Kinh Kim Cang Chư Gia - Thành Hội Phật Giáo Việt Nam Ấn Hành

19/10/201012:00 SA(Xem: 58839)
Kinh Kim Cang Chư Gia - Thành Hội Phật Giáo Việt Nam Ấn Hành

KINH KIM CANG CHƯ GIA
THÀNH HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM ẤN HÀNH P.L: 2537 - 1993

TIỂU DẪN

kinhkimcangchugia-biaTừ bi bác ái, tự giác giác tha. Ấy là mục đích của bực chơn tu chánh đạo.

Xưa, Phật ra đời khai môn giáo hóa, tế độ quần sanh trong bốn mươi chín năm; thắp đuốc huệ soi đường tối, rưới mưa hoa rửa bụi trần. Song le Phật thì vẫn biết chúng sanh có kẻ thượng căn người hạ trí, chỗ thấy mau chậm chẳng đồng, nên tùy cơ duyên mà hóa độ, bởi vậy giáo pháp mới có chỗ quyền mà cũng có chỗ thật.

Nguyên kinh Kim Cang này, Phật vì Trưởng lão Tu Bồ Đề và các bực đại căn thượng trí, nên đem giáo lý huyền diệu tỏ bày rốt ráo, chỉ cốt tự mình dụng lấy công phu, khai giác lấy mình "Minh Tâm Kiến Tánh".

Đến sau, kinh ấy từ xứ Ấn Độ truyền bá qua nước Trung Hoa, các vị cao Tăng Thiền đức cùng nhau tham cứu, thông huyền đạt lý, chú giải đành rành, nên từ đó mới gọi là kinh Kim Cang Chư Gia vậy.

Chúng tôi quan tâm hoạt độngPhật đạo tín đồ, chớ không phải vì đường danh nẻo lợi, tùy theo tài non học kém, phô diễn thật lời, câu văn dễ hiểu, ý nghĩa tầm thường, cốt để phổ thông cho những người học đạo xem qua đều đặng lĩnh hội, thì mới khỏi phụ cái lòng từ bi bác ái của Phật ngày xưa, mà cũng không uổng cái công trình của chư Tổ, sắp thành một quyển kinh "Kim Cang Chư Gia" rất nên huyền bí.

Vả lại Phật phápvô thượng thậm thâm vi diệu, cao chẳng chỗ cùng, sâu không chỗ tột, mà hễ đạo lý càng cao sâu thì kinh điển lại càng khó diễn. Huống chi quyển kinh này là giáo lý tối thượng Nhứt thừa, phương pháp hoàn toàn cứu cánh.

Cho nên chúng tôi mong sao chư quí độc giả cần xem, cần đọc cho đặng nhiều lược, suy xét cho tột cùng, tầm thấu cái ý vô vi huyền diệu, đặng noi theo cái chánh pháp mà thật hành, vậy mới hẳn thật là đọc kinh cầu lý.

Kính dẫn CƯ SĨ TRẦN VĂN MINH (Nam Vang)

NGHI THỨC TỤNG KINH KIM CANG

DƯƠNG CHI TÁN:

Dương chi tịnh thủy,

Biến sái tam thiên.

Tánh không bát đức lợi nhơn thiên,

Pháp giới quảng tăng diên,

Diệt tội tiêu khiên,

Hỏa diệm hóa hồng liên.

 

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. (tam xưng)

TÁN DƯƠNG CHI:

NGHĨA:

Nhành dương nước tịnh,

Rưới khắp tam thiên.

Tánh không tám đức lợi nhơn thiên,

Pháp giới rộng thênh thang,

Tội lỗi tiêu tan,

Lửa đỏ hóa sen hồng.

 

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

(ĐẠI BI CHÚ)

Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma ha tát. (3 lần)

Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại đại bi tâm đà la ni:

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệc tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha, Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Dả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha.

Án tất điện đô mạn đa ra bạc đà da, ta bà ha.

 

Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần).

 

 

LƯ HƯƠNG TÁN

Lư hương sạ ([1]) nhiệt

Pháp giới mông huân

Chư Phật hải hội tất diêu văn

Tùy xứ kiết tường vân

Thành ý phương ân

Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (tam xưng)

TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN:

Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị tát bà ha.

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN:

Án, ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ truật độ hám.

ÁN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN:

Nam mô tam mãn đa một đà nẩm. Án, độ rô độ rô, địa vĩ ta bà ha.

PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN :

Án, nga nga nẳng tam bà phạ, phiệt nhựt ra hồng.

TÁN LƯ HƯƠNG

Lư hương vừa đốt,

Cõi pháp xông ung.

Chư Phật hằng hà thảy cảm thông,

Tùy chỗ bủa tường vân,

Thành ý ân cần,

Chư Phật hiện toàn thân.

 

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.( 3 lần).

CHÚ TỊNH KHẨU NGHIỆP:

Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị tát bà ha.

CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP:

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ truật độ hám.

CHÚ AN THỔ ĐỊA:

Nam mô tam mãn đa một đà nẩm. Án, độ rô độ rô, địa vĩ ta bà ha.

CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG:

Án nga nga nẳng tam bà phạ, phiệt nhựt ra hồng.

PHỤNG THỈNH BÁT KIM CANG

Phụng thỉnh Thanh Trừ Tai Kim Cang.

Phụng thỉnh Bích Độc Kim Cang.

Phụng thỉnh Huỳnh Tùy Cầu Kim Cang.

Phụng thỉnh Bạch Tịnh Thủy Kim Cang.

Phụng thỉnh Xích Thinh Hỏa Kim Cang.

Phụng thỉnh Định Trì Tai Kim Cang.

Phụng thỉnh Tử Hiền Kim Cang.

Phụng thỉnh Đại Thần Kim Cang.

PHỤNG THỈNH TỨ BỒ TÁT

Phụng thỉnh Kim Cang Quyến Bồ Tát.

Phụng thỉnh Kim Cang Sách Bồ Tát.

Phụng thỉnh Kim Cang Ái Bồ Tát.

Phụng thỉnh Kim Cang Ngữ Bồ Tát.

PHÁT NGUYỆN VĂN

Khể thủ tam giới tôn,

Qui mạng thập phương Phật.

Ngã kim phát hoằng nguyện:

Trì thử Kim Cang kinh,

Thượng báo tứ trọng ân.

Hạ tế tam đồ khổ.

Nhược hữu kiến văn giả,

Tất phát Bồ đề tâm.

Tận thử nhứt báo thân,

Đồng sanh Cực Lạc quốc.

THỈNH BÁT KIM CANG

Phụng thỉnh Thanh Trừ Tai Kim Cang

Phụng thỉnh Bích Độc Kim Cang

Phụng thỉnh Huỳnh Tùy Cầu Kim Cang

Phụng thỉnh Bạch Tịnh Thủy Kim Cang

Phụng thỉnh Xích Thinh Hỏa Kim Cang

Phụng thỉnh Định Trì Tai Kim Cang

Phụng thỉnh Tử Hiền Kim Cang

Phụng thỉnh Đại Thần Kim Cang.

THỈNH TỨ BỒ TÁT

Phụng thỉnh Kim Cang Quyến Bồ Tát

Phụng thỉnh Kim Cang Sách Bồ Tát

Phụng thỉnh Kim Cang Ái Bồ Tát

Phụng thỉnh Kim Cang Ngữ Bồ Tát.

LỜI VĂN PHÁT NGUYỆN

Cúi lạy Thầy ba cõi,

Qui y Phật thập phương.

Tôi nay phát thệ nguyện:

Trì tụng kinh Kim Cang.

Trên báo bốn ân trọng,

Dưới cứu khổ ba đường.

Bằng có chi nghe thấy,

Giữ tâm đạo vẹn toàn.

Báo thân này chí nguyện,

Đồng trực vãng Tây phang.

VÂN HÀ PHẠM

Vân hà đắc trường thọ,

Kim Cang bất hoại thân?

Phục dĩ hà nhân duyên,

Đắc đại kiên cố lực?

Vân hà ư thử kinh,

Cứu cánh đáo bỉ ngạn?

Nguyện Phật khai vi mật,

Quảng vị chúng sanh thuyết.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (tam xưng)

KHAI KINH KỆ

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,

Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa.

 

Nam Mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (tam xưng)

 

BÀI NIỆM VÂN HÀ

Thế nào đặng trường thọ,

Thân Kim Cang chẳng hoại?

Bởi tại nhân duyên gì,

Đặng oai lực kiên cố?

Thế nào mà kinh này,

Ráo rốt đến bờ nọ?

Xin Phật tỏ ý mầu,

Chỉ dạy chúng sanh rõ.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần).

BÀI KỆ KHAI KINH

Vô thượng thậm thâm pháp nhiệm mầu,

Trăm ngàn muôn kiếp khó tầm cầu.

Ta nay đặng gặp xin trì tụng.

Nguyện giải tinh tường nghĩa lý sâu.

 

Nam Mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần).


KIM CANG KINH

Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh.
Dao Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch.

I. PHÁP HỘI NHÂN DO

PHẦN ĐỆ NHỨT

1.- Như thị ngã văn:

2.- Nhứt thời, Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ([2]) Cấp Cô Độc viên,...

3.-...Dữ đại Tỳ Khưu chúng, thiên nhị bá ([3]) ngũ thập nhơn cu.

4.- Nhĩ thời, Thế Tôn thực thời, chước ([4]) y trì bát,...

5.- Nhập Xá Vệ đại thành khất thực.

6.- Ư kỳ thành trung, thứ đệ khất dĩ.

7.- Truyền ([5]) chí bổn xứ, phản tự cật ([6]) thâu y bát, tẩy túc dĩ,...

8.- Phu tọa ([7]) nhi tọa.

KINH KIM CANG

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.
Đời Dao Tần, thầy Tam Tạng Pháp sưCưu Ma La Thập vưng chiếu phiên dịch.


I.- NHÂN DO NÓI PHÁP

PHẦN THỨ NHỨT

1.- Ta nghe như vầy:

2.- Một thuở nọ, Phật ở nước Xá Vệ, nơi nhà Tịnh xá của ông Cấp Cô Độc, cất trong vườn cây ông Kỳ Đà...

3.-...Cùng một ngàn hai trăm mươi thầy đại Tỳ Khưu, cu hội tại đó.

4.- Khi ấy, gần đến giờ ăn của đức Thế Tôn, Ngài bèn mặc y, mang bình bát...

5.-...Vào đại thành, nước Xá Vệ xin ăn.

6.- Ở trong thành, cứ theo thứ lớp mà xin.

7.-...Về đến chỗ ở: dùng cơm xong, đoạn cất y bát, rửa chơn rồi,...

8.-...Lên chỗ pháp tòa, đã sắp đặt, mà ngồi.

II.- THIỆN HIỆN KHẢI THỈNH

PHẬN ĐỆ NHỊ

9.- Thời Trưởng lão Tu Bồ Đề,...

10.-... Tại đại chúng trung, tức tùng tọa khởi ([8]), thiên đãn hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng cung kính, nhi bạch Phật ngôn: "Hy hữu Thế Tôn!".

11.- Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phú chúc chư Bồ Tát...

12.- Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn, phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề([9]) tâm,...

13.-...Vân hà ưng trụ ([10]) vân hà hàng phục kỳ tâm?

14.- Phật ngôn: "Thiện tai! Thiện tai ! Tu Bồ Đề! Như nhữ sở thuyết: Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phú chúc chư Bồ Tát.... Nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết.

15.- Thiện nam tử, thiện nữ nhơn phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm, ưng như thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm...".

- "Dủy ([11]), nhiên, Thế Tôn! Nguyện nhạo dục văn".

 

II.- THIỆN HIỆN KHỞI HỎI

PHẦN THỨ HAI

9.- Khi ấy Trưởng lão Tu Bồ Đề...

10.-... Ở trong hàng đại chúng, liền đứng dậy, đến nơi pháp tòa, trịch y nửa thân bên vai hữu, quì gối hữu sát đất, chắp tay cung kínhbạch Phật rằng: "Như đức Thế Tôn ! Ít có".

11.-Như Lai hay đoái tưởng các Bồ Tát, hay giao phó dặn dò các Bồ Tát...

12.-Bạch đức Thế Tôn! Như có trai lành, gái tín nào phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,...

13.-... Nên trụ thế nào? Nên hàng phục cái vọng tâm thế nào?.

14.-Phật khen: "Đáng khen cho! Đáng khen cho! Này Tu Bồ Đề! Theo lời ông vừa nói: Như Lai hay đoái tưởng các Bồ Tát, hay giao phó dặn dò các Bồ Tát... Vậy nay, ông hãy lóng nghe. Ta đáng vì ông mà nói.

15.-Như trai lành, gái tín nào phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ như vậy, nên hàng phục cái tâm như vậy...".

- "Vâng, vâng, bạch đức Thế Tôn! Con nguyện hết lòng muốn nghe".

III.- ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG

PHẬN ĐỆ TAM

16.- Phật cáo Tu Bồ Đề: "Chư Bồ Tát Ma ha tát, ưng như thị hàng phục kỳ tâm:

17.- Sở hữu nhứt thiết ([12]) chúng sanh chi loại:

18.- Nhược noãn sanh ([13]), nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng, phi vô tưởng,...

19.-... Ngã giai linh nhập Vô Dư Niết bàn nhi diệt độ chi.

20.- Như thị diệt độ vô lượng, vô số, vô biên, chúng sanh, thiệt vô chúng sanh đắc diệt độ giả.

21.- Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức phi Bồ Tát".

IV.- DIỆU HẠNH VÔ TRỤ

PHẦN ĐỆ TỨ

22.- Phú ([14]) thứ: Tu Bồ Đề!.

23.- Bồ Tát ư pháp, ưng vô sở trụ, hành ư bố thí...

 

III.- ĐẠI THỪA TÔNG CHÁNH

PHẦN THỨ BA

16.- Phật bảo Tu Bồ Đề: "Các đại Bồ Tát nên hàng phục cái vọng tâm như vậy.

17.- Bằng có cả thảy các loại chúng sanh:

18.- Hoặc sanh trứng, sanh con, sanh chỗ ướt, hóa sanh, hoặc có sắc, không sắc, có tư tưởng, không tư tưởng, chẳng phải có tư tưởng, chẳng phải không có tư tưởng...

19.-... Ta đều khiến cho đặng vào Vô Dư Niết bàn, mà diệt độ.

20.- Diệt độ chúng sanh vô lượng vô số vô biên như vậy, nhưng thiệt chẳng có chúng sanh nào mà đặng diệt độ cả.

21.- Bởi cớ sao? Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát mà còn có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì chẳng phải là Bồ Tát".


IV.- HẠNH MẦU KHÔNG TRỤ

PHẦN THỨ TƯ

22.- Lại nói tiếp: Này Tu Bồ Đề.

23.-... Bồ Tát làm việc bố thí, đúng nơi pháp, thì không có chỗ trụ.

24.- Sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp bố thí.

25.- Tu Bồ Đề! Bồ Tát ưng như thị bố thí, bất trụ ư tướng.

26.- Hà dĩ cố? Nhược Bồ Tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lương.

27.- Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Đông phương hư không khả tư lương phủ?".

- "Phất dã, Thế Tôn!".

- "Tu Bồ Đề! Nam, Tây, Bắc phương tứ duy, thượng hạ hư không khả tư lương phủ?".

- "Phất dã, Thế Tôn!".

- "Tu Bồ Đề! Bồ Tát vô trụ tướng bố thí, phước đức diệc phục như thị: Bất khả tư lương.

Tu Bồ Đề! Bồ Tát đản ưng như sở giáo trụ".

V. - NHƯ LÝ THIỆT KIẾN

PHẦN ĐỆ NGŨ

28.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Khả dĩ thân tướng kiến Như Lai phủ?".

29.- "Phất dã, Thế Tôn! Bất khả dĩ thân tướng đắc kiến Như Lai.

30.- Hà dĩ cố? Như Lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng".

 

24.- Là nói: chẳng trụ sắc mà bố thí, chẳng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.

25.- Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy, chẳng nên trụ tướng.

26.- Bởi cớ sao? Nếu Bồ Tát bố thí chẳng trụ tướng, thì phước đức không thể so lường đặng.

27.- Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Hư không phương Đông, có so lường đặng chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn ! chẳng đặng".

- "Tu Bồ Đề! Còn như hư không phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn hướng bên cạnh, phương trên và phương dưới, có so lường đặng chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn ! chẳng đặng".

"Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà chẳng trụ tướng, thì phước đức lại cũng như vậy: không thể so lường đặng.

Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên trụ theo chỗ Ta dạy đó". (trụ chỗ không trụ).

V.- RÕ LÝ NHƯ NHƯ

PHẦN THỨ NĂM

28.- "Này Tu Bồ Đề! Ý của ông thế nào? Có nên dùng thân tướng mà cho là Như Lai chăng?".

29.- "Bạch đức Thế Tôn! Không. Không nên dùng thân tướng mà cho là Như Lai.

30.- Bởi cớ sao? Bởi Như Lai thường nói thân tướng, tức chẳng phải thân tướng".

 

31.- Phật cáo Tu Bồ Đề: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng; nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai".

VI.- CHÁNH TÍN HY HỮU

PHẬN ĐỆ LỤC

32.- Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh đắc văn như thị ngôn thuyết chương cú, sanh thiệt tín phủ?".

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Mạc tác thị thuyết! Như Lai diệt hậu, hậu ngũ bá tuế, hữu trì giới tu phước giả, ư thử chương cú năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thiệt.

33.- Đương tri thị nhơn, bất ư nhứt Phật, nhị Phật, tam, tứ, ngũ Phật, nhi chúng ([15]) thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở chúng chư thiện căn.

34.- Văn thị chương cú, nãi chí nhứt niệm sanh tịnh tín giả. Tu Bồ Đề! Như Lai tất tri tất kiến thị chư chúng sanh đắc như thị vô lượng phước đức.

35.- Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh vô phục ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, vô pháp tướng, diệc vô phi pháp tướng".

 

31.- Phật bảo Tu Bồ Đề: "Phàm chỗ nào có tướng đều là hư vọng, bằng cho các tướng chẳng phải tướng tức rõ đặng Như Lai".

VI.- CHÁNH TÍN ÍT CÓ

PHẦN THỨ SÁU

32.- Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Như có chúng sanh nào đặng nghe những câu bài giảng giải như vậy, có sanh lòng tin thiệt chăng?".

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Chớ có nói lời ấy. Khi Như Lai diệt độ rồi, sau năm trăm năm sau, có kẻ nào trì giới tu phước mà sanh lòng tin những câu bài ấy, thì lấy đó làm thiệt.

33.- Nên biết người ấy, chẳng những là gieo căn lành trong một kiếp Phật, hai kiếp Phật, ba, bốn, năm kiếp Phật, mà đã gieo các căn lành đến vô lượng ngàn muôn kiếp Phật rồi.

34.- Nghe những câu bài ấy, cho đến nhứt niệm sanh lòng tin chắc thì Tu Bồ Đề này! Như Lai đều biết hết thấy hết, các chúng sanh ấy đặng cái phước đức vô lượng như vậy (gieo căn lành).

35.- Bởi cớ sao? - Bởi các chúng sanh ấy không còn có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, không có tướng pháp, cũng không có tướng phi pháp".

 

36.- Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh, nhược tâm thủ tướng, tức vi trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả; nhược thủ pháp tướng, tức trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.Hà dĩ cố? Nhược thủ phi pháp tướng, tức trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

37.- Thị cố, bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp.

38.- Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai thường thuyết nhữ đẳng Tỳ Khưu tri ngã thuyết pháp như phạt ([16]) dụ giả; pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp?".

VII.- VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT

PHẬN ĐỆ THẤT

39.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề gia? Như Lai hữu sở thuyết pháp gia?".

Tu Bồ Đề ngôn: "Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, vô hữu định pháp danh A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, diệc vô hữu định pháp Như Lai khả thuyết.

40.- Hà dĩ cố? - Như Lai sở thuyết pháp, giai bất khả thủ, bất khả thuyết phi pháp, phi phi pháp.

 

36.- Bởi cớ sao? - Bởi các chúng sanh ấy, nếu lòng còn chấp tướng, tức còn trước tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Bằng chấp pháp tướng, cũng là trước tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả - Bởi cớ sao? Bằng chấp phi pháp tướng, cũng là trước tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

37.- Như thế thì, chẳng nên chấp pháp, cũng chẳng nên chấp phi pháp.

38.- Bởi cái nghĩa ấy, nên ta thường dạy các thầy Tỳ Khưu phải biết Ta nói pháp, ví như cái bè; pháp còn phải bỏ thay, huống chi là chẳng phải pháp".

VII.- KHÔNG CHI ĐẮC THUYẾT

PHẦN THỨ BẢY

39.- "Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? - Như Lai có đặng pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Như Lai có chỗ chi nói pháp ấy chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Như con rõ nghĩa của Phật nói, thì không có định chắc pháp chi kêu là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không có định chắc pháp chi mà Như Lai nói.

40.- Bởi cớ sao? Bởi chỗ nói pháp Như Lai đều chẳng chấp, là chẳng nói phi pháp, cũng chẳng phải phi pháp.

 

41.- Sở dĩ giả hà? - Nhứt thiết Hiền Thánh giai dĩ vô vi pháp, nhi hữu si ([17]) biệt".

VIII.- Y PHÁP XUẤT SANH

PHẬN ĐỆ BÁT

42.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Nhược nhơn mãn tam thiên đại thiên thế giới thất bảo ([18]) dĩ dụng bố thí, thị nhơn sở đắc phước đức ninh vi đa phủ?".

43.- Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đa, Thế Tôn!

Hà dĩ cố? - Thị phước đức, tức phi phước đức tánhthị cố Như Lai thuyết phước đức đa".

44.- Nhược phục hữu nhân, ư thử kinh trung thọ trì nãi chí tứ cú kệ đẳng vị tha nhơn thuyết, kỳ phước thắng bỉ.

45.- Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Nhứt thiết chư Phật cập chư Phật A nậu đa la tam miệu tam bồ đề pháp giai tùng thử kinh xuất.

46.- Tu Bồ Đề! Sở vị Phật Pháp giả, tức phi Phật Pháp.


41.- Sở dĩ sao? Cả thảy Thánh Hiền đều dùng pháp vô vi mà cũng có hơn kém".

VIII.- NƯƠNG PHÁP XUẤT SANH

PHẦN THỨ TÁM


42.- "Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bằng có người dùng bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới, đem ra mà bố thí, người ấy có đặng phước đức nhiều chăng?".

43.- Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều.

Bởi cớ sao? Bởi phước đức ấy chẳng phải phước đức tánh, cho nên Như Lai nói phước đức nhiều".

44.- Bằng có người thọ trì kinh này, nhẫn đến những tứ cú kệ, lại vì người mà diễn thuyết, thì phước đức này hơn phước đức kia.

45.- Bởi cớ sao? - Tu Bồ Đề, cả thảy chư Phật với pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật, đều do nơi kinh này mà có ra.

46.- Này Tu Bồ Đề! Gọi là Phật Pháp ấy, nhưng chẳng phải Phật Pháp.

IX.- NHỨT TƯỚNG VÔ TƯỚNG

PHẬN ĐỆ CỬU

47.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Tu Đà Hoàn năng tác thị niệm: Ngã đắc Tu Đà Hoàn quả phủ?".

Tu Bồ Đề ngôn: "Phất dã, Thế Tôn!

Hà dĩ cố? - Tu Đà Hoàn danh vi Nhập Lưu, nhi vô sở nhập: Bất nhập sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, thị danh Tu Đà Hoàn ([19])".

48.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Tư Đà Hàm, năng tác thị niệm: Ngã đắc Tư Đà Hàm quả phủ?".

Tu Bồ Đề ngôn: "Phất dã, Thế Tôn!

Hà dĩ cố? - Tư Đà Hàm danh Nhứt Vãng Lai, nhi thiệt vô Vãng Lai, thị danh Tư Đà Hàm".

49.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? A Na Hàm năng tác thị niệm: Ngã đắc A Na Hàm quả phủ?".

Tu Bồ Đề ngôn: "Phất dã, Thế Tôn!

Hà dĩ cố? - A Na Hàm danh vi Bất Lai, nhi thiệt vô Bất Lai, thị cố danh A Na Hàm".

50.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? A La Hán năng tác thị niệm : Ngã đắc A La Hán đạo phủ?".

IX MỘT TƯỚNG KHÔNG TƯỚNG

PHẦN THỨ CHÍN

47.- "Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tu Đà Hoàn có tưởng như vầy: Tưởng mình đặng quả Tu Đà Hoàn chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn!Không thể đặng.

Bởi cớ sao? - Bởi Tu Đà Hoàn, kêu là quả Nhập Lưu, nhưng không chỗ nhiễm : là chẳng nhiễm sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, nên gọi là Tu Đà Hoàn".

48.- "Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tư Đà Hàm có tưởng như vầy: Tưởng mình đặng quả Tư Đà Hàm chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Không thể đặng.

Bởi cớ sao? Bởi Tư Đà Hàm, kêu là quả Nhứt Vãng Lai, nhưng thiệt không cái tướng Vãng Lai, nên gọi là Tư Đà Hàm".

49.- "Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? A Na Hàm có tưởng như vầy: Tưởng mình đặng quả A Na Hàm chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Không thể đặng.

Bởi cớ sao? - Bởi A Na Hàm, kêu là quả Bất Lai, nhưng không chấp cái tướng Bất Lai nên gọi là A Na Hàm".

50.- "Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? A La Hán có tưởng như vầy: Tưởng mình đặng đạo A La Hán chăng?".

 

Tu Bồ Đề ngôn: "Phất dã, Thế Tôn!

Hà dĩ cố? Thiệt vô hữu pháp danh A La Hán.

Thế Tôn! Nhược A La Hán tác thị niệm: Ngã đắc A La Hán đạo, tức vi trước ngã, nhơn, chúng sanh thọ giả.

51.- Thế Tôn! Phật thuyết ngã đắc Vô Tranh tam muội, nhơn trung tối vi đệ nhứt, thị đệ nhứt, ly dục ([20]) A La Hán.

Thế Tôn ! Ngã bất tác thị niệm : Ngã thị ly dục A La Hán.

52.- Thế Tôn! Ngã, nhược tác thị niệm: Ngã đắc A La Hán đạo, Thế Tôn tức bất thuyết: Tu Bồ Đề thị nhạo A Lan Na hánh ([21]) giả. Dĩ Tu Bồ Đề thiệt vô sở hành, nhi danh Tu Bồ Đề thị nhạo A Lan Na hánh".

X.- TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ

PHẬN ĐỆ THẬP

53.- Phật cáo Tu Bồ Đề: "Ư ý vân hà? Như Lai tích tại Nhiên Đăng Phật sở; ư pháp, hữu sở đắc phủ?".

- "Phất dã, Thế Tôn! Như Lai tại Nhiên Đăng Phật sở, ư pháp thiệt vô sở đắc".

 

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Không thể đặng.

Bởi cớ sao? - Bởi thiệt không có pháp chi, kêu là A La Hán cả.

Bạch đức Thế Tôn! Nếu A La Hán mà có tưởng như vầy: Tưởng mình đặng đạo A La Hán, tức là trước tướng: Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

51.- Bạch đức Thế Tôn! Phật nói con là người đặng pháp Vô Tranh tam muội, thiệt đúng bực nhứt, mà cũng là bực Ly Dục A La Hán thứ nhứt nữa.

Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng tưởng như vậy : Tôi mới phải là bực ly dục A La Hán.

52.- Bạch đức Thế Tôn! Bằng con có tưởng như vầy: Con đặng đạo A La Hán thì đức Thế Tôn chẳng có nói : Tu Bồ Đề này ưa làm theo hạnh A Lan Na. Bởi Tu Bồ Đề này thiệt không có làm cái chi, mới gọi là Tu Bồ Đề ưa làm theo hạnh A Lan Na cho".

X.- TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ

PHẦN THỨ MƯỜI

53.- Phật bảo Tu Bồ Đề: "Ý ông thế nào? Như Lai thuở trước ở chỗ Phật Nhiên Đăng; pháp, có chỗ chi đặng chăng?".

"Bạch đức Thế Tôn ! Không - Như Lai khi ở chỗ Phật Nhiên Đăng, thiệt không có chỗ chi đặng pháp cả".

 

54.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Bồ Tát trang nghiêm Phật độ phủ?".

- "Phất dã, Thế Tôn !

Hà dĩ cố? - Trang nghiêm Phật độ giả, tức phi trang nghiêm thị danh trang nghiêm".

55.- "Thị cố, Tu Bồ Đề! Chư Bồ Tát Ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp, sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.

56.- Tu Bồ Đề! Thí như hữu nhơn, thân như Tu Di sơn ([22]) vương, ư ý vân hà? Thị thân vi đại phủ?".

Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đại, Thế Tôn ! Hà dĩ cố? - Phật thuyết phi thân, thị danh đại thân".

XI.- VÔ VI PHƯỚC THẮNG

PHẬN ĐỆ THẬP NHỨT

57.- Tu Bồ Đề! Như hằng hà trung sở hữu sa số, như thị sa đẳng hằng hà, ư ý vân hà? Thị chư hằng hà sa ninh vi đa phủ?".

 

54.- "Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Táttrang nghiêm Phật độ chăng ?".

- "Bạch đức Thế Tôn ! Không.

Bởi cớ sao? Bởi trang nghiêm Phật độ, nhưng chẳng phải trang nghiêm, chỉ cưỡng danh là trang nghiêm".

55.- Bởi vậy, này Tu Bồ Đề. Các đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như vậy; chẳng nên sanh tâm trụ sắc, chẳng nên sanh tâm trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp; nên sanh tâm không chỗ chi trụ.

56.- Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân bằng núi chúa Tu Di ý ông thế nào - Thân ấy có lớn chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn! Rất lớn. Bởi cớ sao? - Bởi Phật nói chẳng phải thân, mới gọi là thân lớn".

XI.- VÔ VI PHƯỚC LỚN

PHẦN THỨ MƯỜI MỘT

57.- "Này Tu Bồ Đề! Như dùng số cát trong sông Hằng mà ví dụ có những sông Hằng khác nhiều bằng số cát như vậy - Ý ngươi thế nào? Số cát của những sông Hằng ấy, saocó nhiều chăng?".

 

58.- Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đa, Thế Tôn! đản chư hằng hà, thượng đa vô số, hà huống kỳ sa !".

59.- "Tu Bồ Đề! Ngã kim thiệt ngôn cáo nhữ! Nhược hữu: Thiện nam tử, thiện nữ nhơn dĩ thất bảo mãn nhĩ sở hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới dĩ tụng bố thí, đắc phước đa phủ?".

Tu Bồ Đề ngôn: Thậm đa, Thế Tôn!

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhơn ư thử kinh trung, nãi chí thọ trì tứ cú kệ đẳng vị tha nhơn thuyết, nhi thử phước đức thắng tiền phước đức.

XII.- TÔN TRỌNG CHÁNH GIÁO

PHẬN ĐỆ THẬP NHỊ

60.- Phục thứ: "Tu Bồ Đề! Tùy thuyết thị kinh, nãi chí tứ cú kệ đẳng đương tri thử xứ, nhứt thiết thế gian: Thiên, nhơn, A tu la giai ưng cúng dường ([23]) như Phật tháp miếu.

61.- Hà huống, hữu nhơn tận năng thọ trì đọc tụng!

Tu Bồ Đề! Đương tri thị nhơn thành tựu Tối thượng Đệ nhứt hy hữu chi pháp. Nhược thị kinh điển sở tại chi xứ, tức vi hữu Phật, nhược tôn trọng đệ tử".

 

58.- Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn ! Rất nhiều. Những sông Hằng còn nhiều vô số thay, huống chi là cát!".

59.- "Này Tu Bồ Đề! Nay ta bảo thiệt ngươi! Nếu có trai lành, gái tín nào, dùng bảy báu đầy cả hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới ấy, đem ra mà bố thí, có đặng phước nhiều chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều".

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Bằng trai lành, gái tín nào thọ trì theo trong kinh này cho đến những tứ cú kệdiễn thuyết lại cho người khác, thì phước đức ấy hơn phước đức trước kia".

XII.- TÔN TRỌNG LÝ CHÁNH

PHẦN THỨ MƯỜI HAI

60.- Lại nói tiếp: "Này Tu Bồ Đề! Chỗ nào tứ cú kệ, phải biết chỗ ấy, cả thảy thế gian: Thiên, Nhơn, A tu la đều nên cúng dường, cũng như tháp chùa, của Phật vậy.

61.- Huống chi, là người thọ trì, đọc tụng toàn cả kinh này!

- Tu Bồ Đề! Phải biết người ấy thành tựu đặng cái pháp Tối thượng Đệ nhứt ít có. Bằng như chỗ nào có kinh điển này, tức có Phật, hoặc như bực đệ tử tôn trọng vậy".

XIII.- NHƯ PHÁP THỌ TRÌ

PHẬN ĐỆ THẬP TAM

62.- Nhĩ thời Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Đương hà danh thử kinh, ngã đẳng vân hà phụng trì?".

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Thị kinh danh vi Kim Cang Bát Nhã Ba la mật dĩ thị danh tự, nhữ đương phụng trì.

63.- Sở dĩ giả hà? - Tu Bồ Đề! Phật thuyết Bát Nhã Ba la mật, tức phi Bát Nhã Ba la mật, thị danh Bát Nhã Ba la mật.

64.- Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như Lai hữu sở thuyết pháp thủ?".

Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Như Lai vô sở thuyết".

65.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Tam thiên đại thiên thế giới sở hữu vi trần thị vi đa phủ?".

Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đa, Thế Tôn !".

Tu Bồ Đề! Chư vi trần, Như Lai thuyết phi vi trần, thị danh, vi trần. Như Lai thuyết thế giới, phi thế giới, thị danh thế giới.

XIII.- THỌ TRÌ THEO PHÁP

PHẦN THỨ MƯỜI BA

62.- Khi ấy Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Kinh này nên đặt tên chi? Chúng tôi phải phụng trì thế nào?".

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Kinh này đặt tên là Kim Cang Bát Nhã Ba la mật. Ông nên dùng nghĩa của danh từ ấy mà phụng trì.

63.- Sở dĩ sao? - Này Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba la mật, nhưng chẳng phải Bát nhã ba la mật chỉ cưỡng danh là Bát Nhã Ba la mật.

64.- Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? - Như Lai có chỗ chi thuyết pháp chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Như Lai không có chỗ chi thuyết pháp cả".

65.- "Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? - Trong tam thiên đại thiên thế giới có những vi trần, vậy là nhiều chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều".

- Tu Bồ Đề! Những vi trần, Như Lai nói chẳng phải vi trần chỉ cưỡng danh là vi trần. Như Lai nói thế giới, cũng chẳng phải thế giới, chỉ cưỡng danh là thế giới.

 

66.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Khả dĩ tam thập nhị tướng kiến Như Lai phủ?" - Phất dã, Thế Tôn ! Bất khả dĩ tam thập nhị tướng đắc kiến Như Lai.

Hà dĩ cố? - Như Lai thuyết tam thập nhị tướng, tức thị phi tướng, thị danh tam thập nhị tướng?".

67.- "Tu Bồ Đề! Nhược hữu thiện nam tử; thiện nữ nhơn, dĩ hằng hà sa đẳng thân mạng([24]) bố thí...

68.- Nhược phục hữu nhơn ư thử kinh trung, nãi chí thọ trì tứ cú kệ đẳng, vị tha nhơn thuyết, kỳ phước thậm đa".

XIV.- LY TƯỚNG TỊCH DIỆT

PHẬN ĐỆ THẬP TỨ

69.- Nhĩ thời Tu Bồ Đề văn thuyết thị kinh, thâm giải nghĩa thu, thế lụy bi khấp, nhi bạch Phật ngôn: "Hy hữu Thế Tôn! Phật thuyết như thị thậm thâm kinh điển; ngã tùng tích lai sở đắc huệ nhãn, vị tằng đắc văn như thị chi kinh.

70.- Thế Tôn! Nhược phục hữu nhơn đắc văn thị kinh, tín tâm thanh tịnh, tức sanh thiệt tướng; đương tri thị nhơn thành tựu đệ nhứt hy hữu công đức".

 

66.- Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? - Nên dùng ba mươi hai tướng mà cho là Như Lai chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn! Không - Chẳng nên dùng ba mươi hai tướng mà cho là Như Lai.

Bởi cớ sao? - Bởi Như Lai nói ba mươi hai tướng, nhưng chẳng phải tướng, chỉ cưỡng danh là ba mươi hai tướng".

67.- "Tu Bồ Đề! Bằng có trai lành, gái tín nào đem thân mạng bằng như số cát sông Hằngbố thí...

68.- Nếu lại có người giữ theo trong kinh này mà thọ trì cho đến những tứ cú kệdiễn thuyết lại cho người khác, thì đặng phước rất nhiều".

XIV.- LÌA TƯỚNG VẮNG LẶNG

PHẦN THỨ MƯỜI BỐN

69.- Khi ấy, Tu Bồ Đề nghe nói kinh này, tỏ đặng cái nghĩa sâu xa, nên sa nước mắt, than khóc mà bạch Phật rằng: "Như đức Thế Tôn ít có! Phật nói kinh điển rất sâu xa dường ấy, tôi từ khi đặng huệ nhãn đến nay, chưa từng nghe đặng kinh như vậy.

70.- Bạch đức Thế Tôn! Nếu lại có người đặng nghe kinh này, mà lòng tin thanh tịnh, bèn sanh thiệt tướng, phải biết người ấy thành tựu cái công đức thứ nhứt ít có".

 

71.- Thế Tôn! Thị thiệt tướng giả, tức thị phi tướng; thị cố Như Lai thuyết danh thiệt tướng.

72.- Thế Tôn! Ngã kim đắc văn như thị kinh điển, tín giải thọ trì bất túc vi nan.

73.- Nhược đương lai thế, hậu ngũ bá ([25]) tuế, kỳ hữu chúng sanh đắc văn thị kinh, tín giải thọ trì, thị nhơn tức vi đệ nhứt hy hữu.

Hà dĩ cố? - Thử nhơn vô ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng.

74.- Sở dĩ giả hà? - Ngã tướng tức thị phi tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức thị phi tướng.

Hà dĩ cố? - Ly nhứt thiết tướng, tức danh chư Phật".

75.- Phật cáo Tu Bồ Đề: "Như thị ! Như thị !".

76.- Nhược phục hữu nhơn đắc văn thị kinh, bất kinh, bất bố ([26]), bất úy, đương tri thị nhơn, thậm vi hy hữu.

77.- Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Như Lai thuyết đệ nhứt Ba la mật, tức phi đệ nhứt Ba la mật, thị danh Đệ nhứt Ba la mật.

 

71.- Bạch đức Thế Tôn! Thiệt tướng ấy, nhưng chẳng phải tướng; cho nên Như Lai nói: Cưỡng danh là thiệt tướng.

72.- Bạch đức Thế Tôn! Con nay đặng nghe kinh điển như vậy, tin hiểu mà thọ trì, chẳng đủ là khó.

73.- Nếu qua đến đời vị lai, sau năm trăm năm sau, có chúng sanh đặng nghe kinh này, tin, hiểu mà thọ trì, thì người ấy thiệt là đệ nhứt rất ít có.

Bởi cớ sao? - Bởi người ấy, không ngã tướng, không nhơn tướng, không chúng sanh tướng, không thọ giả tướng.

74.- Sở dĩ sao? - Ngã tướng tức chẳng phải tướng, mà nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng cũng tức là chẳng phải tướng.

Bởi cớ sao? - Lìa cả thảy tướng, tức là chư Phật?".

75.- Phật bảo Tu Bồ Đề: "Như vậ !, như vậy !".

76.- Lại như có người đặng nghe kinh này, chẳng ngại, chẳng sợ, chẳng nhút nhát, phải biết người ấy rất là ít có.

77.- Bởi cớ sao? Tu Bồ Đề này! Như Lai nói Ba la mật thứ nhứt, (Bát Nhã Ba la mật) nhưng chẳng phải Ba la mật thứ nhứt, chỉ cưỡng danh là Ba la mật thứ nhứt.

 

78.- "Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai thuyết, phi nhẫn nhục Ba la mật, thị danh nhẫn nhục Ba la mật.

79.- Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Như ngã tích vi Ca Lợi Vương cát triệu thân thể, ngã ư nhĩ thời vô ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng.

Hà dĩ cố? - Ngã ư vãng tích tiết tiết chi giải thời; nhược hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, ưng sanh sân hận.

Tu Bồ Đề! Hựu niệm quá khứ, ư ngũ bá thế tác nhẫn nhục Tiên nhơn, ư nhĩ sở thế, vô ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng.

80.- Thị cố, Tu Bồ Đề! - Bồ Tát ưng ly nhứt thiết tướng, phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm.

81.- Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng sanh vô sở trụ tâm; nhược tâm hữu trụ, tức vi phi trụ.

82.- Thị cố Phật thuyết Bồ Tát tâm, bất ưng trụ sắc bố thí.

 

78.- Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải nhẫn nhục Ba la mật, chỉ cưỡng danh là nhẫn nhục Ba la mật.

79.- Bởi cớ sao? - Này Tu Bồ Đề! Như ta thuở trước bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, trong khi ấy, Ta không ngã tướng, không nhơn tướng, không chúng sanh tướng, không thọ giả tướng.

Bởi cớ sao? - Hồi thuở trước, khi Ta bị rã rời xương thịt, nếu Ta có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phải sanh lòng hờn giận.

Tu Bồ Đề! Lại nhớ đến năm trăm năm đời về trước, Ta làm vị Tiên nhẫn nhục, trong cái đời ấy, không ngã tướng, không nhơn tướng, không chúng sanh tướng, không thọ giả tướng.

80.- Bởi vậy, Tu Bồ Đề này! Bồ Tát nên lìa cả thảy tướng, mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

81.- Chẳng nên sanh tâm trụ sắc, chẳng nên sanh tâm trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp, nên sanh tâm, không có chỗ trụ. Bằng tâm có trụ, tức là chẳng phải trụ.

82.- Cho nên, Phật nói tâm của Bồ Tát chẳng nên trụ sắc mà bố thí.

 

83.- Tu Bồ Đề! Bồ Tát vị lợi ích nhứt thiết chúng sanh, cố ưng như thị bố thí.

84.- Như Lai thuyết nhứt thiết chư tướng, tức thị phi tướng; hựu thuyết: Nhứt thiết chúng sanh, tức phi chúng sanh.

85.- Tu Bồ Đề! Như Lai thị chơn ngữ giả, thiệt ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả.

86.- Tu Bồ Đề! Như Lai sở đắc pháp, thử pháp vô thiệt, vô hư.

87.- Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát tâm, trụ ư pháp nhi hành bố thí, như nhơn nhập ám, tức vô sở kiến. Nhược Bồ Tát tâm, bất trụ pháp nhi hành bố thí, như nhơn hữu mục, nhựt quang minh chiếu kiến chủng chủng sắc.

88.- Tu Bồ Đề! Đương lai chi thế, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn năng ư thử kinh thọ trì đọc tụng, tức vi Như LaiPhật trí huệ; tất tri thị nhơn, tất kiến thị nhơn, giai đắc thành tựu vô lượng vô biên công đức.

 

83.- Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích cho cả thảy chúng sanh, nên phải bố thí như vậy.

84.- Như Lai nói cả thảy tướng, tức là chẳng phải tướng; lại nói: Cả thảy chúng sanh, tức là chẳng phải chúng sanh.

85.- Tu Bồ Đề! Như Lai nói chơn chánh, nói chắc thiệt, nói đúng lý, chẳng nói giả dối, chẳng nói lạ kỳ.

86.- Tu Bồ Đề! Pháp của Như Lai, đặng pháp ấy không thiệt không hư.

87.- Tu Bồ Đề! Nếu lòng của Bồ Tát còn chấp pháp mà làm việc bố thí, thì cũng như người vào chỗ tối, không thấy chi cả. Còn như lòng của Bồ Tát, chẳng chấp pháp mà làm việc bố thí, thì cũng như người đã có con mắt, mà lại được ánh sáng chói rõ của mặt trời thấy tất cả mọi việc.

88.- Tu Bồ Đề! Qua đến đời sau, nếu có trai lành gái tín nào giữ theo kinh này mà thọ trì đọc tụng, tức là Như Lai dùng trí huệ của Phật; biết chắc người ấy, thấy chắc người ấy, đều thành tựu đặng cái công đức vô lượng vô biên.

XV.- TRÌ KINH CÔNG ĐỨC

PHẬN ĐỆ THẬP NGŨ

89.- Tu Bồ Đề! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, sơ nhựt phần dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí; trung nhựt phần, phục dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí; hậu nhựt phần, diệc dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí, như thị vô lượng bá thiên vạn ức kiếp, dĩ thân bố thí...

Nhược phục hữu nhơn văn thử kinh điển, tín tâm bất nghịch, kỳ phước thắng bỉ. Hà huống thơ ([27]) tả thọ trì, đọc tụng, vị nhơn giải thuyết!

90.- Tu Bồ Đề! Dĩ yếu ngôn chi, thị kinh hữu bất khả tư nghị ([28]), bất khả xưng lượng vô biên công đức.

91.- Như Lai vị phát Đại thừa giả thuyết, vị phát Tối thượng thừa giả thuyết.

92.- Nhược hữu nhơn năng thọ trì đọc tụng, quảng vị nhơn thuyết, Như Lai tất tri thị nhơn, tất kiến thị nhơn, giai đắc thành tựu bất khả lượng, bất khả xưng, vô hữu biên.

XV.- CÔNG ĐỨC TRÌ KINH

PHẦN THỨ MƯỜI LĂM

89.- "Tu Bồ Đềnày ! Nếu có trai lành, gái tín nào, buổi mai dùng thân mạng bằng số cát sông Hằngbố thí, buổi trưa lại dùng thân mạng bằng số cát sông Hằngbố thí, buổi chiều cũng dùng thân mạng bằng số cát sông Hằngbố thí, dùng thân mạngbố thí vô lượng trăm ngàn muôn ức kiếp như vậy...

Bằng lại có người nghe kinh điển này, lòng tin chẳng trái, thì phước đức ấy hơn phước đức bố thí kia. Huống chi là biên tả, thọ trì, đọc tụng và vì người mà giải thuyết!

90.- Tu Bồ Đề! Nói tóm lại, thì kinh này có cái công đức vô biên, không thể bàn nghĩ đặng, không thể cân lường đặng.

91.- Như Laiphát khởi cho bực Đại thừa mà nói, vì phát khởi cho bực Tối Thượng thừa mà nói.

92.- Bằng có người hay thọ trì đọc tụng (kinh này) và diễn thuyết rộng khắp ra cho người khác, thì Như Lai đều biết cho người ấy, đều thấy cho người ấy, thành tựu đặng cái công đức vô lượng, vô số, vô biên,

bất khả tư nghì công đức. Như thị nhơn đẳng, tức vi hà ([29]) đảm Như Lai A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

93.- Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Nhược nhạo tiểu pháp giả, trước ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tức ư thử kinh bất năng thính thọ trì, đọc tụng, vị nhơn giải thuyết.

94.- Tu Bồ Đề! Tại tại xứ xứ, nhược hữu thử kinh, nhứt thiết thế gian: Thiên, Nhơn, A tu la sở ưng cúng dường. Đương tri thử xứ, tức vi thị tháp, giai ưng cung kính, tác lễ vi nhiễu, dĩ chư hoa hương nhi tán kỳ xứ".

XVI.- NĂNG TỊNH NGHIỆP CHƯỚNG

PHẬN ĐỆ THẬP LỤC

95.- Phục thứ : "Tu Bồ Đề! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhơn thọ trì, đọc tụng thử kinh, nhược vi nhơn khinh tiện, thị nhơn tiên thế tội nghiệp ưng đọa ác đạo, dĩ kim thế nhơn khinh tiện cố, tiên thế tội nghiệp tức vi tiêu diệt, đương đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề,

 

không bàn nghĩ đặng. Những hạng người như thế, mới gánh vác nổi cái đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Như Lai.

93.- Bởi cớ sao? - Này Tu Bồ Đề! Bằng ưa theo tiểu pháp, thì còn chấp trước về ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến ([30]), thì đối với kinh này không hiểu thấu, không thọ trì, không đọc tụng và cũng không vì người mà giải thuyết đặng.

94.- Tu Bồ Đề! Nơi nào, chốn nào, bằng có kinh này, thì cả thảy thế gian: Thiên, Nhơn, A tu la đều nên cúng dường. Phải biết chỗ ấy, tức là Bửu tháp, đều nên cung kỉnh làm lễ chung quanh cùng là dùng các món hương hoa mà rải khắp nơi ấy".

XVI.- THƯỜNG TỊNH TIÊU NGHIỆP

PHẦN THỨ MƯỜI SÁU

95.- Lại nói tiếp: "Này Tu Bồ Đề! Nếu trai lành, gái tín nào thọ trì, đọc tụng kinh này, mà bị chúng khinh dễ, là vì người ấy đời trước mắc tội nghiệp đáng lẽ đọa vào ác đạo, cho nên đời nay bị chúng khinh dễ, như vậy cái tội nghiệp đời trước mới là tiêu diệt, thì sẽ đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

96.- Tu Bồ Đề! Ngã niệm quá khứ vô lượng A tăng kỳ kiếp, ư Nhiên Đăng Phật tiền, đắc trị bát bá tứ thiên vạn ức na do tha chư Phật, tất giai cúng dường thừa sự, vô không quá giả. Nhược phục hữu nhơn ư hậu mạt thế, năng thọ trì, đọc tụng thử kinh, sở đắc công đức, ư ngã sở cúng dường chư Phật, công đức bá phần bất cập nhứt, thiên vạn ức phần, nải chí toán số thí dụ sở bất năng cập.

97.- Tu Bồ Đề! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhơn ư hậu mạt thế hữu thọ trì, đọc tụng thử kinh, sở đắc công đức, ngã nhược cụ thuyết giả, hoặc hữu nhơn văn tâm tức cuồng loạn hồ nghi bất tín...

98.- Tu Bồ Đề! Đương tri thị kinh nghĩa, bất khả tư nghì quả báo diệc bất khả tư nghì".

XVII.- CỨU CÁNH VÔ NGÃ

PHẬN ĐỆ THẬP THẤT

99.- Nhĩ thời, Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm, vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?".

 

96.- Tu Bồ Đề! Ta nhớ đời quá khứ, kiếp vô lượng A tăng kỳ, trước Phật Nhiên Đăng, Ta đã có gặp đặng tám trăm bốn ngàn muôn ức na do tha ([31]) chư Phật, Ta thảy đều cúng dường thờ phụng, chẳng có bỏ qua. Nếu lại có người sau đời mạt pháp ([32]) hay thọ trì, đọc tụng kinh này, chỗ đặng cái công đức sánh với cái công đức của Ta cúng dường chư Phật thì công đức của Ta không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần muôn, một phần ức; cho đến cũng không bằng một phần thiệt nhỏ tột số không thể mà đếm tính ví dụ đặng.

97.- Tu Bồ Đề! Bằng có trai lành, gái tín nào, sau đời mạt pháp thọ trì, đọc tụng kinh này, chỗ đặng công đức...; nếu ta nói cho hết, hoặc có người nghe, lòng bèn rối loạn, hồ nghi chẳng tin.

98.- Tu Bồ Đề! Phải biết nghĩa lý kinh này, không thể bàn nghĩ đặng và sự quả báo kết quả cũng không thể bàn nghĩ đặng".

XVII.- RÁO RỐT KHÔNG TA.

PHẦN THỨ MƯỜI BẢY

99.- Khi ấy Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Như có trai lành, gái tín nào phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ thế nào? Nên hàng phục cái vọng tâm thế nào?".

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Thiện nam tử, thiện nữ nhơn phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm giả, đương sanh như thị tâm: Ngã ưng diệt độ nhứt thiết chúng sanh, diệt độ nhứt thiết chúng sanh dĩ, nhi vô hữu nhứt chúng sanh thiệt diệt độ giả".

