Phần Hai

17/09/201012:00 SA(Xem: 11605)
Phần Hai

LƯỢC THUẬT HÀNH TRẠNG HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM
Dịch giả: Ni chúng Tự Viện Vĩnh Minh Lâm Đồng
Hiệu đính: Giáo sư. Phạm Phú Thành & Đại Đức. Thích Giải Hiền


2

HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM 
NIỆM PHẬT TAM-MUỘI 
Vân Lâm

Chín năm trước, tiến sỹ Châu có người bạn Mỹ – tiến sỹ King, ở Hollywood – đến Đài Loan để tham vấn giáo sư Nam vài vấn đề liên quan đến Phật pháp. Tiến sỹ King tương đối trẻ, - tuổi chừng trên ba mươi, xuất thân từ một gia đình Cơ Đốc giáo. Anh học ngành âm nhạc, nhưng đặc biệt rất thích nghiên cứu Phật pháp. Anh đã xem qua nhiều sách của các nhà thiền học, kinh Đại Bát Nhã và một số kinh điển Tiều Thừa bằng tiếng Anh, và đã tu tập thiền định trên một năm ở Tích Lan. Anh là một trong số những thanh niên Phật tử phương Tây, đã từng hấp thụ nền giáo dục cao đẳng hiện đại.

Trong thời gian ở Đài Bắc anh ta có cùng với thính chúng đến nghe giáo sư Nam thuyết giảng, thông qua phiên dịch của tiến sỹ Châu. Vì ngôn ngữ bất đồng, anh phải hết sức cố gắng mới tiếp thu được nội dung bài giảng. Sau đó anh nhờ tiến sỹ Châu đưa đi thăm các bậc thiện tri thức am hiểu đạo ở Đài Loan. Lúc bấy giờ tiến sỹ Châu vì rất bận việc không đưa đi được nên đến tìm tôi, nhờ tôi dẫn anh ngoại kiều này đi tìm sư hỏi đạodu ngoạn đó đây. Tôi bảo tôi không biết ai là thiện tri thức am hiểu đạo làm sao mà giúp được. Tiến sỹ Châu năn nỉ nhiều lần, không thể từ chối, tôi đành miễn cưỡng nhận lời .

Tôi nói : “ Biết tìm ai đây ? ” Tiến sỹ Châu bảo : “ Tuỳ ý ” . Tôi lại hỏi ý kiến King, anh ta nói rất thích gặp hoà thượng tu thiền và muốn làm quen với những phật tử, không cứ là tại gia hay xuất gia. Lúc ấy tôi cảm thấy bối rối, biết ai là người tu thiền đây ? Tôi hỏi anh ta: “ Anh sinh trưởng trong gia đình Cơ đốc giáo phương tây, sao lại thích thú về vấn đề này ? ” Anh ta cười đáp : “ Tôi cũng không biết, có lẽ kiếp trước tôi cũng đã thích như vậy. ” Tôi hỏi : “ Người Mỹ các anh cũng tin có kiếp trước sao ? ” Anh trả lời một cách nghiêm túc : “ Sao lại không ?”

Chuyện trò bâng quơ với nhau như vậy, thế rồi đôi bên hiểu biết nhau. Hôm sau, tôi định đưa anh đến bái kiến Hoà thượng Ấn Thuận ở Gia Nghĩa, nhưng vì nơi đó quá xa nên lại thôi, cuối cùng quyết định đến gặp nhà thơ Chu Mộng Điệp ở cửa hàng sách đường Vũ Xương, rồi sẽ đến chùa Thừa Thiên bái kiến Hoà thượng Quảng Khâm.

Tiến sỹ King và nhà thơ gặp nhau, chẳng biết “ khế cơ ” hay “ không khế cơ ” mà đôi bên chẳng trao đổi với nhau điều gì. Ba chúng tôi đứng nơi hành lang trước tiệm cà phê Minh Tinh, giữa dòng người xuôi ngược, cùng yên lặng …, được non nửa giờ, tôi và King cáo từ .

Chúng tôi lên xe buýt đi Thổ Thành …, xuống xe buýt xong lại thuê taxi lên núi. King nói để anh trả tiền taxi, tôi bảo tôi cũng cùng đi, để tôi trả một nửa, anh liền bảo tiền xe buýt hồi nãy anh cũng phải chịu một phần.

Lên đến núi, tới Đại Điện thấy Hoà thượng đang ngồi trên tọa cụ hình hoa sen ở trong chánh điện. Tôi vốn quen mỗi khi gặp Hoà thượngđảnh lễ, liền đến trước Hoà thượng cung kính cúi lạy; không ngờ rằng anh chàng ngoại quốc trẻ tuổi này cũng vội vàng quỳ theo tôi mà lạy. Hoà thượng vẫn ngồi yên chẳng nói lời nào, sau đó Người đến ngồi trên chiếc ghế mây gần cửa sổ, chúng tôi cùng đi theo sau Người. Thấy có mấy ni sư đứng quanh bên Người, chuẩn bị phiên dịch, tôi nói với họ là tiếng Phúc Kiến tôi cũng hiểu được chút ít, có thể phiên dịch được, khỏi phiền đến các vị.

Đầu tiên tôi giới thiệu sơ lược tiến sỹ King với Hoà thượng, rồi thưa rằng chuyến sang Đài Loan đặc biệt của anh lần này là để tìm học Phật pháp, xin Sư phụ khai thị cho anh .

Hoà thượng nghe xong, hỏi anh King :

- Anh bao nhiêu tuổi ? - King đáp :
- Ba mươi lăm tuổi. ( Tôi cố gắng dịch thật nhanh ).
- Anh có vấn đề gì cần hỏi ?
- Con không có vấn đề gì, chỉ đến thăm Ngài.
- Anh thích gì trong Phật pháp ?
Thiền tông.
Tịnh độ cũng rất tốt, Tịnh độ cũng là thiền.

 Mọi người yên lặng giây lát …, có ni sư thị giả mang đến mấy cốc trà mời chúng tôi uống. Tôi và King mỗi người nhận lấy một cốc .
 Nhân dịp, lúc ấy Hoà thượng mới hỏi :

- Anh đang cầm cái gì trong tay vậy ?
- Trà.
 Tiếp đó Hoà thượng bảo King không nên do dự, hãy trả lời ngay, 
 “ cái gì làm cho anh uống trà ? ”
 Tiến sĩ King đáp : “ Khát !” Tôi thì trả lời : “ Miệng khô !”
- “ Không đúng ! Không đúng ! ”
Hoà thượng tự nhiên chẳng chút khách sáo, ngay phút đầu Người đã “ giáng cho một gậy ”, làm anh King bối rối không nói được lời gì.
Ai cũng cứ nghĩ cái làm cho mình uống là “ khát ” mà !.
Hoà thượng thấy King không nói gì, an ủi anh ta :
- Thường ai đến đây tôi cũng đều để họ niệm Phật, không nói chuyện gì khác. Trước khi anh đến đây, tôi không biết anh đến; anh đi rồi, tôi cũng không biết anh đi đâu. Hiện giờ anh đang uống trà, tôi hỏi anh về uống trà, uống trà chẳng phải là do khát, khát chỉ là một hiện tượng.

 Nói xong Hoà thượng lặp lại một lần nữa rồi bảo :
- Tôi nghe cư sỹ Vân nói anh có tu ở Tích Lan nên tôi chỉ nói đùa với anh cho vui vậy thôi.
 Im lặng một lát, tiến sỹ King lại hỏi :
- Con xem trong kinh sách có thấy nói “ niệm Phật tam-muội ” điều ấy có thật hay không ? Hoà thượng đã đạt đến cảnh giới đó chưa ?
Hòa thượng lại nói : “ Trước khi anh đến đây, tôi không biết anh đến, anh đi rồi tôi không biết anh đi đâu; bây giờ anh hỏi tôi, tôi nhớ lại để trả lời cho anh : khoảng 50 năm về trước tôi có một lần ở vào trạng thái mà tôi cho rằng đó là niệm Phật tam-muội, anh bảo làm sao mà tôi không biết. 

King nghe vậy, lấy làm phấn khởi nói anh rất thích nghe. Tôi liền phiên dịch :Anh ấy xin Sư phụ khai thị cho ”. – Người nói :
- Khoảng 50 năm trước, khi tôi ở Cổ Sơn - PHÚC CHÂU, có một lần cùng với tăng chúng vào chánh điện hành hương niệm Phật kinh hành. Mọi người đều theo nhịp mõ niệm Nam- mô A-Di-Đà Phật, Nam- mô A-Di-Đà Phật . . . Tay tôi bắt ấn, vừa đi vừa niệm, đột nhiên tôi đốn . . .

Lời Hoà thượng nói tôi dịch lại từng câu, đến tiếng “đốn”, đầu tôi căng ra, gượng dịch thành “once suddenly a stop” [thình lình dừng lại]. Hoà thượng liền bảo tôi : “ Anh đừng dịch sai, không phải là “ đình chỉ ” [dừng lại] đâu . “ Tiến sỹ King thấy Hoà thượng ra dấu giải thích, anh tỏ vẻ hiểu được ý Hoà thượng ; tôi biết mình dịch sai, cảm thấy thật xấu hổ .

Rồi Hoà thượng cho biết, lúc bấy giờ tiếng niệm “ Nam-mô A-Di-Đà-Phật ” lúc đầu vang vọng trên nền chánh điện, về sau dần dần chuyển lên cao. Hoà thượng vừa nói tay vừa từ từ uyển chuyển diễn tả, miệng thì niệm Phật … giọng thâm trầm hồn hậu. Người nói lúc ấy không còn cảm giác gì về chùa, về người và sự vật chung quanh, chỉ còn nghe hòa âm tiếng niệm Phật bất tuyệt từ dưới vần chuyển lên cao, đến tận không trung, khắp Pháp Giới vang vọng danh hiệu đức Phật A-Di-Đà .

Tôi hỏi : “ Thưa, lúc ấy Sư phụhành hương [kinh hành] không ? ”
Hoà thượng nói lúc đó không biết mình đang hành hương hay không hành hương, cũng chẳng rõ mình đang ở đâu, chỉ còn tiếng “ Nam-mô A-Di-Đà-Phật ” mà thôi. Đến khi thầy tri sự gõ khánh báo hiệu mãn thời công phu, mọi người trở về liêu phòng mà Người vẫn “ Nam-mô A-Di-Đà-Phật …”, cứ như thế suốt trong đi, đứng, nằm, ngồi …, khi lên chánh điện qua đường … hoàn toàn hoà nhập vào âm thanh “Nam-mô A-Di-Đà-Phật” trong tiếng chim hót và trầm hương. Trạng thái như vậy kéo dài trong ba tháng .

Hoà thượng cười nói tiếp : “ Thật là tuyệt vời, chẳng qua tôi thể nghiệm lại bằng ký ức. Ấy có phải là niệm Phật tam-muội hay không, tôi chỉ kể ra cho anh tham khảo. Tôi thì cho rằng đó là niệm Phật tam-muội, còn anh nghĩ phải hay không phải đó là phần của anh” 

Hoà thượng chân tình thổ lộ như vậy vì muốn đem thực tế kinh nghiệm tu trì của mình giải nghi cho người. Tiến sỹ King xong cảm thấy được lợi lạc khôn xiết, lòng tràn đầy pháp hỷ, vô cùng phấn khởi. Lúc ấy các ni sư thị giả sợ Hoà thượng mệt liền mời Người đi nghỉ. Tôi nghĩ bụng, lên núi lần này thật lợi ích, không hoài công leo núi, rồi bèn đứng lên xin cáo từ lui ra, không ngờ anh Mỹ kiều vừa được hưởng hương vị Phật Pháp lại cung kính quỳ trước Hoà thượng cúi đầu lạy.

Chúng tôi ra khỏi điện, nhân dịp thời gian còn sớm, đi dạo trong các lan can quanh điện, thưởng ngoạn cảnh non xanh núi biếc của chùa Thừa Thiên. Tôi giới thiệu với King, phía trước điện là động Nhật Nguyệt, nghe kể Hoà thượng lúc đầu mới tới Đài Loan đã từng đóng cửa động ẩn tu, Người có thể từ bên này Đại Điện bay qua bên kia, - không biết có thật hay không. Lúc hai chúng tôi đang đi dạo không để ý . . . quay đầu lại thấy Hoà thượng từ đàng sau đi tới. Tôi vụt kêu lên : “ Sư phụ, sao Ngài lại ra đây ? ” Hoà thượng tươi cười cởi mở : Cũng đi chơi đây mà ! ”

Dạo ấy Hoà thượng rất ít khi ra ngoài, tôi thấy mấy ni sư đứng trước cửa điện nhìn về phía chúng tôi có vẻ rất quan tâm, chắc là sợ Hoà thượng đi xa, lại được dặn trước nên không tiện đến gần.

Tôi bổng cao hứng hỏi về lời đồn Hoà thượng từng bay từ núi này sang núi kia. Hoà thượng đáp :” Làm gì có ! đừng nói nhảm .”

Tôi quay sang tiến sỹ King : “ Hôm nay anh thật có duyên may ! Hoà thượng thường ngày ít khi ra ngoài ”. Và tôi nói với Hoà thượng : “ Con thấy Sư phụ hợp ý anh ấy ”. Hoà thượng cười :
Không ! không phải ! Tôi chỉ cùng với các anh đi dạo chơi thôi 

Ba người cùng đứng lại, không trao đổi thêm lời gì . . . Tôi nói với King đây chính là lúc nên cùng niệm Phật, và tôi bắt đầu niệm … , King không niệm. Hoà thượng đứng bên, nhìn tôi … rồi nhìn King … , khoảng ba phút; tôi thấy như vậy là đủ, lại một lần nữa xin cáo từ. Hoà thượng đưa chúng tôi một đoạn đường, tôi thỉnh Người trở lui .

Khi xuống nuí, xe taxi chúng tôi chạy dọc theo đường núi quanh co, ánh nắng hiền hoà lung linh khắp núi rừng. Tôi cảm thấy thân tâm vô cùng sảng khoái. Tiến sỹ King quay sang hỏi tôi bản nguyên văn hoá Trung Hoa có nói về Tam-muội hay không ? Tôi chẳng có chút hiểu biết gì, tùy tiện bằng thứ tiếng Anh luộm thuộm dịch đại câu trong sách Luận Ngữ đã ghi chép được : “ Quân tử vô chung thực (nhật) chi gian vi nhân, tháo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị .”

(君子无终食(日)之间违仁,造次必於是,颠沛不必於是)

Và câu “ Tử tại Tề văn Thiều, tam nguyệt bất tri nhục vị . ”

(子在齐闻韶,三月不知肉味)

-- cho anh ta tham khảo .
[ Nghĩa hai câu trên đây :
* Người quân tử không bao giờ làm trái điều nhân dù trong khoảng một bữa ăn (một ngày) [?], dù trong cơn vội vàng cũng giữ lấy điều nhân, dù trong lúc ngữa nghiêng cũng giữ lấy điều nhân.
* Đức Khổng Tử tại nước Tề nghe nhạc Thiều, ba tháng Ngài không biết đến mùi vị thịt . – ND ].

Nghe xong King vô cùng thích thú, nói :
- Ấy hẳn phải là một thứ Tam-muội đấy chứ !
 Tôi cười :
- Đó là một vấn đề lớn, tôi cũng chẳng biết nũa !

Nam-mô A-Di-Đà phật

HỒI KÝ VỀ HOÀ THƯỢNG QUẢNG KHÂM
 Tông Ngang

1. Gặp Hoà thượng lần đầu tiên.

Gặp lần thứ hai như “ tìm được bảo vật”.

Tôi được gặp Hoà thượng lần đầu vào năm 1976. Lúc đó Ngài không giảng dạy gì, chỉ bảo chúng tôi tinh tấn niệm Phật. Người bạn đồng học ở BAN VĂN HOÁ PHƯƠNG ĐÔNG thuộc TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ cùng đi với tôi cảm thấy vô cùng thất vọng. Theo lời loan truyền, Hoà thượng là một nhân vật truyền kỳ, nhưng khi hội kiến thì thấy bình thường, không có gì khác lạ. Chúng tôi không ngại xa xôi mà đến, nhưng khi trao đổi với Người vài câu đều lấy làm thất vọng. Trong bọn tôi có một anh tự cho mình học rộng biết nhiều, nói : “ Hoà thượng già một chữ không biết, có thể dạy được gì ! “ Chúng tôi mê muội nên trong bụng cũng nghĩ như vậy, - như người có mắt hỏi đường người mù thì biết được gì ! Thế là hứng chí khi đến, cụt hứng khi về.

Năm sau tôi tham gia Hội niệm Phật do Hoà thượng Sám Vân tổ chức ở Đài Bắc trong bảy ngày. Ngài Sám Vân rất mực kính trọng Hoà thượng Quảng Khâm. Sau khi mãn khoá niệm Phật, một đoàn đông đảo bảy, tám chục ngừơi lên chùa Thừa Thiên thăm viếng Hoà thượng. ( Lúc bấy giờ chùa Thừa Thiên xây cất rất đơn sơ, chỉ có vài phòng tăng, không huy hoàng tráng lệ như ngày nay).

Nơi phương trượng của Hoà thượng, cả trong lẫn ngoài người ta đông nghẹt. Có người đến để xin chỉ dạy, có người vì hiếu kỳ mà đến, cũng có kẻ lên núi chơi tiện đường ghé lại.

Hoà thượng ngồi trên ghế mây, im lặng ; Pháp sư Sám Vân bước vào, hướng dẫn đoàn tới đảnh lễ Hoà thượng, sau đó mọi người ngồi xuống trên nền đất. Pháp sư Sám VânHoà thượng thăm hỏi nhau xong, cả phượng trượng yên lặng . . . Hoà thượng thần sắc tươi vui, có vẻ người rất hài lòng. Thấy tất cả im lặng, người nhìn đại chúng hỏi :
Các vị đã hoàn mãn tuần niệm Phật, đã tìm thấy bảo vật, được của báu nên đưa ra phụng hiến, .. . nào nói đi chứ ! ” 
Nghe Hoà thượng nói như vậy ngừơi này nhìn ngừơi kia như bảo nhau : được của báu không phải là tôi, vị nào được của báu vậy ? mau trình ra, không thì thật là xấu hổ ! Sau một hồi đưa mắt hỏi nhau, rốt cuộc chúng tôi – hàng ngay bàn chuyện trời đất, giảng kinh nói pháp làu làu – đến lúc này chẳng ai thốt ra được nửa lời kinh kệ .

Trong khi mọi người im lặng, không khí trở nên nặng nề, bỗng nhiên có tiếng Nam-mô A-Di-Đà Phật ” từ miệng một tỳ kheo ni phát ra, mọi người liền quay đầu lại chăm chú nhìn vị tỳ kheo ni trẻ tuổi, xem xem vị thần thánh nào thốt lên như sư tử hống vậy ! Rồi lại đưa mắt nhìn về phía Hoà thượng, xem Ngài ứng xử thế nào. Chỉ thấy Hoà thượng lắc đầu chỉ tay vào một em bé trước mặt nói :
- Câu ấy em bé ba tuổi cũng có thể nói được .
Tiếp đó, không khí trở lại trầm lặng như trước, chỉ thấy Hoà thượng, qua đôi mắt sáng chiếu tựa hồ như dò hỏi ai là người giấu của báu mà chẳng trình ra cho người khác xem, - người đó là ai ?
- Nào, nói đi . . . nói đi chứ !

Hoà thượng như một lão tướng từng trải trăm trận, binh đến dưới thành, lão tướng đích thân chỉ huy .

Trườc ánh mắt long lanh và giọng nói kiên quyết thúc bách của Hoà thượng ai nấy bặt tiếng như ve mùa đông, cảm thấy hơi thở mình dồn dập. Lúc ấy tôi mới nhận ra, đây không phải là thư sinh luận chiến mà đúng là giữa chiến trường đầy gươm giáo. Nếu không thực sự tôi luyện công phu ắt không đủ bản lĩnh để xông pha trận mạc.

Có vị tỳ kheo ngồi phía trước, như bị Hoà thượng để mắt chú ý làm cho thân thể mất tự nhiện ; vị tỳ kheo động thân … đắn đo vài giây … rồi như kẻ “ dấu đầu lòi đuôi ”, trình ra bài kệ :

Quá khứ tâm bất khả đắc
Hiện tại tâm bất khả đắc
Vị lai tâm bất khả đắc .

 过去心不可得
 现在心不可得
 未来心不可得 

Hoà thượng nghe xong nét mặt vẫn điềm nhiên, nói :
- Chúng ta đóng cửa lại nói với nhau, ta không nên cho rằng chiếc áo này ( Người chỉ chiếc áo tu sỹ trên mình ) tùy tiện mà mặc được, mặc chiếc áo này một cách chân chính không phải là dễ !

Sau đó bầu không khí lại một lần nữa tĩnh lặng. Hoà thượng thấy mọi người không ai còn trình ra của cải gì nữa, Người vẫn với ánh mắt sáng nhiếp phục, vui vẻ hiền từ nói :
- Người xưa “ đả Phật thất ” [ niệm Phật bảy ngày ] đúng kỳ thì chứng nghiệm, nếu đúng kỳ hạn mà không chứng nghiệm hoá ra “ nhờ Phật để có ăn ” hay sao ? ( tức là mượn cớ niệm Phật để được ăn cơm) . – Dừng lại vài giây Hoà thượng nói tiếp :
- “ Đả Phật thất ” mà mong được cái gì như vật báu là tham. Mọi người đến đây với tôi, cứ tưởng có được cái gì đó mang về, ấy cũng là tham .”
 
Người chưa dứt lời, tận cuối phòng có hai người rỉ tai nhau, có vẻ như nói lén rằng “ chúng mình không tìm được bảo vật, Hào thượng bảo đưa bảo vật ra xem, Hào thượng có bảo vật mà còn đòi bảo vật của chúng ta, ấy chẳng phải là hai lần tham ? ” Lời rỉ tai vừa xong, Hoà thượng như biết mà không để ý, nói tiếp :
Nếu ai nghe mà hiểu lời tôi nói, thì bảo vật đặt trước mắt ắt lấy được ngay; còn nghe mà không hiểu, không nhận ra, thì dù có hai tay bưng dâng trước mặt cũng chẳng có được gì . . . 

 Hoà thượng nói chưa dứt lời bổng có một người trẻ tuổi nói :

- Xin thưa, Hoà thượnglần chuỗi hạt không ?

- Không !
 
Thấy Hoà thượng không đeo tràng hạt anh ta cụt hứng, nhìn sang Pháp sư Sám Vân bên cạnh tay đang lần chuỗi hạt niệm Phật, anh chuyển hướng nhắm mũi tên sang Pháp sư, lém lỉnh hỏi : “ Thưa Pháp sư, Ngài có lần chuỗi hạt không ? ” – Pháp sư đáp giọng chắc nịch :
- “ Có ! ”
 Anh chàng thanh niên nói một cách tỉnh bơ :
- Ngài cho tôi tràng hạt. – Pháp sư đáp :
- Tôi đang niệm phật, không thể cho anh. Nếu tôi cho anh, anh không được vứt nó đi. – Anh thanh niên chìa tay ra nói xẵng:
- Đưa tràng hạt đây !
 Tiếng nói như còn bên tai, bổng Hoà thượng chỉ thanh niên bảo :
- Hiện anh đang niệm đấy !
 Tức thì anh chàng thanh niên nọ mất hẳn khí sắt kiêu ngạo, im lặng không nói lời nào . 
 Hai vị Pháp sư đã đồng diễn “ quảng trường thiệt ” [ lưỡi Phật ], từ không nhập có; từ có nhập không, phối hợp có-không chặt chẽ, sự việc diễn ra làm cho mọi người vô cùng tán thán .

