Người Việt Không Hiểu Tiếng Việt

15/12/20191:00 SA(Xem: 6705)
Người Việt Không Hiểu Tiếng Việt
NGƯỜI VIỆT KHÔNG HIỂU TIẾNG VIỆT
Mỹ Quyên - Hà Ánh

tieng-vietTiếng Việt vốn trong sáng và rất đẹp nhưng ngày nay, trên mạng xã hội, thậm chí trong học đường, chỉ vì theo trào lưu mà giới trẻ biến ngôn ngữ Việt trở nên khó hiểu, méo mó đến nỗi có chuyên gia đã cho rằng tiếng Việt đang bị hủy hoại.

Muốn hiểu phải đoán

Có thể tìm thấy vô vàn những đoạn văn đọc không thể hiểu tràn ngập trên các trang mạng xã hội. Một học sinh (HS) sau khi xem chương trình nói về dự án sách hóa nông thôn” đã viết cảm tưởng về nhân vật trong chương trình trên Facebook như sau: “Hnay con mở tjvj lên tj thấy chú thạch. Chú jk khắp nơi để phát động tủ sáck phụ huynh. Con rất khâm phục chú và rất mong một ngày sẽ dk như chú nhưng càng nghĩ càg thấy mk hk dk như z, vì hok hành k dk jỏj và hk đủ tự tin như chú. Bạn hà an lễ tj ns vs con là t cx pải có gắng hok tốt để dk như chú”.

Việc lạm dụng lớp từ ngữ này trong giới trẻ và sự thiếu định hướng của gia đình, xã hội trong việc sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ sẽ dẫn tới sự lệch lạc trong nhận thức cũng như trong sử dụng ngôn từ

Tiến sĩ Huỳnh Thị Hồng Hạnh
(Phó trưởng khoa Văn học và ngôn ngữ - Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM)

Đây thật sự là một “ma trận ngôn ngữ” đối với bất cứ ai muốn đọc.

Có thể thấy, một bộ phận giới trẻ đã sử dụng tiếng Việt trên mạng hoặc nhắn tin qua điện thoại theo một số “quy tắc” sau: Giản lược hết mức, nghĩa là câu, từ được viết tắt, cắt xén hết mức có thể như “không” thì thành “k”, “biết” thì thành “bít”, “luôn luôn” thành “lun lun”, “hiểu” thành “hỉu”... Phá cách đến mức người đọc không hiểu lý do như “chồng” biến dạng thành “ck”, “vợ” thành “vk”, “thích quá” hành “thík wé”... Sử dụng pha tạp giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác như “I’m khóc - ing” (tôi đang khóc đây), “Sure rồi chứ?” (chắc chắn rồi chứ?), “wow, cô bé này thật kute” (ôi, cô bé này thật dễ thương)...

Viết đúng là không sành điệu!

Thạc sĩ Đinh Xuân Hảo, nguyên giảng viên Trường ĐH Sài Gòn, cho rằng giới trẻ đang tự trao cho mình cái quyền “chế biến” tiếng Việt theo tiêu chí ngắn, gọn và khó hiểu - ngôn ngữ mạng. Đó là thứ ngôn ngữ lạ lẫm, không phải tiếng Việt đơn thuần mà là sự pha tạp ngôn ngữ. Thậm chí trong giới trẻ không phải ai cũng hiểu được thứ ngôn ngữ này khi cùng một từ nhưng mỗi người có cách “chế biến” khác nhau. Chẳng hạn, cùng từ “biết” nhưng được ghi theo nhiều cách khác nhau: “bít”, “bjt”, “bik”, “bjx”... Thạc sĩ Hảo cho biết nhiều người trẻ cho rằng cách giao tiếp bằng ngôn ngữ này là mốt, thể hiện cá tính và phong cách của mình.

Bà Dương Thu Trang, giáo viên văn Trường THPT Mạc Đĩnh Chi (TP.HCM), nhận định: “Loại ngôn ngữ này rất kén người dùng và khi bước ra khỏi tuổi teen nó được xem là ngoại ngữ. Thậm chí, người trẻ cùng thế hệ nhưng không chat đều cũng không thể cập nhật và thành thạo được loại ngôn ngữ này”.

Về nguyên do hiện tượng này, bà Trang nhận định, đây là cách HS sử dụng ký hiệu thay cho ký tự để đáp ứng nhu cầu diễn đạt nhiều nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất. Tuy nhiên, đây cũng là hiện tượng viết sai chính tả có chủ đích của giới trẻ để đánh giá đối tượng giao tiếp. Bởi nếu viết đúng chính tả sẽ là không sành điệu, thiếu phong cách!

Tiến sĩ Huỳnh Thị Hồng Hạnh, Phó trưởng khoa Văn học và ngôn ngữ Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, nhìn nhận tình trạng sử dụng ngôn ngữ mạng của giới trẻ là một hiện tượng bình thường trong đời sống của một ngôn ngữ. Những từ ngữ này chủ yếu dùng trong ngôn ngữ sinh hoạt, trong các hoạt động giao tiếp qua tin nhắn, qua các trang mạng xã hội. Tuy nhiên, tiến sĩ Hạnh cảnh báo: “Việc lạm dụng lớp từ ngữ này trong giới trẻ và sự thiếu định hướng của gia đình, xã hội trong việc sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ sẽ dẫn tới sự lệch lạc trong nhận thức cũng như lệch lạc trong sử dụng ngôn từ”.

