Tiểu Sử Gaton Ngawang Lekpa & Tulku Bhakha & Khandro Rinpoche

27/12/201012:00 SA(Xem: 18747)
Tiểu Sử Gaton Ngawang Lekpa & Tulku Bhakha & Khandro Rinpoche

TIỂU SỬ GATON NGAWANG LEKPA &
TULKU BHAKHA & KHANDRO RINPOCHE


 TIỂU SỬ GATON NGAWANG LEKPA RINPOCHE
 (1864-1941)

 Khi đọc tiểu sử của những Đạo sư tâm linh Phật Giáo vĩ đại, ta thấy rất nhiều vị ngay từ khi còn nhỏ đã được xác nhậnHóa Thân của những Đạo sư Phật Giáo nổi tiếngchứng ngộ cao cấp. Đôi khi ta có thể có cảm tưởng rằng chúng ta không thể đạt được những thành tựu của các ngài. Ta có thể nghĩ rằng những Đạo sư này, là những tái sinh của các hành giả vĩ đại, đã đạt được những đỉnh cao của thành tựu tâm linhchúng ta chẳng bao giờ có thể chạm tới trong đời này. Tiểu sử của Gaton Ngawang Lekpa Rinpoche vĩ đại đã gây hứng khởi cho chúng ta, nhờ đó chúng ta tin vào những khả năng và sự nhẫn nại của mình, bởi cuộc đời ngài là một tấm gương sáng cho ta thấy làm thế nào một người sinh ra trong những hoàn cảnh bình thường đã đạt được tuyệt đỉnh của sự chứng ngộ tâm linh.

 Lekpa Rinpoche là một hành giả vĩ đại và là Đạo sư của Dezhung Rinpoche III (1906-1987), một Đạo sư cao cấp của truyền thống Sakya. Ngài sinh tại làng Dzinda thuộc tỉnh Kham, Tây Tạng vào năm Mộc Tí (1864) trong một gia đình bình thường. Ngài được nuôi dạy như bất kỳ đứa trẻ trung bình nào khác, không có những thuận lợicủa cải vật chất lớn lao. Thân phụ của ngài là Kunga Trakpa và thân mẫu là Lhamo Dronma. Khi mang thai ngài, mẹ ngài mơ thấy thân bà là một tu viện. Lhamo Dronma cũng có một linh kiến về vị bảo hộ Citipati nhảy múa kế bên hang động của Ngawang Shedrup Gyatso. Vị Thầy này nói với bà rằng Lekpa Rinpoche là hóa thân của Ngor Ewam Ponpop. Lạt ma Ngawang Shedrup rất thông thạo các thực hành Vajrayogini, đã dạy Lekpa Rinpoche đọc. Citipati, vị bảo hộ vĩ đại của Lekpa Rinpoche, đã xuất hiện. Trong giai đoạn này của cuộc đời ngài, mặc dù sống gần một tu viện của phái Drikung, Rinpoche luôn luôn trốn khỏi nhà và cố gắng đi tới tu viện Tharlam (1) ở cách đó khá xa. Năm lên bảy tuổi, ngài nhận những giới nguyện cư sĩ, những nhập môn Hevajra Nguyên nhânCon Đường và Sarasvati Trắng từ Đạo sư Ngor Khenchen Dorje Chang Kunga Tenpa’i Lodro. Khi thọ giới cư sĩ ngài được ban pháp danh Tsultrim Gyaltsen. Vào lúc này Ngor Khenchen nói rằng trong đời trước Tsultrim Gyaltsen là một tulku của tu viện Tharlam. Việc xác nhận ngài là một Hóa Thân của Ngor Ewam (2) chỉ là thứ yếu. Không lâu sau đó vị Thầy linh thánh này qua đời. Năm lên chín tuổi, Rinpoche hoàn tất các khóa nhập thất Tara Trắng và Bhutadamara Vajrapani. Năm lên mười tuổi, ngài nhận lãnh đầy đủ nhập môn và những giáo huấn của Nara Khachodma. Từ mười hai tới mười sáu tuổi ngài được Oumsey Lodro Zangpo chăm sóc và đó là một giai đoạn khó khăn trong đời ngài. Năm mười sáu tuổi ngài nhận từ Kenpo Thutop Wangchug Jamyang Tenzin Thinley toàn bộ Bốn Dòng Mahakala trong thân tướng hai tay, bên ngoài, bên trong và bí mật. Sau khi thực hiện xong một khóa nhập thất ba tháng hoàn thành 100.000.000 thần chú ngắn và 6.400.000 thần chú dài, Rinpoche thực sự nhìn thấy Mahakala. Trong khóa nhập thất, torma cúng dường phát triển thành lông đen và dày giống như lông của một con bò yak, và dưới ánh nắng mặt trời chúng phản chiếu nhiều màu sắc khác nhau như một cầu vồng. Trong bản văn lịch sử Caturmukha Mahakala, torma phát triển thành lông đen là một dấu hiệu của việc đạt được những siddhi (thành tựu). Điều này cũng được tìm thấy trong những tiểu sử của nhiều Lạt ma vĩ đại. Bốn Dòng Mahakala là từ Vajrasana, Gyadhara, Mal Lotsawa, và Kashmiri Pandita Shakyashri. Từ Khenpo Thutop Wangchug ngài cũng nhận nhập môn và những giáo huấn rất rộng lớn của Naro Kachodma, việc đọc Kinh sách (lung) đối với Tuyển tập của Morchen, Yogini, và nhập môn Citipati, v.v..

 Năm mười tám tuổi, sau khi chứng kiến cảnh các thú vật bị làm thịt, ngài trở thành người ăn chay. Du hành tới Tu viện Ngor Ewam Choden, ngài ở đó hai năm, nhận từ Khangsar Khenpo Chetsun Ngawang Lodro Nyingpo ba nhập môn chuẩn bị Bhutadamara, Ushnishavijaya và Parnashavari. Sau đó ngài nhận lung (tụng đọc Kinh sách) Lamdre Tsoshe, Pod Ser, Pod Mar, Thartse Panchen Cho Chod, và nhập môn cùng các giáo huấn đối với Shri Caturmukha. Như tập quán tại tu viện Ngor Ewam, trong Lamdre này, Rinpoche thọ giới Tỳ Kheo và được ban Pháp danh Ngawang Lekpa. Từ lúc này cho tới cuối đời ngài triệt để giữ gìn giới luật thật hoàn hảo và không ăn sau giờ ngọ.

 Sau đó, Rinpoche du hành tới Sakya, ở đó ngài nhận giáo huấn về Luật từ Rabjam Sherab Chophel, và “Ba Giới nguyện” của Sakya Pandita trước mặt Tu viện trưởng Lhakang Chenmo Champa Cho Tashi. Ngài nhận những sự ban phước từ Sakya Trizin Kunga Tashi. Trong mùa hè ngài nhận giáo lý Vajramala cùng với việc tụng đọc Kinh sách (lung).

 Trở về Ngor, trước mặt Kunu Lama vĩ đại của Ngor là ngài Chogtrul Jamyang Sherab Gyatso, ngài nhận Lamdre thật chi tiết; “Ba Thị Kiến,” và “Ba Tantra” của Ngorchen Konchog Lhundrup và “Những Tia sáng Mặt trăng” của Ngorchen Kunga Zangpo, và “Tia sáng Mặt trời” của Tsarchen Losal Gyatso, Dòng Thành tựu Vương giả của Hevajra cùng những giáo huấn về Các Giai đoạn Phát triểnThành tựu, cùng nhiều giáo lý khác; Tám Bổn Tôn Mahakala của truyền thống Ngor; việc tụng đọc Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh). Lekpa Rinpoche rất được ngưỡng mộ ở Ngor và khi tới lúc trở về Kham thì các Dharmapala (Hộ Pháp) làm cho ngài bị thương ở đầu gối khiến ngài không thể trở về.

 Sau khi viếng thăm pho tượng Jowo ở Lhasa lần đầu tiên, Rinpoche trở về nhà tới tu viện Tharlam ở Kham và nhập thất Hevajra trong tám tháng. Sau đó, năm hai mươi mốt tuổi, ngài đi gặp Jamyang Khyentse Wangpo. Trên đường ngài viếng thăm Drolma Lhakang (chùa của những công chúa, con của các vị Vua Tây Tạng). Ở đó, ngài cúng dường đèn bơ thật thịnh soạn. Dùng tất cả tiền của mình, ngài cầu xin chư vị gia hộ cho ngài trong việc nghiên cứuthành tựu giác ngộ. Lekpa Rinpoche không thể sắp xếp để được gặp Khyentse Rinpoche nhưng đã tham dự năm nhập môn do vị Thầy này ban chongay lập tức bị ném ra ngoài tất cả năm lần. Với lòng sùng mộ Guru hoàn hảo, ngài coi những hành động của vị Thầy đều là những hành động giác ngộ và vượt lên những trói buộc của sự nhiễm ô sinh tử. Lekpa Rinpoche không giận dữ mà coi việc này như một sự tịnh hóa cần thiết cho nghiệp tiêu cực của ngài. Lekpa Rinpoche rất nhẫn nại và cuối cùng ngài đã nhận nhiều giáo lý từ Dzongsar Khenpo Yontan Dondrup; nhận Madhyamika (Trung Đạo) từ Minyak Khenpo Norbu Tenzin. Từ Tsering Tashi, thư ký của Khyentse Rinpoche, ngài nhận những giáo lý về văn phạm, thi ca v.v.. Ba vị Khenpo này nói với Khyentse Rinpoche về Lekpa Ngawang và sau đó khi Jamgong Kongtrul tới thỉnh cầu nhiều giáo lý thì Lekpa Rinpoche được phép tham dự - Khyentse Rinpoche ở trong ẩn thất từ năm 40 tới 73 tuổi. Lekpa Rinpoche cũng nhận 95 nhập môngiáo huấn từ Kongtrul Rinpoche.