2. Chúng sanh bệnh , Pháp sư cũng bệnh
 
 Vào khoảng năm 1978, nghe nói Hoà thượng pháp thể suy yếu, Người tỏ ý muốn vãng sanh Tây Phương, đại chúng trong chùa rất lo lắng, mời lương y lên núi bắt mạch cho Hoà thượng. Người không muốn làm náo động đại chúng, tăng chúng khẩn cầu đôi ba lần Người mới miễn cưỡng để cho bác sỹ chẩn đoán. Sau khi cẩn trọng xem mạch cho Hoà thượng bác sỹ tỏ vẻ rất ngạc nhiên, ông ta bắt mạch nhiều lần…, vừa như lắng nghe vừa như trầm ngâm suy nghĩ, cuối cùng phát biểu : “ Mạch của Hoà thượng hoàn toàn không giống mạch người thường, nhưng không chẩn đoán ra bệnh gì”. Hoà thượng mĩm cười chỉ chúng đệ tử đang quỳ trước mặt, nói với lương y :

- Họ đều có bệnh, tiện thể nhờ xem mạch cho họ luôn.

 Ai nấy đều lấy làm lạ nhìn Hoà thượng, nhưng cùng mỉm cười cảm thấy trong lòng bớt lo. Sự việc có vẻ giống như trong kinh Tịnh Danh, khi ngài cư sỹ Duy Ma nói : “ Chúng sanh có bệnh, tôi cũng có bệnh ! ”. Theo lời vị Pháp sư trong chùa thì Hoà thượng có lần bảo rằng khi Người vãng sanh Người sẽ thị hiện bệnh tướng, cõi Ta-bà quá khổ, chần chừ ở đây chịu sao nổi ?

Nghe tin Hoà thựơng bệnh, mọi người theo nhau lên núi thăm. Pháp sư Sám Vân cùng chúng đệ tử cũng vội vàng lên núi “ thỉnh Phật trụ thế ”. Khi chúng tôi gặp Hoà thượng thấy Người đang ho từng cơn, ho xong lại khạc nhổ, nhưng chẳng thấy nhổ ra vật gì. Có lúc Người nói một câu mà phải dừng ngắt mấy lần, cơ thể rung giật theo từng cơn ho, ai nhìn thấy cũng xót xa. Ngài Sám Vânđại chúng đồng thanh khẩn cầu Hoà thượng từ bi nghĩ đến chúng sanh đau khổ, trụ thế thêm vài năm nữa. Hoà thượng nói Người không thể tự làm chủ được, thân xác Người như ngôi nhà gạch mục nát, dù có gắng gượng duy trì thì chỉ một cơn gió to ập đến cũng không thể nào chịu nổi, chi bằng đi sớm một chút, hoán chuyển một thân thể “ chắc như xi măng cốt thép ” mà trở lại mới có thể hoằng pháp lợi sanh. Nghe thế ai cũng hết sức năn nỉ, vì nếu Người có trở lại thì ít nhất cũng phải mất hai mươi năm, trong hai mươi năm ấy chúng sanh biết nương tựa vào ai; thiết tha xin Người ở lại thêm vài năm nữa. Hoà thượng bảo đơn điền của Người đã hết khí lực, nói không ra tiếng mong gì đáp ứng nhu cầu của chúng sanh, gắng gượng ở lại cũng vô nghĩa. Mọi người lại van xin Hoà thượng lưu lại, chỉ cần Người yên tĩnh ngồi đó, vô hình trung cũng đủ làm tăng trưởng niềm tin cho đại chúng. Cứ như thế, mỗi người góp một câu… cho đến giờ ngọ trai mà Người vẫn tỏ ý không trụ thế nữa. Pháp sư Sám Vân quyết định tổ chức “ Tuần niệm Phật Dược Sư tiêu tai diên thọ ” (Tiêu tai diên thọ Dược Sư Phật Thất ) tại chùa Thừa Thiên để cầu an cho Hoà thượng, sau đó Pháp sư bước vội sang trai đường .
 
Trong lòng ai nấy đều mang tâm trạng bất an. Thế rồi đang giữa giờ cơm, một vị tỳ kheo ni vẻ mặt hớn hở tới trước ngài Sám Vân thưa nhanh : “ Kính bạch Pháp sư, Hoà thượng nhận lời không đi, lại còn mời Pháp sư khai khoá ‘ Đả Phật Thất ‘ [ Tuần niệm Phật bảy ngày ], có điều là Hoà thượng bảo tốt nhất nên khai khoá niệm Phật A-Di-Đà “.

 Mọi người nghe nói đều mừng rỡ, bất luận là khoá lễ niệm Phật Dược Sư hay niệm Phật A-Di-Đà đều được cả, miễn sao Hoà thượng chịu ở lại là qúy nhất. Lúc ấy ai cũng ăn ngon miệng, trút hết nỗi ưu uất bất an từ trước. Có người sốt ruột, lên lầu xem bệnh tình Hoà thượng thế nào, thấy Người đang ung dung đi tản bộ bên ngoài phương trượng . . . 

 Đó là nhân duyên Pháp sư Sám Vân mở “ Tuần niệm Phật ” ở chùa Thừa Thiên và cũng là nhân duyên chúng tôi được gần gũi Hoà thượng, được biết thêm về cuộc đời của Người .

3. Một cuộc sống nghèo khổ
 một cuộc lữ hành gian nan
 
Hoà thượng Quảng Khâm sanh ngày 26 tháng 10 âm lịch, năm Quang Tự thứ 18 (1892), đời nhà Thanh. Người họ Ngô, quê huyện Huệ An, phủ Chương Châu, tỉnh Phúc kiến. Gia đình rất nghèo, lúc Người lên 3-4 tuổi, ông anh cả cưới vợ mà không có tiền, Người bị đem bán cho gia đình họ Lý ở Tuyền Châu, huyện Tấn Giang. Nhà họ Lý làm nghề nông, trồng cây ăn trái trên sườn núi tạm sống qua ngày. Cha mẹ nuôi không có con nối dõi nên xem Người như con ruột. Lúc nhỏ Người rất yếu đuối và nhiều bệnh tật. Cha mẹ nuôi rất lo lắng, để cầu an cho con, họ bèn theo tập tục dân gian đem Người đến ngôi chùa Quan Âm gần đó khấn dâng cho Bồ Tát Quan Âm làm con nuôi. Việc làm này chính là nhân duyên trọng yếu của Người đối với Bồ Tát .
 
Người vốn có tuệ căn tiền kiếp, do vì mẹ nuôi ăn chay nên năm lên bảy cậu bé cũng tự nguyện nhất định ăn chay theo mẹ. Đến năm 1900 , cậu lên chín tuổi, bất hạnh mẹ nuôi qua đời, hai năm sau cha nuôi cũng tạ thế. Trong một thời gian rất ngắn vô thường đã cướp đi những người thân yêu nhất. Cậu bé tứ cố vô thân, không còn nơi nương tựa, thể lực lại yếu đuối, côi cút giữa cõi đời không biết đi về đâu ! Đợi khi an táng cha mẹ cậu xong, những người bà con sắp xếp cho cậu đi Nam Dương sinh sống. [ Nam Dương : chỉ chung các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến và Quảng Đông . ND ]
 
Ban đầu Người đi làm thuê như quét dọn, nấu cơm cho tiệm buôn để đủ sống qua ngày. Tuổi lớn dần, thân thể và khí lực tăng trưởng, Người nhập theo thiên hạ kết đội lên núi đốn cây mở rừng, tuy rất vất vả nhưng kiếm khá nhiều tiền và tương đối tự do .

 Một hôm, chiếu theo tiền lệ, đến thời gian giải việc ra về ; trong lúc ai nấy chuẩn bị lên “ xe đẩy ” để xuống núi Người bỗng trực giác biết ngồi xe như vậy không an toàn, liền cảnh báo mọi người không nên đi xe. Nhưng vì ai cũng nôn nóng về sớm, cho lời nói của Người là vu vơ, không ngờ chiếc xe đẩy sau đó bị tai nạn lật lăn xuống hố. Ai cũng cho là điều kỳ lạ. Ở trên núi tuy Người làm việc rất cực nhọc nhưng vẫn giữ một mực ăn chay. Sau khi xảy ra biến cố ấy người ta nửa đùa nửa thật bảo : “ Anh đã kiên trì ăn chay như vậy, lại biết trước việc như thần sao không trở về lại Tuyền Châu đi tu ? ” Đó chỉ là lời nói đùa, nhưng Người tỉnh mộng ! Hồi tưởng lại cha mẹ nuôi lúc sinh tiền đang tuổi tráng niên mà chết là chết, mình đây sớm muộn gì cũng phải đi theo con đường ấy ! Sao lại phải đi con đường lẩn quẩn ?

Thế là Người thu xếp hành trang trở lại cố hương, quyết chí xuất gia .

4. Hai mươi tuổi xuất gia ,
 quyết tâm tu khổ hạnh .

 Năm 1911 Sư 20 tuổi, vào chùa Thừa Thiên phủ Tuyền Châu xin xuất gia. Thừa Thiên Thiền Tự là một ngôi chùa của đế vương, rất cổ kính. Tương truyền chùa này xây vào thời vua Anh Tông, niên hiệu Chánh Thống nhà Minh (1436 – 1449) cách đây trên 500 năm, đất rộng 36 hecta. Lúc bấy giờ có một vị Cần Vương sinh dã tâm, thấy nơi này phong thuỷ cực tốt và đất rộng, mưu đồ chiếm lấy để dựng cơ nghiệp đế vương. Nhưng trong điện thiếu nước, theo phép thuật trong một đêm phải đào cho được 100 cái giếng, nếu không thì nghiệp đế chẳng thành. Cần Vương bèn chọn ngày tốt và tuyển thợ đào giếng . . . , thấy nước vọt lên ông ta rất mừng, không ngờ ào đến cái 99 thì gà gáy sáng, mặt trời ló dạng; ông ta hoảng hốt toát mồ hôi lạnh, chỉ vì một cái giếng chót chưa xong mà nghiệp đế trong giây phút trở thành bào ảnh. Cần Vương than tiếc tự biết phước đức không đủ, bèn đem phụng hiến để làm chùa đặt tên là Thừa Thiên Thiền Tự .

 Chúng tôi dường như có duyên nên nới đến chùa Thừa Thiên tham quan. Thấy bảng tên chùa chung quanh chạm hoa văn hình rồng, trên có hai chữ “ Sắc Tứ ”, chính giữa bốn chữ lớn “ Thừa Thiên Thiền Tự ” đứng xa cũng có thể đọc được. Không thể nào qua tấm biển trên cửa chùa mà biết được truyền thuyết nói trên là thật hay giả; dù sao nhờ sự tích ấy mới rõ chùa có nguồn gốc lâu đời : truyền thuyết thì đượm màu sắc thần bí và trong chùa thì còn lại rất nhiều di tích cổ . Hai bên con đường lát đá cổ kính có hai tháp cao sừng sững, một trong hai cái là “ Tháp Phi Lai ” mang tính truyền kỳ. Hai tháp quy mô cân xứng đối diện nhau ; tuy bề ngoài giống nhau nhưng Tháp Phi lai quanh năm sạch sẽ một hạt bụi cũng không bám, còn tháp kia đầy dẫy những phân chim, bụi đắp như trát phấn, thấy mà chẳng nỡ nhìn. Khách hành hương đến đây ai cũng dừng lại suy nghĩ, không hiểu lý do vì sao như vậy. Chùa này có tám cổ tích, như “ Nguyệt đài đảo ảnh ” (Bóng trăng phản chiếu), “ Thạch quy thực mễ ” (Rùa đá ăn gạo), “ Sư tử thổ yên ” (Sư tử phun khói ), “ Thạch mai hoa hương ” (Hoa mai đá tỏa hương thơm), “ Nhất trần bất nhiễm ” (Một hạt bụi không dính), “ Long Vương Tỉnh ” (Giếng Long Vương), “ Anh ca thổ vụ ” (Anh Vũ phun sương). Thiên hạ ai cũng thích nói đến những kỳ quan sống động ấy. Tiếng đồn càng lan xa càng làm tăng thêm tính chất thần kỳ .

Ngày nay người ta chỉ còn ngậm ngùi hoài cổ, không biết căn cứ vào đâu để khảo chứng. Duy những cái không bị huyền thoại làm biến dạng đó là kiến trúc hùng vĩ, trong chùa có Thiền đường, Niệm Phật đường, Pháp đường, Tổ đường, Khách đường hoành tráng, Đại Điện có thể chứa ngàn người, tăng chúng thường trú có hơn 600 người, quả là một “ Tòng lâm cổ sát ” oai nghi .

Khi chưa vào tu trong chùa Thừa Thiên, Sư đã tự nhủ lòng : mình phước đức còn kém, nếu xuất gia tu chưa đắc đạo mà nhận của thập phương cúng dường một cách rộng rãi, e rằng không báo đáp nổi khiến cho đạo nghiệp khó thành. Do vậy, trước khi vào chùa Sư quyết chí rèn luyện giảm ăn bớt ngủ, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây chứ không ngủ nghỉ trên giường chiếu, giữ được như thế rồi mới xuất gia làm tăng. Sau khi xuất gia, Người quyết tâm khổ hạnh, ăn những món mà Người khác không thèm ăn, làm những việc mà người khác không muốn làm. Chùa Thừa Thiên lấy tám chữ “ Phật Hỷ Chuyển Thụy Quảng Truyền Đạo Pháp ” 

(佛喜转瑞广传道法)

để truyền thừa Pháp mạch. Lúc bấy giờ vị trụ trì chùa Thừa Thiên là Ngài Chuyển Trần , còn Sư Quảng Khâmđệ tử của Pháp sư Thuỵ Phương – tu khổ hạnh. Từ chỗ đó mà biết được sở nguyện của Người.

Pháp sư Thụy Phương tu khổ hạnh quá khắc khổ nên đã viên tịch lúc còn trẻ tuổi. Sư Quảng Khâm tuy là đệ tử của Pháp sư Thuỵ Phương nhưng được sự dạy dỗ của Hoà thượng Chuyển Trần. Hoà thượng biết căn cơ Người thâm hậu, về sau ắt sẽ là long tượng của pháp môn, do vậy mà Hoà thượng khẩn thiết sách tấn và thường xuyên trực tiếp chỉ dạy cho Người .

Một hôm đại chúng đi lao động ngoài triền núi, đến gần trưa sắp trở về chùa thì nghe tiếng bản gõ báo ngọ trai. Vì chùa đông người thực phẩm cung ứng khó khăn nên thường ngày phải hạn chế trong khẩu phần ăn uống. Bữa ăn lỏng bỏng không đủ chất dinh dưỡng, chúng lại phải ra sức làm việc trên đồi núi, ai nấy đều đói đến đầu óc choáng váng, cho nên khi nghe báo giờ ăn mọi người chẳng màng thu dọn dụng cụ đua nhau về trai đường. Lúc đó Người cũng muốn mau theo chúng tăng về trai đường nhưng bị Hoà thượng Chuyển Trần gọi lại bảo phải gom hết dụng cụ trả lại chỗ cũ. Lúc đó Người đã rất đói bụng, tay chân bải hoải, hai mắt lờ đờ mất thần. Tuy vẫn thu dọn đồ đạc nhưng trong lòng chán ngán, nghĩ bụng: làm việc vất vả như thế này, ăn cơm thì toàn rau, lại phải chịu cảnh như vầy, sao mà khổ quá ! Tâm sân liền khởi, “ bất kể ba bảy hai mốt ”, “ Hòa thượng cũng chẳng thèm làm ”, thẩn thờ bước đi ra ngoài núi . . . Đi chẳng bao xa, lòng thổn thức : “ Chẳng phải vì ta đã quyết chí tu khổ hạnh ngõ hầu thoát khỏi luân hồi sinh tử nên mới xuất gia hay sao ? Nay chỉ vì một chút khổ nhọc cỏn con mà nao núng chí khí, há chẳng phải là làm trái với ý nguyện ban đầu ? ” Ngay sau tiếng nói tự đáy lòng ấy Ngừơi bỗng thấy ý chí vươn cao, lập tức sự mệt mỏi, sự đói khát, sự bất mãn đều tan biến. Người liền đến trước Hoà thượng Chuyển Trần xin nhận chỉ thị. Hoà thượng cho phép Người theo chúng vào trai đường và dặn dò một câu : “ Ăn cái người không ăn, làm cái người không làm, về sau con sẽ rõ.” Từ đó về sau Người càng khắc khổ tự rèn, chẳng dám khởi niệm thoái chuyển.

Người từ nhỏ chưa từng được giáo dục, ngay cả chữ viết to cũng chỉ đọc được năm ba chữ; không biết giảng kinh cũng chẳng rành gõ mõ tụng niệm, thường bị người khác xem thường, tự mình cũng cảm thấy buồn bực. Nghĩ trong lòng: tuy đã nhịn ăn, nhịn ngủ, nhịn mặc nhưng không có cách gì để trên thì đền ơn Tam bảo, dưới thì hoá độ chúng sanh ! Thế là Người quyết tâm gieo phước để báo ân.

Hàng ngày đợi đại chúng ăn xong Người lượm những hạt cơm rơi rớt trên bàn, dưới đất, không rửa hay nấu lại, cứ để vậy mà ăn. Nếu có các bậc Đại đức Cao tăng từ xa đến, Người hầu trà, dâng nước rửa mặt, khăn tay, giày dép, đổ nước bẩn đã giặt rửa . . . Tất cả các việc nặng nhọc như khuân vác, bửa củi, nấu cơm, lau chùi, quét dọn . . . Người đều cật lực đảm đương mà không một tiếng than phiền .

5. Thường ngồi không nằm ,
Niệm Phật chứng đạo

Người làm việc nặng nhọc, tu phước trên mười năm, sau được giao lo việc hương đèn. Mỗi ngày thức khuya dậy sớm trông lo Đại Điện qua các việc như hương, đèn, hoa, quả cúng Phật; đồng thời đánh bản báo thức chúng dậy tu tập. Có lần Người ngủ quên, đánh bảng trể 5 phút, tự nói trong lòng rằng 600 người cùng tu, mỗi người trễ 5 phút, cộng lại hơn 3000 phút, hậu quả này làm sao gánh nổi ! Bèn quỳ trước cửa chánh điện sám hối với mọi người. Người có tinh thần trách nhiệm rất cao, tự trách lỗi mình rất nghiêm khắc, từ đó về sau ngày ngày Người ngồi trước Phật đài, không dám lơ đễnh; vì trong lòng luôn cảnh giác một đêm Người thức dậy năm sáu lần, do quá thận trọng mà nửa thức nửa ngủ, để rồi mặc nhiên trở thành người “ không hề đặt lưng lên đơn ” .

Năm 1933 Người đã đến tuổi trung niên mà vẫn chưa thọ cụ túc giới. Từ ngày xuất gia cho đến nay đã được hai mươi hai năm rồi ! Sở dĩ Người trì hoãn việc thọ giới là vì nghĩ mình chưa đủ đức hạnh để gánh vác sự nghiệp của Như Lai, sợ rằng trên thì lừa đối Phật dưới thì gạt gẫm chúng sinh; ngoài thì bội thầy phụ bạn, trong thì phụ chính bản tâm. Mãi đến khi tinh tấn hành lễ Phật thấtCổ Sơn Tự chứng được niệm Phật tam-muội Người mới dám tự nguyện gánh vác sự nghiệp Như Lai, đến chùa Long Sơn thọ đại giới, từ đó vân du tự tại. Người ta cho rằng nhờ theo phái thiền Lâm Tế mà Ngừơi chứng đắc, thực ra trước đó Người đã nhờ niệm Phật mà chứng Tam-muội, sau mới tham thiền. Cảnh giới mà Người thấy khi hành lễ Phật thất ở Cổ Sơn Tự chúng ta chỉ biết được đôi chút nhờ cuộc đối thoại giữa Người với một ngoại kiều. Người chơn chất khiêm cung trả lời thắc mắc của đồng đạo ngoại kiều từ xa xôi đến : “Lúc bấy giờ, trong tiếng niệm Phật bỗng nhiên thân tâm trở nên tịch tĩnh như đang ở trong cảnh giới xa lạ; mở mắt thấy hoa nở-chim hót, gió thoảng-cỏ lay, tất cả đều hoà nhập với tiếng niệm Phật–niệm, Pháp-niệm Tăng . Trạng thái này kéo dài liền trong ba tháng không gián đoạn ”.

Trong “ Kinh Phật nói về A-Di-Đà ” có đoạn :” Lại nữa, này Xá Lợi Phất, cảnh giới ấy thường có các loài chim kỳ diệu đủ màu, bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca-lăng-tần-già cùng chung sống. Các loài chim này ngày cũng như đêm cùng cất tiếng ca thanh thoát, âm thanh diễn tả tuyệt vời các pháp ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần. Chúng sanh trong cõi đó nghe hoà âm như vậy rồi, tất cả cùng niệm Phật-niệm Pháp-niệm Tăng ”.

Lại nói: “ Này xá Lợi Phất, cõi Phật ấy gío nhẹ thoảng lay, các hàng cây báu cùng các mạng kết bảo châu phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm ngàn thứ âm nhạc đồng thời trổi lên, ai nghe âm thanh ấy cũng đều phát tâm niệm Phật-niệm, Pháp-niệm Tăng ”.

Lại nói trong kinh chiếu ứng với cái thấy của Người. Đức Phật từ bi, Sư phụ từ bi, tuy là miêu tả một cách sơ lược nhưng đối với hạng phàm phu chúng ta nghe như tiếng sét bên tai, như tiếng sấm vang rền. Ai cũng không thể làm ngơ giả điếc giả câm. Lời Phật dạy trong kinh, điều Sư phụ thể chứng chơn thật từng câu từng chữ. Vậy đối với pháp môn niệm Phật lẽ nào ta chẳng có niềm tin sâu sắc ?

Sau khi chứng nghiệm, Người quyết chí tìm nơi ẩn tu để thể hiện pháp thân tự tại, rồi được sự đồng ý cùng mấy lời dặn dò của Hoà thượng Chuyển Trần Người đến chùa Hưng Hoá thọ giới. Sau khi thọ giới trở về, chuẩn bị đi ngay vào núi tu khổ hạnh. Hoà thượng Chuyển Trần biết Người công phu chắc thực, long tượng sơ lộ, bèn đồng ý cho Người lên núi tu một mình. Khi lên núi, hành trang chỉ có 4 bộ quần áo đơn sơ để thay đổi mỗi khi cần giặt giũ và độ hơn 10 cân gạo; nhưng lòng chứa chan hy vọng, Người lên thẳng núi Thanh Nguyên phía sau chùa Thừa Thiên, chuẩn bị một cuộc sống “mai danh ẩn tích”.

6. Ẩn tu trên núi Thanh Nguyên
 ầm vào hang cọp

Núi Thanh Nguyên phía bắc Thổ Thành là một hòn núi hoang vu cỏ cây rậm rạp, không có người ở, rừng cây dày đặc. Núi này nối tiếp núi kia, trông từ xa như ruông sắp theo bậc thang. Men dần theo sườn núi mà lên, núi này cao hơn núi kia. Hòn núi sau thì cao và có nhiều cây, người dân địa phương nhờ đó làm nghề đốn củi để sinh sống dần dần lập thành thôn xóm, trong núi có con đường nhỏ thông đến Thổ Thành. Người dân ở đây thường theo con đường này đi vào Tuyền Châu bán củi. Tương truyền các cổ thành ở Đại Lục đều lấy kinh tuyến Bắc-Nam làm chuẩn. Phương vị của Phủ Thành theo hướng chính Bắc-Nam, biểu thị chính tâm, chỉ ra cho thấy công việc của quan phủ doãn cũng phải trung chính như phương vị của Thổ Thành vậy, - không một chút thiên lệch, Thành Tuyền Châu cũng xây dựng theo đạo lý của cổ thành.

