Tìm ra “Long-Nữ” Việt-Nam

06/03/20163:53 CH(Xem: 763)
Tìm ra “Long-Nữ” Việt-Nam

Điểm sách:
TÌM RA “LONG NỮ VIỆT NAM”

Nguyễn Ngọc Bích

Năm ngoái, con trai thứ của bà Ngô Đình Nhu, anh Ngô Đình Quỳnh, cho xuất bản ở Pháp hồi-ký của mẹ anh mang tên Le Caillou Blanc (“Hòn cuội trắng”) dưới tên La République du Việt-Nam et les Ngô-Đình (“Việt-nam Cộng-hòa và nhà Ngô-đình”). Tôi may mắn được Ca Dao mua được cho một cuốn ở hôm ra mắt cuốn sách. Nhưng đọc, ta thấy khá ngỡ ngàng vì cuốn hồi-ký do chính bà Nhu viết bằng tiếng Pháp đã bị cắt xén, sắp xếp lại khá nhiều bởi chính anh Quỳnh và em gái, Ngô Đình Lệ Quyên, cùng với một người bạn của gia-đình, bà Jacqueline Willemetz.

Finding the Dragon Lady
Bìa quyển sách:
Finding the Dragon Lady

Sở dĩ ta biết có chuyện này là vì theo Monique Brinson Demery, tác-giả cuốn Finding the Dragon Lady (mà tôi xin tạm dịch ra thành “Tìm ra ‘Long Nữ” Việt-nam”), hồi-ký Le Caillou Blanc của bà Nhu Trần Lệ Xuân gồm hai tập dầy, viết một cách khá lộn xộn (như một tài-liệu “viết bằng mã-số,” trang 194). Nhưng dù như ta chỉ được đọc phần được trích dẫn trong sách của anh Quỳnh thì ta cũng sẽ thấy là bà Nhu tự coi mình như là một người được Chúa gọi để thực-hiện một sứ-mạng dưới trần-gian này, kể cả mang thánh-giá cho dân-tộc VN (như Chúa Giê-su vậy). Nói cách khác, bà là một người hoang-tưởng nhưng không phải vì thế mà bà sai trong một số những nhận-định hay tiên-đoán của bà.

Bà có cái nhìn rộng, một thứ nhìn chiến-lược vì trong một thế-giới trọng nam khinh nữ của thời Đệ nhất Cộng-hòa, bà đã dám tranh đấu cho phụ-nữ-quyền (qua luật Gia Đình của bà), dám nghĩ đến động-viên phụ nữ vào chuyện chống Cộng giữ nước (“giặc đến nhà, đàn bà phải đánh”), đòi cho chính mình một tiếng nói vào chuyện quốc gia đại-sự. Như đã hơn một lần bà khuyên hai anh em ông Diệm (trong vụ chính-biến ngày 11/11/1960, chẳng hạn) mà rồi đã tỏ ra là bà đúng (lần đó bà khuyên hai ông Diệm-Nhu cứ nên cứng rắn với phe đảo chánh).

Nhưng có một điều là bà không giữ được cái miệng của bà. Sử-gia Demery không biết nhà Phật có câu “vạ miệng” rất chính-xác để mô-tả cái tật đó của bà Nhu. Khi gọi sự hy-sinh của Thượng-tọa Thích Quảng Đức là một vụ “nướng sư” (“monk’s barbecue”) và còn tuyên-bố là bà sẽ vỗ tay khi họ tiếp-tục thì đã tỏ ra cho cả thế-giới biết là bà không có một lòng nhân tối-thiểu, một sự thương xót rất con người mà thậm chí đẩy cả bố mẹ bà đi đến chỗ phải phủ-nhận bà.

