Dẫn Nhập Chagdud Tulku

28/09/201012:00 SA(Xem: 14056)
Dẫn Nhập Chagdud Tulku

DẪN NHẬP
CHAGDUD TULKU

Khi còn là một đứa bé ở Tây Tạng, thỉnh thoảng tôi tìm thấy mẹ tôi, Delog Dawa Drolma, được những thính giả vây quanh và hết sức chăm chú lắng nghe bà nói về những cuộc du hành của bà tới các cõi giới khác. Khuôn mặt bà sáng ngời khi đề cập tới các Bổn tôn trong các cõi thanh tịnh; những giọt nước mắt tuôn rơi khi bà tả lại những khốn khổ của chúng sinh trong địa ngục và các ngạ quỷ (preta), hay các tinh linh đau khổ. Bà nói về việc gặp gỡ những thân quyến đã chết của những người nào đó, và từ người chết bà tiếp âm tới người sống những bận tâm về những công việc không ngừng dứt (có thể là những đồng tiền hay châu báu được chôn dấu mà không thể xác định vị trí) hoặc những van nài khẩn thiết xin được cầu nguyện hoặc cử hành các buổi lễ. Bà cũng đem về lời dạy tâm linh của những Lạt ma cao cấp đã lìa bỏ thế giới này và các Lạt ma ở bờ bên đây của cái chết đã đáp lại nó bằng sự cung kính sâu xa.

Mẹ tôi được tôn kính trên khắp đất nước Tây Tạng bởi những năng lực siêu phàm như một Lạt ma, nhưng bà nổi tiếng hơn vì là một delog (phiên âm theo Anh ngữ là DAY-loak), người đã vượt qua ngưỡng cửa của cái chết và trở về thuật lại chuyện đó. Điều bà thuật lại không phải là một kinh nghiệm cận tử hão huyền hay nhất thời. Suốt năm ngày, bà nằm lạnh ngắt, ngừng thở, và không có bất kỳ dấu hiệu nào của sự sống, trong khi tâm thứcdu hành tự do tới các cõi giới khác, luôn luôn được vị thiên nữ trí tuệ Tara Trắng hộ tống. Bà thực hiện cuộc du hành của mình như một delog phù hợp với các giáo huấn đã nhận từ Đức Tara trong các linh kiến, nhưng đi nghịch lại ước muốn của các Lạt ma của bà, các ngài nài xin bà đừng làm một việc mạo hiểm như thế. 

Đặc biệt là bà, một thiếu nữ mười sáu tuổi, có nhiều xác quyết trong thiền định khiến bà trổi vượt hơn các vị Lạt ma hết sức uyên thâm và lớn tuổi hơn bà. Tuy thế, bản thân bà được xác nhận là một hiện thân của Đức Tara Trắng, một năng lực mạnh mẽ của tâm giác ngộ vì sự trường thọgiải thoát của chúng sinh. Suốt thời thơ ấu, Dawa Drolma đã biểu lộ một lòng bi mẫn sâu xa. Không người hành khất nào tới lều của chúng tôi phải ra đi mà không có quà tặng của bà là bất kỳ thứ gì bà có thể đặt tay lên - gia đình tôi phải cất dấu những món quý giá kẻo bà đem cho mất. 

Căn lều bằng nỉ đen của gia đình chúng tôi có thể chứa bốn trăm người trong suốt những buổi lễ lớn. Mọi người thể hiện lòng tôn kính đối với Dawa Drolma bằng cách mời bà ngồi trên một cái ngai cùng với các Lạt ma cao cấp khác, kể cả bốn người chú của bà là những vị nổi tiếng khắp miền đông Tây Tạng. Bản thân bà là người cầu toàn trong việc cử hành nghi lễ. Vài năm trước tôi đã gặp một nhà sư, ông nhớ lại vẻ giận dữ của bà khi ông thổi kangling (kèn lễ) quá tệ. Sự hiện diện của bà thôi thúc mọi người phải cẩn trọng trong từng giai đoạn thực hành nỗ lực lẫn việc nhận ra rằng bản tánh nền tảng của những giai đoạn này là sự tỉnh giác không cần dụng công