100.- Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ Tát.

Sở dĩ giả hà? - Tu Bồ Đề! Thiệt vô hữu pháp, phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm giả.

101.- Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Như Lai ư Nhiên Đăng Phật sở, hữu pháp đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề phủ?".

102.- "Phất dã, Thế Tôn! Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, Phật ư Nhiên Đăng Phật sở, vô hữu pháp đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề".

103.- Phật ngôn: "Như thị! Như thị!".

104.- Tu Bồ Đề! Thiệt vô hữu pháp, Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

105.- Tu Bồ Đề! Nhược hữu pháp, Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề giả, Nhiên Đăng Phật tức bất giữ ngã thọ ký: "Nhữ ư lai thế đương đắc tác Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni".

 

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Như có trai lành, gái tín nào phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì phải sanh tâm như vầy : Ta phải diệt độ cả thảy chúng sanh, nhưng đã diệt độ cả thảy chúng sanh, mà không có một chúng sanh nào thiệt diệt độ cả".

100.- Bởi cớ sao? - Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát mà có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, thì chẳng phải là Bồ Tát.

Sở dĩ sao? - Này Tu Bồ Đề! Thiệt không có pháp chi mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả.

101.- Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? - Khi Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng, có pháp chi mà đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?".

102.- "Bạch đức Thế Tôn ! Không. - Như tôi mà tỏ nghĩa của Phật nói thì thuở Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng, không có pháp chi đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả".

103.- Phật nói: "Như vậy ! Như vậy !".

104.- Tu Bồ Đề! Thiệt không có pháp chi mà Như Lai đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả.

105.- Tu Bồ Đề! Bằng có pháp chi mà Như Lai đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì Phật Nhiên Đăng, chẳng thọ ký cho Ta: "Ngươi qua đời sau, sẽ đặng làm Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni".


106.- Dĩ thiệt vô hữu pháp đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thị cố Nhiên Đăng Phật dữ ngã thọ ký, tác thị ngôn: "Nhữ ư lai thế đương đắc tác Phật, hiệuThích Ca Mâu Ni".

Hà dĩ cố ? Như Lai giả, tức chư pháp như nghĩa.

107.- Nhược hữu nhơn ngôn: Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề

- Tu Bồ Đề!- Thiệt vô hữu pháp, Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

108.- Tu Bồ Đề! Như Lai sở đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, ư thị trung vô thiệt vô hư.

109.- Thị cố, Như Lai thuyết: Nhứt thiết pháp giai thị Phật Pháp.

110.- Tu Bồ Đề! Sở ngôn nhứt thiết pháp giả, tức phi nhứt thiết pháp, thị cố, danh nhứt thiết pháp.

111.- Tu Bồ Đề! Thí như nhơn thân trường đại...".

Tu Bồ Đề ngôn: "Thế Tôn! Như Lai thuyết: Nhơn thân trường đại, tức vi phi đại thân, thị danh đại thân".

112.- "Tu Bồ Đề ! Bồ Tát diệc như thị, nhược tác thị ngôn: Ngã đương diệt độ vô lượng chúng sanh, tức bất danh Bồ Tát".


106.- Bởi thiệt chẳng có pháp chi mà đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cho nên Phật Nhiên Đăng thọ ký cho ta, mà nói như vầy: "Ngươi qua đời sau, sẽ đặng làm Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni".

Bởi cớ sao? - Như Lai ấy, là các pháp đều như.

107.- Nếu có người nói : Như Lai đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác

- Tu Bồ Đề này! Thiệt không có pháp chi Phật đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả.

108. Tu Bồ Đề này! Như Lai đặng cái đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nơi trong đấy không thiệt không hư.

109.- Bởi vậy Như Lai nói cả thảy pháp, đều là Phật Pháp.

110.- Tu Bồ Đề! Gọi là cả thảy pháp ấy, nhưng cả phải chẳng thảy pháp, chỉ cưỡng danh là cả thảy pháp.

111.- Tu Bồ Đề! Ví như thân người to lớn...".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Như Lai nói : thân người to lớn, nhưng chẳng phải thân lớn, mới là thân lớn".

112.- Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng như thế (thân lớn). Nếu có nói lời này: "Ta phải diệt độ vô lượng chúng sanh, thì chẳng gọi là Bồ Tát".

 

113.- Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Thiệt vô hữu pháp, danh vi Bồ Tát.

114.- Thị cố Phật thuyết nhứt thiết pháp: Vô ngã, vô nhơn, vô chúng sanh, vô thọ giả.

115.- Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát tác thị ngôn: "Ngã đương trang nghiêm Phật độ, thị bất danh Bồ Tát.

116.- Hà dĩ cố? - Như Lai thuyết trang nghiêm Phật độ giả, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm.

117.- Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát thông đạt "Vô ngã" pháp giả, Như Lai thuyết danh chơn thị Bồ Tát".

XVIII.- NHỨT THỂ ĐỒNG QUAN

PHẬN ĐỆ THẬP BÁT

118.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như Lai hữu nhục nhãn phủ?".

- "Như thị, Thế Tôn ! Như Lai hữu nhục nhãn".

- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như Lai hữu Thiên nhãn phủ?".

- "Như thị, Thế Tôn ! Như Lai hữu Thiên nhãn".

 

113.- Bởi cớ sao? - Này Tu Bồ Đề! Thiệt chẳng có pháp chi gọi là Bồ Tát cả.

114.- Bởi vậy, Phật nói cả thảy pháp không có tướng: Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

115.- Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có nói lời này: "Ta phải có trang nghiêm Phật độ", thì chẳng phải là Bồ Tát.

116.- Bởi cớ sao? - Như Lai nói trang nghiêm Phật độ, nhưng chẳng phải trang nghiêm, chỉ cưỡng danh là trang nghiêm.

117.- Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát tỏ thấu pháp "Vô ngã", Như Lai mới gọi hẳn thiệt là Bồ Tát".

XVIII.- XEM ĐỒNG MỘT THỂ

PHẦN THỨ MƯỜI TÁM

118.- "Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như LaiNhục nhãn chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn! Thật vậyNhư Lai có Nhục nhãn".

- "Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như LaiThiên nhãn chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn! Thật vậy Như Lai có Thiên nhãn".

- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như Lai hữu Huệ nhãn phủ?".

- "Như thị, Thế Tôn! Như Lai hữu Huệ nhãn".

- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như Lai hữu Pháp nhãn phủ?".

- "Như thị, Thế Tôn ! Như Lai hữu Pháp nhãn".

- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như Lai hữu Phật nhãn phủ?".

- "Như thị, Thế Tôn ! Như Lai hữu Phật nhãn".

119.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như hằng hà trung sở hữu sa, Phật thuyết thị sa phủ?".

- "Như thị, Thế Tôn. Như Lai thuyết thị sa".

- Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như nhứt hằng hà trung, sở hữu sa, hữu như thị sa đẳng, hằng hà, thị chư hằng hà sở hữu sa số Phật thế giới, như thị ninh vi đa phủ?".

- "Thậm đa, Thế Tôn !".

120.- Phật cáo Tu Bồ Đề: "Nhĩ sở quốc độ trung, sở hữu chúng sanh, nhược can chủng tâm, Như Lai tất tri.

121.- Hà dĩ cố? Như Lai thuyết chư tâm giai vi phi tâm, thị danh vi tâm.

 

- Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như LaiHuệ nhãn chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn! Thật vậy; Như Lai có Huệ nhãn".

- "Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như LaiPháp nhãn chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn! Thật vậy, Như Lai có Pháp nhãn".

- "Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như LaiPhật nhãn chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn! Thật vậy, Như Lai có Phật nhãn".

119.- Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như cát trong sông Hằng đó, Phật nói là cát chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn! Thật vậy; Như Lai nói là cát".

- "Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như dùng số cát trong một sông Hằng mà ví dụ, có những sông Hằng khác nhiều bằng số cát ấy, rồi có thế giới Phật bằng số cát của những sông Hằng ấy, như thế, thiệt là nhiều chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn ! Rất nhiều".

120.- Phật bảo Tu Bồ Đề: "Những chúng sanh trong quốc độ ấy, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết cả.

121.- Bởi cớ sao? - Như Lai nói cả thảy tâm, đều chẳng phải tâm, chỉ cưỡng danh là tâm.

122.- Sở dĩ giả hà? Tu Bồ Đề!

Quá khứ tâm bất khả đắc;

Hiện tại tâm bất khả đắc;

Vị lai tâm bất khả đắc".

XIX.- PHÁP GIỚI THÔNG HÓA.

PHẬN ĐỆ THẬP CỬU.

123.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Nhược hữu nhơn mãn tam thiên Đại thiên thế giới thất bảo dĩ dụng bố thí, thị nhơn dĩ thị nhân duyên, đắc phước đa phủ?".

- "Như thị, Thế Tôn! Thử nhơn dĩ thị nhân duyên, đắc phước thậm đa".

- "Tu Bồ Đề! Nhược phước đức hữu thiệt, Như Lai bất thuyết đắc phước đức đa; dĩ phước đức vô cố, Như Lai thuyết đắc phước đức đa".

XX.- LY SẮC LY TƯỚNG

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP

124.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Phật, khả dĩ cụ túc sắc thân kiến phủ?".

- "Phất dã, Thế Tôn ! Như Lai bất ưng dĩ cụ túc sắc thân kiến".

 

122.- Sở dĩ sao? Tu Bồ Đề này!

Tâm quá khứ, không có chi mà đặng;

Tâm hiện tại, không có chi mà đặng;

Tâm vị lai, không có chi mà đặng".

XIX.- PHÁP GIỚI KHẮP ĐỘ

PHẦN THỨ MƯỜI CHÍN

123.- "Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới đem ra mà bố thí, người ấy, dùng nhân duyên như thế, có đặng phước nhiều chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn! Thật vậy. Người ấy dùng nhân duyên như thế thì đặng phước rất nhiều".

- "Tu Bồ Đề! Nếu dùng phước đứchữu vi thì Như Lai chẳng nói là đặng phước đức nhiều. Dùng phước đức không vô vi, Như Lai mới nói là đặng phước đức nhiều".

XX.- LÌA SẮC LÌA TƯỚNG.

PHẦN THỨ HAI MƯƠI

124.- "Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có nên dùng sắc thân cụ túc mà cho là Phật chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn ! Không. Chẳng nên dùng sắc thân cụ túc mà cho là Như Lai đặng".

 

125.- Hà dĩ cố! - Như Lai thuyết: Cụ túc sắc thân, tức phi Cụ túc sắc thân, thị danh Cụ túc sắc thân".

126.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Như Lai khả dĩ cụ túc chư tướng kiến phủ?".

- "Phất dã, Thế Tôn ! Như Lai bất ưng dĩ cụ túc chư tướng kiến.

Hà dĩ cố? - Như Lai thuyết chư tướng cụ túc, tức phi cụ túc, thị danh cụ túc".

XXI.- PHI THUYẾT SỞ THUYẾT

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP NHỨT

127.- "Tu Bồ Đề! Nhữ vật vị Như Lai tác thị niệm: Ngã đương hữu sở thuyết pháp. Mạc tác thị niệm.

Hà dĩ cố? - Nhược nhơn ngôn: Như Lai hữu sở thuyết pháp, tức vi báng Phật. Bất năng giải ngã sở thuyết cố.

128.- Tu Bồ Đề! Thuyết pháp giả, vô pháp khả thuyết, thị danh thuyết pháp".

129.- Nhĩ thời Huệ Mạng Tu Bồ Đề...

130.- Bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh, ư vị lai thế văn thuyết thị pháp, sanh tín tâm phủ?".

Phật ngôn: "Tu Bồ Đề! Bỉ phi chúng sanh phi bất chúng sanh.

Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Chúng sanh, chúng sanh giả, Như Lai thuyết phi chúng sanh, thị danh chúng sanh".

 

125.- "Bởi cớ sao? - Như Lai nói Sắc thân Cụ túc, nhưng chẳng phải sắc thân Cụ túc, chỉ cưỡng danh là sắc thân Cụ túc".

126.- "Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có nên dùng các tướng cụ túc mà cho là Như Lai chăng ?".

- "Bạch đức Thế Tôn ! Không. Chẳng nên dùng các tướng cụ túc mà cho là Như Lai đặng.

Bởi cớ sao? - Bởi Như Lai nói các tướng cụ túc, nhưng chẳng phải cụ túc, chỉ cưỡng danh là các tướng cụ túc".

XXI.- THUYẾT CHẲNG PHẢI THUYẾT

PHẦN THỨ HAI MƯƠI MỐT

127.- "Này Tu Bồ Đề! Ông chớ nói Như Lai có tưởng như vầy: Ta nên có chỗ thuyết pháp. Chớ tưởng như thế.

Bởi cớ sao? - Nếu ông mà nói: Như Laithuyết pháp, tức là chê Phật.Đâu có tỏ nghĩa của Ta đặng.

128.- Tu Bồ Đề! Thuyết pháp đó, không có pháp chi mà thuyết chỉ cưỡng danh là thuyết pháp vậy thôi".

129.- Khi ấy, Huệ Mạng Tu Bồ Đề...

130.- Bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Có những chúng sanh ở đời vị lai nghe nói pháp này, có sanh lòng tin chăng?".

Phật nói: "Tu Bồ Đề! Nó chẳng phải chúng sanh, nhưng chẳng phải là không phải chúng sanh.

Bởi cớ sao? - Này Tu Bồ Đề! Chúng sanh, chúng sanh ấy, Như Lai nói chẳng phải chúng sanh, chỉ cưỡng danh là chúng sanh".

XXII.- VÔ PHÁP KHẢ ĐẮC

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP NHỊ

131.- Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, vi vô sở đắc gia?".

Phật ngôn: "Như thị! Như thị! Tu Bồ Đề! Ngã ư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nãi chí vô hữu thiểu pháp khả đắc, thị danh A nậu đa la tam miệu tam bồ đề".

XXIII.- TỊNH TÂM HÀNH THIỆN.

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP TAM

132.- Phục thứ: "Tu Bồ Đề! Thị pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ, thị danh A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

133.- Dĩ vô ngã, vô nhơn, vô chúng sanh, vô thọ giả.

134.- Tu nhứt thiết thiện pháp, tức đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

135.- Tu Bồ Đề! Sở ngôn thiện pháp giả, Như Lai thuyết: Tức phi thiện pháp, thị danh thiện pháp".

XXII.- KHÔNG PHÁP CHI ĐẶNG

PHẦN THỨ HAI MƯƠI HAI

131.- Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Phật đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là không có chỗ chi đặng sao?".

Phật nói: "Thiệt vậy ! thiệt vậy ! Này Tu Bồ Đề! Ta đối với đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cho đến không có một chút pháp chi mà gọi là đặngấy mới gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".


XXIII.- TÂM TỊNH LÀM LÀNH.

PHẦN THỨ HAI MƯƠI BA

132.- Lại nói tiếp: "Này Tu Bồ Đề! Pháp vốn bình đẳng, không có cao thấp, mới gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

133.- Bởi không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả.

134.- Tu cả thảy pháp lành, tức đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

135.- Tu Bồ Đề! Gọi là pháp lành ấy, Như Lai nói : chẳng phải pháp lành, chỉ cưỡng danh là pháp lành".

XXIV.- PHƯỚC TRÍ VÔ TỶ

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP TỨ

136.- Tu Bồ Đề! Nhược tam thiên Đại thiên thế giới trung, sở hữu chư Tu Di sơn vương, như thị đẳng thất bảo tụ, hữu nhơn trì dụng bố thí.

137.- Nhược nhơn dĩ thử Bát Nhã Ba la mật kinh, nãi chí tứ cú kệ đẳng, thọ trì, đọc tụng, vị tha nhơn thuyết, ư tiền phước đức bá phần bất cập nhứt, bá thiên vạn ức phần nãi chí toán số thí dụ, sở bất năng cập.

XXV.- HÓA VÔ SỞ HÓA

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP NGŨ

138.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Nhữ đẳng vật vị Như Lai tác thị niệm: Ngã đương độ chúng sanh - Tu Bồ Đề! Mạc tác thị niệm.

Hà dĩ cố? - Thiệt vô hữu chúng sanh Như Lai độ giả.

139.- Nhược hữu chúng sanh Như Lai độ giả, Như Lai tức hữu ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

140.- Tu Bồ Đề! Như Lai thuyết hữu ngã giả, tức phi hữu ngã; nhi phàm phu chi nhơn, dĩ vi hữu ngã.

XXIV.- PHƯỚC TRÍ KHÔNG SÁNH

PHẦN THỨ HAI MƯƠI BỐN

136.- Này Tu Bồ Đề! Như trong tam thiên Đại thiên thế giới, có những Tu Di sơn vương, nếu có người góp cả bảy báu lại bằng như thế, dùng mà bố thí.

137.- Bằng có người dùng kinh Bát Nhã Ba la mật này, cho đến những tứ cú kệ, mà thọ trì, đọc tụng và vì người mà diễn thuyết, thì phước đức trước kia, chẳng bằng một phần trăm ngàn, muôn ức cho đến cũng không bằng một phần thiệt nhỏ tột số không thể mà đếm tính ví dụ đặng.

XXV.- HÓA KHÔNG CHỖ HÓA

PHẦN THỨ HAI MƯƠI LĂM

138.- Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Chúng ông chớ nói Như Lai có tưởng như vầy: Ta phải độ chúng sanh. Tu Bồ Đề! Chớ tưởng như vậy.

Bởi cớ sao? - Bởi thiệt không có chúng sanh nào mà Như Lai độ cả.

139.- Nếu có chúng sanh nào mà Như Lai có độ, tức là Như Lai có tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

140.- Tu Bồ Đề! Như Lai nói có ta ấy, nhưng chẳng phải có ta mà kẻ phàm phu lại cho là có ta.

 

141.- Tu Bồ Đề! Phàm phu giả, Như Lai thuyết tức phi phàm phu, thị danh phàm phu".

XXVI.- PHÁP THÂN PHI TƯỚNG

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP LỤC

142.- "Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Khả dĩ tam thập nhị tướng quang Như Lai phủ?".

Tu Bồ Đề ngôn: "Như thị, như thị. Dĩ tam thập nhị tướng quang Như Lai".

143.- Phật ngôn: "Tu Bồ Đề! Nhược dĩ tam thập nhị tướng quang Như Lai giả, Chuyển Luân ([33]) Thánh Vương tức thị Như Lai?".

Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, bất ưng dĩ tam thập nhị tướng quang Như Lai".

144.- Nhĩ thời, ([34]) Thế Tôn nhi thuyết kệ ngôn:

"Nhược dĩ sắc kiến ngã, Dĩ âm thinh cầu ngã, Thị nhơn hành tà đạo. Bất năng kiến Như Lai".

XXVII.- VÔ ĐOẠN VÔ DIỆT

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP THẤT

145.- Tu Bồ Đề! Nhữ nhược tác thị niệm, Như Lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

 

141.- Tu Bồ Đề! Phàm phu ấy, Như Lai nói chẳng phải phàm phu, chỉ cưỡng danh là phàm phu".

XXVI.- PHÁP THÂN KHÔNG TƯỚNG

PHẦN THỨ HAI MƯƠI SÁU

142.- "Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có nên dùng ba mươi hai tướng mà cho là Như Lai chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Thiệt vậy, thiệt vậy. Cũng nên dùng ba mươi hai tướng mà cho là Như Lai".

143.- Phật bảo: "Tu Bồ Đề! Nếu dùng ba mươi hai tướng mà cho là Như Lai, thì Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Như Lai?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Như con mà tỏ cái nghĩa của Phật nói, thì chẳng nên dùng ba mươi hai tướng mà cho là Như Lai".

144.- Khi ấy, đức Thế Tôn bèn nói kệ rằng:

"Bằng dùng sắc gọi ta.

Âm điệu nhận rằng ta.

Làm vậy là tà đạo.

Hẳn không thấy đặng ta".

XXVII.- KHÔNG ĐOẠN KHÔNG DIỆT

PHẦN THỨ HAI MƯƠI BẢY

145.- "Này Tu Bồ Đề! Bằng ông tưởng như vầy: "Như Lai chẳng dùng tướng cụ túc mà đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".

 

Tu Bồ Đề! Mạc tác thị niệm: Như Lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Tu Bồ Đề! Nhữ nhược tác thị niệm: Phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm giả, thuyết chư pháp đoạn diệt. Mạc tác thị niệm.

Hà dĩ cố? - Phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm giả, ư pháp, bất thuyết đoạn diệt tướng".

XXVIII.- BẤT THỌ BẤT THAM

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP BÁT

146.- "Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát dĩ mãn hằng hà sa đẳng thế giới thất bảo trì dụng bố thí.

Nhược phục hữu nhơn tri, nhứt thiết pháp "vô ngã" đắc thành ư nhẫn, thử Bồ Tát thẳng tiền Bồ Tát sở đắc phước đức.

147.- Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Dĩ chư Bồ Tát bất thọ phước đức cố".

148.- Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Vân hà Bồ Tát bất thọ phước đức?".

- "Tu Bồ Đề! Bồ Tát sở tác phước đức; bất ưng tham trước; thị cố thuyết bất thọ phước đức".

 

Tu Bồ Đề! Chớ tưởng như vậy. Như Lai há chẳng dùng tướng cụ túc mà đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".

Tu Bồ Đề! Bằng ông tưởng như vậy: "Phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ấy, mà nói các pháp đoạn diệt. Chớ tưởng như vậy.

Bởi cớ sao? - Bởi phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ấy, theo pháp, chẳng nên nói cái tướng đoạn diệt".

XXVIII.- KHÔNG NHIỄM KHÔNG THAM

PHẦN THỨ HAI MƯƠI TÁM

146.- "Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát dùng bảy báu đầy cả hằng hà sa số thế giới, đem ra mà bố thí.

Bằng lại có người biết cả thảy pháp "vô ngã" mà thành tựu đặng cái pháp nhẫn, thì Bồ Tát này, chỗ đặng phước đức nhiều hơn Bồ Tát kia.

147.- Bởi cớ sao? - Này Tu Bồ Đề! Bởi các Bồ tát ấy chẳng chịu phước đức".

148.- Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát chẳng chịu phước đức?".

- "Tu Bồ Đề! Bồ Tát làm phước đức, chẳng nên tham chấp ; nên mới gọi là chẳng chịu phước đức".

XXIX.- OAI NGHI TỊCH TỊNH

PHẬN ĐỆ NHỊ THẬP CỬU

149.- "Tu Bồ Đề! Nhược hữu nhơn ngôn: "Như Lai" nhược lai, nhược khứ, nhược tọa, nhược ngọa, thị nhơn bất giải ngã sở thuyết nghĩa.

150.- Hà dĩ cố? - "Như Lai" giả vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh "Như Lai".

XXX.- NHỨT HIỆP LÝ TƯỚNG

PHẬN ĐỆ TAM THẬP

151.- Tu Bồ Đề! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhơn dĩ tam thiên đại thiên thế giới, tối ([35]) vi vi trần, ư ý vân hà? - Thị vi trần chúng, ninh vi đa phủ?".

Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đa, Thế Tôn!

Hà dĩ cố? - Nhược thị vi trần chúng, thiệt hữu giả, Phật tức bất thuyết thị vi trần chúng.

Sở dĩ giả hà? - Phật thuyết vi trần chúng, tức phi vi trần chúng, thị danh vi trần chúng.

Thế Tôn! Như Lai sở thuyết tam thiên đại thiên thế giới, tức phi thế giới, thị danh thế giới.

152.- Hà dĩ cố? - Nhược thế giới thiệt hữu giả, tức thị nhứt hiệp tướng.

XXIX. - OAI NGHI VẮNG LẶNG

PHẦN THỨ HAI MƯƠI CHÍN

149.- "Này Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: "Như Lai", hoặc tới, hoặc lui, hoặc ngồi, hoặc nằm, thì người ấy chẳng rõ cái nghĩa lý của Ta nói.

150.- Bởi cớ sao? - "Như Lai" ấy, là không phải từ đâu mà tới, cũng không phải từ đâu mà lui, nên gọi là "Như Lai".

XXX.- LÝ TƯỚNG NHỨT HIỆP

PHẦN THỨ BA MƯƠI

151.- Này Tu Bồ Đề! Bằng có trai lành, gái tín dùng tam thiên đại thiên thế giới, đập nát ra làm vi trần, ý ông thế nào? Những vi trần ấy, thế là nhiều chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều.

Bởi cớ sao? Nếu những vi trần ấy, mà thiệt có, thì Phật chẳng gọi là vi trần.

Sở dĩ sao? - Bởi Phật nói những vi trần, nhưng chẳng phải vi trần, chỉ cưỡng danh là vi trần.

Bạch đức Thế Tôn! Còn Như Lai nói tam thiên đại thiên thế giới, nhưng chẳng phải thế giới, chỉ cưỡng danh là thế giới.

152.- Bởi cớ sao? - Nếu thế giới mà thiệt có, thì tức là tướng nhứt hiệp.

 

153.- Như Lai thuyết nhứt hiệp tướng tức phi nhứt hiệp tướng, thị danh nhứt hiệp, tướng".

154.- "Tu Bồ Đề! Nhứt hiệp tướng giả, tức thị bất khả thuyết.

155.- Đản phàm phu chi nhơn, tham trước kỳ sự".

XXXI.- TRI KIẾN BẤT SANH

PHẬN ĐỆ TAM THẬP NHỨT

156.- "Tu Bồ Đề! Nhược nhơn ngôn : Phật thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. - Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Thị nhơn giải ngã sở thuyết nghĩa phủ?".

- "Phất dã, Thế Tôn! Thị nhơn bất giải Như Lai sở thuyết nghĩa.

Hà dĩ cố? - Thế Tôn thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tức phi ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, thị danh ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến".

157.- "Tu Bồ Đề! Phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm giả, ư nhứt thiết pháp, ưng như thị tri, như thị kiến, như thị tín giải: bất sanh pháp tướng.

Tu Bồ Đề! Sở ngôn pháp tướng giả, Như Lai thuyết tức phi pháp tướng, thị danh pháp tướng".

 

153.- Như Lai nói tướng nhứt hiệp, nhưng chẳng phải tướng nhứt hiệp, chỉ cưỡng danh là tướng nhứt hiệp".

154.- "Tu Bồ Đề! Tướng nhứt hiệp ấy, nói chẳng đặng.

155.- Chỉ vì kẻ phàm phu hay tham chấp sự tướng".

XXXI.- THẤY BIẾT KHÔNG SANH

PHẦN THỨ BA MƯƠI MỐT

156.- "Này Tu Bồ Đề! Bằng người nào nói: Phật nóingã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Người ấy có tỏ nghĩa lý của Ta nói không?

- Bạch đức Thế Tôn ! Không. Người ấy không có tỏ nghĩa lý của Phật nói.

Bởi cớ sao? - Bởi Phật nói ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, nhưng chẳng phải ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, chỉ cưỡng danh là ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến vậy thôi".

157.- "Tu Bồ Đề! Phát lòng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đó, thì cả thảy pháp, phải biết như vầy, phải thấy như vầy, phải tin rõ như vầy: là chẳng sanh pháp tướng.

Tu Bồ Đề! Sự nói pháp tướng đó. Như Lai nói chẳng phải pháp tướng, chỉ cưỡng danh là pháp tướng".

XXXII. ỨNG HÓA PHI NHƠN

PHẬN ĐỆ TAM THẬP NHỊ

158.- "Tu Bồ Đề! Nhược hữu nhơn dĩ mãn vô lượng A tăng kỳ thế giới thất bảo trì dụng bố thí. Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn phát Bồ đề tâm giả, trì ư thử kinh, nãi chí tứ cú kệ đẳng, thọ trì, đọc tụng, vị nhơn diễn thuyết, kỳ phước thắng bỉ".

159.- Vân hà vị nhơn diễn thuyết?

160.- Bất thủ ư tướng, như như bất động.

161.- Hà dĩ cố?

"Nhứt thiết hữu vi pháp

Như mộng huyễn, bào ([36]) ảnh:

Như lộ diệc như điển;

Ưng tác như thị quán".

 

162.- Phật thuyết thị kinh dĩ, Trưởng lão Tu Bồ Đề cập chư Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, nhứt thiết thế gian: Thiên, Nhơn, A tu la, văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ tín thọ phụng hành.

Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh.

XXXII.- ỨNG HÓA KHÔNG THIỆT

PHẦN THỨ BA MƯƠI HAI

158.- "Này Tu Bồ Đề! Bằng có người nào dùng bảy báu đầy vô lượng vô số thế giới, đem ra mà bố thí... Bằng lại có trai lành, gái tín nào phát tâm Bồ đề, giữ theo kinh này và những tứ cú kệ, mà thọ trì, đọc tụng rồi diễn thuyết lại cho người khác thì phước đức này hơn phước đức kia".

159.- Còn thế nào là vì người mà diễn thuyết ?

160.- "Không chấp tướng, như như chẳng động".

161.- Bởi cớ sao?

"Những pháp hữu vi ấy.

Như: chiêm bao, huyễn mị,

Bọt bào, bóng, chớp, mù.

Nên tưởng đều như vậy".

162.- Phật nói kinh này rồi, Trưởng lão Tu Bồ Đề cùng Tăng, Ni, thiện nam, tín nữ, cả thảy thế gian: Thiên, Nhơn, A tu la, nghe cái thuyết của Phật, đều rất hoan hỷ, tin chịu, phụng hành.

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

 

BÁT NHÃ VÔ TẬN CHƠN NGÔN ([37]):

Nẳng mồ bạt dà phạt đế, bát rị nhã, ba la mật đa dệ, đát điệc tha. Án, hột rị địa rị thất rị, thú rô tri, tam mật lật tri, Phật xả dệ, tá ha.

KIM CANG TÂM ĐÀ RA NI CHƠN NGÔN ([38])

Án, ô luân ni, ta bà ha.

BỔ KHUYẾT CHƠN NGÔN:

Nam mô hát ra đát na đa ra dạ da, khê ra khê ra, cu trụ cu trụ, ma ra ma ra, hổ ra hồng, hạ hạ, tô đát noa hồng, bát mạt noa, ta bà ha.

PHỔ HỒI HƯỚNG CHƠN NGÔN:

Án, ta ma ra, ta ma ra, di ma nẳng, tát cót ra, ma ha chước ca ra hồng.

KIM CANG BỔ KHUYẾT CHƠN NGÔN:

Án, hô lô hô lô, xả dệ, mục khế, tá ha.

Nhứt hồi hướng: Chơn như thiệt tế, tâm tâm khế hiệp.

Nhị hồi hướng: Vô thượng Phật quả Bồ đề, niệm niệm viên mãn.

Tam hồi hướng: Pháp giới nhứt thiết chúng sanh, đồng sanh Tịnh độ.

CHÚ BÁT NHÃ VÔ TẬN ([39]):

Nẳng mồ bạt dà phạt đế, bát rị nhã, ba la mật đa dệ, đát điệc tha. Án, hột rị địa rị thất rị, thú rô tri, tam mật lật tri, Phật xả dệ, tá ha.

CHÚ KIM CANG TÂM ĐÀ RA NI ([40]);

Án, ô luân ni, ta bà ha.

CHÚ BỔ KHUYẾT:

Nam mô hát ra đát na đa ra dạ da, khê ra khê ra, cu trụ cu trụ, ma ra ma ra, hổ ra hồng, hạ hạ, tô đát noa hồng, bát mạt noa, ta bà ha.

CHÚ PHỔ HỒI HƯỚNG:

Án, ta ma ra, ta ma ra, di ma nẳng, tát cót ra, ma ha chước ca ra hồng.

CHÚ KIM CANG BỔ KHUYẾT:

Án, hô lô hô lô, xả dệ, mục khế, tá ha.

Một là hồi hướng: Lý đúng chơn như, lòng lòng tin hiệp.

Hai là hồi hướng: Quả Phật Vô thượng Bồ đề, mỗi niệm viên mãn.

Ba là hồi hướng: Cả thảy chúng sanh trong cõi Pháp giới đồng sanh Cực Lạc.

TÁN

Kim Cang công đức,

Diệu lý nan lương.

Như Lai vị chúng quảng tuyên dương,

Thọ thí ngộ chơn thường,

Dĩ chư hoa hương.

Phổ tán Pháp trung vương.

BỔ KHUYẾT TÂM KINH

THỊ ĐẠI THẦN CHÚ

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh([41]):

Quán tự tại Bồ tát ([42]), hành thâm Bát nhã Ba la mật đa ([43]) thời, chiếu kiến ngũ uẩn ([44]) giai không; độ nhứt thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử! ([45]) Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị ([46]).

Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ,

BÀI TÁN:

Kim Cang công đức,

diệu không lường.

Như Lai vì chúng khắp truyền dương;

Vưng chịu tỏ chơn thường,

Dùng các hoa hương.

Rải khắp chỗ Pháp vương.

KINH BỔ ÍCH CHO TÂM

LÀ CHÚ RẤT THẦN THÔNG

Tâm Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa(1).

Quán tưởng sự hữu tình cho tự tại (2) tu hành thâm thấu dùng trí huệđắc đạo (3). Trong thời rõ thấu năm cái tích tụ (4) đều không (giả hiệp): Độ cả thảy khổ ách.

Xá Lợi Tử (5) này! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như thế. (6)

Xá Lợi Tử này! Đó là các pháp: Tướng đều không; không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên trong cái không không có sắc, không thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý ([47]); vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp ([48]); vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới([49]); vô vô minh([50]), diệc vô vô minh tận([51]); nãi chílão tử([52]), diệc vô lão tử tận ([53]); vô khổ, tập, diệt, đạo([54]). Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đả y Bát nhã Ba la mật đa cố([55]). Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết bàn.

Tam thế chư Phật([56]), y Bát nhã ba la mật đa([57]) cố([58]); đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề; cố tri Bát nhã Ba la mật đa; thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú: Năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú ([59])

 

tưởng, hành, thức, không nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý (1). Không sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp (2). Không cái giới nhãn cho đến không giới;cái giới ý thức (3); không cái vô minh (4); cũng không hết cái vô minh (5) cho đến không cái lão tử (6)... Cũng không hết cái lão tử (7); không khổ, tập, diệt, đạo; (8) Không chi là trí, cũng không chi là đặng. Bởi cái không chỗ chi mà đặng, nên các vị Bồ Tát nương theo trí huệthành đạo (9). Cái tâm không quái ngại; bởi không quái ngại, nên không khiếp sợ; tránh xa sự mộng tưởng lật ngược; ráo rốt viên mãn.

Chư Phật ba đời (10) cũng đều nương pháp Bát nhã Ba la mật đa (11), nên đặng quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (12). Ấy mới biết Bát nhã Ba la mật đa là chú rất thần thông, là chú rất rõ ràng, là chú không chi hơn, là chú không chi bằng bực: Trừ đặng cả thảy sự khổ, chơn thiệt chẳng dối, cho nên mới gọi là: Chú Bát nhã Ba la mật đa(13).

Tức thuyết chú viết:

Yết đế, yết đế ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha([60]).

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

THÂU KINH KỆ

Tam đồ vĩnh tức thường ly khổ,

Lục thú hưu tỳ cốt một nhân.

Hà sa hàm thức ngộ chơn như,

Vạn loại hữu tình đăng bỉ ngạn.

TỤNG KINH TÁN

Đoạn nghi sanh tín,

Diệt tướng siêu tông.

Đốn vong nhơn pháp, giải chơn không,

Bát Nhã vị trùng trùng.

Tứ cú dung thông;

Phước đức thán vô cùng.

Nam mô Kỳ Viên Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (tam xưng)

 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng sanh thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng sanhthâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải.

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng sanh thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại.

 

Hòa nam Thánh chúng.

 

Bèn niệm chú rằng:

Độ đi độ đi, ráo rốt độ đi, ráo rốt độ chúng đi, cho đặng giác ngộ, chóng mau thành tựu (1).

Tâm kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

BÀI KỆ THÂU KINH

Ba đường siêu thoát vòng phiền não,

Sáu thú khỏi luân hồi quả báo.

Vô số hữu tình chứng lý chơn,

Các loài hàm thức đều thành đạo.

BÀI TÁN TỤNG KINH

Hết nghi tin thiệt,

Khỏi tướng lìa tông.

Pháp, nhơn mau dứt, tỏ chơn không;

Mùi Bát Nhã trùng trùng,

Tứ cú rõ thông,

Phước đức lớn vô cùng,

Nam mô Kỳ Viên Hội Thượng Phật, Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

 

Qui y Phật của tự mình, nguyện cho chúng sanhtỏ ngộ đạo cả, phát lòng vô thượng.

Qui y Pháp của tự mình, nguyện cho chúng sanhhiểu thấu kinh tạng, trí huệ rộng lớn.

Qui y Tăng của tự mình, nguyện cho chúng sanhdắt dìu đại chúng, cả thảy không ngại.

Kính lễ chư Phật.

NGŨ THẬP TAM GIA:

1. Bách Trượng Hải Thiền sư.

2. Bàng Uẩn Cư sĩ

3. Bảo Ninh Dõng Thiền sư.

4. Bửu Tích Như Lai.

5. Cổ Đức Thiền sư.

6. Châu Sử Khanh Chơn nhơn.

7. Chơn Tịnh Văn Thiền sư.

8. Đạt Ma Đại sư.

9. Đồng Quan Sát Thiền sư.

10. Hải Giác Nguyên Thiền sư

11. Huyền Tông Hoàng đế.

12. Huỳnh Nghiệt Vận Thiền sư.

13. Kỳ Thiền sư.

14. Kim Hải Quang Như Lai.

15. Kỉnh San Kiểu Thiền sư.

16. Khuê Phong Thiền sư.

17. Lâm Tế Đại sư.

18. Lý Văn Hội Cư sĩ.

19. Lục Tổ Đại sư.

20. Lưu Đẩu Đại sư.

21. Mã Tổ Đại sư.

22. Nam Tuyền Nguyện Thiền sư.

23. Ngũ Tổ Đại sư.

24. Nhan Bính Như Như Cư sĩ.

25. Nhựt Nguyệt Quang Như Lai.

26. Pháp Thường Mãn Như Lai.

27. Phó Đại sĩ.

28. Qui Tông Thiền sư.

29. Tạ Linh Vận.

30. Tăng Nhược Nột Thiền sư.

31. Tăng Liễu Tánh Vân Am Thiền sư.

32. Tăng Triệu Pháp sư.

33. Tăng Tử Vinh Phú Sa Thiền sư.

34. Tăng Vi Từ Am Thiền sư.

35. Tiêu Diêu Ông.

36. Tiên Du Ông.

37. Tổ Ấn Minh Thiền sư.

38. Tông Mật Thiền sư.

39. Tự Tại Lực Vương Như Lai.

40. Tứ Tổ Nhẫn Đại sư

41. Từ Thọ Thâm Thiền sư.

42. Thái Dương Huyền Thiền sư.

43. Thiên Thai Trí Nghĩa Đại sư.

44. Thông Vương Như Lai.

45. Trần Hùng Cư sĩ.

46. Triều Văn Nguyên Cư sĩ.

47. Trương Vô Tận Cư sĩ.

48. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

49. Viên Ngộ Thiền sư.

50. Vĩnh Gia Đại sư.

51. Vô Danh Thị.

52. Vương Nhựt Hưu Cư sĩ.

53. Xuyên Thiền sư (Giả phủ).

 

*************


KIM CANG NGŨ THẬP TAM GIA

ÂM :

Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh.

NGHĨA :

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

 

Giải - Tiên Du Ông Tập Anh giải: Kim Cang là chất cứng bén (thép) trong loại kim. Chất thép sanh trong loại kim dầu nhồi luyện cả trăm phen cũng chẳng hề hao kém. Dùng sức chắc bén ấy mới chặt đứt muôn vật đặng.

Năm loại kim, cũng đều gọi chung là Kim ([61]). Phàm nói riêng một tiếng kim tức là sắc. Kim Cang nói đây là, như gươm đao có thép bén, ví dụ với trí huệ, hay dứt tuyệt cả thảy tà kiến điên đảo của tham, sân, si.

Tiếng Phạm: Bát Nhã, Tàu dịch Trí Huệ ([62]) Tánh thể sáng suốt xét soi tự tại; cho nên nói: Bát Nhã.

Ba La Mật: Đáo bỉ ngạn là đến bờ kia (chỗ Phật). Muốn đến bờ kia phải dùng thuyền Bát Nhã.

Bờ này (chỗ chúng sanh) là cảnh của chúng sanh gây nghiệp chịu sự khổ sanh tử luân hồi; còn bờ kia là cảnh của chư Phật cùng Bồ Tát đã ráo rốt ([63]) siêu thoát thanh tịnh an vui. Phàm phu là bờ này. Phật đạo là bờ kia. Một niệm dữ là bờ này, một niệm lành là bờ kia.

Sáu đường ([64]) như biển khổ, không thuyền thì không thể qua. Phải dùng trí Bát Nhã cùng pháp "Lục độ" ([65]) mà làm thuyền, mới qua khỏi đặng.

Lại nữa, tục ngữ bên Thiên Trước: "Phàm việc chi đã làm đặng rồi, đều gọi là Ba La Mật".

Kinh: nghĩa là "Đường tắt". Kinh này là con đường tắt để học Phật.

Xung Ứng Chơn Nhơn, Châu Sử Khanh làm lời chơn tán ông Dương Á Phu có giải: Sắt là một vật sanh ở trong khoán, khí thành sắt, tánh cứng mà hình thể chẳng biến, dùng lửa thép ra, thì làm nên các món, cho nên Phật lấy Kim Cang thí dụ.

Lại nhơn dịp người anh của Ông (Xung Ứng) xem kinh Viên Giác, đưa cho coi mà nói: Cổ nhơn có nói rằng:

"Xanh xanh tre sậm, vốn thiệt Chơn như, "

"Mởn mởn hoa vàng há không Bát Nhã!".

Chơn như, tre sậm một loài, bởi không nhiễm (sắc, thinh, hương, vị).

Bát Nhã, hoa vàng một thể, vì chẳng chấp "kiến, văn, giác, tri".

Trần Hùng giải: Ba la mật có sáu pháp: Hoặc "Bố thí" hoặc "Trì giới", hoặc "Nhẫn nhục", hoặc "Tinh tấn", hoặc "Thiền định" đều chiếm một phần trong Lục độ. Duy có một pháp "Bát Nhã" hay sanh tám muôn bốn ngàn (84.000) "Trí huệ", thì sáu độ gồm đủ, muôn hạnh vẹn toàn. Cho nên Như Lai dùng cái đục Trí huệ xoi núi nhơn ngã, dùng sức Trí huệ khai khoán "phiền não", dùng lửa Trí huệ thép nên vàng trong "Phật tánh".

Vả lại gieo căn lành, trước phải tụng Kinh, sau mới tỏ lý. Đặng sức bền chặt, tức là Kim Cang. Đủ Trí huệ lớn tức là Bát Nhã. Độ khỏi biển sanh tử, đến bờ "Bồ đề", tức là Ba la mật.

Ngũ Tổ Đại sư hằng khuyên kẻ Tăng người tục: "Chỉ nên trì "Kinh Kim Cang", tức đặng "kiến Tánh thành Phật".

Lục Tổ Đại sư, một đêm nghe Ngũ Tổ thuyết pháp, đến câu: "Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm" (sanh tâm không trụ chấp), vừa dứt lời liền tỏ ngộ.

Như thế mới là bực Thượng thừa đốn giáo cho.

Nhan Bính giải : Duy có một quyển kinh này, chúng sanh sáu đường mỗi mỗi đều có đủ trong tánh. Bởi sau khi có thân rồi, vọng sanh sáu căn ([66]),sáu trần ([67]), chôn lấp một điểm "Linh quang", trọn ngày mờ mờ, chẳng biết chẳng tỏ. Cho nên Phật ta mới mở lòng "Từ Bi", nguyện cứu vớt cả thảy chúng sanh, đồng qua khỏi biển khổ, đồng chứng đặng quả Bồ đề.

Nên chi, Phật ở tại nước Xá Vệ thuyết kinh này, đại ý: Chỉ vì người mà phá mê, mở trói; bấy giờ liền tỏ thấy cái tự tánh.

Tự tánh đặng bền chặt, muôn kiếp chẳng hoại, cũng như cái tánh cứng chắc của loại kim vậy.

Lý Văn Hội giải: Kim Cang là vật chắc bén, hay phá nát muôn vật. Bát Nhã: Trí huệ, hay phá đặng cả thảy phiền não, đổi thành diệu dụng.

Ba la mật: Đáo bỉ ngạn. Chẳng chấp các tướng là "bờ kia", bằng chấp các tướng là "bờ này".

Lại nói : Lòng mê là "bờ này", lòng ngộ là "bờ kia".

Kinh"Đường", là con đường tắt để "kiến tánh".

ÂM :

Dao Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch.

NGHĨA :

Đời Dao Tần, Thầy Tam Tạng Pháp Sư, là Cưu Ma La Thập, vưng chiếu, phiên dịch.

 

Giải : - Xét trong sử Tấn: "Cưu Ma La Thập" là người Thiên Trước.

Khi xưa, vua nước Cưu Tư nghe danh cha Ngài, là Cưu Ma La Diêm, bèn thỉnh về làm Quốc sư, rồi ép gả em gái cho.

Lúc Ngài còn trong thai thì bà mẹ sáng suốt bội thường. Mà cũng trong lúc ấy, bà xuất gia. Ngài đến mười hai tuổi thì bà dắt qua xứ Sa Lạc mà ở.

Đời Hậu Tần (383 - 416) vua Dao Hưng rước Ngài về vườn Tiêu Diêu dịch kinh.

Sau Ngài hóa thân tại Trường An. Khi thiêu, xác và củi đều cháy tiêu hết, mà lưỡi Ngài vẫn còn.

Dịch là phiên dịch chữ Thiên Trước ra chữ Trung Quốc.

 

1.-ÂM :

Như thị ngã văn :

NGHĨA :

Ta nghe như vầy:

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Thị là chỉ các chỗ nói trong kinh này.

Ngã: là người viết kinh này tự xưng, tức là A Nan.

Như thị ngã văn là các chỗ nói trong kinh này tự ta nghe những lời của Phật nói.

Đệ tử (A Nan) thường hỏi Phật: "Đến sau viết kinh khởi đầu làm sao?".

Phật bảo: "Dùng "Như thị ngã văn" mà khởi đầu".

Lý Văn Hội giải: Như thị ngã văn Như Lai đến ngày nhập "Niết Bàn", A Nan có hỏi Phật: "Sau khi Phật diệt độ, cả thảy đầu bài kinh để chữ chi?".

Đáp: Trước để "Như thị ngã văn", sau chỉ rõ các chỗ. Cho nên ông Phó Đại Sĩ tụng:

 

Ở giữa Cụm Ta La, Là nơi Phật diệt độ.

A Nan ([68]) lúc bấy giờ, Bi thảm không qua đó.

Hỏi sẵn có Ưu Ba ([69]), Kinh, làm sau khởi thủ.

Rằng "Như thị ngã văn" Truyền bá hoài thiên cơ.

 

Bằng theo các bực đại Tông sư giải nghĩa, thì "Như" là cái tánh của chúng sanh, muôn khác ngàn sai, động tịnh không chừng, không ngang hàng đặng, không bằng bực đặng.

"Thị" là biệt danh cái tánh của chúng sanh. Lìa ra ngoài cái tánh, lại không có pháp chi khác nữa.

Lại nói: Pháp, chẳng phải không, gọi là Như. Đều là Phật Pháp gọi là "Thị".

Xuyên Thiền sư giải: Như thị, người xưa đạo kêu là "Như", nói Như thị là đã biến rồi.

Nói thử coi: Biến đổi đi đến chỗ nào?

Ôi! Chẳng đặng chạy đi bậy.

Rốt lại nói chi vậy.

Ngoài ngôn luận lửa không hề cháy!

Như như:

Đài gương muôn tượng thảy đều thâu,

Vậy vậy:

Nước sóng nguyên đồng tánh chất nhau.

Gương nước lúc chưa vương gió bụi,

Đất trời toàn thể hiện làu làu.

Lại nói :

Ngã là "Tự tánh tự tại", chỉ cưỡng danh vậy thôi.

Thân không phải có ta,

Cũng chẳng phải không ta,

Hai lẽ không ngần ngại,

Mới cho là thiệt ta.

Sạch sạch bóng,

Đỏ đỏ thắm.

Không phương rờ nắm.

 

Lại nữa :

Ta, ta...........................

Phân biệt Thánh hai cái khác xa.

Chẳng động hào ly huờn bổn tánh,

Tri âm tự có gió tòng, hòa.

Văn là lóng nghe.

Nghe không chấp có nghe.

Cũng chẳng chấp không nghe.

Chẳng "có chấp", "không chấp",

Mới cho là "thiệt nghe".

Lại nói: Rất kỵ nhứt, là nghe theo nó.

Lời tụng rằng:

Hạc kêu chín nội,

Vượn hót đầu ngàn;

Mây ùn gió cuốn,

Nước chạt giòng tràng.

Sương đượm màu thu khoe vẻ đẹp;

Nhạn inh ỏi giọng tiết trời hàn.

2.- ÂM :

Nhứt thời, Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên .

NGHĨA :

Một thuở nọ, Phật ở nước Xá Vệ nơi nhà Tịnh xá của ông Cấp Cô Độc cất trong vườn cây ông Kỳ Đà .

 

Giải : Triệu Pháp Sư giải: Nhứt thời là thuở Phật pháp "Bát Nhã".

Lý Văn Hội giải: Nhứt thời là khi Phật thuyết pháp hiệp giới lý đạo mà cảm với lòng người.

Phật là Giác. Giác trong tâm không các vọng niệm, giác ngoài cảnh chẳng nhiễm lục trần.

Lại nói: Phật là vị "Giáo chủ". Chẳng phải tướng mà hiện tướng, là "Ứng thân Phật". Tướng, mà chẳng phải tướng, là "Báo thân Phật" - Chẳng phải tướng, chẳng phải không tướng, là "Pháp thân Phật".

Tại : là chỗ ở.

Sớ Sao giải: Phật, tiếng Phạm kêu: Bà Dà Bà cũng kêu Phật Đà.

Phật: là Giác. Trước giác cho mình, sau giác cho người (tự giác, giác tha), là bởi "giác tánh" đã viên mãn. Cả thảy các loại "hữu tình" đều có tánh giác ấy. Ngộ là Phật, mê là chúng sanh.

Trong Kinh có nói: "Nước Xá Vệ có một ông Trưởng giả, tên là Tu Đạt Noa, thường bố thí cho kẻ nghèo hèn cô độc, cho nên người đời gọi ông là "Cấp Cô Độc Trưởng giả".

Lục Tổ giải: Xá Vệ : là tên một nước của vua Ba Tư Nặc.

Kỳ :Kỳ Đà Thái tử, con vua Ba Tư Nặc.

Thọ : là vườn cây của ông Kỳ Đà dưng cúng, cho nên nói: Kỳ thọ.

Xuyên Thiền sư giải: Theo nhau mà đến.

 

Tụng:

Một một...........

Hai, ba, năm, bảy, không cùng tột;

Kiền khôn hỗn độn lúc chưa phân,

Vốn đã nhứt sanh thông ráo rốt.

Lại nói :

Như người uống nước, lạnh nóng tự mình biết lấy.

Tụng:

Thì thì.......................

Trăng trong, gió mát thảy đều tùy.

Đào hồng, lý trắng, tường vi tía,

Hỏi thử chủ nhơn có hiểu gì?

Lại nói :

Không có diện mục gì, mà nói việc thị phi.

 

Tụng:

Nhỏ kêu Tất Đạt;

Lớn hiệu Thích Ca.

Tế độ các loại;

Thâu phục lũ tà,

Bằng nói Ngài là Phật,

Thế thì ta tức ma.

