựa lên với sức mạnh – trên đùi hay tay này trên tay kia hay những ngón tay cái – mà để chúng ở tư thế đó với nhiều thư giãn và tự nhiên càng tốt, điều không khó khăn khi đã quen.

Khi lưng thẳng và hai tay thư giãn, người ta hoàn thành tư thế bằng cách nghiêng nhẹ ót về phía trước, như thế hơi kéo cằm vào trong cổ. Người ta để miệng hơi mở, lưỡi ở trên nóc họng ; người ta có thể thở cả bằng mũi và bằng miệng, theo cách thích hợp với mình. Về phần mắt, thích hợp là mở cả hai mắt, trừ khi dành cho những quán tưởng, vì nếu quán tưởngmở mắt thì hơi khó, nhất là đối với người mới học. Người ta cố định cái nhìn trước mặt, ngay tầm lỗ mũi, trên một điểm khoảng nửa thước đến hai thước. Không phải tập trung cái nhìn để thấy một cái gì, mà để nó ở đó, trước mặt, không cố gắng nhìn thấy. Nếu bạn thường mang kính, hãy gỡ nó ra.

Một tư thế đúng là một sự quân bình giữa nỗ lựcbuông xả, để tạo những điều kiện tốt nhất cho sự an định tâm thức. Không nên quá căng thẳng, cũng không quá thả lỏng. Nếu người ta cảm thấy một sự chống cự tự thân mạnh mẽ đối với tư thế, hay một căng thẳng quá độ, người ta có thể làm ba bài thực tập đầu trong tư thế nằm dài, ngửa lưng (hình 6). Như đối với thế ngồi, cốt yếu là lưng thẳng. Để cho ót thẳng hàng với xương sống, cũng phải hơi kéo cằm vào : người ta có thể dùng một cuốn sách, một cái gối hay mền xếp dưới đầu. Nếu có đau đớn trong phần dưới lưng, tốt hơn hãy nâng đùi lên một chút với những cái gối để loại trừ sự không thoải mái trong vùng thắt lưng (hình 5). Tuy nhiên, nên xem tư thế nằm này như một sự sửa chữa tạm thời, và khi bạn đã quen với những thực tập, hãy cố gắng tìm ra một tư thế ngồi thoải mái.


Bài Thực Tập số 2
THƯ GIÃN


Hai thực tập thư giãn này được đặt nền trên hơi thở và dùng để thư giãn trước mỗi thời ngồi thiền. Người ta có thể chọn lựa sự chuyển thể này hay chuyển thể kia của thực tập, tùy theo sở thích.

Quan trọng là thở tự nhiên, không ép buộc. Hơi thở vào có thể sâu hơn và dài hơn bình thường, nếu điều đó tự nhiên. Nhịp điệu của chu kỳ hơi thở của mỗi chuyển thể của thực tập có thể phù hợp với trạng thái tâm thức đang có : người ta có thể thở hơi nhanh nếu cảm thấy đau hay bị những xúc cảm mạnh mẽ, hay trái lại chậm hơn nếu cảm thấy tĩnh lặng và thư giãn.

Nếu bạn khó buông lỏng trong bài tập thở này, hay bất kỳ bài tập nào khác, hãy nằm dài ra một lát và để cho những tư tưởng và những tình cảm của bạn đến đi tùy ý – mọi thứ đi qua trong đầu bạn. Tiếp theo, thử làm lại thực tập thở bằng cách kém thúc ép hơn trước.

Chuyển thể thứ nhất :
Thực tập gồm thở trong ba giai đoạn bằng nhau :

1. Hãy thở vào tận cùng khi đếm đến năm.

Thật ra, con số năm chỉ để biểu thị và bạn có thể giảm hoặc tăng một chút để cho nó trùng hợp với nhịp điệu thở tự nhiên của bạn lúc đó ; chỉ cần con số như nhau trong ba giai đoạn thở.

2. Giữ hơi thở của bạn lại và đếm đến năm.

3. Thở ra (đếm đến năm) bằng miệng, vì nhờ vậy mà người ta làm hết những căng thẳng một cách tốt nhất. Khi thở ra hãy tưởng tượng bạn thoát khỏi mọi căng thẳng, như bạn đổ trống một bình chứa đầy nước tù đọng, và hãy để tâm thức đến và đi tùy theo ý nó.

Chớ chú ý thời gian dừng vào cuối hơi thở ra ; hãy tiếp nối tức thì hơi thở vào tiếp theo.

• Hãy lập lại toàn bộ thực tập ba hay bốn lần.

Chuyển thể thứ hai :

Ở đây một hơi thở ra và một hơi thở vào tính là một chu kỳ và bài tập cốt ở đếm thầm trong trí hai mươi mốt chu kỳ thở.

1. Hãy thở ra bằng miệng, hơi dài hơn bình thường, và hãy nghỉ một chút trước khi tiếp tục thở vào.

2. Thở vào bằng mũi, chậm và sâu hơn bình thường. Hãy nghỉ trước khi thở ra, vừa đếm “MộT” cho chu kỳ đầu tiên.

• Hãy lập lại chu kỳ hai mươi mốt lần, mỗi lần mỗi đếm. Nếu bạn đếm lộn, hãy bắt đầu lại từ đầu.

Hãy chọn phương pháp thích hợp hơn cho bạn và thực hành nó trong ít ra là BốN NGÀY trước khi đi vào những bài thực tập. Sau đó, nên bắt đầu một cách có hệ thống mỗi thời thiền bằng một thư giãn ngắn ; người ta cũng có thể dùng thực tập thở này để buông lỏng khi người ta cảm thấy hơi bị căng, trong khi thực hiện một bài tập khác hay vào mọi lúc khác của đời sống hàng ngày.


Bài Thực Tập số 3
CẢM NHẬN


Thực tập nhằm để hòa giải với một trong những sự kiện sơ đẳng nhất của đời sống chúng ta : cái người ta cảm nhận, ở mức độ vật lý cũng như mức độ tình cảm. Một trong những kết quả đáng giá của sự quan sát những cảm giác thân thể là cảm thức thư giãn sâu xa do nó mang lại. Nhưng điều đó đi xa hơn nhiều so với một thực tập thư giãn đơn giản : sự kiện đơn giản nhìn thẳng vào những sự việc rất cá nhânbình thường người ta thích che dấu sẽ cho phép thanh toán một số lo ngại vẩn vơ và những căng thẳng nối kết với nỗi sợ hãi giáp mặt với thực tế – một thực tế thường tỏ ra rất đơn giản hơn nhiều so với ý tưởng đáng sợ mà người ta đã tự tạo. Người ta học nhận diện rất chính xác mọi cái người ta cảm nhận và học tiếp nhận tất cả cấp độ màu sắc những cảm giác và tình cảm được quan sát – từ những cái rất dễ chịu đến những cái rất khó chịu. Chính sự học tập nhận biếttiếp nhận cái trải nghiệm bên trong này sẽ dùng làm nền tảng cho sự thực hiện mục tiêu chính yếu của sự chữa trị này : đối mặt với những sự vật và những con người, như chúng tự trình diện với chúng ta trong cuộc sống hàng ngày.

Người ta thường có nhiều khuynh hướng lựa chọn điều người ta cảm nhận : chạy theo những cảm giác dễ chịu, vật lý hay tâm lý, và cố gắng tránh khỏi cái gì khó chịu với mình. Đến mức độ người ta có thể bị khổ đau hay khó nhọc xâm chiếm khi người ta không thấy và hiểu rằng khổ đau không phải là cái gì cứng chắc và bất biến, rằng nó cũng như mọi cảm giác khác, không phải là sự kiện cố định mà là một thủy triều của kinh nghiệm thường trực biến đổichuyển hóatiếp nối với những cái trung tính hay tích cực. Ở đó người ta chạm đến sự biểu lộ của vô thường ở mức độ tinh visâu xa của kinh nghiệm, một sự thực mà người ta sẽ khám phá càng lúc càng rõ hơn khi thực hành thực tập này. Điều đó sẽ cho phép chúng ta thu hoạch dần dần một thái độ thư giãn hơn đối với những tình cảm và cảm giác của chúng ta.

Mô tả thực tập

1. Sắp đặt

Hãy ngồi thẳng lưng, hay nằm duỗi dài, và ý thức sự xúc chạm của thân thể bạn với đệm ngồi, hay mặt đất. Hãy cảm thấy rõ ràng tất cả những điểm tiếp xúc và những khác biệt về cường độ tựa vào, từ một chỗ này đến chỗ khác. Hãy nhận xét những cử động thở biến đổi rất nhẹ áp lực trên những điểm tiếp xúc khác nhau giữa thân thể và những điểm tựa như thế nào. Khi bạn đã ý thức những cảm giác này tác động lên thân thể đang ngồi hay nằm của bạn, bạn có thể qua giai đoạn tiếp theo, đi vào một phân tích chi tiết hơn.

2. Phân tích chi tiết những cảm giác thân thể

A. Từ thấp lên cao

Hãy quan sát những cảm giác bạn cảm thấy trong ngón chân cái. Nếu bạn không thấy có gì đặc biệt, hãy đơn giản cảm nghiệm nó và đi qua những ngón kế tiếp khi ghi nhận điều bạn cảm thấy trong hai chân.

Di chuyển sự chú ý của bạn dần dần từ những ngón chân đến tất cả bàn chân và hãy chú ý vào sự khác biệt cảm giác nhỏ nhất mà bạn có thể quan sát được từ một điểm khác, dần lên khắp bàn chân : một cảm giác lạnh, nóng, nặng, nhẹ, nhột, trọng lượng, bồng bềnh v.v... Ghi nhận điều bạn cảm thấy mà không có những bình luận gì.

Hãy tiếp tục di chuyển sự chú ý của bạn lên đùi và đến háng, vừa hoàn toàn ý thức điều bạn cảm nhận. Tiếp theo qua tay, bắt đầu từ những ngón tay ; đi lên từ bàn tay và cánh tay cho đến vai. Dẫn sự chú ý của bạn xuống cuối xương sống và đi lên rất nhẹ nhàng, từng đốt từng đốt ; hãy nhận xét dần dần mọi điều bạn cảm thấy, trong lưng và phần thân. Hãy lưu ý những cảm giác liên kết với một vài bộ phận và với chuyển động thở. Trong mức độ có thể, hãy bằng lòng nhận xét những cảm giác của bạn, không phân tích, giải thích hay ghi chép chúng.

Khi bạn đến ót, tiếp tục di chuyển sự chú ý của bạn qua cổ và yết hầu – cảm thấy cả ngoài lẫn trong – và đến miệng. Rồi khám phá mỗi chi tiết của mặt và đầu – bên trong và bên ngoài – và chấm dứt bằng cách để sự chú ý của bạn nghỉ ngơi nơi trung tâm đỉnh đầu.

B. Về phía dưới

Lần này, người ta làm lại cuộc du lịch theo chiều ngược lại, nhưng nhanh hơn nhiều. Hãy tưởng tượng thân thể bạn là một loại bình chứa đầy nước, và bạn mở những nút ở dưới bàn chân. Hãy theo dõi sự hạ thấp mực nước đang chảy ra và ghi nhận những cảm giác của bạn về mỗi mức nước trong khi lưu ý điều bạn cảm thấy một cách toàn bộ mà không phải trong chi tiết về mỗi phần thân thể nước rút qua. Khi bạn xuống đến những ngón chân, hãy dẫn sự chú ý vào chuyển động tự nhiên của hơi thở đối với toàn bộ thân thể.

Phần còn lại của thời thiền để chỉ quan sát những chuyển động của hơi thở, mà vẫn rất thư giãn và không ép buộc sự chú ý. Hãy chấm dứt bài thực tập bằng cách duỗi hết toàn thân.

• Quan trọng : Hai thời của bài tập bổ túc lẫn nhau : chớ quên phần hai – sự đi xuống trở lại từ đầu đến chân. Dầu có thích một trong hai thời hơn, thì cả hai tạo thành một tổng thể và phải được thực hiện như vậy.

Câu hỏi : Nên làm gì khi trong thực tập, người ta gặp những cảm giác rất khó chịu, không thể bỏ qua được, và người ta không thể tiếp tục như không có gì xảy ra ?

Trả lời : Chắc chắn tốt hơn là làm lại một ít thư giãn hơn là muốn bằng mọi giá qua bài tập kế tiếp. Tuy nhiên, nếu những cảm giác khó chịu ấy kéo dài, thậm chí sau nhiều tháng thực hành, có lẽ phải đối diện bằng cách nắm sừng con bò mộng : chấp nhận sự có mặt của những cảm giác ấy và nhìn thẳng vào chúng.

Câu hỏi : Khi thầy nói “làm lại sự thư giãn”, có phải đó có nghĩa là một trong những thực tập hơi thở ?

Trả lời : Tôi nghĩ rằng bạn chỉ cần tự thư giãn, buông lỏng một lúc, thời gian để cho những cảm giác của bạn tan biến. Hãy thử không nghĩ gì khác đặc biệt, không loay hoay bực bội.

Câu hỏi : Khi tôi thực tập bài này, tôi không thể gỡ sự chú ý của tôi khỏi chỗ nó đã ở. Phải làm sao ?

Trả lời : Có lẽ bạn đã tự tạo một ý tưởng quá cứng đặc hay quá nặng nề về cái bạn tưởng tượng khi thực tập, hay bạn đã cung cấp một cố gắng không hợp cỡ cho việc cần làm. Đôi khi, một cái vít không vào trong lỗ, đó là vì nó lớn quá, phải cần cái nhỏ hơn. Có lẽ bạn cần làm nhẹ nhàng hơn...

Câu hỏi : Nếu những cảm giác tôi thể nghiệm làm nổi dậy mọi loại tình cảm và kỷ niệm không ngừng trở lại, phải xem xét và phân tích chúng hay chỉ chú ý vào những cảm giác mà thôi ?

Trả lời : Bạn hãy cố gắng quan tâm vào những cảm giác và không chú ý quá vào điều gì chúng gây ra trong bạn.

Câu hỏi : Khi làm thực tập này, tôi đã khám phá ra những cảm giác tôi chưa hề cảm thấy. Đó có phải chỉ là kết quả của sự tưởng tượng của tôi không ?

Trả lời : Không nhất thiết. Có lẽ những cảm giác ấy đã có ở trong đó, trong bạn từ lâu, nhưng bây giờ bạn mới ý thức. Bạn bắt đầu thấy chúng rõ ràng hơn một chút.


Bài Thực Tập số 4
TỰ MỞ MÌNH RA


Bài tập này nhằm giúp bạn nuôi dưỡng một thái độ mở rộng với những người khác, và sửa soạn cho bạn giúp đỡ họ tốt hơn. Sự phát triển cá nhân của bạn không phải là một cái gì trừu tượng xảy ra ngoài dòng sống hàng ngày của bạn ; trái lại nó tự nuôi dưỡng bằng tất cả những gì đến với bạn mỗi ngày và bằng mọi thứ xảy ra trong bạn. Vậy bạn hãy chấp nhận toàn khối chất liệu nguyên sơ này. Hãy quan sát những tư tưởng của bạn, những tình cảm và cảm giác của bạn, và hãy để chúng đến và đi tự do, không phân biệt cũng không kiểm duyệt.

Thực tập này cũng rất ích lợi để thực hành sự thư giãn, trong mức độ người ta học tự để cho những tư tưởng hay tình cảm đến một cách trọn vẹn, không tìm cách giữ lại hay kiểm soát, dù chúng có dữ dội hay hủy hoại thế nào. Thực ra chúng là những chất liệu cần thiết cho sự phát triển lòng bi, và để cho điều này, không có gì tốt nhất so với những cái khác : chúng đều có cùng giá trị và cùng sự ích dụng trực tiếp như nhau. Vậy thì đó là phương tiện tuyệt hảo để giải thoát khỏi những tình cảm mà người ta đã dồn nén hay kềm giữ trong mình.

Mô tả thực tập

Chuẩn bị

Hãy dành một chốc lát ý thức về những cảm giác thân thể của bạn, toàn bộtự nhiên, không theo một lộ trình cố định và chi tiết như trong thực tập trước. Để bắt đầu, hãy ghi nhận những tư tưởng và những tình cảm mà những cảm giác khác nhau này gây ra nơi bạn, rồi hãy quan sát mọi cái tự trình diện với tâm thức bạn : tư tưởng, ý tưởng, cảm giác, xúc động. Hãy để chúng đến và đi tự do, không chọn lọc hay chối bỏ bất cứ cái gì. Chớ nghi ngờ rằng bạn đang có ở đó chất liệu ban đầu cho sự phát triển cá nhân của bạn và rằng tất cả đều ích lợi.

Quán tưởng

Bài thực tập này phối hợp sự quán tưởng một hình ảnh – sự hình dung của tâm thức về một hình ảnh – với hơi thở của bạn, ở đây sự nhấn mạnh đặt vào thời gian thở ra.

