Ấn Giáo Hay Bà La Môn Giáo - Phúc Trung

17/02/201112:00 SA(Xem: 8985)
Ấn Giáo Hay Bà La Môn Giáo - Phúc Trung


ẤN GIÁO HAY BÀ LA MÔN GIÁO

Phúc Trung

hinduismBà La Môn là phiên âm của từ Brahman, sau nầy biến cải thành đạo Hindu, một tôn giáo chính của Ấn độ ngày nay, nên ngày nay gọi là Ấn Độ giáo. Đặc biệt Bà La Môn hay Ấn Độ Giáo là một tôn giáo không có giáo chủ.

Ấn Độ là một nước có từ lâu đời, cách nay chừng 5000 năm, một trong những nền văn minh của nhân loại đã phát triển do giống dân da ngăm ngăm đen, đó là giống dân Dasyus, dần dân đổi thành Dravidian, phía Bắc giáp với Nepal, Trung Quốc, phía Đông giáp với Miến Điện, phía Tây giáp với Ba Tư và A Phú Hãn, sau nầy Đông Hồi và Tây Hồi tách ra khỏi Ấn Độ. Địa lý tự nhiên chia Ấn Độ ra làm 3 miền :

1.- Rặng Hy Mã Lạp Sơn : Rặng núi nầy quanh năm tuyết phủ, cho nên theo tiếng Phạn có nghĩa là ?? nơi cư trú của tuyết ?? là vòng cung lồi, chạy dài chừng 2600 cây số, gồm nhiều đợt núi chạy song song, tạo thành chiều ngang rất rộng, gồm nhiều đỉnh cao, có 40 ngọn cao từ 7 ngàn đến 8 ngàn thước, nó là tường thành án ngữ về phía Bắc nên gió từ đại dương bị giữ lại, biến thành mưa tưới nước cho đồng bằng Ấn Hằng rộng lớn, 4 phần năm diện tích Hy Mã Lạp Sơn là rừng rậm, có nhiều thú, nhiều đạo sĩ Ấn Độ đến chốn cô tịch nầy để tu hành, dân Ấn tin rằng nơi đây có nhiều thần linh. Cho nên rặng núi nầy chẳng những hữu ích cho nông nghiệp Ấn Độ mà còn ảnh hưởng đến văn hóatâm linh của người dân Ấn.

2.- Đồng bằng Ấn Hằng : Đồng bằng nầy là một trong những đồng bằng rộng lớn nhất thế giới, nó kéo dài từ biển Ô Man đến vịnh Ben Gan chiều rộng từ 260 đến 600 cây số, chiều dài chừng 3600 cây số, sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) đều phát xuất từ rặng Hy Mã Lạp Sơn, sông Ấn ở phía Tây, dài 2900 cây số chảy qua vùng Pen Giáp có 5 phụ lưu đổ ra biển Á Rập. Sông Hằng ở phía Đông dài 3090 cây số, chảy ra vịnh Ben Gan, người Ấn tin tưởng đó là một con sông linh thiêng, có thần thánh bảo trợ cho họ.

Theo truyền thuyết sông Hằng trước kia ở tận trên trời, sau nhờ thần Si Va, kéo nó chảy qua đầu tóc mình, lẩn quẩn ở đó hàng ngàn năm, rồi mới đổ xuống trần thế, tạo thành 7 nguồn sông ở bên sườn Hy Mã Lạp Sơn. Sông Hằng chảy qua một thành phố từ ngàn đời nay, là nơi linh thiêng nhất của người dân Ấn, đó là thành phố Va Na Ra Si (Bê Na Rét). Theo người Ấn, được tắm trong dòng nước mát và được chết bên bờ sông Hằng, tại khúc sông Hằng chảy qua thành phố nầy, là diễm phúc lớn nhất của cuộc đời. Lại nữa, hàng năm có hàng chục ngàn người lặn lội tới tận thượng nguồn sông Hằng để trẩy hội dâng hương, những mong tìm kiếm được phúc lành trong cõi thế gian đầy khổ đau nầy.