 Với mục đích ban Lamdre (3), Ngor Khenpo Rinchen Dorje viếng thăm Tu viện Gigu cùng 173 vị sư. Lekpa Rinpoche giảng dạy ‘Mangtri’ và nhận Lamdre một lần nữa. Tại Tu viện Tharlam, ngài nhập thất ‘Yung Nas của Đức Avalokiteshvara (Quán Thế Âm) trong hai trăm ngày liên tiếp không gián đoạn. Trong một ít năm, do sự đòi hỏi của nhiều thỉnh cầu ‘shapten’ và những giáo lý nên việc nhập thất không thể tổ chức được. Trong thời gian này thân phụ ngài và nhiều Lạt ma gốc qua đời. Sau sự kiện này ngài ước muốn nhập thất Guruyoga Sakya Pandita Kunga Gyaltsen và đi tới chỗ ở của Khyentse Rinpoche, nhận được những giáo huấn. Lekpa Rinpoche có một giấc mơ trong đó Lama Nyika Dorje Chang mặc y màu đen ngồi giữa một mạn đà la, vây quanh là mười guru cũng mặc y đen. Nghe được điều này, để bảo vệ cho cuộc nhập thất không bị những chướng ngại, ngài Nyika Dorje Chang đã ban cho Rinpoche nhập môn Panjarnatha Mahakala.

 Sau khi thân phụ ngài mất, Lekpa Rinpoche thực hiện một khóa nhập thất dài hạn từ năm 37 tới 52 tuổi, tập trung vào giáo lý “Con Đường và Quả”. Suốt thời gian này, cửa thất được đóng kín, chỉ chừa một lỗ nhỏ để đưa thực phẩm vào. Ngồi trong hộp thiền định, ngài nguyện không bao giờ nằm. Như một chuẩn bị cho các thiền định về “Con Đường và Quả”, Lekpa Rinpoche quyết định rằng trước hết ngài cần phát triển trí tuệ thích đáng. Để làm được điều này, ngài tụng 2.400.000 lời nguyện Quy y, lễ lạy Đạo sư vĩ đại Sakya Pandita (1182-1252) - hiện thân của Đức Phật Văn Thù – và tụng bài nguyện bốn dòng của Sakya Pandita 4.100.000 lần.

 “Với đôi mắt mở lớn tri giác mọi sự,
 Và thành tựu một cách bi mẫn điều tốt lành của tất cả chúng sinh;
 Có năng lực để thực hiện những công hạnh không thể nghĩ bàn.
 Guru Manjunatha, con đảnh lễ dưới chân Ngài.”

 Trong thất, ngài cũng tụng 1.800.000 thần chú Vajrasattva (Kim Cương Tát Đỏa) và chữa khỏi những vấn đề tiêu hóa trong khóa nhập thất. Đối với pháp Guru Yoga, một lần nữa với Sakya Pandita như một suối nguồn của sự sùng mộ, ngài đã tụng 2.500.000 lời nguyện guru yoga, cúng dường mạn đà la 1.000.000 lần. Đối với Mahakala, ngài tụng 10.000.000 thần chú ngắn và 2.200.000 thần chú dài. Đối với Đức Tara Xanh, ngài tụng 10.000.000 thần chú. Ngài cũng tụng 100.000.000 thần chú của Đức Avalokiteshvara. Ngài bỏ cả năm để thiền định về sự vô thường. Thêm vào đó, ngài cúng dường 700.000 chén nước và 1.500.000 ngọn đèn. Suốt thời gian nhập thất, ngài không cắt tóc.

 Trong khóa nhập thất có nhiều giấc mộng và dấu hiệu tốt lành. Từ Lạt ma Nyika ngài mơ thấy được ban cho một tượng Đức Văn Thù bằng vàng, tượng trưng cho sự thấu suốt của ngài về Lamdre và tất cả những giáo lý của dòng Sakya, và được ban cho mực Tàu để biên soạn nhiều luận giảng. Từ Ngawang Shedrup Gyatso ngài được ban hột đầu tiên của một xâu chuỗi và một con mắt là biểu tượng của việc ngài là đệ tử xuất sắc. Một hôm, khi uống bảy viên thuốc Văn Thù, ngài mơ thấy được ban một hoa sen làm bằng ‘tsampa’ màu vàng, thần chú Văn Thù được viết trên khắp hoa sen. Sau khi ăn hoa sen này thì toàn thân ngài phủ đầy thần chú Văn Thù. Một lần khác, khi đang lễ lạy Sakya Pandita, từ miệng của vị Thầy này trên bức tranh ánh sáng tỏa ra tràn ngập gian phòng. Sau sự kiện này ngài cầu nguyện thật mãnh liệt và thấy những ngón tay trong bức tranh chuyển động. Sau này ngài không chỉ nhìn thấy những ngón tay chuyển động mà còn thấy bức hình trong tranh mỉm cười, đủ để ngài nhìn thấy những chiếc răng của Sakya Pandita. Những sự kiện này xảy ra tổng cộng ba lần. Một đêm, Lekpa Rinpoche mơ thấy Lama Namza Ritrupa. Vị Lạt ma vĩ đại được cho là hiện thân của Virupa (4) và đã tụng tổng cộng 26.000.000 thần chú dài của Hevajra. Trong giấc mơ, Lekpa Rinpoche đi tới nhà của vị Thầy này và gặp ngài ở cửa. Ritrupa mời Lekpa Rinpoche vào, mời Rinpoche ngự trên một chiếc ngai cao và cúng dường đủ thứ cho Rinpoche. Sau giấc mơ này, trong đời sống hàng ngày, Lekpa Rinpoche luôn luôn có tất cả những gì ngài cần. Giấc mơ này xảy ra trong lễ cúng dường mạn đà la. Rinpoche cũng mơ thấy mình cúng dường cho một bức tranh tường của Virupa tại Ngor Ewam; Ngài Virupa biến thành người thực và bảo ngài: “Pháp của ta sẽ không tồn tại lâu ở Tây Tạng.” Ngài cũng có nhiều giấc mơ về Năm Đạo sư Siêu việt và về Đức Jamyang Khyentse Wangpo. Lekpa Rinpoche cũng có thể quán tưởng rõ ràng tất cả 157 Bổn Tôn của mạn đà la thân bên trong của Hevajra, và tất cả những vị Thầy nói rằng hầu như không ai có thể quán tưởng điều đó hết sức rõ ràng như thế.

 Khóa nhập thất kết thúc sau mười lăm năm. Lekpa Rinpoche ra khỏi thất. Tóc ngài phủ tới ngực và móng tay mọc rất dài. Bởi quá nhiều năm thiếu ánh nắng mặt trời, nước da ngài ngả sang màu xanh. Tuy nhiên, sự chứng ngộ cao vút của ngài bắt đầu hấp dẫn nhiều đệ tử và ngài được thừa nhận là một Đạo sư Phật Giáo có những chứng ngộ vô song. Lekpa Rinpoche sử dụng phần đời còn lại của mình để giảng dạy nhiều đệ tửtham gia nhiều họat động làm lợi lạc vô số chúng sinh. Ngài trông nom việc xây dựng các đền chùa, stupa (tháp), các pho tượng và là Đạo sư của nhiều đệ tử mà sau này họ trở thành những Đạo sư vĩ đại. Vào lúc này Dezhung Rinpoche lên mười tuổi. Lekpa Rinpoche ban Drup Thab Kuntus và một năm sau ban Lamdre Lobshe. Sau đó ngài du hành tới Tu viện Dezhung, ban Lamdre và trải qua vài năm ở đó. Khi trở về Tharlam ngài bắt đầu dùng tất cả tiền bạc được cúng dường cho việc tái thiết Tu viện Tharlam. Ngài xây dựng một pho tượng Đức Phật bằng vàng cao ba tầng, bên phải là Đức Sakya Pandita và bên trái là Ngorchen Kunga Zangpo, cả hai đều bằng vàng và cao hai tầng. Ngài ban Lamdre Lopshe tất cả chín lần, bốn lần trong số đó được ban liên tục trong hai mươi ngày tại Tu viện Dezhung. Jamyang Khyetse Chokyi Lodro đã thọ nhận và hộ trì dòng Lamdre của Lekpa Rinpoche cùng với nhiều Lạt ma vĩ đại khác như Dezhung Ajam, Dezhung Lungrig Nyima và Phende Shabdrung Rinpoche. Lekpa Rinpoche đã ban nhập môn và những giáo lý viên mãn Naro Kachodma hai mươi hai lần, nhập môn và những giáo lý viên mãn Mahakala ‘Drag Dzong’ mười lần, Chín Bổn Tôn Vajrabhairava của Truyền thống Rwa và những giáo lý của Rwa Tse Sems tám lần, Mười Ba Bổn Tôn Bhairava của truyền thống Tsar ba lần, Tara Trắng Cintacakra tám lần và ‘Drup Thab Kuntus’ một lần. Những giáo lý này được ban dạy hết sức cặn kẽ trong những cơ hội tốt lành.