Hãy tưởng tượng sự bao la của không gian trước mặt bạn. Tiếp theo hình dung một cái cửa lớn mở rộng ra không gian. Hãy tưởng tượng khi bạn thở ra, mọi tư tưởng, tình cảm và cảm giác trút ra khỏi bạn và tạo thành một dòng chảy lớn và liên tục. Khi dòng này đi qua cửa lớn, hãy cảm thấy dòng chảy biến thành ánh sáng chói lọi mặc dầu hình thức hay bản chất ban đầu của những tư tưởng và những yếu tố kinh nghiệm khác tạo thành dòng chảy có thế nào. Mọi cái biến thành ánh sáng chói lọi, tượng trưng lòng bi vũ trụ, tuôn trên tất cả cái gì đang sống trong vũ trụ. Hãy cảm thấy ánh sáng chói lọi này của lòng bi đem đến cho mỗi chúng sanh khắp trong vũ trụ điều mà nó muốn và nó cần.

Dần dần, tất cả không gian tràn đầy ánh sáng chói lọi, đến độ không còn ai trong thế giới ở ngoài ảnh hưởng của lòng bi vũ trụ. Điều này rõ ràng cũng áp dụng cho chính bạn : bạn hãy thâm nhập vào cảm thức rằng ánh sáng chói lọi mang lại cái mà bạn muốn.

Nếu bạn không thể hình dung rõ ràng ánh sáng chói lọi và giữ hình ảnh của nó trong tâm thức, điều đó không trầm trọng. Quan trọng là cảm nhận nó, cảm nhận rằng mọi cái trong bạn đã thực sự chuyển hóa thành ánh sáng chói lọi tuôn trào lên toàn bộ vũ trụ.

Dù cường độ hay sự dữ dội nhất thời của những tình cảm của bạn có thế nào, chớ sợ hãi ; chớ đè nén chúng vì chúng cấu thành chất liệu ban sơ của lòng bi. Hãy đặc biệt nghĩ đến những người đang khổ đau vì những tình cảm tương tự.

• Hãy thực hành bài tập này trong ba ngày, một thời hai mươi phút mỗi ngày.

Ngoài ba ngày dành cho thực tập này trong khuôn khổ toàn bộ chương trình, bạn có thể luôn luôn làm nó vào bất kỳ lúc nào, ngay khi bạn hơi cảm thấy căng thẳng. Bạn cũng có thể trở lại với nó một hay hai ngày nếu bạn có vài khó khăn hay căng thẳng đặc biệt khi bạn thực hành một trong những bài tập về sau.

Chớ ngần ngại mà không dùng nó vào mọi lúc của đời sống hàng ngày, dù chỉ vài phút, khi bạn cảm thấy bức bách, căng thẳng, hay lo âu bởi những khó khăn đặc biệt.

Câu hỏi : Khi người ta thở ra và mọi thứ đi ra qua cái cửa lớn, cửa vẫn mở hay đóng lại mỗi khi thở vào ?

Trả lời : Trên nguyên tắc, nó vẫn mở, nhưng không bắt buộc cấm tưởng tượng cái cửa mở khi thở ra và đóng khi thở vào.

Câu hỏi : Nếu người ta chỉ tập chú vào hơi thở ra, những tư tưởng và tình cảm có tiếp tục đi ra qua cánh cửa lớn trong thời gian thở vào không ?

Trả lời : Vâng, điều đó tiếp tục (dầu người ta có tập trung vào điều đó hay không).

Câu hỏi : Có thể thay vì quán tưởng cái cửa lớn trước mặt tôi trong không gian, tôi lại tưởng tượng chính tôi là cánh cửa lớn ấy ?

Trả lời : Điều đó không đặt thành vấn đề.

Câu hỏi : Có phải người ta cũng đi theo bằng tâm thức hành trình của ánh sáng và tưởng tượng rằng những người đang đau khổ nhận được cái mà họ cần ?

Trả lời : Hẳn nhiên. Bạn có thể tưởng tượng bạn gởi ánh sáng một cách tổng quát cho tất cả những ai đang khổ đau, hay riêng biệt cho một hoặc nhiều người nào đó.

Câu hỏi : Người ta có thể dùng thực tập này để làm việc hầu cải thiện vài quan hệ cá nhân khó khăn không ? Chẳng hạn, nếu có người nào có khuynh hướng đối xử với tôi như tôi luôn luôn sai lầm, có ích lợi khi tôi tưởng tượng rằng tất cả sự tức giận và ác cảm của tôi đi ra qua cái cửa lớn và chuyển hóa thành ánh sáng chói lọi của lòng bi, nó giúp đỡ người này tự cảm thấy tốt hơn và không luôn luôn thù ghét tôi nữa ?

Trả lời : Điều đó có thể thực sự ích lợi.

Câu hỏi : Khi những tình cảm đổ về cái cửa lớn, người ta có tưởng tượng chúng trong những hình dạng đặc biệt, hơi giống như một khúc phim trong đầu hay như khói không ? Hay chỉ cảm nhận chúng mà thôi ?

Trả lời : Tôi không tin rằng bạn cần phải tưởng tượng khói – vấn đề chỉ là cảm nhận những sự vật.


Bài Thực Tập số 5
CẦU VỒNG


Trong những thực tập trước, người ta đã làm việc trên tâm thức nhờ những đối tượng “bên trong”, như hơi thở, những cảm giác và một quán tưởng phát sinh của lòng bi. Với “Cầu vồng”, người ta sắp tập trung trên những đối tượng “bên ngoài” mình, và cố gắng tri giác bản tánh thật sự của chúng. Những đối tượng này có thể thuộc về một trong ba phạm trù sau đây :

• những đối tượng có giá trị (như một đá quý) ;
• những đối tượng không có giá trị buôn bán và không thuộc về chúng ta (như một viên sỏi hay một cọng cỏ) ;
• những đối tượng thuộc về chúng ta, có giá trị hay không (tất cả mọi thứ người ta quan niệm “thuộc về tôi” hay “thuộc về chúng ta”).

Thực tập này có một mục tiêu phân ba :

1. Làm cho chúng ta khám phá khuynh hướng của tâm thức bám chặt vào những đối tượng và hiển lộ cho chúng ta thấy sự bám luyến này ngăn cản chúng ta thấy những sự vật đúng như chúng là.

2. Làm cho chúng ta ý thức về vô thường, sự không có tính “cứng đặc” của mọi vật bao quanh ta, ngay cả với những vật có vẻ cứng đặc nhất và bất động nhất.

3. Làm cho chúng ta thoát khỏi ý kiến sai lầm – của rất nhiều người – rằng chúng ta không thể “quán tưởng”, nghĩa là tưởng tượng về những sự vật, không thể tự tạo một hình dung thuộc tâm thức. Ở đây, đối tượng ở trước mặt chúng ta, thường trực trong tầm nhìn, đến độ người ta không có cảm tưởng phải ép buộc nhiều để tưởng tượng ra nó. Thực tập này là một tiếp cận đầu tiên với sự “quán tưởng”. Quán tưởng, là làm ra một hình ảnh thuộc tâm thức rõ rànghiện thực một cái gì, nhưng đồng thời hình ảnh đó sáng rỡ và không thể sờ nắm, như một cầu vồng. Chúng ta sẽ trở lại với nó chi tiết hơn trong dịp thực hành bài số 8. Lúc này, người ta học tự tạo một hình ảnh tâm thức của một đối tượng, rồi tiếp theo để cho nó tan biến, một cách rất tự nhiên.

Mô tả thực tập

Thực tập này dạy bạn chuyển hóa bằng tâm thức một vật gì thành cầu vồng. Vậy hãy lấy một đồ vật gì của bạn, không có giá trị nhiều lắm, và đặt nó trước mặt bạn, thế nào cho bạn có thể thấy nó trọn vẹn. Hãy nhìn nó và nghĩ đến trong một lát giá trị nó có đối với bạn. Tiếp theo, vẫn để mắt mở, hãy tưởng tượng trước mặt bạn một phiên bản đúng của đồ vật này, bên cạnh nguyên bản. Rồi tưởng tượng bạn đập vỡ nó, biến nó thành từng mảnh càng lúc càng nhỏ, và cuối cùng thành bụi. Những phần tử còn lại nhỏ, tinh vi đến độ người ta khó thấy chúng.

Hãy tưởng tượng rằng bạn gom tất cả những hạt bụi đó lại, không mất một hạt nào, bấy giờ tự hỏi : “Đồ vật đối tượng ấy đâu rồi ? Mới cách đây vài khoảnh khắc, có một đồ vật ấy ở đó, với một tên và một giá trị riêng. Đồ vật đó đã đi đâu, cả tên và giá trị của nó ?”

Tiếp theo, hãy chuyển hóa bằng tâm thức đống bụi thành một cầu vồng có thể là đủ màu sắc, hay một màu nhưng theo cấp độ đậm nhạt. Tùy theo cái gì bạn thấy dễ dàng nhất. Từ cái cầu vồng bằng bụi này, hãy tạo lại một cầu vồng đồ vật. Bạn trở lại với một phiên bản của đồ vật ban đầu, miễn là cái đồ vật này được làm bằng cầu vồng ; bởi thế nó không thể sờ nắm, không có chút chất thể nào.

Bây giờ hãy nhận ra rằng nó không có một giá trị buôn bán nào.

Để chấm dứt, hãy hòa tan đồ vật bằng cầu vồng trong cái đồ vật nguyên bản luôn luôn ở trước mặt bạn. Hãy nhận xét kinh nghiệm này có thể chuyển đổi sự đánh giá của bạn về đối tượng và giá trị mà nó đã có trước đây trong con mắt bạn như thế nào.

• Quan trọng là giữ hai mắt mở trong suốt thực tập : khi tưởng tượng phiên bản của đồ vật, hãy giữ cái nhìn trên nguyên bản trước mặt bạn, nhưng không chăm chú vào nó. Khi bạn bắt đầu mệt hay co rút lại, hãy dừng một lúc và làm một trong ba thực tập đầu tiên để thư giãn.

Hãy chọn một đối tượng khác vào mỗi lần thực tập. Hãy bắt đầu bằng một vật có giá trị ít và mỗi lần tiến thêm đến một sự vật càng ngày càng quý giá với bạn. Hãy thay đổi một ít về chủng loại đồ vật và hãy tưởng tượng với sự chính xác rõ ràng cách bạn làm nó tan ra từng mảnh : chẳng hạn, nếu bạn chọn một bức tranh bạn có thể cào rách vải, lấy hết sơn đi, biến nó thành bụi, làm vỡ vụn cái khung. Trong trường hợp một tấm thảm, người ta có thể tháo khổ vải, rút những sợi chỉ, tháo ra những sợi tơ... Hãy biểu lộ trí tưởng tượng...
 

• Hãy thực hành bài thực tập này trong một tuần, khoảng một giờ mỗi ngày.

(Lời nói thêm của người dịch tiếng Việt : Ngài Tilopa, vị sư tổ của phái Kagyu có nói : “Không phải các hình tướng đã trói buộc con vào sanh tử, mà sự bám chấp vào các hình tướng đã trói buộc con vào sanh tử.” Bài kệ kết thúc kinh Kim Cang là : “Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào ảnh. Như sương cũng như chớp. Hãy quán thấy như vậy.” Kinh Hoa Nghiêm phẩm Thập Nhẫn cũng nói đến các nhẫn : như huyễn nhẫn, như mộng nhẫn, như hóa nhẫn, như không nhẫn... Kinh Đại Bát Nhã nói đến “bất khả đắc” như là chỗ chứng ngộ của hành giả đối với các hình tướng hiện tượng.

Tóm lại có thể nói mục tiêu các pháp quán tưởng của đạo Phật là nhằm để phá trừ sự chấp tướng này để cho chân lý, thực tại, Pháp thân, Phật tánh... biểu lộ.

Như thế, đây là một quán tưởng có vẻ như đơn sơ nhưng thật ra là để đáp ứng cho một mục tiêu trọng yếu của đạo Phật, nó là một pháp quán tưởng nhằm hiện thực hóa những câu kinh được trích dẫn ở trên. Từ một thực tập này, chúng ta có thể nhìn thấy những bài thực tập ở đây đều nhằm đến những mục tiêu cao nhất của đạo Phậtgiải thoátPhật tánh. Bởi thế, những bài thực tập không chỉ là sự chữa lành, trị liệu theo nghĩa thông thường, mà có nghĩa là chữa trị mọi phiền não của chúng sanh để đưa người ta thấy được nền tảng Phật tánh của mình. Do đó, trong kinh điển đã từng nói đến đức Phật như là bậc Đại Y Vương, người thầy thuốc chữa khỏi căn bệnh của ba cõi sanh tử.)
Bài Thực Tập số 6
TẤM GƯƠNG


Thực tập này để chúng ta ý thức những phóng chiếu, phóng tưởng mà chúng ta không ngừng tạo tác ra và làm cho chúng ta hiểu được tiến trình của những phóng chiếu đó. Người ta hiểu “phóng chiếu” là khuynh hướng của tâm thức gán cho thế giới bên ngoài và những kinh nghiệm thứ màu sắc của những ý nghĩ hay những tình cảm của mình. Khi người ta phiền muộn, hình như toàn bộ thế giới liên hệ với chúng ta trở nên bất hạnh hơn, và khi người ta nhìn thấy “cuộc đời toàn màu hồng”, mọi sự có vẻ dễ dàng hơn, mọi người đều mỉm cười với ta, thậm chí những người không có liên hệ quen biết.

Rất thường người ta không hoàn toàn ý thức được tiến trình phóng tưởng này, và đó chính là vấn đề. Người ta luôn luôn thấy cọng tóc trong mắt người bên cạnh, mà không biết rằng đó là vì người ta có một cây xà trong mắt mình khiến mình thấy điều đó. Người ta tìm thấy ở những người trong gia đình hay những bạn đồng nghiệp những khuyết điểm mà người ta không chấp nhận thấy chúng hiện hữu trong mình. Ngược lại, người ta sẵn sàng thần tượng hóa những phẩm tính nơi những người khác mà tự họ cũng có, nhưng người ta không muốn tự nhận biết, điều này không phải không gây ra mọi loại phản ứng xúc cảm mâu thuẫn. Phóng chiếu như vậy lên những người khác tiềm năng tốt đẹp của mình lại thành ra trốn tránh trách nhiệm cần phát triển những phẩm tính mà ta vốn có nơi mình : dễ hơn khi tự nhận một lần cho tất cả là không thể đảo ngược và vô hy vọng. Người ta đóng vai trò “kẻ ác” và cho những người khác vai trò “kẻ thiện” : người ta nhất quyết chiếm lấy đặc quyền quên tất cả ý định phát triển và tiến bộ cá nhân...

“Tấm gương” chỉ cho chúng ta làm thế nào ý thức những tình cảm của chúng ta và cách chúng ta phóng chiếu chúng ra ngoài mình. Thực tập gồm hai giai đoạn : phần thứ nhất để xác định phần “ích lợi” của những tình cảm của chúng ta, cái cần giữ lại và nuôi dưỡng, và phần vô ích hay có hại nên bỏ. Trong phần hai, người ta khám phá hiệu ứng boomerang (một dụng cụ để săn của thổ dân Úc, phóng ra trúng con mồi và rồi trở lại với người phóng) của những phóng tưởng của chúng ta : cười đối lại cười, nhăn nhó đối lại nhăn nhó. Mọi cái chúng ta phóng chiếu lên những người khác trở lại với chúng taảnh hưởng đến toàn bộ những quan hệ chúng ta có với họ, và như vậy cho đến ngày người ta có thể thấy họ như họ thật sự là – ngoài mọi khuyết điểm hay phẩm tính mà người ta gán cho họ qua những phóng chiếu của mình.

• Quan trọng : Để cho bài thực tập này, phải cần những thời thiền rất ngắn – 15 đến 20 phút, một hay hai lần mỗi ngày. Hãy làm 5 đến 10 phút thư giãn trước mỗi thời.

Mô tả thực tập

Phần 1

1. Thư giãn (5-10 phút).

Bạn hãy ngồi trước một tấm gương, khá lớn đủ để có thể thấy toàn thân bạn. Hãy nghĩ rằng một tấm gương chỉ là một tấm lá thủy tinh phản chiếu lại một hình ảnh, hình ảnh này “hiện hữu” chỉ do bạn ở đó để tri giác nó.

Trong độ mười phút, hãy chỉ ngồi trước gương, mắt nhắm hay cái nhìn hướng xuống đất và hãy thư giãn ; hãy ý thức những cảm giác của bạn, những tư tưởng và những cảm xúc. Hãy đánh giá một cách khách quan những cái tích cực và cái tiêu cực trong cái bạn cảm thấy.

2. Tấm gương (15-20 phút).

Khoảng một lúc, khi bạn cảm nhận tâm thức bạn bắt đầu yên lặng, hãy nhìn vào trong gương. Trước tiên hãy ghi nhận bằng tâm thức hiệu quả khi bạn tự nhìn mình như vậy. Tiếp theo, hãy tưởng tượng rằng hơi thở bạn chuyên chở mọi tư tưởng, mọi ấn tượng và mọi tình cảm mà bạn đã cảm nhận, và khi thở ra bạn thổi chúng vào trong hình phản chiếu của bạn nơi tấm gương. Hãy có cảm tưởng làm trống bạn dần dần, hãy để tất cả những tình cảm của bạn đi ra khỏi bạn và vào trong gương. Cùng lúc, để cho bạn tràn ngập một cảm giác hư không, trong suốt và không thể nắm bắt ; hãy cảm thấy sự lùi lại của bạn đối với những tư tưởng.