Dùng sáo tự nhiên không trổ lỗ,

Nhỏ to thổi điệu thái bình ca.

Lại nói :

Lục tặc đến, phải coi chừng đánh chận lại, đừng cho đi tuốt.

Tụng:

Ngồi thiền một nén hương;

Kinh nghĩa tụng hai hàng.

Thương bấy khách xe ngựa,

Bề ngoài luống nhộn nhàn.

 

3.- ÂM :

Dữ đại Tỳ Khưu chúng, thiên nhị bá ngũ thập nhơn cu.

NGHĨA :

Cùng một ngàn hai trăm năm mươi thầy đại Tỳ Khưu đều ở tại đó .

 

Giải : Tăng Tử Vinh dẫn trong bộ Trí Độ Luận, quyển thứ ba có nói: khi "Như Lai sắp nhập Niết Bàn, kêu A Nan mà dạy rằng: "Mười hai bộ kinh ngươi phải truyền bá ra cho đời sau".

Lại dạy Ưu Ba Ly rằng: "Cả thảy Giới luật, ngươi nên thọ trì". A Nan nghe Phật dặn bảo, lòng rất lo rầu".

Khi ấy, Ưu Ba Ly nói với A Nan rằng: "Ông là người gìn giữ "Pháp Tạng" của Phật, phải bạch hỏi Phật những điều yếu lý về đời sau".

Ưu Ba Ly cùng A Nan có đến hỏi Phật bốn điều:

1.- "Cả thảy trước đầu kinh nên để chữ chi?".

- "Cả thảy trước đầu kinh nên để chữ Như thị".

2.- "Lấy ai mà làm thầy?".

- "Lấy giới Ba la đề mộc xoa làm Thầy cả của các ngươi".

3.- "Nương nơi đâu mà trụ?".

- "Đều nương theo pháp "Tứ Niệm" mà trụ".

Tứ niệm:

Một là : Quán tưởng lòng chẳng sạch;

Hai là : Quán tưởng chịu những sự khổ;

Ba là : Quán tưởng Pháp tánh vốn không;

Bốn là: Quán tưởng "Tâm" không có "ta".

 

4.- "Thầy Tỳ Khưu có tánh ác, làm sao mà ở chung?".

- "Thầy Tỳ Khưu có tánh ác, thì dùng pháp "Phạm đàn" mà sửa trị".

Phạm đàn "Mặc tấn": là nín nhịn.

Thiệt như lời Huỳnh Lỗ Trực nói:

Muôn nói muôn nhằm, chẳng bằng một nín (mặc).

Trăm trận trăm hơn, chẳng bằng một nhịn (tấn).

Tấn là kỉnh mà xa lánh.

Pháp này để xử thầy Tỳ Khưu có tánh ác.

 

Như Lai, khi dặn dò xong rồi, vào Đại thành Cu Thi La, nơi hai cây Ta Lathị hiện pháp Niết Bàn. A Nan nghe Phật sắp nhập Niết Bàn, trong lòng buồn rầu lo lắng nên chẳng đến trước Phật mà hỏi lại bốn điều đó nữa.

Vương Nhựt Hưu giải: Tỳ Khưu: Khất sĩ. Trên xin pháp cùng chư Phật, đặng tỏ cái chơn tánh mình, dưới xin ăn của người thế, đặng cầu phước cho đời, cho nên nói: Khất sĩ.

Đại Tỳ Khưu :đắc đạo đã thâm, tức là bực Bồ Tát cùng A La Hán.

Cu :ở chung. Là nói Phật cùng một ngàn hai trăm năm mươi người ở chung trong vườn ông Cấp Cô Độc.

Trần Hùng : Tỳ Khưu, tức đời nay kêu là Thầy tu.

Lý Văn Hội giải: Tỳ Khưu, bỏ dữ làm lành là "Tiểu Tỳ Khưu", lành dữ đều bỏ là "Đại Tỳ Khưu". Bằng người tỏ thấu lý ấy, tức là chứng quả vị A La Hán. Phá đặng lục tặc (lục trần) là người trong bốn quả "Tiểu thừa".

Xuyên Thiền sư giải: Một tay vỗ chẳng nên kêu.

 

Tụng:

Nghiêm nghị đàng hoàng,

Muôn pháp chủ trương.

Băm hai tướng hảo?

Muôn ngàn chủng quang.

Thánh, phàm chiêm ngưỡng,

Ngoại đạo qui hàng.

Chớ rằng Phật Tổ không trông thấy,

Ở tại Kỳ Viên đại đạo tràng.

4.-ÂM :

Nhĩ thời, Thế Tôn thực thời chước([70]) y trì bát.

NGHĨA :

Khi ấy, gần đến giờ ăn của đức Thế Tôn, Ngài bèn mặc y, mang bát.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Nhĩ thời :thuở ấy.

Phật là bực tôn trọng trong ba cõi, nên xưng là Thế Tôn.

Ba cõi là: "Dục giới", "Sắc giới", "Vô Sắc giới".

Lý Văn Hội giải: Nhĩ thời: là thuở Phật ra đời.

Thế Tôn: Trong ba cõi, bốn loài không có trí huệ, phước đức nào sánh bì cho kịp. Thiệt là đáng tôn trọng của cả thảy thế gian.

Thực thời : là chánh lúc sắp sửa bữa ăn ngọ.

Chước y: là đắp cái y Nhu hòa nhẫn nhục.

Tăng Nhược Nột giải: Trong Kinh "Tỳ La Tam Muội" có nói: "Buổi sáng là bữa ăn của chư Thiên; chánh giờ ngọbữa ăn của chư Phật; chiều và tối là bữa ăn của các dị loại cùng quỉ thần".

Nay nói Thực thời là chánh thức trước giờ ngọ, trong buổi đi xin ăn.

Sớ Sao giải: Chước là đắp cái y "Tăng già lê", tức là Đại y hai mươi lăm điều ([71]).

Trì bát là bưng cái bát của Tứ Thiên Vương dưng cúng.

Kinh Di Giáo giải: Mặc đồ đáng hổ thẹn, đối với sự trang nghiêm là đúng bực nhứt.

5.- ÂM :

Nhập Xá Vệ đại thành khất thực.

NGHĨA :

Vào đại thành nước Xá Vệ xin ăn.

 

Giải : Tăng Nhược Nột giải: Chùa ở ngoài thành, cho nên nói: Vào.

Lý Văn Hội giải: Khất thực là muốn khiến các thầy Tỳ Khưu đời sau chẳng tích tụ tiền của châu báu.

6.- ÂM :

Ư kỳ thành, trung, thứ đệ khất dĩ.

NGHĨA :

Ở trong thành, cứ theo thứ lớp mà xin.

 

Giải - Tăng Nhược Nột giải: Chẳng bỏ nghèo theo giàu không chê hèn tìm sang, lòng Đại từ bình đẳng, không có chọn lựa, cho nên nói: Thứ lớp.

Lý Văn Hội giải: Thứ đệ là lòng từ bi của Như Lai, chẳng lựa nghèo giàu, bình đẳng khắp độ.

7.-ÂM :

Huờn chí bổn xứ, phản tự cật ([72]) thâu y bát, tẩy túc dĩ.

NGHĨA :

Về đến chỗ ở; dùng cơm xong, đoạn cất y bát, rửa chơn rồi .

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Đi xin ăn rồi trở về, cho nên nói: Về chỗ ở.

Ăn cơm xong, cất y bát là cất áo Ca sa cùng bình bát rồi sau mới rửa chơn, là bởi Phật đi chơn không (Không đi giày).

Lý Văn Hội giải: Tẩy túc dĩ"Tịnh thân nghiệp".

8.- ÂM :

Phu tòa nhi tọa.

NGHĨA :

Lên pháp tọa mà ngồi .

 

Giải : Nhan Bính giải: Phu sắp đặt, sắp đặt "Pháp tọa" mà ngồi.

Trí Giả Thiền sư giải :

Tụng:

Pháp, Ứng, Hóa ba thân,

Chẳng ăn uống tự nhiên.

Thường từ bi, bác ái,

Vì lợi ích Nhơn, Thiên.

Cất áo ngơi lao lự,

Rửa chơn sạch bụi duyên.

Lý "Tam không" muốn chứng,

Ngồi kiết già tham thiền.

 

Sớ Sao giải: "Tam không" là ba thể luân chuyển đều không.

Người thí, người thọ thí và vật thí là ba cái thể luân chuyển.

Người thí hồi tưởng cái chơn như bổn thể vốn không, chẳng có một vật chi, cho nên nói: Lý không.

Người thọ trí hồi tưởng cái sắc thân không phải chơn tướng, cái phương pháp không tên lâu dài; thân còn chẳng có, vật đâu mà thọ lãnh; cho nên nói: Thọ không.

Kẻ thí, người thọ thí đã là không - Hai bên đều không lòng vọng thí, vật thí cũng tự không, cho nên nói: Vật không.

Ấy là: Tam luân thể không.

Lý Văn Hội giải: Phu tọa nhi tọa là cả thảy pháp đều không.

Xuyên Thiền Sư giải: Cho rành nó.

 

Tụng:

Ăn cơm xong xả, rửa chơn rồi,

Nghiêm nghị ra nói Pháp tọa ngồi.

Có biết những văn sau đó tả?

Đất bằng gây nổi trận phong lôi.

 

CHƯƠNG HAI

9.- ÂM :

Thời Trưởng lão Tu Bồ Đề

NGHĨA :

Khi ấy, Trưởng lão Tu Bồ Đề

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Thời : là thuở ông Không Sanh (Tu Bồ Đề) khởi sự hỏi Phật.

Trưởng lão là tuổi cao đức lớn.

Tu Bồ Đề Giải Không (Rõ lý không).

Vương Nhựt Hưu giải: Trưởng lão là tuổi cao hơn hết trong hàng đại chúng.

Tăng Nhược Nột giải: Tu Bồ Đề: là Không Sanh, Thiện Kiết, Giải Không, Thiện Hiện Tôn giả.

Khi mới sanh ông ra, trong nhà đều trống không (Không Sanh).

Có thầy coi tướng đoán rằng: Tướng trẻ này rất lành, rất tốt (Thiện Kiết).

Sau ông tỏ đặng pháp "Không" (Giải Không).

Ứng với lời thầy tướng đoán khi trước (Thiện Hiện).

Tăng Liễu Tánh giải: Cái tánh Tu Bồ Đề người người đều có. Bằng người nào tỏ thấu cái tánh vắng lặng mới gọi "Giải Không"; trọn đặng tánh không, thiệt là Bồ Đề; mới gọi "Tu Bồ Đề"; cái tánh không ấy sanh ra muôn pháp, mới gọi "Không Sanh"; cái tánh không, tùy cơ duyên mà ứng hiện, lợi người lợi vật, mới gọi "Thiện Hiện"; muôn hạnh trọn lành, mới gọi "Thiện Kiết".

Tùy đức mà ứng hiện, nên mới cưỡng danh năm tên ấy.

10.-ÂM :

Tại đại chúng trung, tức tùng tọa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước ([73]) địa, hiệp chưởng cung kỉnh nhi bạch Phật ngôn: "Hy hữu Thế Tôn!".

NGHĨA :

Ở> trong hàng đại chúng, liền đứng dậy đến nơi pháp tòa, trịch y nửa thân bên vai hữu, quì gối hữu sát đất, chắp tay cung kỉnh mà bạch Phật rằng : "Như đức Thế Tôn ít có!".

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Ông Tu Bồ Đề tỏ pháp "Không" bực nhứt, cho nên đến hỏi Phật trước hết.

Hữu tất trước địa: là trước dứt sạch "tam nghiệp" diệt trừ thân tâm, sửa sang nghiêm chỉnhxưng tán Phật.

Hiệp chưởng : là Tâm hiệp với đạo, đạo hiệp với tâm.

Hy hữu : là Tánh Phật ta hay bao trùm muôn pháp, không chi sánh bằng.

Tăng Nhược Nột giải: Thiên đản : là tục người Tàu, khi chịu lỗi xin tội thì ở trần, còn bên Tây Vức thi lễ thì trịch áo nửa thân mình - Phong tục hai xứ không đồng nhau.

Hữu kiên :đệ tử hầu thầy, tỏ cái phép bưng xách hoặc làm công việc cho tiện.

Hữu tất trước địa : là trong kinh Văn Thù vấn Bát Nhã có nói: "Bên hữu là đạo chánh, bên tả là đạo tà. Dùng chánh bỏ tà sẽ cầu hỏi về cái hạnh chánh không tướng".

Vương Nhựt Hưu giải: Bạch: là kính thưa. Hy : là ít. Thế Tôn : là hiệu của Phật.

Trước than thở khen ngợi là ít có, rồi sau mới bạch Phật.

11.-ÂM :

Như Lai thiên hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phú chúc chư Bồ Tát.

NGHĨA :

Như Lai hay đoái tưởng các Bồ Tát, hay giao phó dặn dò các Bồ Tát .

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Như Lai : là hiệu Phật.

Phật sở dĩ gọi là Như Lai, là bởi "Chơn tánh", cũng kêu là "Chơn như". Vậy thì, "Như" tức là "Chơn tánh".

Chơn tánh sở dĩ gọi là "Như" đó, là bởi sự sáng của nó soi khắp cả vô lượng thế giới, không chi che lấp đặng. Còn sự tỏ thì thông cả thảy nhưng việc của vô lượng kiếp, không chi mà ngăn ngại đặng. Lại hay biến hiện, cũng làm cả thảy chúng sanh, không chỗ nào mà chẳng đặng. Vậy mới thiệt là "tự như" (muốn làm sao cũng đặng).

Còn nói "Lai" là Chơn tánh hay tùy chỗ mà hiện lại, cho nên nói: Như Lai.

Tánh Chơn như vốn không tới lui, mà nói là "Lai" là bởi nó ứng hiện tại đó, cho nên nói: "Lai" bằng có người chí thành cầu khẩn, thì có cảm ứng liền. Nếu muốn vì cả thảy chúng sanh, lập pháp dạy bảo, thì hiện sắc thân mà đến nơi ấy.

Phật, sở dĩ gọi là Như Lai đó cũng bởi Như như là bổn thể của Chơn tánh. Còn nói là Lai ứng dụng của Chơn tánh. Vậy thì, "Như Lai" là gồm đủ cả thể và dụng của Phật mà nói. Tóm lại kinh này thường nói Như Lai là vậy đó.

Tiếng Phạm nói Bồ Tát, vốn là Bồ đề tát đả. Muốn cho gọn câu văn và dễ xưng hô, nên nói tắt là Bồ Tát.

Bồ đề : là Giác, Tát đả : là Hữu tình. Hữu tình tức là chúng sanh. Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật; bởi có sanh phải có tình. Duy có bực Bồ Tát ở trong bọn hữu tình mà đặng tỏ ngộ mà thôi. Cho nên nói: Giác hữu tình.

Nói đại khái, hễ có tình thì có vọng tưởng. Bực Bồ Tát chưa dứt hết tình tưởng, duy có tu đến bực Phật mới dứt hết tình tưởng đặng. Cho nên Phật, riêng gọi là Giác, mà chẳng gọi là Hữu tình.

Phật nói: "Cả thảy chư Phật đều đặng giải thoát các lòng vọng tưởng, chẳng còn mảy mún chi". Cho nên nói: "Phật".

Phật lại nói: "Mười một bực Bồ Tát đều có hai thứ ngu si". Ngu si đó há không phải là cái tình vọng tưởng hay sao? - Vậy nên, Bồ Tát mới gọi là hữu tình, chớ chẳng đặng riêng gọi là Giác.

Trần Hùng giải: Bồ Tát : là người vâng giữ giáo pháp của Phật. Chư Bồ Tát : là chỉ hết đại chúng mà nói. Đại chúng nghe Như Lai thuyết pháp, rất nên tin tưởng kính vâng.

Thoảng như Phật chẳng mở lòng từ bi che chở, đoái tưởng, khiến cho tin tưởng pháp ấy, ắt bị loài ma dữ thừa dịp mà khuấy rối, và chẳng dạy bảo, khiến cho kính vâng pháp ấy, thì pháp mầu có khi phải dứt mất. Cho nên ông Tu Bồ Đề ở trong hàng đại chúng, trước khi nghe thuyết pháp, không còn lo chi khác hơn là cầu xin Như Lai mở lòng từ bi đoái tưởng, dạy bảo.

Lý Văn Hội giải: Như Lai: Như thì chẳng sanh, Lai chẳng diệt; chẳng phải tới, chẳng phải lui, chẳng phải ngồi, chẳng phải nằm, lòng hằng vắng lặng, rỗng rang thanh tịnh.

Thiện hộ niệm: là hay dạy các người, chẳng dấy lòng vọng niệm.

Chư Bồ Tát, chư : là chẳng phải một, Bồ: là soi, Tát: là thấy. Nghĩa là: soi thấy năm uẩn đều không - Năm uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Bồ Tát :Đạo tâm. Chúng sanh : là người thường giữ tánh cung kỉnh, cho đến các loài: có vảy, vỏ, cánh, lông, cùng loài dòi, trùng, dế, kiến, đều dấy lòng ái kỉnh, chẳng hề khinh dễ. Nên Phật thường nói các loài bò, bay, máy, cựa, đều có tánh Phật là vậy.

Thiện phú chúc : là mỗi niệm đều tinh tấn, chớ cho nhiễm chấp. Niệm trước vừa nhiễm, niệm sau liền giác ngộ, chớ cho nó tiếp tục nhau.

Xuyên Thiền sư giải: Như Lai chưa thốt một lời nào, cái gì mà Tu Bồ Đề lại thở than khen ngợi?

Có đủ "nhãn lực" hơn trong bọn, nên dùng "nhãn lực" mà xem.

Tụng:

Cách non thấy khói hay rằng lửa,

Khuất vách lò sừng vốn biết trâu.

Ngồi dưới trời trên trời sộ sộ,

Đông Tây hà tất bói khoa cầu.

12.-ÂM :

Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn, phát A nậu đa la tam miệu bồ đề tâm...

NGHĨA :

Bạch đức Thế Tôn! Như có trai lành, gái tín nào phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Thiện nam tử là người có lòng "chánh định". Thiện nữ nhơn : là người có lòng "chánh huệ". Nghĩa là nói cả thảy đều có lòng quyết đoán chắc chắn, hằng không lui sụt. Ấy là tỏ ra cái nghĩa "phát tâm".

A: Vô, là không có lòng ô nhiễm.

Nậu đa la: Thượng, là trong ba cõi không ai sánh bằng.

Tam: Chánh, là chánh kiến.

Miệu: Biến, là cả thảy các loài hữu tình, không chỗ nào là chẳng có; Bồ Đề : Tri,là biết cả thảy loài hữu tình đều có tánh Phật.

Vương Nhựt Hưu giải: A, Nậu Đa la Thượng, Tam Chánh, Miệu Đẳng, Bồ đề Giác.

A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là: Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức là "Chơn tánh, mà Chơn tánh tức là Phật".

Phật: Giác. Nói tắt là "Giác", mà nói rõ là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Chơn tánh không có chi trên đặng, nên nói: Vô thượng. Trên từ chư Phật, dưới đến loài bò, bay, máy, cựa, tánh ấy đều bình đẳng như nhau, nên nói: Chánh đẳng - Cái tánh giác ấy, viên mãn sáng soi không chênh, không kém, nên nói: Chánh giác.

Sở dĩ thành Phật là đặng cái tánh ấy. Bởi vậy mới siêu thoát đặng ba cõi, chẳng còn luân hồi nữa.

Tăng Nhược Nột giải: Bồ Tát trước khi tu hành đều có phát lòng rộng lớn như vậy cả.

13.-ÂM :

Vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?

NGHĨA :

Nên trụ thế nào? Nên hàng phục cái vọng tâm thế nào?

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Ưng : là nên, Vân: là nói; Vân hà : là nói làm sao (Thế nào). Vân hà ưng trụ : là nên trụ chỗ nào.

Vân hà hàng phục kỳ tâm : là nên hàng phục cái vọng tâm thế nào.

Tăng Nhược Nột giải: Tu Bồ Đề có hỏi hai điều:

1. - Chúng sanh phát lòng Vô thượng, muốn cầu pháp Bát Nhã, thế nào là trụ đặng chỗ đế lý (lý chắc)?

2. - Hàng phục cái vọng tâm, thế nào mà diệt trừ đặng sự hoặc loạn?

Những lời nói trong bộ kinh này, đều chẳng ngoài cái lý "hàng trụ" ấy.

Lý Văn Hội giải: Vân hà hàng phục kỳ tâm: là ông Tu Bồ Đề gọi kẻ phàm phu vọng niệm, phiền não không ngằn. Vậy phải nương pháp chi mà điều đình và hàng phục cho đặng?

Xuyên Thiền Sư giải: Lời hỏi ấy, bởi đâu mà ra?

Tụng:

Ngươi vui ta chẳng vui

Ngươi thẹn ta không thẹn,

Ải Bắc thẩn thơ nhàn;

Ổ xưa rù quến én,

Xuân hoa thu nguyệt ý không ngằn,

Mình biết lấy mình lãnh noản.

14.-ÂM :

Phật ngôn: Thiện tai! Thiện tai! Tu Bồ Đề như nhữ sở thuyết: Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phú chúc chư Bồ Tát...: Nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết.

NGHĨA :

Phật khen: Đáng khen cho! Đáng khen cho! Tu Bồ Đề này! Theo lời Ông nói: Như Lai hay đoái tưởng các Bồ Tát, hay giao phó dặn dò các Bồ Tát... Vậy nay ông hãy lóng nghe. Ta đáng vì ông mà nói.

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Như nhữ sở thuyết: là Phật khen ông Tu Bồ Đề hay biết ý Phật, khéo dạy mọi người chẳng dấy vọng niệm lòng hằng tinh tấn, chớ cho nhiễm chấp các pháp tướng.

Đế thính : Đế cũng kêu là liễu (tỏ). Ông phải tỏ thấu "thinh trần", xưa nay chẳng sanh, chớ chấp theo tiếng nói; phải xét cho kỹ rồi sẽ nghe theo.

Vương Nhựt Hưu giải: Đế : là xét, là nói: nghe cho chín chắn.

15.-ÂM :

Thiện nam tử, thiện nữ nhơn, phát A Nậu Đa La Tam miệu tam bồ đề tâm, ưng như thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm. Dủy nhiên Thế Tôn! Nguyện nhạo dục văn.

NGHĨA :

Như trai lành, gái tín nào phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ như vậy, nên hàng phục cái vọng tâm như vậy. Vâng, vâng, bạch đức Thế Tôn! Con nguyện hết lòng muốn nghe .

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Ưng như thị trụ: là Như Lai muốn khiến cái lòng chúng sanh, chẳng sanh chẳng diệt, rỗng rang thanh tịnh mới thấy tánh đặng.

Hàng Cư sĩ giải:

Tụng:

Người đời trọng của báu,

Ta quí sát na tịnh.

Của báu rối lòng người,

Tịnh rồi hẳn thấy tánh.

 

Tiêu Diêu Ông giải: Lòng phàm phu động mà tối tăm, lòng Thánh nhân tịnh mà sáng suốt.

Lại nói: Kẻ phàm phu nào tâm cảnh thanh tịnh, là cõi tịnh của Phật, còn tâm cảnh uế trược, là cõi trược của ma.

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Kẻ phàm phu phần nhiều bị cảnh ngại lòng, sự ngại lý, hằng muốn trốn cảnh an lòng, bỏ sự theo ; đâu biết tại lòng ngại cảnh, lý ngại sự, chớ kỳ thiệt: Lòng không cảnh mới không, lý dứt sự mới dứt. Chẳng nên dụng tâm trái ngược như thế.

Lại nói, kẻ phàm chấp cảnh, người trí chấp lòng. Lòng, cảnh đều không, mới thiệt chơn pháp. Quên cảnh còn dễ, quên lòng rất khó. Người bằng chẳng dám quên lòng, e sa về chỗ "không", hết nơi tìm kiếm; chớ chẳng biết cái không vốn chẳng phải không trong ấy hẳn có một cái chơn pháp giới.

Kẻ phàm phu đều theo cảnh sanh lòng, mới có sự vui chán. Bằng muốn không cảnh thì phải không lòng. Lòng không thì cảnh mới không, cảnh không thì lòng mới dứt. Bằng chẳng không lòng, cứ lo trừ cảnh, cảnh đã chẳng trừ đặng, mà càng lại càng thêm rối rắm là khác.

Muôn pháp chỉ tại nơi tâm, mà tâm chẳng có chi mà đặng. Đã không chi đặng mới thiệt là rốt ráo. Hà tất phải bo bo mà cầu giải thoát?

Như thị hàng phục kỳ tâm : Bằng thấy đặng tự tánh tức là không vọng niệm. Đã không vọng niệm tức là hàng phục cái tâm.

Dủy : là vưng dạ; nhiên: là hiệp ý. Nguyện nhạo dục văn : là lòng vui mừng, muốn nghe pháp.

Trần Hùng giải: Dủy: là dạ, nhiên: là phải vậy.

Nhan Bính giải: Phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm: là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Ưng: là nên, trụ : là còn hoài chẳng dứt.

Ông Tu Bồ Đề hỏi Phật: Như có trai lành gái tín nào mộ đạo, phát lòng Bồ Đề, phải làm thế nào mà đặng còn hoài chẳng dứt? Làm thế nào mà hàng phục cái vọng tâm?

Phật bảo: Đáng khen cho! Là đáng khen! - Ấy là lời thở than khen ngợi. Phát lòng Bồ Đề nên trụ như vậy.... nên hàng phục cái tâm như vậy... Như vậy là chỉ cái việc ấy.

Dủy nhiên: là lời "vưng dạ" của ông Tu Bồ Đề, so cùng lời dạy của thầy Tăng chẳng khác ([74]).

Nhạo : là ưa muốn, là ưa muốn nghe nói pháp.

Trí Giả Thiền Sư giải:

 

Tụng:

Ít có ai như Phật,

Đạo mầu tột Niết Bàn.

Thế nào là phục trụ,

Pháp ấy rất gian nan.

nhị nghi huyền diệu,

Giáo tam thắng ([75]) rộng khoan.

Đáng khen nghe phải lòng,

Lục tặc khó che ngăn.

 

Xuyên Thiền Sư giải: Thường thường cái việc chi cũng bởi sự dặn dò cặn kẽ mà ra.

 

 

 

Tụng:

Bảy tay, tám chơn.

Mặt quỉ, đầu thần,

Chặt mấy không rã.

Đã hoài không vàng.

Lắm lúc múa men trên thế giới.

Bổn lai chẳng khỏi điện Không vương.

CHƯƠNG BA

16.-ÂM :

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Chư Bồ Tát Ma ha tát ưng như thị, hàng phục kỳ tâm".

NGHĨA :

Phật bảo Tu Bồ Đề: " Các đại Bồ Tát, nên hàng phục cái vọng tâm như vậy".

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Ma ha tát là lớn. Tâm lượng rộng lớn, không thể so lường, là người rất tỏ ngộ.

17.-ÂM:

Sở hữu nhứt thế chúng sanh chi loại.

NGHĨA :

Bằng có cả thảy các loại chúng sanh.

 

Giải : Lục Tổ giải: Nhứt thế: là tóm góp.

Sau này sẽ có phân riêng chín loại.

Vương Nhựt Hưu giải: Phàm có sanh, đều gọi là chúng sanh. Trên từ chư Thiên, dưới đến loài xủng động ([76]) đều chẳng khỏi có sanh, cho nên nói: Cả thảy chúng sanh. Chúng sanh tuy vô số vô cùng, nhưng chẳng ngoài chín loài. (Bài sau có giải).

Lý Văn Hội giải: Chúng sanh : là cả thảy: Lành, dữ, phàm, Thánh, còn lòng chấp bỏ, dấy sanh vô lượng vô biên phiền não, vọng tưởng, luân hồi trong lục đạo.

 

Cổ Đức có nói:

 

Hoa giác tốt tươi ít kẻ trồng

Lửa lòng ung đốt hằng ngày nhúm.

 

Là nói những người mê muội chịu các sự phiền não, lại hớn hở an vui, vốn chẳng phải người tỏ đạo, có khác chi là hình cây tượng gỗ.

Hoặc hạng người trung căn, cho phiền não là khổ, thì trí huệ ấy cũng không bằng ngu si; như vậy không phải là lầm hay sao?

Chớ nên chứa để nơi lòng. Bằng không như thế, học đạo để dùng vào đâu? Thiệt chẳng ích chi cho mình. Phải lấy sức trí huệ mà thắng nó mới đặng.

18.-ÂM :

Nhược noãn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hóa sanh; nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng.

NGHĨA :

Hoặc sanh trứng, sanh con, sanh chỗ ướt, hóa sanh, hoặc có sắc, không sắc, có tư tưởng, không tư tưởng, chẳng phải có tư tưởng, chẳng phải không có tư tưởng.

 

Giải : Lục Tổ giải :

 

Loài sanh trứng là loài mê tánh;

Loài sanh con là loài tập tánh;

Loài sanh chỗ ướt là loài theo tà tánh;

Loài sanh hóa là loài theo thú tánh,

 

Bởi mê nên gây các nghiệp, bởi tập nên hay dời đổi, bởi theo đen nên lòng chẳng định, bởi theo thú nên đọa vào A tỳ (Địa ngục).

Lấy tâm mà tu tâm, thì vọng sanh phải quấy. Chẳng tỏ đặng cái lý không tướng, cho nên nói: Hữu sắc.

Lòng giữ ngay thẳng, chẳng làm việc cung kỉnh cúng dường, chỉ rỏ lòng ngay tức là Phật, chẳng tu phước huệ, cho nên nói Vô sắc.

Chẳng tỏ lý Trung đạo, mắt thấy, tai nghe, thì để ý suy nghĩ, ưa chấp pháp tướng, miệng thì nói hạnh Phật, mà lòng chẳng làm theo, cho nên nói: "Hữu tưởng".

Người mê ngồi thiền, tính bề trừ vọng, chẳng học đạo từ, bi, hỷ, xả, trí huệ phương tiện, cũng như cây đá không có tác dụng, cho nên nói: "Vô tưởng".

Chẳng chấp cả hai pháp tướng (hữu tưởng, vô tưởng) cho nên nói: "Phi hữu tưởng". Lòng còn cầu lý, cho nên nói: "Phi vô tưởng" ([77]).

Vương Nhựt Hưu giải: Nhược noãn sanh, lớn như chim cánh vàng (Kim sí điểu); cho đến nhỏ như loài rận, rệp.

Nhược thai sanh: Lớn như voi, sư tử; bực trung như người; nhỏ như mèo, chuột.

Nhược thấp sanh: Như cá, trạnh, ba ba, cua đinh, cho đến các thứ vi trùng trong nước.

Nhược hóa sanh: Như sâu, bọ trong các thứ gạo, bắp, trái, hột, ở cõi Thiên, nhơn, địa ngụchóa sanh ra.

Bốn loài trên đây, đều gọi là chúng sanh ở cõi "Dục giới".

Nhược hữu sắc: Sắc là sắc thân, là chỉ các hàng Thiên nhơn, từ cõi Sơ thiền Thiên cho đến cõi Tứ thiền Thiên, tuy có sắc thân, mà không có hình nam hay nữ. Đã hết tình dục, nên gọi "Sắc giới".

Nhược vô sắc: Là chỉ các Thiên nhơn cõi "Vô sắc giới", cao hơn cõi Tứ thiền Thiên - duy có tánh linh, không có sắc thân, nên gọi "Vô sắc".

Nhược hữu tưởng: Là chỉ các Thiên nhơn cõi trời "Hữu tưởng", Thiên nhơn ấy không có sắc thân duy có tánh tưởng niệm mà thôi, từ đây trở lên, đều gọi "Vô sắc giới".

Nhược vô tưởng: Là chỉ các Thiên nhơn cõi trời "Vô tưởng", cao hơn cõi trời "Hữu tưởng", một niệm lặng lẽ chẳng động, nên nói: "Vô tưởng".

Nhược Phi hữu tưởng Phi vô tưởng: Là chỉ các Thiên nhơn cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng, cao hơn cõi trời Vô tưởng, một niệm vắng lặng chẳng động, nên nói Phi hữu tưởng. Song chẳng phải cây đá mà không có tưởng, nên nói: Phi vô tưởng. Cõi trời này, sánh với ba cõi kia, thì lại cao tột hơn, còn người thì sống rất lâu, chẳng những tám muôn kiếp mà thôi.

Lý Văn Hội giải: Nhược noãn sanh là bởi còn tham chấp cái vô minh, nên bị sự tối tăm nó bao phủ.

Thai sanh : là bởi xúc động cảnh trần nên mới sanh lòng tà vậy,

Thấp sanh: là vừa dấy ác niệm, liền đọa vào tam đồ ([78]); cũng vì vậy mà mắc phải tham, sân, si.

Hóa sanh : là cả thảy phiền não vốn thiệt không căn, dấy lòng vọng tưởng, thì thoạt nhiên mà có.

Kinh Giáo Trung có nói: "Cả thảy chúng sanh, tánh vốn cụ túc, tùy nghiệp mà chịu quả: Tại cái nhân vô minh nên sanh trứng; tại phiền não bao trùm nên sanh con; tại tùy các loại ưa muốn dầm thấm, nên sanh chỗ ướt; tại hay khởi ra phiền não, nên sanh hóa.

Lại nói: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, nếu hồi quang soi lại, mà còn chỗ tham lậu, thì phải đọa vào bốn loài: thai, noãn, thấp, hóa.

Sắc, thinh, hương, vị, nếu hồi quang soi lại, mà không chỗ tham lậu thì chứng đặng bốn quả A La Hán.

Ông Phó Đại Sĩ có làm lời tụng:

Không sanh vừa khởi hỏi Phật cảm ứng phân bày.

Trước dạy trụ như thế, Sau khuyên tu cách này.

Noãn, thai cùng thấp, hóa Phương tiện động từ bi.

Bằng chấp mê tà kiến, Thì trụ tướng chẳng sai.

Hữu sắc: là kẻ phàm phu, lòng còn chấp có, vọng sanh phải quấy, chẳng tỏ cái lý "không tướng".

Vô sắc: là chấp trước cái tướng "không", chẳng tu phước huệ.

Hữu tưởng : là mắt thấy, tai nghe, liền sanh vọng tưởng, miệng thì nói hạnh Phật, mà lòng chẳng làm theo.

Vô tưởng: là ngồi thiền trừ vọng, cũng như cây đá, chẳng học đạo từ bi, trí huệ, phương tiện.

Phi hữu tưởng, như Kinh Giáo Trung nói: "Có không đều dứt, nói, nín thảy quên". Bằng có lòng chấp bỏ, ghét thương, thì chẳng tỏ lý Trung đạo.

Ông Lâm Tế Thiền sư có giải: Vào phàm, vào Thánh, vào nhiễm, vào tịnh, chốn chốn hiện ra các quốc độ, đều là các pháp tướng "không", vậy mới thiệt là thấy rõ lý chơn chánh. Bằng ai còn yêu Thánh, ghét phàm, thì hãy còn nổi chìm trong biển sanh tử.

Phi vô tưởng : là còn có lòng cầu lý.

19.-ÂM :

Ngã giai linh nhập Vô dư Niết bàn nhi diệt độ chi.

NGHĨA :

Ta đều khiến cho đặng rõ lý Vô dư Niết bàn (giải thoát) mà diệt độ.

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Ngã : Phật tự xưng, giai : là gồm, linh : là khiến, nhập : là tỏ thấu, Vô dư : là chơn thường vắng lặng.

Kinh Pháp Hoa có nói: "Phật sẽ vì trừ dứt, khiến thảy chẳng còn dư...".

Niết bàn : là lòng Bồ Tát không còn chấp bỏ, ví như mặt trăng tròn vo êm lặng. Còn chúng sanh bởi mê về pháp "Niết bàn không tướng", nên mắc phải cái thân sanh tử có tướng.

Diệt : là trừ dứt; độ: là hóa độ.

Lục Tổ giải: Như Lai chỉ rõ trong ba giới, chín cõi đều có sẵn cái lòng "huyền diệu Niết bàn" khiến cho tự mình tỏ ngộ lấy.

 

Vô Dư : là không còn cái tập khí ([79]) phiền não.

Niết bàn: viên mãn, thanh tịnh khiến cho dứt hết cả thảy tập khí chẳng sanh nữa, thì mới hạp với lý ấy.

Độ : là đưa qua biển lớn sanh tử.

Lòng Phật bình đẳng, nguyện cùng với cả thảy chúng sanh: đồng tỏ ngộ cái lý Vô tướng Niết bàn viên mãn thanh tịnh; đồng độ qua khỏi biển lớn sanh tử, đồng chứng quả với chư Phật.

Muôn sự phiền não sai biệt nhau, đều bởi lòng ô nhiễm, mới có thân hình vô số, đều gọi chung là chúng sanh. Cái lòng đại bi phổ hóa của Như Lai, đều khiến cho đặng rõ lý Vô dư Niết bàn diệt độ cả.

Trong Chứng Đạo Ca có nói: "Kẻ ngộ đồng lên nẻo Niết bàn".

Chú giải: Niết bàn : là chẳng sanh chẳng diệt. Niết: là chẳng sanh, bàn : là chẳng diệt, tức là nẻo "Vô sanh".

Ông Xung Ứng Chơn Nhơn, Châu Sử Khanh, lúc luận đàm cùng ông Bất Thác Hòa thượng, có chỉ khói nhang mà nói: "Muốn rõ Hữu dư Niết bàn của người học đạo, hãy coi tro trong lư thì biết. Còn muốn rõ Vô dư Niết bàn của người học đạo, hãy coi tro trong lư đã bay đi hết thì biết".

Vương Nhựt Hưu giải: Niết bàn: là Vô vi.

Kinh Lăng Già có nói: "Niết bàn là chỗ thanh tịnh, chẳng chết chẳng sống; cả thảy các bực tu hành đều nương về đó". Vậy thì, Niết bàn là chỗ để siêu thoát nẻo luân hồi, xa lìa đường sanh tử. Thiệt là chỗ rất nhiệm mầu, chớ chẳng phải gọi là chết. Người đời không rõ lý ấy, nên nhận lầm là chết, thiệt rất sai lầm.

Vô dư Niết bàn tức là Đại Niết bàn là nói ngoài Niết bàn này lại không còn chi dư nữa, cho nên nói: Vô dư Niết bàn.

Bài này nói chín loại chúng sanh, trong các thế giới của bài trước đã giải, đều hóa độ cho đặng làm Phật và chứng đặng Niết bàn cả.

20.-ÂM :

Như thị diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, thiệt vô chúng sanh đắc diệt độ giả .

NGHĨA :

Diệt độ chúng sanh vô lượng vô số vô biên như vậy, nhưng thiệt chẳng có chúng sanh nào mà đặng diệt độ cả.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Cả thảy chúng sanh đều bởi trong nghiệp duyênhiện ra.

Hễlàm nghiệp duyên người, thì sanh làm người.

Tu nghiệp duyên cõi Trời, thì sanh về cõi Trời.

Tạo nghiệp duyên súc sanh, thì sanh làm súc sanh.

Gây nghiệp duyên địa ngục, thì sanh ở địa ngục.

Chín loài chúng sanh, như bài trên đã nói, thì không chi là chẳng phải bởi nghiệp duyên mà sanh ra. Vốn thiệt không có chi gọi là chúng sanh cả, nên Bồ Tát phát tâm hóa độ cho, đều đặng thành Phật, đồng chứng Niết bàn, chớ thiệt không có một chúng sanh nào nhờ cái pháp Niết bàn cả.

Tăng Nhược Nột giải: Trong cái nghĩa bực nhứt ([80]) thì không có chúng sanh nào độ đặng, tức là tâm thường trụ.

Bằng thấy có độ đặng, tức là còn sanh diệt. Cũng bởi cả thảy chúng sanh, bổn lai ([81]) vốn là Phật; thì có chúng sanh đâu mà độ? Cho nên nói:

Chơn pháp giới bình đẳng,

Phật không độ chúng sanh.

Trần Hùng giải: Trong cái "tánh" đã sẵn có trí huệ Đại thừa, nhưng chúng sanh chẳng hay tự tỏ ngộ lấy.

Phật, thiệt mở đường tỏ ngộ cho chúng sanh vô lượng vô số vô biên; khiến cho những chúng sanh trong lòng còn các sự ngu si tà kiến, phiền não thảy đều diệt độ. Diệt độ rất nhiều như vậy, sao lại nói: Không có chúng sanh nào đặng diệt độ?

- Là bởi để về phần chúng sanh, tự tánh tự độ lấy, chớ Phật ta nào có công chi.

Trong kinh Bảo Đàn, Lục Tổ có nói: "Tự tánh tự độ, gọi là chơn độ".

Kinh Tịnh Danh có nói: "Cả thảy chúng sanh, bổn tánh sẵn diệt độ, chẳng cần phải diệt độ nữa".

Văn Thù Bồ Tát hỏi Phật: "Thế nào là thiệt không có chúng sanh nào đặng diệt độ?".

Đáp: "Tánh vốn thanh tịnh, chẳng sanh chẳng diệt, nên không có chúng sanh nào đặng diệt độ cả, cũng không có Niết bàn nào mà đến cả; đều để về phần chúng sanh tự tánh tự độ lấy mà thôi".

Kinh Hoa Nghiêm có nói:

 

Bằng ai muốn tỏ biết,

Cả thảy Phật ba đời,

Hồi quang tánh Pháp giới,

Gây việc bởi lòng người.

 

Bài kệ trong Tạo Hóa Nhơn Tâm có nói:

 

Nghiệp duyên bởi tại lòng.

Ảnh hưởng nào sai chạy.

Tạo hóa vốn không làm,

Quần sanh tự tạo lấy.

 

Lý Văn Hội giải: Vô lượng vô số vô biên chúng sanh : là khởi ra vô lượng vô số vô biên lòng phiền não.

Đắc diệt độ là đã tỏ ngộ, thì lòng không chấp bỏ, cả thảy phiền não đổi làm diệu dụng, cho nên nói: "Không có chúng sanh nào đặng diệt độ cả".

Kinh Bửu Tích có nói:

 

"Người khôn cùng khổ lạc.

Chẳng động tợ hư không".

 

Tiêu Diêu Ông giải: Thường hay xem xét tánh phiền não vốn không, việc đã qua rồi thì thôi, chớ nên lưu ý.

Lại nói: Tánh phiền não vốn không, chớ nên nghi ngại, phải coi như mộng huyễn, không cần chú ý. Dầu cho cái tình còn động, có khác nào cái tiếng dội kia, dội rồi liền dứt.

 

21.-ÂM :

Hà dĩ cố ? - Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ Tát.

NGHĨA :

Bởi cớ sao ? - Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát mà có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, thì chẳng phải là Bồ Tát .

 

Giải : Lục Tổ giải: Người tu hành cũng có bốn tướng.

1. - Lòng có năng sở, mà khinh dễ chúng sanh ngã tướng.

2. - Ỷ mình là người giữ giới, khinh kẻ phá giới nhơn tướng.

3. - Nhàm chán cái khổ của ba đường ([82]) muốn sanh về các cõi TrờiChúng sanh tướng.

4. - Lòng muốn sống lâu mà cầu tu nghiệp phước, chấp pháp chẳng quên là thọ giả tướng.

Có bốn tướng ấy tức là chúng sanh; không bốn tướng ấy tức là Phật.

Tăng Nhược Nột giải: Ngã tướng : là bởi cái lục thức ([83]) của mình nối nhau chẳng dứt. Trong ấy lại chấp "có ta", hiểu như thế, là chấp theo bề trong, cho nên nói: "Ngã tướng".

Nhơn tướng: là ngoài cái cảnh lục đạo ([84]) kêu chung là người, các cảnh ấy mỗi thứ còn có chấp trước, phân biệt, hơn thua; có đây, có kia. Hiểu như thế là chấp theo bề ngoài, cho nên nói: "Nhơn tướng".

Chúng sanh tướng : là bởi cái tâm thức, trước hết nhờ tinh cha huyết mẹ, rồi tiếp theobốn ấm: Sắc, thọ, tưởng và hành hòa hiệp lại, cho nên nói: Chúng sanh tướng.

Thọ giả tướng: là kể cho mạng căn một đời của ta chẳng dứt, cho nên nói: "Thọ giả tướng".

Trần Hùng giải: Tham, sân, si, ái là bốn nghiệp dữ.

Tham thì hay vì việc "riêng của mình, ấy là có ngã tướng ".

Sân thì hay phân biệt người ta, ấy là có nhơn tướng.

Si thì ngang ngược, chẳng kỉnh nhường, ấy là chúng sanh tướng.

Ái thì trông mong cho đặng sống lâu, ấy là thọ giả tướng.

Như Lai chẳng chấp có độ chúng sanh, mà cho là có công. Rốt lại cũng chẳng có chi là "Sở đắc", là bởi đã dứt hết bốn tướng.

Kinh Viên Giác có nói: "Chưa trừ dứt bốn tướng, chẳng đặng quả Bồ đề".

Bồ Tát phát lòng cầu đạo Vô thượng Bồ đề, thọ giáo pháp "Không tướng" của Như Lai, há còn có bốn tướng sao? Nếu còn có một tướng nào, thì ắt dấy lòng chấp có độ chúng sanh, tức là kiến thức của chúng sanh, chớ chẳng phải là Bồ Tát. Bồ Tát cùng chúng sanh, tánh vốn chẳng khác; ngộ thì chúng sanhBồ Tát, thì Bồ Tátchúng sanh; cũng bởi mê, ngộ bốn tướng ấy mà thôi.

Hà dĩ cố là lời biện luận. Phật e cho các Bồ Tát chẳng tỏ cái lý "không tướng của chơn không", vì vậy nên mới biện luận đến bốn tướng ấy.

(Trong phần thứ 17 và 25 cũng đều nói như vậy).

Nhan Bính giải: ([85]):Nhứt thế chúng sanh: Kinh Niết Bàn có nói: "Thấy đặng tánh Phật, chẳng gọi là chúng sanh, không thấy đặng tánh Phật, thì gọi là chúng sanh".

Ma ha: Đại, là Phật gọi ông Tu Bồ Đề cùng các bực Đại giác tánh.

Hoặc loài sanh trứng, sanh con, sanh chỗ ướt, sanh hóa, là loài xuẩn động hàm linh (bò, bay, máy, cựa) có hình sắc, không hình sắc, có tình tưởng, không tình tưởng, cho đến chẳng thuộc hai cảnh có không; chúng sanh hình thể tuy chẳng đồng, nhưng chơn tánh vốn không có khác.

Chín loài chúng sanh ấy, Phật đều khiến cho tỏ lý Vô dư Niết bàn diệt độ cả.

Niết bàn: Chẳng sanh gọi là Niết, chẳng tử gọi là bàn.

Trong kinh có nói:

 

"Như Lai chứng Niết bàn.

Bặt dứt đường sanh tử".

 

Diệt độ: diệt dứt cả thảy phiền não, độ qua khỏi biển khổ sanh tử.

Linh : là khiến, là Phật đều khiến cho tỏ ý Vô dư Niết bàn.

Vô dư: Bực La Hán, tuy chứng đặng Niết bàn, nhưng hãy còn dư thân trí, nên nói: Hữu dư Niết bàn. Đến bực không còn dư thân trí, mới gọi: Vô dư Niết bàn.

Thiệt vô chúng sanh đắc diệt độ giả chúng sanh đã tỏ ngộ bổn tánh vắng lặng rồi, lại còn diệt độ cái gì nữa! Nếu như bổn tướng mà chưa đặng bấy giờ trừ dứt thì đâu phải là bực Bồ Tát giác tánh?!

(Chỗ này ông Nhan Bính có dẫn bài tụng của ông Phó Đại Sĩ, song đã có đăng nơi đệ thứ hai, đoạn Trường hàng số 18, nên không đem vào đây).

Lý Văn Hội giải: Ngã tướng : là ỷ mình có danh vị, quyền thế, giàu cótài năng, ưa cầu thân cùng bực cao sang, mà khinh bỉ những người hèn dốt.

Nhơn tướng: là chấp lòng năng sở ; chấp lòng tri giải, chưa đặng nói đặng, chưa chứng nói chứng; ỷ mình giữ giới khinh kẻ phá giới.

Chúng sanh tướng: là có cái lòng hy vọng, hoặc nói chánh làm tà, miệng lành lòng dữ.

Thọ giả tướng: là trong lúc hiểu tợ hồ như "ngộ" nên đối cảnh sanh tình, chấp trước các tướng, mong cầu sự phước lợi.

Có bốn tướng ấy thì đồng với chúng sanh, chẳng phải là Bồ Tát.

Lâm Tế Thiền sư giải: Trong cái thân điền ([86]) ngũ uẩn có vị "Vô vị Chơn nhơn" ([87]), sộ sộ rõ ràng sao chẳng biết dùng? Ấy vậy mỗi giờ chớ cho hở dứt, thì trước mắt đều là đó (xúc mục giai thị).

Bởi tình sanh nên trí mới khác, vì vọng tướng nên thể mới riêng. Vậy nên phải luân hồi trong ba cõi, mà chịu các điều thống khổ.

Dám hỏi các người: "Trước mắt đều là đó, mà đó là cái chi?".

 

Mỗi mỗi non sông nào trở ngại.

Trùng trùng lầu các mặc kinh doanh.

 

Xuyên Thiền sư giải: Đội trời đạp đất, mũi thẳng mắt ngang.

Tụng:

 

Sờ sờ đạo cả,

Chói chói rõ ràng.

Người người sẵn đủ,

Kẻ kẻ hoàn toàn.

Bởi chưng sai một niệm,

Hiện tượng cả muôn ngàn.

 

 

CHƯƠNG TƯ

22.-ÂM :

Phú thứ, Tu Bồ Đề!

NGHĨA :

Lại nói tiếp: Tu Bồ Đề này!

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Phú thứ là biên tiếp thêm lời vấn đáp của Phật cùng Tu Bồ Đề. Ấy là lời của người viết kinh nói.

Nhan Bính giải: Phú thứ : là lại nói tiếp.

Lý Văn Hội giải: Phú thứ: là tiếp thêm bài trước, khởi ra lời sau.

23.-ÂM :

Bồ Tát ư pháp ưng vô sở trụ, hành ư Bố thí.

NGHĨA :

Bồ Tát làm việc Bố thí, theo phép, thì không có chỗ trụ .

 

Giải : Sớ Sao giải: Ưng vô sở trụ: Ưng: là nên, vô sở trụ: là lòng chẳng nên chấp trước.

Lý Văn Hội giải: Bồ Tát ư pháp : là nên cả thảy pháp "không tướng".

Ưng vô sở trụ :không chấp trước cả thảy các pháp.

Kinh Pháp Hoa có nói: "Trong mười phương quốc độ. Chỉ có pháp Nhứt thừa". ([88])

"Ấy gọi là tâm. Tâm tức là pháp, pháp tức là Tâm".

Hạng người trong hai bực thừa ([89]) chẳng hay tỏ ngộ, nói ngoài tâm riêng có pháp, lại sanh điều chấp trước theo pháp tướng.

Ấy là kiến giải đồng với chúng sanh.

Ông Tiêu Diêu Ông có giải: Kẻ phàm phu chẳng biết tự mình là Phật, chỉ cầu ở ngoài, chấp tướng mê chơn, phân biệt cảnh khác, chẳng vì giúp ích cho đạo, chỉ mong phước lợi, ví như tên bắn trên không, người vào chỗ tối.

Ông Cu Chi Hòa Thượng, hễ gặp ông Tăng nào đến hỏi đạo, thì đưa lên một ngón tay. Vậy nên Phật Giám Thiền sư có lời tụng:

 

Chẳng khả dụng tâm kiếm ở ngoài,

Trong tiêu tức đó có do lai,

Báo tin Đạt Mạ Tây thiên lại,

Chỉ tại Cu Chi một ngón tay.