 Lekpa Rinpoche cũng cảm thấy có một mối liên hệ sâu xa với Đức Avalokiteshvara. Thậm chí có lần ngài bật khóc khi đọc “Mani Kabum”, một bản văn về Đức Avalokiteshvara. Mỗi ngày ngài tụng ít nhất 5000 ‘mani’ (Thần chú Sáu Âm) “OM MANI PADME HUM” của Đức Avalokiteshvara. Ngài thường tụng chậm rãi nhưng phát âm hết sức rõ ràng. Các đệ tử của ngài đã lập nguyện tụng 5.000 Thần chú Sáu Âm mỗi ngày trong đời họ. Ngài ban cho mỗi người trong số đệ tử này một viên thuốc ‘mani’ đặc biệt. Mãi cho tới ngày Dezhung Rinpoche viên tịch - vị Thầy này cũng đã hứa nguyện – Dezhung Rinpoche vẫn tiếp tục tụng 5.000 ‘mani’ mỗi ngày.

 Trong lịch sử, năm Lạt ma vĩ đại nhất mang lại sự hứng khởi cho Lekpa Rinpoche là Sakya Pandita, Ngorchen Kunga Zangpo, Rabjam Kunga Yeshe, Gyalse Thogmed và Milarepa. Bản văn ngài ưa thích nhất là Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh).

 Vào một lúc nào đó trong đời, Lekpa Rinpoche muốn lại tái sinh làm một tu sĩ Sakya để giúp cho truyền thống Sakya nở rộ trong xứ Tây Tạng. Tuy nhiên, bằng sự thấu thị, ngài thấy rằng trong thời gian không lâu Tây Tạng sẽ bị xâm chiếm và các tu viện Sakya sẽ bị phá hủy. Thấy rằng việc trở lại như một tu sĩ Sakya không có lợi lạc, Lekpa Rinpoche quyết định đi tới cõi Sukhavati, cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Lekpa Rinpoche đã dạy các đệ tử rằng muốn tái sinh vào cõi Tịnh Độ của Đức A Di Đà thì phải hội đủ bốn điều kiện. Trước tiên, phải có Bồ Đề tâm, động lực muốn thành Phật để giải thoát tất cả chúng sinh khỏi nỗi khổ của họ. Thứ hai, cần phải dấn mình vào việc tích tập công đứctrí tuệ. Thứ ba, phải thường xuyên ghi khắc trong tâm hình ảnh của Đức Phật A Di Đàcõi Tịnh Độ của Ngài. Cuối cùng, cần phải liên tục cầu nguyện được tái sinh vào cõi Tịnh Độ.

 Buổi sáng ngày Lekpa Rinpoche thị tịch, trước hết ngài tụng những lời cầu nguyện như thường lệ và những thực hành thiền định. Lekpa Rinpoche có nhiều viên thuốc của Khyentse Rinpoche, Kongtrul, v.v.. và của Guru Rinpoche, Đức Manjushri (Văn Thù) v.v.. Ngài trộn chung tất cả những viên thuốc này vào một chiếc bình và cầu nguyện được tái sinh trong Cõi Phật Sukhavati và thị tịch nhanh chóng. Ngài biểu lộ vẻ đau bệnh trầm trọngdi chuyển tới phòng của Dezhung Rinpoche ngay bên ngoài tu viện. Vào thời điểm đó Dezhung Rinpoche không có ở nhà. Một bức hình Đức Phật A Di Đà được đặt trước mặt ngài. Lekpa Rinpoche dùng vài viên thuốc ban phước và chăm chú nhìn bức họa Đức Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc. Ngài bảo những người ở xung quanh rằng ngài sắp thị tịch. Ngài bảo mọi người ra ngoài, ngoại trừ Khenpo Ngawang Rinchen. Nghĩ rằng ngài sắp mất, Ngawang Rinchen bắt đầu khóc, nhưng Lekpa Rinpoche bảo ông là không cần phải khóc, bởi ngài sắp tái sinh trong Cõi Cực Lạc, chứ không vào cõi địa ngục “là nơi có lý do để khóc.”

 Ngài tụng lời nguyện được tái sinh vào cõi Tịnh Độ. Ngồi thẳng lưng, Lekpa Rinpoche tụng một chuỗi OM MANI PADME HUM trước khi ngừng lại và đi vào thiền định. Thân ngài giật ba lần, và người ta nghe thấy một âm thanh ‘hic’ yếu ớt. Lekpa Rinpoche đã thị tịch, hoàn toàn tự chủ trong trạng thái thiền định. Việc thị tịch của ngài là một lời giảng dạy rằng với thực hành tâm linh, ta cũng có thể hoàn toàn làm chủ và kiểm soát được cái chết, và sẽ có thể ra đi một cách bình an, thoải mái, và làm chủ được sự tái sinh kế tiếp của ta.

 Thân ngài được giữ gìn trong ba ngày theo phong tục Phật Giáo, và sau đó được trà tỳ. Những nghi lễ lửa của nhiều Bổn Tôn khác nhau được cử hành và một stupa được xây dựng để thờ tro cốt của ngài. Những vật dụng còn lại của ngài được ban tặng cho các tu sĩ của nhiều tu viện. Nhiều món trong số những vật phẩm tôn giáo cá nhân của ngài được để lại cho Dezhung Rinpoche Lungrig Nyima, là đệ tử đã sống cạnh Lekpa Rinpoche từ khi lên mười cho tới ba mươi tuổi.

 Lekpa Rinpoche cũng để lại một lá thư cho Dezhung Rinpoche, người kế nhiệm và đệ tử thân thiết nhất của ngài. Trong lá thư này, ngài bảo Dezhung Rinpoche làm điều thiện, tránh làm điều ác, và tụng thần chú OM MANI PADME HUM của Đức Avalokiteshvara.

 Lekpa Rinpoche là một trong những Đạo sư vĩ đại nhất mà Phật Giáo từng sản sinh được. Cuộc đời của ngài là một nguồn cảm hứng cho tất cả chúng ta, và chỉ cho ta thấy rằng chúng ta chắc chắn đạt được giác ngộ và sự thành tựu tâm linh viên mãn với điều kiện là ta quyết chí đặt mọi nỗ lực cần thiết vào việc tu hành./.

 Chú thích:

 - (1) Tu viện Tharlam: Lúc ban đầu tu viện Tharlam được xây dựng ở miền Đông Tây Tạng vào năm 1436 và bị phá hủy năm 1959. Dezhung Rinpoche đã xây dựng lại tu viện 500 tuổi này tại một địa điểm mới tại Kathmandu, Nepal.

 - (2) Ngor Ewam: Tu viện chính của Phái Ngor ở Tỉnh Tsang, Tây Tạng. Hiện nay Ngor Ewam thứ hai được thiết lập ở Manduwala, U.P. Ấn Độ.

 - (3) Lamdre: (Con Đường và Quả) – giáo lý cốt tủy của đại thành tựu giả Virupa giới thiệu một khuôn mẫu để đạt được Giác ngộ dựa trên Hevajra Tantra, giáo lý siêu việt của Phái Sakya.

 - (4) Virupa: Pháp Vương của Yoga (TT: nal jor wang chug), một trong 84 đại thành tựu giả kiệt xuất nhất của Ấn Độ. Sống vào thế kỷ thứ 8 tại Ấn Độ, ngài nổi tiếng trong việc giảng dạy những giáo khóa Hevajra Tantra, Vajrayogini và Rakta Yamari.

 Thanh Liên biên dịch theo các bài:
 - “Ngawang Lekpa Rinpoche - Biography (1864 - 1941)”
 http://mypage.direct.ca/w/wattj/jw/lekpa-1.htm
 - “Gaton Ngawang Lekpa Rinpoche”
 http://www.thekchencholing.org/index.php?option=com_content&task=view&id=69&Itemid=49

 Ngawang Lekpa Rinpoche
 Biography (1864 - 1941)

 Based on oral teachings of Dezhung Rinpoche and notes from the biography of Lekpa Rinpoche by sDe-gzhung A-'jam sprul-sku Kun-dga' -bstan-pa'i-rgyal-msthan.
 Compiled and translated by Jeff Watt

 Ngawang Lekpa Rinpoche was born in Kham Provence, Tibet, in the Wood Mouse year of 1864, the son of Kunga Trakpa and Lhamo Dronma. While in the womb his mother dreamt that her body was a monastery. Again, Lhamo Dronma had a vision of seeing the protector Citipati dancing by the cave of Ngawang Shedrup Gyatso who in turn told her that Lekpa Rinpoche was the incarnation of Ngor Ewam Ponlop. Lama Ngawang Shedrup, well versed in the practices of Vajrayogini, taught Lekpa Rinpoche to read. Citipati appeared because it is a great protector for Lekpa Rinpoche. During this period of his life although living near a Drikung monastery Rinpoche was always running away from home trying to reach Tharlam monastery some distance away. At age seven, from the Ngor Khenchen Dorje Chang Kunga Tenpa'i Lodro, he received upasaka vows, the Cause and Path Hevajra initiations and White Sarasvati. For the upasaka vows Rinpoche was given the name Tsultrim Gyaltsen. At this time Ngor Khenchen stated that Tsultrim Gyaltsen's previous life was that of a tulku of Tharlam monastery. His prior recognition as a Ngor Ewam Tulku is secondary. This Holy Lama passed away soon after.