Bà có một khả-năng chối bỏ sự thật rất kinh hoàng, như khi bà không tin là em bà, Trần Văn Khiêm, đã giết cả bố lẫn mẹ, ông bà cựu-đại-sứ Trần Văn Chương, trong một cơn điên ở Washington. Bà nhất-quyết cho đó là một sự “frame up” tức có người âm-mưu nhằm đưa ông Khiêm vào tù và làm nhơ nhớp tiếng tăm của gia-đình bà (trang 14). Bà còn hoang-tưởng trong nhiều chuyện khác nữa nhưng ai cũng phải công-nhận bà là một người đàn bà can đảm, dám nói, dám làm. Nhà báo Morley Safer của chương-trình 60 Minutes trên CBS đã viết về cuốn sách của bà Demery:

“Người ta nói về [nhà thơ] Lord Byron là ông ta ‘điên, tệ hại, và nguy hiểm đối với ai biết ông ta.’ Đem áp-dụng nhận-định đó cho bà Trần Lệ Xuân… cũng không phải là dở. Monique Brinson Demery đã khéo léo bắt nắm được cả thời-đại của người phụ nữ đã dám thách thức cả chính-phủ của mình, các lực-lượng Cộng-sản Bắc-Việt, và cả người Mỹ nữa.”

Cuối cùng, với một cái nhìn lại sau 50 năm, với sự nguôi ngoai của giận hờn, yêu ghét thì có lẽ như một nhân-vật trong kịch của Shakespeare hay như một con người của bi-kịch Hy-lạp, bà Nhu đã hiện ra như một con người bị Định Mệnh đuổi theo ráo riết, không khoan nhượng. Bà đang ở Los Angeles mổ một khối u ở mắt thì được tin chồng bà và anh chồng đã bị bên quân-nhân đảo chánh giết chết một cách dã-man, bà nói liền với các nhà báo Mỹ: “Tôi có thể tiên-đoán với tất cả Quý Vị rằng câu chuyện Việt-nam đến đây mới chỉ là bắt đầu.”

Ba tuần sau, chính Tổng-thống Kennedy bị Lee Oswald bắn chết ở Dallas, Texas. Tổng-thống Johnson lên cầm quyền, đưa quân ồ ạt vào Việt-nam. Và câu chuyện Việt-nam kéo dài và kết thúc bi đát làm sao, chúng ta đều biết cả.

Và trong câu chuyện lớn giữa Việt-nam và Hoa-kỳ, có lẽ cũng ít có hai gia-đình nào bị tắm máu trong bi-kịch như hai gia-đình Kennedy và Ngô Đình, trong đó có bà Nhu, con bà và bố mẹ bà.

Điều đáng phục là tác-giả cuốn Finding the Dragon Lady, sử-gia Monique Brinson Demery, sinh năm 1976 sau chiến-tranh Việt-nam. Tuy không có một ký-ức nào từ cuộc chiến của Mỹ ở Việt-nam, bà đã tò mò muốn tìm hiểu, đi học về Á-đông-học để tìm hiểu, kể cả sang Hà-nội học hai năm tiếng Việt để có đủ vốn chữ nghĩa lần mò vào các văn-khố Pháp (mẹ bà là người Pháp), văn-khố Mỹ, sưu-tập về chiến-tranh của ông Douglas Pike, các thư-viện của các Tổng-thống Kennedy, Nixon và Johnson, để tìm ra không biết bao nhiêu chi-tiết về cuộc chiến, về gia-đình Ngô Đình và về bà Nhu. Nhờ vào sự kiên trì không bỏ cuộc, bà đã may mắn tìm được hồi-ký của bà Nhu viết vào các năm 1959-63 (do một quân-nhân Mỹ, ông James Van Thach giữ được) rồi lại được chính bà Nhu gởi cho hồi-ký viết vào cuối đời bằng tiếng Pháp, Le Caillou Blanc, để chiết lọc được ra những sự thật về một con người mà ít ai, kể cả người Việt, đã có thể nói được là hiểu nhiều trong lịch-sử nước ta. Dù như không bao giờ được gặp trực-diện bà Nhu, ta phải ngả mũ chào tác-giả Demery là đã viết nên được “one hell of a story” (“một câu chuyện thần sầu”) như một bài báo trên tờDaily Beast viết.

Nguyễn Ngọc Bích
Nguồn: Bài do nhà văn Trịnh Bình An gửi

http://sangtao.org/2016/03/06/tim-ra-long-nu-viet-nam/


Bài đọc thêm:

TÍNH CHÂN XÁC LỊCH SỬ TRONG TÁC PHẨM DỊCH
Lê Nguyễn 08:00 22/03/2016


Madam Nhu Trần Lệ Xuân
Bìa sách: Madam Nhu Trần Lệ Xuân:
Quyền lực Bà Rồng

Trong tác phẩm biên khảo lịch sử, tất nhiên trách nhiệm về tính chân xác của các sự kiện và nhân vật lịch sử trước tiên thuộc về tác giả, kế đến là người biên tập của nhà xuất bản theo cơ chế hiện hành. Đối với tác phẩm dịch thuật, trách nhiệm đó không nhiều thì ít còn thuộc về người dịch, trong trường hợp tác giả để lọt nhiều chi tiết thiếu chính xác về mặt lịch sử...