Những giấc mơ và linh kiến của bà là những khám phá của sự chứng ngộ, và chúng chuẩn bị cho kinh nghiệm delog của bà được rõ ràng đáng tin cậy trong các giáo huấn. Những e ngại của các Lạt ma khẩn nài bà đừng thực hiện một cuộc du hành như thế - đúng ra là ăn chay, dùng thuốc, và cử hành các buổi lễ - không phải là không có căn cứ, tuy nhiên - sau khi bà mất và đi tới cõi thuần tịnh của Đức Padmasambhava, bà gặp người chú quá cố của bà là Đạo sư tôn kính Khakyod Wangpo, ngài cảnh báo là bà sẽ gặp nguy hiểm khi ở lại và bảo bà nên trở về cõi người để làm lợi ích chúng sinh

Sau này, khi bà du hành qua bardo, hay trạng thái trung gian giữa cái chết và sự tái sinh, và tới các cõi địa ngụcngạ quỷ, một hiện thân của nữ Bổn tôn Vajravarahi tỏ vẻ nghi ngờ việc Dawa Drolma có thể đem lại nhiều lợi lạc. “Con gái của ta, có thể con cần trở về cõi người. Nhưng.. khi đã tái sinh làm một phụ nữ, con sẽ có chút uy quyền.. Sẽ khó làm cho chúng sinh trong thời đại suy hoại này tin rằng những tường thuật của con là chân thực.”

Đức Tara Trắng không đồng ý với tuyên bố này, Ngài nói: “Cô ta là một nữ anh hùng với tâm hồn dũng cảm,” và nói thêm rằng bà đừng nên nghe lời những ai cố gắng gây trở ngại cho bà. “Nếu cô ta trở về thế giới con người, cô ấy có thể nói rõ những chọn lựïa đạo đức trong việc chấp nhận những thiện hạnhtừ bỏ các ác hạnh. Cô ấy có thể xoay chuyển tâm thức của chúng sinh hữu tình.” 

Quả thực kinh nghiệm trực tiếp về những cõi giới khác đã làm cho mẹ tôi có một quyền lực tâm linh vĩ đại khi bà giảng về hành vi đúng đắnnhân quả nghiệp báo. Không ai nghi ngờ điều bà nói, không chỉ vì những Lạt ma vĩ đại như Tromge Trungpa đã chứng kiến tử thi của bà trở lại cuộc đời, mà cũng bởi bà đã biết chỗ cất dấu những đồng tiền và những hành động của người đã khuất trước khi họ chết - là những việc mà bà không thể biết nếu không được những người bà gặp trực tiếp cho biết khi bà là một delog. Sau này trong đời bà, một trong những người cộng tác nhiệt thành nhất trong những công trình của bà là một thương gia Tây Tạng, ông ta từng là một người vô thần cứng đầu trong vùng cho tới khi mẹ tôi gởi tới ông thông tin về số tiền chôn dấu của người chị quá cố của ông.

Ở đây, tường thuật của Dewa Drolma sống động như tường thuật của một du khách miêu tả một xứ sở người ấy đã viếng thăm, tuy thế tường thuật của bà thực sự là một cuộc hành trình của tâm thức qua những phô diễn thanh tịnhbất tịnh của tâm. Nó bắt đầu khi, như Đức Tara chỉ dạy, “Tôi để tâm tôi an trụ. Trong một tâm thái khoáng đạt và cực kỳ hỉ lạc, tôi kinh nghiệm một trạng thái hoàn toàn trong sáng.. Tôi hoàn toàn tỉnh giác về trạng thái nền tảng của tâm tôi trong mọi tính chất thông thường của nó. Bởi giác tánh đó không bị ngăn che, tôi như thể nghe được tất cả những âm thanh và tiếng nói trong mọi xứ sở, chứ không chỉ ở vùng lân cận.”