Sư ra đi từ tờ mờ sáng với ý định lên núi Thanh Nguyên tìm động kín đáo để tu. Khi đến chỉ thấy núi non trùng điệp, núi trước hoang vu rậm rạp không một bóng nhà, núi sau thì rừng cây dày đặc. Sư từng nghe nói trên núi nơi nào cây cỏ rậm là chỗ ở của cọp, núi có cây thì có người sinh sống; vì núi có cây thì nhiều chim muông nên lắm phân chim, cọp sợ phân chim làm bẩn da nên thường tránh xa rừng cây mà đến nơi cỏ rậm. Sư nghĩ : “ Ta ở núi tu hành, phải tránh người như cọp tránh phân chim, cọp vì vằn trên thân mà phải trốn trong cỏ rậm, ta vì ngộ đạo mà ẩn trốn vào núi sâu ”. Thế là Người không màng để ý đến chuyện cọp và người gặp nhau phải ứng phó ra sau, chỉ chú ý đến việc tu hành phải tìm nơi an toàn để trú ẩn.

Lúc bấy giờ Sư còn sức khoẻ mà phải đi từ sáng sớm cho đến quá ngọ mới đến chân núi. Vì vách núi dựng đứng đường lên núi rất khó đi, chỉ còn cách cởi bỏ dép, tay chân bám vào vách núi lần lần bò lên. Lên chưa được bao xa, bỗng thấy có hòn núi nhỏ mà bằng đầu áp mình vào một hòn núi khác trông vẻ kín đáo. Đến nơi thấy một cái động rộng khoảng 5, 6 thước [TQ] có hai lối ra, một bên cao ước bằng thân người đứng, còn một bên thì phải khom người xuống mới ra vào được. Trong động có một chỗ rất bằng phẳng, chung quanh rộng rãi. Sư mới lên núi lần đầu cảm thấy rất mệt mỏi bèn cởi bỏ hành lý, ngồi nghỉ trên một tảng đá. Được xa lánh chốn thành thị huyên náo bổng nhiên thân tâm nhẹ nhàng chưa từng thấy. Sư vào trong động sắp xếp qua loa, an trụ hai ba ngày trong thanh tịnh vô ưu, cảm thấy an vui tự tại.

Một hôm, như thường lệ Sư ngồi thiền trong động, bỗng nghe mùi tanh nồng nặc theo gió bay vào, Sư rất lấy làm lạ. Trong bối cảnh mơ hồ dường như có vật gì to lớn lần bước vào trong động, Sư mở mắt nhìn kỹ, không ngờ đó là một con mãnh hổ. Trong lúc hoảng hốt Sư thốt lên “A-Di-Đà Phật ”. Mãnh hổ cũng bất ngờ nơi ở của chúa sơn lâm lại có tiếng “ sư hống ”, nó kinh hãi vụt tháo chạy. Sau phút kinh hồnlấy lại tinh thần, vươn mình đi tới, từng bước từng bước tiến vào động … thình lình gầm lên một tiếng, trợn mắt nhìn Pháp Sư.

7. Mãnh hổ quy y , khỉ vượn cúng dường

Thấy mãnh hổ chạy rồi Sư lấy lại bình tĩnh, tự nghĩ : “ Nếu ta kiếp trước có nợ mạng thì đời này ta xin trả, gây nhân thì phải trả quả ”, lại nghĩ : “ Nếu không phải vậy thì sao cái vòng nhân quả lại triền miên không dứt ? ”

Sư chưa kịp định tĩnh con mãnh hổ đã trở lại vào động, Sư nói :
A-Di-Đà Phật, lão tổ đừng sân giận ! Oan oan tương báo không bao giờ dứt, ngươi ở nơi đây thì ta sẽ ra ngoài, còn ngươi nhường nơi này cho ta tu hành thì sau khi ta thành đạo sẽ độ cho ngươi quy y Phật, Pháp, Tăng ”.

Mãnh hổ nghe lời Sư nói không biết có hiểu hay không, nhưng nó đứng dừng tại chỗ không tiến tới nữa; Sư chỉ nhất tâm niệm Phật, yên lặng chờ xem điều gì lạ diễn ra. Thật bất ngờ, mãnh hổ gật đầu như tỏ dấu thần phục, hiền lành lui ra khỏi động, nó nằm phục trước cửa động rồi đứng lên như một vệ sỹ đứng hộ pháp. Sư thấy hiện tượng như vậy, nghĩ trong lòng : đây hẳn là Long Thần Hộ Pháp che chở, chư Phật và Bồ Tát gia hộ, nếu không thì khó thoát khỏi miệng cọp dữ. Từ đó lòng tin càng tăng, ý chí càng thêm kiên định, Sư âm thầm phát nguyện : “ Nếu kiếp này không ngộ đạo, nguyện trọn đời chôn thân trong động ”.

Từ sau khi Sư hàng phục được hổ, sớm tối cùng với hổ ở chung, không còn sợ sệt, cọp dữ cũng hiền lành như gia súc, khôn ngoan và hiểu được chút ít tiếng người. Sau đó nó còn dắt vợ con nhà họ hổ đến trước Sư mà đùa giỡn, trình hiến các kiểu múa vờn cho Sư xem, nhiều lần gục gật đầu trước mặt Sư như cầu xin việc gì, Sư liền quy y cho chúng và chỉ dạy yếu chỉ giáo pháp.

Người tuy ở cảnh tiên chốn trần gian, không chút vướng bận sự đời, nhưng nơi đây là hoang sơn nhiều cỏ rậm, chẳng có rau dại để ăn, gạo đem theo không còn lấy một hạt; vả lại Người nhập định ngày càng sâu, mãi vui trong thiền định nên không thích đi xa. Mỗi lần bụng đói cồn cào Người chỉ cúi đầu xuống nhìn bụng, vỗ bụng hai cái an ủi nó :
Chúng ta thương lượng với nhau, xin nhẫn nại một chút, chúng ta cùng ngồi nán thêm lần nữa, người không nên nôn nóng, đợi ta tu xong sẽ cho người ăn ngon, mặc đẹp ! ”. Cứ như vậy, Người ung dung nhập định quên cả bản thân và sự vật, không còn biết đêm nay nhằm vào tháng nào, năm nào ?

“ Đói quá ! đói quá ! ” – Người tuy vui trong cảnh giới thiền nhưng khổ nỗi thân xác nó chẳng chịu vâng lời sai bảo. Bụng càng đói nó càng gào to; nhất là vào lúc đêm khuya vắng lặng, tiếng nó kêu vang như sấm, có khuyên dỗ cách gì nó cũng chẳng nghe, nó như đứa con nít đòi ăn kẹo. Phỉnh gạt nó một hai lần thì được, nhưng nhiều lần thì hết linh nghiệm. Nếu nó không vòi vĩnh ồn ào thì lại la to khóc lớn; không cho ăn thì dứt khóat chẳng chịu yên. Không còn cách nào khác, Người bắt đầu thử uống trà, uống thật đầy bụng. Thế rồi đến khi xuất định, nhìn lại thân mình từ đầu đến chân, màu da bổng trở thành vàng sậm ! Người đổi sang uống nước lã thì thân thể phù thủng ! Bực mình bèn kiên quyết không ăn uống, không cử động, chỉ nhập sâu vào thiền định thử xem nó ra sao. Dần dần chỉ còn một lớp da bọc xương, kế đến hơi thở cũng cảm thấy khó khăn và cuối cùng không cử động được nữa ! Đến lúc ấy Người mới hiểu ra, như thế này thì nguy. Người bèn vận dụng tất cả sức mạnh tinh thần chuyển động cơ thể. Sau một hồi quán tưởng, đầu tiên hai lòng bàn tay có chút cảm giác dần cử động được, tiếp đến hai bàn chân chuyển dần từ cảm giác đến cử động được; sau cùng các bộ phận thân thể đều có cảm giác trở lại. Nhưng toàn thân vẫn mất hết năng lực. Lúc đầu Người gắng gượng bò được trên mặt đất, rồi dựa vào vách động mà lần bước, tiếp đến chầm chậm từng bước kinh hành quanh ghế; nghỉ mệt một lúc … cuối cùng mới lê được tấm thân mệt lã ra ngoài tìm thức ăn.

thường thường dùng hết sinh lực vào tu thiền lâu ngày không ăn, đợi đến lúc không thể chịu đựng lâu thêm nữa Người mới ra ngoài tìm thức ăn, rồi bò mà về.

Một hôm, trong lúc đói lã, trông thấy xa xa có một bầy khỉ đang đùa giỡn, chúng ăn những hạt trái cây có vẻ ngon lành, Người bất giác chảy nước giãi, bụng cồn cào chịu không nổi, Người nhìn chúng … rồi nhìn lại mình … bổng mỉm cười nghĩ bụng : “ Tính chất của ta giờ đây so với con khỉ trên cây có khác gì, chúng ăn được tại sao ta không ăn được ?” Bèn dang tay lượm những hạt chúng đánh rơi xuống đất lên ăn. Bọn khỉ thấy có người gia nhập hàng ngũ, chúng tỏ vẻ lạ lùng, con này kề đầu tiếp tai con kia kêu la chí choé. Lát sau thấy trên tay Người chẳng còn hạt nào, chúng tranh nhau ném từ trên cây những hạt tươi ngon xuống cho Người ăn. Ăn xong Người cảm thấy đôi mắt sáng ra, tinh thần sảng khoái. Từ đó bầy khỉ hộ pháp cũng có “ tình người ”, thường hái trái cây mang đến cửa động dâng cúng Pháp sư.

( Cư sỹ Khuất Ánh Quang, nhân dịp chúc mừng Đại thọ thất tuần của Người, có tặng mấy câu hàm ý liên hệ đến sự kiện trên :

人猿送食 Nhân viên tống thực
猛虎皈依 Mãnh hổ quy y
现届古稀 Hiện giới cỗ hy
仍是忘形 Nhân thị vong hình

敬祝佛寿无量

Tạm dịch : 
Vượn người mời ăn
Cọp dữ quy y
Nay tuổi cổ hy
Vẫn quên hình hài

Kính chúc Phật thọ vô lượng 

Mặc dầu vấn đề ăn tạm ổn nhưng con người vẫn là con người, những ngày tháng gian khổ ấy thật khó khăn nghiệt ngã. Một hôm Người cảm giác trong dạ bồn chồn … bổng thấy đàn chim bay lượn trên không, đậu lên cây kêu hót như rất an nhiên tự tại. Người nghĩ : “ con người là vật linh trong vạn vật, sao lại không sống tự nhiên như chúng. Thế là Người trút bỏ những u uất trong lòng, quyết định bắt chước theo chim, tùy thuận thiên nhiên, tùy duyên tự tại sống qua ngày.

8. An củ rễ cây vẫn sống qua ngày

Sau đó Sư đào được dưới đất một khối “ củ rễ cây ” nặng 5, 6 cân, như được của báu, trân quý nó vô cùng, mỗi lần chỉ cắt một miếng nhai thật nhuyễn, phần còn lại đem chôn xuống đất; tạm đánh lừa cơn đói xong liền trở lại nhập định, lần xuất định sau lại ra đào củ ấy lên ăn một miếng, cứ đào lên ăn dần như thế, hết 5-6 cân củ rễ cây, duy trì thức ăn đó được vài năm. Theo lời Sư kể : đào lên ăn một miếng thì phần còn lại đem chôn, một thời gian sau chỗ cắt mọc ra củ mới, do vậy tuy củ chỉ có 5-6 cân nhưng không ngừng sanh trưởng, công cứu giúp của nó thật là to tát.

Vì ở lâu trong núi, món ăn hoang dã trở thành món ăn tự nhiên, đoạn tuyệt lối ăn nấu nướng của nhân gian, Sư hoàn toàn trở thành người ăn sống theo tự nhiên. Một bữa nọ, Sư đang ngồi tham thiền trong động bỗng nghe từ núi sau vọng lại tiếng kêu la kinh hoàng. Sư vội bước ra xem chuyện gì xảy đến, thấy mấy người tiều phu đứng ở núi sau chỉ chỏ con hổ dưới núi mà la hét. Sư liền gọi to bảo họ đừng sợ hãi cứ xuống núi tự nhiên không sao. Nhưng chẳng ai dám “ hạ sơn” cũng không dám huyên náo nữa. Mọi người vô cùng kinh ngạc nhìn Pháp sư. Sư bàng hoàng nhưng rồi mĩm cười tự nhủ : mình không sợ chứ làm sao bảo họ không sợ ? Bèn quay về phía hổ nói : “ Các con xem đấy, vì kiếp trước các con tạo nghiệp, sân si quá nhiều nên kiếp này mặt mày dữ dằn ai thấy cũng sợ, thôi đi đi !” Nghe Sư nói như vậy, mấy con hổ biết ý bỏ đi. Đám tiều phu cần ra chợ gấp, vội vàng xuống núi, mang theo cái mắt thấy tai nghe cùng với củi rừng truyền khắp thành Tuyền Châu. Danh hiệu “ Sư phục hổ ” không chân mà chạy khắp nơi bắt nguồn từ đó.

Kể từ ngày ấy mỗi lần tiều phu đi qua đều lưu tâm tìm bóng dáng Sư phụ. Nếu tình cờ gặp được, họ vẫy tay gọi chào. Nhưng có một dạo, lâu lắm họ không trông thấy bóng Người, họ bàn tán xôn xao. Một bác tiều phu tò mò bám theo vách đá leo lên núi, đến trước cửa động thăm dò bên trong, chỉ thấy Sư nhắm mắt ngồi yên trong tư thế rất an nhiên, bác ta không dám gây nhiễu động, len lén rời xa. Qua vài ngày nữa cũng chẳng thấy hình bóng Sư xuất hiện, bác bèn một lần nữa trở lại xem sao, vẫn thấy Sư ngồi yên như trước. Nhiều lần như thế, trong lòng sinh nghi liền chạy đến chùa Thừa Thiên bẩm báo với Ngài Chuyển Trần. Ngài Chuyển Trần bảo cho biết đó là “nhập định”, bác tiều phu nghe vậy thì hay vậy thôi, rồi cũng không còn lấy làm lạ nữa. Nhưng hết ngày nọ sang ngày kia … đám tiều phu cảm thấy không yên tâm. Tuy họ quê mùa chẳng biết gì, nhưng ai tin được rằng người không ăn, không cử động mà ngồi lâu đến như vậy. Thế là họ vào động thử gọi Sư, không thấy hồi đáp; sờ vào mũi cũng không thấy hơi thở. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, ai cũng cho rằng Sư đã chết. Có kẻ vội đến chùa Thừa Thiên báo tin lần nữa để tính việc an táng, phải lo liệu sớm, không thể bỏ mặc Sư trong chốn núi rừng .

Thông báo đã lâu rồi, trên một trăm hai mươi ngày ! Chính Hoà thượng Chuyển Trần cũng cảm thấy “không ổn” nhưng chẳng dám vội vàng quyết đoán; một mặt sai người lên núi chuẩn bị củi lửa để hỏa táng, một mặt cấp báo với Đại sư Hoằng Nhất thỉnh Ngài đến giám định sống chết. Lúc bấy giờ Đại sư đang hoằng pháp tại Vĩnh Xuân, tỉnh Phúc Kiến; nhận được thư tín Ngài liền sai người đến ngăn cản, nhất thiết không được hành động vội vàng, chờ Ngài đến nơi xem xét rồi sẽ quyết định.

9. Đại sư Hoằng Nhất búng tay ba lần tránh được việc hỏa thiêu

Sau khi Đại sư Hoằng Nhất đến chùa Thừa Thiên liền cùng với Hoà thượng Chuyển Trần dẫn một số người lên núi. Ngài vào trong động xem xét kỹ lưỡng, nét mặt nghiêm trang, tán thán : “ Cảnh định này các bậc Đại Đức từ xưa đến nay rất hiếm có ”, liền đến trước Sư, khẻ búng ngón tay ba lần. Mọi người theo gót Hoà thượng Chuyển Trần hướng về phía động đá Bích Tiêu tham quan. Động Bích Tiêu là nơi ẩn tu của Lão Hoà thượng Hoằng Nhân, - Pháp sư của Ngài Quảng Khâm. Lão Hoà thượng và Ngài đã cùng hẹn nhau tu khổ hạnh tại núi này; một người tu thiền ở động phía dưới núi, một người tu niệm Phật ở động phía trên. Mọi người lên tới động Bích Tiêu, trong lúc pha trà chưa xong thì Sư đã xuất định, đi lên núi ra mắt đảnh lễ Đại sư Hoằng NhấtHoà thượng Chuyển Trần và Hoà thượng Hoằng Nhân.

Ngài Hoằng Nhất khiêm tốn không tự cho là trưởng bối, cũng đáp lễ lại với Sư. Sư nói : “ Đại Sư đến đây, xin được biết có điều gì dạy bảo ? ” Ngài Hoằng Nhất trả lời: “ Không dám ! Không dám ! Phiền nhiễu việc tu hành của Sư, thật đắc tội ”. Cùng nhau hàn huyên một lúc, Ngài Hoằng Nhất thấy sự tình đã xong ổn nói với Sư : “ Ở đây chẳng có việc gì, xin thỉnh Sư trở lại an nghỉ.”

 Suýt chút nữa ngọn lửa lấy đi sinh mạng. Đại định chấn động thế gian, chỉ đôi câu nói giản đơn và mọi sự trôi qua. Ngài Hoằng Nhất ngại làm phiền thêm việc tu hành của Sư, bèn lần theo con đường nhỏ ở núi sau, đi vòng ra khỏi núi. Quả là từ xưa đến nay những bậc đại đức tu hành đều giản đơn thuần phác như vậy, khiêm cẩn mà chu đáo.

Sư từ sau lần nhập đại định ấy vẫn nhất mực sách tấn, nổ lực tham thiền cho đến khi chứng đạo, ở trong động trước sau mười ba năm. Đối với nhiều người, đừng nói chi sống một mình gian khổ 13 năm trong núi, ngay ở trong nhà đầy đủ tiện nghimột mình đối diện với chính mình, cô tịch trong vòng một ngày đêm cũng đã thấy rất bực bội, huống gì một mình ngồi trong động núi hoang vắng suốt 13 năm ? Chỉ xét về cái năng lực chịu nổi sự vắng lặng đã là điều mà hạng phàm phu chúng ta không thể tưởng tượng. Lại còn nội tâm thể nghiệm cả một quá trình chịu đựng cái khó chịu đựng, làm nổi cái khó làm. Dĩ nhiên, cảnh giới chứng đắc trong đó Pháp sư tự tại an lạc trong pháp hỷ đâu phải là cái cảnh mà chúng ta có thể hình dung được, và chúng ta cũng không có cách gì cùng chia sẻ với Người. Ấy là cái phần thưởng đền bù cho công tu khổ hạnh của Người. Quy luật trong thiên nhiên xưa nay vốn bình đẳng, cái mất ở chỗ này sẽ tìm thấy nó ở nơi khác, không thể cùng một lúc có được cả hai. Việc tu hành cũng vậy, không có bất kỳ tiện nghi (ưu tiên) nào để mà chiếm, cũng không có chỗ cho sự xảo trá giả dối; tất cả phải đi từng bước thực tiễn, cày cấy được bao nhiêu thì thu hoạch được bấy nhiêu.

Sau khi chứng ngộ Người thường suy nghĩ : nếu không xuống núi độ sanh thì cũng giống như cửa động bị đá chắn, dù cho bên trong có vật gì quý báu cũng không đem ra được để cho thế nhân cùng thọ hưởng, cùng lắm là tự túc cho riêng mình và chỉ làm một con người ích kỷ mà thôi. Như vậy thì không những phụ ơn Phật mà còn trái với thệ nguyện ban đầu. Thế là Người kiên quyết dẹp bỏ cái khối đá trong lòng, mạnh dạn hướng về chúng sinh trong biển khổ, làm thuyền từ hải đăng cứu độ .

Lúc bấy giờ đúng vào năm 1945, năm kháng chiến chống Nhật thắng lợi, Người đã 55 tuổi. Sau khi Người trở về chùa Thừa Thiên, tự nhiên nổi lên dư luận xôn xao trong đại chúng, có người nhìn “ con người sơn động” quần áo lam lũ trước mặt mình với đôi mắt hiếu kỳ, có kẻ nhìn bằng đôi mắt hoài nghi; thử hỏi con người tầm thường, mặt mày trông chẳng có gì gọi là thoát tục như Sư làm sao có thể chứng ngộ một cách siêu việt ? Nhưng đa số đồng đạo nhìn Sư với ánh mắt thương cảm và kính phục. Người ta chú ý nhất ở chỗ : áo Sư ba cái vá thành một cái, kín bên này thì trống bên kia, ăn một bữa thay cho ba bữa, mà còn bữa có bữa không; trong lòng ai nấy đều lấy làm cảm khái “tu khổ hạnh đâu phải là chuyện dễ !” Sư chẳng quan tâm ngừơi ta nhìn mình bằng đôi mắt như thế nào, nói với mình bằng lời nói ra sao; vẫn giữ thái độ trung hậu, khiêm cung, nét mặt hoà ái với mọi người, không thấy có gì khác biệt khi chưa lên núi và sau khi xuống núi. Sư vẫn y nhiên làm công việc của mình: ban ngày cùng với đại chúng chấp tác công việc, chiều lại lên chánh điện toạ thiền, an nhiên tự tại. Nhìn bề ngoài chẳng thấy Sư biểu lộ vẻ gì rạng rỡ sau mười ba năm gột rữa !

10. Bị nghi ngờ mà như tắm gội gió xuân

trở về chùa Thừa Thiên không được bao lâu, tiền công đức trong Đại Điện bị mất. Khi Thầy giám viện và Thầy phụ trách hương đèn đưa tin đó ra, cả chùa xôn xao. Lúc Sư chưa trở về chùa, số tiền công đức này chưa bao giờ bị mất cả, Sư về chưa được bao lâu tiền công đức hương đèn nhờ vào đó tăng chúng sinh sống, nay bỗng không cánh mà bay, khiến cho ai nấy đều nghĩ ngay đến Sư Quảng ngừơi hàng đêm ngồi thiền trong chánh điện, nếu có ai lấy trộm thì Sư phải là ngừơi hay biết, mà Sư lại không có phản ứng gì, thế thì người lấy trộm tiền công đức ấy là ai ? Trong lòng mọi người tuy không nói ra nhưng ai cũng khẳng định được !

Kể từ đó cả chùa từ trên xuống dưới tuy chẳng ai bảo ai, nhưng mỗi lần lên Đại điện hoặc lúc giáp gặp Sư ai cũng nhìn bằng cặp mắt lạnh lùng. Người xưa nói : “ Bị muôn người chỉ mặt không bệnh cũng chết ”. Sống trong hoàn cảnh bị mọi người mặc nhiên ruồng bỏ Sư vẫn không một lời biện bạch, cũng không hề khởi tâm buồn oán bất mãn. Sự thể như vậy diễn ra hơn một tuần lễ, Sư vẫn tươi tỉnh như tắm gội gió xuân.

Lúc ấy Thầy giám viện và Thầy hương đăng mới phơi bày sự thật của công án. Nguyên số tiền công đức bị mất là do hai thầy nghĩ ra để khảo nghiệm Sư Quảng, xem thử 13 năm trên núi Sư rèn luyện được nhân cách như thế nào ! Nào ai nghĩ tới, trước sự công phẫn của tăng chúng Sư vẫn an nhiên như tắm gội gió xuân. Qua sự giải bày của hai thầy, đại chúng ai nấy đều tự lấy làm xấu hổ. Suốt trên một tuần, kẻ mà ngày ngày bị mọi người khinh rẻ lại là một nhân cách tuyệt vời, một tăng nhân siêu phàm thoát tục. Mọi người ngoài cái tâm trạng áy náy bất anlầm lẫn đáng thẹn nay còn mang lòng kính phục tán thán bội phần. Phần Sư thì vẫn thản nhiên tự tại như chẳng có gì xảy ra, không vì khen chê được mất mà biến đổi dung nhan .

Năm Dân Quốc thứ 35 (1946), sau tiết Đoan Ngọ, một anh họ Lâm người Vĩnh Xuân tỉnh Phúc Kiến đến tham quan chùa Thừa Thiên, vốn có nhân duyên với Sư, Người nói : “ Anh đến Đài Loan dạy học, hãy nên gửi thư cho tôi, Phật giáo Đài Loan bị ảnh hưởng của Thần Giáo Nhật Bản làm cho không có sự phân biệt giữa tăng và tục. Tôi cũng có nhân duyên với Đài Loan, sẽ sang đó xây dựng đạo tràng, hoá độ chúng sanh.”