Sau 15-20 phút của công việc này, hãy dẫn lại vào bạn – khi thở vào – những phẩm chất mà bạn muốn giữ và hãy nghĩ rằng bạn bỏ lại trong tấm gương mọi cái bạn không bằng lòng và bạn muốn gỡ khỏi chúng.

Hãy nhớ rằng chính bạn đã tạo ra hình ảnh trong gương, bằng cách phóng chiếu những tình cảm của bạn vào đó. Hãy ý thức sự kiện bạn đã nhận ra nơi hình ảnh đó một số phẩm chất và chính bạn chọn lựa cái bạn muốn lấy lạigiữ gìn trong bạn.

3. Thư giãn (5-10 phút).

Cuối thực tập, hãy dành 5-10 phút để thư giãn hoàn toàn, để cho những tư tưởng đến và đi tùy chúng.

• Hãy theo sự thực hành phần một này trong ít ra một tuần (khoảng một hay hai thời một ngày). Chớ qua phần hai trước khi có thể phóng chiếu dễ dàng những tình cảm của bạn vào tấm gương và nhất là trước khi bạn cảm thấy hơi sẵn sàng hơn để chứng nghiệm những sự vật với ít cứng đặc và vững chắc hơn trước kia.

Phần 2

1. Thư giãn (5-10 phút).
Hãy bắt đầu bằng thư giãn, như với phần 1. Hãy để tâm thức tự bình lặng tự nhiên.

2. Tấm gương (15-20 phút).

Hãy nhìn hình phản chiếu của bạn trong gương và xem xét rằng bạn sắp làm một cuộc trao đổi giữa cái mà bạn tự đồng hóa như là chính mình và cái nhân vật thấy trong gương. Sự trao đổi này xảy ra theo thời gian hơi thở :

– mỗi hơi thở ra, hãy thổi mọi thứ bạn cảm nhận trong bạn vào trong nhân vật trong gương.
¬
– mỗi hơi thở vào, hãy đưa trở lại vào bạn những tư tưởng và những tình cảm của nhân vật trong gương.

Tiếp tục sự trao đổi khi phối hợp nó với hơi thở của bạn. Hãy nhớ một cách sắc bén nhất rằng mọi cái bạn cảm thấy chỉ là kết quả của những phóng chiếu của bạn.

Chớ thử phân tích hay lý luận. Hãy bằng lòng làm thực tập mà không vượt quá những giới hạn thời gian của nó (15-20 phút).

2. Thư giãn (5-10 phút).

Như phần 1.

• Hãy thực hành phần 2 trong ba hoặc bốn tuần, khoảng một thời một ngày.

“Tấm gương” rất quan trọng để cho chúng ta khám phá cái ở nền tảng ý nghĩ mà người ta tự tạo về mình và về những người khác : tiến trình phóng chiếu. Thiết yếu đã hiểu rõ thực tập này để theo đuổi phần còn lại của việc chữa trị, khi những thực tập tiếp theo còn vận dụng hơn nữa cơ chế trao đổi với một hình ảnh mà người ta tự phóng chiếu ra : hình ảnh đức Phật, bạn bè, gia đình, kẻ thù... Vậy chớ nhảy ngang thực tập “Tấm Gương” nếu bạn muốn làm hết loạt thực tập.

Tuy nhiên nếu bạn cảm thấy những khó khăn lớn, đến độ bạn không thể làm tốt thực tập này được nữa – vì sợ hãi hay những phản ứng do bài tập gây nên, hay do những kết bế trầm trọng – bạn có thể qua thẳng bài số 8 “Đức Phật Bên Trong”, tiếp theo đến bài số 10, “Triển Nở / Thu Rút”, và đến bài số 15, “Khối Cầu Cầu Vồng”, bởi vì những bài đó không đòi hỏi những cơ chế phóng chiếu.

Câu hỏi : Phần đầu của thực tập cho phép tôi chuyển di vào tấm gương tất cả một lượng những tình cảm đau buồn mà tôi có trong mình, và tôi đã cảm thấy một sự nhẹ nhõm lớn. Nhưng tôi tự hỏi đó có phải là một loại ảo tưởng không ?

Trả lời : Chắc chắn trong một nghĩa nào, bất kỳ thực tập gì cũng là một ảo tưởng, nhưng đó cũng là cơ hội và phương tiện để học điều phục, làm chủ tâm thức. Dù nếu một thực tập không thể giải thoát rốt ráo cho bạn khỏi những khổ đau và khó nhọc của bạn, thì bạn cũng có thể cảm thấy một lợi lạc nào đó trong tức thời, tuy nhiên cái cốt yếu nằm trong sự thực tập làm chủ tâm thức, nó là phương tiện độc nhất để đến chỗ giải thoát khỏi khổ đau – tính về lâu dài.

Câu hỏi : Tôi tự hỏi phải chăng người ta có thể xem thực tập tấm gương như một bài học về vô thường. Tôi có thể xem nó như vậy không, hay tôi phải bằng lòng với việc chuyển di những tình cảm của tôi vào tấm gương và ngược lại ?

Trả lời : Khi bạn nhìn sự phản chiếu của bạn trong tấm gương, bạn có thể hiểu rất rõ sự trong suốtvô thường của nó và bao gồm hai tính chất đó trong mọi cái bạn thấy. Thật vậy, đó là một thí dụ rất tốt. Bạn cũng có thể dùng sự phản chiếu một cách thích đáng để thoát khỏi những căng thẳng của bạn và để “làm thành ra bên ngoài” những vấn đề đang gặm nhấm bạn ở bên trong. Chính bạn là người quyết định cách sử dụng, lợi ích mà bạn muốn từ bài thực tập.

Câu hỏi : Điều ấy không gây ra một ít “vô trật tự” khi để lại trong gương mọi cái mà tôi không thích – cái tiêu cực hay khốn khổ trong tôi – sao ? Tôi có phải lau chùi bằng tâm thức tấm gương bỏ lại đằng sau trước khi có một người khác dùng nó ?

Trả lời : Không, tôi không tin điều đó là cần thiết ! Tấm gương không bị hư, nó không lưu giữ khổ đau. Người ta chỉ dùng nó như điểm tựa để làm trống một ít khổ đau và nhọc nhằn của mình – như khi người ta đổ đi một phần thừa của một bình chứa người ta làm quá đầy, để tránh nó tràn. Với những tình cảm cũng như vậy : đôi khi đem chúng ra bên ngoài là ích lợi, và điều đó nhờ ở tấm gương.

Câu hỏi : Điều tôi thấy trong gương trong phần hai của thực tập làm tôi rất khốn khổ, và phải thu nó lại vào tôi chỉ làm tôi tệ ra thêm. Điều độc nhất giúp đỡ tôi là ý nghĩ rằng không phải những tình cảm tôi cảm nhận, cũng không phải hình ảnh phản chiếu trong gương là có thực chất. Đó có phải là một lối tốt và một giải pháp chấp nhận được cho vấn đề không ?

Trả lời : Hoàn toàn như vậy. Khi người ta tự nhìn mình trong một tấm gương, rất quan trọng phải hiểu rằng cái người ta thấy trong đó không phải là cái gì có thực chất và cứng đặc. Bởi thế, chớ có xem những tình cảm là quá nghiêm trọng – khó nhọc hay dễ chịu – mà bài thực tập gây ra, vì chẳng có cái nào là có thực chất. Chớ gán cho chúng sự quan trọng thái quá.

(Lời nói thêm của người dịch tiếng Việt : “Tấm gương là một thực hành trong Yoga Thân Huyễn, một trong sáu Yoga của Naropa. Nhờ sự thực hành “Tấm Gương”, người ta sẽ hiểu được tiến trình phóng chiếu của tâm thức mình, do đó sẽ thâm nhập sự thật “Ba cõi duy tâm, vạn pháp duy thức”. Đó không chỉ là chủ đề chính của phái Duy Thức, mà là chân lý được xiển dương trong những kinh tạo ra Đại thừa, như Hoa Nghiêm, Viên Giác, Đại Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Lăng Già... mà hành giả phải chứng nghiệm trên con đường đi đến Phật tánh.)


Bài Thực Tập số 7
BẠN


Thực tập này nhằm bày tỏ cho chúng ta thấy sự bám níu là gì : trong đời mỗi người chúng ta có những con người và sự vật mà người ta bám luyến đến độ rất đau đớn khi phải chia lìa.

Học đặt mình vào chỗ những người bạn, người ta sẽ thử hiểu họ hơn, từ điều người ta biết về họ, hơn là điều người ta chờ đợi ở họ. Để trao đổi những vai trò, như người ta sắp làm ở đây, cũng phải tự cho đi chính mình, bất luận người ta biết về mình như thế nào. Điều này giúp cho chúng ta tìm thấy một sự cởi mở rộng lớn hơn với những người khác và tương thông với họ tốt hơn, đặc biệt với những người gần gũi.

Phẩm chất của động lực của chúng ta thì đặc biệt trọng yếu trong thực tập này : nếu người ta trao đổi những vai trò với những bạn bè của mình, đó chính là để đi ra khỏi tháp ngà của quan điểm quy ngã của chúng ta, để tránh bị nhốt mãi trong lý luận một chiều của những thái độ ích kỷ của chúng ta. Đó là để có thể hiểu mình và người khác hơn, hầu khai triển nơi mình lòng bi và hành động dưới sự khơi gợi của nó.

Mô tả thực tập

1. Phần một : phóng chiếu (10-15 phút).

Bạn hãy nghĩ đến một người mà bạn rất luyến mến và bạn muốn gần gũi càng nhiều càng tốt. Đó có thể là cha hay mẹ, chồng hay vợ, bạn, con người bạn khác phái thân thiết.

Hãy tưởng tượng người này ở trước mặt bạn ; dù bạn không thấy người đó rõ ràng lắm, quan trọng là tự nhủ nó thật sự ở đó, cảm thấy sự hiện diện của nó, khơi gợi điều bạn cảm nhận khi bạn ở cùng nó. Hãy dùng thời gian để phóng chiếu hình ảnh và sự hiện diện của người bạn này trước mặt bạn.

Phần thực tập này bạn cần 10 đến 15 phút. Sau đó hãy nghỉ ngơi một lát trước khi qua phần tiếp theo.

2. Phần hai : trao đổi vai trò (30 phút).

Tiến trình trao đổi được phối hợp với hơi thở. Hãy tưởng tượng khi thở vào, bạn hấp thu vào trong bạn người bạn ở trước mặt bạn, và khi thở ra bạn tự phóng chiếu chính mình vào trong người bạn. Bề ngoài của thân thể người bạn và của bạn vẫn như vậy, nhưng nội dung bên trong dần dần biến đổi theo sự trao đổi. Từng chút, với mỗi hơi thở vào, những tư tưởng, cảm giác, tình cảm và tham muốn của người bạn trở thành của bạn, trong khi những cái của bạn trở thành của người ấy, theo mỗi hơi thở ra.

Sự trao đổi không nhất thiết phải trùng với mỗi hơi thở vào và thở ra của bạn ; hãy dùng một nhịp điệu tự nhiên cho bạn. Chớ có quá tổ chức hay cơ cấu hóa sự trao đổi theo cách hệ thống : hãy rộng mở và thư giãn và để cho sự chuyển di xảy ra càng tự nhiên càng tốt.

Hãy theo đuổi sự chuyển di trong nửa giờ. Cuối thời thiền, bạn có thể giữ lại cảm giác bạn là người bạn của mình hay trở về trong da thịt mình – tùy ý lựa chọn. Nhưng dù cách nào, hãy giữ điều mà bạn đã hiểu về người bạn của mình.

• Hãy thực hành “Người Bạn” trong ba đến bốn tuần, khoảng một thời 45 phút cả hai phần : phần một 10-15 phút, tiếp theo một thời nghỉ ngắn và phần hai 30 phút.

Chớ luôn luôn chọn cùng một người bạn để trao đổi : dần dần bạn sẽ hiểu nhiều về thực tập, hãy chuyển qua những người bạn khác.

Câu hỏi : Phải làm gì nếu nhân vật mà tôi nghĩ đến không ngừng lượn lờ khắp mọi hướng, xuất hiện và biến mất ?

Trả lời : Không sao cả. Nhân vật đó không bắt buộc phải ngồi : chính bạn mới phải ngồi...

Câu hỏi : Phần lớn thời gian tôi cảm thấy một sự ngăn ngại hoàn toàn đối với thực tập này, chính vì sự sợ hãi cho mình và đem người khác vào mình. Tôi có một cảm tưởng rất mạnh mẽ về khoảng cách, về chia cách. Làm thế nào ?

Trả lời : Bạn hãy thực hành “Tấm Gương” lâu hơn một chút, để giảm bớt cảm tưởng về sự cứng đặc của những sự vật và những con người. Chính điều đó đặt thành vấn đề cho bạn, ngăn cản bạn làm sự trao đổi với một người khác. Hãy tiếp tục thực tập cái gương chừng nào bạn còn cảm thấy sự sợ hãi này bởi vì bạn còn đóng góp cho những sự vật một sự cứng đặc mà thật ra chúng không có.

Câu hỏi : Phải chăng hơi cao vọng hay thậm chí nguy hiểm khi muốn nhận về phần mình tất cả đời sống kinh nghiệm bên trong của một người nào khác ?

Trả lời : Không, thật sự không có nguy hiểm nào ; vấn đề chỉ đặt ra nếu người ta đã quá tiến hóa, và dầu sao đi nữa, trong những điều kiện khá khác biệt. Nếu bạn đã khá tiến bộ trong thực hành của bạn, bạn đã ra khỏi nguy hiểm trước khi vấn đề đặt ra...

Câu hỏi : Nếu tôi cảm thấy đã rất gần gũi một người nào đó, rất liên kết và rất bám luyến với nó, có phải tiến trình hòa lẫn tâm thức này có nguy cơ làm mạnh thêm một chút sự bám dính của tôi ?

Trả lời : Không. Tôi nghĩ rằng cũng “Tấm Gương” có thể giúp bạn giải quyết vấn đề này.

Câu hỏi : Chúng ta hãy giả thiết rằng khi làm thực tập này thình lình tôi cảm thấy hoàn toàn và rất mạnh mẽ – trong thân thể và trong những cảm xúc của tôi – những vấn đề và những đau đớn của người khác mà đến lúc đó tôi chưa từng nghĩ tới, và kinh nghiệm này hoàn toàn lật đổ tôi vì tôi không biết tôi có thể làm gì để giúp đỡ y ?

Trả lời : Tôi không tin điều đó sẽ xảy ra. Thực vậy, người ta không thể cảm nhận sự đau khổ thực sự của người khác và điều người ta cảm thấy bao giờ cũng chỉ là điều người ta tự tưởng tượng ra. Và dầu chấp nhận rằng có ở đó cái gì khác hơn là một sản phẩm của sự tưởng tượng, thì chính trong lòng bi mà phải tìm lời giải đáp cho một tình huống như vậy : hiểu được sự đau đớn của người khác và nhiệt thành mong muốn đủ sức giúp đỡ nó.

Câu hỏi : Thời gian là bao nhiêu phải dành cho sự trao đổi với một người bạn, trước khi qua một người khác, và có nên bắt đầu bằng những tình bạn ít đam mê nhất, vì sẽ dễ dàng nhất bởi người ta ít cảm thấy bám luyến ?

Trả lời : Bạn có thể trải qua thời gian nào đủ cần thiết cho bạn về một người bạn. Làm việc trên những người bạn khác nhau thì tốt : những người thân nhất và những người kém thân.


Bài Thực Tập số 8
ĐỨC PHẬT BÊN TRONG


Danh từ “Phật” ở đây được dùng trong nghĩa là người đã đạt đến trạng thái thức tỉnh hoàn toàn của tâm thức : sự hiểu biết thanh tịnhtrí huệ, hợp nhất không thể phân chia với lòng bi vũ trụ. Vậy thì chính để tượng trưng cho trạng thái này mà người ta quán tưởng hình tướng Phật. Nhưng nếu sự quán tưởng như vậy gây ra vấn đề cho bạn bởi những lý do cá nhân, bạn có thể thay thế nó bằng một khối cầu ánh sáng trong sạch sáng rỡ, và bạn sẽ mượn ở đó cùng những phẩm chất vừa nói ở trên.

Nhận xét sơ khởi : Kỹ thuật quán tưởng

1. Gợi ra nơi mình một hình ảnh, một cảm tưởng

“Quán tưởng” chỉ có nghĩa là “tưởng tượng”, tưởng tượng, nghĩa là gợi ra, tưởng ra một ảnh tượng bằng tâm thức – như chính ngữ nguyên học của chữ ấy. Người ta tạo ra trở lại nơi mình hình ảnh hay cảm tưởng về cái gì hay về người nào. Đó là hoạt động tự nhiên nhất của con người, cái mà người ta vẫn làm mọi ngày mà không biết, như thở : bạn nghĩ đến mẹ bạn và tức thời hình ảnh của bà khởi lên trong trí nhớ bạn, người ta nói với bạn một nơi chốn mà bạn biết rõ và bạn thấy nó tức khắc rõ ràng... Cứ tiếp tục như thế, người ta không ngừng quán tưởng, hình dung những sự vật trong tâm thức.

