Quan Điểm Của Phật Giáo Về Pháp Môn Niệm Phật

27/08/201012:00 SA(Xem: 23185)
Quan Điểm Của Phật Giáo Về Pháp Môn Niệm Phật
Đã từ lâu, tôi phát tâm tu tập pháp môn niệm Phật, niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, cầu vãng sanh Tịnh độ. Tôi cảm nhận được sự an ổn thân tâm và dần thiết lập được niềm tin vững chắc vào pháp môn. Gần đây, một người bạn cho tôi mượn 2 bộ VCD, "Tiến trình niệm Phật" và "Đất" của thầy Chân Quang. Xem xong 4 đĩa VCD này tôi thật bàng hoàng vì những lời giảng vô cùng lạ lẫm, đơn cử như "Niệm Phật đừng nguyện thành Phật mà thành đất…" (VCD - Đất) hay "Niệm Phật thành đất, chắc gì được vãng sanh mà nguyện…" (VCD - Tiến trình niệm Phật). Vậy, kính mong quý Báo cho biết quan điểm của Phật giáo về pháp môn niệm Phật mà tôi đang hành trì để giữ vững niềm tin trong quá trình tu tập.

TRẢ LỜI: Niệm danh Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Tịnh độ là pháp tu phổ biến của các hành giả Tịnh Độ tông. Tịnh Độ là một trong những tông phái lớn của Phật giáo Bắc truyền, có kinh luận y cứ rõ ràng, được chư vị Tổ sư thế thứ truyền thừa, rất nhiều hành giả niệm Phật được vãng sanh (Tứ chúng vãng sanh truyện). Đặc biệt, Tịnh Độ tông có số lượng tín đồ đông đảo, nhất là ở các nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật BảnViệt Nam. Vì vậy, thật xác đáng khi nhận xét "Ở các xứ Bắc tông Phật giáo, những người xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà chiếm phần tối đa" (Thích Thiền Tâm, Niệm Phật thập yếu, tr.14).

Khởi nguyên, giáo nghĩa Tịnh độ được hình thành và phát triển ở Ấn Độ, là một đường lối tu tập nhưng chưa hình thành tông phái. Khi Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Trung Quốc (cuối thế kỷ thứ I), khoảng thế kỷ thứ III, kinh điển Tịnh độ mới xuất hiện và đến thế kỷ VI thì giáo nghĩa Tịnh Độ tông xem như hoàn chỉnh. Ngoài ba bộ kinh nền tảng là kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ, còn có Vãng sanh Tịnh độ luận (Thế Thân) và rất nhiều kinh điển Đại thừa ca ngợi tư tưởng Tịnh độ như Hoa Nghiêm, Phương Đẳng, Bửu Tích…

Khai sáng Tịnh Độ tông Trung QuốcSơ tổ Huệ Viễn (333-416). Ngài thành lập Bạch Liên xã, tổ chức tu tập niệm hồng danh Phật A Di Đà tại chùa Đông Lâm, ở Lô Sơn. Sau đó, liên tông chư Tổ thế thứ truyền thừa đến Ấn Quang đại sư (1862-1940), Tổ sư thứ mười ba. Tại Việt Nam, giáo nghĩa Tịnh độ được truyền vào rất sớm, "sự có mặt của giáo lý Tịnh độViệt Nam được đánh dấu chậm lắm là vào khoảng giữa thế kỷ thứ mười một" (Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tr.202). Theo Thiền uyển tập anh, năm 1141 chùa Quỳnh Lâm đã tạc tượng Phật A Di Đà. Đời Trần, Trần Thái Tông (1218-1277) đã chủ trương tu tập niệm Phật (Khóa hư lục). Đến Trần Nhân Tông (1258-1308) đã xác định rõ, "Phật tử nước ta thời ấy, niệm Phật là niệm Đức Phật A Di Đà" (Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Thái Tông, tr.275).

Đường lối tu tập của Tịnh Độ dựa trên ba nguyên tắc Tín - Nguyện - Hạnh. Tín thâm, nguyện thiết và hạnh chuyên là cơ sở vững chắc để thành tựu vãng sanh. Có nhiều phương thức niệm Phật nhưng trì danh niệm Phật rất thích hợp với quần chúng, số đông. Vãng sanh Cực Lạc là kết quả của những hành giả tu tập niệm Phật đạt đến nhất tâm. Dù quả vị trong chín phẩm có cao thấp, thượng hạ, song được sanh về Tịnh độ chắc chắn sẽ "bất thối", không còn đọa lạc, theo thời gian sẽ đến ngày chứng quả Vô sanh. Mặt khác, theo kinh Vô Lượng Thọ, với 48 lời nguyện của Đức A Di Đà, thì ngoài tự lực còn có tha lực nên niệm Phật trở thành pháp môn "dễ tu, dễ chứng". Do vậy, Tịnh Độ tông truyền bá rất rộng rãi, được nhiều người hưởng ứng, tu tập.

Như vậy, niệm Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Tịnh độpháp môn tu tập chính thống của Phật giáo, không một ai có thể bài bác, đả kích hoặc phủ nhận. Thiền sư Thiên Như khẳng định "Đời mạt pháp về sau, bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sanh. Nếu ai không tin, tất sẽ bị đọa địa ngục" (Thiên Như ký ngữ - Thích Thiền Tâm, sđd, tr 15). Những ai có duyên với pháp môn niệm Phật thì hãy giữ vững niềm tin vào Chánh pháp, nỗ lựctinh tấn hơn nữa để niệm Phật đạt đến nhất tâm.

Trở lại vấn đề 2 bộ VCD, "Tiến trình niệm Phật" và "Đất" của thầy Chân Quang, theo chúng tôi, trong thuyết phápvấn đề đối cơ, tức tùy căn cơ của hội chúng mà nói pháp. Bạn nghe xong 2 bộ VCD ấy cảm thấy "bàng hoàng vì những lời giảng vô cùng lạ lẫm" có thể do bạn không phải là người đương cơ để cảm nhận những vấn đề thuộc "ý tại ngôn ngoại"!? Đã xác định mình không phải đối tượng của "pháp thoại" ấy thì hãy xem như "gió theo lối gió, mây đường mây", do đó bạn cứ an tâm tu tập với pháp môn của mình.

Tạo bài viết
22/06/2019(Xem: 2848)
10/01/2019(Xem: 12537)
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.