3.- Bán đảo Đê Căng (Deccan): Chủ yếu là cao nguyên Đê Căng và hai dãi đồng bằng hẹp từ 20 đến 60 cây số, tạo thành hình chữ V, chạy dài theo bờ biển từ Đông sang Tây, cao nguyên nầy thường được coi như nhà bảo tàng cổ xưa nhất của Ấn Độ, ở đây người ta tìm thấy những bộ lạc gần như nguyên thủy, những thổ ngữ rất xưa, nên người ta cho rằng: người Ấn Độ bản địa lâu đời nhất đã từng sinh sống tại đây.

Ấn Độ trải qua hàng chục ngàn năm gồm thiên di và xâm nhập, đã lai tạo các giống dân nên đa dạng về chủng tộc. Tuy nhiên về đại thể, có thể chia thành bốn giống chính đã từng sống ở Ấn Độ.

1.- Chủng tộc Nê Grô Íđ (Negroid) : Là chủng tộc bản địa cổ xưa nhất, tồn tại lâu đời, trong đó có giống người Ved Đa và Gôn Đờ, sống ở Nam và Trung cao nguyên Đê Căng, các giống người nầy chủng tộc da đen, vóc người nhỏ, mũi tẹt, tóc xoắn.

2.- Chủng tộc Đra Vi Đi An (Dravidian) : ( còn gọi là chủng tộc Ôt Xtra Lô Ít hay Mê La Nô Anh Diêng ), có nguồn gốc đại dươngchủng tộc di cư đến Ấn Độ sớm nhất, nên được coi như người bản địa, cư trú phần lớn ở cao nguyên Đê Căng. Giống người nầy nước da nâu sẫm, khuôn mặt hẹp, mũi thẳng, tóc đen. Sự khác biệt chủng tộc nầy với giống A Ry An là hệ thống ngôn ngữ.

3.- Chủng tộc A Ry An (Aryan): Là chủng tộc da trắng hoặc da nâu sáng, vóc người cao, mũi thẳng, có nguồn gốc bên ngoài lãnh thổ Ấn Độ, có thể là giống dân Caucasoid xuất phát từ vùng Caucasus (nay thuộc lãnh thổ Liên Xô, nằm tiếp giáp Thổ Nhĩ Kỳ và I Ran) khoảng nữa sau thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên, từ Tây Bắc tràn vào đồng bằng sông Ấn, dần dần lan sang phía Đông tới châu thổ sông Hằng và xuống phía Nam tới cao nguyên Đê Căng, dân bản địa Đra Vi Đi An bị bắt làm nô lệ, đồng thời hổn chủng với giống dân nầy, phần khác bị dồn xuống phía Nam. Đặc điểmngôn ngữ của họ có nhiều quan hệ với ngôn ngữ Âu Châu, gọi chung là ngữ hệ Ấn - Âu, trải qua hàng chục thế kỷ, người A Ry An trở thành dân cư chính yếu của Ấn Độ.

4.- Chủng tộc Mông Gô Lô Íđ (Mongloide): Giống da vàng, thuộc tiểu chủng Miến-Tạng, không có râu, gò má cao. Chủng tộc nầy xâm nhập vào Ấn Độ từ hướng Bắc và Đông Bắc, một số lan sang phía Đông, do sự lai tạo lâu đời, ngày nay chủng tộc nầy không còn giữ được đặc trưng thuần khiết của giống dân mình.

Nói chung, về phương diện lịch sửvăn hóa, giống Đra Vi Đi An như là nền tảng, còn giống dân A Ry An là yếu tố chủ thể của nước Ấn Độ truyền thống.