Khi sự tham luyến, sân hậnsi mê thông thường của sự nhị nguyên đối tượng-chủ thể hoàn toàn biến mất, ta kinh nghiệm giác tánh không bị tạo tác, trần trụi - tuyệt đối, không hai, siêu vượt ý niệm, tánh Không tràn đầy mọi phẩm tính thuần tịnh và năng lực để hiển lộ như hình tướng bất khả phân với tánh Không. Đây là Phật tánh, bị ngăn che và không được nhận ra trong tâm chúng sinh, nhưng hoàn toàn được hiển lộ nơi những bậc giác ngộ

Để làm lợi ích chúng sinh, các bậc giác ngộ hóa hiện một cách tự nhiên các cõi của sự xuất hiện thuần tịnh, chẳng hạn như Núi Huy Hoàng Màu-Đồng Đỏ của Đức Padmasambhava, Núi Potala (Phổ Đà) của Đức Avalokiteshvara, và Yulokod của Đức Tara. Những hành giả đã tịnh hóa dòng tâm thức và những người đã tích tập công đức rộng lớn nhờ thiện hạnh của họ có thể kinh nghiệm các cõi thuần tịnh trong các linh kiến, trong các giấc mơ, hoặc, như mẹ tôi đã làm, như một delog. Đứng về phương diện địa lý vũ trụ thì tường thuật của bà hết sức đặc biệt. Nó được miêu tả đầy đủ chi tiết, tuy thế chắc chắn là những cõi giới mà bà thăm viếng là sự phô diễn tráng lệ của bản tánh tâm, được kinh nghiệm khi thiền định xuyên thủng những giới hạn của tri giác bình phàm. 

Các cõi thuần tịnh là sự phô diễn của tâm, nhưng vì thế nó cũng là trạng thái bardo và sáu nơi đến của sự tái sinh. Khác biệt nằm ở chỗ các cõi thuần tịnh là sự phô diễn của giác tánh giác ngộ, trong khi sáu cõi và bardo là sự phô diễn của mê lầm và sự phóng chiếu của những độc chất của tâm. Cõi địa ngục là một phóng chiếu của sự thù ghét, sân hậnác hạnh sát sinh; cõi ngạ quỷ là một phóng chiếu của sự tham lamthèm muốn; cõi súc sinh là một phóng chiếu của sự ngu si; cõi bán thần là phóng chiếu của đức hạnh bị ô nhiễm bởi sự ganh tị; cõi trời là một phóng chiếu của đức hạnh bị hư hỏng bởi sự kiêu ngạo; cõi người là một phóng chiếu của một sự hòa trộn tất cả năm độc kết hợp với đức hạnh tối thiểu để ngăn chặn việc tái sinh nơi các cõi thấp. Tái sinh làm người may mắn được đặt nền trên một số lượng đức hạnh rộng lớn và giúp cho ta thực hành một con đường tâm linh. Mẹ tôi thường nói: “Cho dù cuộc sống làm người của con có khó khăn tới đâu, nhưng những khó khăn ở đây không thể so sánh với những khốn khổ trong các cõi thấp.” 

Loài ngườisúc sinh cùng sống trong thế giới này và cùng có khuynh hướng nhìn mọi sự như cái gì hết sức vững chắc, thật có. Khi cái chết chia cách tâm và thân, và lột trần sự kiên cố tương đối của sắc tướng, tâm thức trần trụi đi vào trạng thái bardo sau-cái chết. Nếu không sớm đạt được giải thoát trong sự phô diễn thuần tịnh của bardo chân tánh của thực tại, thì tâm thức của ta bị đẩy vào bardo trở thành, sau giai đoạn này nó sẽ tái sinh ở một trong sáu cõi của kinh nghiệm phù hợp với nghiệp của ta. 