 At the age of nine Rinpoche completed the retreats of White Tara and Bhutadamara Vajrapani. In front of Ngawang Shedrup, at the age of ten, he completely received the initiation and intsructions of Naro Khachodma. From the ages of twelve to sixteen he was looked after by Oumsey Lodro Zangpo and it was a very difficult period of time for him. At the age of sixteen in front of the Khenpo Thutop Wangchug Jamyang Tenzin Thinley he received the entire Four Lineages of Mahakala in the two armed form, outer, inner and secret. After completing a three month retreat accomplishing one- hundred-million of the short mantra and six-million-four-hundred-thousand of the long, Rinpoche actually saw Mahakala. During the retreat the offering torma grew thick black hair like those of a yak, and in the sun they reflected many different colours like a rainbow. In the Caturmukha Mahakala history text the growing of black hair from the torma is a sign of attaining the siddhis. This is also found in the biographies of many great lamas. The Four Lineages of Mahakala are from [1] Vajrasana, [2] Gayadhara, [3] Mal Lotsawa, and [4] Kashmiri Pandita Shakyashri. From Khenpo Thutop Wangchug he also received the very extensive initiation and instructions of Naro Kachodma, the scriptuarl reading for the Collected Works of Morchen, Yogini, and the initiation of Citipati, etc.

 At the age of eighteen, after seeing animals being slaughtered, he became vegetarian accompanied by a life long fondness for rock candy. Travelling to Ngor Ewam Choden Monastery, he stayed for two years, receiving from Khangsar Khenpo Chetsun Ngawang Lodro Nyingpo the three preliminary entrance initiations of Bhutadamara, Ushnishavijaya and Parnashavari, afterwards he received the Lamdre Tsogshe, the Pod Ser, Pod Mar, Thartse Panchen Cho Chod scriptural readings, and the initiation and instructions for Shri Caturmukha. As is the custom at Ngor Ewam, during this Lamdre, Rinpoche's recieved Bhikshu ordination and was given the name Ngawang Lekpa.

 After Ngor, Ngawang Lekpa Rinpoche travelled to Sakya where he received vinaya instruction from Rabjam Sherab Chophel, and the "Three Vows" of Sakya Pandita in front of the abbot of Lhakang Chenmo Champa Cho Tashi. He received blessings from Sakya Trizin Kunga Tashi. During the summer he received the Vajramala teaching together with the scriptural reading.

 Again, back at Ngor, in front of the great Kunu Lama of Ngor, Chogtrul Jamyang Sherab Gyatso, he received Lamdre in extensive detail; the "Three Visions," and "Three Tantras" of Ngorchen Konchog Lhundrup and "The Moon's Rays" of Ngorchen Kunga Zangpo, and "The Sun's Rays" of Tsarchen Losal Gyatso, the Royal Accomplishment Lineage of Hevajra together with the instructions on Generation and Completion Stages, along with many other teachings; the Eight Deity Mahakala of the Ngor Tradition; the scriptural reading of the Bodhicaryavatara. Lekpa Rinpoche was extremely popular at Ngor and when time to return to Kham the Dharmapalas caused him a knee injury so that he might not go back, also a family dzo was killed.

 First visiting the Jowo in Lhasa, Rinpoche returned home to Tharlam monastery in Kham (when Rinpoche travels long distances he doesn't wear his robes) and entered into an eight month Hevajra retreat. Afterwards, at the age of twenty-one, went to meet Jamyang Khyentse Wangpo. On his way he visited the Drolma Lhakang (the temple of the Tibetan Kings daughters). There, he made extensive offerings of butter lamps, spending all his money, he prayed for her help in his studies and for reaching enlightenment. Lekpa Rinpoche was unable to arrange a meeting with Khyentse Rinpoche but attended five initiations given by him and was promptly thrown out of all five. Subsequently he received many teachings from the Dzongsar Khenpo Yontan Dondrup; from Minyak Khenpo Norbu Tenzin he received madhyamika; from Tsering Tashi, the secretary to Khyentse Rinpoche, he received teachings on grammar, and poetry etc. These Three Khenpos told Khyentse Rinpoche about Ngawang Lekpa and after that when Jamgon Kongtrul arrived to request many teachings Lekpa Rinpoche was permitted to attend. Khyentse Rinpoche remained in retreat in his home from the age of forty until the age of seventy-three.

 For the purpose of giving Lamdre Ngor Khenpo Rinchen Dorje visited Gigu Monastery with 173 monks. Lekpa Rinpoche taught the 'Mangtri' and received Lamdre again. At Tharlam monastery Rinpoche entered into an Avalokiteshvara 'Yung Nas' retreat for two hundred consecutive days without break. For a few years, due to the demands of many requests for 'shapten' and teachings, retreat was impossible. During this time his father along with many root lamas passed away. After this he wished to do the retreat of Sakya Pandita Kunga Gyaltsen Guruyoga and went to Khyentse Rinpoche and obtained instructions. Lekpa Rinpoche had a dream of Lama Nyika Dorje Chang sitting in the middle of a mandala wearing black robes, surrounded by ten more gurus in black robes. Hearing of this, Nyika Dorje Chang, in reality, to protect from obstacles during the retreat immediately gave Rinpoche the initiation of Panjarnatha Mahakala. Rinpoche also had a large painting of Sakya Pandita made.

 Entering into a retreat which lasted from the age of thirty-seven to fifty-five years old, Lekpa Rinoche's door was sealed up with only a hole for food to enter through. Sitting in his meditation box he promised to never lay down. For twelve months he meditated on impermanence. For Refuge he performed every prayer, long medium and short, several times for a total of twenty-four sets of one-hundred-thousand; for prostrations, the source of homage being Sakya Pandita, accompanied by Sakya Pandita's four-line prayer, he accomplished forty-one sets of one-hundred-thousand.

 "With wide eyes perceiving all things,
 And compassionately achieving the good of all beings;
 Having power performing acts beyond thought.
 Guru Manjunatha, to your feet I bow my head."

 For Vajrasattva, he completed eighteen sets of one-hundred-thousand and cured 'retreat' digestive problems in the process. For the Guruyoga, again with Sakya Pandita as the source of veneration he accomplished twenty-five sets of one-hundred-thousand guruyoga prayers; for the mandala offering - ten sets of one-hundred-thousand 'Thirty-Seven Heaped Prayer.' For Mahakala - one hundred sets of one-hundred-thousand of the short mantra and twenty-two sets of one-hundred-thousand of the long mantra. For Green Tara - one-hundred sets of one-hundred-thousand. For Avalokiteshvara - one-hundred-million; butter lamp offerings - one-hundred-thousand; water offerings - seven- hundred-thousand. During retreat he never cut his hair.

 Alos during retreat there were many auspicious dreams and signs. From Lama Nyika he dreamt he was given a golden statue of Manjushri, symbolizing his understanding of Lamdre and all the teachings of Sakya, and given Chinese ink so as to write many commentaries. From Ngawang Shedrup Gyatso he was given the head bead from a mala and an eye symbolizing that he was the foremost student. One day, taking seven Manjushri pills, he dreamt he was given a lotus made of 'tsampa' yellow in colour written all over with the Manjushri mantra; after eating this his entire body became written with and filled with the mantra. Another time, doing prostrations to Sakya Pandita, from the mouth on the painting light came out to fill the entire room. After this he prayed very hard and saw the fingers of the painting move. Later he could see not only the fingers move but also the painting smile, enough that he could see Sakya Pandita's teeth. This happened a total of three times. One night, Lekpa Rinpoche dreamt of Lama Namza Ritrupa. This great lama was said to be Virupa himself and had recited the long mantra of Hevajra a total of sixty-five sets of one-hundred-thousand four times. In the dream, Rinpoche went to his house and was met at the door. Ritrupa invited him in and placed him on a high throne and all kinds of offerings were made to him. In waking life, after this dream, Lekpa Rinpoche always had whatever he needed. This dream occured during the mandala offerings. He also dreamt of making offerings to a certain Virupa mural at Ngor Ewam; the Virupa became real and said to him, "my Dharma will not stay long in Tibet." He also had many dreams of the Five Superior Masters and of Jamyang Khyentse Wangpo. Also, Lekpa Rinpoche was able to clearly visualize all 157 deities of the Hevajra internal body mandala, and all teachers would say that virtually nobody could do it perfectly clearly.

 Finally, after fifteen years the retreat was concluded. At this time Dezhung Rinpoche was ten years old. Lekpa Rinpoche gave the Drup Thab Kuntus and a year later the Lamdre Lobshe. After that he travelled to Dezhung Monastery, gave Lamdre and spent several years. He later returned to Tharlam very wealthy. He set about spending all the money he had recieved as offerings on the re-construction Tharlam Monastery. He constructed a three story high gold Buddha flanked on the right by Sakya Pandita and on the left by Ngorchen Kunga Zangpo, both of gold and two stories high. He gave Lamdre Lopshe nine times in all, four of them at Deshung Monastery twenty days travel away. Jamyang Khyentse Chokyi Lodro recieved and held the Lamdre lineage of Lekpa Rinpoche along with many other great Lamas such as Dezhung Ajam, Dezhung Lungrig Nyima and H.E. Phende Shabdrung Rinpoche. Lekpa Rinpoche gave the initiation and complete teachings of Naro Kachodma twenty-two times. The initiation and complete teachings of Mahakala 'Drag Dzong' ten times. The initiations and complete teachings of the Five mandalas of Mahakala three times. The Nine Deity Vajra Bhairava of the Rwa Tradition and the 'Rwa Tse Sems' teachings eight times. The Thirteen Deity Bhairava from the Tsar tradition three times. The White Tara Cintacakra eight times and the 'Drup Thab Kuntus' once. Understand that these teachings were given in their most detailed on these auspicious occasions. Lekpa Rinpoche taught the entire breadth of Sutra and Tantra. Of his students five thousand made the promise to recite one-hundred -million 'mani' mantras in their lives. To these he gave each a special 'mani' pill. Up until the day of Dezhung Rinpoche's passing, he also having promised, continued to recite five- thousand 'manis' a day. The five greatest historical Lamas that Lekpa Rinpoche took inspiration from were Sakya Pandita, Ngorchen Kunga Zangpo, Rabjam Kunga Yeshe, Gyalse Thogmed and Milarepa. His favourite sutra text was the Bodhicaryavatara.


