Tịnh Không Pháp Sư gia ngôn lục (Tập 1)

17/02/20224:48 SA(Xem: 1098)
Tịnh Không Pháp Sư gia ngôn lục (Tập 1)

NGƯỜI DỊCH: THÍCH NHUẬN NGHI
TỊNH KHÔNG PHÁP SƯ 
GIA NGÔN LỤC
TẬP I
NHÀ XUẤT BẢN PHƯƠNG ĐÔNG

Tịnh Không Pháp Sư Gia Ngôn LụcTịnh Không Pháp Sư gia ngôn lục 3 (2)

                               LỜI GIỚI THIỆU

     Năm 2008, tôi có duyên lành được tham dự khoá tu học 21 ngày tại Tịnh Tông học hội ở thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Sau khi mãn khoá Thầy Ngộ Hoà và Cư sĩ Đàm Hội trưởng Hội Tịnh Tông trao cho tôi quyển “ Tịnh Không Pháp Sư Gia Ngôn Lục ” gồm 3 tập, nhờ tôi phiên dịch ra Việt ngữ. Sau khi về nước tôi bắt tay vào việc phiên dịch. Trong quá trình phiên dịch tôi nhận thấy những lời dạy của Hoà thượng đã đánh thức tôi rất nhiều trong con đường hành trì tu học Phật pháp, như kim chỉ nam quán chiếu lại mình để tu tập nhằm chuyển hoá những tập khí vô minh từ nhiều đời. Và tôi vừa dịch vừa đọc nghiền ngẫm… như vậy suốt sáu năm…

       Năm 2013, tôi trở lại dự khoá tu học tại chùa Tịnh Luật do Thầy Minh Tuệ hướng dẫn. Lần này, lại gặp quý Phật tử tại Tịnh Tông hội đến thăm và hỏi tác phẩm tôi dịch xong chưa?

       Đáp lại tấm lòng của quý Phật tử xa gần đã khích lệ, chúng tôi xin in bộ sách “ Tịnh Không Pháp Sư Gia Ngôn Lục ” để kết duyên cùng đại chúng. Nguyện đem công đức này hồi hướng khắp pháp giới chúng sanh đồng quy về Tịnh độ.

        Mặc dù đã hết sức cố gắng trong công việc phiên dịch nhưng không sao tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các bậc thiện hữu trí góp ý xây dựng để những bản dịch tiếp theo được viên mãn.

                Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát.

                                        Chùa Từ Đức, Phật lịch 2557

                                        THÍCH NHUẬN NGHI

                       
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ

LÃO PHÁP SƯ HOÀ THƯỢNG TỊNH KHÔNG

      Lão pháp sư Hoà thượng Tịnh Không thế danh là: Từ Nghiệp Hồng, sinh năm 1927, tại huyện Lô Giang, tỉnh An Huy, Trung Quốc.

     Thời niên thiếu Ngài sống và học tập tại tỉnh Phúc Kiến và Quý Châu.

      Năm 1949, Ngài định cư tại Đài Loan, làm việc tại Thực Tiễn Học Xá.

      Năm 1953 – 1956, Ngài học triết học với nhà triết học Giáo sư Phương Đông Mỹ.

      Năm 1956 – 1959, Ngài học Mật Tông với Đại sư Chương Gia.

       Năm 1959 – 1969, Ngài học Phật học với Cư sĩ Lý Bỉnh Nam.

        Năm 1959, Ngài được thế độ tại chùa Lâm Tế - Đài Bắc – Đài Loan, Pháp danhTịnh Giác, Pháp tựTịnh Không.

        Sau khi thọ cụ túc giới, và đây cũng chính là khởi đầu cho suốt quá trình giảng kinh thuyết Pháp. Ngoài việc tinh thông kinh điển Đại Thừa, ngài còn thâm nhập sâu vào tư tưởng của các tôn giáo khác như : Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Islam giáo, Nho giáo,… Nên đã khởi xướng xây dựng mối đoàn kết 9 tôn giáo tại Singapore như một đại gia đình, và cũng là người chú trọng thúc đẩy hoà bình đoàn kết các tôn giáo và các dân tộc khác.

         Ngài từng đảm nhiệm những chức vụ chủ chốt trong các Viện, Học viện Phật học và một số trường Đại học tại nhiều nước và đã được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý.