Như thể trong một giấc mơ hay ảo giác, chúng sinh trôi lềnh bềnh ở trong và ngoài tri giác của Dawa Drolma như những bông tuyết. Trong chốc lát bà gặp gỡ một người quen đang chịu đựng những đau khổ ghê gớm nhất của địa ngục hay một ngạ quỷ trải qua những thống khổ của sự thiếu thốn cực độ; giây lát kế tiếp bà gặp một người đức hạnh trên đường đi tới một cõi thuần tịnh hay một vị trong một cõi trời. Thỉnh thoảng, bà thấy toàn bộ đoàn người trong địa ngục hay chúng sinh trong bardo đi tới các cõi thuần tịnh, được dẫn dắt bởi một Lạt ma hay hành giả vĩ đại là những người tới cứu giúp chúng sinh bằng năng lực của những ước nguyện vị tha của mình. Điều này thực sự có ý nghĩa khi ta cầu nguyện “xin vét tận đáy sâu của luân hồi sinh tửgiải thoát chúng sinh.” 

Dawa Drolma đối mặt với Yama Dharmaraja, Thần Chết, và cùng với Đức Tara, bà đã tán thán ông ta bằng một bài ca chứng ngộ:

Nếu nhận ra được, thì chính là đây - bổn tâm của ta;
nếu không nhận ra, đó là Thần Chết phẫn nộ vĩ đại.
Thực ra, đây chính là Đấng Chiến Thắng, Pháp Thân Phổ Hiền (Samantabhadra):
Chúng con đảnh lễtán thán dưới chân Dharmaraja.

Thật ra, mặc dù trong ý nghĩa tuyệt đối, các cõi luân hồi sinh tửbản tánh trống không, chỉ là những phóng chiếu của những mê lầm của tâm thức, nhưng trên bình diện tương đối, nỗi khổ mà chúng sinh phải chịu đựng thì không thể phủ nhận được. Khi Dharmaraja cùng các thuộc hạ của ông liên tục đưa ra nhiều bằng chứng, thì chẳng có cách nói dối hay giả đò nào làm giảm bớt được nghiệp quả của ta. Cuộc đời của ta trôi qua trước mắt ta với từng hành vi tốt và xấu được vạch rõ; những nghiệp quả phát sinh một cách tương ứng. Những mô tả ớn lạnh của Dawa Drolma về những hậu quả khủng khiếp của việc sát sinh và hãm hại người khác cảnh báo thật rõ ràng để ta tránh làm những hành động như thế. Mặt khác, những mô tả quyến rũ của bà về những cõi thuần tịnh khiến ta hứng khởi thực hành thiền định Bổn tôn và để chứng ngộ bản tánh thuần tịnh của những phẩm tính của tâm.

Sau cái chết, ngay cả khi các nghiệp lực xô đẩy tâm thức ta tái sinh trong vòng luân hồi, nhưng nếu trước đó ta đã từng thực hành khá tốt đẹp để tỉnh giác khẩn cầu Bổn tôn thiền định của ta với đức tin, thì ta tức thời tái sinh trong cõi thuần tịnh của vị Bổn tôn đó.

Sau kinh nghiệm delog của mình, Dawa Drolma làm một cuộc hành hương tới Lhasa, ở đó, với phối ngẫu của bà là một Lạt ma cao cấp, bà đã mang thai tôi. Bà sống với ông bà tôi cho tới khi tôi lên bốn, sau đó di chuyển tới tu viện Tanp’hel Gonpa, muốn tới đó phải mất khoảng một tuần trên lưng ngựa. Một ngôi nhà với quang cảnh đẹp đẽ được xây cao trên sườn núi, và bà sống ở đó, được kính trọng như một Lạt ma và một Dakini, một hiện thân nữ của trí tuệhoạt động giác ngộ. Sau đó, bà sinh em gái tôi, T’hrinlay Wangmo, một đứa trẻ phi thườngcuối cùng được xác nhậnhóa thân của một yogini trí tuệ. Cả em tôi lẫn tôi đều hoang dãngang ngạnh, và thỉnh thoảng tôi vẫn còn cảm thấy ân hận về những rắc rối mà tôi đã gây nên cho mẹ tôi. Bà không kềm chế việc sử dụng kỷ luật nghiêm khắc với tôi, nhưng bà cũng quả quyết rằng nếu tôi thực hành Pháp mạnh mẽ và với động lực thanh tịnh thì tôi sẽ đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Những lời khuyên dạy của bà gia hộ sâu xa cho con đường của tôi.