Tác phẩm "Madam Nhu Trần Lệ Xuân: Quyền lực Bà Rồng", dịch giả Mai Sơn, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành trong thời gian gần đây gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ về tính chân xác lịch sử của một tác phẩm. Xin chỉ bàn sơ lược về hai khía cạnh:

Tính chân xác về sự kiện và nhân vật lịch sử:

Điều trước tiên có thể nhận thấytác giả Monique Brinson Demery không hề có một ý niệm nào về lịch sử Việt Namliên quan đến thời kỳ các nhân vật được đề cập đến trong tác phẩm của cô. Về nhân vật Thân Thị Nam Trân, thân mẫu bà Trần Lệ Xuân, những sai sót biểu lộ một cách khá rõ ràng. Ở trang 15, tác giả Demery viết rằng bà Nam Trân là "công chúa, con của Kiên Thái vương (em vua Tự Đức)…". Kiên Thái vương là cha ruột của ba ông vua Đồng Khánh, Kiến Phúc và Hàm Nghi ("Một nhà sinh đặng ba Vua / Vua còn, Vua mất, Vua thua chạy dài"), mất năm 1876.

Nếu là con Kiên Thái vương, bà Nam Trân phải sinh ít nhất vào năm 1876, và do đó bà sẽ lớn hơn chồng bà, ông Trần Văn Chương, vốn sinh năm 1898, những 22 tuổi.  Khi làm quan sát viên Việt Nam Cộng hòa tại Liên Hiệp Quốc vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, bà Nam Trân phải gần 90 tuổi, và khi chết (1986), bà đã 110 tuổi! Tất nhiên chi tiết này rất sai, vì ở trang 31, tác giả Demery đã kịp đưa bà Nam Trân từ cương vị em gái vua Đồng Khánh (trang 15) trở về vị trí cháu ngoại của chính ông vua này: "Hoàng đế Đồng Khánh, người trị vì trong thời gian ngắn ngủi từ 1885 đến 1889, là ông ngoại của bà".

Song chính ngay chi tiết bà Nam Trân là "cháu ngoại vua Đồng Khánh" cũng không có cơ sở chứng lý nào vì không thấy có tư liệu khả tín nào xác định thân sinh bà, Thượng thư Thân Trọng Huề, là phò mã của vua Đồng Khánh. Rồi tác giả lại viết: "Một loạt những người anh em họ của bà đã thay nhau kế vị ngai vàng kể từ đó". Điều này càng buồn cười hơn, vì nếu có là cháu ngoại vua Đồng Khánh thì bà Thân Thị Nam Trân ở cùng thế hệ với ông Vĩnh Thụy, tức vua Bảo Đại, cháu nội vua Đồng Khánh. Vĩnh Thụy là người duy nhất thuộc hàng cháu vua Đồng Khánh được cử làm vua, có đâu mà hàng loạt anh em họ của bà Thân Thị Nam Trân thay nhau kế vị ngai vàng như thế!

Về năm sinh của bà Thân Thị Nam Trân, cũng có nhiều điều đáng bàn. Theo nhiều tư liệu phổ biến sau cái chết của ông Trần Văn Chương và bà Thân Thị Nam Trân vào năm 1986 thì bà sinh vào năm 1910 hay 1911. Con gái thứ hai của bà là Trần Lệ Xuân sinh năm 1924, chị của bà Trần Lệ Xuân là Trần Lệ Chi sinh khoảng năm 1922-1923, như vậy, khi sinh con, bà Thân Thị Nam Trân mới 11-12 tuổi! Điều này cho phép chúng ta nghi ngờ về những con số liên quan đến năm sinh, tuổi tác của thân mẫu bà Trần Lệ Xuân, đành chờ sự xác định rõ ràng hơn của các bậc thức giả.