Anh Lâm nhận lời ngay và ở lại với Sư một tuần, chuyện trò tâm đắc rồi xin quy y làm đệ tử Người, và phát tâm suốt đời hộ Pháp. Ngày 17 tháng 6, Lâm từ giã Sư để chuẩn bị đi Đài Loan. Lúc chia tay Sư nói: “ Nếu đi không được thì trở lại trò chuyện ”. Lâm cũng không hiểu tại sao, sau khi từ giã lên tàu cảm giác lời nói của Sư có ẩn ý gì đó. Không ngờ khi thuyền vừa ra biển liền gặp gió bão, không thể ra khơi . . . Lâm rời thuyền, lập tức đi nhanh đến trình báo với Sư thì thấy Người đã đứng đợi ở sân thềm trước điện, thấy Lâm đến Sư cười khà khà nói : “ Thầy biết thế nào con cũng trở lại ”. Hôm sau Lâm nóng lòng đi Đài Loan, nói với Sư phụ : “ Con thiết tha đi Đài Loan, không biết khi nào thì đi được ? ” Sư bảo: “ Chiều ngày 20 lên thuyền, 21 ra biển, ngày 22 có thể đến nơi .” Trưa ngày 20 quả nhiên Hãng tàu thông báo chiều tối lên thuyền. Anh Lâm lại từ giã Sư phụ, Người dặn dò hai ba lần là phải gửi thư liên lạc. Lúc Lâm lên đường Sư còn chúc “thuận buồm xuôi gió”, về sau quả đúng như lời Sư nói, anh Lâm đến Đài Loan nhanh chóng bình yên.

11. Động Nhật Nguyệt 
 nước phun báo điềm lành

Sau khi đến Đài Loan cư sỹ Lâm Giác Phi thường liên lạc với Sư. Mùa hạ năm 1947 do sự sắp xếp của Lâm, Người cùng vị tăng Đài Loan, - pháp sư Phổ Vượng (ở thành phố Cơ Long, sau đổi tên là Phổ Quán, trụ trì Giảng đường Phật giáo Cơ Long, nay đã viên tịch) từ Hạ Môn đi bằng tàu Anh đến Đài Loan.

Ban đầu Người ở trong một ngôi nhà trống cất theo kiểu Nhật, thuộc nghĩa trang Không Quân Tân Điếm. Năm 1948, Ngừơi khai tạc động Quảng Minh trên vách đá phía sau đường Tân Điếm (nay là chùa Quảng Minh), năm 1950 lại cất chùa Quảng Chiếu; năm 1951 tạc tượng Phật A-Di-Đà thật lớn, hoàn thành vào mùa đông năm ấy. Ngay lúc gần xong chẳng hiểu vì lý do gì Sư vội rời chùa, công việc đình chỉ. Năm 1952, cư sỹ Lý Văn Khải quê Quảng Đông quyên tiền hoàn thành công trình. Sư rời chùa đến núi Phúc Sơn ở Thổ Thành tìm một động đá thiên nhiên, sống lại đời sống ẩn tu như trước. Sơn động Sư ở cao hơn hai trượng, sâu độ hai trượng, rộng vài trượng. Cửa động nhìn về hướng Đông nên nhận được cả ánh mặt trời và ánh trăng mới mọc, do đó Sư đặt tên là động Nhật Nguyệt. Động này ttrước kia không có nước, từ ngày Sư ở bỗng nước từ khe đá trong động phun ra chảy dọc trên cỏ, Sư vội đào một cái ao nhỏ để chứa, nước trong mát ngọt miệng, uống vào giải ngay cơn nóng khát. Sư vui mừng được suối linh, mùa xuân năm 1952 cất ba gian nhà gỗ trước cửa động, bên trái làm nhà bếp, chính giữa thờ Bồ-Tát Địa Tạng. Cũng năm ấy Sư dựng một lều tranh cho hai đệ tử Truyền Giác và Truyền Ba cùng ở, đồng thời giao cho sự Truyền Ý làm giám viện Động Nhật Nguyệt .

Năm 1953, Sư lên đỉnh núi cất một cái lều tranh nhỏ ở. Có con trăn lớn đêm thường bò tới chỗ Sư mà không tỏ chút gì sợ sệt, Sư quy y cho nó. Một hôm mấy người con trai ông trưởng xóm phía dưới núi bắt gặp con trăn bèn gọi đông người cùng nhau dùng gậy định giết nó; Sư từ trên núi nghe tiếng ồn ào vội vàng ra bảo với họ : “Trăn đã quy y Tam Bảo rồi, đừng giết hại ! ”. Nghe Sư nói cả bọn giải tán bỏ đi.

Từ khi Người dời tới ở Động Nhật Nguyệt rất ít ai biết, sau ba lần nhập đại định mới làm chấn động nhân gian. Mùa xuân năm 1955, các tín nữ Bản Kiều mua đất núi ở Thổ Thành cúng dường Người, núi này tục gọi Hoả Sơn, nguyên là một đám rừng tre. Người đi vào rừng theo một con đường nhỏ, chặt tre dài độ ba thước, dùng giây thép cột lại thành tấm vạt tre, cột nó vào thân cây tre sống, cách mặt đất vài thước, Người ngồi kiết già trên đó, giống như lối sống của người thời tiền sử. Về sau mới mở đất cất một gian nhà lợp ngói để thờ Phật, còn lại thì dựng lều tranh.

Năm 1956, Người trở về Tân Điếm, đến cuối năm 1958 lại trở lên Hoả Sơn ở Thổ Thành. 1960 xây Đại Điện, từ đó mới đặt tên là Thừa Thiên Thiền Tự, đổi tên núi thành Thanh Nguyên Sơn [ Núi suối trong ] để ghi nhớ con suối hồi Người xuất gia “diện bích”. Năm 1962, lại xây cất điện Tam Thánh; năm 1964 thể theo lời thỉnh cầu của tín chúng Người đến Hoa Liên, rồi quay lại Đài Trung xây dựng Quảng Long Tự trên núi Thanh Thuỷ. Suốt nhiều tháng Người chưa trở lại núi cũ, sư giám viện lấy cớ đã ba lần mời mà Người không về, đem đồ vật tích lủy xưa nay trong chùa phân phát theo thứ bậc cho huynh đệ và để mọi người tự phân tán. Cuối năm 1964 Người trở lại Thừa Thiên Thiền Tự tu bổ, dựng cổng chùa và làm phòng phương trượng. Từ ngày Người đến Đài Loan cho đến khi định cư tại chùa Thừa Thiên trước sau 17 năm, ẩn tích không muốn cho người biết. Bao nhiêu gian nan hoạn nạn không hề nói cho ai hay, bao kẻ xấu ác bất công Người đều nhẫn nhượng và chẳng lấy làm thắc mắc. Từng có người đề nghị : “ Những tên vô lại đó, phải trị chúng mới được, phải dùng luật mà chế tài ”. Người chỉ trả lời : “ Người tốt cũng phải độ, kẻ xấu cũng phải độ. Chúng ta phải tự hổ thẹn đức mình chưa đủ, nên không cảm hoá họ được, không nên lấy oán báo oán ”. 

12. Thiền tịnh song tu 
 hiển thị mô phạm chư Phật

Sư tu theo hạnh đầu đà của hai pháp môn Thiền và Tịnh, lấy thân mình hiển thị mô phạm của chư Phật. Trừ lúc trời mưa ra, hằng đêm Sư đều ngồi ngoài trời. Suốt mấy mươi năm Sư vẫn hành trì như thế. Có điều rất lạ là sáng sớm cây cối núi rừng đều ướt đẫm sương, chỉ có chỗ Sư ngồi đường kính ước vài thước thì hoàn toàn khô ráo. Do lòng từ bi thường cứu giúp người và công phu thiền định sâu dày của Sư mà càng ngày số người tìm đến thăm viếng Sư càng đông, có người phát tâm quy y cầu xin học đạo, có người vì hiếu kỳ ham vui, cũng có kẻ tự cho mình cao siêu đến thử sức công phu thiền định; đủ hạng người với tính cách khác nhau như thế, mà Sư tuy là một cụ già không biết chữ nhưng đối đáp rất dễ dàng, tự nhiên; quả thậtPhật pháp không thể nghĩ bàn. Xin nêu vài ví dụ cống hiến quý vị độc giả.

(1) Một hôm có một giáo sư tự cho mình công phu thiền định rất cao, sáng sớm đường đột bước vào thiền đường của Người. Chẳng nói chẳng rằng, ông ta tự động ngồi xuống; Sư cũng yên lặng không nói lời nào. Qua một lúc khá lâu, ông giáo sư mở lời trước :

- Thưa Hoà thượng ! Ngài xem thử tôi đạt tới thiền thứ mấy ?
Hoà thượng nói :
- Tôi không thấy .
- Nghe nói công phu thiền định của Ngài rất cao, tôi đã đến đệ tứ thiền sao ngài không thấy ?
 Hoà thượng trả lời :
- Tôi chỉ biết ngày ăn ba bữa, chẳng làm việc gì .
 Tiếp đó Người đưa tay lấy tờ giấy vệ sinh, nhép miệng mấy cái quay đầu lại hỏi ông ta :
- Giấy vệ sinh đang nói với tôi, ông có nghe được không ?
 Ông giáo sư như gặp phải “ Kim Cang hai trượng chẳng với tới đầu ”, lặng lẽ rút lui .

(2) Có một vị Pháp sư đến thăm, nói với Người :
- Khi ở nước ngoài mỗi lần có động đất hay gió bão, tôi dùng pháp sau đó động đất và gió bão đều biến lặng . - Người đáp :
- Bần đạo thì chẳng làm gì cả.
Lần thứ hai đến, vị Pháp sư lại nói :
- Hoà thượng ạ, hiện nay tôi không làm gì hết . – Ngừơi nói :
- Bần đạo mỗi ngày ăn cơm, ngủ nghỉ, đi tản bộ .

Công phu thiền định tự nhiên như thế, không có cái tôi đang làm gì, không chấp có cũng không chấp không. Nếu có người tự bảo “ tôi có” công phu gì, Người dùng ‘ không ’ để đáp lại, còn người nào bảo ‘ không ’ thì Người lấy ‘ có ‘ mà ứng đối .

Vị Pháp sư ấy sắp ra về, nóivới Người : “ Thỉnh Hoà thượng nên ra nước ngoài hoá độ chúng sanh ” – Ngừơi gật đầu :
Ngài đến đó thì tôi đến !
Pháp sư nghĩ là Hoà thượng sẽ hiển thần thông, bèn hành trang trở lại xứ người. Song chờ mà chẳng thấy Hoà thượng tới, Pháp sư thấy sốt ruột. Lần sau trở lại Đài Loan thăm, Pháp sư hỏi :
- Trước đây Hoà thượng chẳng bảo rằng tôi đến thì Ngài đến sao ?
Lâu quá chẳng thấy Ngài đến ? – Người cười đáp :
- Ngài tới đây bần đạo tiếp Ngài ra sao, đã nói những gì, hẳn là Ngài đã hiểu rất rõ ràng ? Khi Ngài trở về, đem những gì bần đạo nói với Ngài nói cho họ nghe, đó chẳng phải là Ngài đến thì tôi đến hay sao ? Pháp sư khách hốt nhiên hiểu ra, im lặng chẳng nói lời gì .

(3) Một hôm, có vị sư chuyên tu Phạm hạnh đến thăm Hoà thượng, nói với Người : “ Tôi tu tam-muội được mấy mươi năm, nay đến Đài Loan tìm chỗ tu hành, xin Hoà thượng chỉ dạy cho ”.
Ngừơi trả lời :
- Ngài tu tam-muội đã mấy mươi năm, xin chỉ dạy cho tôi, tôi chưa tu tam-muội gì bao giờ, làm sao nói với Ngài được .
Nhà sư lại hỏi : “ Tôi định đóng cửa ẩn tu, đại khái cần miếng đất chừng vài mươi bình [ đơn vị diện tích –Nd. ] bên ngoài có vườn hoa nho nhỏ, Hoà thựơng thấy thế nào ? ”- Người đáp :
- Chúng ta đóng cửa, mục đích là đóng tâm hay là đóng thân ? Nếu đóng tâm thì cái thân tứ đại giả hợp này của ta cũng đủ lớn rồi, còn như thân muốn hưởng thụ thì ngũ đại cũng không đủ. Đóng là đóng lục căn, tu tâm đâu phải là vào địa ngục .

Khi Người đối đáp với ai, trả lời ngay thẳng, không cần suy nghĩ, không cần lấy lòng, cũng chẳng cần giữ sỉ diện, hoàn toàntrực tâm đạo tràng ”.

13. Lên núi thỉnh giáo , thấm nhuần đạo vị

Do số người ngưỡng mộ càng ngày càng nhiều, Hoà thượng thường cần có thời gian tịnh khẩu, nhưng khi tịnh khẩu vẫn không ngăn được số người lên bái kiến. Đến thứ bảy hay ngày nghỉ đều có những ngừơi lần theo bậc đá lên núi, đi ba bước lạy một lạy. Bọn họ hoặc năm ba ngừơi hoặc vài chục người hoặc vài trăm người, già có trẻ có, nam có nữ có, cũng có ngừơi tàn tật. Ai nấy đều hết lòng thành kính niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà hoặc Bồ Tát Địa Tạng; bất kể trời nắng gay gắt hay gió rét, mưa thu … họ đều cúi lạy hoặc bò trên đất mà lên, cứ như thế hơn ba tiếng đồng hồ. Lên tới núi họ cúi đầu, vẫy gọi chào Hoà thượng, hoặc được Hoà thượng xoa đầu hỏi thăm vài câu đơn giản; thế là thiên hạ như gặp được của báu, lòng mừng hớn hở.

Cũng có nhiều phật tử xuất gia hay tại gia chuyên nghiên cứu Phật pháp, đem những điều họ nghi hoặc từ bao năm chưa đả thông được lên núi nhờ Người trực tiếp chỉ dạy. Một vị sư hỏi :
- Khi đóng cửa ẩn tu, có phải càng lúc càng ăn ít đi ?
- Không phải vậy, phải bình thường theo lẽ tự nhiên, không nên câu chấp, không còn cái “ ta ” ấy mới gọi là đóng cửa; còn cái “ ta ”, còn có ý niệm “ ăn nhiều ăn ít ” thì chẳng phải là tu hành mà là chấp trước .

Có ngừơi hỏi : “ Người mới xuất gia phải tu như thế nào ?”

- Trước tiên phải tu khổ hạnh, tức là : ăn đạm bạc, mặc thô sơ, siêng năng làm việc, bất luận gánh nước, khuân vác, trồng rau, dọn nhà vệ sinh, bửa củi, đun nước… đều phải làm; làm nhiều việc nặng nhọc thì trí huệ mới dễ khai mở. Một người khi mới vào chùa phải làm cho tâm an trụ, tốt nhất là chuyên niệm Phật A-Đ-Đà .

Hỏi : “ Làm việc nặng nhọctu khổ hạnh hay sao ? ”

Đáp : “ Nhất thiết không so đo tính toán; trong sinh hoạt hằng ngày không khởi tâm phân biệt, ấy là tu khổ hạnh ”.

- Đóng cửa nhập thất có khi không muốn ăn cho nên không ăn , như vậy có được không ?

- Cố ý không ăn thì hoả khí bốc lên; không thể tu được; ý nghĩ không muốn ăn khởi lên, như vậy là còn chấp trước, không muốn ăn là còn cái ta không muốn ăn.
- Có lúc không ăn lại cảm thấy nhẹ nhàng.

- Đó chỉ là hiện tượng thoải mái tạm bợ trong vài ngày, vì chúng ta chưa đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn, một niệm không sinh, cho nên chấp ý “ không ăn ”, thân thể suy nhược dần.

 Trừ những người lên núi tham bái hỏi đạo nối tiếp nhau không dứt trên đường, ngoài ra trong chùa cứ mỗi lần đến ngày sinh nhật của Hoà thượng, mỗi tháng bảy đại hội tín đồ có tuần niệm Phật, mỗi tuần lễ đầu tháng có Pháp hộiĐại bi sám”, vào những dịp này cũng đông nghẹt tín chúng. Trong chùa bất luận kẻ già người trẻ, vì tinh thần độ chúng mà ai nấy đều bận rộn rối rít, không khí thật là vui.

Có một tăng nhân thường trú trong chùa cảm thấy ngã chấp của mình quá nặng không phá trừ ngay được. Một hôm đến quỳ trước Người, khẩn cầu xin dạy cho cách gì để khắc phục, Người nhận lời; vị thường trú vui mừng khôn xiết. Một hôm nhằm ngày Pháp hội, đại chúng đang lúc bận rộn bỗng nghe Sư quở trách vị ấy trước mặt mọi người. Không ai rõ lý do, chỉ cảm thấy có cái gì đó khác thường, vì Người từ trước đến giờ chưa khi nào lớn tiếng mà chỉ ôn tồn dạy bảo riêng. Ít lâu sau, thấy ông thường trú thu xếp hành trang quỳ trước Sư, nước mắt dầm dề xin từ giã ra đi. Hoà thượng cười bảo : “ Ông đã không nhờ tôi giúp ông phá ngã chấp đấy ư ? Tại sao chỉ vì đôi lời châm chích mà đã muốn ra đi ! ”. Ông ta bỗng như tỉnh mộng, gạt nước mắt cười, cúi đầu đảnh lễ rồi lui ra.

Đôi khi cũng có kẻ nói xấu người khác trước mặt Sư : “ Bạch Hoà thượng, Pháp sư X …. lấy tiền Tam Bảo đem xuống miền Nam mua đất xây chùa, xin Hoà thượng nên lưu ý ”.
Người đáp : “ Ồ ! Chỉ xây một ngôi chùa ở miền Nam thì năng lực còn kém, sao không xây cho thật nhiều, tốt nhất nên ra nước ngoài xây vài ngôi chùa ”.
Lời thị phi dừng lại trước người trí. Đối với những người chấp sự trợ lý bên dưới, Người đều tuyệt đối tin tưởng.

Hỡi những ai than rằng chùa không giữ được chúng, hãy nên làm theo gương Người thì tốt đẹp biết bao !

14. Không phân biệt già trẻ,
Người đều khuyên niệm Phật

Từ khi Hoà thượng tuổi thọ đã vào khoảng 80 thì răng cỏ rụng hết, sau đó chỉ dùng toàn thức ăn lỏng. Đêm đêm Người vẫn ngồi thiền, trong vòng 10 năm lại đây Người chưa từng xuống núi. Nay Người đã 92 tuổi, tuy rất cao niên nhưng vẫn cứng cáp minh mẫn như xưa, đôi mắt sáng trưng có thần làm cho người đối diện không dám nhìn thẳng. Mỗi khi có ai hỏi Người tu hành mấy mươi năm chứng được cảnh giới nào? đắc tam-muội gì ? Người chỉ lắc đầu bảo là không chứng đắc gì hết, già rồi chẳng có tam-muội gì, chỉ biết niệm Phật thôi !

Sư thường khuyên ngừơi ta niệm Phật, mỗi khi có người biếng nhác, Sư từ bi ân cần khuyên nhủ : “ Niệm Phật không phải là điều giản dị, cần phải trút bỏ mọi thứ ràng buộc khuấy nhiễu; một lòng thanh tịnh niệm Phật mới có thể cảm ứng được. Phải niệm sáu chữ Hồng danh đức A-Di-Đà sao cho thật rõ ràng, trong tiếng; tai nghe đầy đủ, lòng không chút nghi ngờ, các tạp niệm khác tan biến một cách tự nhiên, thì nhất định sẽ đạt đến nhất tâm bất loạn. Nếu tin lời tôi nói, thành tâm niệm Phật, đi đứng nằm ngồi không ngừng niệm như vậy, cho đến trong giấc ngủ cũng vẫn niệm được. Một câu niệm Phật ghi nhớ trong lòng, không bị lục căn lục trần quấy nhiễu, đến lúc đó tự nhiên tâm không còn tham luyến, ý không còn điên đảo. Đến chừng công phu thuần thục, cảnh giới Tây Phương Cực Lạc tự nhiên hiện ra trước mắtTuyệt đối chớ nên xem thường ”.

Người còn nói: “… Niệm tức là tưởng niệm mình phải giống Phật ! phải như Phật ! ngày sau công phu thành thục nhất định thành Phật ! ”

- Niệm Phật, nếu như tâm tán loạn thì phải làm sao ?

- Chỉ có cách là phải niệm liên tục, tập trung hết tinh thần vào sáu chữ Nam-mô A-Di-Đà Phật là được !

- Thưa Pháp sư, còn mang nghiệp có vãng sanh được không ?

Còn mang nghiệp thì không thể vãng sanh được, câu mà cổ Đức ngày xưa nói : “ đới nghiệp vãng sanh ” không phải như người ta thường hiểu, ông tâm nguyện vãng sanh vào cảnh giới Cực Lạc, khi chết nếu nghiệp lực lớn hơn niệm lực thì không thể vãng sanh, nếu như niệm lực lớn hơn nghiệp lực thì có thể vãng sanh .

Nói tóm lại, bất luận là người già hay trẻ, Sư phụ đều khuyên niệm Phật. Nay Người đã quá cái tuổi “cổ lai hy”, vì nguyện độ sinh mà rán đem sức tàn ra chèo chống. Hàng nhân sỹ sáng mắt sao có thể bỏ lỡ cơ duyên may mắn này !

HOÀ THƯỢNG QUẢNG KHÂM
ĐÃ NÓI NHƯ VẦY…
Thủ Như


Đại lão Hoà thượng Quảng Khâm, năm nay tuổi hạc chín mươi ba, tu hành đã bảy mươi ba năm, đang ngồi từ tường trên chiếc ghế mây trong điện Địa Tạng chùa Thừa Thiên, mới xây lại sắp hoàn thành.
Ngài nói với chúng tôi Ngài không biết thiền.

Sáng ngày mồng 1 tháng 4 trời mưa lớn, ban biên tập nguyệt san Thập Phương chúng tôi quyết tâm lên chùa Thừa Thiên bái kiến Hoà thượng, thỉnh ý Ngài về việc thành lập đạo tràng tu thiền

Cư sỹ Hứa Quốc Chính đúng 9 giờ sáng lái xe đưa chúng tôi lên núi, các bạn đồng học liền gọi ngay một chiếc taxi đi theo.

Pháp sư tri khách Truyền Khải liền gác lại công việc bận rộn chuẩn bị cử hành Pháp Hội, mời chúng tôi đến điện Địa Tạng gặp Hoà thượng trò chuyện gần 40 phút. Chúng tôi bắt đầu câu chuyện từ lời Ngài dạy chúng tôi mấy năm trước đây :
“ Không phải là Phật pháp suy mà là con người suy ”.
Hoà thượng nói : “ Tại sao con người suy ? Vì không chịu giữ giới, không dụng công giữ bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi ”.


Rồi Ngài bất chợt hỏi lại chúng tôi : “ Con ngừơi từ đâu đến ? ”
Thấy chúng tôi không trả lời được, Ngài liền tự đáp : “ Từ trong bốn loài thai, noãn, thấp, hoá”. Rõ ràng là Ngài e rằng chúng tôi tự khoác cho mình cái tướng tốt ” (hảo tướng) đến nghe Pháp.

Người đến chùa Thừa Thiên phần đông là khách hành hươngdu khách, chẳng mấy ai đến học tu thiền, do đó nếu bạn có xin Ngài dạy cho kinh nghiệm tu hành thì thường được nghe Ngài bảo là Ngài bắt đầu học Phật bằng pháp môn tịnh độ, và chỉ dạy niệm sáu chữ “ Nam-mô A-Di-Đà Phật ”. Thật ra, ấy cũng là do lòng từ bi của Ngài. Đối với hàng Phật tử thời nay, tịnh độpháp môn thích hợp nhất, không nói tịnh độ thì nói gì đây ?