Vậy thì bạn đã biết gợi ra một cách tự phát những hình ảnh ; quán tưởng, đó là học làm việc đó một cách cố ý, sử dụng khả năng bẩm sinh này để tưởng tượng một sự vật nào đó cần thiết cho thực hành một thực tập.

Một điểm quan trọng : cần cảm thấy sự hiện diện của người hay vật người ta quán tưởng, gây ra nơi mình cảm tưởng người ta đang dự phần với nó, dù cho người ta không “thấy” chính xác những chi tiết cụ thể. Phải có cảm tưởng rằng cái người ta quán tưởng thực sự ở trước mặt mình.

2. Tạo ra những hình ảnh không thể sờ nắm

Còn một khác biệt quan trọng khác giữa những hình ảnh mà sự tưởng tượng bình thường của chúng ta tạo ra và những hình ảnh do quán tưởng. Hình ảnh quán tưởng không bao giờ cứng đặc, làm bằng thịt xương, bằng đá, đồng, gỗ hay bất kỳ vật chất nào khác. Cái người ta tưởng tượng phải thấy được rõ ràng nhưng không thể sờ chạm, làm bằng ánh sáng, như một cầu vồng. Khi người ta quán tưởng một người, người ta thấy nó – thậm chí người ta có thể ý thức nhiều chi tiết, nhưng đồng thời không thể sờ nắm được : nó có mọi vẻ bề ngoài vật chất, nhưng không có bản chất. Như vậy, khi bạn phải quán tưởng “một ống sáng”, bạn chớ tưởng tượng một bóng nê-ông hay một ống cứng đặc chứa đầy ánh sáng, mà hãy thử hình dung một tia sáng tỏa sáng hình cái ống – với tất cả vẻ bề ngoài của một cái ống, nhưng không có vật chất. Cũng thế, chớ tưởng tượng một đức Phật bằng đồng, hay một khối cầu sáng rỡ giống như một bóng điện. Nếu người ta hình dung những vật cứng đặc, người ta sẽ tự tạo cho mình những vấn đề rắc rối nhưng giả tạo : làm thế nào đem một đức Phật to lớn bằng đồng hay một bóng đèn 2000 oát vào trong thân thể bằng xương thịt bình thường của bạn ? Bạn hãy nhớ rằng những quán tưởng là những dụng cụ cần thiết cho công việc tâm thức, làm việc với những hình tướng tâm thức, và bạn chớ bám vào ý niệm cứng đặc của thân bạn và những đối tượng được quán tưởng khác. Nếu thân thể bạn cũng không thể sờ nắm như một cầu vồng và đức Phật, khối cầu sáng rỡ hay mọi vật khác cũng như vậy, bạn sẽ không có trở ngại khi đem nó vào bản thân mình và những quán tưởng sẽ không đặt ra những vấn đề khó khăn cho bạn.

• Điều chính yếu tóm tắt : quán tưởng, tức là gợi ra một hình ảnh tâm thức rõ rànghiện thực, đồng thời không thể sờ nắm và sáng rỡ, như một cầu vồng và cảm thấy sự hiện diện của nó, dù người ta không “thấy” nó một cách cụ thể.

Mô tả thực tập

1. Chuẩn bị

Đã cẩn thận ngồi thằng lưng, bạn hãy tưởng tượng ở trong trung tâm của thân thể bạn một bông sen vàng có những cánh hướng về phía trên.

Tiếp theo hãy quán tưởng một ống sáng rỡ, không có màu sắc đặc biệt (điều đó không quan trọng), nó từ đỉnh đầu của bạn (trong vùng thóp trên đầu), đi qua thân thể và đến trong tim hoa sen. Phần trên cùng của ống hình cái phễu và mở rộng trên đỉnh đầu bạn.

2. Gợi ra

Hãy tưởng tượng trên đầu bạn, ngay trên chỗ mở rộng của ống ánh sáng, có một đức Phật – hay một khối cầu – ánh sáng rực rỡ, kích cỡ tùy bạn muốn.
Hãy tưởng tượng và cảm thấy rằng thân thể bạn trở nên càng lúc càng kém cứng đặc, càng trong suốt và không thể sờ nắm.

3. Thiền định (45 phút)

Hãy dần dần đưa vào trong bạn hình tướng sáng rỡ của Phật hay khối cầu : hãy tưởng tượng nó đang xuống một cách êm dịu từ trên đầu bạn đến trung tâm thân thể bạn để an định ở tim hoa sen.

• Quan trọng : hãy nhớ không tưởng tượng thân thể bạn hay hình tướng ánh sáng rực rỡ là cái gì cứng đặc.

Sau 45 phút thiền định, hãy nghỉ ngơi một lát.

4. Thư giãn (1 giờ)

Làm thực tập thư giãn (số 2). Hãy trả tâm thức về với chính nó, bằng cách để cho mọi tư tưởng, ý tưởng, tình cảm, cảm giác của bạn đến và đi tự nhiên.

Bạn hãy để cho tinh túy của sự thức tỉnh và lòng bi từ nay hiện hữu trong bạn và chung quanh bạn. Thân thể bạn không còn cứng đặc nữa – bạn không phân biệt nữa tay chân, bộ phận, đau đớn, căng thẳng. Tất cả dần dần tan biến trong một đại dương tĩnh lặng và an bình của tâm thức.

Hãy ở như vậy trong một giờ.

• Hãy thực hành “Đức Phật Bên Trong” trong một tuần, một thời khoảng 1 giờ 45 phút (45 phút thiền định, 1 giờ thư giãn) mỗi ngày.

Câu hỏi : Khi ngài nói về “trung tâm thân thể”, chính xác nó ở đâu ?

Trả lời : Trước hết, phải nói về trung tâm bản thể của bạn. Người ta quan niệm nó ở khoảng trong vùng trái tim. Ở Đông phương, người ta cũng nói “trung tâm trái tim”, không phải theo nghĩa ở giữa bắp thịt tim, mà trong nghĩa chakra một trong những trung tâm năng lực của thân thể, như một vòng tròn có tâm điểm giữa ngực. Điều đó nói rằng, đây là một vấn đề khá chủ quan : tất cả tùy thuộc vào cảm tưởng cá nhân của bạn, vào ý tưởng về địa điểm trung tâm của bản thể bạn.

Câu hỏi : Nếu tôi không thấy được trong tâm thức hình ảnh của Phật, thì cảm thấy sự hiện diện của ngài có đủ chăng ?

Trả lời : Vâng, bởi vì mục đích của thực tập là gợi ra sự hiện diện của những phẩm tính nền tảng của tâm thức hơn là hình thức mà những phẩm tính đó khoác vào – ở đây hình thức chỉ là phụ.

Câu hỏi : Đôi khi có những màu sắc khác hiển lộ thế chỗ cho ánh sáng rực rỡ. Tôi có phải nỗ lực để luôn luôn tìm thấy ánh sáng rực rỡ chứ ?

Trả lời : Vâng, tôi nghĩ tốt hơn là tưởng tượng ra một loại ánh sáng rực rỡ.

Câu hỏi : Ngài có thể gợi cho tôi một cách để đạt đến đó dễ dàng hơn ?

Trả lời : Hãy quan sát một miếng vải sáng rực rỡ, nhưng nếu bạn có cảm tưởng về một màu sắc “cứng đặc”, hãy thử nhìn sự rực rỡ của tấm vải trong một cái gương, để có một ý tưởng về sự trong suốt của màu sắc bạn sắp quán tưởng.

Câu hỏi : Trong phần cuối của thư giãn, tâm thức tôi thường không hoàn toàn an bình và tôi thấy mọi loại xúc cảm. Tôi phải làm sao ?

Trả lời : Hãy tìm thấy dù chỉ một vùng rất nhỏ của sự yên tĩnh và hãy để cho những tư tưởng và tình cảm bạn tan vào đó. Dù chỉ có một phần trăm tâm thức bạn bình an, bạn cũng sẽ có thể đạt tới chỗ đó.

Câu hỏi : Nếu người ta không có thì giờ đòi hỏi cho thực tập này, một giờ bốn mươi lăm phút, thì có cần làm đủ một giờ thư giãn sau chót không ?

Trả lời : Vâng, cần. Điều bạn có thể làm, là chia thời giờ bạn có để duy trì mối tương quan giữa hai phần thực tập : thư giãn thì lâu hơn thiền định một chút.


Bài Thực Tập số 9
LÀM SỐNG ĐỘNG
ĐỨC PHẬT BÊN TRONG


Trước khi dấn thân vào thực tập mới này, có lẽ nên nhìn lại và đánh giá một chút về điều người ta đã làm. Trước hết người ta học ngồi cho đúng, thư giãn và mở mình ra với những người khác. Rồi người ta dùng cầu vồng để làm mất sự “cứng đặc”, bản chất bất biến đã gán cho những đối tượng sự vật. Tiếp theo, thực tập tấm gương đã chuẩn bị cho chúng ta trao đổi vai trò với một người bạn. “Cầu Vồng”, “Người Bạn” và “Đức Phật Bên Trong” đã cho phép chúng ta thấy rằng chúng ta có khả năng “quán tưởng”. Với “Người Bạn”, người ta đã chơi đùa với sự thân thiết của những mối liên hệ, với sự bám luyến với một người nào đó để khai triển thói quen quán tưởng : thật vậy, người ta càng gần gũi với một ai, thì hình ảnh của nó sẽ trở lại tự nhiên dễ dàng trong tâm thức, như khi người ta đang yêu đương. Một khi người ta đã hiểu cơ chế, người ta có thể quán tưởng những sự vật mà người ta không cảm thấy liên kết nhiều, như một đức Phật hay một khối cầu ánh sáng.

Mọi người đều có khả năng quán tưởng những hình ảnh, như chúng ta đã ghi nhận. Một số người có lẽ làm dễ dàng hơn những người khác, nhưng với một chút thực hành, mỗi người có thể tiến bộ không khó khăn lắm. Những vấn đề nếu có thường là do một cố gắng quá độ để quán tưởng : những hình ảnh khó hình thành trong một tâm thức khô cứng vì căng thẳng, trong khi chúng khởi lên dễ dàng khi tâm thức thoải mái thư giãn. Nếu người ta đem vào sự thực hành một lượng thư giãn và nhiệt tình và người ta tin rằng điều đó có thể làm cho tốt hơn, những quán tưởng sẽ tức thời thành tựu một cách tự nhiên, tự phát.

Nếu khuôn mặt người bạn hay kẻ thù trở lại trong bạn không ngừng khi bạn đang quán tưởng đức Phật hay khối cầu ánh sáng, bạn chớ lo âu. Điều đó có nghĩa là bạn còn một khoảng đường để hiểu rằng tất cả chúng sanh đều có nơi họ tinh túy của sự thức tỉnh và lòng bi. Người ta còn chưa tri giác điều đó vì hai lý do : một mặt, người ta cứ ngoan cố xếp loại những người họ biết thành hai phạm trù – bạn hay thù – và mặt khác, người ta có khuynh hướng không biết đến khía cạnh tốt của nhân cách những người khác mà chỉ thấy những khía cạnh xấu. Với những quán tưởng này, người ta phải đến chỗ hiểu rõ hơn rằng mỗi chúng sanh đều có trong nó tinh túy của sự toàn thiện, tiềm năng của thức tỉnh, giác ngộ.

Khi nghiên cứu giải phẫu học, người ta không cần lấy hết ruột gan và những cơ quan để khảo sát : người ta dùng những kiểu mẫu chúng chỉ là những hình ảnh được phóng chiếu ra bên ngoài từ một thực tại bên trong. Cũng thế, thực tập ở trước đã dùng một kiểu mẫu – đức Phật hay một khối cầu ánh sáng – để làm cho chúng ta hiểu sự hiện diện nơi chúng ta những phẩm tính vốn có sẵn trong trạng thái thức tỉnh của tâm thức. Kiểu mẫu này không gì khác hơn là hình ảnh, phóng chiếu ra bên ngoài mình, của tiềm năng toàn thiện – “Phật tánh”, “thiên tánh” trong ngôn ngữ Thiên chúa giáo – hiện đang ở trong mỗi chúng ta. Vậy thì sự quán tưởng vận hành như một phương tiện để phóng chiếu một hình ảnh ra bên ngoài mình để hiểu cái ở bên trong mình.

Mô tả thực tập

1. Chuẩn bị

Thực tập này nhắm đến làm sinh động đức Phật bên trong. Bạn hãy dùng sự thu hoạch của bài tập trước để tưởng tượng trực tiếp đức Phật hay khối cầu ánh sáng rực rỡ trên một hoa sen vàng ở trung tâm thân thể bạn, và hãy tập trung vào đó. Hãy nghĩ rằng tâm thức bạn đã giống như tâm thức của Phật, như sự hiện diện của đức Phật bên trong bạn chứng tỏ điều đó.

Hãy nhớ rằng thân thể bạn và thân thể đức Phật hay khối cầu ánh sáng là trong suốt và không thể đụng chạm, thấy được rõ ràng nhưng không thể sờ nắm, như một cầu vồng. Điều đó sẽ tránh cho bạn khỏi tạo ra những vấn đề rắc rối vô ích, về hình thể hay kích cỡ của những sự vật, chiều hướng... – mọi cái phát sinh từ tính vật chất của những sự vật. Bạn hãy nhớ rằng không làm việc trên vật chất cứng đặc có một cơ cấu vững chắc.

2. Phần I : tưởng tượng bạn của mình dưới hình thức một vị Phật

Hãy gợi lên trước mặt bạn một trong những người bạn mà bạn đã dùng để quán tưởng “Người Bạn”. Mỗi khi bạn thở ra, một vị Phật – hay một khối cầu ánh sáng – giống như hình ảnh trong bạn phát xuất từ trung tâm thân thể bạn đi vào thân thể người bạn và tan biến vào trong đó. Hãy tìm ra một sự phối hợp tự nhiên giữa quán tưởnghơi thở của bạn khi “phát ra” một vị Phật hay một khối cầu sáng rỡ, bởi chu kỳ hơi thở. Nhưng điều đó không bắt buộc ; tùy bạn tìm ra một nhịp điệu thích hợp.

Hãy nghĩ rằng hình tướng sáng rỡ của Phật hay khối cầu đi vào trong người bạn hòa trộn hoàn toàn với anh ấy hay chị ấy, ban cho người ấy tất cả những phẩm tính hiểu biết thanh tịnh và lòng bi vũ trụ, kết thúc thì chỉ còn là một với anh, chị ấy. Trước đây, người ta dùng sự bám luyến làm cho bạn nhạy cảm với người bạn của bạn để hiểu anh ấy hay chị ấy hơn ; bây giờ cũng chính sự thân thiết này sắp giúp bạn hiểu biết nguyên lý của sự toàn thiện – tức là đức Phật – trộn lẫn trong người bạn của bạn.

3. Phần II : hãy tự tưởng tượng mình trong hình thức một vị Phật

Hãy tưởng tượng rằng Phật – hay khối cầu ánh sáng – ở trung tâm bản thể bạn phát ra một ánh sáng rực rỡ đầy khắp thân thể bạn và tịnh hóa nó toàn bộ. Bây giờ bạn không chỉ có tâm thức của một vị Phật (như bắt đầu cuộc thực tập) mà còn thân thể của ngài nữa. Thâm sâu trong sự xác tín này, bạn hãy tưởng tượng bạn trong hình thức một vị Phật.

Giờ đây, người bạn và bạn cả hai đều có thân thể không thể sờ nắm và sáng rỡ của một vị Phật ; không còn chút dấu vết nào của bản sắc lý lịch của bạn trước kia. Không còn nữa vấn đề “tôi” hay “bạn tôi” ; chỉ còn một vị Phật đối diện với một vị Phật khác, hay nếu bạn thích, một hiện thể hoàn toàn thanh tịnhthức tỉnh trước một vị khác.

4. Cảm thấy một “niềm tự hào chính đáng”

Khi bạn đã làm xong hai phần của thiền định, nếu bạn muốn bạn có thể thêm vào đó một chốc lát suy nghĩ về “sự tự hào chính đáng” mà người ta có thể cảm thấy khi khám phá ra sự toàn thiện này nơi mình và nơi tất cả mọi chúng sanh. Hãy minh bạch về chuyện này : không phải phồng mình lên vì kiêu ngạo khi tự nhủ mình thật sự là một người phi thường và rất tiến hóa. Đúng hơn đó là một tình cảm cảm kích và kính trọng sâu xa đối với sự toàn thiện của bản tánh nền tảng của tất cả chúng sanh ; ý thức tất cả sự cao cả và phẩm giá của chiều kích hiện hữu này, người ta vui thú, hân hoan, người ta kính trọng nó trong mình và trong những người khác và người ta cảm thấy một sự tự hào chính đáng, như Pháp. Sự tự hào này không có gì tiêu cực, trái lại nó là một đối trị tuyệt hảo với sự kiêu mạn bình thường của chúng ta, vì nó bao gồm những người khác và đem chúng ta lại gần họ thay vì loại trừ họ và đem chúng ta ra xa họ. Vậy các bạn hãy nói : “Chúng ta cả hai là những vị Phật – những hiện thể đã hoàn toàn hiện thực tiềm năng toàn thiện của mình” – và hãy trầm mình vào chốc lát trong một niềm tự hào chính đáng, phát sanh từ sự cảm kích với sự thực này làm bạn kinh ngạc.