Ấn Độ là nước đa dạng và phức tạp về ngôn ngữ, tiền tệ Ấn Độ đồng Ru Bi có ghi đến 12 thứ chữ khác nhau. Ngày nay Ấn Độ chính thức công nhận 15 ngôn ngữ, không kể Anh ngữ gần như thông dụng trong giao dịch, người ta chia ngôn ngữ Ấn Độ thành hai nhóm chính : Nhóm ngôn ngữ A Ry An gồm có cổ ngữ San Skrít (tiếng Phạn), được coi là ngôn ngữ chính thống trong nền văn hóa cổ đại và ngôn ngữ Hin Đi hiện nay thông dụng nhất (140 triệu người dùng). Nhóm ngôn ngữ Đra Vi Đi An được dùng ở cao nguyên Đề Căng gồm có tiếng Tê Lu Gu, Mun Đa (có họ hàng gần gủi với hệ Môn Khmer), Uốc Đu là ngôn ngữ đặc biệt kết hợp Ấn Độ với Hồi Giáo, được viết theo chữ Á Rập và ngữ pháp Hin-Đu.

Về mặt tôn giáo, theo thống kê năm 1971 được công bố như sau:

Đạo Hin Đu ( Ấn Độ Giáo ) -- 83% dân số 
Đạo Hồi --------------------------11% - 
Đạo Sích --------------------------2% - 
Đạo Phật --------------------- 0,75% - 
Đạo Jai Na (Kỳ Na Giáo)--- 0,50 % - 
Đạo Ba Tư, Gia Tô, Do Thái --- 2% - 

Thuở xưa, Ấn Độ đã có nền văn hóa vùng sông Ấn ( nay sông Ấn thuộc Hồi quốc ở về phía Tây Ấn Độ ) vào khoảng 2500 năm đến 1500 năm trước công nguyên, thời kỳ nầy được gọi là Văn hóa tiền Vệ Đà sau đó đến nền văn hóa Vệ Đà của giống dân A Ry An (Aryan) khoảng từ 1800 đến 500 năm trước công nguyên.

Người Ấn Độ sống ở vùng sông Ấn đã có tín ngưỡng thần linh, nhất là nữ thần, người A Ry An sùng bái các lực lượng tự nhiên như thần mặt trời Mi tra (Mitra), thần mặt trăng Va Ru Na (Varuna), thần vật tổ In Đra (Indra), thần lửa A Nhi (Agni), thần Chết (Yama), thần Rượu (Soma)..., họ tổ chức cúng tế những tín ngưỡngtôn giáo nguyên thủy đó, người ta gọi là đạo Vệ Đà, sự dung hợp hai yếu tố văn hóa A Ry An và dân bản địa sông Ấn vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên, làm cho nền văn hóa thành thị của dân bản địa chuyển thành tính chất nông thôn, cũng biến đổi nền kinh tế chăn nuôi của giống A Ry An sang kinh tế trồng trọt, hình thành nền văn hóa cổ đại Ấn Độ, thống nhất đượm tinh thần đạo Vệ Đà, nó có tánh chất nền tảng, người ta gọi đó là nền văn hóa Hin Đu.

Đời sống kinh tế của người Ấn chủ yếu là nông nghiệp và thương mại, về mặt xã hội từ các bộ tộc họ đã sớm chuyển thành các quốc gia, đứng đầu là một vị quốc vương. Những hình thức tế lễ, quyền uy của hạng người võ sĩ, sớm hình thành xã hội có đẳng cấp để bảo vệ các quyền lợi của giai cấp. Xã hội Ấn Độ cổ thời chia thành bốn giai cấp, đứng đầugiai cấp của những người tế lễ, đọc kinh Vệ Đà, thuyết giáo cho quần chúng, đó là giai cấp Bà La Môn, kế đó là giai cấp của những người thống trị như vua, quan, nhà quý phái gọi là Sát Đế Lợi, kế đó là giai cấp của những người bình dân, gồm công, nông, thương gọi là giai cấp Tỳ Xá, cuối cùnggiai cấp tiện dân, đời đời làm những nghề hèn hạ và nô lệ.