Bà mất năm 1941, không lâu sau khi sinh một bé trai, nó cũng chết hai năm sau. Mẹ tôi mất khoảng giữa tuổi ba mươi, khi ấy tôi mười một tuổi. Xác bà vẫn ở tư thế thiền định trong vài ngày, sau đó đổ gục xuống, cho thấy là tâm thức đã thoát đi. Bà được hỏa táng trên mái nhà bà. Các cầu vồng xuất hiện và năm con kên kên, mà trong Phật Giáo Kim Cương thừa là những con vật tượng trưng cho nhãn kiến siêu việt của yogin chứng ngộ, bay liệng trên đầu. Tôi tin chắc rằng bà đã trở về những cõi thuần tịnh, nhưng tôi cũng không nghi ngờ là bà cũng đã trở lại các cõi địa ngụcngạ quỷ để cứu thoát tất cả những ai có liên hệ với bà. Với lòng bi mẫn, bà tuyệt đối không sợ hãi.

Tôi rời Tây Tạng năm 1959, ngay trước cuộc củng cố xâm lược tàn bạo của Trung Quốc. Năm 1982, sau gần ba mươi năm không có tin tức của gia đình, bất ngờ tôi nhận được một lá thư ngắn của em gái tôi, trong đó kể rằng cô có một bản tường thuật delog của mẹ tôi, đó là bản duy nhất. Sự kiện này giống như một cái móc từ Tây Tạng thả xuống California, tuy thế tôi không thể chụp được nó mãi cho tới năm năm sau khi lập trường chính trị của Trung Quốc đã có phần mềm dẻo hơn. Sau cùng khi tôi về thăm T’hrinlay Wangmo, cô bảo tôi rằng bản văn đã từng bị tịch thu nhưng cô biết được ai giữ nó. Trong những năm tháng khủng khiếp của cuộc Cách Mạng Văn Hoá, khi Kinh điển bị người Trung Quốc dùng làm giấy vệ sinh, cô chẳng thể làm được gì, nhưng ngay khi cảm thấy an toàn, cô đã biếu một số tiền rất lớn để có được bản tường thuật. Chỉ có vài trang bị mất.

Tôi không muốn lấy đi bản gốc của em tôi, nhưng người Trung Quốc ở Szechuan (Tứ Xuyên) thủ phủ của Chengdu (Thành Đô) không cho phép tôi sao chụp nó. Hiểu rằng tôi phải lén đưa nó ra ngoài, tôi có đem sách Tây Tạng từ Hoa Kỳ vềø và đã liệt kê chúng trong tờ khai quan thuế. Tôi ghi thêm bản tường thuật delog vào danh mục sách của tôi và không bị phiền nhiễu khi quá cảnh ở phi trường. 

Vài năm sau, tôi trở về Tây Tạng để đưa cho em gái tôi một bản sao. Tôi vẫn còn giữ bản gốc, tính đến nay tuổi thọ của nó đã hơn sáu mươi, được một người sao chép ghi lại bằng chữ viết tay thật đẹp khi Dawa Drolma thuật lại tiểu sử của bà.