• Hãy thực hành bài tập này trong 4 tuần, khoảng một thời một giờ mười lăm phút mỗi ngày (phân chia giữa những phần khác nhau của bài tập tùy theo sự thích hợp nhất của bạn).

Nếu bạn cảm thấy bị xáo động trong khi thiền định, hãy thư giãn một chút bằng hơi thở, rồi lại tiếp tục tiến trình bình thường của thời khóa. Nếu một ngày nào bạn không yên và rất bị kích động, chớ gượng ép giữ mình cho đến cuối thời thiền. Tốt hơn là làm nhiều thời ngắn (dù chỉ năm phút), có những khoảng nghỉ ngơi ở giữa. Hãy tỏ ra mềm dẻo uyển chuyển, tùy theo những giới hạn của bạn lúc đó.

Bình luận

Thực tập cho phép chúng ta ý thức cái gì cực kỳ quan trọng : khi người ta tự giới hạn vào hình tướng bình thường của những người bạn và của chính mình, những hình tướng đó gợi ra cho chúng ta tham muốn và bám luyến – những tình cảm gieo rắc nhiều chất độc khác trong đường đi của chúng (tham lam, ghen ghét, thù hận, si mê...) Ngược lại, khi người ta – cả hai bên – có những tính chất của một vị Phật, thì sự bám luyến còn có thể ở chỗ nào ? Tình yêu chiếm hữu nhường chỗ cho sự kính trọng và chính sự kính trọng này nảy sanh ra khả năng giúp đỡ thực sự những người khác. Cái gây ra trục trặc nơi chúng taý tưởng người ta tự tạo về mình và về bạn mình, vì nó khơi động trong chúng ta mọi loại chờ mong và hy vọng, với đủ loại vấn đềkhổ tâm thất vọng bao gồm trong đó. Nếu người ta tiến đến chỗ xem mọi chúng sanh là những vị Phật, thái độ của chúng ta đối với họ sẽ thay đổi tự bản chất : người ta không chờ đợi gì nữa ở họ, và người ta thôi ngạo mạn chiếm lấy cho mình quyền phê phán những hành động của họ chẳng hạn. Người ta sẽ lợi lạc nhiều khi làm đi làm lại thực tập này, nó có thể giúp tâm thức dần dần hiểu ra bản tánh thật sự của nó.

Câu hỏi : Có tốt hơn khi chọn lấy một người cho mọi ngày, và người ta có thể chọn một kẻ thù thay chỗ một người bạn ?

Trả lời : Nếu bạn muốn dùng thực tập này để giải quyết một vấn đề đặc biệt, bạn có thể lấy một nhân vật đối với bạn hiện thân cho những khó khăn này trong suốt thời gian. Nhưng nếu bạn chỉ tìm cách hiểu biết vị Phật hiện diện trong mỗi chúng ta, bấy giờ bạn có thể thay đổi nhân vật mỗi ngày.

Câu hỏi : Tại sao kiêu hãnh được xem như một cái gì tiêu cực, trong khi một xã hội như chúng ta đang sống đây, nó thường giúp người ta tự vượt chính mình và như vậy làm gương cho những người khác ?

Trả lời : Nếu bạn có cảm tưởng kiêu hãnh nhiều, có lẽ tốt khi thử thay thế sự kiêu hãnh bình thường này bằng sự kiêu hãnh chính đáng mà người ta vừa nói. Kiêu hãnh với chúng ta có vẻ ích lợi lúc đầu, nhưng nó sẽ không như thế về lâu về dài, bởi vì nó chất nặng bản ngã. Hãy lấy ví dụ một người hãnh diện về gia đình mình và tự nhủ : “Tôi quả là có một gia đình hết mức.” Điều đó rõ ràng không có gì tai hại, xấu xa trong nó, nhưng chính là qua mọi thứ lưu xuất ra từ đó mà những sự việc sẽ hư hại... Nếu hân thưởng cái người ta có là tốt đẹp, thì không cần thiết cũng không ích lợi khi quan niệm ra sự kiêu hãnh về điều đó.

Câu hỏi : Tôi phải làm gì nếu người bạn tôi dùng cho sự quán tưởng chuyển hóa thành một người khác ở giữa thời thiền ? Tôi cứ để vậy hay cố gắng trở lại nhân vật ban đầu ?

Trả lời : Lúc khởi đầu, tốt hơn là thử trở lại với nhân vật ban đầu để học làm chủ phần nào sự quán tưởng, nhưng nếu người ta đã đủ kinh nghiệm, điều đó không bắt buộc.

Câu hỏi : Với tư cáchtín đồ Thiên Chúa giáo, tôi không muốn dùng những biểu tượng đặc biệt của Phật giáo. Vậy là tôi dùng khối cầu ánh sáng và điều đó diễn tiến tốt. Bây giờ chỉ có điều tôi hơi khó khăn khi tưởng tượng ra toàn bộ nhân cách của tôi và của người bạn tôi trong hình thức hai khối cầu ánh sáng “đối mặt nhau”. Ngài có điều gì gợi ý cho tôi ?

Trả lời : Khi người ta nói đến Phật, phần nhiều người ta nghĩ đến nhân vật lịch sử sống ở Ấn Độ cách đây 2500 năm, giống như phần đông tín đồ Thiên Chúa giáo nghĩ đến đức Jesus Christ xứ Nazareth khi người ta đề cập đến những phẩm tính của Christ. Ở đây người ta đặt mình trong trạng thái thức tỉnh, giác ngộ của tâm thức và danh từ Phật tượng trưng toàn bộ những phẩm tính nội tại của trạng thái này, hơn là một nhân vật lịch sử nhất định. Bạn cũng có thể gọi cái đó là Christ, không quan trọng đâu ; những phẩm tính là như nhau, chỉ có sự gọi tên là khác biệt.

Câu hỏi : Làm sao phản ứng lại cái phần “tôi” không ngừng lập lại với tôi rằng tôi chẳng có chút dấu vết gì của lòng bi, mà tôi thật khó cảm nhận và rằng mọi cái ấy chỉ là giả hiệu, giả vờ ?

Trả lời : Tôi nghĩ rằng những thực tập này đúng là dành cho sự khai triển lòng bi khi người ta không có nó và sẽ hoàn toàn vô ích nếu bạn đã có nó...

Câu hỏi : Khi người ta thấy ở một điểm nào đó những con người có thể là tàn ác và hung dữ, có lẽ khắp nơi trên thế giới, làm sao tin được rằng tất cả họ là những vị Phật ?

Trả lời : Tôi tin rằng trước hết phải tự tìm một động cơ đúng đắn, rồi học điều phục tâm thức mình. Tiếp theo, người ta một ngày nào sẽ đến chỗ nhận ra sự thanh tịnh của bản tánh nền tảng của tất cả. Khi bạn đến đó, có lẽ bạn sẽ có câu trả lời cho câu hỏi của bạn và bạn sẽ biết làm gì lúc ấy.

(Lời nói thêm của người dịch tiếng Việt : Một câu nói “kinh điển” thường ở cửa miệng mọi người Phật tử chúng ta là : “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.” Nhưng làm thế nào để trí huệđại bi hiển hiện ở đời, làm thế nào để xã hội biến thành một cõi tịnh độ khi ý niệm không biến thành hiện thực qua thực hành ? Bởi thế, ít ra đây là một phương pháp để hiện thực hóa lý tưởng của mọi người chúng ta.)


Bài Thực Tập số 10
TRIỂN NỞ / THU RÚT


Thực tập này bày tỏ cái tri giác mà người ta có về thân thể mình và về thực tại vật lý của nó ảnh hưởng đến những trạng thái tâm thức chúng ta như thế nào. Chắc chắn bạn đã nhận thấy rằng người ta có khuynh hướng bị bất hạnhsuy sụp khi đau ở một chỗ nào đó, và tính khí tươi tốt và thư giãn khi cảm thấy tốt đẹp “trong da mình” – nói theo nghĩa đen. Ngoài ra, ý thức hay không, mỗi người tự tạo cho mình một số ý tưởng nào đó về thân thể mình ; những ý tưởng đôi khi quá neo chặt và cứng cỏi đến độ chúng ngăn chúng ta tiến hóa và lấy của chúng ta sự tự do. Thực tập phát huy triển nở và thu rút sẽ giúp chúng ta phá vỡ cái xiềng cổ là những ý tưởng chấp chặt này, đặc biệt đối với những ý tưởng về “thân” hay về “tâm” ; nó sẽ góp phần giải thoát chúng ta khỏi những bó buộcbản năng “lãnh thổ” áp bức chúng ta.

Hãy tiếp cận sự thiền định này với thận trọng, vì nó có thể gây ra những phản ứng sợ hãi. Nếu bạn cảm thấy trong bạn sự căng thẳng hay sợ hãi, hãy dừng lại, thư giãn và làm một trong những thư giãn lúc đầu. Chỉ làm lại thực tập khi bạn cảm thấy lại sự thoải mái, thư giãn. Nếu cần, thậm chí hãy dừng thực tập hoàn toàn trong một hay hai ngày. Nếu sự sợ hãi mà bạn cảm thấy liên quan với một điểm xác định của thân thể bạn, hãy thư giãn một ít và hãy tưởng tượng rằng chỗ ấy hoàn toàn trong suốt. Tiếp theo, bạn hãy tự hỏi sợ hãi ở đâu và ai sợ hãi, và suy nghĩ về điều đó một lát.

Mô tả thực tập

1. Phần một : triển nở (30 phút)

Hãy tưởng tượng đức Phật, hay khối cầu sáng rỡ có cùng những phẩm tính, ở trung tâm thân thể bạn. Điều này để bạn bảo đảm không sợ : trong tư cách Phật, bạn chẳng có gì để sợ hay để mất, dù cái gì xảy ra với thân thể bạn. Hãy thở đều đặn và khi thở ra hãy tưởng tượng bạn nở lớn thân thể bạn ra, vỏ bọc ngoài thân càng lúc càng lớn ra (như một trái banh bơm hơi) ; hình thể thân bạn vẫn như vậy, nhưng kích thước tăng dần. Làm như vậy cả thảy ba hay bốn hơi thở ra, nhịp điệu hơi thở của bạn tự nhiênthoải mái. Nếu bạn khó chịu hay cảm thấy căng thẳng ở đâu, hãy tập trung trên điểm đó và lấy nó như trung tâm của tiến trình triển nở. Hãy tưởng tượng mỗi hơi thở ra làm cho sự đau đớn ra khỏi thân thể bạn và vỏ bao thân thể càng lúc càng tinh tế. Ở yên trong ý thức về những phẩm tính của Phật – hiểu biết thanh tịnh và lòng bi vũ trụ – trong khi tiếp tục sự triển nở cho đến lúc thân thể bạn đạt đến kích cỡ một cái nhà. Vào lúc đó, hãy làm biến mất hình dáng bình thường của thân thể bạn – trở thành không hình thể – và tiếp tục lớn lên với một thân thể không hình dáng.

Hãy tiếp tục triển nở : da của thân thể bạn càng lúc càng mỏng (như khi bơm một trái bóng cao su) và càng lúc càng kém đặc ở bên trong. Hãy theo cho đến khi bạn đạt đến tầm cỡ một trái núi. Thân thể bạn bây giờ hầu như không hiện hữu, chỉ còn là một cái bóng sương mù mơ hồ. Hãy tiếp tục lớn trong bầu trời cho đến lúc không còn dấu vết gì của thân thể bạn, như nó hoàn toàn biến mất trong không gian.

Nếu bạn cảm thấy một nỗi sợ hãi nào đó, hãy nhớ rằng bạn có những phẩm tính của một vị Phật và không gì có thể xảy đến với bạn. Để chấm dứt, hãy tưởng tượng bạn trong cảm giác hiện hữu mà không có thân thể, và để cho biến mất mọi ý niệm về một bản ngã.

Phần một này kéo dài nửa giờ, là một nửa của bài thực tập.

2. Phần hai : thu rút (30 phút)

Phần hai này là cái ngược lại của phần trước. Hãy thở đều đặn, trong khi hoàn toàn tỏ biết trong tâm rằng bạn là một vị Phật. Sau ba hay bốn hơi thở vào, hãy tưởng tượng rằng thân thể bạn nhỏ dần lại. Chớ quan tâm về hình dáng thân thể như thế nào, hãy chỉ tiếp tục làm nó thu nhỏ cho đến lúc chấm dứt bằng cách tan biến hoàn toàn vào đức Phật – hay khối cầu ánh sáng rực rỡtrung tâm bản thể bạn. Bấy giờ hãy nghĩ rằng bạn chỉ còn là một với đức Phật hay khối cầu ánh sáng ; không còn nữa “cái tôi”, chỉ còn sự biểu lộ của những phẩm tính chúng là tinh túy của bản tánh của bạn.

Tập trung vào hơi thở vào, hãy tiếp tục làm nhỏ đức Phật – khối cầu – mà “bạn” đã trở thành, cho đến khi nó còn kích cỡ một hạt. Hạt trở nên trong suốt và không màu sắc, nó biến mất dần dầncuối cùng hoàn toàn biến mất.

• Hãy thực hành thực tập này trong ba tuần, khoảng một thời một giờ mỗi ngày, chia làm hai phần bằng nhau (30 phút triển nở và 30 phút thu rút).

Câu hỏi : Có cần tiếp tục cảm nhận sự tiếp xúc với chỗ ngồi hay với mặt đất khi thân thể lớn và rộng ra trong giai đoạn triển nở không ?

Trả lời : Tuyệt đối không cần thiết cảm thấy bị dính với chỗ ngồi hay với mặt đất. Quả thật, người ta tìm cách vượt khỏi sợ hãi và lo ngại thường cảm thấy trước ý nghĩ tan biến vào một cái gì khác. Thế nghĩa là, nếu điều đó làm bạn bối rối khi tháo hết những dây buộc, bạn có thể duy trì cảm tưởng có một sự tiếp xúc với mặt đất, điều đó sẽ không ngăn cản bạn đôi khi có cảm tưởng bập bềnh nhẹ nhàng trên mặt đất.

Câu hỏi : Phải làm gì nếu người ta khó khăn nhiều khi quán tưởng triển nở hơn thu rút, nếu người ta không thật sự đi vào tiến trình đó được ?

Trả lời : Điều đó có thể làm rắc rối cho công việc của bạn một chút. Trong trường hợp đó, chớ có bắt ép ; hãy làm vài thực tập thư giãn trước khi làm lại quán tưởng.

Câu hỏi : Kích thước của Phật trong trung tâm tim có tăng trưởng song hành với thân thể không, hay nó giữ nguyên ?

Trả lời : Phật không phải là một đối tượng vật chất ở giữa thân thể bạn, như một tượng đồng. Trái lại bạn phải tưởng tượng rằng nó càng lúc càng trở nên trong suốt (và ít bản chất), lần lần chính bạn trở thành nó. Nghĩa là kích thước của nó không thật sự quan trọng.

(Lời nói thêm của dịch giả tiếng Việt : Là chúng sanh vô minh như chúng ta, ai cũng cho là toàn thể bản thể mình là thân xác, và từ đó, sướng khổ, nổi trôi, sống chết cũng là từ cái chấp thân này. Nhưng ít ai biết rằng ý thức về thân xác của chúng ta chỉ là một “quán tưởng” phiến diệnsai lầm của của tâm thức vô minh. Bởi thế sự quán tưởng triển nở và thu rút này sẽ phá vỡ sự quán tưởng sai lầm thông thường về thân thể, phá bỏ chấp thân, và mở ra không gian bao la của giải thoát...)


Bài Thực Tập số 11
KẺ THÙ


Thực tập này nằm trong cùng viễn cảnh với những cái trước khi nhằm làm cho chúng ta học đối mặt tốt hơn với những sự việc của cuộc đời. Chúng ta sắp thử hiểu tại sao chúng ta lại thường suy nghĩ, nói năng và làm những việc vô ích, hầu như là có hại – cho chính mình và cho những người khác. Và người ta phải đến chỗ đối mặt với ác cảmhận thù.

Bài tập này đặt chúng ta đối diện với ác cảm hay thù hận mà đôi khi người ta cảm thấy, do đủ mọi lý do. Ngay cả khi bạn nghĩ là không có kẻ thù không đội trời chung và thực thụ, bạn cũng có thể làm thực tập bởi vì có những phạm trù kẻ thù khác nhau và những cấp độ ác cảm khác nhau. Ở đây, người ta phân biệt làm ba thứ, theo định nghĩa :

1. Một ác cảm căn cứ trên sự ghét bỏ cá nhân : điều này có thể từ một loại tức giận nhỏ, như khi có ai làm bạn khó chịu buồn phiền, cho đến một hình thức cực độ, như khi người ta cảm thấy một cơn giận dữ và thù ghét có thể đưa tới sự giết hại.