Những chi tiết lịch sử như thế tưởng rằng nhỏ, song không hề nhỏ, khi được viện dẫn để kể lại cuộc đời của các nhân vật lịch sử. Chúng có thể được làm nền cho sự tin tưởng hay không vào những chi tiết khác mà người đọc chưa biết rõ hay còn hoài nghi ở một vài điểm.

Những chi tiết đáng bàn trên gợi cho chúng ta về trách nhiệm của người dịch và nhà xuất bản đối với một tác phẩm nước ngoài có dính dáng ít nhiều đến lịch sử Việt Nam. Trong trường hợp người dịch hay người biên tập không có đủ kiến thức lịch sử bao quát về thời kỳ đang được đề cập đến, theo thông lệ, nhà xuất bản cần có thêm một người am hiểu làm công việc hiệu đính, giải thích cho rõ hơn các sự kiện còn mơ hồ, đính chính những sai sót, mâu thuẫn của tác giả, giúp người đọc hiểu vấn đề một cách chính xácrõ ràng hơn.

Người dịch có trách nhiệm bám sát bản gốc, dịch chính xác về mặt ngôn từ theo một văn phong phù hợp với ngôn ngữ Việt, đó là chuyện đã đành, song với những sai sót của tác giả quá lộ liễu như đã nêu trên, không thể đổ hết phần trách nhiệm cho tác giả vốn là người nước ngoài không am hiểu lịch sử Việt.

Vấn đề ngôn ngữ lịch sử trong các tác phẩm dịch:

Thời Pháp thuộc, nhiều sách báo, tổ chức, cơ quan, đơn vị in bằng chữ Pháp được sách báo Việt đương thời dịch ra tiếng Việt theo một cách dịch riêng, trở thành danh xưng phổ biến vào thời kỳ xuất hiện của chúng. Nếu ngày nay, chúng ta dịch những danh xưng đó theo cách hiểu hiện đại, dù có chính xác hơn, chắc sẽ gây khó khăn cho giới độc giả trẻ khi họ tiếp cận cùng lúc hai cách dịch khác nhau của cùng một ấn phẩm.

Ví dụ tập san "Bulletin des Amis du Vieux Huế", tên dịch nguyên thủy vào thời kỳ tập san này lưu hành là "Tập san Đô Thành Hiếu cổ". Nếu khi dịch, chúng ta dịch là "Tập san những người bạn của cố đô Huế", tuy không sai, song liệu có thể gây ngộ nhận khi người đọc tiếp cận cả hai cách dịch trên không? Tương tự như thế, năm 1880, Pháp thành lập tổ chức Conseil colonial de Cochinchine, sách báo thời đó dịch là Hội đồng quản hạt Nam kỳ chứ không phải là Hội đồng Thuộc địa Nam kỳ như chúng ta hiểu ngày nay; Tập san "Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises" là "Tập san Hội Cổ học Ấn Hoa" chứ không phải là "Tập san Hội Nghiên cứu Đông Dương" như cách hiểu hiện tại.

Liên hệ những nhận định trên vào tác phẩm viết về bà Trần Lệ Xuân, chúng ta thấy có những lấn cấn tương tự, chẳng hạn Tổng đốc Trần Văn Thông thì dịch là "Thống đốc tỉnh ở Bắc kỳ thuộc Pháp" - một chức vụ không hề có trong cửu phẩm văn giai của triều đình Huế. Tương tự như thế, trong lúc tiếng nước ngoài (chủ yếu tiếng Anh và Pháp) không có nhiều cách diễn tả như của ta, việc dịch ra tiếng Việt một số tiếng nước ngoài như prince hay princess (prince hay princesse trong tiếng Pháp) đòi hỏi một sự thận trọng và nắm hiểu rõ thân trạng của nhân vật đang được đề cập đến.

Còn nhớ trong một kỳ SEA Games diễn ra tại Brunei, phương tiện truyền thông chính là Đài Truyền hình Việt Nam VTV đã "phong" vị Trưởng Ban tổ chức là "hoàng tử" (con quốc vương), nhưng khi vị này lên thắp đuốc, người ta giật mình vì thấy ông già xấp xỉ vị quốc vương Brunei. Hóa ra, thay vì dịch từ "prince" trên báo chí nước ngoài là "hoàng thân" (thân tộc của vua), người ta đã vội vàng và máy móc dịch từ này là "hoàng tử" (con vua).