 

Bồ Tát thì ngộ đặng "nhơn, pháp" đều không, lòng không chấp bỏ, rõ thấu Thánh phàm một bực, sắc không một loài, lành dữ một thể.

Long Tế Hòa Thượng giải:

 

Tụng:

Tâm, cảnh chẳng còn sanh,

Sắc, không mới hiểu rành,

Bổn lai như muốn rõ,

Ở nước biển non xanh.

 

Ấy là lòng của Bồ Tát không còn chi trụ trước.

Hành ư bố thí: Bố nghĩa là khắp; thí nghĩa là tản ra. Là nói dứt hết bốn tướng: "Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả" cùng cái lòng phiền não, vọng tưởng, chấp bỏ, ghét thương.

Đức Thế Tôn dùng giáo phápbố thí, trong thì diệt trừ cả thảy chấp trước, ngoài thì lợi ích cho cả thảy chúng sanh.

Bồ Tát bố thí không nên trụ trước, chẳng thấy có "ta" là người bố thí, chẳng thấy có "người" là kẻ thọ thí, chẳng thấy có "vật" là của tín thí. Ba thể đều không, trụ "chỗ không trụ". Thanh tịnh bố thí ; chẳng sợ mình nghèo, chẳng trông trả ơn, chẳng cần phước báu.

Kẻ phàm phu bố thí, vọng cầu phước lợi. Ấy là bố thí trụ tướng.

Vĩnh Gia Đại Sư giải:

 

Cầu phước nhơn, thiên mà bố thí.

Như tên bắn bổng giữa hư không

 

Tiêu Diêu Ông giải: Như người tụng kinh Kim Cang này, mà tỏ đặng lý: Trụ cái tâm không chỗ trụ, đặng cái pháp không chỗ đặng; ấy là tu Huệ nghiệp.

Bằng người mỗi ngày có công đọc tụng, mà vọng cầu phước lợi; ấy là tu phước nghiệp.

Hai điều ấy, cách nhau rất xa, như trời với vực vậy.

Kinh Pháp Hoa có nói: "Như đời sau có người đọc tụng kinh này, mà chẳng còn tham muốn những đồ ăn uống, y phục mền chiếu, là vật để nuôi sự sống, thì cái sở nguyện mới là chẳng uổng".

Trương Vô Tận giải: Phàm người học đạo, chẳng nên để ý về sự ăn no, mặc ấm, cốt yếu tại nơi cầu pháp Vô thượng Bồ đề là pháp xuất thế gian. Bằng cho việc ấy là không vừa ý mà hờn lòng, chỉ lo về sự ăn mặc thì có ích chi?

24.-ÂM :

Sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp bố thí.

NGHĨA :

Là nói: Chẳng trụ sắc mà bố thí, chẳng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí ([90]).

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Sắc: là hình sắc; thinh :âm nhạc; hương: là hơi hám; vị:mùi vị; xúc :nam nữ tình dục, cảm xúc; pháp: là so lường suy nghĩ. Phương pháp ấy là dạy bảo chúng sanh chẳng cho mê chấp sáu trần.

Trần Hùng giải: Kinh Ma ha Bát Nhã có nói: "Mắt biết sắc, tai biết tiếng, mũi biết hơi, lưỡi biết mùi, thân biết trơn láng, mềm mỏng, ý biết phương pháp".

Lại trong Sám Pháp có nói: "Mắt nhiễm sắc, tai nhiễm tiếng, mũi nhiễm hơi, lưỡi nhiễm mùi, thân nhiễm mịn màng mềm mại, ý nhiễm phương pháp, nên gây ra cả thảy nghiệp".

Đây nói " trụ" nghĩa là sự biết và sự nhiễm.

Kẻ phàm phu sáu căn chẳng tịnh, nên tham chấp sáu điều ấy cho vừa ý muốn, ấy là sáu trần. Có một điều nào trong căn, trần mà chưa vừa, thì cũng bố thí mong cầu cho đặng. Ấy là bố thí trụ tướng.

Bồ Tát vưng giáo pháp "Không tướng" của Như Lai, không cầu sái sự ưa muốn, không chấp lòng hay bố thí, chỉ dùng pháp mà bố thí, lợi ích cả thảy chúng sanh, như nước lưu thông trong đất. Chẳng có chi ngăn ngại. Ấy là bố thí không trụ tướng.

Kinh Hoa Nghiêm có nói:

 

"Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp,

Cả thảy "lục căn" chẳng vọng sanh,

tế độ chung cho chúng loại,

Trí "Vô thượng tối thắng" thường hành".

Ấy là làm việc bố thí.

Kinh Hoa Nghiêm, cuốn thứ 24 cũng có nói: "Nhãn thức biết cả thảy các thứ sắc; nhĩ thức biết cả thảy các thứ thinh; tỹ thức biết cả thảy các thứ hương; thiệt thức biết cả thảy các thứ vị; thân thức biết cả thảy các thứ xúc; ý thức biết cả thảy các thứ pháp".

Kinh Thiên Địa Bát Dương có nói: "Nhãn thường thấy cả thảy vô tận sắc; nhĩ thường nghe cả thảy vô tận thinh; tỹ thường ngửi cả thảy vô tận hương; thiệt thường nếm cả thảy vô tận vị; thân thường cảm giác cả thảy vô tận xúc; ý thường tư tưởng cả thảy vô tận pháp".

Như trong hai hiệu kinh ấy đã nói: "Cả thảy các thứ thinh, và cả thảy vô tận thinh". Mà ông Vương chỉ nói thinh là âm nhạc, thì e lỗi về sự nê chấp theo âm nhạc?

Lại nói: Cả thảy các thứ xúc, và cả thảy vô tận xúc, mà ông Vương chỉ nói xúc là nam nữ tình dục, thì e lỗi về sự nê chấp theo nam nữ tình dục?

Trương Vô Tận giải: Bất trụ sắc bố thí là tánh trí huệ soi thấy cả thảy đều không.

Đàn na: là kẻ bố thí.

Bực Bồ Tát có chấp sắc đâu mà bỏ.

Gọi là bố thí là như thuốc đối với bịnh, không đối với có. Có cùng bịnh đã trừ, không với thuốc đều bỏ. Sắc, không đã dứt, Trung đạo đâu còn, thì có pháp chi mà đặng?

Hai bực thừa (Nhị thừa) bỏ sắc chấp không, mà cho là bố thí chẳng trụ sắc.

Trong kinh của Huyền Trang Pháp sư dịch, có nói: "Không trụ sắc, không trụ chẳng phải sắc,thinh, hương, vị, xúc, pháp một cách như nhau". Cho nên không, có thảy đều không trụ. Nghĩa là: Có cái không đâu mà chấp, có cái đâu mà bỏ! Không, có vốn đồng một thể bình đẳng. Bình đẳngbố thí mới là đặng tánh Pháp giới (Lý tánh của Chơn như).

Chẳng chấp có bố thí, chẳng chấp không bố thí, hai bên có không đừng cho ngăn ngại, lòng bố thí rộng lớn cũng như hư không, thì đặng công đức lại cũng như vậy. Cho nên trong kinh này, lấy mười phương hư khôngso sánh cùng phước bố thí cũng là ý đó.

Ông Phó Đại Sĩ có lời tụng :

 

Pháp môn của lục độ, Gồm sáu hạnh ba đàn,

Vô húy, tư sanh, pháp, Tu trì giới luật toàn;

Hai bên đều chẳng lập, Trung đạo cũng không an.

Tìm lý "Vô sanh nhẫn" Kíp trừ vọng phản quang.

 

Bất trụ thinh :thanh tịnh không ngăn ngại.

Thi la: là giới.

Hai bực thừa lầm tưởng: Thinh là do sắc sanh ra, mới theo thinh trần mà phân biệt. Nghe vui thì mừng, nghe buồn thì thương; muốn bỏ thinh mà chấp không thinh, lại cho là giới.

Bồ Tát có thinh đâu mà bỏ? Nếu cho có sắc, thì thinh do đó mà sanh, sắc đã vốn không, thì thinh do đâu mà có? Bằng đã ngộ đặng lý ấy, tuy ở trong vòng sanh tử, mà sanh tử chẳng ràng buộc đặng, ở trong cảnh lục trầnlục trần cũng không ô nhiễm đặng; dầu ở nơi nào, chốn nào, lòng cũng vẫn thường thanh tịnh.

Tụng:

Trì giới đặng thanh tịnh, Kiếp vô lượng tạo nhân,

Vọng tâm như oán tặc, Tham ái, tợ Sâm Thần ([91])

Chỗ dục không mê dục, Ở trần chẳng nhiễm trần,

Nương theo Ly Cấu Địa ([92]) Ắt chứng Pháp vương thân (Phật).

Bất trụ hương : là thấy sắc mà vẫn thanh tịnh.

Sằn đề :nhẫn nhục.

Hai bực thừa vọng sanh nhẫn nhục, bởi e phạm về chấp trước, nên muốn lánh xa, lại cho là nhẫn nhục. Như vậy là bỏ sắc chấp không, chẳng tỏ lý Trung đạo, đâu biết đặng hương trần là vốn không.

Bồ Tát, nhẫn cũng không nhẫn, nhục cũng không nhục, chỉ để tự tánh cho thanh tịnh, chẳng sanh lòng khởi diệt, nên tâm địa mới là tỏ ngộ.

Cho nên Cổ Đức có nói : "Kẻ sĩ minh tâm tỏ như gương sáng, thâu rút các hình, không chi ngăn ngại, hàm dung sự thanh tịnh, bao la, không bờ không bực.

Lại có lời tụng:

 

Cảnh nhục như sừng thỏ Nhẫn tâm tợ huyễn phao,

Dụng công phu chớ trễ, Điều khổ nạn liền tiêu.

Chi quấy mà chi phải? Chẳng hèn cũng chẳng cao.

Giặc tham sân muốn dứt, Lấy trí huệ làm đao.

 

Bất trụ vị là nói tánh chúng sanh cùng tánh Như Lai vốn không phân biệt.

Tỳ ly da: là tinh tấn.

Tỏ đặng cái căn của lưỡi vốn không, là chẳng chấp vị.

Cho nên nói: Ăn những món chi, ví như uống thuốc, dầu ngon hay dở, chớ khá khen chê.

Ông Triệu Pháp sư có nói: "Hội đủ muôn pháp đem về nơi mình, chỉ có bực Thánh nhơn mà thôi".

Ông Triều Thái Phó có nói: "Cả thảy phàm phu đều là mê muội, bằng có kẻ nào hồi tâm tín ngưỡng, tìm xét lý mầu cho tâm địa sáng suốt, ấy là mê mà đặng ngộ".

Ông Kỉnh Sơn Quả Thiền sư có nói: "Phật với chúng sanh tướng vốn không khác, chỉ vì mê ngộ, nên khác nẻo, đường".

Ông Huỳnh Nghiệt Thiền sư có nói về: "Trí thực và thức thực: "Thân tứ đại có sự đáng lo là: Đói với đau. Tùy phận mà cấp dưỡng, chẳng chấp trước, nên nói trí thực; có tình ưa đắm mùi ngon, vọng sanh lòng phân biệt, chỉ toan đẹp miệng, chẳng biết chán nhàm, nên nói thức thực".

Hai bực thừa, tuy chẳng chấp các mùi ăn uống, nhưng còn chấp các mùi đạo pháp, lại lấy làm chỗ tham chấp đó mà cho là tinh tấn.

Lòng Bồ Tát đối với pháp tướng, như chiêm bao, huyễn hoặc; gặp duyên thì thí, qua rồi thì thôi.

Kinh Viên Giác có nói: "Soi tỏ các tướng như chốn hư không, ấy gọi là Như Lai tùy sự thuận lợi mà giác tánh".

Ông Phó Đại Sĩ có lời tụng:

 

Bởi tánh huệ cần tu, Chứng thành địa thứ tư.

(Diệu huệ địa)

Tục, chơn đâu có thiệt, Nhơn pháp thảy đều hư.

Cao hạ không tham chấp, Nhân duyên hãy diệt trừ.

Hồi quang đừng giải đãi, Chẳng những đến Vô dư.

 

Bất trụ xúc là nói lòng không chấp bỏ: trong đó Bồ đề đâu mà chấp, ngoài có phiền não đâu mà bỏ.

Thiền na : là tịnh lự (dứt lo).

Hai bực thừa nhận cái xúc làm sắc thân:

 

Như sắc thân mà có, Xúc trần mới tính trừ.

Sắc thân nguyên chẳng có, Xúc lại có bao giờ?

Hựu: Tỏ lý xúc không sanh, Uổng công toan chẳng chấp.

Bao nhiêu những pháp môn. Vốn có chi là pháp?

 

Lục Tổ có nói: "Cả thảy muôn pháp đều bởi tâm sanh, tâm chẳng chỗ sanh thì pháp không chỗ chấp".

Ông Thái Dương Thiền Sư có lời tụng:

 

Thái Dương pháp thiền, Mỗi bữa liên miên.

Luôn luôn không dứt, Xúc mục là duyên.

Bằng hay đặng vậy, Pháp pháp hiện tiền.

 

Ông Phó Đại Sĩ có lời tụng:

 

Sông thiền cơn phẳng lặng, Sóng tịnh nước đều bình.

định tâm liền giác, Không lo, tánh ắt linh.

Y tha do vọng khởi, Biến kế hẳn hư danh,

Bằng rõ thông nguyên lý, Nghĩa viên thành mới minh.

 

Bất trụ pháp là soi thấy thân tâm, pháp tướng đều không.

Bát Nhã: là trí huệ.

Các pháp thuộc ý, ý thuộc thức, thức ấy là vọng.

Trong kinh Kim Cang Tam muội có nói: "Cảnh giới thấy đó chẳng phải bổn thức của ta".

Hai bực thừa phân biệt các tướng đều là vọng thức, thì bổn thức lại có đâu mà đặng!

Bồ Tát tỏ thấu cái bổn thức đã rốt ráo, nên mới không phân biệt.

 

Ông Phó Đại Sĩ có lời tụng:

 

Huệ đăng dường mặt nhựt, Năm uẩn tợ thành Càn([93])

Sáng tối thường xen lẫn, Xưa nay thấy rõ ràng.

Chấp nên chưa dứt vọng, Nhơn ngã hẳn còn mang.

Dùng trí hồi quang lại, Hư danh sẽ tỏ tường.

 

Lời tụng chung sáu pháp Ba la mật :

 

Ba kiếp đại tăng kỳ ([94]), Tu muôn hạnh chỉnh tề.

Ngã nhơn nay đã ngộ, Thánh đạo cử theo về.

Lý "nhị không" ([95]) lần tỏ, Hạnh "tam muội" ([96]) chẳng nghi.

Ở an nơi cảnh đẹp, Thong thả có lo chi?

 

Lâm Tế Thiền sư giải: Phật có pháp Lục thông là:

1.- Đến chỗ sắc chẳng bị sắc nhiễm.

2.- Đến chỗ thinh chẳng bị thinh nhiễm.

3.- Đễn chỗ hương chẳng bị hương nhiễm.

4.- Đến chỗ vị chẳng bị vị nhiễm.

5.- Đến chỗ xúc chẳng bị xúc nhiễm.

6.- Đến chỗ pháp chẳng bị pháp nhiễm.

 

Bởi tỏ thấu sáu thứ ấy đều là không tướng, nên nó không thể ràng buộc đặng. Vậy mới gọi là người hành đạo không nhơ nhiễm. Tuy là còn cái thân ngũ uẩn uế trược, nhưng cũng chứng đặng bực Địa Hạnh Bồ Tát.

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Vốn một điểm tinh minh chia sáu căn hòa hiệp. Một điểm tinh minh là một cái tâm, sáu cái hòa hiệp là sáu căn. Căn đều hiệp với trần:

 

Nhãn hiệp với sắc, Nhĩ hiệp với thinh;

Tỹ hiệp với hương; Thiệt hiệp với vị;

Thân hiệp với xúc; Ý hiệp với pháp.

 

trung gian sanh ra sáu thức, cộng là 18 giới. Bằng tỏ đặng 18 giới ấy, cả thảy đều không. Thân sáu thứ hòa hiệp làm một tinh minh, thiệt là người tỏ ngộ; chỉ còn có cái chơn tâm rỗng rang thanh tịnh mà thôi.

25.-ÂM :

Tu Bồ Đề, Bồ Tát ưng như thị bố thí: bất trụ ư tướng.

NGHĨA :

Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy: Chẳng nên trụ tướng .

 

Giải : Lục Tổ giải: Bố thí mà cái tâm không trụ tướng chẳng chấp là có bố thí ; chẳng thấy có vật bố thí, chẳng phân biệt người thọ thí, cho nên nói: Bố thí không chấp tướng.

Tăng Nhược Nột giải: Ưng như thị bố thí :là chỉ về sáu trần. Bất trụ tướng bố thí là chẳng chấp các tướng của sáu trần. Bằng bố thíchấp tướng thì chỉ có đặng phước báu nhơn thiên mà thôi.

Lý Văn Hội giải: Bồ Tát ưng như thị bố thídiệt trừ cả thảy các lòng phiền não ghét thương; nhưng bổn tánh phiền não đều là "vọng kiến", thì có chi đâu mà bỏ?

Trong Kinh có nói: Cả thảy các cái "có" đều như chiêm bao huyễn hoặc, cả thảy các cái "không" đều là giặc là ma.

Tiêu Diêu Ông giải: Tánh phiền não cảnh giới của Phật. Phải quán tưởng tánh phiền não vốn không, mới thiệt là người tu hành học đạo.

Bằng nương theo pháp quán tưởng, làm cho chín chắn, thì chẳng cần cầu pháp chi khác nữa.

Vả chăng người kiến tánh, trong mười hai giờ, phàm gặp cảnh thuận nghịch, lòng vẫn an vững tự nhiên, chẳng đổi dời theo muôn cảnh. Dầu người mắng nhiếc, ta vẫn như không, thì những lời ác ấy trở lại cho người. Cho nên nói: "Ai làm nấy chịu".

Ví như có người cầm đuốc mà toan đốt trời, càng thêm mệt nhọc, nào có ích chi!

Vậy nên Cổ Đức có nói:

 

Lòng theo muôn cảnh chuyển,

Lý chuyển rất nên mầu.

Tùy hạng người viên giác,

Chẳng vui cũng chẳng rầu.

26.-ÂM :

Hà dĩ cố? Nhược Bồ Tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lương.

NGHĨA:

Bởi cớ sao? Nếu Bồ tát bố thí chẳng trụ tướng, thì phước đức không thể so lường đặng.

 

Giải : Sớ Sao giải: Hà dĩ cố :tỏ ý hỏi- Bố thí vốn để cầu phước, nay bảo chẳng chấp tướng, là ý làm sao? - Phật tự đáp: "Như Bồ Tát bố thí chẳng chấp tướng, thì phước đức không thể so lường đặng". Bằng thông cái lý ba thể chuyển luân đều không mới gọi là bố thí chẳng chấp tướng.

Bất trụ : là lòng chẳng chấp hữu vi.

Trần Hùng giải: Đức Thế Tôn có đáp cùng ông Văn Thù rằng: "Thí của là người phàm, thí pháp là bực Thánh".

Kẻ phàm phu bố thí dùng bảy báu đầy cả tam thiên thế giới, đặng mà cầu phước. Ấy là thí tàibố thí trụ tướng.

Vả lại làm như vậy, là mong cho đặng phước báo nhơn thiên, khi hưởng hết rồi, thì cái kiếp luân hồi cũng chẳng khỏi. Bực Bồ Tát bố thí, chỉ một lòng thanh tịnh lợi ích cho cả thảy chúng sanh, đặng bực đại thí chủ thí pháp. Ấy là bố thí không trụ tướng.

Tuy chẳng cầu phước, mà tự nhiên lìa khỏi cái khổ sanh tử, hưởng đặng sự khoái lạc: Siêu thoát ba cõi, tự tại muôn đời. Cho nên nói: Phước đức vô hạn, không thể so lường bàn nghĩ đặng.

Phật thương chúng sanh đời mạt thế, mắc phải sáu trần ô nhiễm, chưa dễ gì hóa độ cho đặng, nên mới dùng cái thuyết phước đức vô hạn mà khuyến nhủ, cho mau tỏ ngộ về hội Pháp thí.

Kinh Duy Ma có nói: "Nên làm hội Pháp thí, chớ chẳng cần làm hội tài thí".

Nhan Bính giải: Trụ chấp trước. Bồ Tát đối với Phật pháp thì nên bố thí không chấp trước. Bố thí xả thí, là chẳng trụ sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp bố thí. Sáu điều ấy, gọi là sáu trần: nhãntham sắc, nhĩ tham thinh, tỹ tham hương, thiệt tham vị, tình trần đối với nhau gọi là xúc, tham trước hữu vi gọi là pháp. Bổn tánh vẫn thanh tịnh vốn không sáu căn, thì sáu trần do đâu mà có? - Cho nên Phật nói: "Nên phải bố thí như thế, chẳng đặng trụ tướng". Bằng bố thí không trước tướng, thì phước đức sánh tày chốn hư không không thế so lường đặng".

Lý Văn Hội giải: Bất trụ ư tướng là chẳng phải duy có thứ sắc thấy đó mới là tướng, cho đến các thứ phân biệt, cũng đều gọi là tướng cả. Các tướng ấy đều bởi nhân duyên mà sanh ra. Phải biết cả thảy thứ phân biệt đều như mộng huyễn, gặp duyên thì thí duyên qua rồi thì thôi. Cho nên Phật nói: "Phàm chỗ nào có tướng đều là hư vọng".

Lại ông Tây Minh Hòa Thượng có nói:

 

Pháp tướng, bằng như có, Mới cho rằng trụ tướng.

Pháp tướng vốn là không, Nên rằng không trụ tướng,

 

Bố thí đã không trụ tướng, thì phước đức lại làm sao mà so lường đặng?

Tiêu Diêu Ông giải: Phải biết các pháp như chiêm bao, như huyễn hoặc, như bóng, như tiếng dội, như trăng dưới nước, như bóng trong gương.

Lại nói: Tỏ thấu cả thảy pháp, chẳng chấp cả thảy tướng; lòng như hư không tự nhiên, không ngăn ngại. Nếu lòng còn trụ tướng thì thuộc về chấp pháp. Cho nên biết cả thảy pháp không trụ cả thảy tướng, mới thấy đặng tánh Phật.

 

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

 

Không tầm mà bố thí Công đức khó so lường.

Tế độ người nghèo thiếu, Nghĩa nhơn chớ tính bàn.

Hạng phàm phu thấp thỏi Hay cổ võ khoe khoang,

Muốn rõ hình đàn thí, Hư không khắp thập phương.

 

Xuyên Thiền sư giải: Muốn đi khắp thiên hạ, chẳng chi bằng "Nhứt nghệ tinh".

Tụng:

Gấm tốt xứ Tây Xuyên,

Thêm hoa mới vẹn tuyền.

Muốn tin cho chắc chắn,

Bắc đẩu phía Nam xem.

Trống không chẳng vướng ly hào niệm.

Bởi thế nên xưng "Đại Giác Tiên".

27.-ÂM :

Tu Bồ Đề ! Ư ý vân hà? Đông phương hư không khả tư lương phủ?- "Phất dã, Thế Tôn !". - "Tu Bồ Đề! Nam, Tây, Bắc phương tứ duy thượng, hạ hư không, khả tư lương phủ?". - "Phất dã, Thế Tôn!". - "Tu Bồ Đề! Bồ Tát vô trụ tướng bố thí, phước đức diệc phục như thị, bất khả tư lương. Tu Bồ Đề ! Bồ Tát đản ưng như sở giáo trụ".

 

NGHĨA :

Này Tu Bồ Đề ! Ý ông thế nào? Hư không phương Đông, có so lường đặng chăng?- "Bạch đức Thế Tôn ! Chẳng đặng".- "Tu Bồ Đề! Còn như hư không phương Nam, phương Tây, phương Bắc bốn hướng bên cạnh, phương trên và phương dưới, có so lường đặng chăng?".- "Bạch đức Thế Tôn ! Chẳng đặng".- "Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà chẳng trụ tướng, thì phước đức lại cũng như vậy; không thể so lường đặng. Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên trụ theo chỗ ta dạy đó". (TRỤ CHỖ KHÔNG TRỤ)

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Phất dã Thế Tôn: là ông Tu Bồ Đề nói cõi hư không, ta suy nghĩ, thiệt không thể so lường đặng. Bất khả tư lương : là đã giác ngộ rồi, lòng không "năng sở" tức không có bốn tướng: Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, thì có chi đâu mà so lường! Đản ưng như sở giáo trụ: là những người học đạo phải y theo lời Phật dạy, trụ chỗ " không trụ" thì sẽ đặng tỏ ngộ.

Tạ Linh Vận giải: Lời Thánh không sai, lý chẳng khá bỏ, nên phải an tâm mà vưng theo lời dạy của Phật.

Trần Hùng giải: Phật bảo: Nên trụ theo chỗ ta dạy đó, đồng một nghĩa với câu "Trụ vô sở trụ", trong kinh Hoa Nghiêm.

Pháp của Như Lai dạy Bồ Tát, không ngoài cái pháp "Trụ vô sở trụ", còn Bồ Tát chịu giáo pháp của Như Lai, không dám biến cải, chỉ phải y theo lời dạy là: Lấy pháp không trụ mà làm chỗ trụ.

Kinh Lăng Nghiêm có nói: "Trụ chỗ Bát Nhã Ba la mật ".

Kinh Văn Thù Bát Nhã có nói: "Phật hỏi ông Văn Thù Sư Lợi:

- "Nên làm thế nào mà trụ vào Bát Nhã Ba la mật?".

- "Dùng pháp không trụ là trụ Bát Nhã Ba la mật".

- "Thế nào pháp không trụ mà gọi là trụ Bát Nhã Ba la mật?".

- "Dùng pháp không trụ tướng tức là trụ Bát Nhã Ba la mật".

Vậy thì pháp trụ đã rõ ràng, không còn chi là chẳng phải cái ý nghĩa trụ chỗ không trụ.

Kinh Tam Muội có nói:

 

"Thuyết pháp của Như Lai, Lý "vô trụ" chẳng ngoài.

Ta tuân theo giáo lý, Mới thiệt kính tôn Ngài".

 

Nhan Bính giải: Tứ duybốn hướng góc: Như Đông Nam, Đông Bắc v.v... Bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn hướng góc thượng phương và hạ phương cộng chung là mười phương.

Phật hỏi: "Hư không của mười phương, có thể so lường đặng chăng?".

Tu Bồ Đề: "Không thế so lường đặng", là bởi không có chi lớn hơn hư không của mười phương, nên Phật mượn đặng ví dụ với phước đức.

 

Phó Đại Sĩ có nói:

Muốn biết hình đàn thí,

Hư không khắp thập phương.

Phật nói: "Bồ Tát bố thí không trụ tướng, phước đức lại cũng như cõi hư không ấy không thể so lường tính toán đặng. Bồ Tát phải theo chỗ chỉ dạy của Phật mà trụ. Phật dạy chỗ trụ đó, lộng lạc như cõi hư không của mười phương là: Trụ chỗ không trụ.

Xuyên Thiền sư giải: Đáng cho là biết lễ.

Tụng:

Hư không bổn thể lớn bao la,

Lý đạo lại càng quá thẫm xa.

Trăng gió năm hồ thường tự tại,

Chào xuân đua nở lập lòe hoa.

 


CHƯƠNG NĂM

28.-ÂM :

Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Khả dĩ thân tướng khiến Như Lai phủ?".

NGHĨA :

Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có nên dùng thân tướng mà cho là Như Lai chăng?".

 

Giải : Bảo Tích Như Lai giải: Chơn thân của Như Lai vốn không sanh diệt, rỗng rang hằng còn, nhưng mượn năm uẩn mà chịu sắc thân như người phàm, hầu có thuyết pháp hóa độ. Cũng nhập thần vào thai mẹ vậy; song, sánh với tướng phàm đều là khác, cho nên nói: "Bằng thấy các tướng chẳng phải tướng, tức rõ đặng Như Lai".

Tụng:

Tưởng phàm dầu diệt tánh còn hoài,

Thể giác Chơn như chẳng kém phai.

Tỏ lý "đoạn, thường" căn quả khác,

Mới rằng Phật, nhãn thấy Như Lai.

 

Vương Nhựt Hưu giải: Đây nói Như Lai là chơn tánh Phật.

Phật kêu ông Tu Bồ Đề mà hỏi: "Có nên dùng ba mươi hai tướng mà cho là Chơn tánh Phật chăng?".

 

 

29.-ÂM :

Phất dã, Thế Tôn! Bất khả dĩ thân tướng đắc kiến Như Lai.

NGHĨA :

Bạch đức Thế Tôn! Không. Không nên dùng thân tướng mà cho là Như Lai.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Ông Tu Bồ Đề trả lời: "Không". Rồi lại bạch cùng đức Thế Tôn: "Không nên dùng thân tướng mà cho là chơn tánh Như Lai". Vây thì, trước nói "không" là nói đại lược rồi sau mới nói rõ.

Lý Văn Hội giải: Bất khả dĩ thân tướng đắc kiến Như Lai : là ông Tu Bồ Đề nói: "Sắc thân thì có tướng, pháp thân thì không tướng". Sắc thân là đất, nước, lửa, gió, (địa, thủy, hỏa, phong) giả hiệp lại mà thành, Pháp thân là không hình dạng tướng mạo; sắc thân tức phàm phu, pháp thân tức Như Lai. Ông Tu Bồ Đề cho hạng phàm phu chỉ biết có sắc thân, chớ chẳng thấy đặng pháp thân, nên mới đáp như thế !

30.-ÂM :

Hà dĩ cố? - Như Lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng.

NGHĨA :

Bởi cớ sao? - Bởi Như Lai thường nói thân tướng, tức chẳng phải thân tướng.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Đây nói Như Laisắc thân của Phật.

Ông Tu Bồ Đề tự hỏi: "Bởi cớ sao chẳng nên dùng thân tướng mà cho là chơn tánh Như Lai?". Rồi tự đáp: "Như Lai thường nói: Thân tướng không phải là chơn thiệt". Cho nên nói: "Chẳng phải thân tướng" vì không có cái thân tướng chơn thiệt".

Lý Văn Hội giải: Như Lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng: Phi không sắc thân. Phàm phu gọi sắc thân là thiệt có, mới chấp trướctu hành, nên không thấy đặng tánh Phật; phải bị sanh tử luân hồi trở nên thâm trọng. Còn pháp thân của Như Lai, vốn không có tướng. Cho nên nói: "Thân tướng là chẳng phải thân tướng".

Kinh Hoa Nghiêm có nói:

 

"Phật lấy pháp làm thân.

 

Thanh tịnh như hư không"..

 

Cho nên ông Vân Môn Đại sư có nói: "Nếu khi đó mà ta gặp thì đập một roi cho chết, mà cho chó ăn". Ấy là người Đại thừa tiên giác, mở trói gở niêm, giải nghi phá chấp cho đời vậy.

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Người học đạo như muốn biết lẽ nhiệm mầu, chỉ có đừng chấp trước điều chi trong lòng thì đủ.

Pháp thân của chơn Phật cũng như hư không, nên nói Pháp thân tức hư không. Hư không tức Pháp thân. Người đời gọi Pháp thân khắp cả hư không, trong hư khônghàm súc Pháp thân, chớ chẳng biết Pháp thân tức là hư không, hư không cũng tức là Pháp thân.

Hư không cùng Pháp thân, tướng không khác; Phật cùng chúng sanh tướng không khác; sanh tử cùng Niết bàn tướng không khác; phiền não cùng Bồ đề tướng cũng không khác: "Lìa cả thảy tướng tức là chư Phật".

Xuyên Thiền sư giải: Nói thử coi, hiện nay đi, đứng, nằm, ngồi là tướng gì đó? Đừng ngủ gục!

Tụng:

Vào sông kiếm nước khéo cơ cầu!

Lên núi còn tìm núi ở đâu?

Yến nói oanh kêu cùng một cách,

Hỏi chi ba trước với ba sau.

31.-ÂM:

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng, phi tướng tức kiến Như Lai".

NGHĨA:

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Phàm chỗ nào có tướng đều là hư vọng. Bằng cho các tướng chẳng phải tướng tức rõ đặng Như Lai".

 

Giải : Trần Hùng giải: Ông Tu Bồ Đề muốn cho mỗi người đều tự thấy Phật tánh của mình. Vậy nên mới nói: "Là chẳng phải thân tướng".

Sắc thân là cái thể không có chơn thiệt của tướng, cho nên nói: "Đều là, hư vọng".

Pháp thân chẳng phải tướng, trong ấy chỉ có cái bổn thể của Chơn Như.

Bằng thấy các tướng chẳng phải tướng, là thấy trong sắc thân, trong tự tánhNhư Lai. Như Lai mà không cầu ở ngoài, thì mới thấy tự tánh.

Kinh Bảo Đàn có nói: "Phật tức là tánh, lìa tánh thì không còn Phật nào khác".

Nhan Bính giải: Phật hỏi: "Nên dùng thân tướng mà cho là Như Lai chăng?".

Ông Tu Bồ Đề đáp: "Chẳng nên".

Như Lai :tự tánh, chẳng phải có tới lui, còn sắc thân tứ đại, vốn bởi vọng niệm mà sanh ra. Bằng chấp lấy thân tướng hư vọng ấy, mà muốn rõ chơn tánh Như Lai, thì ví như nhận kẻ giặc làm con, hẳn không phải lẽ. Cho nên Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Phàm chỗ có tướng đều hư vọng, bằng thấy các tướng chẳng phải tướng, tức thấy Như Lai". Như biết hồi quang phản chiếu, thấy đặng thân tướng không có chi là tướng, thì mới rõ tự tánh Như Lai.

Lý Văn Hội giải: Phàm sở hữu tướng giai thị như vọng: Hư : là chẳng thiệt; vọng: là không chơn. Đã không chơn thiệt, thì tướng tức là chẳng phải tướng.

Lại nói : "Chẳng phải có một mình thân tướng của Phật, là chẳng phải tướng mà thôi. Phàm cái chi mà có tướng, cũng đều là hư vọng cả.

Sắc thân có tướng, nên nói là hư vọng; còn Pháp thân không có tướng, nên nói là chẳng phải tướng".

Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai, là nói: Tướng hư vọng tức là "Nhơn không"; chẳng phải tướng tức là "Pháp không". Bằng biết nhơn, pháp đều không thì rõ tự tánh.

Kinh Pháp Hoa có nói : "Tất cả các tướng, thảy đều vắng lặng". Lại nói: "Bực Bồ Tát xem các pháp tánh không có hai tướng cũng như hư không".

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Như Lai nói sắc thân, Phương tiện độ thời nhân.

E đọa vào không kiền, Nên quyền phải giả xưng,

 

Tướng băm hai có mấy? Hình tám chục không nhưng

Giác thể nguyên không thể, Không thân mới thiệt chân.

Xuyên Thiền sư giải: Núi là núi, nước là nước. Phật ở đâu?

Tụng:

 

Có tưởng sờ sờ là giả vọng,

Không hình bặt bặt tức thiên khô;

Đàng hoàng sộ sộ nào xen lộn;

Chói lói hào quang khắp thái hư.

CHƯƠNG SÁU

32.-ÂM:

Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh đắc văn như thị ngôn thuyết chương cú, sanh thiệt tín phủ?". Phật cáo Tu Bồ Đề: "Mạc tác thị thuyết: Như Lai diệt hậu, hậu ngũ bá tuế, hữu trì giới tu phước giả, ư thử chương cú năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thiệt".

NGHĨA:

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Như có chúng sanh nào đặng nghe những câu bài giảng giải như vậy, có sanh lòng tin thiệt chăng?". Phật bảo Tu Bồ Đề: "Chớ có nói lời ấy khi Như Lai diệt độ rồi, sau năm trăm năm sau ([97]) có kẻ nào trì giới tu phước, mà sanh lòng tin những câu bài ấy, thì lấy đó làm thiệt.

 

Trần Hùng giải: Kinh Hoa Nghiêm có nói:

 

"Tin, thiệt cội nguồn của đạo đức,

Vun bồi cả thảy những căn lành".

 

Kinh Trí Độ Luận có nói : Pháp pháp như biển cả, duy có sự tin mới đặng vào; bởi sự thiệt tín là cái thềm thang của thiệt đế.

Ông Tu Bồ Đề nghi chúng sanh chẳng sanh lòng thiệt tín, mới hỏi như vậy. Phật lại e ngăn ngại lòng thiệt tín của chúng sanh, nên bảo rằng: "Chớ nói lời ấy".

Tăng Nhược Nột giải: Trì giới là chẳng làm điều dữ, tu phước là vưng chịu những việc lành. Vả lại trì giới tu phước tức là gieo căn lành.

Lý Văn Hội giải: Đắc văn như thị ngôn thuyết v.v.. giải: Ông Tu Bồ Đề nói: Trước kia Phật đã nói: Bố thí không trụ tướng, tức là Nhân thâm, thấy đặng chơn tánh Như Lai, không có tướng, tức là Quả thâm, đã luận về "nhân quả", thế này không ai tin mà nghe theo, nên mới hỏi như vậy.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

 

Quả lớn bởi nhân thâm, Lý mầu nhiệm khó tầm.

Đến thời kỳ mạt kiếp, E đạo pháp tiêu trầm.

Thiện Hiện nghe chưa rõ. Nghĩa cao sợ phải lầm.

Bằng hai tin pháp ấy Mới thiệt bực minh tâm.

 

Hữu trì giới tu phước là: Không chấp trước các tướng, tức là trì giới, lòng hằng vắng lặng, không các vọng niệm, tức là tu phước. Người ấy chẳng bị các cảnh mê hoặc, mới sanh lòng tin chắc, lấy đó làm thiệt.

Từ Thọ Thiền sư giải:

 

"Niệm niệm thường yên lặng.

Hằng ngày có đại công".

 

Ấy là cái dấu bước của chư Phật ba đời, Tổ Sư lục đại làm cái công không có công, thì công ấy chẳng hư mất.

Xuyên Thiền sư giải: Phật vàng chẳng tự độ khỏi lò, Phật cây chẳng tự độ khỏi lửa, Phật đất chẳng tự độ khỏi nước.

 

Tụng:

Hình dung ba Phật đều không thiệt,

Ở trước con ngươi trước mắt người.

Biết đặng bổn lai là quí báu,

Mừng xuân chim hót đóa hoa cười.

33.-ÂM:

Đương tri thị nhơn, bất ư nhứt Phật, nhị Phật, tam, tứ, ngũ Phật, nhi chúng ([98]) thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở chúng chư thiện căn.

NGHĨA:

Nên biết người ấy, chẳng những là gieo căn lành trong một kiếp Phật, hai kiếp Phật, ba, bốn, năm kiếp Phật, mà đã gieo các căn lành, đến vô lượng ngàn muôn kiếp Phật rồi vậy.

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Bất ư nhứt Phật, nhị Phật là một kiếp thì một vị Phật ra đời - Chúng chư thiện căn là cả thảy việc lành của thế gian kể chẳng xiết; đại khái là chẳng làm các điều dữ, vâng chịu những việc lành.

Kinh Pháp Hoa có nói:

Phương tiện khéo tùy nghi, Không còn quái ngại chi,

Lòng hoan hỷ sốt sắng, Thành Phật hẳn đương thì.

 

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Nương người, (y tha) không tự lập,

Mượn cớ đặng làm ra,

Ác lặn cây không bóng,

Đèn soi sáng cả nhà.

 

Lục Tổ giải: Sao gọi là gieo các căn lành? Là đối với chư Phật phải một lòng cúng dường thuận theo giáo pháp, đối với các vị Bồ Tát, bực Thiện tri thức, Sư Tăng, cha mẹ, người tuổi cao đức lớn, và bực Tôn Trưởng, thường phải cung kỉnh cúng dường,vâng lời dạy bảo chẳng nên trái ý, ấy là gieo các căn lành. Đối với cả thảy chúng sanh nghèo khổ, dấy lòng thương xót, chẳng nên khinh bỉ, có yêu cầu điều chi, tùy sức mình mà tế độ, ấy là gieo các căn lành; đối với cả thảy kẻ hung dữ phải nhu hòa nhịn nhục, vui vẻ phụng thù, chẳng nên trái ý, đặng khiến kẻ ấy phải lòng hoan hỷ, dứt sự hung hăng, ấy là gieo các căn lành; đối với chúng sanh trong sáu đường chẳng có; sát hại, khi dễ, nhiếc mắng, chửi đánh cùng là ăn thịt, thường làm việc lợi ích cho chúng nó, ấy là gieo các căn lành.

Vương Nhựt Hưu giải: Sao gọi là gieo các căn lành?- Là lòng chí thành niệm danh hiệu của Phật, hoặc dưng một nén hương, hoặc lạy, hoặc dưng một vật chi mà cúng dường, đều gọi là gieo các căn lành.

Tăng Nhược Nột giải: Phải rõ đã gieo nhiều căn lành là thấy Phật nhiều, nghe pháp nhiều, mà tu hành lại cũng nhiều.

34.-ÂM:

Văn thị chương cú, nãi chí nhứt niệm sanh tịnh tín giả. Tu Bồ Đề: Như Lai tất tri tất kiến, thị chư chúng sanh đắc như thị vô lượng phước đức.

NGHĨA:

Nghe những câu bài ấy, cho đến nhứt niệm ([99]) sanh lòng tin chắc, thì Tu Bồ Đề này: Như Lai đều biết hết thấy hết, các chúng sanh ấy đặng cái phước đức vô lượng như vậy (gieo căn lành).

 

Giải - Lục Tổ giải: Lòng tin: làtin pháp Bát Nhã Ba la mật hay trừ cả thảy phiền não; tin pháp Bát Nhã Ba la mật hay thành tựu cả thảy công đức xuất thế gian; tin pháp Bát Nhã Ba la mật hay xuất sanh cả thảy chư Phật; tin chắc Phật tánh của tự mình Bổn Lai thanh tịnh, không có ô nhiễm, sánh với tánh của chư Phật bình đẳng như một; tin chắc chúng sanh trong sáu đường bổn lai không tướng; tin chắc cả thảy chúng sanh đều đặng thành Phật. Ấy mới là lòng "Tịnh tín".

Lý Văn Hội giải: Nãi chí nhứt niệm sanh tịnh tín là kẻ phàm phu ở trong các pháp, khởi sanh ra cả thảy điều tà kiến, lành, dữ, Thánh, phàm, có lòng chấp bỏ, mỗi mỗi đều là vọng niệm, nên không sanh lòng tịnh tín đặng. Còn Bồ Tát tỏ ngộ nhơn, pháp đều không, không các vọng niệm, lòng hằng thanh tịnh, tin nghe chánh pháp cho nên nói: Nhứt niệm sanh lòng tin chắc. Đắc như thị vô lượng phước đức Như Lai rõ biết chúng sanh không vọng niệm, lòng hằng thanh tịnh kính tin chánh pháp, sanh đặng trí huệ: Công đức cùng tột không thế so lường đặng.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

 

Tín tâm sanh một niệm, Chư Phật thảy tường tri.

Bằng trước tu nhân ấy, Ắt sau chứng quả ni.

Ba tăng kỳ đại kiếp, Sáu độ hạnh thường trì.

Gieo đặng nhân vô lậu, Đáng xưng bất khả tư nghì([100]).

 

Xuyên Thiền sư giải: Gieo giống cam thảo thì ngọt, gieo giống huỳnh liên thì đắng; làm nhân nào thì đặng quả nấy.

Lại nói: Trồng dưa đặng dưa, trồng đậu đặng đậu.

Tụng:

Một, hai vị Phật đến muôn ngàn.

Sống mũi nằm xuôi cặp mắt ngang,

Thuở trước đã từng gieo thiện lực,

Ngày nay mới đặng phước hoàn toàn.

 

Tu Bồ Đề! Tu Bồ Đề!!

Mặc áo, ăn cơm điều tiểu sự,

Sao còn riêng có chỗ nghi nan!!

35.-ÂM:

Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh vô phục ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng,thọ giả tướng,vô pháp tướng, diệc vô phi pháp tướng.

NGHĨA:

Bởi cớ sao? - Bởi các chúng sanh ấy không còn có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, không có tướng pháp cũng không có tướng phi pháp.

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Vô phục ngã nhơn v.v. là không ỷ thị: Danh vị, quyền thế, giàu có, tài năng, tinh tấn, trì giới mà khinh bỉ kẻ ngu dốt, nghèo hèn, lười biếng, phá giới; lại không có lòng năng sở trì giới, không có lòng tham cầu hy vọng; lời nóiviệc làm phù hạp với nhau - Vô pháp tướng, là trong kinh có nói: "Tâm sanh thì cả thảy pháp sanh, tâm diệt thì cả thảy pháp diệt, lòng đã thanh tịnh thì các pháp đều không". Cho nên không chấp bỏ cả thảy các pháp tướng, tà kiến lành dữ, Thánh phàm - Diệc vô phi pháp tướng không chấp lòng tri giải, không chấp lòng sở đắc, không nhơn, không pháp. Trong thì tỏ đặng thiệt tướng, ngoài thì ứng với hư duyên.

Triệu Pháp sư giải: Vô pháp tướng là rõ cái pháp chẳng phải có, để trừ lòng chấp có. Diệc vô phi pháp tướng là rõ cái pháp chẳng phải không, để trừ lòng chấp không.

Tăng Nhược Nột giải: Pháp tướng tà kiến về chấp có. Phi pháp tướng tà kiến về chấp không. Bỏ hết cái chấp hai bên, cho nên nói "không".

Viên Ngộ Thiền sư giải: Người khôn lanh, gót chân đạp sát đất, xương sườn xương sống cứng như sắt, dạo khắp thế gian, xem muôn vật đều giả dối, tự tâm làm chủ. Chẳng theo tình đời, dứt tuyệt ngã nhơn, bỏ hết tri giải; bấy giờ đặng thấy tánh, thành Phật. Trực chỉ cái diệu tâm làm thềm thang. Đến khi có làm việc chi, thì ngoài ứng theo hư duyên mà chẳng sa vào hang ổ. Rõ đặng một chút sự lâu dài, giữ thân tâm vắng lặng, vượt khỏi cảnh trần lao; đặng như vậy, thì đã lành mà lại thêm lành.

Xuyên Thiền sư giải: Tròn tợ Thái hư, không thiếu cũng không dư.

Tụng:

Pháp cùng phi pháp tướng:

Buông nắm tức bàn tay ([101])

Muôn dặm mây bay vẹt,

Trời xanh một dạng bày.

36.-ÂM:

Hà dĩ cố? - Thị chư chúng sanh nhược tâm thủ tướng, tức vi trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Nhược thủ pháp tướng, tức trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Hà dĩ cố? - Nhược thủ phi pháp tướng, tức trước ngã, nhơn, chúng sanh thọ giả.

NGHĨA:

Bởi cớ sao? Bởi các chúng sanh ấy, nếu lòng còn chấp tướng, tức còn trước tướng, ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Nếu chấp pháp tướng, cũng là trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Bởi cớ sao? Bằng chấp phi pháp tướng, cũng là trước tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

 

Giải: Lý Văn Hội giải: Lòng còn chấp tướng ắt sanh vọng niệm, nên mắc phải bốn tướng ấy.

Viên Ngộ Thiền sư giải: Chư Phật mở bày, Tổ sư chỉ dạy, duy cái diệu tánh khẳng khái phụng thừa, chẳng sanh một niệm, tột thấu ngọn nguồn, đến lúc hoàn thành không lao tâm lực tự tại tiêu diêu, vốn không chấp bỏ, mới thiệt là chỗ nhiệm mầu.

Tiêu Diêu Ông giải: Có niệm không tỏ, là cảnh giới kẻ phàm, có niệm có tỏ, là cảnh giới người hiền, không niệm có tỏ là cảnh giới bực Thánh.

Người trí tự hiểu lấy, dầu có nói, nói cũng không đặng.

Huỳnh Nghiệt Thiền sư nói với Bùi Thừa tướng : Phật với chúng sanh, chỉ có một cái tâm, vốn không sai biệt. Cái tâm ấy từ đời vô thỉ đến nay, không hình không tướng, chẳng sanh chẳng diệt, ví như hư không, không có bờ bực; duy có cái tâm ấy mới thiệt là Phật.

Phật với chúng sanh vốn không khác lạ, nhưng bởi chúng sanh chấp sự tướng cầu ở ngoài, càng cầu càng mất. Dùng Phật mà tìm Phật, lấy tâm mà cầu tâm, dầu cùng kiếp mãn đời, rốt không chi đặng. Chớ nào biết dứt tưởng quên lo, thì tự nhiênPhật hiện tiền!

Tâm tức là Phật, Phật tức chúng sanh. Khi làm chúng sanh tâm cũng không bớt, lúc làm chư Phật tâm cũng chẳng thêm; gặp duyên thì thí, duyên qua rồi thì thôi. Vốn đã sẵn đủ chẳng đợi mượn sự tu hành mới có.

Bằng chẳng tin chắc cái tâm là Phật, dầu cho tu hành trải bao nhiêu kiếp, cũng không thành đạo đặng.

Thủ Pháp tướng : là cho ngoài cái tâm lại có pháp, nên mới chấp các tướng.

Lại nói: Tạo dữ, tạo lành đều là trước tướng. Trước tướng tạo dữ, luống chịu luân hồi, trước tướng tạo lành luống chịu lao khổ; thảy đều chẳng bằng tự mình nhận biết bổn tâm.

Ngoài tâm không pháp, tâm tức là pháp. Ngoài pháp không tâm, mà nếu cho tâm là không tâm, thì tâm trở nên có. Cả thảy duy có tự mình hiểu lấy mà thôi.

Nhược thủ phi Pháp tướng : là còn các tướng: Chấp bỏ lành dữ, phàm Thánh.

Từ Thọ Thiền sư giải:

Tụng:

Đồ sộ chùa xưa cửa Thuận Thiên,

Bóng thiều nhấp nhoáng vọi khe tiên.

Bổn lai vật vật tâm là pháp,

Trong đấy mấy người đặng liễu nhiên?

 

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

 

Nhơn không, pháp cũng Hai tướng bổn lai đồng không,

Biến kể danh chưa rõ, Y tha lý chẳng thông.

Viên thành ngày một ngắm, Lưu chuyển thuở nào xong.

Muốn biết vô sanh nhẫn, Như như chẳng động lòng.

 

37.-ÂM:

Thị cố bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp.

NGHĨA:

Như thế thì, chẳng nên chấp pháp, cũng chẳng nên chấp phi pháp.

Giải : Lý Văn Hội giải : Bất ưng thủ pháp v.v... là có không đều bỏ, nói nín thảy quên.

Nếu dùng pháp tướng tức là chấp pháp, còn dùng phi pháp tướng tức là chấp không; có chấp thì phiền não dấy sanh, không chấp thì tín tâm thanh tịnh.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

 

Không vẫn nguyên nơi có, Vì không, có mới sanh.

Có không đâu có khác, Không có vốn không hình.

Không có nào chơn thể, Có không bởi vọng tình.

Có không như tiếng dội, Không có lý nên minh.

 

Xuyên Thiền sư giải: Vàng chẳng đổi vàng, nước không rửa nước.

 

Tụng:

Leo cây níu nhánh cũng chưa rành,

Chót núi buông tay mới đại danh.

Gió lạnh canh khuya câu chẳng có,

Đầy thuyền duy có bóng trăng thanh.

38.- ÂM :

Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai thường thuyết nhữ đẳng Tỳ Khưu tri ngã thuyết pháp như phiệt([102]) dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp?

NGHĨA:

Bởi cái nghĩa ấy, nên Như Lai thường dạy các thầy Tỳ khưu phải biết Ta nói pháp, ví như cái bè. Pháp còn phải bỏ thay, huống chi là chẳng phải pháp.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Phạt ([103]) (phiệt), là kết tre và cây thành bè đặng làm đò đưa rước, là đồ để đi dưới nước cũng như ghe vậy. Dĩ thị nghĩa cố là chỉ các lời nói của bài trước.