2. Một ác cảm do một trái nghịch mà người khác mang đến cho bạn, chẳng hạn không ngừng nói lại mọi chuyện bạn đã làm.

3. Một ác cảm từ một gắn bó quá độ : nếu có ai quá gắn bó với bạn, nó không ngừng lo toan đến những việc bạn làm và “tình yêu” chiếm hữu này trở thành một tù ngục. Vậy là bạn ghét người đó, kẻ làm hư hại tự do của bạn và xem bạn là con tin tinh thần.

Mô tả thực tập

Bạn sắp quan tâm đến vẻ bề ngoài thân thể và những tình cảm của “kẻ thù” của bạn hơn là cái người ấy có thể nói hay làm.

Bạn hãy chọn một “kẻ thù” nằm trong một phạm trù vừa kể ở trên, dù mức độ ác cảm với nó ở mức độ ra sao.

Hãy tưởng tượng rằng người ấy đang ngồi trước mặt bạn và các bạn sắp trao đổi những nhân cách của các bạn với nhau, nhưng mỗi người vẫn giữ vẻ bề ngoài bình thường của mình. Như đối với những thực tập ở trước, sự trao đổi được phối hợp với những “pha” thở. Khi thở vào, bạn dần dần thu hút người kia vào bạn, nghĩ rằng bạn đem dần dần vào bạn tất cả cái gì làm nên người kia : những tình cảm, cảm giác, tư tưởng, lo toan, sợ hãi, hy vọng, những bộ phận bên trong... của nó. Không cần làm điều đó trong mỗi hơi thở vào : hãy tìm một nhịp độ hòa hợp với sự thở bình thường tự nhiên của bạn. Chú ý vào hơi thở ra, qua đó bạn tưởng tượng rằng bạn để cho ra khỏi bạn tất cả những cái gì định nghĩa thành con người bạn và những cái đó sẽ làm đầy thân thể kẻ thù của bạn. Dần dần bạn tiến tới trong thực tập này, hãy cảm thấy rằng bạn tự làm trống chính bạn và đem bạn làm đầy kẻ thù, trong khi cái ngược lại xảy ra cho nó.

Hãy tiếp tục cho đến khi bạn hoàn thành sự trao đổi hai nhân cách và cái bên trong của các bạn, chỉ có bề ngoài tương ứng là không thay đổi.

Khi sự trao đổi đã xong, hãy dành một chốc lát để suy nghĩ : Cái giận ở đâu ? Sự thù hận, sợ hãi, sự quỵ lụy gắn bó ở đâu ? Đâu là nguyên nhân của mối ác cảm ? Hãy tự hỏi : “Bây giờ tôi ở chỗ của kẻ thù và nó ở chỗ của tôi, vậy nguồn gốc mối ác cảm nằm ở đâu ?”

Cuối lúc suy nghĩ như vậy, hãy lấy lại vẻ bề ngoài thân thể của bạn, những tình cảm và tất cả những cái gì định hình nên bạn, nhưng vẫn giữ trong bạn cái mà bạn đã tri giác về người kia khi bạn ở “trong da hắn”.

Hãy chấm dứt bằng thực tập thư giãn, hãy để những tư tưởng và tình cảm của bạn đến và đi theo ý chúng. Hãy để tâm thức tự thư giãn và bình lặng và quan sát cái gì xảy ra.

Với thực tập này, người ta thực sự trở vào trong cái sống động của chủ đề ; người ta đi thẳng vào trái tim của mọi vấn đề của mình. Điều đó đôi khi khó nhọc, nhưng hãy có can đảm, điều đó xứng đáng với sự khó nhọc...

• Hãy thực hành thực tập này trong bốn tuần, khoảng một thời một giờ hai mươi phút mỗi ngày, mười phút sau cùng dành cho sự thư giãn.

Tốt hơn là chớ thay đổi nhiều nhân vật cho thực tập này, và duy trì một người hay một ít người.

Câu hỏi : Tôi rất hiểu rằng thực tập này để làm tôi thay đổi tính khí hơn là thay đổi những người khác, nhưng tôi không thể tự ngăn mình khỏi nghĩ rằng, bởi vì tôi phải khó khăn để tiến hóa, thì những người khác có lẽ cũng như vậy. Đây có phải là một giải thích sai lầm không ?

Trả lời : Thực tập này không phải có mục đích làm thay đổi những người khác. Dù những người khác có cải thiện, mục tiêu của chúng ta phải là ở chỗ tự làm cho mình tiến bộ.

Câu hỏi : Ngài có vẻ muốn nói rằng người ta có thể đồng hóa trạng thái yêu đương với một loại ác cảm. Điều ấy có phải nói rằng tốt hơn là nên co gối lên cổ khi người ta cảm thấy bị hấp dẫn mạnh mẽ bởi một người nào, hay người ta có thể tịnh hóa tình yêu nằm trong sự hấp dẫn mà người ta cảm thấy đối với người khác, để biến tình cảm này thành cái gì hữu ích và lợi lạc ?

Trả lời : Nếu bạn có thể thương yêu mà không bám luyến, hay bạn thành công khi vượt qua sự bám luyến ban đầu, bấy giờ tình yêu có thể là rất, rất hữu ích và lợi lạc. Nhưng ngay khi người ta bám luyến vào người yêu, thậm ý vào ý tưởng tình yêu, thì tình yêu này này ô uế bởi bản ngã và dễ dàng biến thành “chua”. Chính bởi vì sự bám luyến kéo theo trên đường đi của nó tính sở hữu, ghen tuông và mong chờ – tất cả những thứ làm nhiễm độc cuộc đời chúng ta... Ở đâu có bám luyến, tình yêu mất đi sự thanh khiết của nó.

Câu hỏi : Khi tôi làm thực tập này, tôi có cảm tưởng rằng ai đó muốn làm điều xấu cho tôi đang tìm cách đi vào chiếm đoạt con người tôi. Đây là một kinh nghiệm kinh khủng đến độ phải nhiều ngày tôi mới lại cảm thấy mình an toàn trong da thịt của tôi. Như vậy tôi có nên tiếp tục làm thực tập không ?

Trả lời : Nếu người ta có thể tiếp cận thực tập này với ý định trong sạch lớn lao và một cảm thức tình thương chân thật, thì ý tưởng người nào đó tìm cách sở hữu bạn không có gì gây sợ hãi, mà ngược lại. Nhưng một người mới bắt đầu sẽ có khó khăn để thấy sự việc dưới góc độ như vậy. Hãy thử hiểu hơn nữa cái gì là “Phật bên trong”, điều ấy sẽ giúp bạn. Và nếu bạn lại còn sợ hãi khi làm thực tập, hãy cố gắng cảm thấy rõ ràng Phật tánh hiện diện trong bạn, trước khi tiếp tục.

Câu hỏi : Thực tập này đôi khi có một hiệu quả rất xáo trộn với tôi ; tôi cảm thấy hoàn toàn đảo lộn, chìm ngập trong những xúc cảm dữ dội và một sự cay đắng lớn lao. Có nên tiếp tục và đối mặt với những tình cảm này hay ngừng lại và làm một ít thư giãn ?

Trả lời : Hai cách giải quyết đều có giá trị. Ban đầu, có lẽ ích lợi khi làm một ít thư giãn, nhưng rồi luôn luôn phải đến một lúc người ta bắt buộc phải nắm lấy cặp sừng của con bò mộng. Rốt cuộc, phải đối mặt với những khó khăn của mình và giải quyết chúng, dù điều đó rất gian khổ.


NHẬN LẤY TRÊN CHÍNH MÌNH SỰ KHỔ ĐAU
CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÁC


Nhập đề tổng quát

Ba thực tập tiếp theo nhằm phát triển và làm mạnh ý chí giúp đỡ những người khác của chúng ta khi dần dần tiến xa hơn trong sự dấn thân của chúng ta : người ta bắt đầu bằng mong muốn nhận trên chính mình sự đau khổ của cha mẹgia đình mình (số 12), rồi đến của bạn bè, thú vật và của xứ sở (số 13), cho đến bao gồm sự đau khổ của những kẻ thù (số 14). Để tìm thấy nơi mình lòng bi cần thiết, người ta chấp nhận đối mặt với cái tiêu cực hơn trong mình và tịnh hóa nó.

Một khi ý tưởng về lòng bi thức dậy nơi mình, người ta sẽ nỗ lực đưa nó vào thực hành bằng cách nghĩ rằng người ta nhận trên chính mình những đau khổ của những người khác. Vì rõ ràng trong lúc này chỉ cần một nguyện ước chân thành – mà người ta rất khó thực hiện – người ta sắp lại tự tưởng tượng mình trong hình thức một vị Phật, như là sự biểu lộ ra bên ngoài của hiểu biết thanh tịnh và lòng bi vũ trụ. Những thu hoạch về những thiền định trước kia của bạn sẽ ích lợi cho bạn, không chỉ bởi vì bạn đã có thói quen quán tưởng mình trong hình thức một vị Phật – hay khối cầu ánh sáng – mà cũng bởi vì bạn đã học cách cảm nhận những phẩm tính bên trong mà sự việc đó thừa nhận và những âm vang sâu xa mà sự việc ấy gây ra trong bạn. Bây giờ bạn có thể cảm thấy dễ dàng thoải mái và có một bảo đảm nào đó khi bạn tự nhủ “Tôi là một vị Phật.” Người ta sẽ không đề cập đến khối cầu ánh sáng nữa trong những quán tưởng tiếp theo đây, bởi vì người ta nghĩ rằng ý nghĩa của Phật với tư cáchbiểu tượngbiểu lộ ra bên ngoài của những phẩm tính của tâm thức giác ngộ đang hiện diện trọn vẹn rõ ràng đối với tất cả chúng ta – điều này không ngăn cản bạn tiếp tục dùng nó cho những quán tưởng, nếu bạn thích. Dầu sự chọn lựa của bạn là cái gì, chính yếuthấm nhuần sự xác tín và cảm thức rằng người ta thực sự là một vị Phật – theo nghĩa chúng ta đã xác định – khi người ta làm những quán tưởng này. Nếu bạn còn chưa có thể cảm thấy một xác tín như vậy, hãy nhảy qua bộ ba thực tập này và thẳng đến “Khối Cầu Cầu Vồng” (số 15).


Bài Thực Tập số 12
NHẬN LẤY TRÊN CHÍNH MÌNH
SỰ KHỔ ĐAU CỦA CHA MẸ
VÀ CỦA GIA ĐÌNH MÌNH


Đã học nhìn thấy những người khác và tự thấy mình trong hình thức một vị Phật, người ta bắt đầu hiểu tốt hơn một chút cái tinh túy thanh tịnh, tiềm năng của toàn thiện hiện diện trong tâm thức của mỗi người – “bản tánh Phật” của chúng ta. Người ta thoáng thấy một thực tại cho đến lúc đó chưa từng nghĩ ra : mọi cái đều tham dự vào cái tinh túy này – mọi kinh nghiệm thân xác, lời nói hay tâm thức của chúng ta cũng như của những người khác. Khi người ta hiểu ra tất cả chúng ta liên hệ mật thiết với nhau tới mức độ nào, ý muốn giúp đỡ những người khác nảy sanh hoàn toàn tự nhiên, và người ta chuẩn bị học nhận lấy trên chính mình sự khổ đau của những người khác, bắt đầu từ những người gần gũi với chúng ta.

Mô tả thực tập

Hãy tự lập lại : “Tôi là một vị Phật”, và khi hoàn toàn thấm nhuần xác tín này, hãy quán tưởng bạn trong hình tướng ấy, sáng rỡ và không thể sờ nắm. Hãy tưởng tượng trước mặt bạn là cha bạn, mẹ bạn và những thành viên gần gũi của gia đình bạn, dù đã chết hay đang sống. Hãy lần lượt nghĩ đến từng người, và cố gắng thấy biết sự khổ đau riêng biệt của mỗi người trong họ : chẳng hạn một bà mẹ khổ đau vì quá bám luyến với chồng mình, một người cha bị tiêu hoại bởi tham vọng quá mức của mình, hay một người anh có trở ngại về mặt thân thể. Hãy làm một bản kê khai chính xác trong óc về mỗi khổ nhọc hay khổ đau này, rồi hãy chọn lấy một cái sẽ là đối tượng chính yếu cho sự thiền định của bạn, trong thiền định đó bạn sẽ thử nhận lấy trên bạn sự đau khổ riêng biệt này của một thành viên gia đình.

Vậy hãy tập trung vào người ấy và vào sự đau khổ đã chọn cho buổi thiền định và tưởng tượng rằng tất cả sự đau khổ đó – thân hay tâm – ra khỏi người đó dưới dạng một loại bùn đen, nhầy quánh, nặng nề và dày đặc, hơi giống dầu hắc – hầu như cứng và có vẻ rất độc hại. Khi thở vào – không cưỡng ép mỗi hơi thở, hãy tìm nhịp điệu thích hợp với bạn vào lúc đó – bạn làm cho bùn đen của người bạn muốn nhận khổ đau đi ra khỏi người ấy và hút vào thân thể Phật của bạn. Chất lỏng màu đen đi vào trong trái tim Phật của bạn, nơi đó nó cháy lên, dùng làm nhiên liệu cho ngọn lửa của lòng bi và làm sống động ngọn lửa của sự thấu hiểu của bạn về tiềm năng toàn thiện hiện diện trong mỗi chúng tatinh túy của Phật, Phật tánh.

Đồng thời, trên những hơi thở ra của bạn – theo nhịp độ thích hợp với bạn – hãy tưởng tượng rằng bạn gởi đến người ấy tất cả sự tốt đẹp, tất cả đức hạnh và tất cả hạnh phúc có thể có, trong hình thức một ánh sáng trắng và thanh tịnh như pha lê thoát ra từ trái tim Phật của bạn và thâm nhập toàn bộ thân thể của người kia, giải thoáttức thời khỏi những đau khổ của nó và khỏi những gì là nguyên nhân của khổ đau đó.

Vậy là bạn tạo ra một chuyển động đến và đi, qua đó bạn rút vào sự khổ đau trong hình thức một chất lỏng màu đen và thay thế bằng ánh sáng trắng thanh tịnh của sự tốt đẹphạnh phúc.

Bạn hãy tập trung thỉnh thoảng trên hình ảnh của người bạn muốn giúp đỡ bằng cách quán tưởng người đó trở lại rất rõ ràng, và nghĩ trở lại sự khổ đau mà bạn đang muốn làm nhẹ nơi người đó. Hãy thường làm điều này khi bạn thấy cần.

Dần dần khi bạn tiến bộ trong thực tập, chất lỏng đen sẽ sáng sủa ra và chảy lỏng hơn, tương ứng với sự loại trừ dần dần khổ đau. Sau một thời gian – khoảng nửa giờ – chính cùng một ánh sáng trắng và trong trẻo chuyển động lưu thông giữa bạn và người kia, trên hơi thở vào và hơi thở ra (một lần ba hay bốn chu kỳ thở là đủ, tùy theo bạn tìm thấy nhịp điệu của mình). Hãy nghĩ rằng thành viên này của gia đình bạn là đối tượng cho sự thiền định của bạn giờ đây hoàn toàn thoát khỏi những khổ đau của nó và nó cũng trở thành một vị Phật như bạn.

Lưu ý quan trọng : bạn chớ sợ ngã bệnh hay bị chìm ngập khổ đau này khi nhận nó trên chính bạn, bởi vì bạn không ở trong hình thức bình thường của bạn nữa : bạn là Phật trong thời gian bạn làm thực tập này và không có cái xấu nào có thể chạm đến bạn.

• Hãy thực hành thiền định này trong hai tuần (hay hơn, nếu bạn muốn tập trung trên nhiều người khác nhau), khoảng một giờ mười lăm phút mỗi ngày. Hãy chia xẻ thời gian của bạn giữa những thành viên khác nhau của gia đình bạn và để vài ngày cho mỗi người trong họ.


Bài Thực Tập số 13
NHẬN LẤY TRÊN CHÍNH MÌNH
SỰ KHỔ ĐAU CỦA BẠN BÈ, THÚ VẬT VÀ CỦA XỨ SỞ BẠN


Trong thực tập này, người ta tập trung trên những khổ đau của bạn bè, thú vật và xứ sở của mình. Dù cho mọi người khổ đau, những khổ đau của những người khác không luôn luôn rõ ràng, bởi vì chúng mang lấy những hình thức không đập mạnh vào mắt. Có đủ loại khổ – vật chất, tình cảm hay tinh thần – mà người ta phải học để nhận ra nơi những người khác để có thể giúp họ thoát khỏi chúng. Chẳng hạn, nếu người ta ý thức những hành hạ do bám luyến gây ra, người ta có thể nhận lấy chúng trên chính mình cùng lúc với nguyên nhân của chúng – sự tham muốn.