 In regards to his passing, Lekpa Rinpoche expressed the wish to be reborn as a lama of either of the four Ngor Ladrangs and continue to help Sa-Ngor, but further stated that Sa-Ngor lamas would not stay long in Tibet, so he will go to Sukhavati instead. To go to Sukhavati, four things are required; to meditate on that place; to have a bodhisattva mind; to give everything away and to actually pray to go there. Lekpa Rinpoche had many special pills from Khyentse Rinpoche, Kongtrul, etc and of Guru Rinpoche, Manjushri etc. He mixed all of these into one bowl and prayed to be reborn in the Buddha Realm of Sukhavati and pass away quickly. He gave the appearance of becoming very sick and moved to Dezhung Rinpoche's room just outside of the monastery. Dezhung Rinpoche was away at this time. Lekpa Rinpoche called for his brother and divided up the pills between himself, his brother, the two abbots of the monastery and whoever else was there. Many others sat outside. A painting of the Buddha Amitabha was placed in front of him. With his left hand in meditative equipoise and the right in the mudra of generosity he recited one round of 'manis' on the mala then recited 'HIK' and passed away at the age of 78. The body was kept for three days, as is Buddhist custom, and then burnt. Fire rituals of many different deities were performed and a stupa was made for his ashes. His remaining possessions were offered to the monks of many different monasteries. Many of his personal religious articles were left to Dezhung Rinpoche Lungrig Nyima who had lived at Lekpa Rinpoche's side from the age of ten until thirty years old.

 http://mypage.direct.ca/w/wattj/jw/lekpa-1.htm


 TIỂU SỬ BHAKHA TULKU

 Lịch sử của các Tulku Bhakha

 Các Tulku Bhakha là những hóa thân của đại terton Dorje Lingpa - một hiện thân của Vairotsana, một trong những dịch giả lỗi lạcĐạo sư Dzogchen. Các ngài còn là hiện thân của đại terton Pema Lingpa và đại terton Shikpo Lingpa.

 Bhakha Tulku Thứ Nhất đã thiết lập Tu viện Bhakha ngay cạnh nơi ngài trồng cây gậy chống. Thật kỳ diệu, cây gậy nảy chồi xanh và phát triển thành một cây thông đồ sộ vẫn còn sống tới ngày nay.

 Hóa thân Bhakha Tulku Thứ Hai là một tu sĩ tên là Rigzin Chokyi Gyamtso. Ngài tập trung đời mình vào việc thực hành Dzogchen (Đại Viên mãn), đặc biệttruyền thống Chetsun mà ngài đã thành tựu viên mãn. Ngài sống cùng thời với Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ Năm, và nổi tiếng là vị Thầy đầu tiên của Pema Rigzin xứ Derge - Dzogchen Rinpoche Thứ Nhất. Ẩn thất của ngài là một hang động giữa những tảng đá trên sườn một ngọn núi tuyết đối diện với một tu viện ở bên kia một con sông. Tiểu sử của ngài tả lại rằng ngài đã bay qua lại giữa hang động và tu viện.

 Vào lúc đó, những người Mông cổ Dzungar đang tàn phá khắp xứ Tây Tạng. Mặc dù ở nơi hẻo lánh và khó đi tới, thung lũng Powo cũng không thoát khỏi tay những người Mông Cổ. Họ phá hủy lâu đài của Kanam Gyalpo, vua Powo và Pemako, cùng một vài tu viện. Nhà vua là người nối dõi của Trigum Tsenpo, nhà cai trị xứ Tây Tạng từ lâu trước thời đại của vua Tây Tạng Songtsen Gampo. Sau khi phá hủy Lâu đài Kanam, những người Mông Cổ nhìn thấy tu viện Bhakha ở xa và cũng bắt đầu lên đường tấn công tu viện này. Họ phải dừng lại vì bị con sông cản bước và không đủ thuyền để vượt qua dòng nước chảy xiết. Vị chỉ huy của họ ra lệnh Rigzin Gampo qua sông tới bên cạnh họ. Rigzin Gampo tới gần con sông với một thị giả duy nhất, nhưng họ tráo đổi hình dạng của mình. Vị thị giả của ngài đội một cái mũ gấm thêu lộng lẫy, trong khi Rigzin Gampo đội một chiếc mũ theo kiểu hoa sen là một terma được tìm thấy trong một cuộc khám phá terma đất.

 Với một năng lực phi thường, Bhakha Tulku trải thượng y của mình trên mặt nước giống như một chiếc bè, và cùng vị thị giả, ngài chèo sang bên kia bờ với một cây gậy làm mái chèo. Ngài tới gần những người Mông Cổlễ lạy ba lần trước ngai của vị chỉ huy. Người này bất thần ngã xuống khỏi ngai, máu trào ra khỏi miệng và chết ngay. Sau đó ngài bảo những người lính yên tâm trở về quê hương sau khi ngài giải thoát cho vị chỉ huy.

 Những người Mông Cổ rút khỏi Powo và không bao giờ trở lại. Vì ngài cứu đất nước thoát khỏi họa xâm lược nên Rigzin Gyamtso được triều đình Tây Tạng ban tặng phẩm trật danh dự và một ấn triện đỏ.

 Bhakha Tulku Thứ Hai là vị hộ trì dòng truyền thừa của những giáo lý khác nhau từ những Đạo sư lừng danh của thời đại bấy giờ, kể cả Rigdzin Pema Lingpa, Rigdzin Jatson Nyingpo, Namcho Mingyur Dorje, và Rigdzin Dudul Dorje.

 Không thấy nhắc tới tiểu sử của các Bhakha Tulu thứ ba, tư, năm và thứ sáu, nhưng rõ ràngnăng lực tâm linh của những hóa thân sau đó đã khiến các ngài giữ gìn một cách vững chắc sự thanh tịnh của ý hướng giác ngộ.

 Được gọi là Kunsang Tenpai Gyaltsen, Bhakha Tulku Thứ Bảy ra đời để khai mở đóa sen trí tuệ của các Kinh điển và Tantra (Mật điển) vào năm Thổ Mùi (1799). Trong đời đó ngài là nam tử của Pema Lingpa thứ bảy. Pema Lingpa ban cho con trai những khẩu truyền, những giáo lý kho tàng (kama và terma), những dòng thị kiến thanh tịnh của truyền thống Cựu dịch, và đặc biệt là những giảng khóa viên mãn của Pema Lingpa: những quán đảnh, giáo lý, và những giáo huấn đặc biệt. Trong tất cả những đệ tử của thân phụ, Bhakha Rinpoche là người duy nhất được trao truyền sự chứng ngộ của dòng truyền thừa thuần túy. Ngài trở thành vị hộ trì của những giáo lý, và nhờ đó, trưởng tử tâm yếu tâm linh còn quý báu hơn một nam tử trong thân người.
 Sau này, Kunzang Tenpai Nyima - Pema Lingpa Thứ Tám – trở thành đệ tử của Bhakha Tulku Thứ Bảy, và nhận từ Đạo sư này các Tantra Cựu dịch (Nyingma Gyud Bum); Bảy Kho tàng của Longchenpa; Bộ Ba của sự Thoải mái (Ngalso Korsum); Dòng Thì thầm bên tai của Thangtong Gyalpo; và những giáo lý của Guru Chowang và Pema Ledrel Tsal. Bhakha Tulku cũng ban cho Pema Lingpa Thứ Tám (thân phụ trước đây của ngài) những quán đảnh viên mãn, giáo huấn, và dòng trao truyền Giáo khóa của Pema Lingpa, cũng như tuyển tập những tác phẩm của hóa thân trưởng tử tâm yếu thứ năm của Pema Lingpa (Thuksey Rinpoche Thứ Năm).

 Rigdzin Khamsum Yongdrol, Bhakha Tulku Thứ Tám, được coi là một hóa thân hợp nhất của Dorje Lingpa và Pema Lingpa. Ngay từ thời thơ ấu, đóa sen trí tuệ của ngài đã đâm chồi. Ngài hầu hạ Pema Lingpa thứ tám (đệ tử của ngài trong đời trước), nhận những luận văn thông thường về luận lý, những Kinh điển và Tantra (Mật điển) hiếm có, những dòng khẩu truyền và kho tàng nói chung, và đặc biệt là Giáo khóa viên mãn của Pema Lingpa. Pema Lingpa Thứ Tám đã chỉ thị cho Đạo sư, Bhakha Tulku, đi tới Kham, ở đó Tulku nhận lãnh vô số giáo lý từ những Đạo sư tâm linh khác nhau, kể cả Jamyang Khyentse Wangpo 1820-1892) và Jamgon Kongtrul Lodro Thaye (1813-1899) . Điều đáng chú ý nhất là ngài đã nhận từ Jamyang Khyentse Wangpo dòng quán đảnh Tsedup Norbulam Khyer (Hợp nhất Bảo Ngọc của sự Trường Thọ) của Pema Lingpa mà trước đây đã bị thất lạc. Jamyang Khyentse Wangpo đã nhận những quán đảnhgiáo huấn này trong một linh kiến thanh tịnh trực tiếp từ chính Pema Lingpa. Như vậy Bhakha Tulku trở thành người đầu tiên nhận dòng truyền thừa ngắn và đặc biệt này. Bhakha Tulku đã truyền nó cho Jigme Rangdrol Dorje, cũng được gọi là Lama Phuntsog, và vị Thầy này tiếp tục truyền bá rộng rãi dòng trao truyền của quán đảnh này. Sau đó Bhakha Tulku Thứ Tám dâng những quán đảnhgiáo huấn viên mãn của Giáo khóa của Pema Lingpa cho vị Thầy của mình - ngài Jamgon Kongtrul Lodro Thaye.