Giai đoạn Vệ Đà gắn liền với sự xâm nhập của người A Ry An vào vùng đất Ấn, họ đã có sản phẩm tinh thần là các bộ kinh Vệ Đà viết bằng tiếng Phạn, nó gồm có 4 bộ :

Rig Vệ Đà : Nội dung ca tụng các thần linh
Ya Juna Vệ Đà : Tập hợp các nghi thức lễ và tế tự. 
Sa Ma Vệ Đà : Gồm những khúc ca cầu nguyện
Ác Tha Va Vệ Đà : Sưu tập những câu phù chú


Mỗi Vệ Đà có 3 phần:

Mantra: Ca tụng 
Brahmana: Nghi thức 
Sutra: Giáo điều 
Lại còn có :

Aranyakha: Sấm thư là sách của những người dựa theo Vệ Đà tập luyện tu hành trong rừng sâu. 
Upanisa: Áo nghĩa thư cũng gọi là Vedanta, giải thích các huyền nghĩa, triết lý trong Vệ Đà 
So sánh thời cổ đại Ấn độ với Trung Hoa người ta thấy ca tụng của kinh Thi tương đương với Mantra, giáo lý kinh Thư tương đương với Brahmana và triết lý kinh Dịch tương đương với Sutra.

Bộ Vệ Đà toát lên giáo lý cơ bản là con người thường xuyên có những mối liên hệ với thần linh, phản ánh sự hòa đồng giữa con ngườivũ trụ. Nhờ cúng tế, con người sẽ được các thần linh đó phù hộ che chở, sẽ tránh được điều rủi gặp được điều may.

Dần dần những người cúng tế để củng cố địa vị mình, họ đã sáng tác bộ thánh điển Brah Ma Na là tập sách chú giải, diễn nghĩa gắn liền với từng bộ kinh Vệ Đà, đây là giai đoạn đạo Bà La Môn, những tăng lữ nầy có uy thế và đặc quyền, trong quyển luật Ma Nu thời cổ đại Ấn Độ, đã khẳng định và dành sự ưu đãi đặc biệt là không ai có thể bắt tội hoặc xử tử người thuộc đẳng cấp nầy.

Hiện tượng ?? Bà La Môn hóa ?? đối với các từng lớp xã hội khác lúc đó, là thuyết về bốn giai đoạn của cuộc đời. Theo đó, một người Ấn Độ lần lượt trải qua các giai đoạn : đồ đệ Bà La Môn, chủ gia đình, ẩn sĩđạo sĩ khất thực, như vậy trong 2 giai đoạn cuối của cuộc đời, người Ấn Độ hầu như đều trở thành đạo sĩ Bà La Môn. Tất cả những điều nầy củng cố thêm quan niệm trật tự xã hội, một quy phạm có tánh cách vĩnh hằng. Người ta cho rằng đạo Bà La Môn xây dựng trên nền tảng có ba yếu tố : đạo, đẳng cấp và các giai đoạn đời sống.

Giai đoạn cuối cùng dài nhất của đạo Bà La Môn, là sự chuyển hóa thành Ấn Độ Giáo (đạo Hin Đu) hình thức phát triển cao của đạo Bà La Môn. Kinh điển Ấn Độ Giáo gồm có kinh Vệ Đà và các tác phẩm văn học. Về kinh điển có bốn bộ kinh Vệ Đà, những cuốn sách chú giải Brah Ma Na, đỉnh cao của hệ thống giáo lý tự biện của Ấn Độ Giáo tập trung trong những bộ kinh U Pa Ni Sáđ. Về tác phẩm văn học số lượng đa dạng, chủ yếu là cuốn truyện cổ tích Pu Ra Na (Purana), hai cuốn sử thi Ma Ha Bha Ra Ta (Mahabharata) và Ra Ma Ya Na (Ramayana). Nổi bật nhất là tác phẩm Chí Tôn Ca (Bhagavad-Gita) lồng vào sử thi Ma Ha Bha Ra Ta. Tác phẩm nầy là bản tổng kết xuất sắc giáo lý Ấn Độ Giáo, một nhà nghiên cứu đã đánh giá : ?? một cuốn thánh kinh vĩ đại, đầy đủ và vắn tắc nhất trong tất cả thánh kinh của nhân loại ??