Mô tả thực tập

1. Thiền định

Bạn hãy chọn lấy một người bạn trai hay gái, một con vật hay một loài thú riêng biệt, một nhóm hay một hội đoàn mà bạn thuộc vào, hay toàn bộ cộng đồng quốc gia. Hãy tưởng tượng người bạn ấy, con thú vật ấy hay nhóm ấy trước mặt bạn.
Sự quán tưởng giống như trong thực tập trước : trên hơi thở vào bạn nhận vào bạn sự khổ đau với hình dạng một chất lỏng màu đen, và trên hơi thở ra bạn gởi trả lại ánh sáng trắng của lòng bi. Ánh sáng này không chỉ làm nhẹ những khổ đau hiện thời của người hay nhóm liên quan, mà còn mang lại cho họ cái mà họ mong muốn nhất. Khi bạn thở ra, hãy nghĩ rằng bạn đem cho họ tất cả cái gì có thể lấp đầy những mong muốn của họ, bởi vì chính khi thỏa mãn sự tham muốn làm cho họ khổ đau mà bạn có thể làm cho họ nhẹ nhõm. Hãy tưởng tượng rằng ánh sáng trắng tự động mặc lấy hình dạng của cái mà những người được quán tưởng mong muốn nồng nhiệt nhất hay họ cảm thấy cần thiết nhất – vật lý, tình cảm hay trí thức. Đến độ họ cảm thấy được giải thoát khỏi bám luyến của họ bởi vì tất cả tham muốn của họ đã được thỏa mãn.

Nếu bạn hiểu rõ điều người đó mong muốn là gì, bạn có thể quán tưởng đối tượng ấy, làm cho nó càng đẹp càng tốt. Chẳng hạn bạn biết ai đó đang cháy bỏng vì muốn có một cái nhà, hãy tưởng tượng cái nhà càng đẹp càng tốt và biếu nó cho người ấy qua trung gian ánh sáng mà bạn gởi đến khi thở ra.

Khi bạn có cảm tưởng đã hoàn toàn đáp ứng những tham muốn của người hay nhóm người bạn quán tưởng trước mặt, và như thế đã bẻ gãy những sợi xiềng của tham luyến và khổ đau đang ràng buộc họ, hãy tưởng tượng rằng những người này cũng mang lấy hình tướng của một vị Phật.

2. Hội nhập thiền định vào đời sống hàng ngày

Thiền định không chỉ là giờ phút này khi dòng bình thường của những sự việc trở thành trừu tượng trong lúc bạn ngồi trên gối thiền hay trên ghế. Đó là một trạng thái tâm thức, một phẩm tính chú tâm mà người ta học trau dồi suốt cả ngày, ngay giữa lòng những hoạt động hàng ngày. Bạn hãy lập lại thường xuyên trong ngày : “Tôi là một vị Phật”, và làm sao xác tín này nuôi dưỡng và định hướng mỗi tư tưởng, mỗi lời nói và mỗi hành động của bạn. Hãy không ngừng khơi dậy ý định giúp đỡ những người khác : người ta thấy đầy đủ những khổ đau chung quanh ta mỗi ngày để khó có thể quên. Hãy duy trì một sự liên tục của sự chú tâm cắm rễ trong mối bận tâm vị tha này : bạn mong muốn nhận về nơi bạn sự khổ đau của những người khác và thay thế vào đó sự mãn nguyện những tham muốn của họ. Hãy gởi cho họ ánh sáng trắng của lòng đại bi để bù đắp cho tham muốn của họ cũng thường như mỗi khi ý nghĩ về họ đến với bạn.

Tôi muốn xác định một điểm, để tránh mọi hiểm nguy mập mờ ý nghĩa : khi tôi nói “Hãy nghĩ rằng bạn là một vị Phật”, như thế không có nghĩa là tự cho mình là một vị Phật, như những người khác tự cho mình là Napoléon hay Jean d’Arc ; việc này không muốn nói hãy kêu lên điều đó trên những mái nhà và quấy rầy mọi người bằng việc tuyên bố mình là Phật – với lý do là một lama Tây Tạng đã nói với bạn như vậy – và chờ đợi được trọng vọng như thế ! Điều đó nghĩa là thấm nhuần một xác tín thuộc về thực tại tối hậu của bản tánh chúng ta, để giúp chúng ta khai triển tất cả tiềm năng của nó – cho sự tốt đẹp vĩ đại nhất của những người khác và của chính chúng ta. Một xác tín bạn sẽ giữ gìn nơi bạn, mà bạn nuôi dưỡngcủng cố mỗi ngày và nó sẽ bồi bổ cho bạn sức mạnh, ngày qua ngày.

Rõ ràng có những lúc bạn cảm thấy hoàn toàn không có khả năng nhận lấy sự khổ đau của những người khác và cho họ tình thương và lòng bi của một vị Phật. Khi bạn muốn gởi người đồng nghiệp đang làm việc với bạn đến cho quỷ ma ở địa ngục, đôi khi bạn cảm thấy hoàn toàn mâu thuẫn với chính bạn, bị giằng co giữa sự cao cả của những lý tưởng tình thươngđiều kiệnthực tế buồn rầu của những lời nói và hành động của bạn. Chưa nói đến những gì xảy ra trong đầu bạn ! Nhưng chớ nản lòng ! Chính trong những lúc như vậy mà phải nhớ rằng tiềm năng của toàn thiệnPhật tánh – đang ở nơi mỗi chúng ta vẫn hằng hằng thanh tịnh, dù những yếu đuốisai lầm của chúng ta. Không có gì có thể làm nhiễm ô nó và nó vẫn giữ mọi phẩm tính của nó, như một miếng vàng bị vùi dưới hàng tấn đất đá đổ vụn người ta tìm lại được sau bao nhiêu năm nó biến mất. Hãy tin cậy vào chính bạn và cũng tự nói rằng bản thân sự thanh tịnh của mục tiêu của bạn là một sức mạnh có thể nâng đỡ bạn qua mọi thăng trầm.

• Hãy thực hành thiền định này trong hai tuần, khoảng hai giờ mười lăm phút mỗi ngày, dành hai hay ba ngày cho mỗi đối tượng thiền định mà bạn đã chọn.

Bài Thực Tập số 14
NHẬN LẤY TRÊN CHÍNH MÌNH
SỰ KHỔ ĐAU CỦA NHỮNG KẺ THÙ CỦA MÌNH


Để cho thiền định này, người ta sẽ xem là có ba phạm trù kẻ thù :

1. Những kẻ thù ở xa : những người này nằm ở mức độ quốc gia mà người ta thuộc về. Có thể có những quốc gia khác lâm chiến với xứ sở của bạn hay áp bức xứ sở bạn bằng cách này hay cách khác, cũng như có những yếu tố hay lực lượng trừu tượng hơn như nạn đói hay hạn hán. Những kẻ thù đó chỉ gây ra nơi chúng ta một ác cảm tương đối giới hạn, trong mức độ chúng thường kém liên hệ đến cá nhân, và do vậy ít khổ đau hơn.

2. Những kẻ thù của cá nhân : là những người chúng ta không ưa, do đủ loại lý do, nhưng không nằm trong những người thân cận với chúng ta. Dù những tình cảm của chúng ta đã rất nhiều độc ác hơn trường hợp trước, thì chúng vẫn còn dễ kiểm soát hơn là đối với những người mật thiết.

3. Những người mật thiết mà với họ người ta có những tương quan rất khó khăn : những người bạn, những người thân cận hay những người trong gia đình không thông hiểu nhau và bạn ghét họ – thỉnh thoảng hay thường xuyên – hay họ ghét bạn. Nếu bạn không có kẻ thù như vậy, hãy nghĩ đến một con vật bạn rất khó chịu với sự hiện diện của nó.

Mô tả thực tập

1. Chuẩn bị / tịnh hóa

Trước khi thử nhận lấy trên chính mình sự khổ đau của những kẻ thù, trước tiên phải thoát khỏi những độc làm ô nhiễm tâm thức chúng ta, và nếu không có những độc ấy chúng ta cũng không có những kẻ thù.

Hãy tưởng tượng một vị Phật ánh sáng chói ngồi trước mặt bạn. Hãy gợi lên kẻ thù bạn sắp thiền định và để cho tất cả những tình cảm tiêu cực mà y gợi ra cho bạn dâng lên trong bạn. Hãy cảm thấy tới điểm nào những cảm xúc này đủ mạnh và làm bạn dao động, và hãy hình dung chúng trong hình thức một đám khói màu đen dày ở trong thân thể bạn.

Tiếp theo hãy mở mình ra với sự thanh tịnh của Phật ở trước bạn. Khi thở vào, hãy để cho bạn được thấm nhập bởi những tia sáng chói ngời phát ra từ thân Phật, và khi thở ra, hãy tưởng tượng rằng bạn tống ra khỏi thân thể bạn đám khói đen dày – những xúc cảm bạo liệt ở trong bạn – nó rút vào trong đất, khoảng một mét trước mặt bạn và tan biến hoàn toàn ở đó.

Dần dần khi thực tập tiến bộ, hãy cảm thấy ánh sáng chói ngời thay thế lần khói đen, cho đến khi nó không còn nữa. Bây giờ bạn cũng thanh tịnh như một vị Phật và như vậy đã sẵn sàng nhận lấy trên bạn sự khổ đau của những kẻ thù. Tin chắc điều này, bạn hãy đi qua giai đoạn tiếp theo.

2. Phần một : sẵn sàng đón nhận sự khổ đau mà những kẻ thù gây ra cho bạn. Hút vào một đám mây các độc

Hãy tưởng tượng tất cả những kẻ thù của bạn tụ tập trước mặt bạn : những người chỉ ảnh hưởng đến bạn từ xa, những người thân cận, những người mật thiết, những người trong gia đình – tất cả những người bạn ghét vì một lý do nào đó.

Toàn bộ những tình cảm tiêu cực mà những kẻ thù của bạn có đối với bạn mang hình thức một đám mây đen tượng trưng cho những độc của tâm thức (tham, sân, vô minh và mọi chuyển thể của chúng). Chớ quên rằng bạn đang ngang mức độ một vị Phật, thanh tịnh hoàn toàn nơi thân, ngữ, tâm, và khi thở vào, hãy hấp thu dần dần đám mây đen này. Ngay khi những bất tịnh tạo thành đám mây đi vào trong bạn, chúng tự tiêu hủy và tự chuyển hóa : khi thở ra, bạn gởi đến những kẻ thù một ánh sáng trắng và rạng rỡ của sự thanh tịnh – ánh sáng của lòng bi.

Dần dần khi thiền định tiến bộ, hãy cảm thấy sự ham muốn của bạn giúp đỡ những người khác tiến hóa và phát triển tăng thêm. Chớ tìm cách lẩn tránh những độc bạn đã rút ra từ những kẻ thù gần và xa ; hãy nghĩ rằng bạn đón nhận những khổ đau họ gây ra cho bạn và thay vì ghét họ, bạn gởi cho họ tình thương và lòng bi của một vị Phật, dưới hình thức ánh sáng trắng.

3. Phần hai : nhận lấy trên chính mình khổ đau của một kẻ thù

Như phần một của thực tập, bạn được tịnh hóa, như một vị Phật.

Hãy nghĩ đến một người đích xác cụ thể bạn có những tương quan khó khăn dầu lý do là gì – ghét, ghen, bất hòa, khinh miệt – (không có một người như vậy, thì hãy gợi ra một con vật bạn khó chịu), và tưởng tượng người ấy ở trước mặt bạn.

Khi đã cảm thấy sự hiện diện của người ấy hay con vật ấy rõ ràng, tìm cách khám phá nguyên nhân chánh của những khổ đau của nó – giận, tham, kiêu căng, ngu si, ghen ghét... – và hãy tưởng tượng cái độc này trong hình thức một đám khói đen dày thoát ra từ nó và bạn hấp thu vào khi thở vô.

Như trước, đám khói này được tịnh hóa nơi bạn bởi lòng bi và khi bạn thở ra, bạn gởi nó đến người trước mặt trong hình thức một ánh sáng trắng và thanh tịnh rạng rỡ. Bạn cũng có thể tưởng tượng những màu khác, nhưng màu trắng là chính yếu.

Bạn càng gởi ánh sáng trắng khi thở ra, khói càng nhạt đi và biến mất. Để chấm dứt chỉ còn ánh sáng trắng lưu chuyển giữa bạn và người kia. Chính người ấy đã trở thành hoàn toàn thanh tịnh, như một vị Phật, như bạn vậy. Từ nay hai người có thể hiểu nhau và tôn trọng lẫn nhau.

Cuối buổi thiền định, hãy để tâm thức bạn thư giãn và chìm trong cảm giác không gian vô biên. Hãy an trụ ở đó lâu cho đến khi nào bạn còn cảm thấy việc ấy là tự nhiênthoải mái.

• Hãy thực hành thiền định này trong bốn tuần, khoảng một giờ rưỡi mỗi ngày. Hãy kết thúc mỗi thời thiền bằng một khoảng thời gian thư giãn hoàn toàn của tâm thức.


Bài Thực Tập số 15
KHỐI CẦU CẦU VỒNG


Thật dễ dàng để cho mình bị cuốn đi bởi bạo lực của một số tình cảm và cảm xúc của mình, dù cho sau đó sự việc này sẽ gây ra không ít vấn đề và khổ đau, như chắc chắn bạn đã từng kinh nghiệm. Vậy thì người ta nên học nhận biết những cơ chế xúc tình để có thể hiểu chúng và sau đó kiểm soát chúng tốt hơn.

Đó chính là mục tiêu của thực tập này mà từ ngữ chủ đạo là hiểu. Chẳng hạn nếu người ta có một tính khí ghen tuông, thì không phải tự nói với mình không nên có nó mà người ta chữa lành khỏi nó. Hơn nữa phải biết rằng khi hành động dưới sự thống trị của ghen tuông, người ta tự làm hại mình và người khác trong khi tự cho là thương yêu và muốn đem lại hạnh phúc ; người ta làm hư hỏng sự tự do của mình và làm mất lý trí. Chính là hiểu sự ghen tuông làm nhiễm độc cuộc đời ta đến mức độ nào mà người ta muốn thoát khỏi nó. Và cũng như thế với những xúc cảm khác làm rối loạn những ý nghĩ của chúng ta và xé rách trái tim chúng ta, chưa nói đến những tàn phá mà những xúc cảm đó gây ra quanh chúng ta.

Thực tập này phân thành sáu phần, mỗi phần căn cứ trên sự quán tưởng một ánh sáng màu sắc riêng biệt, trong suốt và không thể sờ nắm, chứa đựng một năng lực chữa lành, kể về cả thể xác và tinh thần (ví dụ, nếu người ta đau đầu, hay chỗ nào khác, người ta có thể tưởng tượng ánh sáng đến chiếu sáng chỗ đau đó và có sự nhẹ nhõm, như một món thuốc).

Niềm tin có một vai trò quan trọng ở đây : phải xem những ánh sáng có màu sắc này như sự biểu lộ của tiềm năng chữa lành của tâm thức ; cách chữa trị ung thư hiện đại cũng sử dụng năng lực tự chữa lành này khi cho người bệnh một số thực hành quán tưởng.

Người ta càng quen quán tưởng những ánh sáng này, người ta càng hết tự co rút và rút ra được sự lợi lạc từ đó. Nói như thế có nghĩa đây không phải là một phương thuốc trị bá bệnh và không phải vấn đề là chờ đợi một sự lành bệnh kỳ diệu : bệnh tật cũng tham dự vào đời sống, và đó là một hiện tượng phức tạp mà sự xuất hiện do rất nhiều yếu tố. Tuy nhiên, nếu sự quán tưởng những ánh sáng màu không chữa lành cho chúng ta tất cả bệnh tật đi nữa, thì nó sẽ có thể giúp chúng ta sống tốt hơn. Như chúng ta đã nhận xét, càng có sự tin tưởng vào năng lực chữa bệnh của một phương thuốc bao nhiêu, thì nó có hiệu quả lợi lạc bấy nhiêu trên người cầu cứu nó. Nếu người ta không tin điều đó như vậy và người ta làm những thực tập chỉ trên đầu môi, thì rõ ràng những thực tập có một tác động rất nhỏ nơi chúng ta. Nhưng một điều chắc chắn trong mọi trường hợp : việc ấy sẽ không gây cho bạn một tai hại nào...

Như đối với những thực tập trước, sự quán tưởng thì đồng thời với hơi thở : ánh sáng thâm nhập vào thân thể với hơi thở vào, trong khi những nhiễu loạn tình cảm (phiền não) và sự khổ đau được tống xuất bởi hơi thở ra. Ánh sáng luôn luôn hành động trên mọi cấp độ một lúc – thể xác, lời nóitâm thức – bởi vì ở cấp độ đó mà những khó khăn của chúng ta tác động, và người ta có thể tập trung ánh sáng trên những điểm đặc biệt làm chúng ta đau đớn, về thể xác cũng như về tinh thần.

Chính vì sự tiện lợi mà những xúc cảm khác nhau được đối xử riêng biệt, nhưng quan trọng là chớ quên rằng tất cả chúng được nối kết nhau bởi một gốc rễ – bản ngã. Chẳng hạn, bạn hãy lấy sự kiêu ngạo, nó có thể mặc lấy mọi loại hình thức nhuộm màu bởi những độc khác của tâm thức : người ta có thể kiêu hãnh cùng lúc với ghen tuông, ngu si, giận dữ và v.v... Điều đó muốn nói rằng, dù khi người ta làm việc chỉ trên một màu sắc, người ta đồng thời cũng rút được lợi lạc từ những hiệu quả của những màu sắc khác.