Chúng tôi vẫn không nản lòng, tiếp tục đưa ra vấn đề liên quan đến tu thiền, hỏi Ngài : “ Xin thưa, có phải Hoà thượng tu cả thiền và tịnh hay không ?” – Hoà thượng đáp : “ Tôi chỉ niệm A-Di-Đà Phật ”.
- Nói chung, thiền tịnh song tu có dễ hoà hợp không ?
- Với tôi không phân biệt, nếu như cường điệu thiền thì còn có ngã tướng, và khi mở miệng nói là còn có cái ta .
- Nếu như có người muốn học thiền thì Ngài dạy như thế nào ?
- Thiền không phải là cái để dạy, mỗi người đều có căn cơ.
- Người đức hạnh tốt dễ học thiền chăng ?
- Điều đó tôi không biết. Chùa Thừa Thiên vốn tu hành theo tự nhiên. Ở đây rất đông người, tôi không nghĩ rằng tôi đang độ họ.
- Như vậy là để cho họ tự lực tự độ ?
- Đó là điều không cần phải giải thích, một tiếng chuông gióng lên mọi người đều nghe biết 

Lời khai thị thật sâu sắc, hấp dẫn đám người nghe. Ai gần Ngài thì quỳ, ai xa Ngài thì đứng, tất cả đều một mực cung kính, nghiêm trang. Hoà thượng giảng pháp, muốn cho mọi ngườitĩnh tâm an trụ ” nỗ lực thực sự. Dù sao, vấn đề chúng tôi hỏi chưa được đề cập tới !
- Bạch Hoà thượng, nếu như có một số tỳ kheo trẻ tinh tấn phát tâm, mong được tiếp thu sự giáo dục lý tưởng của Tăng đoàn ngõ hầu sau này có thể làm rạng rỡ đạo Phật, Hoà thượng có gì chỉ dạy cho họ ?
- Việc ấy đã có các vị đại pháp sư có thể phụ trách giáo dục chúng tăng, đào tạo nhân tài; tôi tuổi đã già rồi có muốn làm thì cũng chỉ là việc làm của kiếp sau
- Thật ra, có ngừơi chỉ cần Ngài dạy cho một đôi lời cũng là đủ .
- Ví như tôi đang ngồi đây, miệng nói muốn độ sinh, làm sao độ được ?
( Có rất nhiều bạn trẻ đến gặp Ngài, thỉnh ý về nguyện vọng của mình, về thế nào là hoằng pháp, thế nào là lợi sinh, Ngài đều không trả lời trực tiếp câu hỏi .)

- Chúng con muốn thân tâm chuyển hoá thật nhanh, như Hoà thượng vậy, có phải thường xuyên ngồi thiền ?
- Bây giờ các ông nói với tôi điều đó tôi mới hay là tôi đang hành thiền.
- Sự tu hành của tu sĩ ở trên núi và ở thành thị có gì khác nhau ?
- Ban đầu nên tu trong rừng núi, sau một thời gian, dù ở đô thị hay phố phường đều có thể tu được.
- Nếu muốn thiết lập một cơ sở giáo dục Phật giáo hoặc một thiền đường thì ở núi rừng tốt hay ở thành phố tốt ?
- Không nên nói chúng ta phải làm gì, như vậy là còn có hình tướng, còn chấp trước.
- Ngài ở đây tùy duyên thuyết pháp, không phải là giáo dục sao ?
- Chùa Thừa Thiên này không phải của tôi, nếu là của tôi thì tôi đã trở thành ông từ giữ chùa !
Hoà thượng không muốn bàn về việc giáo dục. Theo chúng tôi nghĩ Ngài không thích hý đàm danh tướng. Sự giáo dục tăng chúng hiện hành tại nơi đây chẳng đã nói lên một cách tốt nhất chủ đề của cuộc hội đàm !?
- Thưa hoà thượng, chùa này có bao nhiêu chúng xuất gia ?
- Có bốn năm chục người.
- Ngài dạy họ tu như thế nào ?
- Tùy họ dụng công, nhưng phải tu khổ hạnh, mỗi tối cùng niệm Phật lễ Phật với nhau cho đến tàn một cây hương.
- Họ sống qua ngày như thế nào ?
- Ăn uống đạm bạc, tự canh tác lấy mà sống.
- Ấy là thanh quy do tổ Bách Trượng đề ra.
- Quy củ đã lập ra ; ai cũng phải theo đó mà làm .
- Ở đây, thanh quy của Ngài Bách Trượng không có gì bổ sung ?
- Không .
- Thời đại không giống nhau, làm sao áp dụng như nhau ?
- Người xuất gia ngày xưa và ngày nay giống hay khác nhau ?
( Ý Ngài nói kỷ cương phải giống như nhau ).
- Ngoài nếp sống theo thanh quy ra, họ có được dạy cho học kinh điển không ?
- Có, phải xem kinh thì mới biết đường mà tu, tôi cũng bảo họ xem Tâm kinh .
- Thưa , Ngài cũng có dạy ?
- Nội dung Tâm kinh rất rộng lớn, phải tự mình lãnh hội, tự mình hành trí, đến lúc nào đó tự nhiên hiểu ra.
- Thưa Hoà thượng, trong Tâm kinh câu nào quan trọng nhất ?
- Câu “ Quán tự tại Bồ Tát ”.
- Có phải Ngài đang tu theo hạnh nguyện của Bồ Tát Địa Tạng ?
- Tôi cũng không rõ nữa, chỉ biết loáng thoáng .
- Ngài có dạy đại chúng ở đây tụng kinh Địa Tạng và tu theo hạnh nguyện của Bồ Tát Địa Tạng ?
- Mỗi người đều có hạnh nguyện của mình .
- Kiếp này Hòa Thượng hoằng dương Phật pháp, hạnh nguyện lớn nhất của Ngài là gì ?
- Tôi ngồi đây từ sáng đến chiều, cũng không biết mình đang làm gì .
- Ấy là cung cách của đại thiền sư . . .
- “ Đại ”cỡ nào ? lớn nhất cũng chẳng qua bằng chiếc ghế tôi đang ngồi đây .
- Cùng đi đến đây cũng có Pháp sư định xây dựng đạo tràng tu thiền, xin Ngài có thể từ bi chỉ dạy cho một vài điều ?
Bản thân tôi còn chưa có khả năng .
- Có ngừơi đến thỉnh cầu hẳn là có duyên, mong được toại nguyện .
- Có, ai đến đây yêu cầu tôi, tôi đều tùy duyên chỉ bảo .
Lần trò chuyện ấy với Hoà thựơng, theo lời kể lại của các vị thị giả, là sự kiện hiếm thấy trong mấy năm gần đây. Khó gặp được lúc Ngài vui vẻ như vậy : hoan hỷ dạy cho “bí quyết”, lại còn đưa ngay cho bộ “ Tâm kinh ” . Không những Ngài chỉ cho cách xây dựng đạo tràng tu thiền lý tưởng mà còn để mọi người cùng tham dự Thắng Hội , cùng thưởng thức Pháp vị, ai bảo rằng Ngài không biết Thiền ?

HÒA THƯỢNG KHAI ĐÀN TRUYỀN GIỚI
ĐẠI CHÚNG NAO NỨC VUI MỪNG
Huỳnh Kiến Hưng 
( Trích từ Nguyệt san Liên hợp số 54 )

Do hoàn cảnh hạn chế mà ở Đài Loan số người xuất gia không nhiều. Theo lệ mỗi năm một ngôi chùa tổ chức Giới đàn một lần. Trước hết phải xin phép Giáo hội Phật giáo Trung ương rồi chuyển lên Bộ Nội Chính phê duyệt, sau đó các chùa lần lượt tổ chức Giới đàn.

Cuối năm 1985 đến lượt chùa Thừa Thiên, huyện Thổ Thành, Đài Bắc tổ chức Giới đàn, nhưng vì chùa không đủ điều kiện vật chất cho một số lớn giới tử đến thọ giới nên phải chuyển sang phân viện của chùa Thừa Thiên là chùa Diệu Thông ở huyện Cao Hùng tổ chức.

Lần này giới tử đến thọ giới ở chùa Diệu Thông khoảng 2700 ngừơi, trong đó chúng xuất gia khoảng 500 người. Trong thời gian truyền giới ngừơi lên núi rất đông nên đa số giới tử phải ngủ trong những lều vải dựng tạm. Mỗi ngày có tới hai ba chục chiếc xe du lịch chở đầy tín chúng lên núi lễ bái. Sau khi Đài Loan giải phóng, bắt đầu từ năm 1952 chùa Đại Tiên trên núi Quan Tử là chùa đầu tiên tổ chức Giới đàn, đến nay đã được 34 năm.

Giới đàn lần này đông ngừơi nhất. Nguyên nhân chính là vì có một bậc đại đức cao tăng của thời đại - Hoà thượng Quảng Khâm – lần đầu tiên truyền giới. Tín chúng vì muốn gần gủi với Ngài Quảng Khâm, mong được Hoà thượng truyền giới cho, do đó mà giới đàn mới long trọng như vậy .

95 tuổi tinh thần vẫn minh mẫn sáng suốt 

Đại lão Hoà thượng Quảng Khâm người đất Huệ An, huyện Chương Châu tỉnh Phúc Kiến, năm nay 95 tuổi, răng chẳng còn cái nào, đỉnh đầu gồ lên, hai bên đỉnh lõm xuống như rãnh, đôi mắt đỏ tím sáng ngời khiến ai cũng không dám nhìn thẳng. Ngài mắt rất tinh tai rất thính, bước đi thanh thoát nhẹ nhàng. Trong thời gian truyền giới mỗi ngày Ngài đều ngồi trên chiếc ghế mây cho tín chúng đảnh lễ; có lúc Ngài khoát tay bảo họ đứng dậy đi “ thọ trai ”, Ngài thì chỉ dùng nước trái cây hoặc sữa. Khi lên xuống cầu thang, Ngài không muốn cho ai dìu đỡ mình; nhiều khi giống như một cậu bé tự quyết làm nư đứng trên đầu bậc thềm giương mắt nhìn người, như thách thức ai dám tới nâng đỡ, đợi thị giả rụt tay Ngài mới tự bước xuống các bậc cấp một cách nhanh nhẹn nhẹ nhàng.

Trong số tín chúng tới đảnh lễ Ngài, có người đến để sám hối, vừa trông thấy Ngài họ tủi thân khóc ròng; có người đến cầu gia hộ, đem tràng hạt để trước mặt Ngài xin Ngài trì chú cho tăng thêm tín tâm niệm Phật; cũng có người đến xin trị bệnh hoặc đến thỉnh cầu Ngài chỉ dạy. Kẻ đến trị bệnh thì mang nước trong đến xin Ngài trì chú Đại bi vào đó. Như ai nấy đều biết, nước chú Đại bi trong chùa lúc nào cũng sẵn có, nhưng họ vẫn cứ muốn xin Ngài trì chú thêm lần nữa mới yên tâm. Những điều mà tín chúng xin Hoà thượng chỉ dạy thường thì họ có thể tự mình giải quyết được, nhưng vẫn muốn đến trình bày để Ngài chứng minh.

Trong thời gian truyền giới, mỗi ngày tín chúng được 20 – 30 chiếc xe du lịch chở đến. Hoà thượng ngồi trên ghế mây, suốt ngày tiếp xúc các đoàn khác nhau, trước sau Ngài vẫn không lộ vẻ mệt mỏi. Lúc nào Ngài cũng trang nghiêm từ bi đối với mọi người khiến ai nấy đều hết sức cảm động; họ từ xa xôi đến chỉ mong được nhìn thấy Hoà thượng. Điều duy nhất đáng tiếc là Ngài nói không còn rõ tiếng, nhưng tín chúng vẫn hiểu được lời Ngài. Mỗi lần khai thị Ngài nói ngắn gọn, chẳng chút rườm rà nhưng ngụ ý thì rất sâu sắc.

Nghe nói Ngài chứng đạo từ lúc 55 tuổi, hoằng hoá đã 40 năm. Ngày tháng thoi đưa . . . ai theo Ngài đã thọ lãnh được gì ? và Ngài đã ban cho ai những gì ? Nói theo nhà Phật : “ Như ngừơi uống nước, nóng lạnh tự hay ”. Một ngày nào đó Ngài cũng phải ra đi, và cái ngày ấy mỗi lúc càng gần.

Có người lo lắng Hoà thượng Quảng Khâm trụ thế không lâu, nhưng chẳng biết có ai lo lắng mình không chịu tinh tấn tu hành ?

Nhập định 4 tháng suýt bị lửa thiêu

Có rất nhiều truyền tụng về sự tu khổ hạnh và những linh ứng liên quan đến Hoà thượng Quảng Khâm. Sự kiệnmọi người thích thú kể lại là lúc Ngài 42 tuổi một thân một mình tu khổ hạnh suốt 13 năm trong động núi Thanh Nguyên, tỉnh Phúc Kiến. Ngày ngày ngồi thiền, từng bị mãnh hổ quấy nhiễu nhưng rồi hổ bị khuất phục bởi đức độ của Ngài. Người dân Phúc Kiến gọi Ngài là “ Hòa thượng phục hổ ” chứ không gọi tên.

Ở trong động, Hoà thượng chỉ sống nhờ vào 5 – 6 cân củ rễ cây. Khi Ngài nhập thiền rồi, chuyện gì xảy ra cũng chẳng chú ý, xuất định xong mới cắt một mảnh củ rễ cây ăn, tự cho là mình “ đánh lừa bao tử ”. Ăn no lại vùi củ xuống đất, trở lại nhập định, khi xuất định thì củ rễ đã mọc ra thêm một khối; cứ xoay vần như thế, củ rễ cây chẳng bao giờ cạn kiệt. Có lần Ngài nhập định quá lâu, ước chừng 4 tháng, các tiều phu lầm tưởng rằng Hoà thượng đã vãnh sanh, vội vàng thông báo về chùa . Sư trụ trì vội dẫn đệ tử đến và bảo ngừơi chuẩn bị củi lửa để hoả táng. Nhưng trước một sự tình như vậy đâu dám bất cẩn vội vàng, Sư trù trì thận trọng viết thư thỉnh cao tăng Hoằng Nhất Đại Sư đến giám định sanh tử. Lúc bấy giờ Đại Sư Hoằng Nhất đang hoằng pháp tại chùa Vĩnh Xuân, Phúc Kiến; hay tin Ngài lập tức chỉ thị không được vọng động làm liều .

Sau khi đến nơi quan sát xung quanh chỗ Ngài Quảng Khâm tham thiền, Đại Sư thốt lời tán thán: “ Cảnh định như vầy, ngay các bậc Đại Đức xưa nay cũng hiếm có !” Tiếp đó Đại Sư khẻ búng ngón tay ba lần trước mặt Hoà thượng, chỉ một lát sau Hoà thượng xuất địnhhội kiến với mọi người.

Đại Sư Hoằng Nhất thấy Ngài Quảng Khâm đã xuất định, vội tỏ lời xin lỗi, sau đó dẫn chúng xuống núi. Thế là Đại sư đã kịp thời ngăn tránh cho Hoà thượng khỏi kiếp nạn hỏa thiêu.

Sau 13 năm tu khổ hạnh, Hoà thượng Quảng Khâm thấy rằng làm ngừơi tự giác vẫn chưa đủ, phải xuống núi hoằng hoá quảng độ quần mê, lúc đó Ngài 55 tuổi. Hai năm sau, tự biết có nhân duyên với tín đồ Phật giáo Đài Loan; từ Trung Quốc Đại Lục Ngài vượt biển qua Đài Loan, cập bến cảng Cơ Long. Lúc đầu Ngài tạm trú trong một ngôi nhà kiểu Nhật bỏ trống gần nghĩa trang Không Quân Tân Điếm, sau đó đến một vách núi nằm bên con đường sau Tân Điếm, đục đá làm thành động Quảng Minh -- tức chùa Quảng Minh ngày nay. Rồi gần đấy Ngài tạc đá thành một tượng Phật A-Di-Đà, lập ra chùa Quảng Chiếu, hiện nay trên vách đá vẫn còn hàng chữ “ Thích Quảng Khâm xướng kiến ” ( Thích Quảng Khâm đề xướng xây dựng ).

Năm 1952 Ngài rời Tân Điếm trở về với cuộc sống ẩn tu, tìm được ở núi Phước Sơn (Thổ Thành) một động đá thiên nhiên -- nay là Động Nhật Nguyệt – và ngồi thiền trong đó. Vì động nằm trên đỉnh núi nên trước giờ không có nước; nhưng từ sau khi Ngài vào ngồi thiền thì trong động nước chảy ra thành giọt, trong mát và ngọt miệng, thế là vấn đề nước uống được giải quyết. Cho đến bây giờ dòng nước nơi đây vẫn chảy quanh năm bất tuyệt. Hiện nay thầy Đạo Nhất đệ tử hàng cháu của Ngài đang thường trú .

Vào năm 1955, các nữ phật tử ở Bản Kiều mua một hòn núi ở Thổ Thành – vị trí Thừa Thiên Thiền Tự hiện nay – cúng dường Ngài, trước kia người ta gọi nó là Núi lửa. Hoà thượng kết tre thành sàng, ngày ngày ngồi thiền trên đó, đêm khuya vẫn ngồi ngoài trời. Sáng sớm chung quanh đẵm ướt sương mai, nhưng theo như ngừơi ta kể lại thì chỉ riêng chỗ Ngài ngồi là khô ráo mát mẻ .

Sau khi Phật nhập diệt , lấy giới làm Thầy

Truyền giới là truyền “ Tam đàn cụ túc giới ” cho ngừơi xuất gia, và “ Ngũ giới, Bồ-tát giới “ cho người tại gia. Tam đàn đại giới gồm có đàn thứ nhất là Giới sa-di và sa-di-ni; đàn thứ hai là Giới tỳ-kheo; đàn thứ ba là giới Bồ-tát. Mỗi người xuất gia phải trải qua ba giai đoạn thọ giới ấy, do giới sư lần lượt truyền thụ trong giới kỳ. Do vậy mà gọi là “ Tam đàn đại giới ”. Sa-di và tỳ-kheo là chỉ người nam xuất gia; sa-di-ni và tỳ-kheo-ni chỉ người nữ xuất gia. Người xuất gia thọ giới sa-di rồi mới thọ giới tỳ-kheo, đối với sa-di-ni cũng vậy; riêng giới Bồ-tát thì nam hay nữ đều thọ được

Các thiện nam tín nữ tại gia thọ Ngũ giới và Bồ-tát giới tùy theo phát nguyện. Người thọ ngũ giới phải tuân thủ : không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu; nhưng có thể ăn tam tịnh nhục ( ấy là ba loại thịt chúng sinh mà mình không thấy giết, không vì mình mà giết, không tự mình giết lấy; tuy nhiên khi đã thọ giới Bồ-tát rồi phải ăn chay hoàn toàn và ngoài giữ 5 giới ra còn giữ thêm 28 giới nữa.

Người xuất gia thọ giới phải đủ 32 ngày mới hoàn mãn, ngừơi tại gia thọ giới theo nguyên chế là 7 ngày, về sau vì số người đông nên đổi thành 5 ngày và phân làm hai giai đoạn; đồng thời phải phát tâm về sau cũng phải giữ giới. – sự việc có thể nói tương đối không giản dị.

Việc truyền giớiý nghĩađặc biệt

Nguyên là khi Đức Phật Thích Ca sắp Niết–Bàn, các đệ tử lo âu không còn chỗ nương tựa mới xin Ngài chỉ dạy, hỏi: “ Sau khi Thế Tôn viên tịch, lấy ai làm Thầy ?” Đức Phật dạy : “ Phải lấy giới làm Thầy ”. Do đó truyền giới cũng như truyền lại quy củ và lời giáo huấn của Đức Phật. Trước hết phải giữ quy củgiáo huấn ấy, rồi mới có thể học theo Phật.

Trong kinh có ghi chép một chuyện cổ như sau : Xưa kia có một người ngoại đạo muốn phá hoại Phật pháp, nêu ra rất nhiều điều xấu xa, đức Thích Ca thản nhiên bảo rằng : “ Phật pháp không thể bị phá hoại ”. Cuối cùng người ngoại đạo nói : “ Ta sẽ giả danh làm đệ tử của ông, mặc y phục giống hệt như họ, nhưng không làm theo đạo ông ” Đức Phật nghe vậy không cầm được nước mắt nói rằng : “ Nếu đúng như thế thì ta cũng chẳng còn biện pháp nào !”.

Phật pháp cần dựa vào giới luậttồn tại. Nếu người xuất gia mà không giữ giới thì có khác gì người ngoại đạo kia, cũng giống như “ trùng trên thân sư tử tự nuôi sống bằng thịt sư tử ”. Trước đã có ngừơi đề nghị nên giảm bớt giới luật cho hàng xuất gia, thậm chí kiểu như các hoà thượng Nhật Bản có thể lấy vợ, như thế số người xuất gia sẽ tăng rất nhanh, nhưng đề nghị này không được chấp nhận.

Phật giáo Đài Loan khi truyền giới hoàn toàn không có thành kiến về gốc gác. Phật tử đến từ khắp nơi, không cùng quy y một Thầy, môn phái y chỉ khi xuất gia cũng khác nhau. Nhưng chùa nào tổ chức truyền giới cũng phải theo đơn xin mà thu nhận; thậm chí có người trước đã thọ giới rồi mà muốn thọ giới lần nữa chùa cũng không được từ chối, đây gọi là “ tăng ích giới ”, ấy cũng là cơ hội để giới tử ôn lại giới pháp. Nếu như đem tinh thần đoàn kết trong kỳ giới đàn phát huy thêm nữa thì Phật giáo Đài Loan sẽ có được một gương mặt mới.

Khi truyền giới, việc làm cho ngừơi ta chú ý nhất là đốt “sẹo giới” (giới ba). Bất luận là chúng tại gia hay chúng xuất gia, thông thường ai cũng muốn được đốt “sẹo giới” mới cảm thấy viên mãn. Chúng xuất gia thì đốt trên đầu, chúng tại gia đốt trên cánh tay trái. Đốt bằng loại hương nhang (nhiên) đặc chế. 
 
Phẩm Bồ–Tát Giới Bổn trong kinh Phạm Võng của Đại thừa có ghi rằng: “ Nếu không đốt thân, cánh tay, ngón tay cúng dường chư Phật thì không phải là Bồ-tát xuất gia ”. Nghi thức đốt “sẹo giới” là từ trong kinh này mà ra.

Hiện nay, khi truyền giới vẫn xem việc đốt “sẹo giới” là sự kiện quan trọng. Nếu như giới tử đem việc này để khoe khoang với người mà không giữ giới trong tâm , sẽ làm mất đi ý nghĩa chân thật của nó. Trong thực tế, có những sư phụ đốt cho đệ tửbản thân mình không đốt, tuy vậy sự tu trì của họ không có gì phải hoài nghi.

Cái gọi là “ đốt thân, cánh tay, ngón tay cúng dường chư Phật ” có ý nghĩa rằng “ toàn tâm toàn ý quy y chư Phật ”. Nếu chỉ giải thích đơn thuần theo nghĩa đen của văn tự, e rằng có người không đồng ý.
( Hiện nay không thấy hoặc nghe nói có sư phụ nào đốt “sẹo giới” cho đệ tửbản thân mình không đốt – Lời người viết ).