Thử thách với giáo viên và phụ huynh

Không chỉ viết Facebook, trò chuyện hoặc nhắn tin trên mạng, nhiều bạn trẻ còn mang cả cách diễn đạt này vào trường học, khi ghi chép bài, làm bài kiểm tra... Bà giáo Phan Thị Trúc Ly, giáo viên dạy văn lớp 9, Trường THPT Hiệp Phước (H.Nhơn Trạch, Đồng Nai) chia sẻ: “Lớp học có 30 em thì có đến hơn 20 em sử dụng ngôn ngữ “teen”, ngôn ngữ “mạng” vào bài kiểm tra của mình. Nhiều khi đọc bài văn của HS, giáo viên không hiểu gì cả, phải vừa đọc vừa đoán. Nhiều từ đoán mãi không ra nghĩa. Các em quen cách viết trên mạng mà không hề biết rằng mình đang viết sai chính tả, câu cú thì không chuẩn, làm méo mó tiếng Việt”.

Theo bà Dương Thu Trang, đây là thử thách với giáo viên bậc phổ thông. Xét về trách nhiệm, giáo viên không được thỏa hiệp với HS ở thái độ thiếu nghiêm túc trong việc sử dụng tiếng Việt nhưng về mặt tình cảm, điều này dường như khiến mối quan hệ giữa thầy và trò ngày càng xa nhau trong cách cảm và cách nghĩ. “Sẽ có những HS khó chịu khi trào lưu của mình không được ủng hộ. HS cá biệt còn cho giáo viên quá lạc hậu khi không theo kịp thời đại”, cô Trang cho biết. Tuy nhiên, cũng theo cô Trang, để thay đổi một trào lưu lớn và mạnh như thực trạng sử dụng ngôn ngữ mạng ở giới trẻ không thể một sớm một chiều mà cần sự kiên nhẫn.

Dưới cái nhìn của nhà ngôn ngữ học, GS-TS Bùi Khánh Thế, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM, quan niệm: “Ngôn ngữ mạng không xấu nếu chỉ sử dụng để thuận tiện trong đời thường của cá nhân. Nếu sử dụng ngôn ngữ này trong giao tiếp chính thức, chẳng hạn trong bài vở trên lớp thì không được”. GS Bùi Khánh Thế cho rằng việc giáo dục ngôn ngữ không chỉ ở phạm vi nhà trường mà vai trò của gia đình rất quan trọng. Đặc biệt là trong xã hội ngày nay khi có không ít gia đình hầu như khôngthời gian để trò chuyện với con cái mỗi ngày.

Còn tiến sĩ Huỳnh Thị Hồng Hạnh cho rằng, để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, cần xây dựng chiến lược giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường theo hướng hiện đạinâng cao nhận thức của giới trẻ về tình yêu, ý thức trách nhiệm đối với ngôn ngữ dân tộc. Sử dụng từ ngữ đúng chức năng, đúng mục đích, đúng đối tượng là góp phần thiết thực vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

https://thanhnien.vn/giao-duc/nguoi-viet-khong-hieu-tieng-viet-615376.html

Bài đọc thêm:
Tiếng Việt Kinh Hoàng Ở Trong Nước – Đào Văn Bình



Tạo bài viết
01/06/2020(Xem: 4866)
Chùa Từ Ân tọa lạc trên một vùng đất rộng khoảng 6 sào Trung Bộ (3.000 m2), nằm bên bờ Bắc sông Hương, cách ngôi quốc tự Thiên Mụ khoảng 400 mét về hướng Đông. Vùng đất này, (theo nhà Bác học Lê Quý Đôn, trong sách Phủ Biên tạp lục) thì từ nhiều năm về trước có tên là xã Hà khê (đối diện là xã Thọ Khang bên bờ Nam Sông Hương), thuộc huyện Kim Trà. Trải qua một thời gian sau đó lại đổi là xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, rồi lại đổi là làng Xuân Hòa, xã Hương Long, huyện Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên. Năm Bính Dần, 1986, lại đổi là thôn Xuân Hòa, Xã Hương Long Thành Phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện này chùa được gắn biển số nhà 108 đường Nguyễn Phúc Nguyên, Thành phố Huế.
Môi trường sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan tới sự sống con người. Nó là tập hợp các sinh vật, cùng với các mối quan hệ khác nhau giữa các sinh vật đó và các mối tác động tương hỗ giữa chúng với môi trường. Môi trường sinh thái có mối quan hệ mật thiết đối với sức khỏe của con người. Nếu môi trường sinh thái trong lành, thì cuộc sống con người khỏe mạnh; còn nếu môi trường ô nhiễm thì cuộc sống con người dễ ốm đau, bệnh tật.
Trong một chuyến công du hiếm hoi dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ tới khu vực này vào tuần trước, một nhà báo của Reuters đã nhìn thấy những bức chân dung trong lớp học, đường phố, cơ sở tôn giáo, nhà ở và phòng ngủ của một nhà sư Phật giáo.