Phật thường dạy các thầy Tỳ Khưu, phải biết việc thuyết pháp của Phật, ví cũng như ghe và bè vậy. Lúc chưa qua sông thì không nên không dùng ghe, bè, ví như lúc chưa tỏ ngộ chơn tánh thì không nên không dùng Phật pháp; còn khi đã qua sông rồi thì không còn ghe bè nữa, ví như khi tỏ ngộ chơn tánh rồi thì không cần Phật pháp nữa vậy.

Như thế thì, khi tỏ ngộ rồi, Phật pháp còn phải bỏ thay huống chi là ngoại đạo. Cho nên nói: "Pháp còn phải bỏ huống chi là chẳng phải pháp".

Ông Phó Đại Sĩ có tụng:

 

Nên mượn bè qua biển,

Đến bờ khỏi dùng thuyền,

Lời nói ấy rất nên đúng lý.

 

Tăng Nhược Nột giải: Kinh Phật Dụ có nói: "Nếu biết đặng nghĩa ví dụ dùng bè ấy, thì pháp lành còn phải bỏ, huống chi là pháp chẳng lành. Như muốn qua sông trước phải dùng bè, khi qua đến bờ phải bỏ nó lại".

Nhan Bính giải: Pháp tướng thuộc có, phi pháp tướng thuộc không, đều còn tà kiến cả hai, hẳn phải dứt hết. Cho nên nói: "Không nên thủ pháp cũng không nên thủ phi pháp ".

Dĩ thị nghĩa cố v.v... Phật là thuyền lớn; ví như người lúc chưa qua sông, phải mượn thuyền bè, khi đã đến bờ rồi phải bỏ thuyền bè đi, không nên chấp trước; cũng như người chưa qua khỏi biển khổ sanh tử, phải mượn Phật pháp mới độ thoát đặng, khi độ đặng rồi, pháp cũng phải bỏ. Cho nên ông Triệu Châu có nói: "Có, có một chữ Phật, ta cũng chẳng muốn nghe".

Phật pháp còn phải bỏ huống chi là chẳng phải Phật pháp.

Lý Văn Hội giải: Chấp có nói không, thì dùng bè mà chi? Chấp có đã bỏ, chấp không đâu còn, như đã qua sông, đâu dùng bè nữa?

Ông Phó Đại Sĩ có tụng:

 

Nên mượn bè qua biển, Đến bờ khỏi dụng thuyền,

Ngã nhơn danh đã cưỡng, Giáo pháp chấp sao nên

Hai phía đều không lập, Trung lưu cũng chẳng yên,

Hữu vô bằng có một, Phải bị ố tâm điền.

 

Vả lại khi chưa rõ tánh, đương ở trong biển khổ sanh tử, mà gặp đặng bực thiện tri thức, lấy lời dạy bảo, phân biệt các pháp tướng, chừng thấy đặng tự tánh rồi, thì đâu còn chấp trước nữa.

Pháp thượng ưng xả: Trong kinh có nói:

"Bằng muốn hiểu rành cảnh giới Phật.

Trong lòng thanh tịnh tợ hư không"

Ngoài không còn một pháp chi mà kiến lập; thì pháp còn phải bỏ, huống chi là chẳng phải pháp.

Xuyên Thiền Sư giải: Nước đến thì sông thành.

 

Tụng:

 

Trọn ngày lăng xăng,

Việc ấy không can.

Chẳng cầu giải thoát,

Chẳng muốn thiên đàng,

Bằng hay niệm đặng lòng vô niệm,

Trên đỉnh Tỳ lư cũng bước ngang.

CHƯƠNG BẢY

39.-ÂM:

Tu Bồ Đề? Ư ý vân hà? - Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề gia? Như Lai hữu sở thuyết pháp gia? Tu Bồ Đề ngôn: "Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, vô hữu định pháp, danh A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, diệc vô hữu định pháp Như Lai khả thuyết".

NGHĨA:

Này Tu Bồ Đề? Ý ông thế nào? - Như Lai có đặng pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Như Lai có chỗ chi thuyết pháp chăng? Tu Bồ Đề bạch Phật: "Như con rõ nghĩa của Phật nói, thì không có định chắc pháp chi kêu là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không có định chắc pháp chi mà Như Lai nói".

 

Giải : Tăng Nhược Nột giải: Không sanh tỏ thấu ý Phật nên nói trong cái nghĩa thứ nhứt, không có định chắc là có pháp chi mà đặng, và có pháp chi mà thuyết.

Trần Hùng giải: Trong kinh Lăng Già luận bảy thứ "không" có , có nói. Cả thảy pháp, lìa bỏ lời nói là không; nghĩa thứ nhứt thì bực Thánh trí mới là đại không.

Như Lai tỏ đặng lý mầu nhiệm của nhơn không vốn không pháp chi mà đặng, cũng không pháp chi mà thuyết, nên mới lập ra lời hỏi ấy.

Đạo Vô thượng Bồ đề nghĩa thứ nhứt tất sâu xa không thế hình trạng đặng; hoặc trì giới nhẫn nhục mà đặng; hoặc tinh tấn thiền định mà đặng; hoặc xây tháp cất chùa, hoặc xưng niệm Nam mô cũng đều đặng cả, đâu có phải câu nệ theo pháp chi mà nhứt định hay sao?

Như Lai thương chúng sanh chưa tỏ ngộ, chẳng nỡ làm thinh mà không dùng ngôn thuyết, hoặc vì kẻ có chí cầu Thắng pháp mà thuyết, hoặc vì kẻ cầu Vô thượng huệ mà thuyết, hoặc vì kẻ cầu Thanh Văn mà thuyết, hoặc vì kẻ cầu làm Bích Chi Phật mà thuyết, đều ứng theo cơ duyêntrả lời, tùy chỗ cầu hỏi mà đáp lại, nào có pháp chi định chắc đâu?

Phật đã tột thấu cái nghĩa biến thông không chấp không trước, còn ông Tu Bồ Đề nói hai lần "không có pháp chi định chắc" vậy không phải là rõ đặng nghĩa của Phật thuyết hay sao?

Lý Văn Hội giải: Như Lai hữu sở thuyết pháp gia: Là ý của Phật hỏi đó, là còn e cho người nói Như Lai có chỗ thuyết - Vô hữu định phápcăn khí có chậm mau, tài học có cao thấp, tùy cơ duyên mà lập pháp, nhận chứng bịnh mà đầu thang.

Kinh Pháp Hoa có nói: "Các căn khí có mau chậm, hoặc tinh tấn giải đãi, tùy theo tài lựcthuyết pháp, cho nên pháp không định chắc mê ngộ khác nhau. Khi chưa tỏ ngộ tợ hồ không chỗ đặng, đến khi tỏ ngộ rồi tợ hồ có chỗ đặng. Đặng cùng không đặng đều là vọng kiến, nhưng chẳng nên chấp trước mới hiệp lý trung đạo; nào phải có pháp chi định chắc mà thuyết đâu?

Xuyên Thiền sư giải: Lạnh thì nói lạnh, nóng thì nói nóng.

Tụng:

Mây ở Nam san mưa Bắc san,

Giống lừa, giống ngựa kể muôn ngàn.

Kìa coi lấy nước vô tình đó,

Mấy chỗ theo vuông mấy chỗ tròn.

 

40.-ÂM:

Hà dĩ cố? - Như Lai sở thuyết pháp, giai bất khả thủ, bất khả thuyết phi pháp phi phi pháp.

NGHĨA:

Bởi cớ sao? Bởi chỗ thuyết pháp, của Như Lai, đều chẳng nên chấp, là chẳng nên nói phi pháp cùng chẳng phải phi pháp.

 

Giải : Tạ Linh Vận giải: Phi pháp là chẳng có, phi phi pháp là chẳng không; có không đều không, mới là đúng lý.

Vương Nhựt Hưu giải: Pháp là vì chúng sanh mà lập ra, chớ chẳng phải là có pháp chơn thiệt, cho nên nói: "Chẳng phải pháp". Nhưng mà, cũng phải mượn pháp để khai ngộ cho chúng sanh, lại cũng không nên nói quyết là "Chẳng phải phi pháp". Cho nên nói: "Chẳng phải phi pháp".

Trần Hùng giải: Pháp của Như Lai thuyết đó, là pháp Vô thượng Bồ đề, dùng tâm tánh mà tu thì đặng, chớ không dùng sắc tướng mà lấy đặng; nếu lấy đặng thì làm sao thấu đáo đến chỗ nhiệm mầu của tánh lý? Dùng tâm truyền thì đặng, chớ dùng lời nói mà nói thì không đặng; nếu nói đặng thì làm sao mà siêu thoát cái phạm vi của ngôn ý? Cho nên ông Tu Bồ Đề mới biện luận đến hai lần "chẳng nên".

Cái pháp ấy, nhiệm mầu huyền diệu sâu xa khó hiểu, một lý cho là có, tuy có mà chẳng hề có, một lý cho là không, tuy không mà chẳng hề không. Ấy là cái ý nghĩa "phi pháp chẳng phải phi pháp". Chơn không mà chẳng không, cũng như vậy chăng?

Lý Văn Hội giải: Bất khả thủ : là ông Không Sanh rất e cho người học đạo không tỏ cái ý "vô tướng" của Như Lai. Bất khả thuyết: là rất e cho người học đạo chấp trước những câu bài của Như Lai nói. Phi: là không - Phi phi : là chẳng không.

Huỳnh Nghiệt Thiền Sư giải: Pháp vốn chẳng có, nhưng chớ cho là không, pháp vốn chẳng không, nhưng chớ cho là có. Nói không, thành ra đoạn diệt, nói có, phạm vào tà kiến.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

 

Tu hành lìa luận thuyết, Tự thuở hẳn vô nhơn.

nhị không viên mãn, Chứng tam muội pháp thân

Trước tâm thì phải vọng, Không chấp mới rằng chơn

Nếu tỏ "phi phi pháp", Tiêu diêu khỏi lục trần.

 

Xuyên Thiền sư giải: Vậy là làm sao?

Tụng:

Làm sao cũng chẳng đặng,

Chẳng sao cũng chẳng đặng.

Trống rỗng cõi hư không,

Chim bay không ảnh dạng,

Thôi!

Giong ruỗi ngựa xe lại trở về,

Đông Tây Nam Bắc dầu du ngoạn.

41.-ÂM:

Sở dĩ giả hà? - Nhứt thế Hiền Thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu si biệt.

NGHĨA:

Sở dĩ sao? - Cả thảy Hiền Thánh đều dùng pháp "vô vi" mà cũng có hơn kém.

 

Giải : Sớ Sao giải: Chưa tỏ đặng lý nhơn không; pháp không đều gọi là chấp trước, tỏ hai cái lý không ấy gọi là vô vi.

Bồ Tát đều chứng đặng hai cái lý không; Thanh Văn mới khỏi nhơn không chưa thông pháp không, cho nên nói: "Khỏi đặng một cái quấy" (ly nhứt phi). Viện chứng cái nghĩa ấy cho nên nói: "Mà có hơn kém".

Lục Tổ giải: Căn tánh của ba bực thừa, sự hiểu rõ chẳng đồng nhau, nghe thấy có cao thấp, cho nên nói: "hơn kém" Phật nói cái thuyết "vô vi" ấy tức là "vô trụ", vô trụ tức là "vô tướng", vô tướng tức là "vô khởi", vô khởi tức là "vô diệt", rỗng rang vắng lặng, tỏ soi đều đủ, xem xét không ngại, mới thiệt là tánh Phật giải thoát.

Phật tức là giác, giác tức là quán chiếu (hồi quang phản chiếu) quán chiếu tức là trí huệ, trí huệ tức là Bát Nhã.

Vương Nhựt Hưu giải: Đã nói là Hiền Thánh đều dùng pháp vô vi mà có hơn kém là cớ sao? Là bởi pháp vô vi, hễ tỏ đặng còn thấp thì làm người Hiền, như bốn quả Tu Đà Hoàn v.v... tỏ đặng cao thì làm bực Thánh, như Bồ Tát, Phật. Bởi vậy nên mới nói là "hơn kém" đó chăng?

Nhan Bính giải: Phật hỏi ông Tu Bồ Đề: "Như Lai đặng Vô thượng Chánh giác chăng! Như Lai có chỗ chi thuyết pháp chăng?".

Đáp: Như tôi rõ đặng cái nghĩa lý của Phật, đều không có pháp chi nhứt định là Vô thượng Chánh giác thuyết pháp cả - Bởi sao vậy? Là bởi chỗ thuyết pháp của Như Lai như người uống nước, lạnh ấm tự mình biết lấy.

Bất khả thủ, bất khả thuyết phi pháp phi phi pháp : Pháp thuộc về có, phi pháp thuộc về không. Chấp có thì trước tướng, chấp không lại lạc vào không. Cho nên nói: "Chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp".

là dùng, vô vi tự nhiên giác tánh, không mượn ai làm nên cả thảy Hiền Thánh đều dùng phép vô vi ấy. Nhưng mà pháp vốn là vô vi, bởi hiểu có cao thấp mới sanh ra hơn kém chớ đáo đầu thì cũng có một mà thôi.

Lý Văn Hội giải: Pháp tánh vô vi vốn không có tướng nhứt định là cao thấp đặng, bằng có nhứt định hẳn không hơn kém. Hữu si biệt căn khí có mau chậm, tài học có thấp cao, cho nên nói: "hơn kém". Mà đã có hơn kém thì không có tướng nhứt định.

Hải Giác Nguyện Thiền Sư

Tụng:

Chế nhiều đồ khéo quí,

Bởi thợ hay dùng trí.

Hà tất chốn Tỳ va, ([104])

Người người rằng bất nhị. ([105])

 

 

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Pháp, nhơn đều gọi chấp, Tỏ thấu thảy vô vi.

Bồ Tát đặng tề chứng , Thanh Văn khỏi nhứt phi.

Bằng tham sân dứt hết, Thì thiệt tướng còn chi.

Quán ấy mà thường dụng, Hẳn thành Phật chẳng

nghi.

 

Xuyên Thiền sư giải: Sai thù chừng một mảy, trời đất cách xa nhau.

Tụng:

Người chánh nói pháp tà,

Phép tà trở lại chánh.

Người tà nói pháp chánh,

Phép chánh thảy đều tà.

Quít Giang Nam chỉ miền Giang Bắc,

Bởn tớn chào xuân nẩy nở hoa.

CHƯƠNG TÁM

42.-ÂM:

Tu Bồ Đề: Ư ý vân hà? - Nhược nhơn mãn tam thiên đại thiên thế giới thất bảo ([106]) dĩ dụng bố thí, thị nhơn sở đắc phước đức ninh vi đa phủ?

NGHĨA:

Này Tu Bồ Đề: Ý ông thế nào? - Bằng có người dùng bảy báu chất đầy cả tam thiên đại thiên thế giới, đem ra mà bố thí, người ấy có đặng phước đức nhiều chăng?

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Tam thiên đại thiên thế giới là chỗ có ánh sáng của mặt nhựt, mặt nguyệt đây, gọi là một tiểu thế giới, nơi trung giannúi Tu Di, mặt nhựt mặt nguyệt thì vận hành chung quanh núi ấy, nên bốn phía chia ra làm bốn châu thiên hạ là: Phương Nam: Diêm Phù Đề, phương Đông: Phất Bà Đề; phương Tây: Cù Và Ni; và phương Bắc : Uất Đan Việt.

Còn đường vận hành của mặt nhựt mặt nguyệt, thì từ phân nửa núi trở xuống mà thôi, cho nên sự cao của núi ấy, thì phân nửa núi sắp lên, cao khỏi trên đường vận hành của mặt nhựt mặt nguyệt; trên ấy lại chia ra bốn phương mỗi phương có tám cõi trời; và ở trung gian một cõi, cộng là ba mươi ba cõi trời; gọi là Tam thập Tam thiên. Tiếng Phạm kêu là cõi Trời Đao Lợi (Đao Lợi Thiên).

Bốn châu thiên hạ mà có mặt nhựt mặt nguyệt vận hành đó là một cõi tiểu thế giới, một ngàn tiểu thế giới như vậy là một tiểu thiên, một ngàn tiểu thiên là một trung thiên, một ngàn trung thiên đại thiên. Bởi ba lần nói: "thiên" cho nên nói: "Tam thiên đại thiên", chớ kỳ thiệt có một đại thiên mà thôi; như vậy đó mới kêu là "Đại thế giới" (ba mươi ba ngàn triệu: 33.000.000.000 thế giới).

Ninh vi đa phủ: Chữ ninh là của Thầy phiên dịch dùng làm chữ trợ, chẳng cần để ý khảo nghĩa làm chi.

Lục Tổ giải: Bài này là Như Lai hỏi cái ý đó thể nào? Bố thícúng dường phước đức ở ngoài thân, thọ trì kinh điển là phước ở trong thân, cũng gọi là: Công đức. Thân phước là ăn mặc, tánh phước là trí huệ, tuy có ăn mặc mà tánh ngu mê, là kiếp trước bố thí cúng dường mà không thọ trì kinh điển. Còn thông minh trí huệ lại nghèo hèn thiếu ăn thiếu mặc, là kiếp trước trì kinh nghe pháp mà không bố thí cúng dường.

Tu phước đức bề ngoài tức là sự ăn mặc, tu phước đức bề trong tức là Trí huệ. Tiền tài là báu của thế, Bát Nhã là báu trong tâm; trong ngoài song tu mới là toàn đức.

Ấy là xưng tụng "Công đức trì kinh hơn phước đức bố thí ".

Sớ Sao giải: Thất bảo là kim, ngân, lưu ly, san hô, mã não, pha ly, xích chơn châu.

Ý Phật muốn rõ vô vi, nên trước đem phước hữu lậu mà hỏi ông Thiện Hiện : "Dùng bảy báu đầy cả Tam thiên thế giới đem ra bố thí, đặng phước đức nhiều chăng?". Bài sau ông Tu Bồ Đề đáp lại.

43.-ÂM:

Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ cố? - Thị phước đức, tức phi phước đức tánh, thị cố, Như Lai thuyết phước đức đa".

NGHĨA:

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều. Bởi cớ sao? - Bởi phước đức ấy, chẳng phải phước đức tánh, cho nên Như Lai nói phước đức nhiều".

 

Giải : Tạ Linh Vận giải: Phước đức vốn không có tánh bởi tùy nhân duyên mới có nhiều, nhiều thì dễ chấp trước nên phải bỏ đi.

Lục Tổ giải: Dùng bảy báu đầy Tam thiên thế giới bố thí, đặng phước tuy nhiều, nhưng không chút chi lợi ích cho tánh cả. Nương theo "Ma ha Bát Nhã Ba la mật đa" tu hành, khiến cho tự tánh chẳng đọa vào quả báo mới gọi là công đức tánh.

Lòng có "năng sở" là chẳng phải công đức tánh; dứt lòng "năng sở" mới gọi là công đức tánh; tuân theo giáo pháp của Phật, làm theo hạnh của Phật, mới gọi công đức tánh; không tuân theo giáo pháp của Phật, không làm theo hạnh của Phật; là chẳng phải Công đức tánh.

Tăng Nhược Nột giải: Ông Không Sanh nói bảy báu đầy cả đại thiên đó, hễ báu nhiều thì phước nhiều, cho nên nói: "Rất nhiều".

Thị phước đức "sự phước" - Tức phi phước đức tánh là chẳng phải phước đức của tánh Bát Nhã; mà đã chẳng phải "lý phước" thì chẳng đến quả Bồ đề - Thị cố Như Lai thuyết phước đức đa là sự phước của thế gian, cho nên nói "nhiều".

Tăng Tử Vinh giải: Bố thí trụ tướng, chỉ đặng cái nhân hữu lậu, phước báu của cõi nhơn Thiên mà thôi còn lìa tướngtrì kinh thì mới chứng đặng cái vô vi, công đức vô cùng vô tận.

Trần Hùng giải: Chứa của báubố thí, trì kinh cho tinh tấn, đều là một phần trong sáu độ.

Phật hóa độ chúng sanh, chưa hề ngăn trở việc bố thí, nhưng sự tinh tấn lại càng ưa hơn.

Bởi người đời hay chấp sự dùng bảy báu cho nhiều mà bố thí, để cầu phước lợi, chớ chẳng biết dùng cái báu của giác tánh đặng mà tu công đức trong tánh mình. Cho nên Ngài gộp lại mà hỏi, đặng so sánh sự hơn thua.

Trì kinh tinh tấn, là nói theo lý tánh mà tu, tánh vốn đầy khắp chốn Thái hư, thì công đức cũng như vậy, cho nên nói: Công đức tánh.

Chứa báu mà bố thí là mượn vật mà tu, vật có chừng thì phước đức cũng có chừng, sánh với công đức tánh không đặng. Cho nên ông Tu Bồ Đề nói: "Phước đức ấy là chẳng phải công đức tánh ". Lại đoán ngay rằng: "Như Lai nói phước đức nhiều đó là bởi có số hạn, nên mới tính nhiều ít đặng".

Ngũ Tổ thường nói: "Tự tánh, nếu mê, phước nào cứu đặng". Lục Tổ cũng nói: "Công đức ở trong tự tánh, chẳng phải bố thí cúng dường mà cầu đặng". Lại nói: "Mình tự ngộ tự tu lấy, mới thiệt công đức của tự tánh ".

Lời của hai Tổ nói đó thiệt là rất đúng với huyền lý.

Nhan Bính giải: Phật hỏi: "Bằng người dùng bảy báu đầy cả thế giớibố thí đặng phước nhiều chăng?".

Ông Tu Bồ Đề đáp: "Phước đức tuy nhiều, rốt lại chẳng phải công - đức tánh".

Lý Văn Hội giải: Dùng bảy báu đầy cả đại thiên thế giới bố thí, ấy là bố thí trụ tướng, để mong cầu phước lợi, đặng phước tuy nhiều, nhưng không có minh tâm kiến tánh đặng.

Ông Phó Đại Sĩ có lời :

Tụng:

Chứa báu cả tam thiên,

Đặng đem chưởng phước điền.

Chỉ gây nhân trược lậu,

Chẳng khỏi cõi nhơn Thiên.

 

Vậy nên biết bố thí trụ tướng là chẳng phải phước đức tánh - Nếu lòng không "năng sở" mà biết kiến tánh minh tâm, mới là Phước đức tánh

Xuyên Thiền sư giải: Việc chi cũng bởi vô tâm mà đặng.

Tụng:

Thí báu dầu đầy cả đại thiên,

Phước duyên chẳng thoát khỏi nhơn Thiên

Phải tường phước đức nguyên không tánh,

Mua đặng "phong quang" khỏi dụng tiền.

 

44.-ÂM:

Nhược phục hữu nhơn, ư thử kinh trung thọ trì nãi chí tứ cú kệ đẳng, vị tha nhơn thuyết, kỳ phước thắng bỉ.

NGHĨA:

Bằng có người thọ trì kinh này nhẫn đến những tứ cú kệ lại vì người mà diễn thuyết, thì phước này hơn phước đức kia.

 

Giải : Sớ Sao giải: Thử kinh là người người sẵn có, kẻ kẻ vẹn toàn, trên từ chư Phật, dưới đến loài rận, kiến v.v... đều có kinh này. Ấy là tâm diệu viên giác không chi sánh kịp.

Nhan Bính giải: Phục hữu nhơn ư thử kinh trung thọ trì v.v.. Thọ là bấy giờ thừa thọ (vâng chịu) - Trì là buổi buổi phụng trì (vâng giữ).

Bằng diễn thuyết lại cho người khác, cũng như một ngọn đèn, mồi ra trăm ngàn muôn ngọn, thì phước ấy hơn phước kia - Thế nào là hơn phước kia? - Là bởi phước kia là phước thí bảy báu tức là bố thí trụ tướng thì đặng cái phước hữu lậu mà thôi, đến khi phước hết rồi cũng phải đọa lạc.

Còn công này: Bởi trì kinh mà ngộ tánh. Tứ cú kệ hiện ra ở trước, đồng như chốn Thái hư, lịch kiếp cũng không hề hoại, cho nên nói:

 

Cầu phước nhơn Thiên mà bố thí,

Như tên bắn bổng giữa hư không.

Hựu: Hết trớn thì tên rơi xuống đất,

Gây nên kiếp khác chí không đoạt.

 

Đâu bằng pháp "Thiệt tướng vô vi",

Nhảy một nhảy vào trong cõi Phật.

 

Kinh Tứ Cú Quyết Nghi Kim Cang là cốt tủy của Đại Tạng kinh, còn Tứ cú kệ lại là cốt tủy của kinh Kim Cang. Bằng người thọ trì kinh này mà không rõ thấu Tứ cú kệ ở chỗ nào, thì đâu có thoát khỏi vòng sanh tửlàm Phật làm Tổ đặng.

Xưa nay luận Tứ cú kệ chẳng phải là một; hoặc nói thinh, hương, vị, xúc, pháp; hoặc nói hai bài kệ trong kinh này; hoặc nói câu : "Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai" ; hoặc nói nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt; hoặc nói Hữu vi, Vô vi, Phi hữu vi, Phi vô vi; hoặc nói Hữu đế, Vô đế, Chơn đế, Tục đế; đều là chấp sự thấy hiểu của mình chớ không chi là định luận.

Duy có Đồng Bài Ký có nói: Thiên Thân Bồ Tát lên cung Đâu Suất hỏi Đức Di Lặc: "Thế nào là Tứ cú kệ?". Đáp: Vô ngã, vô nhơn, vô chúng sanh, vô thọ giả. Còn Lục Tổ Đại sư lại nói là : Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Bằng chấp theo mấy lời không định chắc, không căn cứ đó, nào khác chi đếm đồ châu báu của người, thì mình không hưởng đặng lấy nửa đồng. May nhờ ông Phó Đại Sĩ lộ cái tiêu tức, rất nên thân thiết như vầy: "Luận về Tứ cú kệ, khắn khắn chẳng nên rời " - Lấy đó mà suy thì Tứ cú kệ, vốn chẳng phải là cầu, ở ngoài, chỉ tại tâm địa ta tỏ sáng mới thiệt là Tứ cú kệ. Bằng chẳng phải vậy, sao Lục Tổ lại giải Tứ cú kệ là: "Ngã nhơn chóng dứt, vọng tưởng mau trừ ", dứt lời liền thành Phật!

Ví bằng kệ ấy mà truyền miệng đặng, chỉ dạy đặng dùng thông minhsuy nghĩ đặng; thì Phật ta là Thầy cõi Thiên nhơn, ở thế bốn mươi chín năm, thuyết pháp cho cả chúng sanh, đến ba trăm năm mươi độ; còn trong kinh này đến mười bốn chỗ nói Tứ cú kệ, so lại không chỉ bảo cho rõ ràng đoan đích? Có phải Phật ta tiếc chi mấy lời nói mà không thuyết pháp đâu? Cũng bởi e cho người chấp lấy ngón tay làm mặt nguyệt, luống nê cố theo câu CHẾT trong kinh mà không lo hồi quang phản chiếu câu SỐNG của tự mình.

Vả lại Phật ta còn không dám chấp trước mà chỉ dạy thay huống chi làai ? Ta sở dĩ nói câu sống đây là: Sanh tử thoát ngoài vòng, Thánh phàm đứng dưới gió. Trong chỗ nhựt dụng thường hành, chữ chữ phóng quang, đầu đầu hiện rõ, vốn không một điểm bút mặc nào mà ố đặng. Dầu kẻ có tài nghe rồi liền hiểu cũng phải ngẩn ngơ, huống chi là những hạng kiến thức hẹp hòi, mà phân biệt phải quấy cho đặng! Duy có độ lượng hơn người mới biết đặng cái lỗ mũi vốn là ở trước mặt.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

 

Chứa báu cả tam thiên, Đặng đem chưởng phước điền.

Chỉ gây nhân trược lậu, Chẳng khỏi cõi nhân thiên.

Dùng Tứ cú trì tụng, Với Chư Phật tạo duyên.

Biển vô vi muốn tới, Thuyền Bát Nhã mau lên.

 

Vua Huyền Tông giải: Tam thiên trân bảo tuy nhiều, hưởng hết phải mang sanh diệt.

 

Tứ cú kinh văn vẫn ít, tỏ rồi chứng quả Bồ đề.

Bách Trượng Thiền sư giải: Nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, mỗi mỗi bằng chẳng tham nhiễm cả thảy các pháp, mới gọi là thọ trì Tứ cú kệ, cũng gọi là Tiên nhơn trong bốn quả, mà cũng gọi là bực La Hán đặng Lục thông.

Bằng hay Thọ trì Tứ cú kệ công đức lớn hơn phước bố thí bảy báu đầy cả Đại thiên kia.

Trần Hùng giải: Kinh Tam muội có nói: "Cả thảy Phật pháp đều thâu lại ở trong "Tứ cú kệ". Cho nên ngộ đặng cũng không phải tại học chữ nghĩa cho nhiều, chỉ trong nhứt niệm mà tỏ ngộ thiệt đế thì mới thông thấu Thiên tánh đặng.

Bằng có người sốt sắng tu hành: Để lòng thì khắn khắn giữ lâu không nản, còn nói ra thì ai nấy cũng đều thông. Người như vậy chẳng phải là giác tánh riêng cho một mình mình mà thôi, mà cũng giác tánh cho cả muôn triệu người nữa; công đức ấy không phải lớn sao? Sánh lại thì hơn phước đức của bảy báu đó rất nhiều.

Lý Văn Hội giải: Thọ trìthân, khẩu, ý đều thanh tịnh.

Hiểu thấu nghĩa kinh, làm theo lời dạy, ví như thuyền vượt biển, không chỗ chẳng thông; ấy cũng kêu là thọ trì. Đã không hiểu nghĩa kinh mà lại thêm giải đãi, lòng miệng khác nhau, ví như thuyền vào xẻo nhỏ, ắt phải trở ngại; ấy chẳng phải là thọ trì.

Tứ cú kệ, ông Xuyên Thiền sư có giải ở quyển chót trong phần Ứng Hóa Phi Chơn , đệ32.

Trương Vô Tận giải: Phật là Vô thượng Pháp vương, lời vàng tuyên bá giáo thánh văn linh, bằng một phen đọc tụng thì đặng Chuyển pháp luân. Quỉ Dạ xoa truyền khắp hư không, thấu đến Tứ thiên vương, Tứ thiên vương tiếp đặng, đệ báo đến Phạm thiên, thông khắp mọi nơi tối sáng. Các vị Long thần đều ưa mến, ví như chiếu lịnh nhà vua truyền bố khắp trong hoàn vũ, ai dám chẳng tuân? Công đức tụng kinh rất oai nghiêm thế ấy.

Bằng chỉ lưu hình thức mà không dụng tinh thần, ngoài lặng lẽ mà trong xao động, tầm hàng đếm chữ mà thôi, thì có khác nào: Chim hót xuân, ve ngâm hạ, dầu có tụng cả muôn ngàn biến, cũng không ích gì.

Ông Trì Dương Hương San cậy ông Thiền sư sai một ông Tăng qua Đại Thông Trấn cầu kinh nơi nhà họ Trần, có làm bài tụng:

 

Văn lạ nghĩa nghi tìm thấu lý,

Chớ lâu đời cứ giùi trong giấy,

Xem kinh phải dụng lực xem kinh,

Thường thấy xem kinh duy mắt thấy.

45.-ÂM:

Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Nhứt thế chư Phật cập chư Phật A nậu đa la tam miệu tam bồ đề pháp, giai tùng thử kinh xuất.

NGHĨA:

Bởi cớ sao? - Này Tu Bồ Đề! Cả thảy chư Phật với pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật đều do nơi kinh này mà ra.

 

Giải : Sớ Sao giải: Trong kinh nói: "Chư Phật ba đời và cả thảy diệu pháp A nậu Bồ đề đều bởi kinh này mà ra", là tỏ cái công quả trì kinh đã mãn, cho rõ nghĩa của bài trước.

Lại Tâm Kinh có nói: " Chư Phật ba đời bởi nhờ pháp Bát Nhã Ba la mật đa mà đặng quả A nậu Bồ đề, cũng đồng nghĩa ấy".

Lại Trung Quốc sư có nói: Kinh này ví như đại địa, vật chi chẳng phải bởi đất mà sanh? Chư Phật chỉ tại cái tâm, pháp nào chẳng phải bởi tâm mà lập? Cho nên nói: "Đều bởi kinh này mà ra".

Vương Nhựt Hưu giải: A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề chơn tánh - Nhứt thiết chư Phật A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề là pháp của chư Phật cầu Chơn tánh.

Hà dĩ cố :Phật tự hỏi "Bởi cớ sao mà thọ trì giảng giải kinh này lại đặng phước đức nhiều hơn phước đức bố thí bảy báu đầy cả tam thiên thế giới kia?". - Lại tự đáp: "Cái pháp cầu chơn tánh của cả thảy chư Phật đều bởi kinh này mà ra". Vậy thì công đức của kinh này thiệt rất lớn không cùng không tột.

Nhan Bính giải: Hà dĩ cố nhứt thiết chư Phật v.v... Đại Tạng kinh và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư vị cổ Phật, đều bởi kinh này mà ra - Thử kinh ngoài ra không còn kinh nào nữa.

Tăng Nhược Nột giải: Giai tùng thử kinh xuất là chẳng phải chỉ câu văn lời nói trong kinh này mà chỉ là cái thiệt tướng Bát Nhã, tức là cái tâm. Cái tâm ấy làm tánh thể cho khắp cả các pháp. Tự mình nhứt niệm thì sanh ra cả thảy các pháp.

Lý Văn Hội giải: Phước đức không tướng sanh ra Ứng thân Phật; trí huệ không tướng sanh ra Chơn thân Phật, là nói bởi trong cái tâm của tự mình xuất sanh ra pháp Bồ đề.

Xuyên Thiền sư giải: Nói thử coi, kinh này ở đâu mà ra?

Trên đỉnh Tu Di, giữa giòng đại hải chăng?

Tụng:

Phật Tổ ban ơn mới dụng quyền,

Lời lời ghi chép để tuyên truyền.

Kinh này tông chỉvô tướng.

Ở giữa không trung vượt thiết thuyền.

 

Mà đừng có hiểu lầm đa!

46.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Sở vị Phật Pháp giả, tức phi Phật Pháp.

NGHĨA:

Này Tu Bồ Đề! Gọi là Phật Pháp ấy, nhưng chẳng phải Phật Pháp.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Sở vị Phật pháp là cái pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của bài trên nói đó.

Phật e cho người nê cố rằng có Phật Pháp, cho nên nói: "Phật Pháp chẳng phải có Phật Pháp chơn thiệt, chỉ cưỡng danh là Phật Pháp vậy thôi. Là bởi Phật Pháp xưa nay vốn không hề có, chỉ mượn đặng mà khai ngộ cho chúng sanh, chớ đối với bổn tánh thì không chi là chơn thiệt cả".

Lục Tổ giải: Như Lai nói "Phật", khiến cho người giác, nói "Pháp", khiến cho người ngộ. Bằng không giác ngộ, còn chấp Phật Pháp ở ngoài, thì không phải là Phật Pháp.

Nhan Bính giải: Sở vị Phật Pháp tức phi Phật Pháp là nói rồi liền bỏ.

Lý Văn Hội giải: Hai bực thừa chấp trước các tướng cho là Phật Pháp, nên mới tầm cầu ở ngoài.

Văn Thù Sư Lợi giải: Cả thảy chúng sanh ngu mê điên đảo chẳng biết giác ngộ. Vả lại các pháp tu hành đều chẳng lìa khỏi thân mình. Bằng theo ngoài thân mà tu hành, hẳn không phải lẽ.

Bồ Tát đối với cả thảy Phật Pháp, đều không chấp trước, mà cũng chẳng lìa bỏ; thấy như không thấy, nghe như không nghe, tâm cảnh vắng lặng tự nhiên thanh tịnh. Cho nên nói: "Phật Pháp nhưng chẳng phải Phật Pháp".

Người hiểu đạo đã giác ngộ> rồi thì biết các tướng đều không. Chỉ phải dùng vị sở đắc tri giải ([107]) làm phương thuốc hay, mới trị cái tâm bịnh vọng tưởng chấp trước đặng, thì tâm địa tự nhiên điều phục, không còn chi quái ngại nữa.

Xuyên Thiền Sư giải: Đem táo ngọt đổi bầu đắng của ngươi.

Tụng:

Phật pháp không pháp,

Hay tha hay đoạt.

Có phóng có thâu.

Có sanh có sát.

Nơi giữa mi gian phóng bạch hào.

Người ngu còn đợi hỏi Bồ Tát.

CHƯƠNG CHÍN

47.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Tu Đà Hoàn năng tác thị niệm: "Ngã đắc Tu Đà Hoàn quả phủ?". Tu Bồ Đề ngôn: "Phất dã, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tu Đà Hoàn danh vi Nhập Lưu, nhi vô sở nhập: Bất nhập sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, thị danh Tu Đà Hoàn" ([108]).

NGHĨA:

"Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tu Đà Hoàn có tưởng như vầy: "Tưởng mình đặng quả Tu Đà Hoàn chăng?". Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Không thể đặng. Bởi cớ sao? - Bởi Tu Đà Hoàn, kêu là quả Nhập Lưu, nhưng không chỗ nhiễm (nhập) là chẳng nhiễm sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nên gọi là Tu Đà Hoàn".

 

Giải : Trần Hùng giải: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán là bốn quả. A La Hán là bực nhứt trong cả thảy hạng hàm phu. Phật bảo ông Di Lặc Bồ Tát, trong kinh Pháp Hoa đã thường nói: Bảo ông Đại Huệ Bồ Tát, trong kinh Lăng Già cũng đã thường có nói.

Trong kinh Đại Niết Bàn Phật có nói: "Bằng thầy Tỳ Khưu nào muốn đặng quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, thì phải cầu tu tập hai pháp: Xa ma thaTỳ bà xá na.

Trong kinh Đại Bát Nhã có nói: Quả Dự Lưu, quả Nhứt Lai, quả Bất Hườn, quả A La Hán, cũng như đây nói bốn quả vậy.

Lại nói: Lúc tu hành, pháp Bát Nhã Ba la mật không nên chấp trước, quả Dự Lưu, quả Nhứt Lai, quả Bất Hườn, quả A La Hán, hay là thấy bốn A La Hán ấy đắc quả, mà không có sanh lòng "sở đắc".

Nay Phật ta e bốn quả A La Hán ấy, chẳng biết lấy sự vô niệm làm tông, mà manh lòng sở đắc, cho nên lập bốn điều hỏi: "Có tưởng cho mình đặng quả, đặng đạo chăng?". Ông Tu Bồ Đề đều đáp "không"; rồi lại biện luận đặng mà hình dung thiệt lý của cái "sở đắc".

Vả lại Nhập Lưu là mới nhập vào lưu của bực Thánh nhơn.

Tu Đà Hoàn đã chứng đặng quả Nhập Lưu, nên gọi là Nhập Lưu, mà lòng không "sở đắc", nên nói: "Không chỗ nhập". Sở dĩ nói không chỗ nhập đó, là không nhập cái cảnh giới của lục trần.

Nên nói: Tu Đà Hoàn.

Lý Văn Hội giải: Phật hỏi quả thứ nhứt: Tu Đà Hoàn đó, là biết thân là vọng, muốn thấu lý vô vi, dứt trừ cái tướng chấp trước nhơn ngã, dùng lòng không chấp, hạp với lý không "sở đắc". Không chấp thì lòng không, không sở đắc thì lý tịnh; tuy vậy mới bỏ đặng phiền não thô trọng, chớ chưa dứt hết phiền não vi tế. Quả ấy khỏi đọa vào A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Ấy là quả trước nhứt của người học đạo.

Tiêu Diêu Ông giải: Phiền não là cội gốc của Bồ đề, bằng người tỏ thấu mà luyện tập, thì đặng cái pháp xuất thế gian; ví như gò cao đất nổng, thì không sanh bông sen đặng vì bông sen chỉ sanh nơi đất bùn, đất ướt mà thôi.

Lại nói: Chớ cho phiền não làm hao kém lòng Bồ đề, ví như mặt nhựt, mặt nguyệt ẩn trong mây khói, mà vẫn không hao kém, châu ngọc rớt nơi bùn lầy, mà cũng chẳng ố nhơ, không sợ phiền não ngăn ngại, chỉ lo gìn giữ lòng Bồ đề.

Nhập Lưu là bỏ phàm nhập Thánh, là mới vào bực Thánh.

Nhi vô sở nhập là tu cái nghiệp vô lậu, không nhiễm sáu trần, nhưng mà chưa lìa khỏi cảnh trần đặng.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Mới bỏ phàm vào Thánh. Bớt phiền não tế vi.

Trừ xong lòng hữu ngã, Lên tới nẻo vô vi.

Thân trước gây nhân quả, Ngày nay biết ghét chê.

Nhơn thiên chuyển bảy kiếp, Ưa thù tịnh quên về.

 

Bất nhập sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là nhàm chỗ ồn ào, tìm nơi thanh vắng; nhưng cảnh sáu trần hãy còn tưởng niệm. Sở dĩ nói không nhiễm sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là vậy.

Viên Ngộ Thiền sư giải: Nghiệp duyên chưa dứt, thì đối với cảnh đời còn biết bao là điều giao thiệp! Xử cảnh ấy, phải làm làm sao cho có rỗng rang thênh thang mới đặng. Người đời đều phải tùy theo duyên phận, bất tất lánh chỗ ồn ào tìm nơi thanh vắng? Chỉ làm cho trong không ngoài thuận, tuy ở chốn náo nhiệt nhộn nhàn, cũng điềm nhiên an ổn; xảy có mảy may gì còn sai suyển thì ắt không thế nào làm đặng.

48.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Tư Đà Hàm năng tác thị niệm: "Ngã đắc Tư Đà Hàm quả phủ?". Tu Bồ Đề ngôn: "Phất dã, Thế Tôn! Hà dĩ cố? - Tư Đà Hàm danh Nhứt Vãng Lai, nhi thiệt vô vãng lai, thị danh Tư Đà Hàm".

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tư đà Hàm có tưởng như vầy: "Tưởng mình đặng quả Tư Đà Hàm chăng?". Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn ! Không thể đặng". Bởi cớ sao? - Bởi Tư Đà Hàm, kêu là quả Nhứt Vãng Lai, nhưng thiệt không cái tướng Vãng Lai, nên gọi là Tư Đà Hàm".

 

Giải : Triệu Pháp sư giải: Nhứt Vãng Lai là một kiếp sanh cõi người, rồi mới đặng vào Niết bàn, cho nên nói: Quả Nhứt Vãng Lai. Nhi thiệt vô vãng lai là khi chứng quả vô vi, chẳng còn chấp tướng vãng lai nữa.

Lục Tổ giải: Tư Đà Hàm kêu là quả Nhứt Vãng Lai, là sanh về cõi Trời, rồi phải sanh xuống cõi người, chừng chết ở cõi người lại trở sanh về cõi Trời.

Cõi Dục giới chín điều "tư hoặc" (lầm tưởng) đã dứt đặng sáu điều, nên nói: Quả Tư Đà Hàm.

Bực Đại thừa Tư Đà hàm, mắt thấy các cảnh, lòng còn có một lần sanh diệt, chớ không có hai lần, cho nên nói: Quả Nhứt Vãng Lai.

Vương Nhựt Hưu giải: Nhứt Vãng Lai là cái sắc thân chỉ có một lần qua lại cõi Trời cõi người, còn cái chơn tánh vẫn khắp cả hư không, thế giới, đâu có chi là qua lại! Cái sắc thân qua lại đó chẳng phải là chơn thiệt, chỉ cưỡng danh là qua lại, cho nên nói: "Thiệt không có qua lại".

Trần Hùng giải: Nhứt Vãng Lai một lần lên cõi Trời, một lần lại cõi người, rồi không trở lại thế gian nữa.

Tư Đà Hàm đã chứng đặng quả Nhứt Lai nên nói: Nhứt Vãng Lai.

Vả lại, lòng không chấp cái sở đắc, mà cũng không còn tướng sanh diệt; nên nói: Tư Đà Hàm.

Lý Văn Hội giải: Quả thứ hai: Tư Đà Hàm, là tu hành tinh tấn, tu nghiệp Vô lậu, niệm niệm không chấp cảnh giới sáu trần, nhưng cái tâm chưa đặng trọn rỗng rang thanh tịnh.

Nhứt Vãng LaiBáo thân mãn rồi lại phải sanh về cõi Trời một lần nữa.

Thiệt vô vãng lainiệm trước xảy vọng, niệm sau liền giác, thiệt không có lòng chấp là đắc quả, mà lòng đã không "ta", đâu còn qua lại, cho nên nói: "Thiệt không cái tướng qua lại".

49.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? A Na Hàm năng tác thị niệm: "Ngã đắc A Na Hàm quả phủ?". Tu Bồ Đề ngôn: "Phất dã, Thế Tôn! Hà dĩ cố? - A Na Hàm danh vi Bất Lai, nhi thiệt vô Bất Lai, thị cố danh A Na Hàm".

NGHĨA:

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? A Na Hàm có tưởng như vầy: Tưởng mình đặng quả A Na Hàm chăng?". Tu Bồ Đề bạch Phật "Bạch đức Thế Tôn ! Không thể đặng. Bởi cớ sao? - Bởi A Na Hàm, kêu là quả Bất Lai, nhưng không chấp cái tướng Bất Lai; nên gọi là A Na Hàm".

 

Giải : Tăng Nhược Nột giải: A Na Hàm : Bất Lai. Đã dứt sự tư hoặc của cõi Dục giới, không sanh về cõi ấy nữa cho nên nói: Bất Lai.

Nhi thiệt vô Bất Lai :không chấp cái tướng Bất Lai.

Trần Hùng giải: Bất Lai là không trở lại sanh ở cõi Dục giới nữa.

A Na Hàm đã chứng đặng quả Bất Lai nên nói: Bất Lai. Vả lại lòng không có "sở đắc", mà cũng không còn tướng Bất Lai, nên nói A Na Hàm!

Lý Văn Hội giải: Quả thứ ba A Na Hàm là đã tỏ nhơn, pháp đều không, tiệm tu hạnh tinh tấn, niệm niệm không thối chuyển cái lòng Bồ đề.

Danh vi Bất Lai là đã diệt trừ đặng. Trong không lòng dục, ngoài không cảnh dục; đã lìa cõi Dục giới không còn sanh trở lại nữa, nên nói: "Bất Lai".

Trong lòng vắng lặng không "ta", không còn có tướng Bất Lai cho nên nói: "Thiệt không chấp tướng Bất Lai".

 

Xuyên Thiền Sư giải: Các điều (làm) không thường, cả thảy đều khổ.

Tụng:

Ba vị Thinh Văn thoát nghiệp trần.

Tới lui tìm đạo có sơ thân.

Rõ ràng bốn quả nguyên không quả,

Hóa độ thân không tức Pháp thân.

50.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? A La Hán năng tác thị niệm : "Ngã đắc A La Hán đạo phủ?". Tu Bồ Đề ngôn: "Phất dã, Thế Tôn! Hà dĩ cố? - Thiệt vô hữu pháp danh A La Hán". Thế Tôn! Nhược A La Hán tác thị niệm: Ngã đắc A La Hán đạo, tức vi trước ngã, nhơn, chúng sanh thọ giả".

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? - A La Hán có tưởng như vầy: "Tưởng mình đặng đạo A La Hán chăng?". Tu Bồ Đề bạch Phật : "Bạch đức Thế Tôn ! Không thể đặng. Bởi cớ sao? Bởi thiệt không có pháp chi, kêu là A La Hán cả".

Bạch đức Thế Tôn! Nếu A La Hán mà có tưởng như vầy: "Tưởng mình đặng đạo A La Hán, tức là trước tướng: Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả".

 

Giải : Tạ Linh Vận giải: A La Hán :Vô Sanh, không còn thân tướng, không còn sanh nữa; nên nói: Vô Sanh. Bằng có lòng tưởng niệm thì còn có tướng ngã, nhơn.

Có lời chú giải như vầy: "Quả A La Hán, sanh đã hết, hạnh đã lập, công việc đã xong, chẳng có hậu hữu nữa. Đối với các tướng các pháp, thiệt không có cái "sở đắc", lại cũng không sanh về ba cõi nữa, cho nên nói: Bất Sanh".

Tăng Nhược Nột giải: A La Hán gồm có ba nghĩa: 1. Dứt hết phiền não nghi hoặc; 2. Hậu thân chẳng còn sanh nữa; 3. Đáng chịu cho nhơn thiên cúng dường. Lại cũng gọi là quả Vô học.

Từ Sơ quả cho đến quả A La Hán, cũng đều chứng cái thể vô vi ấy, chớ không còn riêng có pháp chi cả. Bởi không còn chấp bỏ, cho nên mới có mấy lần nói "thiệt không" đó.

Lại nói: Bằng A La Hán có dấy lòng tưởng rằng "đắc quả", thì còn có sự lỗi về chấp trước tướng ngã nhơn.

Trần Hùng giải: Các lậu nghiệp đã hết, không còn phiền não nữa, nên nói: A La Hán.

A La Hán chỉ làm theo cái pháp sẵn có, là pháp Bát Nhã Ba la mật đắc đạo; bằng tự có pháp chi, thì hẳn chưa dứt lòng "sở đắc", đâu đặng xưng là quả ấy. Cho nên nói: Thiệt không có pháp chi gọi là A La Hán cả".

Kinh Pháp Hoa có nói: "Đối với các pháp không nhiễm, cũng chứng đặng quả A La Hán ", là vậy đó.

Từ quả Tu Đà Hoàn cho đến A La Hán, từ đắc quả cho đến đắc đạo, cứ theo thứ lớp mà tu, thì đạo Vô thượng Bồ đề, cũng có thể theo thứ lớp mà đến đặng.

Nhan Bính giải: Tu theo bốn quả ấy, kêu là Tứ bất hườn.

Tu Đà Hoàn danh vi Nhập Lưu tùy thuận thế tình - Nhi vô sở nhập là bổn tánh vốn không, cho nên nói: Ở trần chẳng nhiễm trần - Tư Đà Hàm, danh Nhứt Vãng Lai sắc thân tuy có qua lại, mà Pháp thân lặng lẽ chẳng động; thiệt không có qua lại.

A La Hán danh vi Bất Lai là đã dứt sanh tử- Nhi thiệt vô Bất Lai là cưỡng danh là Bất Lai, chớ thiệt không có chi động tịnh - A La Hán năng tác thị niệm ngã đắc A La Hán đạo là còn trước tướng.

Thiệt không có pháp chi, chỉ cưỡng danh là A La Hán vậy thôi.

Trần Hùng giải: Thế Tôn là kêu; Thế Tôn đặng khởi sự hỏi. Niệm là lòng móng tưởng (vọng niệm).

Ông Tu Bồ Đề bạch đức Thế Tôn: "Bằng A La Hán có tướng cho mình đắc đạo, là manh lòng "sở đắc" thì bốn điều trước tướng sai lầm đó, không chi là không làm. Cho nên nói: "Phải bị trước tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả".

Lý Văn Hội giải: Quả thứ tư A La Hán là ông Tu Bồ Đề đã đặng quả ấy, vì các nghiệp lậu đã hết, không còn sự phiền não - Thiệt vô hữu pháp là có phiền não đâu mà dứt, có tham sân đâu mà bỏ; tình không thuận nghịch, cảnh trí đều quên, đâu có lòng chi hòng chấp là đắc quả! Lòng ta đã không, thì không có tưởng mình là "đắc đạo". Bằng tưởng có chỗ đắc đạo, có chỗ đắc pháp, ấy là hạnh của kẻ phàm phu, thì phải còn chấp tướng về ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

51.-ÂM:

Thế Tôn! Phật thuyết ngã đắc vô tránh tam muội, nhơn trung tối vi đệ nhứt, thị đệ nhứt, ly dục A La Hán. Thế Tôn! Ngã bất tác thị niệm: Ngã thị ly dục A La Hán.

