Quan Điểm Của Phật Giáo Về Pháp Môn Niệm Phật

27/08/201012:00 SA(Xem: 22770)
Quan Điểm Của Phật Giáo Về Pháp Môn Niệm Phật
Đã từ lâu, tôi phát tâm tu tập pháp môn niệm Phật, niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, cầu vãng sanh Tịnh độ. Tôi cảm nhận được sự an ổn thân tâm và dần thiết lập được niềm tin vững chắc vào pháp môn. Gần đây, một người bạn cho tôi mượn 2 bộ VCD, "Tiến trình niệm Phật" và "Đất" của thầy Chân Quang. Xem xong 4 đĩa VCD này tôi thật bàng hoàng vì những lời giảng vô cùng lạ lẫm, đơn cử như "Niệm Phật đừng nguyện thành Phật mà thành đất…" (VCD - Đất) hay "Niệm Phật thành đất, chắc gì được vãng sanh mà nguyện…" (VCD - Tiến trình niệm Phật). Vậy, kính mong quý Báo cho biết quan điểm của Phật giáo về pháp môn niệm Phật mà tôi đang hành trì để giữ vững niềm tin trong quá trình tu tập.

TRẢ LỜI: Niệm danh Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Tịnh độ là pháp tu phổ biến của các hành giả Tịnh Độ tông. Tịnh Độ là một trong những tông phái lớn của Phật giáo Bắc truyền, có kinh luận y cứ rõ ràng, được chư vị Tổ sư thế thứ truyền thừa, rất nhiều hành giả niệm Phật được vãng sanh (Tứ chúng vãng sanh truyện). Đặc biệt, Tịnh Độ tông có số lượng tín đồ đông đảo, nhất là ở các nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật BảnViệt Nam. Vì vậy, thật xác đáng khi nhận xét "Ở các xứ Bắc tông Phật giáo, những người xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà chiếm phần tối đa" (Thích Thiền Tâm, Niệm Phật thập yếu, tr.14).

Khởi nguyên, giáo nghĩa Tịnh độ được hình thành và phát triển ở Ấn Độ, là một đường lối tu tập nhưng chưa hình thành tông phái. Khi Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Trung Quốc (cuối thế kỷ thứ I), khoảng thế kỷ thứ III, kinh điển Tịnh độ mới xuất hiện và đến thế kỷ VI thì giáo nghĩa Tịnh Độ tông xem như hoàn chỉnh. Ngoài ba bộ kinh nền tảng là kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ, còn có Vãng sanh Tịnh độ luận (Thế Thân) và rất nhiều kinh điển Đại thừa ca ngợi tư tưởng Tịnh độ như Hoa Nghiêm, Phương Đẳng, Bửu Tích…

Khai sáng Tịnh Độ tông Trung QuốcSơ tổ Huệ Viễn (333-416). Ngài thành lập Bạch Liên xã, tổ chức tu tập niệm hồng danh Phật A Di Đà tại chùa Đông Lâm, ở Lô Sơn. Sau đó, liên tông chư Tổ thế thứ truyền thừa đến Ấn Quang đại sư (1862-1940), Tổ sư thứ mười ba. Tại Việt Nam, giáo nghĩa Tịnh độ được truyền vào rất sớm, "sự có mặt của giáo lý Tịnh độViệt Nam được đánh dấu chậm lắm là vào khoảng giữa thế kỷ thứ mười một" (Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tr.202). Theo Thiền uyển tập anh, năm 1141 chùa Quỳnh Lâm đã tạc tượng Phật A Di Đà. Đời Trần, Trần Thái Tông (1218-1277) đã chủ trương tu tập niệm Phật (Khóa hư lục). Đến Trần Nhân Tông (1258-1308) đã xác định rõ, "Phật tử nước ta thời ấy, niệm Phật là niệm Đức Phật A Di Đà" (Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Thái Tông, tr.275).