Trong tác phẩm của Demery viết về bà Trần Lệ Xuân, ở trang 15, người dịch đã chuyển ngữ:  "…bà Nam Trân, là công chúa, con của Kiên Thái vương (em vua Tự Đức)…". Nếu quả thật, bà Nam Trân là con của một thân vương như Kiên Thái vương thì chẳng thể gọi bà là "công chúa" được, nếu tác giả dùng từ "princess" thì chỉ có thể dịch bà là "công nữ".

Ở trang 16, tác giả Demery viết: "Khi tiếp khách, bà yêu cầu mọi người không được mặc y phục màu vàng, màu hoàng gia, ngoại trừ bà". Chi tiết này cũng khá buồn cười, vì 2 lẽ:

- Nếu quả thực bà Nam Trân là cháu ngoại vua Đồng Khánh, thì với họ Thân thừa hưởng từ thân sinh của bà là ông Thân Trọng Huề, bà chẳng có tư cách gì để xử sự như một người trong hoàng tộc.

- Màu vàng chẳng bao giờ là "màu hoàng gia" cả. Nó là màu sắc dành riêng cho hoàng đế Việt Nam, không ai, kể cả anh, em, con, cháu ruột của nhà vua được sử dụng. Về chi tiết này, nếu nguyên bản được dịch đúng, nó chứng tỏ tác giả hiểu và suy diễn một cách sai lạc về một việc làm của bà Nam Trân.

Tất nhiên, một vài suy nghĩ nho nhỏ về mặt lịch sử của một tác phẩm dịch đang được nhiều người tìm đọc không thể ảnh hưởng nhiều đến giá trị của tác phẩm hay bản dịch. Giá trị của nó còn được thử thách bởi thời gian, bởi nhiều tài liệu khả tín khác hay chứng nhân lịch sử của thời kỳ này. Người viết bài này có một vài ý kiến sơ qua về mặt lịch sử, mong đóng góp chút nào vào việc hoàn thiện các bản dịch về sau.

Lê Nguyễn

http://vnca.cand.com.vn/Ly-luan/Tinh-chan-xac-lich-su-trong-tac-pham-dich-386291/  



BBC PHỎNG VẤN DỊCH GIẢ VỀ BẢN DỊCH

Hôm 5/2, từ TP. Hồ Chí Minh, trả lời câu hỏi của BBC "Liệu bản sách dịch có bị lược bỏ những chi tiết hoặc đoạn nào so với bản gốc tiếng Anh. Nếu có thì việc này có được sự đồng ý của tác giả?", dịch giả Mai Sơn đáp:

Khi tôi dịch thì dịch nguyên văn, nhưng trong quá trình duyệt bản thảo và cấp giấy phép ở Hà Nội, họ có đề nghị tôi xem lại một số câu chữ mà họ tô đậm trong bản dịch.

Có thể là bản sách cuối cùng có một số đoạn đã bị lược bỏ hoặc cắt so với bản gốc nhưng vì sách mới ra, tôi chưa có thời gian xem lại họ bỏ những đoạn nào. Việc công ty làm sách thỏa thuận thế nào với tác giả thì tôi không được biết vì tôi chỉ cố gắng làm tròn công việc dịch thuật của mình.

BBC:Việc xin giấy phép cho cuốn này có gặp trở ngại gì không?

Năm ngoái tôi bỏ ăn Tết để dịch theo yêu cầu của công ty làm sách cho kịp tiến độ dự trù là xuất bản vào tháng 4/2015, nhân dịp 40 năm sự kiện 1975.

Nhưng rồi khâu cấp phép gặp một vài trắc trở, mà tôi không rõ lý do chính xác nên đến nay sách mới phát hành được. Dù vậy, tôi nghĩ đây cũng là thời điểm thích hợp để người ta mua cuốn sách về một nhân vật lẫy lừng của Sài Gòn và đọc trong những ngày xuân sắp đến.
http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2016/02/160205_tran_le_xuan_book_mai_son 


Tạo bài viết
18/09/2010(Xem: 40042)
16/10/2014(Xem: 14688)
Cứ mỗi mùa Phật Đản về, là hoa đăng trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè lung linh sắc màu huyền ảo..
Đức Đạt Lai Lạt Ma hội thoại với dân Việt Nam tại Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng cũng như một nhóm người Việt tại nơi cư trú của ngài ở thị trấn Dharamsala, Ấn Độ