NGHĨA:

Bạch đức Thế Tôn! Phật nói con là người đặng pháp vô tránh tam muội, thiệt đúng bực nhứt, mà cũng là bực ly dục A La Hán thứ nhứt nữa. Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng tưởng như vậy : Tôi mới phải bực ly dục A La Hán.

 

Giải : Lục Tổ giải: Tam muội : là chánh thọ, hay là chánh kiến: Lìa khỏi chín mươi lăm thứ tà kiến chánh kiến.

Vương Nhựt Hưu giải: Tam muội hay là Tam Ma Địa, hay là Tam Ma ĐềChánh định, hay là Chánh thọ, là cách tư tưởng của pháp nhập định. Chánh định pháp chánh của nhập định- Chánh thọ là trong khi định phải tư tưởng một cái cảnh giới, mà chẳng phải là vọng tưởng, cho nên nói: Chánh thọ. Người đời chẳng biết lý ấy, lại cho pháp tam muội là cái lý thú hay, nên thấy ai hay về nghề điểm trà thì kêu là điểm trà tam muội, còn hay về nghề giảng độc lại kêu là giảng độc tam muội, đều là chẳng biết chỗ khởi duyên, nên vọng sanh mà đặt tên như thế.

Trong hạng người đặng pháp Tam muội duy có ông Tu Bồ Đề là bực nhứt.

Tăng Nhược Nột giải: Vô tranh, trong kinh Niết bàn có nói: Ông Tu Bồ Đề trụ chỗ hư không.

Bằng có chúng sanh nào chẳng ưa ta đứng, thì ta trọn ngày ngồi hoài chẳng dậy, còn chẳng ưa ta ngồi, thì ta trọn ngày đứng mãi không dời; một niệm chẳng dấy, các pháp không tranh.

Tam muội là đặng cái chỗ nhiệm mầu của lý vô tranh, đứng bực nhứt trong hàng đệ tử.

Lý Văn Hội giải: Tam muội :chánh định; niệm niệm không sanh diệt, gọi là chánh định. Cho nên nói: Trong hạng người tam muội thiệt là đứng bực nhứt.

Ly dục A La Hán: là hay lìa bỏ cả thảy pháp, mà lòng cũng không có chấp rằng Ly dục; bốn tướng vi tế thảy đều dứt hết, chẳng sanh lòng tham nhiễm; cho nên nói: Ly dục.

Lại nói: Cái lòng "không ta" đã vắng lặng, chẳng còn tưởng như vầy: "Ta Ly dục", "ta đắc đạo". Bằng tư tưởng như thế, thì lòng còn sanh diệt, chẳng đặng gọi là bực Ly dục A La Hán.

Xuyên Thiền sư giải: Nắm chặt thì mây che cửa động, lỏng buông thì trăng lặn vực trong.

 

Tụng:

Nói ngựa hà tằng ngựa,

Kêu, trâu vị tất trâu.

Hai bên đều bỏ hết,

Trung đạo lại còn đâu.

Chim hốt bay xa trời sáu cửa!

Kiền khôn tự tại khó tìm cầu.

 

52.-ÂM:

Thế Tôn! Ngã, nhược tác thị niệm: Ngã đắc A La Hán đạo, Thế Tôn tức bất thuyếtTu Bồ Đề thị nhạo A Lan Na hánh ([109]) giả. Dĩ Tu Bồ Đề, thiệt vô sở hành, nhi danh Tu Bồ Đề thị nhạo A Lan Na hánh" (_1_).

NGHĨA:

Bạch đức Thế Tôn! Bằng con có tưởng như vầy: Con đặng đạo A La Hán, thì đức Thế Tôn chẳng có nói Tu Bồ Đề này ưa làm theo hạnh A Lan Na. Bởi Tu Bồ Đề này, thiệt không có làm cái chi, mới gọi là Tu Bồ Đề, ưa làm theo hạnh A Lan Na cho.

 

Giải : Tăng Nhược Nột giải: A Lan Na :Vô tranh. Ông Tu Bồ Đề có nói: "Đức Thế Tôn tuy xưng tán Ta, nhưng Ta thiệt không tưởng như vậy; bằng Ta có tưởng như vậy, thì đức Thế Tôn chẳng chịu nhận cho Ta là đặng cái hạnh Vô tranh bực nhứt".

Lại nói: Lìa sự tham dục của ba cõi, chứng đặng đạo pháp của bốn quả, thấu lý Vô tranh tam muội, mới đặng gọi là Tu Bồ Đề; bởi chữ Tu Bồ Đề Không Sanh cho nên nói: "Ưa làm theo hạnh lành A Lan Na. Bằng chấp trước có chỗ làm thì không phải là hạnh Vô Tranh ".

Trần Hùng giải: Tam muội Chánh thọ, hiểu lý Vô sanh nhẫn, ưa sự vui vắng lặng, là bực Vô tranh tam muội.

Kinh Hoa Nghiêm có nói:

 

"Còn tranh còn sanh tử

Không tranh tức Niết bàn".

 

Lục Tổ có kệ rằng:

Tranh là lòng thắng phụ,

Trái vớihành đạo.

Trước tướng đã sanh tâm,

Tài nào đặng tam muội.

 

Ông Tu Bồ Đề đã chứng đặng cái lý mầu nhiệm không tướng của chơn không đặng sáu muôn pháp Tam muội, mà pháp Vô tranh tam muội lại là đúng hơn hết.

Dùng sức Tam muội siêu thoát ra khỏi ngoài vật cảnh, chẳng bị vật cảnh nó dắt dẫn đẩy xô; vậy mới đáng cho là Ly A La Hán bực nhứt.

Ông Tu Bồ Đề lại hỏi đức Thế Tôn: "Tôi chẳng có tưởng như vậy" thì đủ biết cho ông không còn lòng "sở đắc".

Lại nói Ông Tu Bồ Đề e đại chúng chẳng biết bỏ lòng "sở đắc" nên mới cầu hỏi đức Thế Tôn đến ba bốn phen.

Ngã Tu Bồ Đề tự xưng, Tu Bồ Đề cũng là ông tự xưng - Nhạo là ưa - Nói "Nhạo A La Hán" là người ưa làm hạnh Vô tranh.

Vả lại manh động ở lòng là niệm, còn làm ra công việc là hành. Có làm công việc ấy, thì có hạnh ấy, có hạnh ấy thì tỏ cái "sở đắc" ấy. Ông Tu Bồ Đề đặng Vô tranh tam muội là bởi có hạnh ấy vậy.

Vả chăng, nói: "Vô sở hành" là bởi lòng không "sở đắc". Có hạnh ấy mà lòng không "sở đắc", thiệt rất đáng cho đức Thế Tôn xưng tặng cho là ưa làm theo hạnh A Lan Na.

Nhan Bính giải: Bằng A La Hán còn vọng niệm, còn tưởng "sở đắc" thì bị trước bốn tướng.

"Phật thuyết: Ngã đắc Vô tranh Tam muội nhơn trung "Vô tranh" là tánh Phật bao hàm cả Đại thiên thế giới, không có đấu tranh.

Tam muội :chánh kiến, là bực nhứt trong hạng người thường, và không có đua tranh - Thị đệ nhứt ly dục A La Hán đã dứt hết lục dục - A Lan Na hánh là không có cái hạnh ngã nhơn- Thị nhạo A Lan Na hánh là tột thấu bổn tánh vắng lặng ráo rốt, thiệt không có cái sở hành. Sở hành gọi "là hánh", nhạo là ưa.

Lý Văn Hội giải: A Lan Na: vô tranh. Nếu lòng còn tưởng như vậy là lòng còn sanh diệt tức còn tranh đấu - Tu Bồ Đề thiệt không có cái sở hành là không sanh diệt. Bởi vậy, Phật mới khen ông, là ưa theo hạnh A Lan Na.

Bách Trượng Thiền sư giải: Nếu bây giờ, mà cả thảy các pháp, còn đình lưu mảy may trong tạng phủ, thì chẳng siêu thoát ra khỏi vòng cho đặng; bằng sanh lòng động niệm có "sở cầu", "sở đắc", thì thành ra con giã can. ([110])

Còn trong lòng không có "sở cầu", "sở đắc", thì người ấy không sanh các điều dữ, không chấp tướng ngã nhơn, ấy là nhét hòn núi Tu Di vào trong hột cải.

Chẳng khởi cả thảy tham sân, thì uống nước của bốn biển cả mới đặng.

Chẳng đem những câu chuyện mừng giận vào lỗ tai, đối với cả thảy các cảnh không lầm lỗi rối loạn, không giận giũi, mừng vui, dứt bỏ, thâu thập cho đặng thanh tịnh; ấy là người vô sự. Đặng như vậy thì hơn cả thảy những ông Tăng tri giả, tinh tấn; đáng cho là có thiên nhãn, có Pháp giới tánh, xe chở nhân quả. Phật ra đời hóa độ chúng sanh.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Không sanh thì không diệt, Không ngã ắt không nhơn.

Dứt đặng nhân phiền não, Trừ luôn nghiệp hậuthân.

Cảnh tâm đều tịch tịnh, Quyết định khỏi tham sân.

Trí mọn khôn bi mẫn. Tự mình dưỡng tánh chơn.

Xuyên Thiền sư giải: Chiếu đối với lời nói trước thì lại không hạp.

Tụng:

Bụng sò ẩn ngọc xanh,

Kẹt đá vùi châu đỏ.

Có xạ tự nhiên thơm,

Cần chi đứng trước gió.

Sanh nhai coi lại tợ hồ không.

Ứng dụng đầu đầu đều sẵn có.

53.-ÂM:

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Ư ý vân hà? Như Lai tích tại Nhiên Đăng Phật sở; ư pháp, hữu sở đắc phủ?". - "Phất dã, Thế Tôn! Như Lai tại Nhiên Đăng Phật sở, ư pháp thiệt vô sở đắc".

NGHĨA:

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Ý ông thế nào? Như Lai thuở trước ở chỗ Phật Nhiên Đăng; pháp có chỗ chi đặng chăng?".

"Bạch đức Thế Tôn ! Không. Như Lai khi ở chỗ Phật Nhiên Đăng, thiệt không có chỗ chi đặng pháp cả".

 

Giải : Lưu Đẩu giải: Thuở Như Lai còn làm Bồ Tát, ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đối với cái pháp rốt ráo không có chỗ chi mà đặng, ấy là nói không chấp trước.

Lục Tô> giải: Phật Nhiên Đăng là thầy thọ ký của Phật Thích Ca Mâu Ni, nên mới có câu hỏi ông Tu Bồ Đề: "Khi ta ở chỗ thầy ta mà nghe pháp, vậy có đặng pháp chi chăng?".

Ông Tu Bồ Đề vẫn biết cái pháp là nhờ thầy chỉ dạy, nhưng thiệt không có chi mà đặng; chỉ tỏ tự tánh nguyên laithanh tịnh, vốn không một mảy trần lao, vắng lặng mà thường quang chiếu ắt tu thành Phật. Cho nên biết đức Thế Tôn khi ở chỗ Phật Nhiên Đăng, cái pháp thiệt không có chi mà đặng cả.

Vương Nhựt Hưu giải: Như Lai :Phật tự xưng - Tích là thuở xưa - Nhiên Đăng Phật Đính Quang Bổn sư của Phật Thích Ca.

Trần Hùng giải: Tám vị Vương tử đều học với Phật Diệu Quang, đặng thành đạo Phật, mà vị Phật sau rốt hết là Phật Nhiên Đăng; 16 vị Vương tử đều xuất gia làm Sa Di; đều đặng huệ của Phật, mà vị Phật sau rốt hết là Phật Thích Ca Mâu Ni.

Phật Nhiên Đăng là thầy thọ ký của Phật Thích Ca. Ngài nhờ thầy chỉ dạy, đặng pháp Vô thượng Bồ đề làm đặng một vị Pháp Vương của đạo Thích, mà cái pháp lại không có chỗ chi đặng hay sao. Duy tại không chấp cái chỗ chi đặng đó thôi.

Phật e các bực Bồ Tát chưa dứt đặng lòng sở đắc nên lập lời hỏi ấy. Còn ông Tu Bồ Đề rất tỏ ý của Phật, nên đáp: "Chẳng đặng".

Vả lại, nói cái pháp, thiệt không có chỗ chi mà đặng, là bởi biết Như Lai vốn đặng tâm truyền.

Còn nói "thiệt" là để dứt lòng nghi của đại chúng.

Lý Văn Hội giải: Ư pháp hữu sở đắc phủ Như Lai muốn phá lòng chấp trước của hai bực thừa, cho nên mới hỏi lời ấy.

Ông Bạch Lạc Thiên có hỏi ông Xuyên Thiền sư: "Không tu không chứng, nào khác kẻ phàm phu?".

Đáp: "Phàm phu bị vô minh, hai bực thừa còn chấp trước, khỏi hai bịnh ấy mới là chơn tu".

Người chơn tu chẳng cần năng, chẳng giải đãi; cần thì gần chấp trước , giải đãi thì đọa vô minh. Ấy là lẽ mầu nhiệm của cái tâm, mà cũng là pháp môn của người bắt đầu học đạo.

Ư pháp thiệt vô sở đắc là ông Tu Bồ Đề nói Như Lai tự tánh vốn là thanh tịnh, nên lúc Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng, cái pháp, thiệt không chỗ chi mà đặng.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Trước xưng rằng Thiên Huệ, Nay hiệu gọi Năng Nhơn.

Xét kỹ duyên đều vọng, Suy ra thể chẳng chơn.

Tự như nào có quả, Thiệt lý hẳn không nhân.

Thọ ký đinh ninh đó, Đâu hay bởi cựu thân.

 

Xuyên Thiền sư giải: Xưa đó, nay cũng đó.

Tụng:

Một tay chỉ thiên, Một tay chỉ địa.

May mảy chẳng xem, Đông Tây bốn phía.

Bình sanh đởm lượng lớn tày trời.

Day xích xí quần ma khiếp vía.

54.-ÂM:

" Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Bồ Tát trang nghiêm Phật độ phủ?". - "Phất dã, Thế Tôn. Hà dĩ cố? . Trang nghiêm Phật độ giả, tức phi trang nghiêm thị danh trang nghiêm".

NGHĨA:

" Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Táttrang nghiêm Phật độ chăng?".

- "Bạch đức Thế Tôn ! Không.Bởi cớ sao? Bởi trang nghiêm Phật độ, nhưng chẳng phải trang nghiêm, chỉ cưỡng danh là trang nghiêm".

 

Giải : Triệu Pháp sư giải: Ấy là nói tâm độ Phật lìa tướng trang nghiêm.

Sớ Sao giải: Phật độ diệu tánh của Phật là chơn tâm của chúng sanh. Tâm độ như vậy, nên cho là tướng hảo trang nghiêm chăng?

Phất dã là ông Thiện Hiện lấy lý mà đáp.

Hỏi : "Thế nào là tâm độ không trang nghiêm? Thế nào là tánh không có tướng, thể đồng hư không? Còn trang nghiêm thế nào, mới gọi là trang nghiêm".

Đáp: Sáu độ, muôn hạnh: Bố thí, giới,tinh,nhẫn, định, huệ, các môn ấy và cả thảy thiện pháp đều gọi là trang nghiêm.

Lại nói: "Nếu còn chấp đoạn kiến, thường kiến thì chẳng phải Tịnh độ".

Trong kinh nói: "Muốn tịnh Phật độ thì mới tịnh tâm, tịnh tâm tức là tịnh Phật độ".

Hỏi: Tâm thế nào là tịnh?

Đáp: Ngoài chẳng nhiễm sáu trần, trong không chấp ngã nhơn, không chấp đoạn diệt, ấy là Tịnh độ.

Vương Nhựt Hưu giải: Bởi cớ sao? Đã là Bồ Tát mà còn nói trang nghiêm là làm sao? Là mỗi một Đạ>i thiên thế giới thì có một vị Phật hóa độ. Như thế giới này là chỗ của Phật Thích Ca hóa độ còn thế giới phương Đông là chỗ của Phật A Súc Bệ hóa độ vậy. Mỗi một đại thế giới thì có một vị Phật hóa độ, cho nên mỗi đại thế giới đều gọi là Phật độ.

Mà nói Bồ Tát trang nghiêm đó, là Bồ Tát ở trong Phật độ làm các việc tốt lành, để cải cách cho thế giới: cũng như đức Phật A Di Đà, thuở còn làm Bồ Tát, làm ra vô lượng việc tốt lành; nên nghiệp phước, duyên lành ấy cải cách thế giới đặng, như đại địa đều là vàng bạc, rừng cây lầu đài, đều là châu báu v.v.. cho nên nói: Trang nghiêm.

Phật lại tự hỏi: "Bởi cớ sao?". Bồ Tát nói mình phải trang nghiêm Phật độ cho thanh tịnh, là chẳng phải chơn thiệt? Rồi tự đáp: "Trang nghiêm Phật độ nhưng chẳng phải trang nghiêm, chỉ cưỡng danh là trang nghiêm"; là trong chơn tánh chẳng có chi trang nghiêm; mà nói trang nghiêm đó là hư danh vậy thôi, bởi có một chơn tánh chơn thiệt, chớ không có chi chơn thiệt cả.

Trần Hùng giải: Kinh Duy Ma có nói: "Tùy cái lòng tịnh cõi Phật tịnh". Như vậy thì lòng ta thanh tịnh, tức là Phật độ trang nghiêm, chớ có cần chi những điều trang sức bề ngoài.

Cung điện bằng châu báu, lầu đài lại vẽ vời đều là trang sức bề ngoài, ấy là trang nghiêm của kẻ phàm phu, chớ không phải trang nghiêm của bực Bồ Tát.

Muốn biết trang nghiêm của bực Bồ Tát, thì phải tìm cầu trong chỗ chẳng trang nghiêm, thì hẳn có đủ muôn hạnh trang nghiêm; cho nên nói: Trang nghiêm.

Lý Văn Hội giải:

Trang nghiêm Phật độ là cất chùa, viết kinh,

Bố thí, cúng dường, ấy là trước tướng trang nghiêm, còn lòng thanh tịnh chẳng vọng ngoại cầu, tự tại, tùy duyên, không có chi "sở đắc", đi, đứng, nằm, ngồi, đúng với lý đạo. Cho nên nói: Trang nghiêm Phật độ.

Bàng Bà đang xem Tạng kinh, ông Duy Na xin hỏi nghĩa

hồi hướng. Bàng Bà lấy cái lược ở phía trước đó, giắt lên đằng sau ót mà nói:

"Hồi hướng đó đa!". Như thế thì cái tâm không còn chi là

"năng sở".

 

Nghiêm nghị không năng sở,

Diệt trừ tướng ngã nhơn.

Đoạn thường đều chẳng nhiễm.

Siêu xuất cõi trần huờn.

 

Xuyên Thiền sư giải: Cái khổ của mẹ đẻ, áo vải ông Thanh Châu.

Tụng:

Rửa ráy toàn thân sắc trắng phau,

Tranh hơn vẻ đẹp với hoa, lau.

Cửu cao sẵn chỗ làm chưn đứng,

Đầu đỏ càng xinh lại hại nào?([111])

 

55.-ÂM:

" Thị cố, Tu Bồ Đề! Chư Bồ Tát Ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp, sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm".

NGHĨA :

"Bởi vậy. Này Tu Bồ Đề. Các đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như vậy; chẳng nên sanh tâm trụ sắc, chẳng nên sanh tâm trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp; nên sanh tâm không chỗ chi trụ".

 

Giải : Sớ Sao giải: Ưng : là nên, là nói "nên sanh tâm thanh tịnh như vậy"; là Phật dạy sanh tâm chơn như không nhiễm.

Hỏi : Thế nào là sanh tâm thanh tịnh?

Đáp : Chẳng nên sanh tâm trụ sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.

Lại Kinh Lăng Nghiêm có nói: "Bằng chuyển vật đặng thì đồng với Như Lai", kẻ phàm phu bị vật dục nó chuyển, còn Bồ Tát chuyển đặng vật. Chuyển đặng như vậy, cho nên nói: "Nên sanh tâm không có chỗ trụ".

Vương Nhựt Hưu giải: Bồ Tát Ma ha tát : Giác chúng sanh, hay là Đại chúng sanh, kỳ thiệt đều gọi là Bồ Tát cả - Như thị : là chỉ lại bài văn sau, là chẳng nên sanh tâm trụ chỗ có hình sắc, mà cũng chẳng nên sanh tâm trụ chỗ có tiếng tăm, hơi hám, mùi vị, cảm xúc và cả thảy phương pháp nữa.

Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm : là chẳng nên sanh tâm trụ trước sáu trần, chỉ nên sanh tâm "không sở chỗ trước".

Chư Phật giáo hóa chúng sanh, có nghĩa bực nhứt nghĩa bực nhì. Kinh này nói nghĩa bực nhứt, tuy rất cao mà dễ hiểu, nhưng vậy chớ không dễ gì mà thấu đáo chỗ ráo rốt cho đặng. Còn pháp Tịnh độ tuy là nghĩa bực nhì mà mỗi người đều có gọi thể hành đạo đặng cả.

Phật nói tu Tịnh độ mà rõ nghĩa bực nhứt, đọc tụng kinh điển Đại thừa là bực "Thượng phẩm, thượng sanh" là bực Bồ Tát, thoát khỏi vòng sanh tử. Vậy thì người tu Tịnh độ chẳng nên chẳng hiểu nghĩa kinh này mà thọ trì đọc tụng, hầu có lên trên bực Thượng phẩm Thượng sanh?

Trần Hùng giải: Bồ Tát trang nghiêm đã chẳng phải là tại trang sức bề ngoài, thì hẳn nên cầu ở lòng ta. Nếu lòng mà thanh tịnh, lại còn trang nghiêm nào hơn nữa? Cho nên nói: "Nên sanh tâm thanh tịnh như vậy".

Phàm sanh tâm trụ trước vào sáu trần đều không phải là tâm thanh tịnh; Bồ Tát có nên như thế sao?

Vả chăng, tâm của Phật vốn là thanh tịnh không tướng, đâu có chỗ chi mà trụ; Bồ Tát thọ giáo pháp của Như Lai cũng nên như thế. Cho nên nói: "Nên sanh tâm không có chỗ trụ". Đồng với câu : "Nên sanh tâm không có chỗ trụ" trong phần thứ mười bốn.

Phật nói về cái khổ của sáu trần, thường thường dùng sắc mà nói trước, rồi kế đó mới nói thinh, hương, vị, xúc, pháp thì càng thấy tướng sáu trần duy cái sắc là thế tình dễ mê nhiễm hơn hết.

Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang cho Lục Tổ vừa đến câu: "Nên sanh tâm không có chỗ trụ"; dứt lời Lục Tổ liền tỏ ngộ mà nói: "Nào dè tự tánh vốn là thanh tịnh; nào dè tự tánh vốn không sanh diệt, nào dè tự tánh vốn đã sẵn đủ; nào dè tự tánh vốn không lay động".

Ngũ Tổ nói: "Chẳng biết bổn tâm học đạo vô ích, bằng dứt lời mà biết đặng bổn tâm, thấy đặng tự tánh, tức là bực Trượng phu Thiên nhơn sư" (Thầy của cõi trời cõi người).

Lý Văn Hội giải: Lòng của Bồ Tát thường thường vắng lặng: Không các vọng niệm, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng động chẳng lay, ấy là lòng thanh tịnh; còn lòng của phàm phu bị vô minh diệt vọng tưởng điên đảo các tà kiến, chấp bỏ lành dữ phàm Thánh; ấy là lòng trược loạn.

Bất ưng trụ sắc sanh tâm : là nếu lòng thanh tịnh, thì chẳng bị các cảnh nó hoặc loạn.

Tiêu Diêu Ông giải: Bằng người mà tâm cảnh thanh tịnhcõi tịnh của Phật, còn tâm cảnh trược loạn là cõi uế của ma.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Tâm ý đều an lặng, Tức là Tịnh độ nhân,

Đâu cầu dùng phước trí Hẳn bỏ dứt tham sân

Nghiêm nghị không năng sở, Diệt trừ tướng ngã nhơn.

Đoạn thường đều chẳng Siêu xuất cõi trần hườn. nhiễm,

 

Xuyên Thiền sư giải: Tuy vậy biết liệu thế nào! Trước mắt kia biết làm sao đặng?

 

Tụng:

Thấy sắc không mê sắc,

Nghe thinh chẳng đắm thinh.

Sắc, thinh không trở ngại,

Mới đáng bực viên minh.

 

Lý Văn Hội giải: Tâm của chúng sanh vốn không có chi mà trụ, bởi tại cái cảnh cảm xúc mà sanh; chẳng biết xúc cảnh là không, lại tưởng thế pháp là có, bèn trụ theo cảnh; cũng ví như viên hầu mò nguyệt, mắt bịnh thấy hoa vậy.

Cả thảy muôn pháp đều bởi tại tâm mà sanh ra; bằng ngộ chơn tánh tức là không trụ. Tâm không chỗ trụ tức là trí huệ, thì không có các phiền não; ví như hư không không có chi quái ngại. Còn tâm có chỗ trụ, tức là vọng niệm, thì sáu trần đều khởi lên; ví như đám mây lại qua không định.

Kinh Duy Ma có nói: "Muốn đặng Tịnh độ thì phải tịnh tâm, tùy theo cái tâm tịnh tức là Phật độ tịnh".

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Nếu tâm mà thanh tịnh thì chẳng cần phải mượn ngôn thuyết chi, chỉ không cả thảy tâm tức là trí "vô lậu". Bọn ngươi, mỗi ngày đi, đứng, nằm, ngồi, chuyện giảng, chớ nên chấp trước pháp Hữu vi; trong nháy mắt, lúc buông lời, đều phải giữ theo pháp Vô lậu.

Những kẻ tu hành học đạo đời nay, đều chấp trước cả thảy thinh sắc, chẳng biết làm cho cái tâm đặng như hư không, như cây khô, khối đá, như tro nguội, lửa tàn; vậy mới có một ít phần hạp với lý đạo cho.

Bằng không như vậy, thì một ngày khác cũng phải bị vua Diêm vương khảo đả. Bọn ngươi, chỉ phải lìa bỏ cái pháp có, không cái tâm như mặt nhựt, thường ở chốn hư không, chẳng chấp có soi sáng, mà tự nhiên soi sáng, như vậy há không phải là một việc nhẹ ít tốn công lực hay sao?

Đến lúc ấy, không còn có chỗ dựa nương, tức là con đường của chư Phật; mới thiệt là "Nên sanh tâm không có chỗ trụ"; ấy là Pháp thân thanh tịnh của bọn người, là pháp Vô thượng Chánh giác vậy.

Xuyên Thiền sư giải: Lui lại, lui lại, xem coi khố đá động kia cà.

Tụng:

Canh khuya nhà vắng thủ lâm tuyền.

Phẳng lặng êm đềm cảnh tự nhiên.

Hà sự gió Tây xao xác thổi.

Bỗng nhiên inh ỏi nhạn kêu sương.

56.-ÂM:

"Tu Bồ Đề! Thí như hữu nhơn, thân như Tu Di sơn ([112]) vương, ư ý vân hà? Thị thân vi đại phủ?". Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đại, Thế Tôn! Hà dĩ cố? - Phật thuyết phi thân, thị danh đại thân".

NGHĨA:

"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân bằng núi chúa Tu Di ý ông thế nào - Thân ấy có lớn chăng?". Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn ! Rất lớn. Bởi cớ sao? - Bởi Phật nói chẳng phải thân, mới gọi là thân lớn".

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Tu Di sơn vương là bởi núi ấy cao hơn hết các núi trong bốn châu thiên hạ. Sơn vương là núi chúa của các núi.

Mặt nhựt, mặt nguyệt, đi chung quanh núi ấy mà phân ra ngày đêm, bởi ấy mà chia bốn phía làm bốn châu thiên hạ. Ở trên có ba mươi ba cõi Trời, thiệt đáng cho là rất lớn. Thân người có đâu mà lớn như thế? Ấy là sự thí dụ nên nói: "Ví như có người thân như núi chúa Tu Di" - Tuy rất lớn như thế mà cũng chẳng phải chơn thiệt, chỉ cưỡng danh vậy thôi. Cho nên nói: "Phật nói chẳng phải thân, mới gọi là thân lớn". Sao vậy? Là bởi có hình, tướng đều là hư vọng. Tam thiên thế giới cũng đều là hư vọng, huống chi là thân Tu Di sơn. Duy có chơn tánh mới là chơn thiệt mà thôi.

Kinh này nói nghĩa thứ nhứt của chơn tánh, nên cho cả thảy đều là hư vọng. Cả thảy sở dĩ đều cho là hư vọng đó, là bởi có hình tướng; mà đã có hình tướng thì phải hư hoại, dầu chưa hư hoại là do nơi nghiệp lựcduy trì, có phải là chẳng hư hoại đâu đến khi nghiệp lực hết rồi thì cũng phải hư hoại vậy. Duy có chơn tánh khônghình tướng, nên không hoại đặng, vậy nên mới cho là không hoại. Từ đời vô thỉ, đến nay không có hao kém, nên nói: "Chơn tánh thường trụ".

Trần Hùng giải: Núi Tu Di cao lớn đến ba trăm ba mươi sáu muôn dặm (3 triệu 360 ngàn dặm) là chúa của các núi; mà nó chơn thân lớn như thế hẳn không thế ấy. Duy có Phật thì chơn tánh thanh tịnh không có tướng không trụ trước, không quái ngại, bao cả Thái hư, trùm cả sa giới; dầu núi Tu Di cũng chẳng đủ mà so sánh với sự lớn ấy đặng.

Phật muốn cho người tỏ ngộ chơn tâm, nên mượn cái "thân lớn" mà hỏi, còn ông Tu Bồ Đề tỏ thấu ý Phật nên mới đáp: "Rất lớn" rồi lại e cho đại chúng chưa hiểu, nên lại nói: "Phật nói chẳng phải thân, mới gọi là thân lớn".

Phi thân: là Pháp thân, tức chơn tâm.

Ông Văn Thù Bồ Tát hỏi đức Thế Tôn: "Sao gọi là thân lớn?".

Đáp: "Chẳng phải thân, mới là thân lớn".

Đủ cả thảy giới, định, huệ, tỏ pháp thanh tịnh, mới là "thân lớn", cũng là chỉ cái chơn tâm mà nói.

Như thế thì, chơn tâm cũng có thế mà nuốt cả núi Tu Di đặng.

Nhan Bính giải: Sắc thân tuy lớn như núi Tu Di, rốt lại cũng chẳng phải lớn, là bởi còn sanh diệt.

Phật nói: "Chẳng phải thân", mà chẳng phải thân tức là thân. Còn bổn tánh không có cái thân vọng ấy, nên nói: Thân lớn, là nói Pháp thân của Phật sung mãn bao trùm khắp cả pháp giới.

Lý Văn Hội giải: Sắc thân tuy lớn nhưng tâm lượng cũng nhỏ dầu cho thân hình bằng núi chúa Tu Di đi nữa, mà có tướng thì cũng có thể so lường đặng. Còn tâm lượng của pháp thân rộng lớn sánh tày hư không, không hình không tướng, không thế so lường; cho nên nói: "Thân lớn".

Viên Ngộ Thiền sư giải: "Chẳng lên núi Thái Sơn, chẳng biết trời cao, chẳng vượt biển Thương Minh chưa tường biển rộng". Ấy là luận về cái phạm vi còn hèn thấp, chớ như hạng xem cõi nhơn thiên ở trong hột lúa, biển cả ở đầu mảy lông, cõi Phù Tràng Vương, Hoa tạng giới ở trong lông mày lông nheo; thì nói thử coi người ấy an thân lập mạng ở chỗ nào? - Hiểu rõ đặng cùng chăng? Ấy là.

 

Vô lượng hư không khôn đựng chứa,

Rỗng rang thấu đến chỗ Oai Âm ([113]).

 

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Chỉ núi Tu Di lớn, Dùng so sánh Pháp thân.

Châu vi bao bảy báu, Độ hạnh rất nhiều môn.

Sắc đẹp khoe xanh trắng, Duyên lành kết quả nhân.

Có hình đâu phải lớn, Không tưởng mới là chơn.

Xuyên Thiền sư giải: Giả như có, rồi ở chỗ nào?

Tụng:

 

Thế giới bao nhiêu vật hữu hình,

Tu Di sừng sựng cũng hư danh.

Dầu cho ngươi chỉ muôn điều có.

Ta nói đều "không" lý mới minh.

Phải theo chỗ ấy mà ngộ nhập.

 

CHƯƠNG MƯỜI MỘT

57.-ÂM:

"Tu Bồ Đề! Như Hằng hà trung sở hữu sa số, như thị sa đẳng Hằng hà. Ư ý vân hà? Thị chư Hằng hà sa ninh vi đa phủ?".

NGHĨA:

"Này Tu Bồ Đề! Như dùng số cát trong sông Hằng mà ví dụ có những sông Hằng khác nhiều bằng số cát như vậy.

- Ý ông thế nào? Số cát của những sông Hằng ấy sao ? Có nhiều chăng ?".

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Xứ Tây Thổ có con sông kêu là sông Hằng. Phật hay dùng cát của sông ấy mà nói, là bởi chúng nhơn thường thấy nên mượn đặng ví dụ cho dễ hiểu.

Phật cũng dùng cát ấy mà hỏi ông Tu Bồ Đề: "Nhiều chăng? Là muốn cho biết trước số cát ấy là thật nhiều, rồi sau mới nói".

Chữ "ninh" nhà nho thủ nghĩa như chữ khởi, như thử là "làm sao" là của thầy phiên dịch dùng để làm chữ trợ, không cần phải khảo nghĩa.

58.-ÂM:

Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đa, Thế Tôn ! đản chư Hằng hà, thượng đa vô số, hà huống kỳ sa ! ".

NGHĨA:

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều. Những sông Hằng còn nhiều vô số thay, huống chi là cát!".

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Như Hằng hà trung sở hữu sa số là mỗi hột cát thì một sông Hằng, mà nói số cát của những cả thảy sông ấy, vậy thì sông Hằng còn nhiều vô số thay, huống chi là cát.

Xuyên Thiền sư giải: Trước ba ba, sau cũng ba ba.

Tụng:

Tằng mằng đếm cát một, hai, ba;

Cát ví sông Hằng số quá đa.

Trước mắt ngắm xem không một pháp.

Mới là tịch tịnh, Tát bà ha.

59.-ÂM:

"Tu Bồ Đề! Ngã kim thiệt ngôn cáo nhữ! Nhược hữu: Thiện nam tử, thiện nữ nhơn dĩ thất bảo mãn nhĩ sở hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới dĩ tụng bố thí, đắc phước đa phủ?".

Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đa, Thế Tôn!".

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhơn ư thử kinh trung, nãi chí thọ trì tứ cú kệ đẳng vị tha nhơn thuyết, nhi thử phước đức thắng tiền phước đức".

NGHĨA:

"Này Tu Bồ Đề! Nay ta bảo thiệt ngươi! Nếu có : trai lành, gái tín nào, dùng bảy báu đầy cả hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới ấy, đem ra mà bố thí, có đặng phước nhiều chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn ! Rất nhiều".

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Bằng trai lành, gái tín nào thọ trì theo trong kinh này cho đến những tứ cú kệdiễn thuyết lại cho người khác, thì phước đức ấy hơn phước đức trước kia".

 

Giải : Triệu Pháp sư giải: Bởi cái phước bố thí thì còn nhiễm nên còn chìm đắm trong tam hữu (ba cõi). Còn phước trì kinh thì thanh tịnh, siêu thăng qua bờ kia đặng, cho nên nói: "Hơn".

Sớ Sao giải: Phật lại nói rõ phước vô vi hơn phước hữu vi - Kinh Viên Giác có nói: "Có pháp môn Đại Đà la ni kêu là Viên Giác; lưu bố ra cả thảy tánh chơn như Niết bàn".

Như vậy thì nếu khôngTứ cú kệ trong kinh này làm sao mà Viên Giác diệu tánh đặng? Bởi Viên Giác diệu tánh nên lưu bố ra cả thảy pháp Chơn như, lý của Niết bàn; cái nẻo chẳng sanh chẳng diệt từ đó mà ra.

Nghĩa nhiệm mầu này cũng đồng với nghĩa trong phần thứ tám.

Tỏ đặng như vậy, thọ trì không bỏ, tự lợi lợi tha, khắp cùng loại hữu tình đều rõ đạo ấy; phước ấy tức là phước vô vi, hơn phước bố thí bảy báu hằng hà kia. Vậy nên đệ này mới gọi là đệ "Vô Vi phước lớn".

Vương Nhựt Hưu giải: Phật lại bảo ông Tu Bồ Đề: "Như trai lành, gái tín nào thọ trì theo nghĩa lý trong kinh này, cho đến những Tứ cú kệ rồi giảng giải lại cho người khác thì đã khỏi ác nghiệp buộc ràng, mà lại đặng tỏ ngộ chơn tánh. Còn người nghe đặng cái chí lý này, rồi cũng lần lần tỏ ngộ chơn tánh".

Lâu ngày thì căn lành viên mãn: Siêu thoát luân hồi, khỏi vòng sanh tử, muôn kiếp cũng không cùng tột. Cho nên phước đức ấy nhiều hơn phước bố thí bảy báu đầy cả hằng hà thế giới kia đến vô lượng vô số.

Phật thường nói thí của có khi hết, thí pháp hưởng không cùng; thí của chẳng siêu khỏi cõi trần, thí pháp thoát ra khỏi ngoài tam giới.

Ấy vậy thì phước thí pháp hơn phước kia vô lượng vô số, chẳng có chi là lạ cả.

Trần Hùng giải: Bảy báu tuy nhiều, bất quá là vật hữu hạn của nhơn gian, dùng mà bố thí, thì chỉ đặng cái phước hữu hạn mà thôi. Bằng sánh với câu kệ trong kinh này, nếu ngộ đặng thì sanh về Thiên giới, há không phải là hơn kém cách xa nhau cả muôn triệu hay sao?

Kinh Tam Muội có nói: "Nếu như có người đem vàng bạc đầy cả thành mà bố thí, cũng chẳng bằng người thọ trì "Tứ cú kệ" của kinh này".

Nay có trai lành, gái tín nào, mà thọ trì kệ ấy chẳng những là rõ đặng tự tánh, lại giảng giải cho người cũng kiến tánh nữa, thì cả hai đều đặng sanh về Thiên giới thành đạo Vô thượng Bồ đề, xem lại cái phước bảy báu kia vẫn không đủ luận. Cho nên nói: "Hơn phước đức trước kia".

Kinh Hoa Nghiêm có nói:

 

Như vật báu trong xó,

Không đến không thấy rõ

Phật pháp chẳng ai truyền,

Tuy huệ cũng không ngộ.

 

Vậy thì các công đức giảng giải còn có chi là lớn hơn.

Nhan Bính giải: Đem bảy báu đầy cả thế giớibố thí, đặng phước tuy nhiều, nhưng thuộc về phước hữu lậu, thì chưa khỏi đặng sự cùng tận, chẳng bằng thọ trì Tứ cú trong kinh này, rồi giảng dạy lại người khác, tỏ đặng chỗ "tri kiến" của Phật, thì phước đức ấy lịch kiếp vẫn còn. Cho nên nói: "Hơn phước đức trước tướng kia".

Lý Văn Hội giải: Thậm đa Thế Tôn : là bố thí bảy báu đầy cả hằng hà tam thiên thế giới, đặng phước rất nhiều. Thọ trì Tứ cú kệ: Ông Xuyên Thiền sư đã có giải rõ trong phần Ứng hóa phi chơn đệ ba mươi hai.

Vị tha nhơn thuyết: là nếu giải kinh nghĩa Đại thừa này mà giáo hóa chúng sanh tỏ ngộ cái lòng: "Trụ chỗ không trụ" "đặng phép không đặng". Phải biết thọ trì kinh này là công đức vô vi hơn phước đức hữu viphước đức bố thí bảy báu đầy cả hà sa thế giới.

Trí Giải Thiền sư giải:

Tụng:

Kể sông Hằng đã quá, Những cát lại càng nhiều.

Chứa báu bằng như thể, Thí tài số biết bao.

Chấp mê theo tướng giả. Lừng lẫy nhận tài cao.

Sánh với bốn câu kệ, Phước kia có chút nào.

 

Xuyên Thiền sư giải: Thau thiệt cũng không đổi vàng đặng.

Tụng:

 

Đếm cát sông Hằng luống cực thân.

Lăng xăng sao khỏi, cảnh lao trần.

Đâu bằng tu dưỡng chơn như tánh,

Cây rụi đơm chồi đẹp vẻ xuân.

CHƯƠNG MƯỜI HAI

60.-ÂM:

Phục thứ: "Tu Bồ Đề! Tùy thuyết thị kinh, nãi chí tứ cú kệ đẳng đương tri thử xứ, nhứt thiết thế gian; Thiên, Nhơn, A tu la giai ưng cúng dường như Phật tháp miếu".

NGHĨA:

Lại nói tiếp: "Này Tu Bồ Đề! Chỗ nào tứ cú kệ, phải biết chỗ ấy, cả thảy thế gian: Thiên, Nhơn, A tu la đều nên cúng dường, cũng như tháp chùa, của Phật vậy".

 

Giải : Trần Hùng giải: Tùy thuyết tùy thuận theo chúng sanhthuyết pháp.

Thuyết kinh này, đến chỗ Tứ cú kệ thì cả Thiên, Nhơn, A tu la các đạo đều dùng: Hoa hương, chuỗi hột, tràng phan, bửu cái, hương đăng, mà cung kỉnh cúng dường, như có tháp Xá lợi của Chơn thân Phật ở đó vậy, huống chi là đọc tụng toàn cả bộ kinh này! Phải biết đọc tụng toàn cả bộ kinh này, thì cái pháp đặng thành tựu đó, là pháp thượng thượng "xuất thế gian", chớ chẳng phải là pháp tầm thường.

Cho nên Đàn kinh có nói: "Pháp Ma ha Bát Nhã Ba la mật là pháp rất tôn thượng đúng bực nhứt".

Tạ Linh Vận giải: Phong tẩn pháp thân gọi là tháp, tạo tượng, lập chùa gọi là miễu.

Thể thánh nghi thần đều ở trong Tứ cú kệ nên phải dưng cúng trí kỉnh cho hết lòng.

Lục Tổ giải: Tùy chỗ nào có người ta, thì nên giảng kinh này; thường phải giữ lòng không sở đắc, ắt trong thân ấy hiện toàn thân Xá lợi của Như Lai. Cho nên nói: "Như chỗ tháp miễu của Phật".

Lòng thanh tịnh mà nói kinh này, khiến cho thính giả trừ lòng mê vọng, tỏ ngộ bổn lai Phật tánh, thường giữ sự chơn thiệt thì cảm phục đến Thiên, Nhơn, A tu la, Nhơn, Phi nhơn, các đạo cũng đều đến cúng dường người trì kinh ấy.

Vương Nhựt Hưu giải: Nói tùy chỗ nào là cả thảy những chỗ.

Bằng có người thọ trì, đọc tụng, diễn thuyết, thì công đức oai nghi lực thiệt rất lớn, cho nên chỗ đó thành tháp miễu, mà cả thảy mỗi người và Thiên đạo, A tu la đạo cũng đều cung kỉnh.

A tu la có ba thứ: một thứ thuộc về cõi Trời; một thứ thuộc về cõi người; một thứ thuộc về cõi súc sanh. Đại khái cũng như người, nhưng lòng tham sân cũng còn trọng, nên phải thác sanh về loại ấy. Hễ có phước lớn thì sanh về cõi Trời. Phước nhỏ sanh về cõi người, bực hạ thì sanh về súc sanh.

Tăng Nhược Nột giải: Tháp miễu nói đủ thì là: Tháp bà, là phần mộ hay là mả tròn - Miễu chi đề, chỗ thờ cốt Phật.

Lý Văn Hội giải: Tùy thuyết là lòng không phân biệt, các lý thuyết, tùy chỗ khác nhau, gặp phàm thì nói phàm, còn gặp Thánh thì nói Thánh.

Đương tri thử xứ là nói cái tâm ấy - Như Phật tháp miễu là bằng người chỉ tham danh lợi lòng không thanh tịnh mà nói kinh này, thì trở lại đọa vào luân hồi chớ có ích chi. Như lòng thanh tịnh thì phải vắng lặng chẳng khởi vọng niệm. Dùng lòng không sở đắc không tri giải ấy mà nói kinh này khiến cho những thính giả sanh lòng thanh tịnh, không các vọng niệm mới gọi là cúng dường, thì tuy huyễn thân tức là Pháp thân. Trong ấy có hiện toàn thân Xá lợi của Như Lai, cảm phục đến cõi Thiên, Nhơn đều phải cung kỉnh, nào có khác chi là tháp miễu.

61.-ÂM:

Hà huống hữu nhơn tận năng thọ trì đọc tụng!

Tu Bồ Đề! Đương tri thị nhơn thành tựu tối thượng đệ nhứt hy hữu chi pháp. Nhược thị kinh điển sở tại chi xứ, tức vi hữu Phật, nhược tôn trọng đệ tử.

NGHĨA:

Huống chi, là người thọ trì đọc tụng toàn cả kinh này!

- Tu Bồ Đề! Phải biết người ấy thành tựu đặng cái pháp tối thượng đệ nhứt ít có. Bằng như chỗ nào có kinh điển này, tức có Phật, hoặc như bực đệ tử tôn trọng vậy.

 

Giải : Lục Tổ giải: Tự tâm tụng đặng kinh này, tự tâm rõ đặng kinh này, tự tâm thể đặng cái lý không chấp trước, tuy ở chỗ nào cũng thường tu theo hạnh Phật, thì tự tâm tức là Phật. Cho nên nói: "Ở các chỗ ấy tức là có Phật".

Vương Nhựt Hưu giải: Tôn trọng đệ tử :đệ tử đặng tôn, đặng trọng, là thuộc về bực đại đệ tử, như Bồ Tát v.v...

Bằng hay thọ trì đọc tụng, thì như có Phật cùng đại đệ tử ở đó vậy.

Tăng Nhược Nột giải: Kinh Pháp Bảo.

Tức vi hữu Phật :Phật Bảo.

Nhược tôn trọng đệ tử :Tăng Bảo.

Kinh điển sở tại chi xứ :Tam Bảo ở chung lại.

Đệ tử : là sự học thì sau thầy, nên nói đệ; sự hiểu bởi thầy mà sanh ra, nên nói tử.

Lại nói: Dùng theo lễ phụ huynh mà thờ thầy, nên nói đệ tử.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Ba la mật lục độ, Công đức lớn hằng hà.

Kệ bốn câu thường tụng, Báu vô số khó quá

Pháp môn đều rõ thấu, Cảm phục đến Tu la,

Kinh sám hằng tôn tặng, Thinh danh tợ Phật Đà.

 

Lý Văn Hội giải: Thành tựu là thấy tánh không nghi - Tối thượng đệ nhứt v.v... là Phật với chúng sanh vốn không sai khác.

Bằng lòng thường thanh tịnh, chẳng sanh chẳng diệt, không các vọng niệm, thì bấy giờ chắc đặng thành Phật.

Cao Thiền sư giải: Thân, khẩu, ý thanh tịnh, ấy là Phật xuất thế; thân, khẩu, ý không tịnh, ấy là Phật diệt độ.

Sở tại chi xứ v.v... là như cả thảy trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, lòng không khởi diệt, rỗng rang thanh tịnh, thường giữ theo hạnh Phật, niệm niệm tinh tấn, không có xao lãng, thì chỗ ấy tự tâm là Phật. Ấy là con nhà Phật, cho nên mới đáng tôn trọng.

 

Lại nói:

Tức tâm là Phật, Phật đây nè!

Tìm mách nơi ngoài thiệt quá mê.

Nhứt niệm rỗng rang về bổn địa,

Dễ như rửa cẳng bước lên ghe.

 

Lại nói: Tâm tức là Phật vốn không Phật khác, Phật tức là tâm vốn không tâm khác; ví như bàn tay nắm, như nước thành sóng; sóng tức là nước, nắm cũng bàn tay.

Ông Vô Nghiệp Thiền sư hỏi ông Mã Tổ: "Thế nào tức tâm là Phật?".

Đáp: "Tại ngươi không rõ cái tâm ấy, ngoài ra thì không có vật chi, mê tức chúng sanh, ngộ tức Phật, ví như bàn tay nắm, nắm cũng bàn tay". Dứt lời Sư liền ngộ.

Ông Tăng hỏi Ông Mã Tổ:

- Thế nào là Phật?

Đáp: - Tức tâm là Phật.

 

Ông Bách Trượng hỏi Ông Trường Khánh:

- Thế nào là Phật?

Đáp: - Cỡi trâu tìm trâu.

 

Ông Tăng hỏi Ông Thủ Sơn Hòa Thượng:

- Thế nào là Phật?

Đáp: - Nàng dâu cỡi lừa, mẹ chồng giắt trống.

 

Ông Sơn Khuê Thiền sư có lời tụng :

 

Nhỏ gọi nàng dâu lớn mụ gia,

Cũng đồng địa rị cách không xa.

Đáng cười cỡi ngựa còn tìm ngựa.

Yên ngựa xương lừa xét chẳng ra. ([114])

 

Ông Tăng hỏi ông Từ Thọ:

- Thế nào là Phật?

Đáp : - Gánh nước bán ở bờ sông.

 

Ông Tăng hỏi ông Thái Dương:

- Thế nào là Phật?

Đáp : - Thế nào là chẳng phải Phật?

 

Ông Tăng hỏi ông Qui Tông:

- Thế nào là Phật?

- Ta nói với ngươi, ngươi tin chăng?.

- "Hòa Thượng nói thiệt đâu dám chẳng tin".

- "Là ngươi đó đa!".

 

Xuyên Thiền sư giải: Hiệp lại cũng như vậy.

 

Tụng:

Tợ biển thẩm sâu, như non kiên cố.

Lật lại trở qua, chẳng đi chẳng trụ.

Sư tử lông vàng nhảy khỏi hang,

Hét gầm lũ cáo cả kinh hoàng,

Dùng mưu trù hoạch không dùng võ,

Ngoại đạo tà ma thảy phục hàng.

CHƯƠNG MƯỜI BA

62.-ÂM:

Nhĩ thời Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Đương hà danh thử kinh? Ngã đẳng vân hà phụng trì?".

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Thị kinh danh vi Kim Cang Bát Nhã Ba la mật dĩ thị danh tự, nhữ đương phụng trì ?".

NGHĨA:

Khi ấy Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Kinh này nên đặt tên chi? Chúng con phải phụng trì thế nào?".

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Kinh này đặt tên là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Ông nên dùng nghĩa của danh tự ấy mà phụng trì?".

 

Vương Nhựt Hưu giải: Bát Nhã Ba la mật: Trí huệ đáo bỉ ngạn. - Kim Cang trí huệ đáo bỉ ngạn là nói: rõ đặng kinh này thì trí huệ cũng như loài kim bén chắc, đoạn dứt ngoại vọng, mà thẳng đến bờ kia, là chỗ của chư Phật và Bồ Tát. Dĩ thị danh tự.v... là vưng theo nghĩa ấy mà tu trì.

Trần Hùng giải: Ông Liễu Tông Nguyên có nói: Chỉ dạy rõ rệt hơn hết, có chi cho bằng kinh. Kinh này khi chưa đặt tên. Ông Tu Bồ Đề xin Phật đặt tên. Phật đặt là "Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật", lại dạy phải phụng thừa vưng giữ theo danh tự ấy, nhứt tâm truyền bá cho thiên hạ đời sau.