NGỌN ĐÈN MÃI MÃI CHIẾU SÁNG
Tưởng niệm Hoà thượng Quảng Khâm
(Xã luận của tuần san Từ Ân ngày 06/04/1986)

Đại lão Hoà thượng Quảng Khâm bậc Cao tăng của thời đại đã an từơng vãnh sanh vào ngày 13 tháng 2 năm nay (5 tháng Giêng nông lịch) tại chùa Diệu Thông – hương Lục Quy - huyện Cao Hùng, để lại nhiếu Xá Lợi được phân chia đem thờ tại ba ngôi chùa do Ngài sáng lập. Tuy rằng chúng ta không còn được thấy Tôn nhan Ngài nữa nhưng đức từ bi và trí tuệ của Ngài sẽ mãi mãi lưu lại trong tâm khảm của hàng ngàn hàng vạn người trong và ngoài nước. Ngài đã hoằng dương Diệu Pháp của Đức Thế Tôn, chỉ dẫn chúng sanh ra khỏi si mê; ngọn đèn truyền Pháp tiếp tục sáng và mãi mãi chiếu sáng không bao giờ tắt.

Hoà thượng trong đời mình không dùng văn chương cao siêu để giảng dạy, cũng không dùng lời hoa mỹ để cảm động lòng người, không vướng mắc vào danh lợi, không tạp nhiễm chuyện thế tục; một đời tu hành theo Phạm hạnh, không ngừng tham thiền niệm Phật, cho nên “ ba nghiệp thân khẩu ý của Ngài hoàn toàn thanh tịnh ”, bổn tâm trong sáng hàm chứa trí tuệ siệu việt, và thể hiện đức từ bi vô lượng. Thời trai tráng đã có vườn rừng dâng trái, mãnh hổ quy y, đạo hạnh của Ngài đạt tới chỗ mà chúng ta không thể nghĩ bàn !

Một người mà có thể hóa độ được hàng ngàn hàng vạn người, nếu ngừơi ấy sống ở trên đời thì đó là phước của xã hội .

Năm Dân Quốc thứ 57 (1968) đương kim Tổng Thống [ Tưởng Kinh Quốc. – Nd. ] - Khi ấy đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng – đến thăm chùa Thừa Thiên. Hoà thượng đàm đạo với Tổng Thống, Ngài nói: “ Mọi sức mạnh đều phát sinh từ trong “ Định ”, nhưng chỉ có ở trong “ Tĩnh ” mới có thể Định ”. Ngài còn nói : “ Người đang an định mà bảo có thể định được thì đó không phải là định. Phải ngay trong lúc phiền não mà định được thì đó mới gọi là định”. Tưởng Tổng Thống nhận rằng lời nói ấy vô cùng quan trọng, khi chúng ta giảng dạy tâm lý học và giáo dục chính trị đặc biệt cần phải nêu vấn đề này ra để giáo huấn cán bộ trong Quân đội Quốc gia. Ngày nay tình hình quốc tế biến chuyển một cách khôn lường, đất nứơc lâm vào hoàn cảnh rất đáng âu lo. Lời nói của Hoà thượng đáng được mọi người Công giáo [ gia đình họ Tưởng theo Công giáo. Nd ] và nhân dân trong nước cùng cảnh tỉnh. Mong rằng quốc dân do từ ý thức cộng đồng mà phát sinh định lực, có được trí tuệ vô biên ngõ hầu tạo nên sức sống cho xã hội và cục diện mới cho quốc gia.

Một bậc thầy về triết học của nước ta – giáo sư Phương Đông Mỹ, cả đời chuyên nghiên cứu triết học, thông suốt triết lý Đông Tây, nhưng cái mà ông tôn sùng nhất là cảnh giới Hoa Nghiêm của Phật Giáo. Ông cho rằng Phật học Đại thừalý luận cao nhất trong triết học. Trước khi qua đời ông hiểu ra rằng vào cửa Phật phải có thủ tục cần thiết, bèn nhờ bác sĩ và người nhà đưa đến chùa Thừa Thiên xin quy y Hoà thượng Quảng Khâm, được đặt pháp danh là Truyền Thánh và chính thức trở thành tín đồ Phật giáo. Quốc Phụ Tôn Trung Sơn nói: Phật học là mẹ của Triết học ”, còn giáo sư Phương Đông Mỹ thì biết rõ và thực hành.

Trong đời mình, Hoà thượng hoá độ hàng ngàn hàng vạn người từ giới bình dân kém trí, đến hạng trí thức bác sỹ, chuyên gia. Nguồn lực chiêu cảm ấy chính là đức độ cao cả được tích lũy từ công phu tu đức tu tuệ hàng ngày của Ngài. Chẳng có gì làm ta ngạc nhiên khi thấy nhân sỹ trí thức trong xã hội đều tán dương Ngài là “ Viên ngọc quý của Đất Nước ”. Khi Ngài Quảng Khâm viên tịch, Tổng Thống lễ viếng với câu liễn đặc biệtĐẠI TỪ ĐẠI BIca tụng Ngài trọn đời cống hiến cho Tổ Quốc và Nhân Dân.

Hôm nay tất cả chúng ta cùng kính cẩn truy niệm đạo đức phong phạm của Hoà thượng, xin nguyện học theo tinh thần giáo hoá, vì người mà xả thân của Ngài, đồng thời phụng nhớ lời dạy “ thành tâm niệm Phật ” của Ngài; từ niệm Phật mà ngộ được triết lý cao siêu, phát huy sức mạnh đại trí, đại nhân, đại dũng của đạo Phật; kế thừa người trước khai ngộ người sau; làm hết sức mình vì sự tiến bộ và phồn vinh của xã hội, vì sự giàu mạnh và thống nhất của Quốc Gia, tiến tới xây dựng nền Hoà Bình vĩnh cửu cho thế giới .

Tưởng niệm các bậc Thiện tri thức
Cảm thân Hoà thượng QUẢNG KHÂM Niết bàn
Thích Khai Chứng
(Bài đăng trong Từ Ân Hội Tấn, ngày 01-03-1986)


Hồi tưởng lại, vào năm Giáp Tý, Phân Hội Phật Giáo thành phố Cao Hùng tổ chức đoàn lễ bái tại chùa Phổ Hiền của Pháp sư Tinh Vân. Trong buổi họp tôi có phát biểu :
Phật giáo cần có những hạng người như sau :
Thứ nhất, phải có các bậc đại đức chân chính, vừa biết tu trì vừa có thể lấy thân mình làm pháp tắc, hiện thân hoá độ chúng sanh.
Thứ hai, phải có những vị cao tăng biết giảng kinh thuyết pháp, hoằng hoá lợi sanh.
Thứ ba là phải có những người biết hành động vì Đạo Pháp
Nếu như có người không đủ khả năng tu trì, cũng không biết giảng kinh thuyết pháp, nhưng tự nguyện hiến thân cúng Phật, vì Đạo mà hy sinh xuất tiền của và sức lực, đó cũng là công đức vô lượng.
Đáng sợ nhất là những con người ăn không ngồi rồi chẳng biết làm gì ngoài việc bàn chuyện thị phi; như vậy thật là đắc tội với chư Phật, có lỗi với chúng sanh, và lại còn phụ bạc chính mình ”.

Tôi thường nói với những vị sơ cơ mới vào chùa rằng “ không nên thắc mắc vì sao người không cung kính mình mà phải tự hỏi lại ‘chính mình’, xem có gì xứng đáng để được người ta kính trọng ? ” 

Tinh thần của Đại sư Từ Hànggương sáng mà tôi rất vui sướng noi gương. Vị Bồ-tát ấy đã dạy cho học tăng của Tu viện Di Lặc như vầy : “ Phải biết rằng mình là “tăng” chứ không phải là ‘bảo’”.

Ý Người nói chúng ta không đủ tư cách được tôn xưng là tăng bảo. Sau khi đọc được lời dạy này tôi tự cảm thấy làm quý vô cùng, nhờ đó tôi thường nhủ lòng làm sao biết cung kính người, chứ không dám mong người cung kính mình. Tôi cũng thường nói với đệ tử xuất gia: “ Đặc trưng của người xuất gia không nhất thiết ở chỗ học vấn cao hay thấp; dĩ nhiên học vấn là quan trọng, nhưng thật ra đối với thân phận người xuất gia, điều quan trọng nhất là có hay không có phẩm chất đạo đức của kẻ xuất gia, phong cách mẫu mực của nhà tu hành, và lòng từ bi hỷ xả

Bản thân tôi sống theo nguyện tắc : Người có ơn với mình mình phải báo ơn họ; người đáng cung kính, mình nhất định phải cung kính họ; người đáng tôn kính mình nhất định phải tôn trọng họ; và xưa nay tôi không dám xem thường ai. Tôi hằng mong sao Phật Giáo mãi mãi hưng thạnh, không lạc hậu so với các tôn giáo khác. Cho nên đối với những vị Đại pháp sư như các Ngài Tinh Vân, Thánh Ấn, Tịnh Tâm …. Tôi rất mực tôn trọng các Ngài, bởi lẽ các Ngài đã không ngừng nỗ lực cống hiến cho Đạo pháp. Đặc biệt Pháp sư Tinh Vân đã mở ra vận hội mới cho Phật giáo. Với phong cách duy tân Ngài đã làm cho tư tưởng linh hoạt của Phật giáo trở nên năng động, thích nghi với quan niệm sống của thời đại mới, điều ấy khiến cho tôi không thể không thán phục. Một sự kiện làm cho tôi cảm thấy rất phấn khởi là những năm gần đây có nhiều vị Bồ-Tát phát tâm hy sinh phụng sư ; số tăng sỹ trẻ trí thức ngày càng nhiều, làm cho Tăng đoàn dần dần phát triển mạnh, có thêm sức sống mới và niềm hy vọng mới; đó là điều đáng mừng cho Phật giáo vậy.

Bạch Thánh Đại Sư – vị Trưởng lão duy nhất mà tôi được gần gũi học và nghe Pháp – là người tôi mang ơn sâu nặng nhất trong các vị Pháp sư , Người là vị Thầy mà tôi phải tâm niệm báo ân, cho nên tôi thường chân thành bày tỏ niềm cùng kính sâu xa nhất trong lòng mình với Người, - dĩ nhiên chỉ có Đại Sư Bạch Thánh hiểu ! – người ngoài không thể biết được .
Ấn Thuận Đạo sư cũng là người tôi rất cung kính. Ngài thể lực suy nhược, nhưng vì Đạo pháp không hề tiếc thân; suốt đời nỗ lực trước tác, chủ biên hộ Thái Hư Đại sư toàn tập, soạn Diệu Vân tập . . . khai mở nguồn tri thức mới, bồi dưỡng trí tuệ và sức sống mới cho hàng phật tử hậu học.

Do lời bình luận của ông Hồ Thích: “ LỤC TỔ ĐÀN KINH không phải do tổ Huệ Năng nói ra ” đã gây nên dư luận xôn xao trong giới học thuật và giới Phật tử; không biết đâu là đúng đâu là sai, đặt biệt làm cho hệ thống Thiền tôngniềm tin bị dao động mạnh ! Trong lòng mọi người bàng hoàng bất an. May mắn thay, có Ngài Ấn Thuận Đạo Sư không quản thân thể suy nhược ( theo như tôi biết, lúc bấy giờ các ngón tay của Người không còn cử động linh hoạt ), trong một thời gian rất ngắn soạn xong cuốn Trung Quốc Phật Giáo Thiền Tông Sử làm cho “ lý luận cao sâu ” của Hồ Thích tiên sinh tan thành mây khói, và khiến cho cuộc tranh luận tức thời chấm dứt, giáo giới đó lấy lại sự bình tĩnh, đệ tử Phật thêm vững niềm tin, an tâm hành đạo.

 Lòng tư bi vù Đạo-mến Đạo của Đại Sư thật là công đức vô lượng. Đủ thấy rằng sự trụ thế của các bậc Cao tăng Đại đứccần thiết như thế nào, may mắn biết bao nhiêu ! Bởi vậy cho nên chúng ta phải tôn kính các bậc Thiện tri thức, gần gũi các bậc Thiện tri thức

 Ngài Ấn Thuận chưa truyền dạy cho tôi điều gì về Phật pháp, chưa có ân đức gì lớn đối với cá nhân tôi, nhưng có cống hiến cho Giáo Đoàn, có ân lớn đối với mọi người, do vậy mà tôi vô cùng kính ngưỡng Ngài. Đạo tướng Ngài trang nghiêm thoát tục là điều làm cho lòng tôi hoan hỷ cung kính, nên tôi thường khuyến khích đệ tử xem các bộ Thái Hư Đại Sư toàn tập và Diệu Vân tập để tăng trưởng trí huệ, xây dựng chánh trí, chánh kiến, chánh niệm trong khi học Phật.

Hoà thựơng Quảng Khâm là vị cao tăng mà tôi càng rất mực cung kính hoan hỷ. Lúc Đài Loan mới giải phóng, Hoà thượng đến Cao Hùng, tôi được hầu biệt với Ngài tại chùa Nguyên Hanh nên có duyên đặc biệt với Ngài. Mỗi lần gặp, Ngài nhìn tôi tươi cười, tôi cũng cười. Đó là vị Trưởng lão đầy đủ phong phạm của bậc cao tăng đại đức, là Đạo Sư tâm linh của tín đồ Phật giáo, nên ai ai cũng mong được đảnh lễ, thích được gần gũi, cúng dường.

Tuyệt nhiên chẳng phải vì Ngài có thần thông hay có tài hùng biện, cũng không phải vì Ngài tuổi cao, mà chính là do đức độ tích luỹ bởi công phu tu phướctu đứctu huệ của Ngài nên mới có sức cảm hoá đến như vậy, - hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà được. Chỉ cần Ngài ở nơi nào thì Pháp duyên nơi ấy hưng thạnh ! Cũng có nhiều người nghe thanh danh Ngài hiếu kỳ mà tìm đến, đó cũng là phước báo ! Tôi thường nói với các đệ tử : “ Đừng sợ không có tín đồ, chỉ sợ mình không có phước báođạo đức. Như Hoà thượng Quảng Khâm thì mọi người tự động đến cúng dường ”.

Tôi thường phân tích : vì sao Hoà thượng có phước báu lớn như vậy ? Rồi phát hiện ra được mấy nguyên nhân : Một là Hoà thượng không tham cầu danh lợi, và không tạp nhiễm chuyện thế tục cho nên không có “thị phi, phiền não “. Lại nữa, Hoà thượng suốt đời không ngừng trì chú Đại Biniệm Phật cho nên “ ba nghiệp thân, khẩu, ý đều thanh tịnh ”. Đã không thị phi phiền não; ba nghiệp thanh tịnh thì thân tâm trang nghiêm, tinh thần sáng suốt, lúc nào cũng mang trái tim từ bi của người xuất gia; cho nên chớ lấy làm lạ, lời nói của Hoà thượng nhiều khi rất linh nghiệm. Ngôn ngữ thường ngày của Ngài đều là những lời chân thật, không tác ý hư ngụy, không trau chuốt; bất kỳ ai đến thỉnh Pháp nơi Ngài, Ngài chỉ nói vỏn vẹn một câu :“ Thành tâm niệm Phật
Thực ra các vị Thiện tri thức và các bậc Trưởng lão không nhất thiết phải biết giảng kinh, nhưng thường thì chỉ cần một câu nói, một bài kệ, thậm chí một tiếng hét, cũng đủ khiến cho chúng ta dứt trừ phiền não, như được uống cam lộ ! – mát mẻ, an nhiên, tiêu trừ ảo giác, khai mở Phật trí, thọ dụng suốt đời không hết.

Có khi chẳng cần lời nào, chỉ cần nhìn thấy đức tướng trang nghiêm, pháp tướng từ tường của các Ngài tự nhiên chúng ta khởi lòng cung kính, vui mừngphát tâm bồ đề. Cũng như khi chúng ta nhìn thấy tượng Phật trang nghiêm tự nhiên trong lòng vui mừng, cung kính đảnh lễ mà không cần đến thứ ngôn ngữ gì. Hoà thượng Quảng Khâm cần đến thứ ngôn ngữ gì. Hoà thượng Quảng Khâm đức độ thấm nhuần quần chúng, ai ai cũng kính mến; bất luận là hạng người cao quý giàu sang hay nghèo nàn thấp kém đều hướng về để được gần gủi bên Ngài, tất cả đều được hoá độ như nhau, và đều vô cùng hoan hỷ. Một Thiện tri thức có khả năng hoá độ muôn ngàn chúng sinh ! Hẳn thấy rõ sự trụ thế của bậc Trưởng lão Đại đức như Ngài là phước báo của chúng sanh, là hạnh vận của Giáo Hội. Thiện tri thứcbảo vật của Phật giáo, Thiện tri thức nhập diệt quả thật là sự tổn thất vô cùng lớn lao cho Phật giáo vậy ! 

Điều làm cho người ta không hình dung nổi là chùa Diệu Thông được xây cất ở một nơi không thuận tiện cho việc giao thông, thế mà chỉ trong 3 năm Ngài độ gần cả trăm thanh niên trí thức xuất gia làm đệ tử Ngài, sự kiện này làm cho mọi người không thể nghĩ bàn .

Lần này chùa Diệu Thông tổ chức Giới Đàn, rất nhiều người bảo rằng Hoà thượng nói truyền giới xong Ngài đi, nếu muốn thọ giới với Hoà thượng thì hãy “thọ” nhanh lên, bằng không thì chẳng được kết nhân duyên với Ngài ! Cũng có người cho đây là lời tuyên truyền.

Kết quả, đúng vào lúc 2 giờ chiều ngày mồng 5 tháng giêng Hoà thượng viên tịch. Nào ai nghỉ tới, một thân thể đang lành mạnh như vậy mà lại ra đi mau như thế ! thật là điều “ bất khả tư nghị

Ngài vốn không chú trọng việc ăn việc mặc và nơi ở, nhưng vào cuối đời vẫn còn quan tâm xây dựng hai Đạo tràng lớn tại miền Nam và miền Bắc, sắp đặt việc tu hành cho các nam nữ đệ tử yên tâm học đạo, đó chính là tấm lòng nhân ái của Ngài đối với đệ tử. Đạo tràng đã dựng xong, giới pháp đã truyền xong, đại nguyện hoàn thành, Ngài ra đi không chút vấn vương, trở ngại.

Từ khi Giới Đàn hoàn mãn, Hoà thượng đóng cửa ẩn tu không còn tiếp chúng, ngầm tỏ ý rằng duyện độ chúng đã chấm dứt, sắp nhập cảnh giới Niết-bàn. Trong thời gian này Ngài bảo với các đệ tử là muốn đi Đài Bắc xem chùa Thừa Thiên ở Thổ Thành thế nào, cho nên trước tết âm lịch Ngài trở lại chùa Thừa Thiên bàn giao những công việc trọng yếu cho các đệ tử, đồng thời sắp xếp các việc hậu sự cho mình. Hoà thượng ở chùa Thừa Thiên vài ngày, sau đó trở về chùa Diệu Thông miền Nam vào dịp Tết. Đó chẳng phải là :

“ Sắp đến lúc lâm chung, biết lúc nào lâm chung đến ” hay sao ?
Như thế, quý vị không cho rằng Ngài có thần thông chăng ?
Trứơc khi lầm chung Ngài dạy các đệ tử rằng : “ Không đến cũng không đi, chẳng có việc gì “. Đối với vấn đề sống chết Ngài chẳng chút quan ngại, ấy là công phu chứng đắc : đến đi an nhiên, giữ cũng được buông cũng xong, giải thoát tự tại. Tôi từng chứng kiến có người sắp chết khóc lóc, đau khổ, bi ai, khởi sinh vô minh. Quả là cảnh giới bất đồng, Thánh phàm khác biệt.
Trưởng lão Hoà thượng đã đi rồi ! Còn vị Cao tăng Đại đức nào làm mô phạm Đạo sư tâm linh cho hàng đệ tử nương theo ?

Một bậc Cao Tăng trụ thế là phước cho Phật giáo, một bậc Đại đức viên tịch là nỗi đau buồn, là điều bất hạnh cho đạo Phậtchúng sinh. Hoà thượng Quảng Khâm đã ra đi, khấn cầu Ngài vì tâm nguyệntrở lại; nguyện cầu Phật giáo có thêm nhiều vị Cao tăng Đại đức trụ thế cho Phật Pháp hưng thịnh. Nguyện cầu chư Bồ-Tát quay thuyền từ trở lại cứu độ chúng sinh; La Hán Thánh Tăng hiện thân Sa-môn trụ thế cho trang nghiêm Tam Bảo, -- ấy là Từ Quang của Phật Tổ mãi mãi soi sáng trần gian ; Cam lộ Chánh Pháp thấm nhuần khắp cõi chúng sinh, - ấy là hạnh vận vô cùng cho Phật giáo .

Từ Ân Tự , ngày 24/05/1975
Thích Khai Chứng

Nam-mô A-Di-Đà Phật


Tán 
(Xướng vào lúc cử hành đại lễ)

Khổ hạnh độ chúng
Chân tịnh chân thiền
Bất thực yên hoả lục thập niên
Đạo phạm lợi nhân thiên
Kiến tự an tăng
Ân trạch mãn trần hoàn

Nam-mô Độ Nhân Sư Bồ - Tát
< ba lần >
Nghĩa của bài TÁN

Khổ hạnh độ chúng sinh
Tu Chân Tịnh – Chân Thiền
Sáu mươi năm không ăn nấu chín
Mô phạm Phật Đạo - Lợi Người và Trời
Xây dựng Chùa chiền – An bài Tăng chúng
Ơn đức khắp cõi Trần gian

NAM-MÔ ĐỘ NHÂN SƯ BỒ - TÁT

Niệm “ Nam-mô A-Di-Đà Phật ”
là “ Tổng tụng ”

Quách Huệ Trân

 

Trích từ tác phẩm
HÃY LẮNG NGHE 
TIẾNG CA CON SÔNG HẰNG

Đại lão Hoà thượng thượng QUẢNG hạ KHÂM, - bậc Đại Đức của thời đại, mọi người xưng tụng Ngài là “ Quốc bảo trong giới Phật giáo ”. Nhìn bức ảnh chụp hai ngày trước khi viên tịch, Ngài đã 95 tuổi thọ mà ánh mắt vẫn rất trong sáng có thần !

Năm Hoà thượng 92 tuổi hậu học tôi từng được duyên may theo Ngài leo núi. Ngài đi trước, chân bước nhanh thoăn thoát, hậu học theo sau khá vất vả. Chùa Thừa Thiên lúc đó đang trong thời kỳ xây dựng, có một đoạn đầy dẫy những vật chướng ngại làm cho hậu học suýt bị vấp ngã, Hoà thượng quay lại bảo : “ Hãy đi cho tốt chứ ! ”, giọng nói tuy hơi gắt nhưng thân thiết, ánh mắt nghiêm nghịchan chứa từ bi, hậu học cảm thấy thật hổ thẹn. Cho đến nay qua bao nhiêu lần vấp ngã trên đường đời mới thấm thía “ đi cho tốt ” đâu phải dễ; sau bao phen “ u đầu sứt trán” nghĩ lại câu nói hàm chứa hai ý nghĩa của Ngài, tự nhiên nước mắt trào ra.

Có người tưởng Ngài là một con ngừơi huyền bí khác thường nên tìm đến “tham khảo cho biết”, ở bên cạnh Ngài cả buổi chỉ nghe vỏn vẹn một lời: “ Niệm Phật, ăn chay ! ” Họ lại nghĩ bụng “ Câu ấy mình nói cũng được, cần gì phải đến hỏi Hoà thượng ! ” Đúng vậy, nói thì ai nói cũng được nhưng vấn đề là ở chỗ chúng ta đâu có được công phu khổ hạnh như Ngài, và cũng không có đức độ cảm hoá người như Ngài; dù ta nhiệt tình đến nhà người khác khuyên bảo, cũng e rằng người ta phát cáu. Còn Ngài thì đã nhiếp phục được chính mình, đã dụng công niệm Phật đến chỗ tuyệt diệu, tự nhiên cảm hoá được hàng ngàn, hàng vạn chúng sanh. Lúc còn trẻ Ngài lên động núi sâu tu thiền. An hết thức ăn dự trữ, chỉ còn cách ăn trái cây, khoai rừng để duy trì mạng sống, ba bộ y phục vá thành một bộ, gần 60 năm nay chỉ ngồi chứ không nằm; về phương tiện vật chất nhu cầu của Ngài vô cùng ít ỏi. Hồi ở chùa Thừa Thiên bên Đại Lục, Sư phụ của Ngài, - Đại lão Hoà thượng thượng Chuyển hạ Trần dạy Ngài: “Ăn thức ăn người không muốn ăn, mặc cái người không muốn mặc, làm những việc người không muốn làm, về sau con sẽ biết ”, đồng thời chỉ muốn Ngài tu khổ hạnhniệm Phật. Ngài chất phác thuần thành thực hành đúng theo lời giáo huấn, một dạ dốc chí khổ tu, kết quả Ngài trở thành người siêu phàm thoát tục. Nhiều phật tử mỗi lần nhìn thấy Ngài, quá cảm động không cầm được nước mắt.