Khi bạn chấm dứt mọi thực tập của loạt này, bạn có thể tiếp theo dùng lại một cách thích đáng màu nào tùy theo cái nào gây rối cho bạn nhiều nhất. Chẳng hạn bạn cảm thấy không thể tự kiểm soát mình vì sự ghen tuông của bạn, bạn hãy dùng ánh sáng lục như một phương thuốc.

Mô tả thực tập

Trước tiên hãy xem xét xúc cảm nào phá rầy bạn, như sự ghen ghét hay kiêu ngạo, và bạn muốn làm việc với nó. Hãy biết nó làm nhiễm độc cuộc đời bạn đến mức nào và hãy ý thức những ảnh hưởng dội lại đầy khổ tâm của nó trên bạn và trên những người khác.

Tiếp theo hãy tưởng tượng bạn đang nhìn một bầu trời rất thanh tịnh màu xanh da trời, hay bầu trời đêm xanh thẫm và đầy sao, tùy theo cái nào bạn thích. Ở xa xuất hiện một khối cầu bằng ánh sáng trong đó người ta phân biệt được sáu màu sắc, sống động và lấp lánh như đá quý : trắng, lục, vàng, xanh da trời, đỏ và xanh của trời đêm. Tỏa sáng màu sắc và không thể sờ nắm như những màu sắc của mống cầu vồng, những ánh sáng màu này không ngừng quay cuồng gợn sóng trong khối cầu (như những bọt xà phòng). Màu nào trong các màu ấy cũng có thể trở thành màu thống trị của khối cầu, tùy theo những nhu cầu thực tập. Bạn hãy thâm nhập ý tưởng rằng mỗi màu thực sự có một năng lực chữa lành, có thể làm nhẹ những đau đớn của bạn và chữa lành cho sự tiêu cực xấu xa của những xúc cảm của bạn. Cũng hãy nhớ khi bạn làm những phần khác nhau của thực tập thì mỗi màu chứa đựng tinh túy của tất cả các màu kia.

Khi thở vào, bạn hút vào thân thể bạn – trong hình thức quen thuộc bình thường – ánh sáng của khối cầu, ánh sáng đó giúp cho bạn làm chủ được xúc cảm tiêu cực tương ứng với màu sắc của nó. Khi thở ra, bạn trục xuất khỏi thân thể bạn yếu tố xúc cảm mất quân bình này, dưới hình thức một khói màu độc hại, nó tan biến ở khoảng xa bạn ba tấc.

Khi bạn bắt đầu cảm thấy những hiệu quả tích cực của thực tập, hãy kết thúc buổi tập bằng cách tưởng tượng rằng bạn gởi ánh sáng chữa lành bạn vừa sử dụng cho một người đặc biệt cần. Chẳng hạn bạn biết một người rất kiêu ngạo và bạn muốn giúp đỡ nó, hãy gởi cho nó ánh sáng trắng và sau đó để cho ánh sáng trắng đó soi chiếu toàn thế giới.

Những thực tập này có thể rất ích lợi cho bạn, không chỉ về cá nhân, mà còn trong những tương quan với những người khác : nếu bạn điều phục tốt những mặt tiêu cực của nhân cách bạn, bạn sẽ ít xúc phạm những người khác hay làm họ tổn thương. Thế nghĩa là khi bạn tự tịnh hóa mình, bạn đã đi bước đầu tiên thực sự về phía những người khác.

Nếu bạn căng thẳng hay khó chịu trong khi làm những thiền định này, thì hãy làm lại một lát những thực tập ở trước : “Thư giãn”, “Tự mở mình ra” hay “Cảm nhận”, trước khi theo đuổi tiếp tục.

• Hãy thực hành “khối cầu cầu vồng” trong sáu tuần, mỗi tuần cho một màu, khoảng một giờ mỗi ngày.

1. Quán tưởng ánh sáng trắng : phương thuốc dành cho kiêu căng

Hãy tìm kiếm nơi bạn tất cả mọi thứ liên kết với kiêu căng. “Kiêu căng” ở đây dùng theo nghĩa ngạo mạn, một thái độ tự cao và hạ cố, và một tình cảm tự tôn đối với những người khác. Hãy xem xét những biểu lộ của kiêu căng trong đời sống hàng ngày của bạn và hãy thấy nó tác động tai hại như thế nào lên bạn, về thể xác cũng như về tình cảm.

Hãy quán tưởng khối cầu cầu vồng trước mặt bạn, trong bầu trời xanh (màu xanh theo bạn chọn như nói ở trên). Những ánh sáng muôn màu quay cuồng trong khối cầu hợp nhất lại để cho ta một ánh sáng trắng, lấp lánh và thanh tịnh như một viên kim cương. Hãy tưởng tượng rằng ánh sáng này thâm nhập bạn khi bạn thở vào ; nó cho phép bạn nhận diện sự kiêu căng trong bạn, hiểu nó, chấp nhận nó và thoát khỏi nó. Nó chuyển hóa thành khói đen và dày mà bạn trục xuất khi thở ra và nó biến mất hoàn toàn khi ra khỏi thân thể bạn ba tấc.

Hãy nghĩ rằng ánh sáng đã hoàn toàn tịnh hóa bạn khỏi kiêu căng và đã xóa mọi hậu quả độc hại của cái mà bạn đã suy nghĩ, nói năng hay làm dưới sự thống trị của nó. Nếu bạn đang có một bệnh nào đó đang đau ở một nơi nào đó, hãy tập trung vào sự tác động của ánh sáng ở chỗ ấy, và hãy cảm thấy những hiệu quả tốt lành của ánh sáng.

Vào cuối thời thiền, khi bạn cảm thấy được tịnh hóa khỏi sự kiêu căng, hãy hướng ánh sáng trắng đến những người mà bạn biết, rồi đến tất cả những người khác.

Để chấm dứt, ánh sáng trắng nhập trở lại vào khối cầu, nó lại trở nên nhiều màu và đi xa dần trong không gianhoàn toàn biến mất. Hãy để tâm thức nghỉ ngơi trong không gian vô biên càng lâu cho đến khi nào bạn còn cảm thấy điều đó là tự nhiên.

2. Quán tưởng ánh sáng lục : phương thuốc dành cho ghen ghét, đố kỵ

Hãy tìm thấy trong bạn mọi thứ liên kết với ghen tỵ. Hãy xem những biểu lộ của ghen tỵ biểu lộ trong đời sống hàng ngày của bạn và những hậu quả của nó trên thể xác và trên những tình cảm của bạn.

Hãy quán tưởng khối cầu cầu vồng trước mặt bạn, trong bầu trời xanh. Những ánh sáng đủ màu quay cuồng trong khối cầu hợp lại thành một ánh sáng lục tươi. Hãy tưởng tượng ánh sáng này thâm nhập vào bạn khi bạn thở vào ; ánh sáng cho phép bạn nhận diện sự ghen tỵ của bạn, hiểu nó, chấp nhận nó và thoát khỏi nó. Nó chuyển hóa thành một khói dày màu lục đậm mà bạn tống ra khi thở ra và nó biến mất hoàn toàn ở khoảng cách ba tấc với thân thể bạn. Nếu bạn có bệnh tật gì hay chỗ đau nào, hãy tập trung lên tác động của ánh sáng vào chỗ đó, và hãy thấy những hiệu quả tốt lành.

Cuối thời thiền, khi bạn cảm thấy đã được tịnh hóa khỏi sự ghen tỵ, hãy hướng ánh sáng lục trước hết đến những người bạn biết, rồi thì đến tất cả mọi người.

Để chấm dứt, hãy tưởng tượng rằng ánh sáng lục lại hội nhập vào khối cầu, nó lại trở thành đủ màu và xa dần trong không gian và biến mất hoàn toàn. Hãy để tâm thức nghỉ ngơi trong không gian vô biên lâu cho đến khi nào điều đó còn tự nhiên với bạn.

4. Quán tưởng ánh sáng vàng :
phương thuốc dành cho tham muốnthất vọng

Làm như những quán tưởng ở trên với ánh sáng vàng của kim loại vàng sáng chói, để tống ra khỏi bạn những tham muốn, sự không toại nguyện, không bằng lòng và những thất vọng của bạn trong hình thức một khói dày màu vàng đậm và đục.

4. Quán tưởng ánh sáng xanh da trời :
phương thuốc dành cho sự ngu si

“Ngu si” ở đây phải hiểu trong nghĩa uể oải và nhu nhược, một kiểu dễ dãi khoái trá với chính mình, như khi người ta thích không biết gì cả và làm con đà điểu rúc đầu trong cát. Là ngu si trong ý nghĩa một sự không hiểu biết cố tình, do thiếu ý chí muốn biết và hiểu, có từ sự uể oảithụ động. Bạn hãy tìm nơi bạn mọi thứ liên kết với ngu si theo nghĩa người ta đã phân định : uể oải, nhu nhược, thụ độngdễ dãi tự mãn với chính mình.

Hãy làm theo trình tự như những quán tưởng ở trên với ánh sáng màu xanh da trời được thở vào, và tống ra những thứ thuộc ngu si trong hình thức một khói dày xanh đậm.

5. Quán tưởng ánh sáng đỏ :
phương thuốc dành cho sự tham lam

Hãy tìm nơi bạn sự tham lam và những ham muốn không thỏa mãn của nó, cũng như mọi thứ liên kết với nó : cảm giác thiếu thốnnghèo khó, tình cảm cô đơn, những khuynh hướng keo kiệt, và sự bất lực không thể chia cho những người khác.

Hãy làm theo trình tự như những quán tưởng ở trên với ánh sáng màu đỏ chói sáng như hồng ngọc – một màu sắc nóng, sống độngvui tươi. Cái được tống ra là một khói dày màu nâu sẫm.

6. Quán tưởng ánh sáng màu xanh đêm :
phương thức dành cho sự giận dữ

Làm như những quán tưởng theo trình tự ở trên với ánh sáng màu xanh đêm với sự rực rỡ của một viên đá quý được thở vào, và giận dữ, thù ghét được thở ra dưới dạng khói dày màu đen và dơ bẩn.

Câu hỏi : Tôi thường có cảm tưởng bị dồn vào một lối bí : y như luôn luôn mọi sự cứ lập lại. Luôn luôn cùng một hình ảnh và cùng những kinh nghiệm trở lại, dù tôi làm nhiều những thiền định và những quán tưởng. Ngài khuyên tôi làm thế nào để giải quyết loại vấn đề này ?

Trả lời : Tôi nghĩ rằng bạn nên cho tâm thức nghỉ ngơi một ít, để cho thư giãn là điều tốt.

Câu hỏi : Nhưng tôi cảm thấy rằng tôi càng lúc càng dễ nổi giận vì không thấy có tiến bộ nào và đến chỗ nổi giận với bài thực tập.

Trả lời : Bạn có cảm tưởng không tiến bộ, nhưng bạn nhận ra bạn đang giận dữ : trái lại, tôi nghĩ rằng có một tiến bộ bởi vì trước kia thậm chí bạn không biết bạn đang nổi giận. Nhận biết cơn giận của mình cũng là một cách tiến bộ. Nếu bạn chùi một cái bàn bao năm không chùi, bạn sẽ làm bốc lên một đám mây bụi và bạn sẽ không nhận ra từng hạt bụi làm nên đám mây dày đó. Nhưng nếu bạn chùi dọn mỗi ngày, một chút bụi nhỏ sẽ đập vào mắt bạn.


VŨ TRỤ ĐƯỢC CHUYỂN BIẾN
BỞI LÒNG BI


Thực tập này để cho bạn tự sửa soạn nhận biết sự thanh tịnhtoàn thiện nội tại của vũ trụ và của tất cả mọi hiện tượng đúng như chúng tự hiển lộ, khi lòng bi đã tịnh hóa tri giác bị méo mó bởi chấp ngã của chúng ta.

Mô tả thực tập

Chuẩn bị : thiết lập nơi mình một tình cảm của lòng bi.

Bạn hãy bắt đầu mỗi thời thiền bằng cách thiền định một lát về “Bốn Tâm Vô Lượng” (Từ, Bi, Hỷ, Xả) :

“Mong rằng tất cả chúng sanh được hạnh phúctìm thấy những nguyên nhân của hạnh phúc ;
Mong rằng họ khỏi khổ đau và những nguyên nhân của khổ đau ;
Rằng không có ai trong họ bị mất đi hạnh phúc chân thật – không có mọi khổ đau ;
Và luôn luôn cảm thấy sự bình đẳngđại không biết đến sự luyến bám vào những chúng sanh thân thuộc, không có sự ghét bỏ những người khác.”

Nếu điều đó có hơi rắc rối đối với bạn hay nếu đoạn văn truyền thống này làm bạn khó khăn, thì bạn hãy đơn giản thấm nhập một tình cảm của lòng bi khi mong rằng không có ai khổ nữa.

1. Sự chuyển biến con người bạn bởi lòng bi

Hãy tưởng tượng rằng bầu trời từ bên này qua bên kia được ba tia sáng băng ngang, khoảng tầm cao của cái nhìn của bạn. Đó là ánh sáng vĩ đại của lòng bi vũ trụ xuất hiện với bạn dưới hình thức ba dải băng ánh sáng đặt chồng lên nhau : dải thứ nhất ở trên cao có màu trắng rực rỡ và phóng ánh sáng trong suốt như pha lê, dải thứ hai một màu đỏ chói và nóng, và dải thứ ba một màu xanh đậm. Hãy nghĩ rằng bạn đang có trước mặt bạn một biểu lộ sống thực của lòng bi vũ trụ và hãy cảm thấy sự hiện diện của lòng bi ấy qua ánh sáng ba màu này.

Hãy tưởng tượng phần ánh sáng trắng của lòng bi phát về phía bạn những tia màu trắng, rất sáng chói. Toàn thân bạn tràn đầy ánh sáng trắng phóng quang ; hãy nghĩ rằng bây giờ thân thể đã hoàn toàn được tịnh hóa và trong suốt.

Dải ánh sáng màu đỏ của lòng bi phát tiếp theo về phía bạn những tia sáng màu hồng ngọc của nó và đi vào trong cổ họng bạn. Hãy nghĩ rằng ngữ (lời nói) của bạn hoàn toàn được tịnh hóa bởi ánh sáng này.

Cuối cùng, dải ánh sáng xanh của lòng bi phát ra những tia sáng màu xanh sáng đi vào trong tim bạn – tức là luân xa trái tim. Hãy nghĩ rằng ánh sáng tịnh hóa hoàn toàn tâm thức bạn, với mọi tư tưởng và tình cảm trong đó.

Ánh sáng của lòng bi đã hoàn toàn tịnh hóa bạn – thân, ngữ và tâm ; bây giờ bạn hoàn toàn thanh tịnh ở mọi cấp độ của con người bạn. Tất cả con người bạn đã được chuyển hóa bởi lòng bi.

2. Chuyển biến của toàn bộ vũ trụ bởi lòng bi

Bây giờ hãy tưởng tượng ánh sáng ba màu của lòng bi luôn luôn ở đó, trước mặt bạn, trong bầu trời, chiếu sáng mạnh mẽ và tràn đầy toàn bộ vũ trụ bằng những tia sáng trắng, đỏ và xanh. Hãy nghĩ rằng ánh sáng này làm sáng tỏ toàn bộ ngân hà, và những cái khác bên kia thế giới chúng ta đã biết, và tất cả những gì ở đó đều được tịnh hóa và chuyển biến hoàn toàn. Toàn thể vũ trụ trở thành một nơi chốn thiên đường hay Tịnh độ nếu bạn theo Phật giáomột thế giới của sự thanh tịnh, hoàn hảohạnh phúc hoàn toàn. Tất cả những âm thanh trong đó đều đẹp đẽthanh tịnh vô cùng ; chúng là âm vang tự nhiên, biểu lộ tự nhiên của sự toàn thiện. Tất cả tư tưởng làm sống động vũ trụ – dù hình dáng nào, cách thức nào – những chuyển động nhỏ nhất của tâm thức đều tiêu biểu cho chính tinh túy của sự toàn thiện.

Nếu bạn đặc biệt quan tâm về những vấn đề hay những đau khổ của một xứ sở, một dân tộc hay những con người nào đó xác định, bạn có thể có một tư tưởng cho họ vào lúc ánh sáng ba màu của lòng bi tràn đầy vũ trụ ; hãy tưởng tượng rằng nó chiếu sáng họ một cách đặc biệt khi đi ngang qua.
 
 

Phần cuối

Bạn hãy chìm đắm trong trạng thái toàn thiện này lâu cho đến chừng nào điều ấy còn là tự nhiên, không gò ép. Hãy chấm dứt như bạn đã bắt đầu khi chuẩn bị trong một lát tham thiền về “Bốn Đức Hạnh Vô Lượng”, hay về lòng bi.

• Hãy thực hành thực tập này trong bốn tuần, khoảng một thời một giờ rưỡi mỗi ngày.
Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 97261)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.