Có những tường thuật delog khác – một trong số đó là tường thuật khá nổi tiếng của nữ hành giả Delog Ling Zha Chhodron. Thư viện Tác phẩmVăn khố Tây Tạng ở Dharamsala có ít nhất là một tá cuốn. Các delog thường là phụ nữ; một số xuất hiện như những cư sĩ bình thường, nhưng chính kinh nghiệm là một dấu hiệu của sự chứng ngộ thiền định vĩ đại, vì thế thực ra các ngài không thể là những người bình thường. Những tường thuật của các ngài làm tăng thêm lòng tin của mọi người nơi giáo lý của các Lạt ma về các cõi vô hình.

Tôi không rõ có những tường thuật nào khác từng được dịch ra các ngôn ngữ Tây phương hay không. Tôi thật may mắn có mối liên hệ với dịch giả tuyệt hảo Richard Barron (Chokyi Nyima) và chủ bút rất có năng lực Mary Racine, họ đã cho ra đời bản dịch Anh ngữ tường thuật của Dawa Drolma. Richard Barron chịu trách nhiệm về các chú thích cuối mỗi chương. Mặc dù các chương được viết với ba cõi thuần tịnh ở phần đầu rồi tới cõi bất tịnh nằm trong chương thứ tư, nhưng nội dung của bản văn dường như cho thấy cuộc du hành không được biểu lộ theo thứ tự như trong quyển sách được xuất bản ở đây: Núi Huy Hoàng Màu-Đồng Đỏ, các cõi bất tịnh, Núi Potala, và Yulokod. Chương cuối cùng, được con trai tôi là Jigme Tromge Rinpoche đem từ miền đông Tây Tạng tới Hoa Kỳ năm 1994, là một tóm lược mà phần chính yếu là những kinh nghiệm của Dawa Drolma trong các cõi bất tịnh. Để dễ đọc, bản Anh ngữ là một dịch phẩm bằng văn xuôi có phần thoát ý hơn là một bản dịch thật sát nghĩa theo nguyên bản Tây Tạng được viết theo thể thơ. Cách phiên âm ngữ âm học của cấu trúc ngôn ngữ Tây Tạng được dựa trên một hệ thống mà Nhà Xuất bản Padma sử dụng.

Kinh nghiệm delog thật phi thường, kỳ diệu, ngay cả trong phạm vi bí truyền của các trường phái Phật Giáo Kim Cương thừa Tây Tạng. Tuy thế, tường thuật của Delog Dawa Drolma có năng lực và sự gần gũi của kinh nghiệm trực tiếp, và tôi tin rằng những ai đọc nó sẽ nhận ra rằng các hiện tượng của các cõi giới thì tương ứng với những khía cạnh kinh nghiệm của bổn tâm họ. Cầu mong những nhắn nhủ của bà sẽ thôi thúc thành tựu tâm linh tối thượng; cầu mong tất cả những ai đọc những lời chỉ dạy ấy sẽ được đưa dẫn tới những quốc độ của các Đấng Chiến Thắng.

(*) Ghi chú của BBT:

THE TIBETAN WORD DELOG (DAY-loak) refers to one who has crossed the threshold of death and returned to tell about it. For Delog Dawa Drolma, a woman renowned as one of the great realization holders of Vajrayana Buddhism in this century, being a delog meant that she lay without any vital sign of breath, pulse, or warmth for five days. During that time the link between her mind and body was released and her consciousness journeyed to other realms of experience.
What she saw then, recounted in these pages, engendered in her a limitless compassion for sentient beings. She experienced the almost unimaginable contrast between existence within the pure display of enlightened mind and existence within samsaric delusion and ignorance.

 

Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 97527)
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Penang - hòn đảo xinh đẹp đậm đà nét văn hóa độc đáo của đất nước Malaysia ( Mã Lai), một trong những điểm đến lý tưởng nhất trên thế giới trong những ngày này đã đón tiếp hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử từ các châu lục gồm 30 quốc gia về tham dự Đại Hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới (The World Buddhist Sangha Council - WBSC) lần thứ 10. Khách sạn Equatorial là địa điểm chính, nơi diễn ra suốt kỳ đại hội lần này từ ngày 10 đến 15.11.2018.