Lời dạy của Ngài thường chỉ là vài câu quan trọng cốt tủy, nếu chúng ta thực tâm tin tưởng nhất định chẳng uổng phí một đời. Như câu Ngài dạy trên đây : “ Niệm Phật ! ăn chay ! ” Nếu chúng ta mỗi niệm đều niệm Phật, ánh sáng trí tuệ từ bi của Đấng Giác Ngộ lúc nào cũng tràn đầy trong tâm, thì chẳng phải lúc nào cũng kiết tường sao ? Không còn cái khổ tranh chấp ta-người-phải-trái, không bị tham sân si thiêu đốt. Nếu bỏ được thị dục sướng miệng khoái bao tử, làm theo lời dạy “ăn chay” của Ngài, dần dần thể nghiệm cái nghĩa lý “chúng sinh vốn cùng một gốc mà ra”, chứng nghiệm được niềm an lạc của Từ Bi. Kiếp này ngày ngày sống với một tâm hồn thanh thản, thành tâm nguyện cầu vãng sanh Tịnh Độ, khi lâm chung ắt được Phật tiếp dẫn, chấm dứt nỗi thống khổ sinh tử đời đời, kiếp kiếp ! Bằng một hai câu Hoà thượng đã chỉ rõ con đường lớn tu hành trong một kiếp thành Phật. Người chân chính tin tưởngphụng hành, được lợi ích vô cùng. Trái lại, người không chân chính thì chỉ thích nói chuyện cao siêu huyền bí, bày vẽ bao chuyện quái dị ly kỳ, khoa trương thần thông . . . mà xem thường lời dạy khẩn thiết liễu sanh thoát tử của Ngài.

Lúc Hoà thượng còn tại thế, ngày nọ có một người tay xách chiếc vali, vẻ đầy bí mật lên núi muốn xin gặp Hoà thượng, lại chỉ xin gặp riêng Ngài mà thôi. Vì trước kia từng có kẻ đến với ý đồ xấu nên đệ tử không cho anh ta một mình gặp riêng Hoà thượng. Anh ta bảo có việc rất cần thỉnh ý. Sau đó anh ta tới sát bên tai Hoà thượng trịnhh trọng nói : “ Thưa Hoà thượng, nghe ngừơi ta đồn Ngài có thần thông, xin Hoà thượng nói thật cho con biết Ngài có thần thông hay không ?” Hoà thượng cũng trịnh trọng nói nhỏ vẻ rất bí mật : “ Tôi nói cho anh biết, tôi có ăn thì thông, không ăn thì không thông ! ” (Đài Loan ngữ) Câu nói ấy làm cho người ta phải suy ngẫm. Cái vi diệu của Phật pháp chính là cái bình thường, chứ chẳng phải thần thông khiến cho kẻ hiếu kỳ chạy theo, cũng chẳng phải là hiện tượng mơ hồ quái đản. Thần thông ai cũng có, nhưng chỉ vì bị các thứ phiền não tham, sân, si, mạn, nghi hoặc chôn vùi, làm cho không hiển hiện được. Có thần thôngkhông giải quyết được vấn đề sanh tử thì cũng vô ích. Hướng ra bên ngoài để tìm cái gọi là “người có thần thông” giúp đỡ mình, như vậy là bỏ gốc tìm ngọn. Hoà thượng nói : “ Cầu ở người là bỏ mất Phật Thích Ca nơi chính mình ”.

Hậu học chúng tôi nhận thấy : “thần thông” vĩ đại nhất của Hoà thượng làm chấn động lòng người đó là công phu tu trì nhẫn nhục. Nhẫn cái mà người không thể nhẫn, làm cái mà người không thể làm.

Năm Hoà thượng từ trên núi trở về chùa Thừa Thiên bên Đại Lục, râu tóc đều mọc dài giống như ngừơi rừng, không ai nhận ra; sau nghe giọng nói mới nhận ra Ngài. Có thử lửa mới biết vàng thật hay giả. Một thời gian sau, sư trụ trì và sư hương đăng muốn kiểm nghiệm công phu của Ngài, cố ý đem tiền công đức trong thùng phước sương giấu đi rồi tỏ vẻ nghi Ngài lấy, thế là cả chùa đều cho Ngài là kẻ cắp, đối xử lạnh lùng và nặng lời nói xấu trong nhiều ngày. Ngài vẫn an nhiên tự tại như đang hứng gió xuân, như được úông cam lộ. Quả là một tâm hồn cao cả, một con người hoàn toàn tiêu dao tự tại ! Cái thần thông nhẫn nhục ấy so với thần thông “đi trên lửa, phóng hào quang” còn thần kỳ hơn nhiều. Vì đốt giấy cũng có thể “đi trên lửa”, đốt đèn có thể “phóng hào quang”, nhưng chúng ta hãy tự hỏi lòng, ai có thể bị vu oan là trộm cắp mà vẫn an nhiên như uống nước cam lộ, không một lời biện bạch ? Ai có khả năng khám phá cuộc đời như huyễn như mộng, đó là người đại trí tuệ đáng được cung kính đảnh lễ.

Chúng ta lại chẳng may thường tự biến mình thành cái mà Hoà thượng hình dung : “ con chó chạy theo cục đá ”. Người ta muốn cho mình chạy thật giản dị, chỉ cần nhậm ý quăng một cục đá chúng ta lập tức đuổi chạy theo nó, chạy đến sức cùng lực tận, rốt cuộc chỉ vớ được một cái khối không ăn được. Hoà thượng trợn mắt bảo :” Như vậy là không có chủ trương, định hướng làm sao đi Tây phương được ? ”

Hoà thượng làm chủ chính mình, tự tại trong sanh tử, chẳng lạ gì được trẻ già đều kính ngưỡng. Ngài vốn không mưu cầu tiếng tăm, lợi lộc, chỉ nhờ chân chính thực tu mà cảm phục được lòng người .

Có một hôm, một phóng viên nhà báo lên núi định “tống tiền”, tỏ vẻ hăm dọa uy hiếp Ngài: “ Ngòi bút của tôi rất lợi hại, nếu sư không đưa tiền, tôi sẽ viết một bài về sư ”. Hoà thượng bình thản nói :” Anh cứ mặc tình đăng báo, tùy anh viết gì cũng được, tôi không cần ai cung kính. Người cung kính tôi, ngày ngày tôi vẫn niệm chú Đại Bi, trì chú vào Đại bi thuỷ; người không cung kính tôi, tôi cũng vẫn thanh tịnh niệm Phật A-Di-Đà ”. Anh nhà báo chỉ còn biết tán thán Hoà thượng không giống như người thường, đúng là “ Sự đáo vô tâm giai khả lạc, nhân đáo vô cầu phẩm tự cao” (Việc đến, vô tâm vẫn an vui; người đến không cầu, phẩm cách tự nhiên cao).

Lại có một lần, một số đệ tử đi nghe thuyết Pháp, nhận thấy giảng sư có ẩn ý phê bình Hoà thượng, họ bất bình lên núi thưa lại với Ngài, nào hay Ngài không những không hề có ý khó chịu mà còn bảo các đệ tử ấy phải sám hối về cái lỗi đã “ hiểu lầm lời giảng của Pháp sư ”, đồng thời còn giải thích hàm ý Phật pháp trong lời giảng sư, và khuyên răn các đệ tử : “ Giả sử có người nêu danh tánh mình ra để mắng mình còn phải thành tâm biết ơn họ thay, huống hồ người ta không nêu tên mình ra ! ” Hoà thượng nghiêm túc nêu ra cho thấy đại nghĩa :” Muốn cho Phật pháp hưng vượng, thì tăng phải biểu dương tăng ”. Rồi Hoà thượng tán dương vị Pháp sư ấy là “Ở trong thế giới phù hoa huyễn hoá này mà độ được chúng sanh, thật là một vị Bồ-Tát” và Ngài khiêm tốn :” Tôi vẫn không dám đi thuyết pháp ! ”

Công đức tu trì của Hoà thượng chúng ta không thể hiểu thấu, tuy nhiên qua vài sự việc nhỏ bất chợt diễn ra trong sinh hoạt hằng ngày cho thấy tâm hồn cao cả của Ngài; mỗi sự việc đều làm cho kẻ hậu học như tôi vô cùng cảm động ! Hoà thượng như ánh mặt trời hiền hoà chiếu khắp từng thân cây bụi cỏ; nhưng cũng có lúc Ngài dùng gươm dao, búa rìu trí tuệ chặt đứt chi nhánh phiền não, đẵn hết dây mơ rễ má danh lợi làm chướng ngại Đạo; giúp cho thân vây vươn thẳng lên cõi Tịnh độ. Ngài thường phát ra những khảo đề trắc nghiệm bất ngời, “cực kỳ kích thích”, diễn bày rất sát với thực tế. Người chịu khảo nghiệm vốn thường bị hoàn cảnh chi phối, ngay lúc đó không hiểu ra, mãi về sau mới vỡ lẽ, mới biết Ngài dùng phương pháp “thuốc đắng đã tật”. Có lúc Ngài giáo dục bằng phương pháp “tôi luyện” khắc nghiệt, “nghiền cho tróc vỏ, xay cho nát vụn, nhồi cho nhuyễn, sấy cho đen”. Ai thực tâm phát nguyện tu hành sẽ trở thànhđạo lương cúng dường tất cả chúng sanh, cúng dường khắp mười phương chư Phật”, -- như thế thường là quá trình “máu và nước mắt”.

Có lúc Hoà thượng từ bi rơi nước mắt nói với đệ tử đang chịu thử thách :” Điều thầy dạy con, con có thật hiểu được không ? Thầy sợ rằng con oán thầy, chẳng qua thầy muốn giúp con phá chấp; nhưng nếu như con không hiểu được dụng ý đích thực, sẽ trở thành oán hận thầy. Thầy tạo cho con nghịch cảnh là để rèn luyện con” .

Tổ Sư dạy chúng ta, muốn vãng sanh Tây phương cần phải có ba điều “ tín, nguyện, hành ”. Nguyện là chán bỏ cõi Ta-bà, vui tìm Cực lạc ( Ta-bà do tâm xấu bẩn cảm ứng sinh ra, Cực lạc do tâm thanh tịnh hiển hiện).

Ân Sư Tuyết Công cũng nhấn mạnh tâm vui thích và tâm nhàm chánpháp môn an tâm chính của tịnh độ. Nhưng phàm phu chúng ta trong thuận cảnh rất khó phát tâm vui thích hay nhàm chán. Bất đắc dĩ, Hoà thượng hay Phật và Bồ-Tát mới tạo cho chúng ta nhiều nghịch cảnh để chúng ta “ lấy khổ làm thầy ”, dũng mãnh phát tâmvui thíchnhàm chán ”, kiên trì niệm Phật để thoát vòng sanh tử. Đem sự tinh tấn lao khổ đời này đổi lấy hạnh phúc tự tại vĩnh hằng. Thật ra, đó là ân tứ cao quý nhất chẳng còn gì hơn. Chỉ có điều là chúng ta thường vui thích “ những quả bom định giờ bọc trong bao bì xinh đẹp”, truy cầu khoái lạc và danh lợi nhất thờihy sinh cái an vui vĩnh cữu. Chư Phật và Bồ-Tát hằng xót thương rơi lệ vì tai hoạ ngút ngàn ấy của chúng ta. Hoà thượng thường nghiêm ngặt dạy rằng “ Ở cõi Ta-bà chỉ cần tham lam một cọng cỏ cũng phải trở lại luân hồi ! ” Cũng vì lẽ đó, mắc dầu con người ở cõi Ta-bà này tôn kính Ngài như thế, Ngài vẫn tiêu dao thoát ly.
Công trình xây dựng quy mô hoành tráng trên núi đối với Ngài chẳng qua là “ một giáo cụ bé nhỏ nhất thời ”; dựa vào một số nhân duyên trần cảnh để thông cảm và dẫn dắt những chúng sinh có duyên với Ngài. Và ai thật sự thản nhiên trút bỏ, thành tâm niệm Phật cầu vãng sanh mới là đệ tử chân chính của Ngài. Trong mấy ngày trước vãng sanh, Hoà thượng nhiều lần dạy đệ tử : “ Tai nạn càng lúc càng nhiều, phải gấp rút tu hành; tu một phần thì được một phần công đức, tu mười phần thì được mười phần công đức, tu trăm phần thì được trăm phần công đức, tu ngàn phần thì được ngàn phần công đứcHoà thượng ân cần nói rõ từng câu, đó là những lời khích lệ khẩn khiết nhất. Tin theo lời Ngài, hãy thành tâm niệm Phật, vào ngày pháp môn giải thoát, không còn chần chờ gì nữa !

Có một nhà giáo kể với chúng tôi rằng ông ta đến xin hỏi Hoà thượngnên niệm Phật như thế nào ? ” Hoà thượng hỏi lại : “ Ông niệm Phật như thế nào ? ” Ông ta nói :” Khi nào rãnh thì con niệm Phật ”. Hoà thượng lại hỏi :” Như vậy, có rãnh thì ông niệm Phật còn không rãnh thì không niệm Phật, thế thì ông chỉ cúi đầu chào Phật, chào cho có chào ! Làm sao hy vọng Phật cứu ông khỏi cảnh sống chết ? Lại đây ! Lại đây ! Ta cùng đưa chân ra xem ! … Chân nào là chân Phật ? Ông có nhận ra không ? … Ủa ! muốn ôm chân Phật mà ngay cả chân Phật là chân nào cũng không biết sao ? Phải ôm chân nào đây ? Vậy thì ông có nhận ra hay không nhận ra Phật ?”
( Ngài thật khéo dùng ẩn dụ, làm cho người đối thoại hốt nhiên tỉnh ngộ ). Nhà giáo ấy kể rằng Hoà thượng nhắp một tí trà rồi đưa mắt hỏi :
- Ông xem tôi có bị sặc không ?
- Dạ thưa không.
- Tôi vừa niệm Phật, ông có biết không ?
Lão Hoà thượng có lối giáo dục rất sinh động : uống trà, ăn cơm,
đi, đứng, nằm, ngồi đều tu niệm Phật.

Nhà giáo ấy lại một phen gợi ý cho tôi :

Dù nửa đêm không đèn nhưng chỉ cần nghe vài tiếng ho thì anh cũng biết đó là cha mình về. Này nhé bây giờ là nửa đêm, đức Phật A-Di-Đà đến ! … Bạn có biết Phật đến chăng ? Chúng ta hãy tự hỏi lòng mình, chúng ta đã niệm Phật đến độ nhận ra đựơc Phật, thân thiết với Phật chưa ? Hòa thượng đã thân thiết với Phật rồi. Ngài từng nói với một tiến sỹ Mỹ từ Hoa Kỳ đến yết kiến Ngài : “ Tiếng chim kêu, tiếng xe chạy và mọi tạp âm khác đều là tiếng niệm Phật ”. Người Mỹ ấy hỏi trạng thái ấy kéo dài được bao lâu. Hoà thượng đáp :Ngày đêm sáu thời ” ( tức là lúc nào cũng như vậy). Mười năm về trước Hoà thượng có nói với đệ tử rằng “ Sau này lúc nào ra đi Thầy sẽ hiện tướng bệnh mà đi, nhưng ba chúng con đều không có mặt để tiễn Thầy ”. Ba ngừơi đệ tử lớn ấy của Hoà thựơng đều cho rằng điều ấy không thể x ảy ra, vì trong ba người bao giờ cũng có một người hầu cận Hoà thượng, làm sao mà có cái cảnh “ không đưa tiễn được ?! ” Nhưng quả không sai, ngày hôm ấy nhân vì có công việc đặc biệt ba vị đệ tử lớn đều vắng mặt đúng vào lúc Sư Phụ viên tịch !

Trước khi vãng sanh, một lần nữa Hoà thượng dạy chúng đệ tử :
Cõi Ta-bà này rất khổ, các con hãy mau sớm niệm Phật để vãng sanh về Thế giới Cực lạc của đức Phật A-Di-Đà ”

Sau đó chúng đệ tử nhận thấy động mạch nơi cổ Sư Phụ từ từ ngừng đập trong tiếng niệm Phật, và lời nói cuối cùng của Người :
 “ Không đến cũng không đi, không có sự tình gì !”

Thật là thanh thoát !

Vô hình trung chúng ta “ đến đến đi đi, toàn là sự tình ”, không ngày nào ta không mang tạp sự trong tâm. Tiếng Đài Loansự tình ” hay “ đãi sự ” hàm ý “ không được cát tường cho lắm ”. Đúng là :

“ Bất thị nhàn nhân nhàn bất đắc, nhàn nhân bất thị đẳng nhàn nhân”

不是闲人闲不的,闲人不是等闲人

( Không phải người nhàn nhàn chẳng được ; người nhàn đâu phải kẻ tầm thường )
Trong tâm hồn chúng ta nếu quả thực không có “ đãi sự ” ( sự chẳng lành) mà có cái nhàn địch thực, hẳn phải biết bao công phu mới đạt được !

Khoảng một tuần lễ trước khi Hoà thựơng viên tịch, ngày đêm Ngài vận hết khí gọi đức Phật A-Di-Đà ”, người thường không thể làm nổi. Đại chúng luân phiên niệm lớn theo Ngài còn cảm thấy khan cổ, đau ngực, tắt hơi huống hồ một cụ già 95 tuổi.

Thông thường người ta khi lâm chung hơi thở rất khó khăn, không tự chủ được gì cả, mà Ngài thì giống như vị tướng đột phá vòng vây ngũ trược. Có đệ tử sợ cơ thể Ngài không chịu đựng nỗi, do không ăn gần cả tháng, kiến nghị : “ Bạch Thầy, để chúng con niệm Phật Thầy nghe cũng được ”. Hoà thượng mở to đôi mắt nhìn … rồi nói một câu kiên quyết :” Mỗi ngừơi niệm cho mình, mỗi ngừơi giải quyết sanh tử cho mình ”, nói xong lại khẩn khiết niệm lớn tiếng.

 Thế rồi trước hôm vãng sanh sáu ngày, bỗng nhiên Hoà thượngtrình diễn một màn ”, thể hiện tuyệt vời tính hài hước mà dư âm còn vang vọng sâu xa. Kẻ hậu học như tôi mỗi khi nghĩ đến cảm thấy cảnh tượng ấy có tác dụng làm cho các nhà tu hành, dù môn phái khác nhau, phải lấy đó mà cảnh tỉnh. Hoà thượng thường ngày dạy đại chúng chuyên tâm niệm Phật A-Di-Đà, đột nhiên hôm đó Ngài khẩn cấp bảo đại chúng tụng Kinh Đại Tạng, mà bộ Đại Tạng thì mênh mông như biển cả, chẳng biết bắt đầu tụng từ chỗ nào, chúng đệ tử bèn đến thỉnh ý Hoà thượng, Ngài bảo :” Tống tụng !” Đại chúng vội vàng đem Đại Tạng Kinh ra, hết bộ này đến bộ khác …, bê đến mệt thở. Nhìn thấy Sư Phụ sắp đến giờ phút vãng sanh, trong lòng ai nấy vừa bức xúc vừa đau xót, lại chẳng biết bất đầu tụng từ đâu, Hoà thượng nói:“ Xem các con biết kinh gì, tụng lên cho Thầy nghe ! ”

Thế là đem từng bộ ra tụng : Tâm Kinh, Kinh Kim Cang, Kinh Dược Sư, Kinh Địa tạng … Tới giờ phút quyết định sống chết mới hay bài Tâm Kinh chỉ có trên hai trăm chữ mà tụng cũng không xuôi, miệng tụng mà tâm trí rối bời. Giữa lúc đại chúng đem tụng từng bộ kinh, Hoà thượng chỉ mỉm cười u mặc, liền đó Ngài niệm :

Nam-mô A-Di-Đà Phật ! Nam-mô A-Di-Đà Phật ! Nam-mô A-Di-Đà Phật ! ….” ; tiếng tụng kinh xung quang chẳng chút ảnh hưởng gì đến Ngài. Hậu học cảm thấy nụ cười của Ngài thật như “ gậy gõ lên đầu ” !

Xin hỏi : trong “ buổi trình diễn đột xuất ” ai là ngừơi “ tống tụng” hết bộ Đại Tàng Kinh ? Duy nhất chỉ có Hoà thượng niệm niệm trong sáng rõ ràng, mỗi tiếng Nam-mô A-Di-Đà Phật ” đều thành khẩn có thần. Ấy mới thật là Tổng Tụng Đại Tạng Kinh ! Chúng ta đừng thắc mắc : tại sao Hoà thượng lúc lâm chung thay đổi đề mục ? Ngài là ngừơi rất giỏi dùng phép phản diện làm cho người ta thức tỉnh, tự mình thể nghiệm lấy ý vị và khắc dạ ghi tâm.

Tu hành là phải “ hành “, chớ đâu phải nói-nghe là xong, ví như lúc học lý thuyết ở Viện Y Học “ dàn binh bố trận trên giấy ” nhất định khác xa khi đối diện với bệnh nhân máu me đầy minh ! Chúng ta có thể hiểu rằng cách diễn bày của Hoà thượng và câu “ Tinh hoa vạn pháp gồm trong sáu chữ ” của pháp sư Tuyết Vân tuy hai mà một, thật là vi diệu.

Nhiều người khi lâm chung vô cùng khổ sở, chỉ bốn chữ A-Di-Đà Phật còn niệm không nổi, huống gì tụng kinh – mà lại tụng Đại Tạng Kinh ! Chúng ta một lònh thành kính tin theo lời dạy “ thành tâm niệm Phật, không gì thay đổi ”, ngõ hầu tránh tình trạng “ luyện xong mừơi tám môn võ nghệ đến khi gặp nạn không biết dùng chiêu nào ”. Ngày ngày tụng hết kinh này đến kinh khác, tựa hồ như có duyên với rất nhiều Phật nhiều Bồ-Tát, lúc sắp lìa đời tâm trí lại rối như tơ vò, không biết nên niệm Phật nào, kỳ thực trong kinh A-Di-Đà nói rằng Chư Phật sáu phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài ( quảng trường thiệt tướng ) tán thán đức Phật A-Di-Đà, khuyên chúng sanh tin và niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương . Hiển nhiên, khi chúng ta niệm “ A-Di-Đà Phật “ thì tất cả chư Phật và Bồ Tát đều hoan hỷ, - ấy gọi là “ tống tụng ”.

Trước vãng sanh hai ngày, Hoà thượng tự mình gõ mõ cho chúng đệ tử niệm Phật, trong cử chỉ đó hàm chứa ý vị rất thâm thúy. Trước những danh hiệu Phật, Bồ Tát Ngài đều niệm “ Nam-mô Tây phương Cực Lạc Thế Giới ”, như :
Nam-mô Tây phương Cực Lạc Thế Giới Văn Thù Sư Lợi Bồ-Tát
Nam-mô Tây phương Cực Lạc Thế Giới Phổ Hiền Bồ-Tát
Nam-mô Tây phương Cực Lạc Thế Giới Di-Lặc Bồ-Tát …

Theo chỗ tôi hiểu, Hoà thượng bảo cho chúng ta biết có thể gặp các vị Đại Bồ-Tát ấy ở Tây Phương, chỉ cần chuyên tâm niệm Phật A-Di-Đà như Ngài thì có thể cùng với các bậc Bồ-Tát đồng hành !

