Kinh Kim Cang - Song ngữ Việt-Anh - Edward Conze-Thích Nhuận Châu Ebook PDF

27/11/20215:10 SA(Xem: 4236)
Kinh Kim Cang - Song ngữ Việt-Anh - Edward Conze-Thích Nhuận Châu Ebook PDF

KINH KIM CANG
VAJRACCHEDIKĀ PRAJÑĀPĀRAMITĀ-SŪTRA
Nguyên tác của Edward Conze
Dịch Việt: Thích Nhuận Châu
Với hai phụ bản: Bản dịch tiếng Hán của ngài Huyền Trang
Bản dịch tiếng Hán của ngài Cưu-ma-la-thập

Kinh Kim Cang - Việt Anh Hán
PDF icon (4)Kinh Kim Cang (trọn bộ) - Tác giả Edward Conze - Dịch giả Nhuận Châu

 

Bản kinh được in trong ấn bản nầy chủ yếu là của Max Müller.[1] Tôi có ghi thêm phần phân bổ trang của ông trong dấu ngoặc vuông,[2] để người đọc có thể căn cứ vào đó và trích dẫn rõ ràng. Trích dẫn riêng của tôi luôn luôn dựa vào các phẩm do Max Müller đã phân ra từ kinh văn.

Dõi ngược lại, hiển nhiên là cách phân đoạn đó được kế thừa của Lương Vũ Đế (Wu-ti; 505–570) vị vua đầu tiên của đời nhà Lương (Liang) Trung Hoa, người đã đề xuất cách thức phân đoạn nầy từ bản tịch tiếng Hán của ngài Cưu-ma-la-thập.[3] Bản của Max Müller dựa vào ba tài liệu đều có tương đối trễ. Đó là:

  1. Một bản chép tay của Nhật Bản, được ông mô tả trong trang 16-17;
  2. Một bản khắc gỗ của Trung Hoa;
  3. Một bản khắc gỗ song ngữ của Tây Tạng từ Bắc Kinh, bản kinh được khắc bằng tiếng Sanskrit cùng ngôn ngữ Lantsa và phiên âm tiếng Tây Tạng; thêm cả phần phiên dịch xen vào giữa các dòng kinh.

Một bản sao khác của bản khắc gỗ tương tự hiện còn ở London School of Oriental Studies,[4] và nhờ sự hỗ trợ của các tư liệu nầy, mà tôi có điều kiện được rà soát lại các ghi chép của Max Müller.

Về các ghi chú, tôi đã dùng nhiều tư liệu khác nhau, ở đây được sắp xếp theo thứ tự niên đại:

Hai nguồn tư liệu xưa nhất là bản dịch tiếng Hán của ngài Cưu-ma-la-thập,[5] và Luận giải của ngài Vô Trước và Thế Thân.[6] Dù tính chất cổ điển của nó. Bản dịch của Cưu-ma-la-thập đã hé mở chút ánh sáng vào vấn đề nhận định về bản kinh. Đây một phần vì bản dịch ấy không xuất phát trực tiếp từ một bản gốc bằng tiếng Sanskrit, và phần lớn vì nó có ít liên quan với bản gốc hơn là bản dịch tiếng Tây Tạng sau này.

Phần lớn sự chệch hướng từ bản văn của Max Müller được ghi chú bởi De Harlez,[7] tuy nhiênchúng ta phải ghi nhớ rằng vào thời đại của Max Müller, cách đây 60 năm, thuật ngữ Phật học luôn luôn chưa được hiểu một cách dễ dàng như trong một số trường hợp, nơi mà chúng được thoát thai từ một nguồn khác sớm hơn, chúng đã biểu lộ một tình trạng sớm hơn của kinh văn (như trong các đoạn 3, 13e, 14a, 17d và 31).

Ở trong một thời điểm nào đó mà ta không biết chắc, như khi Cưu-ma-la-thập dịch ở đoạn 17e, đã dùng thuật ngữ amahākāyaḥ[8] thay vì akāyaḥ. Đoạn 25, đã dùng abālapṛthagjanā (phàm phu) thay vì ajanā (ngu sivô trí), hoặc là nhan đề kinh ở đoạn 13a đã ghi là vajraprajñāparamitā thay vì ghi đơn giản là prajñāparamitā.[9] Trong đoạn 10c, ông diễn giải apratiṣṭhitaṃ cittam là phát khởi tín tâm thanh tịnh – sanh tịnh tín tâm,[10] chúng ta hầu như thích nghi với một trong những cách chú giải nầy bên cạnh cách ngài Cưu-ma-la-thập theo thói quen giải thích rõ khi ngài đọc lời dịch ra.[11] Ở đây ngài lưu ý người đang tiếp nhận giáo lý Bát-nhã ba-la-mật-đa của mình về prabhāsvara-citta (hàng phục tâm).[12] Có nhiều sự khác biệt về ngôn từ, sự giản lược và bỏ sót rất có thể do phương pháp phiên dịch của Cưu-ma-la-thập gây ra hơn là do sự phân kỳ của bản gốc kinh văn từ tiếng Sanskrit. Đưa ra một trường hợp sau cùng, bài kệ trong đoạn 32a như sau:

Tất cả các pháp hữu vi

Đều giống như sao đêm, như mắt loạn, như ngọn đènnhư huyễn thuật, như sương mai, như bọt nước, như cơn mộng, như ánh chớp, như đám mây.

Chúng nên được quán chiếu như vậy.[13]






 

Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
25/02/2015(Xem: 14814)
18/10/2010(Xem: 47651)
07/05/2018(Xem: 8169)
07/09/2011(Xem: 57097)
10/05/2010(Xem: 278040)
18/05/2010(Xem: 134333)
“Xuất gia thật là tốt! Cảm tạ ân thâm rộng lớn của chư Phật, điều may mắn này khiến cho tôi cảm nhận được sự yên tâm và bình tĩnh từ trong tâm”. Đó là pháp hỷ của Đại sư Tinh Vân - khai sơn Phật Quang Sơn nói về đời sống 76 năm xuất gia của ngài.
Bài này là cuộc phỏng vấn qua email trong tháng 1/2023 với nhà sư Kunchok Woser (Don Phạm), người xuất gia theo truyền thừa Phật Giáo Tây Tạng, sau nhiều năm tu học ở Ấn Độ đã tốt nghiệp văn bằng Lharampa, học vị cao nhất của dòng mũ vàng Gelug, và bây giờ chuẩn bị học trình Mật tông.
Nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc - Xuân Quý Mão, thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tôi có lời chúc mừng năm mới, lời thăm hỏi ân cần tới tất cả các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tới chư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng Ni, cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; kính chúc quý vị một năm mới nhiều an lạc, thành tựu mọi Phật sự trên bước đường phụng sự Đạo pháp và Dân tộc!