Cập phạm trù cơ bản nhất của Ấn Độ Giáo là Át Man (Atman-Tiểu ngã) và Brah Man (Brahman-Đại ngã): Brah Man là cái bản ngã vũ trụ, cái tuyệt đối, dưới khía cạnh tôn giáoyếu tố thần linh được bao chứa và thấm nhuần trong vạn vật. Còn Át Man là cái bản ngã cá thể, cái đặc thù trong từng sự vật, con người là một mảnh của Brah Man, tồn tại một cách cụ thể và đơn nhất. Vậy Át Man cũng chính là Brah Man và ngược lại.

Nếu Át Man và Brah Man là nền tảng của vũ trụ quan thì Kác Ma (Karma-Nghiệp) và Sam Sa Ra (Samsara-Luân hồi) là nền tảng nhân sinh quan. Theo thuyết Sam Sa Ra, cái chết của con người là sự chuyển hóa sang kiếp sống khác, sự tái sinh trong luân hồi, gắn liền với Sam Sa Ra là Kác Ma, đây là quan hệ nhân quả, theo đó bất cứ hành động nào của con người cũng được trả giá, nó toàn năng ngoài ý muốn con người, theo đuổi con người không bao giờ lầm lẫn. Và thuyết Mok Sa (Moksa-Giải thoát) là con người rất khó nhưng có thể tránh khỏi luân hồi nghiệp báo bằng cách gắng sức thì có thể đi đến giải thoát. Vì vậy khi giác ngộ Ra Na Na (Jnana) được chân lý Át Man - Brah Man, ý thức được đời sống phù du, hiểu thấu lẽ sống chết, sẽ dập tắc động lực đẩy bánh xe nghiệp báo, luân hồi, nó sẽ dừng lại.

Các sách Veda ghi chép một số thần thoại lý giải nguồn gốc vũ trụ như sau :

Thần thoại xưa nhất cho rằng trong thời kỳ hổn mang, đã có một đấng Trời cha và một Đất mẹ. Trời cha chung sống với Đất mẹ bằng những hạt mưa từ trên trời rơi xuống thấm sâu vào lòng đất. Từ đó, cây cỏ mọc lên và muôn vật sinh sôi nẩy nở, sinh thành nên thế giới.

Một thuyết khác nói rằng lúc mới khai thiên lập địa, vũ trụ là một quả trứng thần bằng vàng treo lơ lửng trong hư không. Sau một năm thần Brahma từ trong quả trứng đó đã làm vở tung quả trứng, nữa trên băng vàng hóa thành trời, nữa dưới bằng bạc hóa thành đất, khoảng giữa là không trung, lòng trắng lòng đó tạo thành núi non, sương mù và mây, tia máu thành các sông ngòi, chất lõng thành biển cả. Ở chính giữa có quả núi trụ trời cao vút, đó là núi Meru. Vũ trụ nầy được hình thành như thế.

Muộn hơn có câu chuyện về thần Vishnu và Brahma. Theo đó khi vũ trụ mới hình thành là cả một biển nước mên mông lay động. Thần Vishnu hình người nằm ngủ trên mình con rắn Sesa hay Ananta (có nghĩa là dài vô tận) cuộn khúc nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Từ rốn của Vishnu, mọc lên một đóa sen, nở ra thần Brahma sáng tạo nên muôn lọai.

Các thần thoại Ấn độ cho rằng sinh mệnh vũ trụ tồn tại theo chuỗi dài bất tận, sinh thành và huỷ diệt theo một chu kỳ tuần hoàn.

Theo đó kiếp sống của vũ trụ là kiếp sống của thần Brahma, từ khi bắt đầu sáng tạo vũ trụ cho đến khi hủy diệt vũ trụ gọi là một ngày của Brahma hay là một Kalpa. Trong thời gian nầy vũ trụ phải trải qua những chu kỳ gọi là Maha Yuas, Mỗi Maha Yugas dài 12,000 năm của thần linh hay 4,320,000 năm của loài người (1 năm của thần linh bằng 360 năm của loài người).

Mỗi Maha Yugas gồm 12,000 năm chia làm 4 Yugas, cằng ngày càng ngắn.