Có lần tôi đi với một bác sỹ lên núi xin thỉnh giáo Ngài. Vị bác sỹ hỏi : “ Thưa Ngài, ngồi thiền như thế nào thì mới thông khí mạch ? ” Hoà thượng trả lờiĐâu cần đả thông khí mạch, nhất tâm niệm Phật, chứng niệm Phật tam-muội thì tất cả khí mạch đều thông ”. Đây là lời chỉ dạy trung thực của một người đạt đến chỗ tự tại dành cho chúng ta. Ai thông minh ắt không trở lại con đường quanh co oan uổng, ngõ hầu tránh khỏi cái cảnh “sắp chết hối tiếc thì đã muộn”. Hãy sớm chuẩn bị hành trang, như Hoà thượng đã tuyên bố từ trước :
“ Tôi đã mua vé xe rồi, và đúng số xe ! ”

Xin hỏi, vé xe của quý vị tu học đàn anh đã mua chưa ? có đúng số xe không ? hay là không muốn có chỗ ngồi ? hoặc chẳng muốn lên xe ? Cũng có thể quý vị đã sớm chuẩn bị tốt rồi, để khỏi phải như chúng tôi đợi sau khi Hoà thượng nhập diệt mới lên núi niệm Phật ! Niệm được một vài tiếng đồng hồ nước mắt tuôn trào …. Niệm không thành câu để cúng dường Hoà thượng ! Cúi đầu chẳng dám ngẫng lên vì cảm thấy không xứng đáng với lời giáo huấn, dặn dò của Người ! Thật xót xa đau khổxấu hổ ân hận ! Nguyện cầu các bậc tu học đàn anh sớm mua vé đúng xe “ Kim Đài Thượng Phẩm Thượng Sanh ” !

Nam-mô A-Di-Đà Phật 
 
 

THẦN DỊ THIÊN
Pháp Thân Hoà Thượng QUẢNGKHÂM
thị hiện linh hiển
Phùng Phùng
( Thiên Hoa Nguyệt San – ngày 01/05/1986 )

1. Hiện pháp thân

Chiều tối ngày mồng 03 tháng Giêng năm Bính Dần (11/02/1986), khoá công phu tối vừa xong, tôi đang ngồi tĩnh lặng bỗng thấy một vừng ánh sáng vàng xoay vần, hiện ra một vị Bồ-Tát pháp tướng trang nghiêm, toàn thân tỏa phát ánh sáng vàng trên đầu có vòng hào quang thật lớn, nhưng trên mình không trang sức gì, rất đơn giản, cổ mang tràng hạt bồ đề lớn. Nét mặt từ ái hiền hoà mĩm cười với tôi, nhưng tôi không nhận ra Ngài là ai .

Tôi hoảng hốt vội vàng đảnh lễ và thưa : ” Kính lạy Bồ-Tát xá tội cho đệ tử mắt phàm ngu muội. Xin cho con được biết Ngài là đấng Bồ-Tát nào giáng lâm ? ”

Ngài mĩm cười không trả lời. Tôi nhìn kỹ pháp tướng Ngài, nhận thấy Ngài là một cụ già rất gầy, tuổi khoảng trên 90 hay 100, có điều là diện mạo không có vẻ già như tuổi, trông như chừng 6, 7 mươi tuổi và rất thanh tú. Sống mũi cao dài và đầy đặn, hao hao giống mũi người Hy Lạp, cằm dài và hơi hướng ra trước, đôi mắt sáng ngời tinh thần của bậc đại trí tuệ, đôi vành tai rất dài và lớn, đầu cạo nhẵn tóc, hai bờ dưới mí mắt đầy, mọng và hơi sa xuống, nhân trung rất sâu, đôi mày rậm bạc trắng điểm vài sợi đặc biệt dài; toàn thân Ngài toả ra hương vị trái cây, phảng phất mùi hương hoa quít. Ngài là ai mà pháp tướng trang nghiêm từ tứơng đến như vậy ?! Rõ ràng là một vị Bồ-Tát với đầy đủ tứơng đẹp của một vị La-Hán. Ai đây mà tôi vừa nhìn thấy liền sinh lòng cung kínhvui mừng vô hạn ? Từ trước đến giờ tôi chưa hề thấy vị Bồ-Tát ấy, mà cũng không thể đoán được là ai. Tôi biết Ngài hiển hiện không phải là do ảo giác của tôi. Ngài đang ở trước mắt tôi rõ ràng chân xác. Tôi biết mình chẳng chiêm bao vì tai vẫn nghe tiếng xe chạy xa xa bên ngoài; tiếng chim báo canh đêm trên cây sau vườn cũng rõ ràng mồn một bên tai. Tôi không thể nào hiểu nổi, nên cung kính hỏi pháp hiệu Bồ-Tát một lần nữa.

Ngài mĩm cười, môi mấp máy : “ Ta là Quảng Khâm !” 

Ngài nói tiếng Đài Loan chứ không nói tiếng Phổ thông. Tôi nghe được tiếng Mân Nam (Tiếng Phúc Kiến -Nd) và cũng nói được chút ít. Hơn hai mươi năm xa quê hương Tổ Quốc rồi ! Lúc nhỏ ở Đài Loan tôi nói tiếng Đài Loan lưu loát, nay đã quên gần 8-9 phần mười; tuy vậy tôi vẫn còn nghe hiểu được Đài ngữ căn bản, nhưng phải cố gắng mới hiểu được người khác nói gì. Thế mà lúc này, Ngài Hoà thượng vừa mở lời tôi hiểu ngay, duy ngữ âm của Ngài hơi khác với người Đài Loan.

Tôi buột miệng la lên: “A ! Ngài là Pháp sư Quảng Khâm !” 
Tôi vừa kinh ngạc vừa vui mừng khôn xiết vội quỳ xuống lạy, thưa :
- Kính bạch Pháp sư, Pháp sư đến đây bằng cách nào ?
- Muốn đến thì đến ! – Ngài mĩm cười nói tiếp : “ Chẳng phải là con đã mong có một ngày gặp Thầy sao ? Bây giờ Thầy đến để đáp ứng tâm nguyện của con
- A ! Dạ đúng ! Dạ đúng rồi ! Bạch Pháp sư !
Tôi vui mừng không thể tả, nói : “ Con kính ngưỡng Ngài đã từ lâu rồi, không có duyên gần gủi, tối nay được gặp Ngài, thật là vui mừng hạnh phúc, đệ tử vô cùng sung sướng ! ”
- Con là một thanh niên tốt, Ngài nói – con nên cố gắng hộ pháp nhiều hơn ! Con đã làm điều phải, đừng sợ dèm pha !
- Đa tạ Pháp sư ! Tôi cảm động quá không biết nói gì thêm .
- Con nói không có duyên là không đúng ! Có nguyện thì có duyên, duyên là do nguyện mà phát sinh.

- Pháp sư chỉ dạy thật đúng ! Hồi con còn ở Đài Loan, tuổi nhỏ tánh ương ngạnh chẳng có y nguyện lên núi đảnh lễ các bậc Trưởng Lão Đại đức, bây giờ con rất hối hận đã để lỡ mất bao nhiêu cơ hội tốt học Phật pháp !
- Điều đó không sao, chỉ cần thành tâm tin Phật học Phật và tu hành; tương lai chúng ta đều sẽ gặp nhau. Ai ai cũng có duyên với Phật, cũng đều là người trên Đại Hội Long Hoa !
 Tôi bỗng giật mình hiểu ra, trước mặt tôi không phải nhục thân do cha mẹ sinh ra của Hoà thượng Quảng Khâm mà là Pháp thân của Ngài ! Tôi nói lớn :
- Hoà thượng ! Ngài thành Bồ-Tát rồi ! Thật là tuyệt diệu !
 Hoà thượng mỉm cười :
- Ai cũng có thể thành Bồ-Tát. Đâu có gì lạ, đi đi … lại lại … tất cả chẳng qua do nguyện mà thôi. 
Tôi không nén được lòng bồn chồn lưu luyến :
- Vậy thưa Ngài, bây giờ Ngài đi đâu ?
- Ra đi rồi trở lại ! đi rồi lại !
- Kính bạch Pháp sư, Ngài có pháp huấn gì chỉ dạy cho đệ tử ?
- Không ! – Ngài lắc đâu mỉm cười : “ Không có ! ”
- Kính xin Pháp sư khai thị cho con ! - Ngài vẫn mỉm cười :
- Không có !

Pháp thân Ngài dần dần mờ nhạt … hào quang dần dần tan biến …
Một sát-na sau khi Ngài biến mất hào quang vụt tắt, bỗng nhiên ra hàng ngàn viên xá-lợi bảy màu chiếu sáng, vô cùng rực rỡ trang nghiêm, trong khoảnh khắc quang hoa cũng tắt lịm.

Trước mắt tôi vẫn một màn đen bao trùm gian phòng tĩnh mịch, ngoài khung cửa sổ bầu trời bàng bạc trắng, chim báo canh đã im tiếng. Tôi biết vừa qua không phải là cảnh trong mộng, tuyệt nhiên không phải ! Tôi rời khỏi giường chuẩn bị công phu khoá sớm. Mẹ tôi ở phòng bên cũng đã thức dậy, tôi biết người đang tụng kinh .

Ngày hôm đó tôi thưa với mẹ tôi : “ Hoà thượng Quảng Khâm chín mươi lăm tuổi ở Đài Loan đã qua đây, có lẽ Ngài đã viên tịch hay sắp viên tịch ! Dường như Ngài muốn con trao truyền một cái gì đó, có thể là Ngài bảo con nhắc cho người đời câu “ Bản lai vô nhất vật ”, hoặc là cho con nhìn thấy trên thân Ngài có hàng ngàn viên xá lợi lóng lánh !”

2. Mọi người chấn động

 Đầu năm có rất hiều bạn phật tử đến nhà tôi mạn đàm, ngày nào cũng đông. Tôi đem điều mình thấy trong định kể lại với họ, ai nấy đều kinh ngạc nói : “ Hoà thượng Quảng Khâm nhất định đã nhập diệt rồi ! “

Trong đám khách có bà L … một nữ phật tử rất thuần thành. Bà là Hoa kiều sống ở Inđônêsia, từng có duyên lành được quy y với Hoà thượng Quảng Khâm. Trước hết bà ta đến thăm tôi, nói sẽ về nước chiêm bái các danh sơn Phật tự. Bà hỏi tôi có cần nhờ bà việc gì không ? Lúc ấy tôi trả lời : “ Bà là đệ tử của Hoà thượng Quảng Khâm, lần này đi Đài Loan nên thường lên núi thăm Hoà thượng, vì Ngài sắp nhập Niết–bàn rồi, sau này có trở lại Đài Loan cũng không còn được trông thấy Ngài nữa ! ” Nhiều ngừơi kinh ngạc hỏi :
- Cư sỹ Bồi Đức ! Anh thấy trước Ngài Quảng khâm nhập diệt? Nhập diệt vào lúc nào? – Tôi nói :
- Hoà thượng đã 94 tuổi, ai mà chẳng đoán được Ngài sẽ nhập diệt nay mai ? Tôi chỉ suy đoán vậy thôi ! Không dám tự cho là thấy trước .

 Ai cũng đồng ý với quan điểm của tôi, nhưng lại có người bảo : “ Hoà thượng Hư Vân 120 tuổi mới nhập diệt, Ngài Quảng Khâm có thể thọ trên trăm tuổi ! ”. – Tôi nói :
- Chỉ cầu mong sao được như vậy ! Chẳng qua tôi linh cảm dường như Hoà thượng sắp hết nhân duyên với thế gian, tôi dự đoán độ khoảng giữa năm, hoặc là trong mùa xuân năm 1986 Ngài sẽ viên tịch. Mọi ngừơi nói : “ Mong rằng lần này anh thấy không đúng ! ” 

Bà L. trở về nước hành hương. Và đúng thật, bà làm theo lời tôi, lên núi hầu thăm Hoà thượng, bà có phước duyên lớn được cùng chúng đệ tử hầu cận Ngài trong 10 ngày. Sau khi trở lại Canađa bà liền đến gặp tôi và có mặt trong đám đạo hữu, hôm đó nhằm ngày mồng bốn.

Bà nói : “ Sư phụ tinh thần rất tốt, Ngài rất hiền từ, anh bảo rằng Ngài sắp nhập diệt, chắc là anh nói sai đấy . ” – Tôi nói :
 “ Tôi cũng không dám chắc điều tôi nói đúng hay sai, tôi chỉ mong những gì tôi thấy là không đúng; tôi nguyện cầu Ngài Quảng Khâm cũng giống như Hoà thượng Hư Vân, thọ trên trăm tuổi để dìu dắt chúng ta. Dù sao, điều tôi thấy đêm qua là điềm chẳng được cát tường cho lắm, có thể là vào lúc này Ngài đã …. ”- Tôi giật mình la lên :
- Ôi thôi ! Ngài viên tịch rồi ! Ngài viên tịch rồi !
 Mọi người kinh ngạc hỏi dồn lớn tiếng :
- Vì vậy ? vì vậy ? – Tôi đáp :
- Hình như ba bốn tiếng đồng hồ trước đây Ngài đã nhập diệt rồi !
 Tôi nói tiếp :
- Quý vị nên ghi nhớ thời địểm này, hôm nay là ngày 12 tháng 3 năm 1986, tức là ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch, vào lúc 11 giờ 15 phút buổi sáng ; Đài Loan hiện giờ khoảng 3, 4 giờ chiều ngày mồng 5 . Tôi thấy Hoà thượng Quảng Khâm nhập diệt, toàn thân Ngài có xá-lợi lóng lánh chiếu sáng.

3. Nhập Niết-bàn

 Bạn bè trong buổi họp dần dần im lặng nghiêm trang, có vài ngừơi cúi đầu nức nở. Một vị lên tiếng :
- Nhất định anh thấy sai rồi ! Bội Đức, nhất định là anh thấy không đúng ! – Tôi bức rức trong lòng :
- Cầu mong sao tôi đã thấy sai !
- Đợi một hai ngày nữa xem sao ! – Một vị khác góp ý – Hay là chúng ta gọi điện thoại qua Cao Hùng hỏi thử ? – Có người can :
- Như vậy không nên ! Gọi điện thoại mà hỏi Hoà thượng còn hay mất thì sao được !
- Vậy thì hãy đợi thêm vài ngày nữa thế nào, xem bên Đài Loantin tức gì không ? – Và đây là quyết định chung của mọi người .
 Tôi liền gọi điện thoại cho bác La Ngọ Đường và bác ruột tôi – Phùng Công Hạ, kể lại hiện tượng bất thường như tôi đã thấy, cả hai vị cùng khuyên tôi nên chờ tin.
 Chiều ngày mồng 6, vào lúc bảy giờ chuông điện thoại reo … có tiếng cô nhân viên trực tổng đài viễn thông Đài Bắc nói qua máy :
- Mời ông Phùng Phùng nghe điện thoại.
- Tôi đây ! – Tôi khẩn trương nói qua máy : … “ Tôi biết, đó là ông Lý Vân Bằng thuộc Thiên Hoa Công ty gọi điện cho tôi, xin nối điện thoại ”… - Tôi nói ngay :
- Lý tiên sinh
- Tôi là Lý Vân Bằng đây. ( Đúng là tiếng ông Lý Vân Bằng gọi từ Đài Bắc ) Anh có biết Hoà thượng Quảng Khâm … 

 Ông Lý nói ngay về Ngài Quảng Khâm, chưa hết câu tôi biết liền điều tôi thấy chứng thực. Tôi ngắt lời ông :
- Tôi đã biết rồi. Hoà thượng Quảng Khâm nhập diệt hôm qua ! Trước khi nhập diệt, Pháp thân Ngài xuất thần thị hiện ở bên này, toàn thân Ngài là hào quang, xá-lợi chiếu sáng …
 Ông Lý nói :
- Hoà thượng nhập diệt hôm qua, ngày mồng 5 lúc hơn 2 giờ chiều. Bây giờ tôi muốn hỏi anh, Ngài có để lại xá-lợi không ?
- Ngài Quảng Khâm có rất nhiều xá-lợi ! Có đến vài ngàn viên bảy màu phát ra ánh sáng ; rất nhiều xá-lợi, nhiều lắm ! Tuy vậy, cũng phải dặn họ xử lý cẩn thận khi làm lễ trà-tỳ !
- Như thế là tôi đỡ lo ! – Ông Lý nói – Được mấy lời của anh tôi yên tâm, tôi sẽ thông báo cho họ biết. – Tôi an ủi ông :
- Lý tiên sinh chớ quá thương tâm về Hoà thượng, vì Ngài đã về cõi Niết bàn, Ngài đã thành Phật rồi !
- Vâng, chúng ta nên vui mừng mới phải.

Tất cả chúng ta nên vui mừng mới phải. Hoà thượng Quảng Khâm đã thành Phật thành Bồ-Tát sao chúng ta không vui mà lại bi thương than khóc ? Chúng ta mang cái thân thể vật chất này, cuối cùng rồ cũng trở về với cát bụi. Còn như Hoà thượng là bậc siêu phàm nhập thánh đã vào Niết-bàn, đắc chứng Chân Như, cùng với Chư Phật Chánh đẳng Chánh giác vĩnh hằng trong vũ trụ. Vả lại Ngài còn vì nguyện đại bi sẽ trở lại cứu độ chúng sanh.

Chúng ta phải nên vui mừng mới đúng !

Trước giờ tôi chưa từng được gặp Hoà thượng, và cũng chưa từng thấy Ngài qua hình ảnh. Lần ấy thấy Ngài trong định là lần duy nhất .

Tôi kể lại về hình dáng Ngài, các vị đệ tử của Ngài và các đệ tử thế hệ dưới có mặt trong buổi họp đều nhận rằng hình ảnh miêu tả chính là Hoà thựơng Quảng Khâm. Nghe tôi nói như vậy, ai nấy đều đổi buồn làm vui, niệm Phật liên tục.

Hoà thượng Quảng Khâm và tôi chưa từng gặp gỡ nhau. Tôi không có phước duyên được làm đệ tử Ngài, Vì sao Ngài thị hiện cho tôi thấy ? Sự việc có vẻ như không hợp lý lắm, phải chăng Ngài vì từ bi, nguyện hoằng pháp độ sanhthị hiện khắp nơi, và không nỡ bỏ đứa bé căn cơ thấp kém như tôi ? Tôi tin như thế. Nhất định không chỉ riêng mình tôi được nhìn thấy Pháp thân Ngài thị hiện, chắc chắn còn có nhiều người khác cũng được thấy Pháp thân Kim quang của Ngài trong mộng hoặc trong định. Tôi tin rằng Ngài ban bố Pháp ân như mưa móc rải khắp bầu trời. Có người cho rằng vì tôi thường nghe người ta nói về Hoà thượng, ngày nghĩ tưởng điều gì đêm nằm mơ thấy điều ấy ; vì tôi hằng ngưỡng mộ Ngài nên sinh ra ảo giác.

Huyễn cũng được mà chân cũng được. Huyễn cũng là chân, chân cũng là huyễn, - quan điểm của tôi là vậy. Tâm linh cảm ứng thì ngàn đặm không là xa, âm dương không cách biệt, - đó là sự thực mà khoa học ngày nay đã chứng minh. Tôi tin rằng lần ấy Hoà thượng Quảng Khâm dùng huyễn để thị hiện chân.
Được tin sau cùng :
Sau khi hỏa táng Ngài, quả nhiên có mấy ngàn hạt xá-lợi bảy màu !
 
Chúng ta hãy tu hành tinh tấn hơn ! Niệm Phật nhiều hơn !
 
Nam-mô A-Di-Đà Phật !
Nam-mô A-Di-Đà Phật 

XÁ-LỢI LINH THIÊNG
CỦA HOÀ THƯỢNG QUẢNG KHÂM
Đại Hoang
Trích từ đặc san “ Trung Quốc từ thiện chi thanh ” 
 “中国慈善之声”

Đại lão Hoà thượng Quảng Khâmvị Đạo Sư tinh tấn của Phật Giáo – đã sống suốt một đời tu khổ hạnh, đồng thời cũng là một đời đầy truyền kỳ. Ngài từng sống khổ tu trong động trên đỉnh núi 13 năm, hàng phục mãnh hổ, cảm hoá vượn linh, nhập định bốn tháng suýt bị hoả thiêu, biết trước bão tố, tránh trước tai nạn xe, trước lúc vãnh sanh tự an bài hậu sự …. Rồi “ vỗ bụng thanh thoát ra đi ”. Thật ra, Ngài “ không đến cũng không đi, chẳng có việc gì ”; Xá-lợi để lại sau khi trà–tỳ (hoả thiêu) cũng biểu thị tính thần kỳ và linh hiển.

Theo lời kể : Sau Lễ trà-tỳ, người ta nhặt được tổng cộng trên một trăm viên Xá-lợi lớn, những viên còn lại tương đối nhỏ hơn được các đệ tử tại gia chia nhau thỉnh hết. Có một phật tử tới chậm quỳ trước lò hoả táng cầu nguyện suốt đêm, đến khi trời sáng thấy trước chỗ quỳ có một viên Xá-lợi lớn .

Lại có một phật tử đem một nắm tro linh cốt về thờ trong nhà, sau đó phát hiện ra có mấy viên Xá-lợi.

Hai vợ chồng đệ tử nọ than dự đại lễ trà-tỳ Sư phụ xong, ngay trong ngày đó trở về miền Bắc. Hôm sau (mồng 7 tháng 2) họ nghe nói Hoà thượng để lại nhiều Xá-lợi, liền vội vã lái xe quay vào Nam, đến lò hoả táng, phát hiện trên mái lò có rất nhiều Xá-Lợi.

Một thiếu nữ phật tử tìm thấy trong những hoa Xá-lợi một hoa hình dạng rất giống toà sen của Bồ-Tát Quán Thế Âm.

Một bà già tuổi cao, mắt mờ không biết làm sao tìm kiếm cho ra những hạt Xá-lợi nhỏ li ti, bà liền quỳ xuống cầu xin Sư phụ từ bi, ba lần khấn lạy … được ba viên Xá-lợi ! Thật là không thể nghĩ bàn.

Một ông họ Trương bảy mươi tuổi mắt mù, nhà ở Đài Bắc, cũng là đồ đệ của Ngài Quảng Khâm ( ông thọ giới trong mùa đông năm trước ). Vì ông bị bệnh phong thấp nên người nhà chưa kịp báo tin về sự viên tịch và lễ hoả táng Hoà thượng. Hay tin Sư phụ vãng sanh, ông liền cùng với đứa cháu gái, trong ngày 7 tháng 3 thuê xe xuống miền Nam. Đến “ Hoả hoá trường” chùa Diệu Thông, tất cả Xá-lợi trong lò hoả táng đã vào tay các phật tử đến trước ! Đau buồn cùng cực, ông khóc ròng vật mình ngã xuống trước lò, hai tay cào vốc hai nắm tro, lấy khăn tay bọc lại, rồi lên chiếc xe cũ ra về; trên đường đi ông không ngừng mặc niệm “ Nam-mô A-Di-Đà Phật ”. Về tới nhà ông đem ngay nắm tro hoả táng đặt lên một cái dĩa sơn mài … kỳ lạ thay, trong nắm tro có trên 30 viên Xá-lợi - lớn có nhỏ có – lóng lánh sáng trưng, những ai chứng kiến đều cho là kỳ diệu

Hết

Lưu hành nội bộ

Tạo bài viết
15/05/2010(Xem: 106612)
23/09/2010(Xem: 67518)
27/09/2010(Xem: 72938)
Vào lúc 7 giờ sáng nay, 11-11-2019 (nhằm ngày Rằm tháng 10, Kỷ Hợi), đông đảo Tăng Ni, Phật tử, các pháp tử đã di quan Đại lão HT.Thích Trí Quang đến nơi trà-tỳ (hỏa táng), công viên Vĩnh Hằng, thuộc xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, cách trung tâm thành phố Huế 11 km về phía Tây.