 Rigdzin Khamsum Yongdrol, Bhakha Tulku Thứ Tám đã thực hành ở tất cả những nơi này: Tharpaling, Kundrak, Shugdrag, Tamshing, và tại Buli Ogmin Lhundrup Choling, trụ xứ của Dorje Lingpa. Ngài cũng biên soạn thông tin về những thánh địa như Shugdrak và Kundrak. Bhakha Tulku Thứ Tám là một nghệ sĩ tài hoa, và tại Bumthang trong chùa Uru Rangbi, ngài đã tạo những pho tượng của tám hóa thân (tám hiển lộ) của Guru Rinpoche, cũng như một bức hình của Pema Lingpa Thứ Tám mà ngày nay chúng ta vẫn còn nhìn thấy. Ngài biên soạn và tuyển tập Norgyam Thinley Nyingpo, Ngakso Yeshe Chugyun, Tsedrup Norbu Lamkhyer, Phagmo Yangsang Lame, và sadhana của Chagdor Tumpo. Nhiều năm sau, vị khám phá kho tàng vĩ đại Düdjom Rinpoche đã thốt ra những lời tán thán nồng nhiệt công trình biên soạn của Khamsum Yongdrol, cũng như của Thugsey Rinpoche Thứ Năm.

 Vào cuối đời, Bhakha Rinpoche Thứ Tám an trụ tại Lagyap Khenlung và Lhalung ở Bhutan. Ngài cũng là vị hộ trì ngai tòa và vị Thầy chính của Tu viện Lhalung, ở đó ngài yêu thương tất cả các tu sĩ, ban cho họ giáo lý cũng như sự hỗ trợ vật chất.
 Rigzin Khamsum Yongdrol - Bhakha Tulku Thứ Chín - là bạn và người cùng thời với Đức Düdjom Rinpoche. Ngài rất nổi tiếng ở Bhutan là Thầy của Jigmed Ugyen Wangchuk - vị vua đầu tiên của xứ Bhutan. Bhakha Tulku Thứ Chín là đệ tử của Jamgon Kongtrul Vĩ đại và cũng là đệ tử chính của Lhalung Sungtrul Tenpai Nyima. Ngài trải qua hầu hết đời mình ở Bhutan tại Lhodrak Lhalung, trụ xứ của Pema Lingpa. Vua Bhutan cúng dường ngài nhiều pháp khí trân quý như gyaling (kèn cổ của Tây Tạng) bằng ngà voi, damaru, và bình nước, cũng như những đồ dùng quý giá khác bằng vàng và bạc. Tất cả những món đồ này được gởi về Powo, tới Tu viện Bhakha. Bhakha Tulku Thứ Chín cũng là một nghệ sỹ tài danh: ngài xây dựng pho tượng Guru Rinpoche khổng lồ ở Bumthang tại Bhutan. Ngài cũng có một người con trai kết hôn với con gái của Khakyab Dorje – Karmapa Thứ Mười Lăm (1871-1922).
 Ngài được coi là rất đẹp trai, và các phụ nữ thường hát một bài về ngài, bắt đầu bằng:

 Ồ Bhakha Tulku Rigzin Gyamtso,
 nhìn mặt ngài
 con chỉ mong ước lại được nhìn thấy ngài
 ngài là bảo ngọc trong trái tim con!

 Thật không may, ngài không thể làm lợi lạc nhiều cho tu viện bởi ngài mất sớm khi mới ba mươi hai tuổi. Khi ngài mất các vị bảo trợ của ngài ở Powo được giao phó trách nhiệm trông nom tu viện, và cuối cùng Bhakha Tulku hiện tại tái sinh vào gia đình các vị bảo trợ này.h ng

 Bhakha Tulku Thứ 10

 Bhakha Tulku hộ trì cả hai dòng Nyingma và Kagyu, kể cả dòng của Rigdzin Pema Lingpa, tái sinh trực tiếp của Longchenpa, Đạo sư Dzogchen vĩ đại và là người sáng lập truyền thống Longchen Nyingtik của dòng Nyingma. Pema Lingpa cũng là một trong Năm Terton Vương giả Vĩ đại của truyền thống Nyingma. Bhakha Tulku cũng là hóa thân của vị khám phá kho tàng vĩ đại - Terton Dorje Lingpa - và là một hiện thân của học giả, dịch giả, và thiền sư thế kỷ thứ tám Vairotsana (một trong bảy tu sĩ đầu tiên ở Tây Tạng). Bhakha Tulku cũng là vị hộ trì của dòng Dzogchen của truyền thống Namchoe, dòng Longchen Nyingthig và Chetsun Nyingthig.
 
 Khi còn rất nhỏ, Bhakha Tulku Rinpoche thứ 10 (hiện tại) được Đạo sư vĩ đại Jamyang Khyentse Chokyi Lodro (1893-1959) xác nhậnhóa thân của Pema Lingpa. Vị Thầy này yêu cầu cậu phải được gia đình chăm sóc thật cẩn thận và không để bị ảnh hưởng bởi những điều ô nhiễmbất tịnh. Sau đó Bhakha Tulku được Đức Karmapa thứ 16 (1924-1981) xác nhận. Đức Düdjom Rinpoche (1904-1987) cũng xác nhận cậu là hóa thân của người bạn cũ và cùng thời với ngài là Rigzin Chamsum Yongdrol – Bhakhar Tulku thứ chín. Sau khi nhận những quán đảnh và trao truyền của những dòng truyền thừa Rinchen Terzöd và Düdjom từ Đức Düdjom Rinpoche tại Tu viện Yurigon ở Powo thượng, Bhakha Rinpoche đi Kongpo với Đức Düdjom Rinpoche, ở đó ngài nhận thêm những giáo lý quý báu, kể cả 13 giảng khóa của các kho tàng Pema Lingpa. Sau đó ngài thực hành mãnh liệt dưới sự dẫn dắt của Đức Düdjom Rinpoche.

 Khi còn là một thiếu niên, Bhakhar Tulku được Đức Düdjom Rinpoche gởi tới tu học tại Mindroling - trung tâm Nyingma vĩ đại của việc tu học tại miền trung Tây Tạng – để khám phá những phương diện khác của triết học Phật Giáo và đẩy mạnh việc nghiên cứu những truyền thống nghi lễ của dòng Nyingma. Năm 1959, ngài đào thoát sang Bhutan khi Trung quốc xâm lăng Tây Tạng. Vài năm sau, Đức Düdjom Rinpoche gởi ngài tới tu học tại trường dành cho các Tulku trẻ ở Dalhousie (Ấn Độ), và từ năm 1965 tới 1972, ngài phụng sự Đức Düdjom Rinpoche với tư cách một thư ký. Ngài lại nhận tất cả 13 giảng khóa của các kho tàng Pema Lingpa từ Tamshing Lama P’huntsok, vị hộ trì chính của dòng Pema Lingpa tại Bhutan. Ngài đã thực hành thấu đáo tất cả những giáo lý đã nhận từ Thuksey Rinpoche trong ẩn thất tại những thánh địa như Shugdrag và Kundrag. Ngài cũng nhận nhiều giáo lý từ Đức Dilgo Khyentse Rinpoche; Đức Dodrupchen Rinpoche; Đức Penor Rinpoche; và Đạo sư Dzogchen vĩ đại Chatral Rinpoche.

 Những hoạt động giảng dạy và thực hành của Bhakha Tulku Rinpoche đã đưa ngài tới Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Tây Tạng, Đài Loan và Hoa Kỳ trong hơn 15 năm qua. Những Phật sự và việc dịch thuật của Rinpoche ở Tây phương đã mang lại lợi ích lớn lao cho nhiều người. Theo khẩn cầu của nhiều hành giả, Rinpoche đã đến Hoa Kỳ để đẩy manh việc truyền bá Phật Pháp ở đây.

 Vairotsana Foundation

 Để phụng sự cho mục đích này, ngài đã di chuyển tới Santa Barbara để thiết lập một trung tâm thiền định Tây Tạng nhờ tổ chức phi-lợi nhuận Vairotsana Foundation (Tổ chức Vairotsana) của ngài. Động lực của ngài là hiến tặng kinh nghiệm thiền địnhtu hành triết học Phật Giáotu hành chánh niệm cho càng nhiều hành giả càng tốt, kể cả các trẻ em và thiếu niên. Rinpoche nói tiếng Anh trôi chảybản tánh cởi mở, đơn giản, thân thiện của ngài đã khiến cho tất cả những ai tiếp cận với ngài đều cảm thấy dễ dàng và thoải mái. Một trong những mối quan tâm chính yếu của Rinpoche là sống chánh niệm để khỏi làm xáo trộn, gây ô nhiễm và nguy hiểm cho môi trường. Bhakhar Tulku là một nghệ sỹ thổi sáo tự học tài hoa. Ngài biểu lộ sự cầu nguyệnthiền định của mình qua việc điêu khắc và chạm trổ khéo léo các thần chú trên các hòn đá và khối đá.