Lý Văn Hội giải: Kim Cang là vật bén chắc, nên mới mượn loại kim mà ví dụ - Bát Nhã là: trí huệ, là Phật dạy chúng sanh hãy dùng sức trí huệ đặng soi thấu các pháp, thì có pháp chi vật chi mà chẳng phải là không, ví như thép bén hễ chạm đến vật chi thì cũng đều phải đứt phải nát, vậy cho nên nói: "Bát Nhã Ba la mật là đến bờ bên kia". Nếu lòng thanh tịnh, cả thảy vọng niệm chẳng sanh thì mới độ thoát cái biển khổ sanh tử đặng. Nhữ đương phụng trì là lòng phải phụng trì trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, chớ có phân biệt ngã nhơn phải quấy.

Viên Ngộ Thiền sư giải: "Vừa manh động ra việc phải quấy, thì rối loạn bổn tâm", chỉ có một câu ấy làm cho kinh động bấy nhiêu người, phải so sánh suy nghĩ. Bằng đởm đương đặng, dứt bỏ đặng, thì sẽ thấu một bên chỗ Phật. Bằng như theo lời nói ấy, mà chuyển trở cái chỗ rối loạn, thì phải hồi quang, phản chiếu mới đặng.

Thiên Đàn Thạch Cổ Ký có nói: "Thất độ mảy may gây phải cái nhân hắc ám; tà ngôn giây phút, phạm vào sự quấy cấm không. Phật trời nghe thấy, gang tấc chẳng xa, căn dặn người ai, xét suy cho kỹ".

Lư Sơn Qui Tông Thường Thiền sư có nói: Có ông Tọa chủ đến ra mắt, lại nhằm lúc ông đương dẫy cỏ, kế gặp một con rắn, ông bèn chặt đứt.

Tọa chủ nói: "Bấy lâu hâm mộ nhà Sư, nay mới biết nguyên là một Sa môn hạnh xấu". Ông nói: "Ấy, ngươi xấu hay ta xấu?".

Các ngươi hãy nói thử coi, ông Tăng ấy quấy lại chỗ nào?

Ông Phần Dương Chiêu Thiền sư có làm lời tụng:

 

Lư nhạc Tông sư bực thượng ky (cơ),

Gặp duyên chặt rắn dấy từ bi.

 

Ngu si Tọa chủ sanh mê chấp.

"Hạnh xấu" gây nên việc thị phi.

 

Ông Tử Tâm Hòa Thượng có nói: "Việc ấy, nếu cho là phải, thì như bị gai đâm trong con mắt; bằng cho là không phải, thì như mở mắt mà ngủ gục". Các người nói thử coi, rốt lại, sao mới là phải? Có hiểu rõ chăng?".

 

Dễ bề luyện sắt ra vàng bạc,

Khó nỗi khuyên người dứt thị phi.

 

Xuyên Thiền sư giải: Hôm nay cũng việc tình cờ, đi ra một chút ai ngờ gặp to.

Tụng:

Nước chẳng nhận chìm, Lửa không cháy thét

Gió chẳng hề xiêu; Dao không thể chặt.

Mềm lụn hơn tơ; Cứng khư quá sắt.

Dưới đất trên trời; Xưa nay chả biết...

Hả! hả!!

63.- ÂM:

Sở dĩ giả hà? - Tu Bồ Đề! Phật thuyết Bát Nhã Ba la mật, tức phi Bát Nhã Ba la mật, thị danh Bát Nhã Ba la mật.

NGHĨA:

Sở dĩ sao? - Này Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba la mật, nhưng chẳng phải Bát Nhã Ba la mật chỉ cưỡng danh là Bát Nhã Ba la mật.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Sự nói dùng trí huệ đến bờ kia, thì trong chơn tánh không chi mà có, nên nói chẳng phải trí huệ đến bờ kia, chỉ cưỡng danh là trí huệ đến bờ kia đặng dùng mà hóa độ chúng sanh vậy thôi.

Trần Hùng giải: Ông Liễu Tông Nguyên có nói: "Pháp, thiệt rất đúng, thì có pháp chi mà hơn pháp Bát Nhã!". Kinh Lăng Già có nói: "Dùng trí huệquan sát, chẳng đọa vào hai bên, đặng đến địa vị bực Thánh tự giác, ấy là pháp Bát Nhã Ba la mật".

Kinh Tam Muội có nói: "Lòng chẳng chấp có tâm, chẳng chấp hư không, chẳng nương các pháp, chẳng trụ trí huệ, ấy là Bát Nhã Ba la mật ". Vậy thì pháp Bát Nhã Ba la mật là một pháp rất đúng! Nguyên của chính miệng Phật nói ra; nên nói "Phật nói", rồi sau lấy tâm mà truyền tâm, thì chứng đặng pháp Bát Nhã Tam muội ấy; pháp ấy thoát khỏi ra ngoài sự ngôn ý, mà cũng không có chi là "sở đắc". Vậy chẳng phải là Bát Nhã Ba la mật chớ đặt là tên gì?

Đã chẳng phải như vậy mà đặt tên như vậy, vậy mới là đúng với cái tên; vậy thì cái câu: "Ngươi nên phụng trì" đó cũng bởi nơi danh tự ấy.

Nhan Bính giải: Ấy là ông Tu Bồ Đề xin Phật đặt tên kinh, rồi lại hỏi: "Thế nào mà phụng trì?".

Đáp : "Kinh này đặt tên là Bát Nhã Ba la mật".

Vả lại cái bổn tánh diệu minh rỗng rang như cõi Thái hư thể đã là không thì có tên chi mà đặt?

Như Lai e người sanh lòng đoạn diệt, bất đắc dĩ phải cưỡng mà đặt vậy thôi. Cho nên ông Phó Đại Sĩ có tụng:

"E người sanh đoạn diệt,

Quyền phải lập hư danh".

Lý Văn Hội giải: Phật thuyết Bát Nhã Ba la mật: là sự chắc của thiệt tướng Bát Nhã, sự bén của cái quang chiếu Bát Nhã; dứt đặng nguồn cội phiền não mà thấu đến nẻo Niết bàn.

Tức phi Bát Nhã Ba la mật là đã biết pháp thể vẫn không vốn không vọng niệm; bằng không chi quái ngại, hà tất phải trì giới nhẫn nhục? Rỗng rang thanh tịnh, tự tại tiêu diêu, mới là Bát Nhã Ba la mật.

Xuyên Thiền sư giải: Cũng còn sự so sánh.

Tụng:

Một tay đè, một tay xách;

Thổi tiêu quảng nhịp trường canh,

Đờn không dây khảy khúc vô sanh,

Chẳ>ng cần xang, xề, ca ngâm mới.

Âm điệu thông rồi hiểu giả danh.

64.-ÂM:

"Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như Lai hữu sở thuyết pháp phủ?".

Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Như Lai vô sở thuyết".

NGHĨA:

"Này Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có chỗ chi thuyết pháp chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Như Lai không có chỗ chi thuyết pháp cả".

 

Giải : Nhan Bính giải: Phật hỏi: "Có chỗ chi thuyết pháp chăng?". Ông Tu Bồ Đề đáp: "Như Lai không có chỗ chi thuyết, là bởi tỏ ngộ rồi, thì không có chỗ lại nói đặng; bằng nói có chỗ thuyết, tức là chê Phật".

Cho nên khi Phật sắp nhập Niết bàn, ông Văn Thù xin Phật "Chuyển pháp luân" lại. Phật bảo rằng: "Ta ở thế 49 năm, chưa hề nói lấy một chữ gì, mà nay ngươi xin ta "Chuyển pháp luân" lại! Vậy thì Ta có Chuyển pháp luân hay sao?".

Lại Phật có kệ rằng:

 

Từ sau khi Giác ngộ,

Sông Bạt đề vào ngụ;

Hai chỗ chỉ trên đây,

Chưa hề nói một chữ.

 

Lý Văn Hội giải: Bổn tâm vốn tịnh, các pháp vốn không, lại có pháp chi mà thuyết - Hai bực thừa còn chấp nhơn, pháp là có, nên mới có chỗ thuyết. Còn Bồ Tát tỏ ngộ nhơn, pháp đều không, nên không có chỗ thuyết.

Cho nên trong Kinh mới nói: "Bằng có người nói Như Lai có chỗ thuyết pháp tức là chê Phật".

Từ Thọ Thiền sư giải:

Tụng:

Tự tánh dường thu nguyệt

Vực sâu màu nước biếc;

Vật chi dám sánh tày;

Mà biểu làm sao thuyết.

 

Ông Hàng Sơn nói chẳng đặng thì nín. Các người có nói đặng chăng? Làm sao cho cái miệng như tấm tảng đá, mới tỏ rõ thấu đáo đặng.

Bằng hay, tỏ ngộ tướng, tánh vốn không, có không đều bỏ, nói, nín thảy quên; vậy mới thấy đặng tự tánh thanh tịnh cho. Tuy trọn ngày nói cũng không có nói, tuy trọn ngày thuyết cũng là không thuyết.

Bảo Ninh Dõng Thiền sư giải:

Tụng:

Con cái trong thân cả lũ đoàn,

Đứa xưng tái bá đứa xưng vương.

Thế mà có đứa không hay nói,

Đại Phật từ bi chẳng dám đương.

 

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Trong danh không có Trong nghĩa cũng không nghĩa, danh.

Đao trí huệ rèn đúc, Ải tham vọng phá banh.

Kíp qua nơi bỉ ngạn, Mới khơi chốn mê tình.

Người trí tu chơn tánh, Đứa ngu chuộng sắc, thinh.

 

Xuyên Thiền sư giải: Nói nho nhỏ, nói nho nhỏ!

 

Tụng:

Vào cỏ tìm người chẳng quản bao,

Dùng dao gọt vết mó tay vào.

Tới lui vi bẳng không tông tích,

Văn thể ràng ràng chẳng thấy sao?

65.-ÂM:

"Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Tam thiên đại thiên thế giới sở hữu vi trần thị vi đa phủ?". Tu Bồ Đề ngôn: "Thậm đa, Thế Tôn !". Tu Bồ Đề! Chư vi trần, Như Lai thuyết phi vi trần, thị danh, vi trần; Như Lai thuyết thế giới, phi thế giới, thị danh thế giới.

NGHĨA:

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? - Trong tam thiên đại thiên thế giới có những vi trần, vậy là nhiều chăng?".

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn ! Rất nhiều".

- Tu Bồ Đề! Những vi trần, Như Lai nói chẳng phải vi trần chỉ cưỡng danh là vi trần - Như Lai nói thế giới, cũng chẳng phải thế giới, chỉ cưỡng danh là thế giới.

 

Giải : Trần Hùng giải: Kinh Hoa Nghiêm có nói: Trong ba ngàn đại thiên thế giới là bởi tại vô lượng nhân duyên mà tạo ra cả thảy chúng sanh, chớ không phải thế giới nào khác hơn nữa. Ngộ cũng chỗ ấy, mà mê cũng chỗ ấy. Lòng ngộ là lòng thanh tịnh có lòng ấy mà ở thế giới ấy là thế giới thanh tịnh; lòng mê là lòng vi trần; có lòng ấy ở thế giới ấy, tức là thế giới vi trần.

Ấy vậy: Biết bao nhiêu là vi trần, thì biết bao nhiêu là thế giới. Cho nên ông Tu Bồ Đề đáp: "Rất nhiều", thiệt là đáng lắm.

Lại nói: Chư vi trần là cái lòng vi trần của cả thảy chúng sanh.

Phật Hóa thân ở nơi vi trần thế giới, ứng hiện ra biết bao nhiêu là đại thần lực, khai mở cái pháp Thanh tịnh Vô cấu:

1. Khiến cho cả thảy chúng sanh, đều sanh lòng thanh tịnh, không thể cho vi trầnô nhiễm, nên nói: Chẳng phải vi trần.

2. Đặng cái pháp xuất thế gian, không để cho thế gianvi phạm, nên nói: Chẳng phải thế giới.

Thế Tôn đáp với ông Văn Thù: "Nói thế lìa thế, nói trần lìa trần"; ấy là cái pháp ráo rốt. Còn nói: "Chẳng phải vi trần, chẳng phải thế giới", tức là cái lý lìa trần lìa thế vậy.

Nhan Bính giải: Thế giới, vi trần, cả hai đều chẳng phải chơn thiệt.

Trong kinh có nói: "Cả thảy núi non có khi sụp lở, cả thảy sông rạch có khi khô cạn, duy Pháp thân thường còn, chẳng hoại".

Lý Văn Hội giải: Vi trần chúng sanh, vọng niệm nên phiền não, khách trần che lấp cái tánh thanh tịnh, ví cũng như bụi trần ô nhiễm vậy.

Vọng tưởng phiền não như thế, cũng như người nhặm con mắt thấy hoa trên không, kẻ si mê mò trăng dưới nước, bắt bóng trong gương; đã uổng công lại thêm vô ích.

Phó Đại Sĩ

Tụng:

 

Vi trần thành thế giới, Thế giới hóa vi trần.

Giới ấy nhơn thiên quả, Trần là trược lậu nhân.

Nhân vi trần chẳng thiệt, Quả thế giới không chơn.

Nhân quả cho rằng huyễn, Mới thanh tịnh pháp thân.

 

Tụng tiếp:

 

Vọng tưởng dây thành rắn, Chấp mê bởi tại lòng.

Nhát, kinh ma xó tối, Nhặm, thấy sắc trên không.

 

Một việc tuy không khác, Ba người nói chẳng đồng.

Biết rằng đều mộng huyễn, Xe lớn mặt thong dong.

 

Triều Thái Phó giải: Niệm sanh, niệm dứt đều bởi tại lòng. Niệm sanh thì cả thảy phiền não đều sanh, niệm dứt thì cả thảy phiền não đều dứt; đã tự lòng thì phải làm thế nào đặng cho không niệm.

Cổ Đức có nói:

 

Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện,

Sáu căn vừa động đám mây che.

 

Sát Thiền sư giải:

 

Chơn tịnh vừa sanh may mảy niệm,

Diêm phù đã chốc tám ngàn năm.

 

Tiêu Diêu Ông giải:

Tụng:

 

Chẳng sợ niệm sanh, Chỉ e ngộ trễ.

Ngộ mau dứt mau, Nhị diệu hạp lẽ.

Lỗi cải quấy chừa, Nhan, Cừ ([115]) kỉnh lễ.

Viên Ngộ Thiền sư lên Pháp đường nói :

 

Mười phương tụ hội về,

Kẻ kẻ học vô vi.

Ấy thiệt trường thi Phật,

Tâm không mới trúng đề.

 

Đại trượng phu phải có chí khí oanh liệt khẳng khái, anh linh, đạp phá Hóa thành, về nhà ngồi an ổn. Ngoài chẳng thấy có cả thảy cảnh giới, trong chẳng thấy có tự mình, trên chẳng thấy có chư Thánh, dưới chẳng thấy có phàm phu; sạch sạch bóng, đỏ đỏ thắm, một niệm chẳng sanh như thùng không đáy. Như vậy không phải là "tâm không" sao?

Đến chỗ ấy lại còn rầy đánh nữa sao? - Lại còn huyền diệu lý tánh nữa sao? - Lại còn kia đây phải quấy nữa sao? - Bấy giờ ví như một điểm tuyết rớt trong lò lửa, như thế không phải là trường thi Phật hay sao?

Tuy vậy mà cũng phải nương lấy thềm thang, ví bằng đừng nói cái câu "nương thềm thang" rồi nói làm sao chớ?

Ấy là:

Trong hội quần tiên không ảnh tích,

 

Giữa trường đa sĩ chiếm khôi khoa.

 

Tiêu Diêu Ông giải: Tan canh thức dậy duyên niệm chưa sanh, tinh thần tĩnh mỉnh, bên tai chỉ nghe tỏ rõ, như có ba thứ diệu âm: một là tiếng rửa ngọc dưới suối trong, hai là tiếng khánh ngân khua động trên không; ba là tiếng ve kêu véo vắt; lặng lẽ lóng nghe giúp mùi thiền duyệt, ở yên diệu cảnh chả có chi hơn. Hiểu rõ đặng cùng chăng?

 

Người đau xem giống hình cò ốm,

Tai bịnh nghe in tiếng dế kêu.

 

Phi vi trần thị danh vi trần: là một niệm tỏ rồi nên diệu dụng niệm trước không các vọng tưởng, rỗng rang thanh tịnh, là chẳng phải vi trần, niệm sau không thanh tịnh ấy là vi trần.

Phi thế giới thị danh thế giới : làbằng không vọng niệm tức thế giới Phật, còn có vọng niệm tức thế giới chúng sanh. Niệm trước thanh tịnh tức chẳng phải thế giới, niệm sau không thanh tịnh tức là thế giới.

Tạ Linh Vận giải: Tan ra làm vi trần, hiệp lại thành thế giới, không tánh là chẳng chẳng phải vi trần thế giới, giả danhvi trần thế giới.

Xuyên Thiền sư giải: Phương Nam: Thiệm Bộ Châu, phương Bắc: Uất Đơn việt.

 

Tụng:

Trên trời che, Dưới đất chở,

Đói thì ăn, buồn thì ngủ,

Đông độ Tây thiên, Tây thiên Đông độ,

Tháng giêng, mồng một tức đầu năm,

Đồng cả thế gian đâu cũng có.

66.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? - Khả dĩ tam thập nhị tướng kiến Như Lai phủ? - Phất dã, Thế Tôn ! Bất khả dĩ tam thập nhị tướng đắc kiến Như Lai. Hà dĩ cố? - Như Lai thuyết tam thập nhị tướng, tức thị phi tướng, thị danh tam thập nhị tướng?".

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? - Nên dùng ba mươi hai tướng mà cho là Như Lai chăng? - Bạch đức Thế Tôn! Không - Chẳng nên dùng ba mươi hai tướng mà cho là Như Lai.

Bởi cớ sao? - Bởi Như Lai nói ba mươi hai tướng, nhưng chẳng phải tướng, chỉ cưỡng danh là ba mươi hai tướng ?".

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Vi trần trong tam thiên thế giới thiệt cũng là nhiều; nhưng gặp mưa thì thành bùn, mà bị lửa lại thành ra ngói gạch, hẳn không có định thể, không chi là chơn thiệt vi trần cả; cho nên nói: Chẳng phải vi trần, chỉ cưỡng danh vậy thôi.

Ấy là nói về vật thiệt nhỏ mà thiệt nhiều, còn như vật thiệt lớn như là thế giới, mà thế giới cũng chẳng phải là chơn thiệt; đến khi kiếp số hết rồi thì phải hư hoại. Ấy là hư vọng chẳng phải chơn thiệt chỉ cưỡng danh là thế giới.

Phật tuy hiện sắc thân ra ba mươi hai tướng, chớ đến khi nhập Niết bàn thì cũng đều không cả. Chẳng nên dùng tướng ấy mà cho là chơn tánh Phật, cho nên nói: Chẳng nên dùng ba mươi hai tướng mà cho là chơn tánh Như Lai - Chữ Như Lai này tức là chơn tánh Phật, còn bài sau nói: "Như Lai nói ba mươi hai tướng", chữ "Như Lai" đó tức là sắc thân Phật.

Phật nói : "Ta nói ba mươi hai tướng là chẳng phải tướng" (chẳng phải tướng chơn thiệt), chỉ cưỡng danh vậy thôi.

Đại ý trong phần này nói: Nhỏ như vi trần, lớn như thế giới, tốt như sắc thân Phật, thảy đều hư vọng giả hiệp, chỉ có cái hư danh mà thôi, rốt rồi cũng phải biến hoại, duy có cái chơn tánh mới là chơn thiệt; nên từ xưa đến nay chẳng hề biến hoại.

Trần Hùng giải: Ba mươi hai tướng tốt đẹp khác thường, hình thể sáng chói như ngọc lưu ly. Tướng ấy chẳng phải là tại dục ái mà sanh, cũng như Kinh Lăng Nghiêm nói vậy. Nếu nói không phải tại dục ái mà sanh thì hẳn bởi tại tiền thân có tu ba mươi hai hạnh mà có.

Người đời luống chấp ba mươi hai tướng mà chẳng tu ba mươi hai hạnh, thì làm sao mà thấy đặng Pháp thân Như Lai?

Lại nói: Như Lai bởi có hạnh ấy nên mới có tướng ấy.

Nói tướng là đại ý nói bởi ba mươi hai hạnh, còn nói chẳng phải tướng là nói Pháp thân.

Kinh Hoa Nghiêm có nói: "Pháp thân của chư Phật không thể nghĩ bàn đặng, không hình sắc cũng không ảnh tượng".

Vậy nên nói ba mươi hai tướng của Như Lai, là bởi cớ ấy, chớ không chi khác.

Kinh Bát Nhã có nói về ba mươi hai tướng của Như Lai:

1. Dưới bàn chân đầy đủ,

2. Dưới chân có cả ngàn chỉ khu ốc,

3. Tay chân mềm dịu,

4. Ngón chân như chân nhạn,

5. Ngón tay ngón chân đều no tròn,

6. Gót xứng với bàn chân,

7. Bàn chân xứng với gót,

8. Hai chân tròn vót như chân nai,

9. Tay dài thòng tới đầu gối,

10. Âm tướng qui tàng,

11. Chân lông ửng màu xanh tía,

12. Lông đều xoay qua phía hữu,

13. Da trơn mịn không dính dơ,

14. Màu da sắc vàng,

15. Tay chân vai cổ, bảy chỗ đầy đủ,

16. Cổ tròn lạ thường,

17. Hai cái nách no đủ,

18. Dung nghi đoan chánh,

19. Thân tướng trang nghiêm,

20. Hình thể xứng nhau,

21. Oai dung như sư tử,

22. Chói hào quang mỗi phía một tầm,

23. Hàm răng bốn mươi cái khít và bằng,

24. Bốn răng cấm trắng và bén,

25. Trong miệng có mùi thơm,

26. Lưỡi dài che đặng cả cái mặt,

27. Tiếng Phạm dịu dàng đủ giọng,

28. Lông nheo như Ngưu vương,

29. Con mắt có quầng đỏ,

30. Mặt như trăng tròn,

31. Chỗ gian mi có lông trắng,

32. Trên đầu lồi thịt lên như đầu tóc.

 

Nhan Bính giải: Cứ theo tướng tốt đẹp của Như Lai là cái bổn tánh rỗng rang vắng lặng không có tướng chi cả, chớ chẳng phải dùng ba mươi hai tướng mà cho bổn tánh đặng.

Khi Phật ở trên cõi Trời Đao Lợi, ông Mục Liên biểu thợ chạm ba mươi hai tướng của Phật; thợ chạm đặng có ba mươi một tướng, duy còn tướng Phạm âm chạm không đặng.

Ông Viện chủ hỏi ông Nam Tuyền: "Thế nào là tướng Phạm âm?".

Đáp: "Sái thì hai người".

Lý Văn Hội giải: Tam thập nhị tướngnhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, trong năm căn ấy đều đủ sáu hạnh Ba la mật;bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định trí huệ. Còn cái căn ý sẵn đủ pháp Vô trụ, Vô vi, đủ hạnh thanh tịnh mới gọi là ba mươi hai tướng.

Như Lai thuyết tam thập nhị tướng v.v... là nói Pháp thân có danh không tướng, nên nói chẳng phải tướng, mà đã tỏ đặng chẳng phải tướng thì rõ đặng chơn tánh Như Lai.

Tiêu Diêu Ông giải: Phải biết Pháp thân của chư Phật, bổn tánh không có thân chi, lấy tướng hảo trang nghiêm mà làm thân. Cho nên ông Lâm Tế có nói: "Chơn Phật không hình, chơn đạo không thể, chơn pháp không tướng" là vậy.

Xuyên Thiền sư giải: Mượn áo của bà mừng tuổi bà.

Tụng:

Ngươi có thì ta có,

Ngươi không ta cũng không.

Có, không đều chẳng chấp,

Đối diện miệng mồm đồng.

 

67.-ÂM:

"Tu Bồ Đề? Nhược hữu Thiện nam tử; Thiện nữ nhơn, dĩ Hằng hà sa đẳng thân mạng ([116]) bố thí.

NGHĨA:

"Tu Bồ Đề! Bằng có trai lành, gái tín nào đem thân mạng bằng như số cát sông Hằngbố thí.

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Như có người đem cả thân mạngbố thí đặng cầu đạo Vô thượng Bồ đề, là trụ tướng bố thí.

Kinh Thiền Yếu có nói: "Nếu mà cầu tướng bề ngoài, dầu lịch kiếp cũng không chi đặng".

Lại kinh Giáo Trung có nói: "Nếu tưởng cho có thân mà bỏ đặng, thì chẳng tỏ cái nghĩa Uẩn không".

Thuở xưa có vua nước Kế Tân mang gươm đến chỗ ông Sư Tử Tôn giả ([117]) mà hỏi rằng:

- Sư tỏ đặng cái lý Uẩn không chăng?.

- Đã đặng rồi.

- Hãy cho ta cái đầu.

- Thân còn chẳng có, huống chi là đầu.

Dứt lời vua bèn chém đầu Tôn giả, thì thấy máu trắng như sữa, phun vọt lên cao hơn một trượng, rồi thình lình cái tay của vua tự nhiên rụng xuống.

Bởi biết đặng nhơn, pháp đều không, nên bố thí chẳng trụ tướng. Sở dĩ ông Tôn giả không sợ chết là thế ấy.

 

Ông Phó Đại Sĩ có lời tụng:

 

"Pháp tánh không sau trước,

Dung quang chẳng cựu tân.

Uẩn không là giả hiệp,

Chỉ có ngã cùng nhân ".

 

Cho nên đem cả thân mạngbố thí thì trở lại không hạp với đạo Bồ đề. Nếu chẳng rõ đặng Phật tánh, dầu cho đem cả thân mạng như số cát sông Hằng, mà bố thí, nào có ích chi!

Tụng tiếp:

Dùng thân mạng bố thí, Nghiệp phước lợi càng xa.

Ngăn ngại lòng A nậu, Lu mờ tánh Mật đa,

Vượn khờ mò bóng nguyệt, Mắt chóa lượm vàng hoa.

Biển ái thường chìm nổi, Sông mê luống lại qua.

68.-ÂM:

Nhược phục hữu nhơn ư thử kinh trung, nãi chí thọ trì tứ cú kệ đẳng, vị tha nhơn thuyết, kỳ phước thậm đa".

NGHĨA:

Nếu lại có người giữ theo trong kinh này mà thọ trì cho đến những tứ cú kệdiễn thuyết lại cho người khác, thì đặng phước rất nhiều".

 

Giải : Nhan Bính giải: Đẳng thân mạng bố thí, đẳng là sánh, là tuy ham làm phước chớ rốt lại cũng chẳng rõ bổn tánh. Ví như sanh nhằm nhà giàu sang kiêu căng phóng túng thì không dễ gì là chẳng tạo nghiệp, hẳn phải bị lấy nghiệp báo; đâu bằng thọ trì Tứ cú kệ rồi vì người mà giảng giải; tự lợi lợi tha, đặng phước rất nhiều.

Phó Đại sĩ giải:

Tụng:

 

Tứ cú trong kinh nói, Nên trì niệm tại thân.

Người ngu coi tợ huyễn, Kẻ trí nhận rằng chân,

Pháp tánh không sau trước, Dung quang chẳng "cựu tân".

Uẩn không là giả hiệp, Chỉ có ngã cùng nhân,

 

Xuyên Thiền sư giải: Hai sắc chung một bàn.

 

Tụng:

Rành nghề chùy ít hay rành kiếm,

Người thiện nghệ đều gồm lão luyện,

Khỏi dụng an bài sẵn tự tâm,

Xử thân phải đủ tài quyền biến.

 

La la lý! Lý la la!...

 

Trên non hoa trổ, Dưới nội chim ca.

Lúc này mà đắc ý, Tùy chỗ tát bà ha.

 

CHƯƠNG MƯỜI BỐN

69.-ÂM:

Nhĩ thời Tu Bồ Đề văn thuyết thị kinh, thâm giải nghĩa thu, thế lụy bi khấp, nhi bạch Phật ngôn:

"Hy hữu Thế Tôn! Phật thuyết như thị thậm thâm kinh điển; ngã tùng tích lai sở đắc huệ nhãn, vị tằng đắc văn như thị chi kinh".

NGHĨA:

Khi ấy, Tu Bồ Đề nghe nói kinh này, tỏ đặng cái nghĩa sâu xa, nên sa nước mắt, than khóc mà bạch Phật rằng: "Như đức Thế Tôn ít có! - Phật nói kinh điển rất sâu xa dường ấy, tôi từ khi đặng huệ nhãn đến nay, chưa từng nghe đặng kinh như vậy".

 

Giải : Trần Hùng giải: Thâm giải nghĩa thú là ông Tu Bồ Đề đã tỏ cái lý không tướng của chơn không.

Thế lụy bi khấp : là thương phận mình gặp Phật rất muộn nên không tỏ ngộ sớm.

Nhan Bính giải: Thâm giải là rất sáng suốt, tỏ ngộ.

Lý Văn Hội giải: Ông Tu Bồ Đề nghe thuyết kinh này tỏ ngộ nhơn pháp đều không thấu đặng cái lý trung đạo, nên than thở là ít có rồi cảm động mà sa khóc.

Vị tằng đắc văn : làkhi trước đặng huệ nhãn, biết cái có là không, ngày nay nghe kinh này: cái không lại cũng bỏ.

Ấy là tỏ lý Trung đạo, nên muốn đem giáo pháp mà truyền lại đời sau.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Nghe rõ lý kinh giải, Nửa vui nửa lại rầu,

Khách trần đừng có Năng sở cũng không cầu. nhiễm,

Tỏ tánh mê cho chóng, Chứng thành Phật chẳng lâu.

Bởi nhờ trí tự tại, Phương tiện dạy người tu.

 

Xuyên Thiền sư giải: Đáng cười cho; nói dấu trước mặt.

Tụng:

Từ nhỏ từng quen thú bốn phương,

Non Đoài mấy độ với sông Tương.

Một mai gặp đặng đàng hương lý,

Biết đã nhiều năm lạc dặm trường.

70.-ÂM:

Thế Tôn! Nhược phục hữu nhơn đắc văn thị kinh, tín tâm thanh tịnh, tức sanh thiệt tướng; đương tri thị nhơn thành tựu đệ nhứt hy hữu công đức.

NGHĨA:

Bạch đức Thế Tôn! Nếu lại có người đặng nghe kinh này, mà lòng tin thanh tịnh, bèn sanh thiệt tướng, phải biết người ấy thành tựu cái công đức thứ nhứt ít có.

 

Giải : Lý Văn Hội giải : Tín tâm thanh tịnh là tin đặng cái bổn lai không có pháp chi mà đặng; chẳng khởi vọng niệm, lòng thường vắng lặng, rỗng rang thanh tịnh.

Tức sanh thiệt tướng : là rỗng rang tỏ ngộ, muôn pháp bởi lòng thanh tịnhkiến tạo ra mới là thiệt tướng.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Vốn chẳng tâm "vô cảnh", Cảnh "vô tâm" vẫn không.

Cảnh vong tâm phải dứt, Tâm diệt cảnh nào mong.

Thiệt tướng kinh thường Nhiệm mầu lý khó thông. nói,

Liễu tri duy có Phật, Tiểu Thánh hẳn không trông.

Trần Hùng giải: Trong cái tánh có đủ Pháp thân của Như Lai, như vậy mới gọi là sanh thiệt tướng.

Kinh Viên Giác có nói: "Cả thảy thiệt tướng đều bởi tánh thanh tịnh, tỏ lý mà chứng đặng thiệt tướng; ta vốn biết cái công đức thành tựu Pháp thân cũng không hơn đặng". Cho nên nói: "Thứ nhứt ít có", thiệt đáng thay!

Trong kinh này, thường thường hễ nói đức thì có nói phước, đây lại nói riêng công đức mà không nói phước, là đến khi công thành quả mãn thì phước không đủ luận.

Cho nên trong Đàn kinh có câu: "Công đức ở trong Pháp thân chẳng phải ở tại phước".

 

Nhan Bính giải: Tức sanh thiệt tướng: là tỏ đặng tự tánh.

Thành tựu đệ nhứt v.v.. là: mê tức Phật là chúng sanh, ngộ tức chúng sanh là Phật. Đạo của chư Phật đồng với nhau, không có pháp chi bằng bực đặng.

71.-ÂM:

Thế Tôn! Thị thiệt tướng giả, tức thị phi tướng; thị cố, Như Lai thuyết danh thiệt tướng.

NGHĨA:

Bạch đức Thế Tôn! Thiệt tướng ấy, nhưng chẳng phải tướng; cho nên Như Lai nói: Cưỡng danh là thiệt tướng.

 

Giải : Nhan Bính giải: Phật nói: "Thiệt tướng không có tướng". Còn nói cái thiệt tướng ấy, nhưng chẳng phải tướng, là trống rỗng như cõi Thái hư, không có chút hình tướng chi. Nếu tỏ đặng thiệt tướng thì không nên chấp trước lấy nó; như lời tụng của ông Phó Đại Sĩ: "Bỉ ngạn tránh xa đi" thì thiệt tướng chỉ có cái hư danh, vốn không có chi mà đặng.

Lý Văn Hội giải: Tức thị phi tướng :thiệt tướng không có tướng, nên nói: "Chẳng phải"; nhưng mà chẳng phải là không có thiệt tướng! Ví như: lông rùa, sừng thỏ, thì nói: Rùa không lông, thỏ không sừng, chớ không nói: Không có lông rùa, sừng thỏ. Còn thiệt tướng thì nó thiệt tướng chẳng có tướng, chớ không nói chẳng có thiệt tướng vậy.

Đạt Ma giải: Nếu rõ thiệt tướng thì biết "chẳng phải tướng". Nếu rõ "chẳng phải tướng" thì các sắc tướng cũng vậy. Phải biết ở nơi sắc mà chẳng có sanh sắc, ở nơi tướng mà chẳng có ngại tướng, ví như chất muối trong nước, sắc thanh trong màu, quyết rằng thiệt có, nhưng chẳng thấy hình là vậy.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Chúng sanh với thọ giả,

Ngũ uẩn cưỡng hư danh.

Sừng thỏ không chi thiệt,

Lông rùa chẳng có hình.

 

Xuyên Thiền sư giải: Sơn hà đại địa chỗ nào mà có?

Tụng:

Lóng nghe nước phẳng Xa thấy núi xanh xanh. lặng.

Xuân hết hoa còn lại, Người gần chim chẳng kinh.

Đầu đầu bày đã lộ, Vật vật thể đều bình.

Sao lại còn chưa rõ, Điều điều thiện rất minh.

72.-ÂM:

Thế Tôn! Ngã kinh đắc văn như thị kinh điển, tín giải thọ trì bất túc vi nan.

NGHĨA:

Bạch đức Thế Tôn! Con nay đặng nghe kinh điển như vậy, tin hiểu mà thọ trì, chẳng đủ là khó.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Tín giải :tin theo nghĩa ấy mà hiểu rõ. Thọ trì: là vưng theo nghĩa ấy mà trì tụng.

Trần Hùng giải: Không lòng hồ nghi là tín, hiểu thấu ý nghĩa là giải, kính vưng khắn khắn là thọ, bội phục luôn luôn là trì.

Lý Văn Hội giải: Tỏ ngộ nhơn pháp đều không, lòng không chấp bỏ, rỗng rang thanh tịnh, ấy là tín giải thọ trì.

Như Lai dùng pháp từ bi phương tiện đặng hóa độ người mê; mê tức Phật là chúng sanh, ngộ tức chúng sanh là Phật. Nếu hay tỏ ngộ muôn pháp đều không, nhận chứng bịnh mà đầu thang; dùng: mê đối ngộ, lành đối dữ, tịnh đối động, huệ đối ngu. Các thứ tu hành duy có so sánh như thế, việc ác chẳng nên làm, điều lành phải ráng sức.

Cứ do theo đó mà làm, thì thong dong tự tại nào có khó chi!

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Không sanh nghe lý Như cỏ lộn trong vừng nhiệm, (cây).

Kẻ tục xem môn dạy, Tợ sen ở lửa hừng.

E người sanh đoạn diệt, Nên Phật vạch che giăng.

Các tướng đều lìa bỏ, Rõ ràng ứng, hóa thân.

 

Xuyên Thiền sư giải : Bằng sau không nói, thì lời trước khó thông.

Tụng:

Khó khó!... Khó tợ lên trời quá khó khăn.

Dễ dễ!! Dễ như thức, ngủ, dễ như ăn.

Đi thuyền yếu tại người Ai nói phong ba dậy đất coi lái, bằng.

 

73.-ÂM:

Nhược đương lai thế, hậu ngũ bá (_1_) tuế, kỳ hữu chúng sanh đắc văn thị kinh, tín giải thọ trì, thị nhơn tức vi đệ nhứt hy hữu.

Hà dĩ cố? - Thử nhơn vô ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng.

NGHĨA:

Nếu qua đến đời vị lai, sau năm trăm năm sau, có chúng sanh đặng nghe kinh này, tin hiểu mà thọ trì, thì người ấy thiệt là đệ nhứt rất ít có.

Bởi cớ sao? - Bởi người ấy, không ngã tướng, không nhơn tướng, không chúng sanh tướng, không thọ giả tướng.

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Bằng người lòng thường vắng lặng rỗng rang thanh tịnh, chẳng chấp các tướng; ngộ cái tâm không có chỗ trụ, tỏ cái pháp không"sở đắc", vậy mới là "thứ nhứt ít có".

Xuyên Thiền sư giải: Đi đứng nằm ngồi, ăn cơm mặc áo, lại có việc gì?

Tụng:

Đất thì chắc, Gió thì tan;

Lửa tánh nóng, Nước tánh hàn.

Phật Đà chân đạp đất , Cột phướng ngọn đưa lên.

Muốn tin cho chắc chắn, Bắc đẩu phía Nam xem.

 

74.-ÂM:

"Sở dĩ giả hà? - Ngã tướng tức thị phi tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức thị phi tướng.

Hà dĩ cố? - Ly nhứt thiết tướng, tức danh chư Phật".

NGHĨA:

"Sở dĩ sao? - Ngã tướng, tức chẳng phải tướng, mà nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng cũng tức là chẳng phải tướng.

Bởi cớ sao? - Lìa cả thảy tướng, tức là chư Phật".

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Tức thị phi tướng: là trước nói "không tướng", ấy là bỏ tướng đặng rõ cái nghĩa "không", rồi lại nói "chẳng phải tướng", ấy là tỏ ngộ bốn tướng bổn lai chẳng sanh, cho rõ cái thiệt tướng.

Ly nhứt thế chư tướng v.v... là tỏ ngộ thiệt tướng thì không có chi bằng bực đặng; nên biết người ấy chẳng chấp hai bên, chẳng chấp Trung đạo; cả thảy không trụ, tức là chư Phật.

Lại nói: Lìa tướng thanh tịnh thì rõ lý Tam không, mới đúng với thiệt tướng, mới ráo rốt viên mãn; trước thì Nhơn không, kế đó Pháp không, sau mới Không không. Chư Phật ba đời đồng chứng lý ấy, cho nên nói là:"Phật".

Xuyên Thiền sư giải: Lòng chẳng phụ người, mặt không sắc hổ.

 

Tụng:

Tre già nứt mụt non,

Nhành cũ đơm hoa mới.

Mưa giục khách vào nhà,

Gió đưa bườm chạy tới.

Trúc rậm không ngăn nước lớn ròng,

Non cao dễ đón mây qua lại.

75.-ÂM:

Phật cáo Tu Bồ Đề: "Như thị, như thị".

NGHĨA:

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Như vậy, như vậy".

 

Giải : Lý Văn Hội giải: Như thị như thị: là Phật nhận cho ông Tu Bồ Đề đã rõ đặng cái nghĩa không, rất hạp theo pháp ý của Như Lai.

Trần Hùng giải: Kinh Hoa Nghiêm có nói: "Lìa các tướng hòa hiệp, ấy là bực Thượng giác".

Phật mà nói là Giác, là: ngoài giác lìa cả thảy tướng có, trong giác lìa cả thảy tướng không; chỗ tướng mà lìa tướng, chỗ không mà lìa không, nên mới đặng cái lý diệu mầu không tướng của chơn không.

Bởi vậy mới gọi là Phật.

76.-ÂM:

Nhược phục hữu nhơn đắc văn thị kinh, bất kinh, bất bố ([118]), bất úy, đương tri thị nhơn, thậm vi hy hữu.

NGHĨA:

Lại như có người đặng nghe kinh này, chẳng ngại, chẳng sợ, chẳng nhút nhát, phải biết người ấy, rất là ít có.

 

Giải : Triệu Pháp sư giải: Bực Đại thừa văn huệ giải, là một khi nghe kinh không có sắc sợ, nên nói "chẳng ngại".

Bực Đại thừa tư huệ giải :tin chắc không nghi, nên nói chẳng nhút nhát.

Bực Đại thừa tu huệ giải: là vưng giáo lýtu hành, không có khi báng, nên nói chẳng sợ.

Trần Hùng giải: Chẳng ngại thì lòng không nghi, chẳng nhút nhát thì lòng không sợ, chẳng sợ thì lòng không thối.

Lý Văn Hội giải: Bất kinh, bất bố, bất húy: là nếu lòng vắng lặng rỗng rang thanh tịnh sánh tày hư không thì có chi mà kinh sợ! - Thậm vi hy hữu: là những bực thượng căn khí đặng nghe kinh này lòng xét thọ trì, hằng không thối chuyển nên biết người ấy thiệt là có.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Bằng phát tâm hành đạo, Phải tỏ lý hai bên.

Tịch tịnh sao rằng tướng, Bồ đề há gọi duyên.

Không xe không kẻ cỡi, Chẳng pháp chẳng chi nhơn.

Muốn rõ thông chơn đế, Trước tìm lấy bổn nguyên.

 

Xuyên Thiền sư giải: Bởi tự mình minh.

Tụng:

Mảy lông hút biển cả, Hột cải nhét non Tu.

Chói lói vừng minh nguyệt, Tưng bừng khắp đại châu.

Dò đặng đàng về quê Đông, Tây, Nam, Bắc hết quán cũ, phiêu lưu.

 

77.-ÂM:

Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Như Lai thuyết đệ nhứt Ba la mật, tức phi đệ nhứt Ba la mật, thị danh đệ nhứt Ba la mật.

NGHĨA:

Bởi cớ sao? Này Tu Bồ Đề! Như Lai nói Ba la mật thứ nhứt, (Bát Nhã Ba la mật) nhưng chẳng phải Ba la mật thứ nhứt, chỉ cưỡng danh là Ba la mật thứ nhứt.

 

Giải : Sớ Sao giải: Hà dĩ cố: là nêu rõ pháp tối thắng trong cái nhân địa.

Đệ nhứt Ba la mật: Ba la mật có mười thứ: 1. Bố thí; 2. Trì giới; 3. Nhẫn nhục; 4.Tinh tấn; 5. Thiền định; 6. Trí huệ; 7. Từ; 8. Bi; 9. Phương tiện và 10. Bất thối.

Nói Ba la mật thứ nhứt tức là Bố thí Ba la mật.

Hỏi: Thế nào là nói pháp bố thí là thứ nhứt?

Đáp: Pháp bố thí gồm đủ cả muôn hạnh thấu đến quả Bồ đề, cũng nhờ hành cái pháp ấy, bởi nó sanh xuất đặng các điều lành.

Nói "chẳng phải" là e người có lòng năng sở.

Trước phải bỏ cái giả danh mà làm pháp Bố thí vô trụ tướng. Cho nên nói "Chỉ cưỡng danh là pháp Ba la mật thứ nhứt".

Lý Văn Hội giải: Như Lai thuyết đệ nhứt Ba la mật : là nếu tỏ ngộ chẳng phải tướng thì thấu đến bờ kia; thiệt tướng không có hai, nên nói: thứ nhứt.

Phi đệ nhứt Ba la mật : là tỏ ngộ nhơn, pháp đều không, thì có sanh tử đâu mà độ, có bờ kia đâu mà đến, rồi có chỗ nào là thứ nhứt! Cho nên nói: "Chẳng phải thứ nhứt".

Thị danh đệ nhứt Ba la mật: làtỏ ngộ cả thảy pháp, thì biết cả thảy pháp đều là giả danh.

Kinh Pháp Hoa có nói:

 

"Chỉ dùng danh tự giả,

Đặng dắt chúng sanh vào".

 

Nếu tỏ ngộ đặng lý ấy tức là vào trong pháp môn kiến tánh. Cho nên nói: "Chỉ cưỡng danh là pháp Ba la mật thứ nhứt".

Giả danh ấy cũng như lấy lá cây vàng, giả làm vàng, đặng để dỗ con nít khỏi khóc đó thôi.

Hai bực thừa nghe nói giả danh, tưởng cho rằng thiệt, rồi chấp theo đó mà tu đặng thoát vòng sanh tử; vốn chẳng biết có sanh tử đâu mà lìa.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Đạo pháp Ba la mật, Phân ra cả chục tên.

Vọng chơn chia đẳng cấp, Mê ngộ cách rào phên.

Trong lửa tìm nguồn nước, Trên không kiếm tiếng rền.

Như như nào đặng mất, Vậy mới gọi viên minh.

 

Xuyên Thiền sư giải: Mở bét rõ ràng, ra tay chỉ vẽ.

Tụng:

Gọi là đệ nhứt Ba la mật,

Từ ấy mới thiên sai vạn biệt

Mặt quỉ, đầu thần đối diện đây,

Lúc này, chớ nói rằng không biết.

 

78.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai thuyết, phi nhẫn nhục Ba la mật, thị danh nhẫn nhục Ba la mật.

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải nhẫn nhục Ba la mật, chỉ cưỡng danh là nhẫn nhục Ba la mật.

 

Giải : Sớ Sao giải: Nhẫn nhục Ba la mật : Ba la mật thứ ba trong mười Ba la mật.

Vương Nhựt Hưu giải: Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Nếu nhẫn nhục đặng thì không dấy lòng sân, không hỗn loạn chơn tánh, mới đến đặng cái "bờ kia" của Bồ Tát và chư Phật. Cho nên nói: Nhẫn nhục Ba la mật.

Phật khi thì tự xưng Như Lai, khi xưng Phật, khi xưng Ta. Xưng Ta là Ngài xưng riêng, còn xưng Như Lai, Phật là Ngài và chư Phật Như Lai đều có nói. Trọn cả bộ kinh này cũng đều như vậy.

Phật nói: Ta cùng chư Phật nói nhẫn nhục Ba la mật, đó không phải là Ba la mật chơn thiệt, bởi trong chơn tánh khôngnhẫn nhục Ba la mật. Cho nên nói: "Chỉ cưỡng danh là nhẫn nhục Ba la mật ".

Lý Văn Hội giải: Nhẫn nhục Ba la mật là nếu có chấp lòng "năng nhẫn" tức còn thấy có chơn tướng, thì không thông lý "chẳng phải tướng": ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

Ông Thái Dương Thiền sư giơ đuốc lên hỏi ông Tăng: Biết chăng?

 

Đáp: Chẳng biết.

Sư nói: Phừng lên sáng lòa sa giới, tắt rồi vốn chẳng có chi !

Ông Bàng Cư sĩ hỏi ông Mã Tổ: Chẳng làm bạn với muôn pháp là người gì?

Đáp : Hồi quang tự chiếu đi, chừng nào người hớp một bụng cho hết nước sông Tây Giang rồi ta sẽ nói cho.

Viên Ngộ Thiền sư giải: Hiểu đặng lý ấy cho thấu đáo thì muôn pháp ở trước mắt đều tiêu trầm, vọng tưởng từ đời vô thỉ cũng dứt tuyệt.

Lại nói: Cái "không lớn" không còn chi ngoài, cái hình lớn không thấy hình đặng; rút cả thế giới lại bằng hột lúa, thâu hư không lại bằng hột châu nắm trong tay, kéo nước Tân La cùng nước Ba Tư cụm đầu lại; ở Đông Thắng Thần châu bắn mũi tên quá trúng cái gò bên Tây Cù Va Ni - Sở dĩ nói: Sọ khô bằng đại thiên thế giới, suy nghĩ ra thành thói cũ lệ xưa. Bằng chưa ra khỏi ấm giới, còn can thiệp sự kiến tri, nghe lời nói nào cũng như vịt nghe sấm, như gãi ngứa ngoài vảy. Bấy giờ bỏ hết căn trần dứt hết cảnh sạ còn dư lại một cái "tuyết sách" ([119]) không nhiễm hai bên. Chừng ấy rồi nói cho là câu gì? Có hiểu rõ chăng?

Chánh thị:

Sư tử đá ngồi trong Phật điện,

Côn Lôn sắt đứng giữa băng dương.

 

Như Lai thuyết phi nhẫn nhục Ba la mật: là tỏ ngộ nhơn pháp đều không, không có tướng nhẫn nhục. Ấy mới hiểu cái lý "chẳng phải tướng": Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Cho nên nói: "Chẳng phải nhẫn nhục ".

79.-ÂM:

Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Như ngã tích vi Ca Lợi Vương cát triệt thân thể, ngã ư nhĩ thời, vô ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng. Hà dĩ cố? - Ngã ư vãng tích tiết tiết chi giải thời; nhược hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, ưng sanh sân([120]) hận.

Tu Bồ Đề! Hựu niệm quá khứ, ư ngũ bá thế tác nhẫn nhục Tiên nhơn, ư nhĩ sở thế, vô ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng.

NGHĨA:

Bởi cớ sao? - Này Tu Bồ Đề! Như Ta thuở trước bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, trong khi ấy, Ta không ngã tướng, không nhơn tướng, không chúng sanh tướng, không thọ giả tướng. Bởi cớ sao? - Hồi thuở trước, khi Ta bị rã rời xương thịt, nếu Ta có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phải sanh lòng hờn giận.

Tu Bồ Đề! Lại nhớ đến năm trăm đời về trước, Ta làm vị Tiên nhẫn nhục, trong cái đời ấy, không ngã tướng, không nhơn tướng, không chúng sanh tướng, không thọ giả tướng.

 

Giải : Triệu Pháp sư giải: Ca Lợi Vương : là cái việc trong nhân duyên của Như Lai. Lúc ấy Bồ Tát đã rõ đặng cái lý "không ta" cho nên hay nhẫn nhục.

Tụng:

Uẩn thân đâu phải có,

Tứ đại vẫn là không.

Đưa cổ vào gươm bạc,

Dường như chém gió Đông.

 

Nếu lấy theo các vị đại Tông sư mà luận, thì trước nói pháp Quyền giáo hữu vi, sau mới nói rõ cái thiệt tướng vô vi. Còn lấy theo "Bảo Pháp" mà luận thì: Ca là biệt danh của huệ; Lợi là đao; mà chẳng phải đao của thế gian. Vương là tâm. Ấy là dụng đao trí huệ đặng cắt đứt cái thân thể "vô minh phiền não".

Ưng sanh sân hận là nói Sắc thân với Pháp thân chẳng đồng nhau; phải biết trong lúc cắt đứt thân thể đó chẳng thấy có thân tướng, cũng chẳng thấy có bốn tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, thì có chỗ chi mà sân hận?

Kinh Hoa Nghiêm có nói: "Ví như cõi hư không, ở trong mười phương không thể cầu đặng", nhưng mà chẳng phải là không hư không; lòng của Bồ Tát cũng in như thế.

Lục Tổ giải: Ca Lợi Vương là Vua vô đạo cực ác. Thế: là đời.

Trong nhân duyên năm trăm đời của Như Lai tu hành pháp Nhẫn nhục Ba la mật, mới đặng bốn tướng chẳng sanh.

Lý Văn Hội giải: Như ngã tích vị v.v... Như Lai lập giáo, pháp môn phương tiện rất nhiều; bằng lấy theo cái tướng của giáo pháp mà nói, thì trong kinh văn nói "Bị vua Ca Lợi cắt đứt đến nỗi xương thịt rã rời", không hề phát tâm sân hận.

Xuyên Thiền sư giải: Người trí chẳng trách kẻ ngu.