Krita Yugas: Thời đại vàng dài 4,800 năm thần linh hay bằng 1,728,000 năm. Lúc nầy đạo (dharma) dựa vững chắc trên 4 chân ngựa. Con người hoàn toànđạo đức, sống yên vui, thương yêu nhau. Vua chúa, thường dân đều làm tròn bổn phận của mình.

Treta Yugas: Thời đại bạc dài 3,600 năm thần linh hay 1,296,000 (bằng 3/4 Krita Yugas) Lúc nầy đạo còn dựa trên 3 chân, đạo đức chỉ còn 3/4, tuy đạo đức còn nhưng con người không còn hoàn toàn tự giác, phải dạy bảo nhắc nhở.

Dvapara Yugas: Thời đại đồng dài 2,400 năm thần linh hay 864,000 năm, đạo còn 1/2, còn hai chân, dựa trên thế không cân bằng giữa Thiện và Ác. Con người bắt đầu trở nên kém đạo đức, phát triển lòng dục, lòng tham.

Kali Yugas: Thời đại sắt dài 1,800 năm thần linh hay 432,000, đây là thời đại cuối cùng của Kalpa mà chúng ta đang sống, nó bắt đầu từ năm 3102 trước tây lịch, đạo chỉ còn 1/4, dựa trên một chân. Lòng ích kỷ, tật xấu lấn át đạo đức. Xãy ra nhiều tội lỗi, chiến tranh.

Cũng như các Yugas khác, thời đại Kali đã trải qua giai đoạn bình minh rồi, sẽ tiến tới giai đoạn hoàng hôn, cuối cùng sẽ có vị thần cứu tinh Kankin (hóa thân thứ 10 của Vishnu) xuất hiện để huỷ diệt vũ trụ nầy và tạo ra một một Maha Yugas mới.

Cũng theo thần thoại Ấn độ thì một ngày một đêm của Brahma có 14 Manu ngự trị, mỗi Manu ngự trị trong 306,720,000 năm. Manu thủy tổ của loài người ngày nay là vị thứ 7 cũng là vị đã soạn ra bộ luật Manu nổi tiếng làm cơ sở cho xã hội Aryan cổ đại của Ấn độ.

Trong một cuốn Brahmana kể loại chuyện thần thoại về con người như sau : Một buổi sáng Manu rửa tay, bắt được một con cá thần. Cá thần nói ?? Hãy nuôi ta rồi ta rồi ta sẽ cứu sống ngươi ??. Manu hỏi: ?? Cứu sống ta như thế nào ??? Cá đáp: ??Sắp có nạn hồng thủy, tiêu diệt hết mọi sinh vật. Lúc đó ta sẽ cứu ngươi ??.

Manu bèn bỏ cá vào bình, cá lớn rất nhanh, phải chuyển cá ra hồ, ra sông, cuối cùng chuyển cá ra biển. Trước lúc bơi đi ra khơi, cá dặn Manu đóng sẵn một chiếc thuyền. Chẳng bao lâu, nước dâng tràn lan khắp nơi, gây lụt lội khắp cùng trái đất. Vừa khi đó cá hiện về, Manu bước lên thuyền, buộc dây vào mõm cá. Cá kéo thuyền lên núi cao. Manu buộc thuyền vào một thân cây rồi từ từ nới dây khi nước rút dần. Sau đó Manu là người đầu tiên làm lễ hiến tế: thả bơ và sữa chua xuống dòng nước. Sau một năm, từ nước sinh ra một người con gái, tự xưng là Ida con gái của Manu. Manu loạn luân với Ida sinh ra loài người. Để tránh sự loạn luân đó, Ida hoá thân thành con bò cái, rồi thành hươu cái. Manu biến thành bò đực, hươu đực. Từ đó sinh ra các loài vật khác.

Đó là Ấn độ giáotruyền thuyết nói về nguồn gốc của vũ trụcon người.
 
 

07-20-2008 10:12:41

Tạo bài viết
23/12/2011(Xem: 125224)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.