 Mọi người được mời tới để thọ nhận miễn phí sự tu hành triết học Phật Giáo Tây Tạngthực hành thiền định. Tổ chức Vairotsana được hiến tặng cho việc bảo tồn và giảng dạy triết học Phật Giáo Tây Tạngthực hành thiền định. Tổ chức cũng bảo trợ cho công cuộc dịch thuật các bản văn và các bài nguyện Phật Giáo cổ xưa của truyền thống Nyingma của Phật Giáo Kim Cương thừa. Tổ chức Vairotsana có ba thiền sư Tây Tạng giảng dạy, phiên dịch, và hướng dẫn các thực hành thiền định dưới sự chỉ đạo của Bhakha Tulku Rinpoche.

 Trong một thời gian ngắn từ khi Rinpoche tới Santa Barbara, ngài đã đưa Tulku Orgyen P’huntsok tới đó. Tulku Orgyen P’huntsog đã hoàn tất những nghiên cứu chương trình Khenpo ở miền nam Ấn Độ trong tu viện của Đức Penor Rinpoche. Tulku Orgyen giảng dạy triết học Phật Giáo và các lớp ngôn ngữ Tây Tạng và hướng dẫn các lễ puja khi Bhakha Tulku bận du hành để làm Phật sự. Với quá trình tu hành thâm sâu tại tu viện của Đức Penor Rinpoche ở miền nam Ấn Độ và ba năm tu hành nghi lễTây Tạng, Sonam Lama đã được bổ nhiệm làm Đạo sư Nghi lễ của Tổ chức Vairotsana.

 Ngoài Vairotsana California Foundation, Rinpoche cũng thành lập Vairotsana New Mexico Foundation, và Orgyen Choling ở Tularosa, New Mexico.
 Hiện nay, tất cả những Đạo sư cùng thời với ngài tại trụ xứ chính của Pema Lingpa - Tu viện Lhalung ở Tây Tạng - cũng như tại Tu viện Tamshing ở Bhutan đều tôn kính Bhakha Tulku Rinpoche thứ mười như vị hộ trì của dòng truyền thừađại không đứt đoạn này.
 
  Tu viện Bhakha ở Tây Tạng

 Tu viện của Rinpoche – Tu viện Bhakha - ở Powo, tại miền đất ẩn dấu Pemakod của Guru Rinpoche ở Tây Tạng, trung tâm linh thánh của Vajra Dakini, phía bắc biên giới Ấn Độ. Bhakha có nghĩa là “nơi chôn cất.” Nó cũng có nghĩa là một nơi nước sông bị khuấy đục. Có một truyền thuyết nói về công chúa Trung Hoa Wundrung Kongjo (Văn Thành), người được coi là món quà tặng cho Vua Tây Tạng Songtsen Gampo vào thế kỷ thứ bảy. Vị thượng thư đầy năng lực Gar Tongtsen chịu trách nhiệm tổ chức việc trao tặng món quà liên kết này, và phải giao công chúa cho triều đình Lhasa. Trên đường đi, vị thượng thư đâm ra yêu thương nàng công chúa, và trong cuộc hành trình gian khổ tới Tây Tạng nàng đã hạ sanh một đứa bé. Đứa trẻ chết khi họ đang đi qua Powo, hiện nay là nơi Ấn Độ tiếp giáp với Tây Tạng. Công chúa Wunshing là một người lão luyện trong khoa bói đất và chiêm tinh, và cô chọn một dốc đứng nhìn xuống Sông Powo ở dưới thấp như một nơi chôn cất đứa con của cô. Công chúa nói địa điểm này “như một cái nút trong trái đất.”

 Tu viện Bhakha tại Powo, Tây Tạng

 Trụ xứ Pema Lingpa của Rinpoche được duy trìTu viện Tamshing tại Bumthang, xứ Bhutan.

 Nối kết
 - Vairotsana Foudation - Santa Barbara
 1524 Anacapa St
 Santa Barbara, CA 93101
 805-899-8177
 vairotsana@verizon.net
 - Vairotsana Foundation - Garden Grove
 10311 Kern Ave
 Garden Grove, CA 92843
 714-531-5108; hoặc liên lạc với Maithy Lam: 714-987-0809, maithylam@yahoo.com
 - Vairotsana NM
 6316 Prairie NE
 Albuquerque NM 87109
 Liên lạc với Jacqueline Walters: 505-883-0274

 Thanh Liên biên dịch theo các bài:

 - “The Venerable Bhakha Tulku Rinpoche”
 http://www.vairotsana.org/lamas/bhakatulkurinpoche.htm
 - “Bhakha Rinpoche's Connection to H.H. Düdjom Rinpoche”
 http://www.vairotsana.org/history/bhakhaconnectiondudjom.htm
 - “The Seventh Bhakha Tulku”
 http://www.vairotsana.org/history/bhakhaseventh.htm
 - “The Eighth Bhakha Tulku”
 http://www.vairotsana.org/history/bhakhaeighth.htm
 - “The Tenth Bhakha Rinpoche”
 http://www.vairotsana.org/history/bhakhatenth.htm
 - “Bhakhar Tulku Rinpoche”
 http://www.zunimountainstupa.org/bhakha.htm
 - “History of Bhakha Tulkus”
 http://www.zunimountainstupa.org/history/history1.htm
 - “Bhakhar Monastery in Tibet”
 http://www.zunimountainstupa.org/monastery.htm
 - “The Venerable Bhakha Tulku Rinpoche & Vairotsana Foundation Schedule”
 http://www.snowcrest.net/ksnow/bhakha_tulku_rinpoche.htm

 The Venerable Bhakha Tulku Rinpoche

 The Venerable Bhakha Tulku Rinpoche is the main lineage holder of the Tibetan lineage of Rigdzin Pema Lingpa, one of the Five Great Kingly Tertons (Treasure Finders) of the Tibetan Nyingma tradition. He is also the incarnation of the great treasure revealer, Terton Dorje Lingpa, and an emanation of the eighth century scholar, translator, and meditation master Vairotsana, (one of the first seven monks ordained in Tibet). Bhakha Tulku Rinpoche was recognized as such by both H.H. the 16th Karmapa and H.H. Dudjom Rinpoche.

 The present Bhakha Tulku is the 10th incarnation of the Bhakha Tulku line. The Bhakha monastery is in the Powo region of southeastern Tibet, but the line has many ties with Bhutan as well, as Pema Lingpa is one of the most revered figures in the Tibetan Buddhist tradition in Bhutan. The 8th Bhakha Tulku served as royal priest and was a close friend of the first King of Bhutan. Rinpoche's seat in Bhutan is the Tamshing Gonpa in the Bumthang Valley.

 Bhakha Tulku Rinpoche holds many lineages, including the Pema Lingpa lineage, the Dzogchen lineage of the Namchoe tradition, the Longchen Nyingthig, and the Chetsung Nyingthig. He received the Rinchen Terzod and many other teachings from H.H. Dudjom Rinpoche. He studied at Mindroling, the great Nyingma center of learning in central Tibet, but fled Tibet to Bhutan in 1959 during the Chinese occupation. He studied at the school for young Tulkus in Dalhousie, India and served H.H. Dudjom Rinpoche for a number of years. He has also received many teachings from other great masters including H.H. Dilgo Khyentse Rinpoche and Dodrup Chen Rinpoche. He has since done much translation work for westerners and has served H.H. Penor Rinpoche, the current head of the Nyingma School, and H.H. Chatral Rinpoche, the great Dzogchen master. Bhakha Tulku Rinpoche's teaching and practice activities have taken him to India, Nepal, Bhutan, Tibet, Taiwan and the United States over the past 10 years.

 Rinpoche's teaching activities and translations in the West have been of great benefit to many people. Rinpoche has agreed to come to the United States at the request of many to further spread the teachings of the Buddha-Dharma here. He has established the Vairotsana Foundation to serve this purpose.

 http://www.vairotsana.org/lamas/bhakatulkurinpoche.htm


 TIỂU SỬ KHANDRO RINPOCHE (Khandro Rinpoche)

 Sự ra đời và dòng dõi tâm linh

 Trong những giấc mơ, Đức Karmapa thứ 15 Khakyab Dorje (1871-1922) được mách bảo là để kéo dài thọ mạng, Ngài cần có một vị phối ngẫu là hiện thân của Yogini Yeshe Tsogyal (phối ngẫu, đệ tử, và người kế thừa tâm linh của Đức Padmasambhava.) Vị hiện thân được tiên đoán trong những giấc mơ của Đức Karmapa là Urgyen Tsomo, sinh trong một gia đình ở gần Tsurphu. Urgyen Tsomo mười sáu tuổi khi được tìm thấy,. Với sự chứng ngộ tự nhiên, Urgyen Tsomo đã thực hành pháp tịnh hóa của Dorje Namdjoma cho Đức Karmapa, bởi lúc đó Ngài đang bị bệnh rất nặng. Mỗi ngày Urgyen Tsomo phải lập lại thực hành này và nhờ đó có thể kéo dài thọ mạng của Đức Karmapa thêm chín năm nữa. Sau khi Đức Karmapa thị tịch, Urgyen Tsomo - được gọi là Khandro Vĩ đại của Tsurphu - sống trong trung tâm nhập thất tại Tsurphu, thực hành nhiều khóa nhập thất và dẫn dắt những người khác trên con đường tới giải thoát. Khi Urgyen Tsomo sắp tịch, các ni cô sống với ngài đã khẩn cầu ngài tái sinh để cứu giúp chúng sinh, và ngài nói rằng ngài sẽ sinh ở Zangdok Palri và họ sẽ gặp lại ngài ở đó. Khandro Tsering Paldrön đã tái sinh trong dòng truyền thừa Mindrolling, là dòng có nhiều nữ Đạo sư thành tựu trong suốt lịch sử của nó.