Tụng:

Như dùng đao chặt nước,

Thổi ánh sáng lửa hường.

Có sáng thì không tối,

Việc này cũng chẳng can.

 

Ca Lợi Vương! Ca Lợi Vương!

 

Nào hay điều quấy quá,

Gây đặng sự vinh quang.

 

Lý Văn Hội giải: Nhẫn nhục Tiên nhơn Như Lai đã năm trăm đời tu cái hạnh Nhẫn nhục Ba la mật, nên muốn khiến cho cả thảy chúng sanh đều thành tựu cái pháp Nhẫn nhục Ba la mật ; chẳng chấp các tướng.

Thấy cả thảy những người mê ngộ, hiền ngu, giàu nghèo, quí tiện, đều bình đẳng cung kỉnh không sanh lòng khinh bỉ, nhẫn đến kẻ hung cùng đánh đập thảy đều nhẫn nhục mà lại đem lòng vui vẻ không có giận hờn.

 

 

Viên Ngộ Thiền sư giải: Đại phàm làm bực Thiện tri thức thì:

1. Giao tiếp với người phải lấy lòng từ bi, nhu hòa, thừa thuận,

2. Xử thân phải lấy lòng bình đẳng không tranh.

Nếu người dùng những điều hung ác mà gia hại ta, dùng những việc phi lý mà can phạm ta, chê bai nhục mạ ta, thì ta nên thối bộ tự xét lấy mình, không so đo hơn thiệt, cũng chẳng giận hờn; bây giờ bỏ hết cũng như trước khi chưa có gây ra việc chi vậy, thì tự nhiên cái ma nghiệt nó sẽ tự tiêu; bằng so đo hơn thiệt, tiếng lại lời qua, thì biết bao giờ là cùng, mà lại cũng chẳng hiển dương đặng cái lực lượng của mình. Như vậy với hạng thường nhơn nào có khác, cho nên cần phải thực hành như thế thì tự nhiên có lo chi là người không kỉnh phục!

Vả chăng người thấy tánh, nghe người khi báng([121]) như uống cam lồ, trong lòng mát mẻ, không có sự chi phiền não thì cái sức định huệ mới thành tựu đặng, nên chẳng bị sáu giặc nó cướp giựt của báu trong nhà, công đức pháp tài sẽ từ ấy mà đặng sung mãn tăng tiến.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Kẻ bạo ngược vô đạo, Tức là Ca Lợi Vương.

Thiệt lòng sao quá độc, Hại Phật bị nhiều thương.

Kinh quá năm trăm thế, Thời gian mấy vạn ngươn.

Chỉ nhờ môn nhẫn nhục, Mới chứng đặng chơn thường

.

Xuyên Thiền sư giải: Không phép chi trước mắt, mặc dầu liễu lục hoa hồng; chẳng lóng chút bên tai, tự ý oanh kêu yến hót.

Tụng:

Tứ đại nguyên "vô ngã", Sắc thân tức thị không.

hư vô rộng lớn, Vòng vũ trụ bao dung,

Tu Di như cũ thường trơ trọi,

Ai kể nói xàm "cắt địa phong"?

80.-ÂM:

Thị cố, Tu Bồ Đề! - Bồ Tát ưng ly nhứt thiết tướng, phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm.

NGHĨA:

Bởi vậy, Tu Bồ Đề này! Bồ Tát nên lìa cả thảy tướng, mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Giải : Trần Hùng giải: Lìa cả thảy tướng tức là chư Phật, mà Bồ Tát mà chịu cái giáo pháp không tướng của Như Lai. Nếu muốn chứng quả Phật phải phát lòng Vô thượng Bồ đề, bởi vì lòng Bồ đề Vô thượng tức là lòng thanh tịnh không tướng.

Vậy thì Bồ Tát nên lìa cả thảy tướng mà phát lòng ấy mới chứng quả Phật đặng.

Lý Văn Hội giải: Ly nhứt thế tướng là lòng thường vắng lặng, chẳng sanh chẳng diệt, rỗng rang thanh tịnh. Ấy là lìa cả thảy tướng.

Xuyên Thiền sư giải: Phải! Đồng cũng dùng nó, khác cũng dùng nó.

 

 

Tụng:

Hễ có trong tâm, Thì phát ra bộ,

Tuyết nguyệt phong hoa, Trời xưa đất cũ.

Gà mỗi tàn canh gáy nhặt khoan,

Chào xuân xứ xứ hoa đua nở.

81.-ÂM:

Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng sanh vô sở trụ tâm; nhược tâm hữu trụ, tức vi phi trụ.

NGHĨA:

Chẳng nên sanh tâm trụ sắc, chẳng nên sanh tâm trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp, nên sanh tâm không có chỗ trụ. Bằng tâm có trụ, tức là chẳng phải trụ.

 

Giải : Triều Thái Phó giải: Chuyên tu pháp Thiền định thì cả thảy trong mỗi giờ, tùy việc chi luận biện hoặc quán tưởng, chỉ làm cho đặng trụ chỗ không trụ thì đã đủ.

Quyển Tăng Triệu Ngũ Luận có nói: "Lòng của Thánh nhơn, trụ chỗ không trụ".

Quyển Nội Giải Chú có nói: "Trụ chỗ vô vi, ấy là có trụ; còn trụ không phương hướng, mới là không trụ".

Lục Tổ Đàn Kinh có nói: "Pháp môn của ta không trụ làm gốc".

Quyển Tọa Vong Luận Dực của ông Tư Mã Tử Vi có nói : "Chẳng nương theo một vật mà lòng thường trụ". Lại nói: "Phép xuất thế gian, dùng không chấp làm gốc".

Kinh Hoa Nghiêm có nói: "Cả thảy cảnh giới không sanh lòng chấp trước, thân, khẩu, ý thanh tịnh, trụ nơi hạnh "Vô ngại", mới diệt trừ cả thảy tội chướng".

Thế gian chịu cái kiếp sanh, đều bởi chấp trước "ta" nếu lìa sự chấp trước ấy thì không có cái kiếp sanh vậy". Kinh Niết bàn có nói: "Phàm phu chấp "sắc" lại, cũng chấp "thức". Bởi chấp thức nên sanh lòng tham nhiễm, mà phải bị cái sắc nó buộc trói, rồi cái "thức" nó cũng buộc trói nữa. Bởi nó buộc trói đó, cho nên chẳng khỏi bị đại khổ: sanh, lão, bịnh, tử, ưu bi và cả thảy phiền não đặng".

Vương Nhựt Hưu giải: Ưng : là nên. Bất ưng trụ sắc sanh tâm : là chẳng nên sanh tâm trụ trước những chỗ có hình sắc: như ưa lầu đài rộng lớn, đồ đạc tốt đẹp v.v...

Bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc sanh tâm: là chẳng nên sanh tâm trụ trước nơi thinh âm, hơi hám, mùi vị và chỗ cảm xúc; như ưa âm nhạc, ca hát, long não, đàn hương, xạ hương, món ngon vật lạ, gái tốt hầu xinh, đều là sanh tâm trụ trước nơi thinh, hương, vị, xúc cả.

Bất ưng trụ sắc sanh tâm :Phật pháp vốn tùy cái căn khí của chúng sanhlập giáo, nếu trụ trước là còn chấp pháp, thì không do đâu mà thấy chơn tánh đặng. Cho nên chẳng nên sanh tâm trụ trước nơi pháp .

Ưng sanh vô sở trụ tâm: là hễ có trụ trước thì chẳng sanh tâm niệm.

Nhược tâm hữu trụ v.v... là tâm còn trụ trước thì chẳng phải chỗ trụ.

Phải làm sao cho một niệm vắng lặng ví như hư không, thì mới rõ chơn tánh đặng.

Phần này đại lược đồng với phần thứ mười, mà đây còn nói lại nữa là muốn nói thêm cho rõ nghĩa; cũng bởi e có đệ tử nào nghe chưa thấu và kẻ đến sau chưa nghe, cho nên mới nói lại.

Phàm trong kinh này, chỗ nào nói điệp lại nghĩa cũng đều như vậy cả.

Lý Văn Hội giải: Bất ưng trụ sắc, thinh v.v.. là lòng chấp sáu trần, tức còn chấp các tướng; chấp bỏ thương ghét, không có thuở nào mà thôi đặng.

Ưng sanh vô sở trụ tâm là lòng không có trụ, tùy chỗ mà giải thoát, trong ngoài căn trần thảy đều trừ diệt; bằng cả thảy đều vô tâm, tức là không trụ.

Ông Triệu Châu có nói: "Ta thấy muôn triệu người đều là người muốn tìm cái chỗ làm Phật, nhưng trong số ấy kiếm lấy một người vô tâm cũng không đặng!...".

Tăng Nhược Nột giải: Lòng vốn không hình bởi khách trần mà có tướng; trần diệt tâm diệt, chơn tâm rỗng rang.

Ông Sát Thiền sư giải:

Tụng:

Hỏi ngươi tâm ấn, ấn làm sao?

Thầy dạy là ai, dạy cách nào?

Lịch kiếp sờ sờ còn giả hiệu,

Lâu đời đạm đạm há phai màu!

Sen trong lò lửa làm thân tướng,

Thể tợ hư không chẳng thấp cao.

Chớ nói vô tâm rằng trúng đạo.

Vô tâm, nhưng cách mấy giang rào.

Viên Ngộ Thiền sư giải: Bồ Tát tại gia, tu theo hạnh xuất gia cũng như sen sanh trong lửa, vì bởi sự danh vị, quyền thế, nên ý khí khó mà điều phục đặng. Huống chi lại thêm lấy cái tâm hỏa thường thường ung đốt, trăm mối ngổn ngang; trừ ra những hạng tự mình bấy giờ tỏ ngộ; bổn tánh diệu viên đến an nghỉ nơi cái trường "đại tịch", "đại định", mới làm đặng. Rỗng rang cái tánh bình thường, thấu chứng cái lý vô tâm, xem cả thảy pháp như mộng huyễn, bọt bèo, tâm địa thênh thang tùy thời ứng tiết, tiêu khiển đều dứt trừ, rồi tùy cái lực lượng của tự mình mà hóa độ người chưa ngộ, đồng vào trong biển "Pháp tánh" vô vi vô sự. Vậy thì một phen ra khỏi cõi Nam Diêm Phù Đề này cũng chưa có chi là mệt sức.

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Cúng dường chư Phật mười phương, không bằng cúng dường một người đạo nhơn vô tâm. Thế nào là vô tâm? - Vô tâm là cái thể như như: trong thì như cây đá chẳng động chẳng lay, ngoài thì như hư không không ngăn không ngại.

Vả lại Phật thường nói cát sông Hằng, chư Phật, Bồ Tát, Đế Thích, Phạm Thiên đi ngang qua cát cũng chẳng mừng, trâu dê trùng kiến đi ngang qua cát cũng chẳng giận, trân báu thơm tho cát cũng chẳng tham, cứt đái nhơ uế cát cũng không gớm. Như vậy mới là vô tâm.

Lìa cả thảy tướng thì chúng sanh với chư Phật vốn không sai khác. Nên phải làm thế nào cho đặng vô tâm thì mới là rốt ráo.

Nhược tâm hữu trụ v.v... là cái lòng chơn như vốn không chỗ trụ; nếu không trụ cả thảy pháp tướng thì mới đúng với lý đạo, còn trụ vào pháp thì sai với chánh giáo. Đã sai chánh giáo tức là chẳng phải chỗ trụ.

82.-ÂM:

Thị cố, Phật thuyết Bồ Tát tâm, bất ưng trụ sắc bố thí.

NGHĨA:

Cho nên, Phật nói tâm của Bồ Tát chẳng nên trụ sắc mà bố thí.

 

Giải : Tạ Linh Vận giải: Bất trụ sắc :không chấp lấy tiền củabố thí.

Trần Hùng giải: Lòng Bồ Tát là lòng gì? Là lòng không trụ Bồ Tát sáu căn thanh tịnh không có chỗ trụ, chớ có phải là bố thí đặng mà cầu các sự muốn cho mãn ý đâu?

Các sự khổ, gốc bởi mấy căn không tịnh mà ra. Cho nên Phật đoán ngay rằng: "Không nên trụ sắc mà bố thí ".

Lý Văn Hội giải: Bất ưng trụ sắc bố thí Bồ Tát có thấy có thân tướng đâu mà bỏ?

Hoặc ở trong nhà, hoặc ở ngoài đường, gặp cả thảy những người ngu mê nghèo khổ, mắng nhiếc đánh đập, lục soát tài vật, mà hay chìu thuận theo ý chúng nó, khiến sanh lòng hoan hỷ, không trở ngại giận hờn. Ấy là cái nghĩa bố thí.

Còn để tranh biện phải quấy, tiếc tiền của làm cho nghịch ý sanh ra hờn giận. Ấy là chẳng phải bố thí.

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Phàm phu chẳng chịu không tâm, e lạc vào không, chớ chẳng biết từ tâm vốn là không.

Người ngu trừ việc chẳng trừ tâm, kẻ trí trừ tâm chẳng trừ việc. Còn lòng Bồ Tát ví như hư không, cả thảy đều bỏ, có làm phước đức chi cũng đều không chấp trước.

Nhưng sự bỏ có ba bực:

1. Trong ngoài thân tâm cả thảy trừ bỏ, ví như hư không không chỗ chấp trước, tùy sức giúp người: năng sở đều quên. Ấy là bực "Đại xả".

2. Một phần lo hành đạo bố đức, một phần lo trừ bỏ, không lòng hy vọng. Ấy là bực "Trung xả".

3. Làm nhiều việc lành, có lòng hy vọng, nghe pháp biết cái lý "không" rồi lại không chấp. Ấy là bực "Tiểu xả".

Đại xả như đuốc trước mặt, không còn chi là mê ngộ. Trung xả như đuốc ở một bên, hoặc có sáng có tối. Tiểu xả như đuốc ở sau lưng, không thấy những hầm hố mà tránh.

Phó Đại sĩ giải:

Tụng:

Bồ Tát nên cao trí, Từ bi chẳng dám vong.

Hiến thân hùm đỡ dạ, Cắt thịt ó no lòng.

Tinh tấn ba kỳ kiếp, Biếng lười một phút không.

Hạnh này như tỏ ngộ, Sa giới thảy đều tôn.

83.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Bồ Tát vị lợi ích nhứt thiết chúng sanh, cố ưng như thị bố thí.

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích cho cả thảy chúng sanh, nên phải bố thí như vậy.

 

Giải : Lục Tổ giải: Bồ Tát chẳng phải vì tự mình vọng cầu chỗ ngũ dục đặng khoái lạc mà bố thí, chỉ vì trong thì phá lòng kiên tham, ngoài thì lợi ích cho cả thảy chúng sanh bố thí.

Trần Hùng giải: Bảy báu tuy đầy đại thiên thế giới, bằng núi Tu Di, cũng có khi phải hết, bố thí dùng của ấy làm sao cho đủ khắp cả mọi phương đặng.

Các vị Bồ Tát không cầu các sự tham muốn, không có lòng "năng thí", không có vật "sở thí". Phàm có lợi ích cho chúng sanh, thì việc chi cũng làm. Vậy thì, những loại hàm linh bảo thức, cả thảy đều gội ơn nhuần.

Cái lòng bố thí thì phải như thế.

Kinh Hoa Nghiêm có nói:

 

"Chẳng phải tự mình cầu khoái lạc,

Quyết vì cứu độ cả quần sanh.

 

Lý Văn Hội giải: Ưng như thị bố thí là kiệm tiện với mình mà hời hợt với người, ấy là lợi ích cho cả thảy chúng sanh. Còn lòng miệng in nhau, sự hiểu sự làm một cách, là lợi ích cho tự mình.

Học hiểu Phật pháp, tự nhiên, rỗng rang đều đủ kiến văn, rõ thấu muôn cảnh, không có chấp trước tức là người giải thoát tỏ ngộ. Như thế thì há không lợi ích hay sao?

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Phát tâmtự tánh, Công đức mới tu hành.

Không trông làm đại Phật, Có ý giúp quần sanh.

Từ bi bi lộng lộng, Trí huệ, huệ rành rành.

Tự lợi gồm tha lợi, Tam thừa há rấp ranh.

 

Xuyên Thiền sư giải: Chỗ có Phật không đặng ở, chỗ không Phật mau chạy qua; đời sau chớ nói ta chẳng nói!

Tụng:

Sớm chơi Nam nhạc, Tối dạo Thiên Thai.

Rượt theo theo chẳng kịp, Phúc vẳng vẳng bên tai.

Tự đứng tự đi nào quái ngại, Đặng khoan khoáithế cũng khoan hoài.

84.-ÂM:

Như Lai thuyết nhứt thiết chư tướng, tức thị phi tướng; hựu thuyết: Nhứt thiết chúng sanh, tức phi chúng sanh.

NGHĨA:

Như Lai nói cả thảy tướng, tức là chẳng phải tướng; lại nói: Cả thảy chúng sanh, tức là chẳng phải chúng sanh.

 

Giải : Lục Tổ giải: Như Lai nói những tướng Ngã nhơn, rốt lại rồi cũng phải phá hoại, là bởi chẳng phải tướng chơn thiệt. Cả thảy chúng sanh đều là giả danh, nếu lìa vọng tâm thì chúng sanh cũng không có. Cho nên nói chẳng phải chúng sanh.

Trần Hùng giải: Trong kinh có nói: "Phàm chỗ có tướng đều là hư vọng"; người đều nói Như Lai không chỗ chi thuyết, thì Như Lai thuyết cả thảy tướng hư vọng hay sao? Vốn chẳng biết Như Lai có chỗ thuyết chơn thiệt, mà chỗ thuyết ấy là cái tướng không tướng của chơn không, rồi kế đó thì thuyết cái "chẳng phải tướng".

Kinh Niết bàn có nói: "Thấy đặng tánh Phật thì chẳng phải là chúng sanh, chẳng thấy tánh Phật, mới là chúng sanh".

Như Lai nói cả thảy các tướng là bởi có lòng thương xót chúng sanh; bằng tỏ ngộ đặng cái lý không tướng của chơn không, thấy đặng tự tánh Phật, thì tức là "chẳng phải chúng sanh".

Nhan Bính giải: Bổn tánh vẫn không, không có chi mà đặng; há lại có cả thảy các tướng cùng cả thảy chúng sanh hay sao?

Lý Văn Hội giải: Hay giữ gìn giới luật, tu hành pháp lành, dùng mà bố thí lợi ích cho chúng sanh, không trụ các tướng, thì các tướng vốn không. Cho nên nói: "Chẳng phải tướng".

Còn chúng sanhngũ ấm hòa hiệp mà có. Cho nên cưỡng danh là chúng sanh.

Xuyên Thiền sư giải: Có sở trường riêng, chẳng cần đem ra.

Tụng:

Không phải tướng, không phải chúng sanh,

Mừng xuân cụm liễu, liễu lo oanh.

Núi sông trăng biển rành rành nói,

Mà cũng chưa thông luống tức mình...

Chớ tức mình!

Mây vẹt da trời muôn dặm xanh...

85.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Như Lai thị chơn ngữ giả, thiệt ngữ giả, như ngữ giả bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả.

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Như Lai nói chơn chánh, nói chắc thiệt, nói đúng lý, chẳng nói giả dối, chẳng nói lạ kỳ.

 

Giải : Tạ Linh Vận giải: "Chơn" thì chẳng dối, thiệt thì chẳng hư. "Như" ắt trúng lý, "chẳng dối" là chẳng phải vọng ngữ, chẳng khác trước sau như một. Lời Thánh không lầm, rất đáng tu hành theo.

Trần Hùng giải: Ấy là nói chơn thiệt không vọng không hư. Ấy là nói như như hạp theo cái lý chơn như; chẳng phải lời hư dối, chẳng phải lời quái lạ. Vậy nên mới phá đặng cái lòng hồ nghi của chúng sanh.

Nhan Bính giải: Chơn mà không giả, gọi là nói: "Chơn". Thiệt mà không hư, gọi là nói "thiệt". Như như chẳng động gọi là nói "như", cho đến "chẳng nói dối", là Phật chẳng dối gạt người. Chẳng nói lạ là Phật không làm điều quái lạ.

Vậy thì năm lời nói ấy, là muốn cho người sanh lòng tin thiệt, mà chẳng muốn sanh lòng nghi hoặc.

Lý Văn Hội giải: Mê thì cả thảy đều là vọng, nên chẳng chơn, chẳng thiệt, chẳng như, có dối, có lạ, còn ngộ thì cả thảy chơn, cả thảy thiệt, cả thảy như, chẳng dối, chẳng lạ.

Lại nói: Chơn ngữ : là cả thảy loại hàm linh đều có tánh Phật - Thiệt ngữ : là cả thảy pháp vốn không có chi mà có. Như ngữ : là cả thảy muôn pháp bổn lai không động - Bất cuống ngữ: là nghe cái pháp ấy đều đặng giải thoát - Bất dị ngữ : là cả thảy muôn pháp vốn là vắng lặng thì có chi mà "lạ"!

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Chúng sanh cùng uẩn giới, Danh khác thể không hai.

Mê tưởng tâm là có, Ngộ rồi lý chẳng ngoài.

Lời chơn lời há vọng, Nói thiệt nói đâu sai.

Sau trước nào dời đổi, Như như tướng bổn lai.

Xuyên Thiền sư giải: Biết ơn thì ít, phụ ơn thì nhiều.

Tụng:

Hai cái năm tiền vốn một quan,

Chú trai, ông lão cũng là chàng.

Rành rành đối diện phân cho nó,

Chờ có xuân phong giá mới tan.

Nói chơn dạ! Nói thiệt dạ!

Hỳ hỳ hỳ! Hả hả hả!

86.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Như Lai sở đắc pháp, thử pháp vô thiệt vô hư.

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Pháp của Như Lai đặng, pháp ấy không thiệt không hư.

Giải : Lục Tổ giải: Vô thiệt : pháp thể vắng lặng không tướng chi mà đặng, vô hư : là trong ấy có hà sa tánh đức dùng không hết.

Vương Nhựt Hưu giải: Pháp này là bởi chúng sanh mà lập ra, chớ chẳng phải bởi trong chơn tánh, cho nên nói: "Chẳng phải chơn thiệt"; nhưng mà chẳng nên chẳng mượn pháp mà tỏ ngộ chơn tánh và chẳng phải luống không có chỗ dùng, cho nên nói: "Chẳng phải hư vọng".

Trần Hùng giải: Pháp là lấy tâm mà truyền tâm thì pháp nào chẳng phải bởi tâm mà lập ra? Như Lai dùng cái tâm không có sở đắc mà đặng cái pháp không tướng của chơn không. Pháp ấy là tâm ấy; chơn thể thường còn.

Một lý cho là thiệt, nhưng mà thiệt cũng như hư; không biết sở dĩ sao là thiệt mà diệu dụng vô phương; một lý cho là hư, nhưng mà hư cũng như thiệt, không biết sở dĩ sao là hư.

Thiệt mà không thiệt, hư mà không hư. Ấy là sự diệu lý của chơn không vậy.

Lý Văn Hội giải: Thử pháp vô thiệt : là tâm thể vắng lặng, không có tướng chi mà đặng - Vô hư: là trong có hà sa công đức, dùng hoài không hết, muốn nói là thiệt thì có hình đâu mà xem, có tướng đâu mà thấy; muốn nói là hư thì làm sao mà có tác dụng đặng? Cho nên, chẳng nên nói có, cũng chẳng nên nói không; có mà chẳng có, không mà chẳng không, cũng chẳng dùng ngôn từ chi mà cho đặng cả. Thấu đặng lý ấy, duy có hạng Thánh nhơn vậy chăng?

Nếu không lìa tướngtu hành, thì quyết không có do đâu mà tỏ ngộ cái pháp ấy đặng.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Bỏ chấp mới là thiệt, Bằng còn chấp tức là hư.

Chẳng không cũng chẳng Chi thiếu lại chi thừa?

có,

Đau, thuốc thang điều trị, Mạnh phương pháp diệt trừ.

tam không tỏ đặn Xuất chúng nhập Vô dư.

 

Xuyên Thiền sư giải: Chất mối trong nước,

Sắc thanh trong màu.

 

 

Tụng:

Mềm lụn quá tơ,

Cứng khư hơn sắt.

Thấy đó sậm sờ,

Tìm theo vắng bặt.

Nằm ngồi đi đứng vẫn loanh quanh,

Ai nấy cũng chưa hề biết mặt.

Hả hả!!

87.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát tâm trụ ư pháp nhi hành bố thí, như nhơn nhập ám, tức vô sở kiến. Nhược Bồ Tát tâm, bất trụ pháp nhi hành bố thí, như nhơn hữu mục, nhựt quang minh chiếu kiến chủng chủng sắc.

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Nếu lòng của Bồ Tát còn chấp pháp mà làm việc bố thí, thì cũng như người vào chỗ tối, không thấy chi cả. Còn như lòng của Bồ Tát chẳng chấp pháp mà làm việc bố thí, thì cũng như người đã có con mắt mà lại được ánh sáng chói rõ của mặt trời thấy tất cả mọi việc.

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Bố thí :pháp thí, là pháp để hóa độ chúng sanh.

Bằng Bồ Tát chấp pháp bố thí, là dạy chúng sanh chấp pháp, thì do đâu mà rõ đặng chơn tánh? Cho nên nói: Như người vào chỗ tối thì không thấy chi cả.

Còn chẳng chấp pháphóa độ chúng sanh, thì chúng sanh bởi ấy mà khai ngộ, rõ đặng chơn tánh, cho nên nói: "Như người đã có con mắt mà lại đặng cái chói sáng của mặt nhựt thì thấy tất cả mọi vật".

Tăng Nhược Nột giải: Bố thí không tướng lòng chẳng chấp pháp, thì rõ đặng chơn như, cũng như người có mắt lại có ánh sáng thì thấy rõ cả thảy các cảnh.

Trần Hùng giải: Bồ Tát là xưng chung các người tu hành.

Nếu Bồ Tát còn chấp tâm pháp, còn chỗ trụ mà bố thí, có sự hy cầu, thì màn vô minh che áng lòng tham ái đẩy xô, có thế nào tỏ ngộ cái diệu lý không tướng của chơn không đặng. Ví như người ở trong nhà tối, mờ mờ mịt mịt, nào thấy đặng một vật chi.

Còn Bồ Tát đã diệt trừ, tâm pháp, không chỗ trụ mà bố thí, không có hy cầu, thì mở bừng nhãn lực Kim Cang, đốt tỏ tâm đặng Bát Nhã, tỏ ngộ đặng cái pháp Vô thượng Tri kiến của Như Lai. Ví như người có mắt ở chỗ ánh sáng mặt trời, thì hắc bạch phân minh, không mảy may nào ẩn khuất đặng.

Một bổn chú giải không để tên tác giả nói: Có chấp trước thì bị màn vô minh che áng, ắt chẳng tỏ ngộ đặng cái diệu lý của chơn như, ví như tự mình mịt mờ mà biểu người tỏ rõ. Còn không chấp trước thì rỗng rang không ngăn ngại, tỏ ngộ đặng cái pháp Vô thượng Tri kiến của Như Lai.

Tự giác đã viên mãn rồi giác tha mới đặng.

Lý Văn Hội giải: "Như nhơn nhập ám tức vô sở kiến": là lòng của chúng sanh vốn không có trụ; mà lòng không trụ, hẳn thấy đặng cái thiệt tướng của các pháp, tức là Bồ Tát.

Hai bực thừa lòng còn chấp pháp, nên chẳng thấy cái thiệt tướng của các pháp.

Nếu bỏ nẻo Bồ đề, thì nào có khác chi những kẻ phàm phu, ví như người bỏ chỗ sáng mà vào nơi tối vậy.

Như nhơn hữu mục v.v... là hai bực thừa chẳng thấy sắc mà trụ sắc, ví như chẳng thấy hầm hố mà sụp vào hầm hố. Còn bực Bồ Tát thấy sắc mà chẳng trụ sắc, ví như thấy hầm hố mà không sụp vào hầm hố vậy.

Cả thảy các pháp chỉ có cái tánh giả danh, hai bực thừa chưa có huệ nhãn, nên chẳng phân chơn giả đặng. Còn bực Bồ Tát đã có huệ nhãn, nên thấy cả thảy sắc đều là không tướng.

Đạt Ma giải: Chẳng thấy sắc tức thị là sắc.

Tiêu Diêu Ông giải: Sự thấy: có phải, có chẳng phải, là vọng nhãn của thế gian; còn không phải, không chẳng phải, là chơn nhãn của xuất thế gian.

Sự biết: có đặng, có chẳng đặng, là vọng tâm của thế gian, còn không đặng, không chẳng đặng là chơn tâm của xuất thế gian.

88.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Đương lai chi thế, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn năng ư thử kinh thọ trì đọc tụng, tức vi Như LaiPhật trí huệ; tất tri thị nhơn, tất kiến thị nhơn, giai đắc thành tựu vô lượng vô biên công đức.

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Qua đến đời sau, nếu có trai lành gái, tín nào giữ theo kinh này mà thọ trì đọc tụng, tức là Như Lai dùng trí huệ của Phật; biết chắc người ấy, thấy chắc người ấy, đều thành tựu đặng, cái công đức vô lượng vô biên.

 

Giải : Trần Hùng giải: Đương lai chi thế: là đời tượng pháp mạt pháp, sau khi Như Lai diệt độ - Thử kinh là kinh chép cái pháp không tướng của chơn không.

Kinh này, đương đời chẳng phải người đã có gieo căn lành, thì khó mà gặp đặng; bằng hay thọ trì đọc tụng, thì chẳng những là học ở tại miệng mà thôi, mà lại là một cái lý hay về sự học nghiên cứu trong tâm trí vậy. Vậy nên mới nói là hay.

Đặng như vậy, thì Như Lai há nỡ bỏ ta, mà dùng không dùng cái linh tánh Vô thượng kiến tri đặng soi xét ta sao? Vậy thì cái công đức vô lượng vô biên thảy đều thành tựu cả.

Chẳng phải là riêng lợi cho một mình mình, mà cũng lợi khắp cả quần sanh; chẳng phải là lợi ở một đời mà cũng lợi khắp cho cả ngàn muôn ức kiếp nữa.

Sở dĩ nói công đức vô lượng vô biên là vậy đó.

Nhan Bính giải: Như Lai đặng cái pháp kiến tánh chẳng thuộc về hai cảnh có, không cho nên nói: "Không thiệt không hư".

Nếu Bồ Tát lòng còn chấp trước bố thí, ấy là trước tướng, mà đã nói là trước tướng, thì không có trí huệ, cũng như người vào trong nhà tối, không thấy vật chi vậy. Còn lòng không chấp trước bố thí, là hạng rỗng rang tỏ ngộ chẳng bị người lừa dối, ví như người có mắt, lại thêm ánh sáng mặt nhựt vọi vào, thì thấy cả thảy hình sắc rõ ràng không ẩn khuất.

Bằng đời sau có trai lành, gái tín, hay thọ trì đọc tụng kinh này, bấy giờ đốn ngộ, gọi là thọ, làm không ngưng nghỉ gọi là trì; ấy là tự tánh Như Lai.

là dùng, là hay dùng trí huệ của Phật.

Sở dĩ nói trí huệ đó là kiến tánh sáng suốt không phải là thông minh ngoại đạo; biết cả người ấy, thấy cả người ấy, đều đặng thành tựu cái công đức kiến tánh vô lượng vô biên.

Lý Văn Hội giải: Đương lai chi thế là đời ngũ trược ác thế, sau năm trăm năm sau, sau khi Như Lai diệt độ.

Tức vi Như LaiPhật trí huệ là như lòng người thường thường tinh tấn, đọc tụng kinh này, thì cái tánh giác huệ sẽ sáng suốt.

Nên phải tỏ ngộ nhơn pháp, đều không, chẳng bị cả thảy các cảnh: lành dữ, phàm Thánh nó hoặc loạn, thì đồng với cái tánh của trí huệ của Như Lai.

Tất tri tất kiến v.v... là chư Phật ba đời không có chi mà chẳng tri kiến.

Những người tỏ ngộ hay thành tựu đặng cái công đức vô lượng vô biên.

Xuyên Thiền sư giải: Té cũng nơi đất, mà dậy cũng nơi đất; đất có nói với ông cái chi đâu?

Tụng:

Muôn việc như thường trên thế giới,

Không chi lực lượng nhưng không hoại,

Như thường ví tợ trận thư phong,

Không ý lạnh người, người lạnh lấy.

CHƯƠNG MƯỜI LĂM

89.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, sơ nhựt phận dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí; trung nhựt phận, phục dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí; hậu nhựt phận, diệc dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí, như thị vô lượng bá thiên vạn ức kiếp, dĩ thân bố thí...

Nhược phục hữu nhơn văn thử kinh điển, tín tâm bất nghịch, kỳ phước thắng bỉ. Hà huống thơ tả thọ trì, đọc tụng, vị nhơn giải thuyết?

NGHĨA:

Này Tu Bồ Đề! Nếu có trai lành, gái tín nào, buổi mai dùng thân mạng bằng số cát sông Hằngbố thí, buổi trưa lại dùng thân mạng bằng số cát sông Hằngbố thí, buổi chiều cũng dùng thân mạng bằng số cát sông Hằngbố thí, dùng thân mạngbố thí vô lượng trăm ngàn muôn ức kiếp như vậy...

Bằng lại có người nghe kinh điển này, lòng tin chẳng trái, thì phước đức ấy hơn phước đức bố thí kia. Huống chi là biên tả, thọ trì, đọc tụng và vì người mà giải thuyết?

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Sơ nhựt phận là sớm mai, trung nhựt phận là trưa, hậu nhựt phận là chiều, là bên xứ Tây Thổ nói như vậy. Bởi Phật giáng sanh xứ ấy, nên nói theo thổ âm xứ ấy.

Bằng có người một phen dấy lòng tin thiệt kinh này, thì đặng phước nhiều hơn người mà mỗi ngày ba thời dùng cả hằng hà thân mạngbố thí cả trăm ngàn muôn ức kiếp vô lượng vô số đó. Vì bởi bố thí thì đặng cái phước báu vô lượng, là phước của thế gian, thì phải hưởng phước của thế gian. Nhiễm lấy các sự phiền não, cũng bởi nguyên nhân ấy mà ra; lại cũng bị cái nhân ấy mà gây ra nghiệp dữ nữa.

Còn người nghe kinh điển này, lòng tin chẳng trái, thì từ ấy đã gieo căn lành. Căn lành đã gieo, thì càng ngày càng tăng trưởng, càng lâu càng thạnh mậu, là phước xuất thế gian, thì phước bố thí kia làm sao mà sánh kịp!

Vậy nên mới hơn cái phước bố thí vô lượng vô số đặng.

Vả lại mỗi ngày có ba thời, đâu có đặng cả hằng hà thân mạngbố thí, ấy là lời ví dụ, ví dụ cho nhiêu cho tột bực đặng không có chi sánh kịp đó thôi.

Trần Hùng giải: Phật e người đời chấp trước cái thuyết nhẫn nhục của Phật, mà luống dùng thân mạng đặng bố thí, thì tự tánh mình với tánh người khác, không mảy nào lợi ích cả. Cho nên đã có nói rồi trong phần thứ 13, mà đây lại nói nữa, là đặng cứu chữa sự lỗi ấy.

Triệu Pháp sư giải: Từ sớm mai đến giờ Thìn là buổi mai, từ giờ Thìn đến giờ Vị (Mùi) là buổi trưa, từ giờ Vị (Mùi) đến giờ Tuất là buổi chiều. Mỗi ngày trong ba thời ấy, mà đem thân mạng đến trăm ngàn muôn ức kiếpbố thí, cũng chẳng bằng thọ trì kinh này, đặng mà rõ tự tánh là thâm hiểu cái lý thiệt tướng, nhơn pháp đều không. Tức là hạng người đại giác ngộ.

Phó Đại Sĩ giải:

Tụng:

Chúng sanh với thọ giả, Ngũ uẩn cưỡng hư danh.

Sừng thỏ nguyên không thiệt, Lông rùa há có hình,

Xả thânvọng thức, Thí mạng bởi mê tình.

Luận rõ phước cùng tri, Chỉ bằng đọc tụng kinh.

Lý Văn Hội giải: Tín tâm bất nghịch : là tin thuận theo lý, nên nói chẳng nghịch.

Kinh Pháp Hoa có nói: "Chiêm ngưỡng tôn nhan mắt không xao lãng", là lòng thường tinh tấn không ngừng nghỉ.

Thọ trì, đọc tụng: sự hiểu, sự làm, ứng với nhauthọ, dõng mãnh tinh tấntrì. Vị nhơn giải thuyết: là người đã tỏ ngộ rõ đặng tự tánh, phương tiện vì người giải rõ kinh này, khiến cho tỏ ngộ thiệt tướng thành đạo Vô thượng. Người bố thí không trụ tướng ấy, thì công đức có bờ bực, hơn các công đức của người dùng thân mạng cả ngàn muôn ức kiếp kia đến ngàn muôn ức bội.

Xuyên Thiền sư giải: Phước báu Thiên, Nhơn mà chẳng không, Phật pháp chưa chiêm bao đã thấy.

Tụng:

Sớm trưa bố thí phát tâm đồng,

Công đức vô biên tính chẳng cùng.

Chi bằng tín tâm đừng có chấp.

Một tay đánh phá cõi hư không.

90.-ÂM:

Tu Bồ Đề! Dĩ yếu ngôn chi, thị kinh hữu bất khả tư nghì. Bất khả xưng lượng vô biên công đức.

NGHĨA:

Tu Bồ Đề! Nói tóm lại, thì kinh này có cái công đức vô biên, không thể bàn nghĩ đặng, không thể cân lường đặng.

 

Giải : Triệu Pháp sư giải: Tỏ đặng pháp môn này thì công đức đã quá cái tâm cảnh, nên không thể lấy tâm trísuy nghĩ đặng, quá cái ngôn cảnh nên không thể lấy ngôn thuyết mà bàn tính đặng.

Vương Nhựt Hưu giải: Bất khả nghì : là không thể dùng tâm trí, ngôn thuyếtsuy nghĩ bàn tính đặng.

Bất khả xứng lượng : là đã nói không thể bàn tính thì chữ xứng này không phải nghĩa xứng ngôn thuyết, ấy là nghĩa xứng cân lượng.

Thuở xưa chữ xưng (không dấu) và chữ xứng (dấu sắc), hai chữ thông dụng đặng, nên nói: Bất khả xứng : là không lấy cân mà cân đặng. Bất khả lượng: là không dùng lường mà lường đặng.

Nhan Bính giải: Mỗi ngày dùng cả hằng hà thân mạngbố thí, (nghĩa là nhiều). Bố thí như thế cho đến vô lượng, vô số kiếp, mà không bằng người tin theo kinh điển này, nhứt tâm chẳng trái, (chẳng trái là làm theo). Phước đức ấy còn hơn phước hữu vi kia thay, huống chi là phát tâm biên tả thọ trì, đọc tụng, rồi giảng giải lại cho người hiểu rõ!

yếu ngôn chi v.v... là chư Phật than thở không bằng cái phước đức rất lớn không bờ bực ấy.

Lý Văn Hội giải: Vô biên công đức : là người trì kinh này tỏ ngộ nhơn pháp đều không, rõ thấu cái lý thiệt tướng, thì công đức lớn lao cũng như lòng của Phật không có bờ bực, không cân lường đặng vậy.

91.-ÂM:

Như Lai vị phát Đại thừa giả thuyết, vị phát Tối thượng thừa giả thuyết.

NGHĨA:

Như Laiphát khởi cho bực Đại thừa mà nói, vì phát khởi cho bực Tối thượng thừa mà nói.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Thừa ([122]): là xe - Đại thừa là xe của Bồ Tát.

Bực A La Hán mới hết sanh tử, chưa độ chúng sanh đặng, ấy là Tiểu thừa, cũng như xe nhỏ chở đặng có một mình mình mà thôi.

Bực Duyên Giác, nửa vì người nửa vì mình, ấy là Trung thừa, cũng như cái xe bực trung vậy.

Bực Bồ TátĐại thừa, cũng như xe lớn chở hết cả thảy chúng sanh đặng.

Kinh này là muốn phổ độ cả thảy chúng sanh, cho nên vì phát khởi bực Bồ Tát Đại thừa mà nói.

Phát: là phát khởi - Phát Đại thừa :phát khởi đặng tế độ chúng sanh - Tối thượng thừa: là Phật thừa; Phật lại độ luôn cả các vị Bồ Tát, thì còn trên bực Đại thừa nữa cho nên nói: "Tối thượng thừa".

Là bởi không còn bực thừa nào mà trên bực thừa này nữa nên nói là Tối thượng.

Kinh này lại cũng để phát khởi cho Phật thừa mà nói, là Phật hóa độ Bồ Tát cũng dùng thuyết lý trong kinh này.

Lý Văn Hội giải: Vị phát Đại thừa giả thuyết: trí huệ sáng suốt rõ đặng tu tánh, sắc không đều bỏ, chẳng chấp hai bên: hai bên đã không đâu còn trung đạo! Chẳng nhiễm các cảnh ấy là sự hành đạo của bực Đại thừa Bồ tát vậy.

Lại nói: Vị phát Đại thừa giả thuyết: là có nhơ uế đâu mà gớm, có thanh tịnh đâu mà cầu, có chi bỏ mà bỏ, cũng chẳng nói không bỏ; có chi trụ mà trụ, cũng chẳng nói không trụ; tâm lượng quảng đại rỗng rang như cõi hư không, không có bờ bực. Ấy là cái địa vị của chư Phật Tối thượng thừa.

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Khi Như Lai hiện thế, muốn thuyết cái chơn pháp nhứt thừa, lại e chúng sanh dấy lòng khi báng, mà phải chìm đắm trong vòng khổ hải; còn như không thuyết, lại e đọa vào kiên tham chẳng vì chúng sanhphổ độ cho cái diệu đạo? Cho nên mới lập ra pháp môn phương tiện: thuyết ba bực thừa. Thừa có đại tiểu, chỗ đặng có thấp cao, đều không có phép chi nhứt định. Cho nên nói: Duy có cái đạo nhứt thừa, nếu có cái thứ hai thì chẳng thiệt.

Xuyên Thiền sư giải: Như chặt một cuồn tơ, một đao đều đứt cả.

 

Tụng:

Hóa thành đánh phá cho tan nát,

Huyền diệu trại co giò nhảy thoát,

Tùy thích ngao du Bắc chí Nam,

Chẳng tầm mích Thế Âm Bồ Tát

Thuyết Tối thượng, Thuyết Đại thắng (thừa).

Đánh một tay rướm máu, Đập một gậy nổi lằn.

92.-ÂM:

Nhược hữu nhơn năng thọ trì, đọc tụng, quảng vị nhơn thuyết, Như Lai tất tri thị nhơn, tất kiến thị nhơn, giai đắc thành tựu bất khả lượng, bất khả xưng, vô hữu biên, bất khả tư nghì công đức. Như thị nhơn đẳng, tức vi hả đảm Như Lai A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

NGHĨA:

Bằng có người hay thọ trì, đọc tụng (kinh này) và diễn thuyết rộng khắp ra cho người khác, thì Như Lai đều biết cho người ấy, đều thấy cho người ấy, thành tựu đặng cái công đức vô lượng, vô số, vô biên, không bàn nghĩ đặng. Những hạng người như thế, mới gánh vác nổi cái đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Như Lai.

 

Giải: Tạ Linh Vận giải: Ngàn năm chẳng sa sụp, cũng bởi người hoằng hóa mối đạo, gánh vác vận hành là cái nghĩa hả đãm.

Lý Văn Hội giải: Quảng vị nhơn thuyết v.v... là bực thượng căn thượng khí rõ thấu kinh này, tỏ ngộ lý Phật; trì kinh Đại thừa này, rồi giảng giải lại cho người khác, khiến cho các học giả đều thấy cái lý không tướng của tự tánh, thấy cái bổn nguyện của tự tâm là Phật, thì nên biết công đức của người ấy không có bờ bực, không cân lường đặng.

Ông Mã Tổ có nói: "Bọn ngươi nên biết tự tâm là Phật, tâm ấy tức là tâm của Phật".

Lại nói: "Ngoài tâm không Phật khác, ngoài Phật không tâm khác".

Ông Phật Quốc Bạch Thiền sư có lời tụng:

 

Tâm tâm là Phật, Phật là tâm.

Phật Phật tâm, tâm tức Phật tâm.

Tâm Phật ngộ rồi không một vật,

Chỉ me đở khác Phật và tâm.

 

Kinh Hoa Nghiêm có nói: "Bằng không tin tự tâm là Phật, hẳn không phải lẽ".

Ông Viên Ngộ Thiền sư có nói: "Tức tâm tức Phật, đã từng chỉ dẫn đành rành, không Phật không tâm lắm lúc khuyên răn tỏ rõ, sao còn chẳng liền theo lời dạy mà bấy giờ tỏ ngộ, mới thấy đặng người xưa lòng son khắn khắn; nếu còn chút dần dà thì phải ngẩn ngơ mà chớ!".

Kinh Tâm Phật có tụng:

 

Phật là tâm, tâm là Phật,

Tâm Phật nguyên lai không một vật.

Bằng biết chẳng chi Phật với tâm.

Mới rằng Phật Pháp thân chơn thật.

 

Phật, Phật, Phật nào mô dạng.

Một đóa viên quang trùm các tượng.

Nguyên thể vẫn là không thể chi,

Tướng mà không tướng mới rằng tướng.

 

Chẳng sắc chẳng không, chẳng phải không.

Chẳng xao chẳng lặng chẳng Tây Đông.

Không đồng không khác không không, có,

Khó bỏ khó dùng khó ngắm trông.

 

Trong ngoài rỗng rang diệu viên giác,

Một Phật độ nơi trong hột cát.

Hột cát hàm tàng cả đại thiên

Thân tâm mỗi mỗi đều không khác.

 

Các ngươi phải biết không tâm pháp.

Chẳng sạch chẳng nhơ chẳng tạo nghiệp.

Lành dữ muôn ngàn không có, không,

Mới rằng tín ngưỡng Phật Ca Diếp.

 

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Ngươi phải trừ bỏ tình phàm cảnh Thánh, thì ngoài cái tâm không có Phật chi khác.

Tổ sư phương Tây lại, chỉ rành toàn thể của người là Phật, sao ông chưa biết, còn chấp phàm chấp Thánh, cầu Phật ở ngoài; tự tâm mê hoặc, nên mới đối với ông mà nói "tức tâm là Phật", nếu một niệm sanh tình ắt phải luân hồi trong lục đạo!

Từ đời vô thỉ đến nay cũng chẳng đổi cái tâm chi khác, mà cũng không có pháp chi khác, cho nên nói: "Chánh đẳng Chánh giác".

Tức vi hả đảm v.v... là nghe kinh nghĩa cứ theo giáo pháptu hành, rồi diễn thuyết lại cho nhiều người hiểu cái pháp không tướng, khiến cho người học đạo tỏ ngộ tâm địa, đặng làm theo cái hạnh không tướng, không chấp trước, khai phát ra cái trí huệ sáng suốt trong tâm, bỏ các trần lao vọng niệm, đều thành đạo. Vô thượng bồ đề, cho nên nói: "Nên biết người ấy gánh vác nổi cả tự tánh Như Lai Vô thượng Chánh giác ở trong thân mình".

Phó Đại Sĩ giải:

 

Tụng:

Tỏ tánh mê cho cho chóng,

Chứng thành Phật chẳng lâu.

Bởi nhờ trí tự tại,

Phương tiện dạy người tu.

 

Xuyên Thiền sư giải: Xé banh non Thai hóa([123]), duy có Cự Linh Thần.

Tụng:

Trơ trơ như cụm núi Tất cả cũng trần ai,

Đởm lược, xanh tròng mắt, Oai danh sấm chạc tai,

Chăn dân yên cảnh giới, Trong nước đúng anh tài

Lòng đan một mảnh - mênh mông biển,

Sóng tịnh trời êm mặc vãng lai.

93.-ÂM:

Hà dĩ cố? - Tu Bồ Đề! Nhược nhạo tiểu pháp giả, trước ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tức ư thử kinh bất năng thính thọ đọc tụng, vị nhơn giải thuyết.

NGHĨA:

Bởi cớ sao? - Này Tu Bồ Đề! Bằng ưa theo tiểu pháp, thì còn chấp trước về ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến ([124]) thì đối với kinh này không hiểu thấu, không thọ trì, không đọc tụng và cũng không vì người mà giải thuyết đặng.

 

Giải : Vương Nhựt Hưu giải: Nhạo: là ưa. Tiểu pháp : là pháp ngoại đạo. Pháp ngoại đạotrước tướng về ngã, nhơn, sanh, thọ; nên mới nói lời ấy. Như thế thì không hạp với lý trong kinh này, cho nên không thọ trì, đọc tụnggiảng giải lại cho người khác đặng.

Trần Hùng giải: Tiểu pháp : là pháp Tiểu thừa.

Kinh Pháp Hoa có nói: "Căn khí thấp hèn thì ưa tiểu pháp" là hễ chí ý hẹp hòi thì không phát lòng Đại thừa đặng. Người như vậy phải đọa vào tà kiến, hẳn không biết đặng cái thuyết pháp Đại thừa, Tối thượng thừa đều ở trong kinh này - Nghe và đọc tụng còn không đặng thay, huống chi là giảng giải lại cho người khác.

Trước ngã nhơn kiến là đọa vào tà kiến.

Kinh Viên Giác có nói: "Cầu cái pháp Đại thừa thì chẳng đọa vào tà kiến " là vậy đó.

Lý Văn Hội giải: Nhược nhạo Tiểu phápđộ lượng của kẻ phàm phu ngu độn không có "tin nghe" đặng, hầu có học lên đạo pháp Vô thượng Bồ đề, chỉ tu phước huệ, làm theo cái pháp nhân quả luân hồi trong lục đạo. Dầu cho có rán học thì cũng chấp trước theo sự kiến văngiảng giải, lại cho người khác, đến khi bị người có nhãn lực khám phá thì tay chưn run lập cập, đại bại nhứt trường!

 

Ông Bảo Ninh Dõng Thiền sư có tụng:

 

Màu sắc khuôn hình xem chẳng lạ.

Người ai dám tưởng rằng đồ mạ.

Vào lò đốt thử thấp hay cao.

Rốt cuộc tự nhiên lòi bạc giả.

 

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Người xưa tâm chí sáng suốt, vừa nghe đặng một lời thì liền tuyệt học ([125]), cho nên gọi là một vị nhàn đạo nhơn tuyệt học vô vi.

Còn người đời nay, chỉ muốn nhiều nghe rộng hiểu, muốn học cho cao mà cho là tu hành, nào ngờ sự nhiều nghe rộng hiểu, lại trở nên ủng tắc, vì bởi mấy món ấy đều là vị thuốc độc trong nẻo sanh diệt, chớ có ích chi cho chơn tánh đâu! Cả thảy những điều tri giải trước kia đều phải bỏ dứt cho cái tâm trở nên không không. Ấy là không Như Lai Tạng. Như Lai Tạng là không mảy mún chi mà có. Ấy là vị Pháp vương phá chấp xuất hiện trên thế gian.

 

Phật Tổ nói: "Khi ta ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có một chút pháp chi mà đặng", lời nói ấy nghĩa là không. Bằng các ông trừ dứt kiến tri, bỏ hết tâm cảnh, không còn chấp trước, ấy là người vô sự.

Giáo pháp tam thừa tức là một phương thuốc ứng cơ, tùy nghi mà thuyết, gặp bực nào thuyết theo bực ấy, mỗi mỗi không đồng nhau, nếu đặng tỏ ngộ thì chẳng bị sự hoặc loạn.

Thứ nhứt là không nên dùng tâm trí, mà chấp cuộc theo văn chương. Bởi sao vậy? Là bởi "không có pháp chi định chắc mà