Đường lối tu tập của Tịnh Độ dựa trên ba nguyên tắc Tín - Nguyện - Hạnh. Tín thâm, nguyện thiết và hạnh chuyên là cơ sở vững chắc để thành tựu vãng sanh. Có nhiều phương thức niệm Phật nhưng trì danh niệm Phật rất thích hợp với quần chúng, số đông. Vãng sanh Cực Lạc là kết quả của những hành giả tu tập niệm Phật đạt đến nhất tâm. Dù quả vị trong chín phẩm có cao thấp, thượng hạ, song được sanh về Tịnh độ chắc chắn sẽ "bất thối", không còn đọa lạc, theo thời gian sẽ đến ngày chứng quả Vô sanh. Mặt khác, theo kinh Vô Lượng Thọ, với 48 lời nguyện của Đức A Di Đà, thì ngoài tự lực còn có tha lực nên niệm Phật trở thành pháp môn "dễ tu, dễ chứng". Do vậy, Tịnh Độ tông truyền bá rất rộng rãi, được nhiều người hưởng ứng, tu tập.

Như vậy, niệm Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Tịnh độpháp môn tu tập chính thống của Phật giáo, không một ai có thể bài bác, đả kích hoặc phủ nhận. Thiền sư Thiên Như khẳng định "Đời mạt pháp về sau, bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sanh. Nếu ai không tin, tất sẽ bị đọa địa ngục" (Thiên Như ký ngữ - Thích Thiền Tâm, sđd, tr 15). Những ai có duyên với pháp môn niệm Phật thì hãy giữ vững niềm tin vào Chánh pháp, nỗ lựctinh tấn hơn nữa để niệm Phật đạt đến nhất tâm.

Trở lại vấn đề 2 bộ VCD, "Tiến trình niệm Phật" và "Đất" của thầy Chân Quang, theo chúng tôi, trong thuyết phápvấn đề đối cơ, tức tùy căn cơ của hội chúng mà nói pháp. Bạn nghe xong 2 bộ VCD ấy cảm thấy "bàng hoàng vì những lời giảng vô cùng lạ lẫm" có thể do bạn không phải là người đương cơ để cảm nhận những vấn đề thuộc "ý tại ngôn ngoại"!? Đã xác định mình không phải đối tượng của "pháp thoại" ấy thì hãy xem như "gió theo lối gió, mây đường mây", do đó bạn cứ an tâm tu tập với pháp môn của mình.

Tạo bài viết
28/08/2010(Xem: 38154)
28/08/2010(Xem: 46811)
28/08/2010(Xem: 31558)
27/08/2010(Xem: 50451)
27/08/2010(Xem: 36385)
27/08/2010(Xem: 30303)
27/08/2010(Xem: 101134)
27/08/2010(Xem: 27520)
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.
Theo ước tính của Trung tâm nghiên cứu Pew, Phật tử chiếm khoảng 1% dân số trưởng thành ở Hoa Kỳ và khoảng hai phần ba Phật tử Hoa Kỳ là người Mỹ gốc Á. Trong số những người Mỹ gốc Á, 43% là người Mỹ gốc Việt và một phần tư người Mỹ gốc Nhật xác định là Phật tử, phần còn lại là Kitô hữu hoặc không có tôn giáo nào.
Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán với âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung quốc là chuyện từ nghìn năm và đang tiếp diễn đến ngày nay. Hiện tại chúng đã bao vây trọn vẹn biển Đông và biên giới phía Bắc đang chuẩn bị đưa binh lực tràn qua biên giới để tấn công Việt Nam một lần nữa. Đó là nhận định của nhà phân tích chiến lược David Archibald trong bài viết nhan đề “Advice for Our Vietnamese Friends on China” (Lời Khuyên Gửi Các Bạn Việt Nam Của Tôi về TQ) đăng trên tạp chí American Thinker ngày 27/9/2019. Thực sự Tổ quốc Việt Nam đang lâm nguy, người Phật tử không được quyền rửng rưng, vô cảm, và thờ ơ. Ban biên tập Thư Viện Hoa Sen là những Phật tử đồng thời là con dân của nước Việt nên chúng tôi chưa biết làm gì hơn là truyền đạt thông tin này đến tất cả mọi người dân yêu nước.