 Khandro Urgyen Tsomo

 Rinpoche sinh tại tu viện Zangdok Palri ở Kalimpong năm Hỏa Mùi theo lịch Tây Tạng (1967), là trưởng nữ của His Holiness Mindrolling Trichen Rinpoche – vị lãnh đạo Phái Nyingma của Phật Giáo Tây Tạng và là một trong những Lạt ma Tây Tạng lừng danh hiện còn sống.
 .
 Năm Khandro Tsering Paldrön một tuổi, cô đã biểu lộ nhiều dấu hiệu tốt lành, do đó Đức Karmapa thứ 16 Rigpe Dorje (1924-1981) đã xác nhận cô là hóa thân của Khandro Urgyen Tsomo, Dakini Vĩ đại của Tsurphu, một trong những nữ Đạo sư lừng danh trong thời đại của bà. Sự kiện này được chính thức thông báo khi cô lên ba tuổi và sau đó Khandro Tsering Paldrön được tôn phong.
 Khandro Tsering Rinpoche, được gọi là Khandro Rinpoche, cũng được Dilgo Khyentse xác nhận. Vị Thầy này cũng trở thành một Đạo sự thân thiết của Rinpoche.

 Khandro Rinpoche là vị hộ trì dòng truyền thừa và là một trong những nữ Đạo sưảnh hưởng nhất trong cả hai truyền thống Nyingma và Kagyu của Phật Giáo Tây Tạng.

 Khandro Rinpoche khi còn nhỏ 
 Khandro Rinpoche khi là thiếu nữ
 
  Việc tu học và trao truyền

 Rinpoche đã hoàn tất một nền giáo dục Tây phương ở nữ tu viện St. Joseph, Wynberg Allen, và nữ tu viện St. Mary, tất cả đều ở Ấn Độ. Rinpoche nói lưu loát tiếng Tây Tạng, Anh và Hindi (Ấn Độ), Rinpoche sở hữu phẩm tính của popba Tây Tạng: tài hùng biện đầy dũng lực. Mỗi câu nói của Rinpoche đều sáng sủa nhưng chắc chắn – tự nó đã là một giáo lý viên mãn, không chút do dự hay tìm kiếm.
 Khandro Rinpoche đã nhận lãnh những giáo lý và sự truyền dạy từ một số vị Thầy trong những Đạo sư thành tựu nhất của thế kỷ 20, kể cả Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đức Mindrolling Trichen, Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, Trulzhig Rinpoche, Tenga Rinpoche, Tsetrul Rinpoche và Tulku Urgyen Rinpoche.

 Việc Giảng dạy

 Rinpoche duy trì một kế hoạch làm việc nghiêm ngặt, giảng dạy các truyền thống Kagyu và Nyingma ở Hoa Kỳ kể cả Hawaii, Canada, Đan Mạch, Na Uy, Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Cộng Hòa Séc, và Hy Lạp.

 Thành lập Samten Tse ở Ấn Độ

 Rinpoche đã thiết lậplãnh đạo Trung tâm Nhập thất Samten Tse ở Mussoori, Ấn Độ, hiện có 30 ni cô tu tập và cũng thiết lập một địa điểm dành cho việc nghiên cứunhập thất cho các hành giả tu sĩcư sĩ Tây phương, cũng như thiết lập một cộng đồng tâm linh cho các hành giả tu sĩcư sĩ với những đệ tử Đông phương lẫn Tây phương cùng chung sống với nhau.

 Các đề án Từ thiện

 Khandro Rinpoche cũng lãnh đạo nhiều đề án từ thiện nhằm chăm sóc sức khỏegiáo dục Phật Giáo ở những nơi hẻo lánh, đề án về bệnh cùi, và Tập san Dharmashri, hơn nữa Rinpoche cũng có mối quan hệ tích cực với Tu viện Mindrolling ở Dehra Dun, Ấn Độ.

 Thành lập Liên Hoa Viên (Pema Gatsal) ở Hoa Kỳ

 Trong tinh thần hòa hợp với cái nhìn của phong trào Rimé của Phật Giáo Tây Tạng nhằm đẩy mạnh sự tiếp cận không bộ phái với việc nghiên cứuthực hành Phật Giáo, Rinpoche đã thiết lập Liên Hoa Viên ở Stanley, Virginia, Hoa Kỳ. Liên Hoa Viên sẽ hiến tặng những điều kiện thuận lợi cho các Đạo sư Phật Giáo thuộc mọi trường phái Phật Giáo Tây Tạng trong việc giảng dạy và nhập thất theo nhóm, cũng như cho những cá nhân quan tâm tới việc nhập thất ở những nơi cô tịch. Việc thiết lập Phật GiáoTây phương sẽ được xúc tiến tại Liên Hoa Viên nhờ cơ hội nghiên cứu chuyên sâu triết học, các bản văn Phật Giáo và các khoa học. Liên Hoa Viên cũng là trụ sở dành cho một ủy ban dịch thuật và ấn hành của Tập san Dharmashri, một nhà xuất bản của Phật Giáo Tây Tạng.

 Tác phẩm

 Tác phẩm đầu tiên của Rinpoche có tựa đề This Precious Life: Tibetan Buddhist Teachings on the Path to Enlightenment (Cuộc Đời Quý báu này: Những Giáo lý Phật Giáo Tây Tạng trên Con Đường dẫn tới Giác ngộ), do Nhà Xuất bản Shambhala xuất bản năm 2003.

 Nối kết

 Để có thêm thông tin, xin viếng thăm web site của Rinpoche tại http://www.vkr.org và website Lotus Garden (Pema Gatsal, Liên Hoa Viên) tại http://lotusgardens.org ./.

 Thanh Liên biên dịch theo các bài:

 - “Biography”
 http://www.vkr.org/biography.cfm
 - “Lineage & Teachers”
 http://www.gomdeusa.org/lineage.html
 - “Female Masters : Jetsun Tsering Paldron”
 http://www.mindrolling.org/history/femaleMasters/jtp.cfm
 - “Spiritual Lineage”
 http://www.vkr.org/lineage.cfm

 History
 Female Masters : Jetsun Tsering Paldron
 Birth and Ancestry

 As the daughter of His Holiness Mindrolling Trichen, head of the Nyingma School, Venerable Khandro Rinpoche, as she is widely known, was born in the lineage of Mindrolling, which throughout its history has had many accomplished and renowned female masters. At the age of two, Rinpoche was recognized by His Holiness the 16th Karmapa as the re-incarnation of the Great Dakini of Tsurphu, Khandro Ugyen Tsomo who was a one of the most well known female masters of her time. Thus, the present Khandro Rinpoche came to hold the lineages of both the Nyingma and Kagyu schools.

 Studies and Transmissions

 Khandro Rinpoche studied under many learned teachers and received numerous transmissions within both the Nyingma and Kagyu traditions. Besides studying from various khenpos, Rinpoche also received teachings and transmissions from some of the most accomplished masters of recent times, such as His Holiness Mindrolling Trichen, His Holiness Dilgo Khyentse Rinpoche, His Eminence Trulzhig Rinpoche, His Eminence Tenga Rinpoche, His Eminence Tsetrul Rinpoche, and His Eminence Tulku Ugyen Rinpoche.

 Teaching in Europe and North America

 Rinpoche has been teaching for over twelve years and has developed a vast activity in both Europe and North America, teaching within both the Kagyu and Nyingma schools.

 Establishment of Samten Tse in India

 Rinpoche has also established and heads the Samten Tse Retreat Centre in India for nuns as well as western practitioners. Rinpoche’s efforts at Samten Tse are directed towards fulfilling her vision of providing a place of study and retreat for both nuns and lay practitioners, as well as establishing a spiritual community of both monastics and lay-practitioners with students from both East and West living together.

 Charitable Projects

 Rinpoche also heads various charitable projects such as initiatives for health care and education in remote areas, the leprosy project, and the Dharmashri Journal, besides being very actively involved with the Mindrolling monastery in India.

 Establishment of Lotus Garden (Pema Gatsal) in the USA

 In keeping with the vision of the Rimé movement of Tibetan Buddhism to promote a non-sectarian approach to the study and practice of Buddhism, Rinpoche established Lotus Garden in Stanley, Virginia, USA. Lotus Garden will offer its facilities to Buddhist teachers of all of the schools of Tibetan Buddhism for group teachings and retreats, as well as to individuals interested in solitary retreats. The establishment of Buddhism in the West will be furthered at Lotus Garden by the opportunity for intensive study of Buddhist philosophy, texts and the sciences. Lotus Garden will also be home for a translation committee and production of the Dharmashri Journal, a Tibetan Buddhist publication.

 VKR on the Web
 For more information, please visit Rinpoche's web site at http://www.vkr.org and the Lotus Garden (Pema Gatsal) site, http://lotusgardens.org.

 Overviewhttp://www.mindrolling.org/history/femaleMasters/jtp.cfm
 http://www.vkr.org/biography.cfm
 http://www.gomdeusa.org/lineage.html
 http://www.vkr.org/lineage.cfm
Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 97532)
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Penang - hòn đảo xinh đẹp đậm đà nét văn hóa độc đáo của đất nước Malaysia ( Mã Lai), một trong những điểm đến lý tưởng nhất trên thế giới trong những ngày này đã đón tiếp hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử từ các châu lục gồm 30 quốc gia về tham dự Đại Hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới (The World Buddhist Sangha Council - WBSC) lần thứ 10. Khách sạn Equatorial là địa điểm chính, nơi diễn ra suốt kỳ đại hội lần này từ ngày 10 đến 15.11.2018.