          Ngài đã quyên tặng xây dựng trên 100 trường học tình thương và nhiều quỹ dành cho giáo dục, y tế trên toàn cầu, in ấn hàng triệu bản kinh sách, băng đĩa và hình Phật,…

           Ngài luôn luôn tôn trọng, đề cao tất cả các Pháp môn, nhưng đặc biệt xiển dương tông Tịnh độ. Vì vậy, Ngài chủ trương khuyến tấn hành giả tu theo Pháp môn Niệm Phật A Di Đà.

          Cả cuộc đời Ngài dồn sức vào việc giảng dạy Phật phápgiáo dục, gắng công đề xướng bài trừ phá mê, khai ngộ, giảng giảiý nghĩa cốt tuỷ của Phật giáo chính là giáo dục. Quán triệt sâu sắc việc học Phật là để thay đổi bản chất của con người, là để hoàn thiện nhân cách của chính bản thân mình. Ngài nhấn mạnh Phật pháp không phải là mê tín. Phật pháp chính là Giác – Chánh – Tịnh. Giác chứ không mê; Chánh chứ không tà; Tịnh chứ không nhiễm.

       Ngài là người đi tiên phong trong việc sử dụng công nghệ thông tin hiện đại, dùng Internet vào việc quảng bá chánh pháp cho đại chúng.

       Mặc dù tuổi đã cao nhưng Ngài vẫn ngày giảng pháp 4 tiếng đồng hồ trên đài truyền hình vệ tinh phục vụ cho những ai hữu duyên học Phật.

        Qua 61 năm học Phật và hoằng pháp lợi sinh, Ngài thường nhắc nhở người học Phật, muốn đạt công phu lợi ích chân thật trên con đường hành trì tu học phải luôn ghi nhớ câu:

  CHÂN THÀNH, THANH TỊNH, BÌNH ĐẲNG,

                      CHÁNH GIÁC, TỪ BI.

  NHÌN THẤU, BUÔNG XẢ, TỰ TẠI, TUỲ DUYÊN,

                             NIỆM PHẬT.”

       Ngài cũng nhắc nhở người học Phật cần phải tránh đó là:

   “ TỰ TƯ, TỰ LỢI, DANH VĂN, LỢI DƯỠNG,

   NGŨ DỤC, LỤC TRẦN, THAM, SÂN, SI, MẠN.”

       Ngài đúng là một vị Cao tăng, đại từ bi, đại trí tuệ của Phật giáo đương đại.

                                            

   TỊNH KHÔNG PHÁP SƯ

                                GIA NGÔN LỤC

                                             TẬP 1

    

TÁN THÁN TỊNH ĐỘ THÙ THẮNG.

             Người niệm Phật khi dụng công tu hành nên nhớ là làm cho vọng tưởng giảm dần chứ không phải dùng vọng tưởng để quán chiếu, hoặc ngồi tưởng tượng ra các cảnh giới. Người học Phật nên dùng trí tuệ để quán chiếu, công phu như thế lâu dần sức quán chiếu mạnh lên thì những phiền não vọng tưởng dần giảm đi, trí huệ dần dần tăng trưởng, tu như vậy thì từng bước thể nhập vào đường đạo. Nếu như quán chiếu nhưng vọng tưởng phiền não chưa dứt trừ thì biết sức quán chiếu của mình còn yếu. Như vậy, thật khó khăn trên con đường tu học. Phương pháp tu Tịnh độ chính là đem tâm cột vào một câu Phật hiệu, công đức câu Phật hiệu là không thể nghĩ bàn. Cái nhiệm mầu của câu Phật hiệu là gom tất cả vọng niệm thành một niệm, thì những vọng niệm từ từ giảm đi, tâm thanh tịnh dần dần hiển lộ. Cái siêu việt của Pháp môn niệm Phật là ở chỗ này. Tất cả Pháp môn khác không có, vì vậy mới nói đây là Pháp môn thù thắng nhất.

        Nếu một đời này chẳng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc mà muốn ở thế giới Ta bà này hoặc nguyện sinh vào cõi chư Phật trong mười phương, hoặc cõi khác để tu hành đều phải trải qua ba A tăng kỳ kiếp mới thành tựu quả vị giác ngộ.

        Căn bản của Phật giáo Đại Thừa ở chỗ phát Bồ Đề tâm, Bồ Đề tâm là gì? Là độ tất cả chúng sanh, nói một cách rõ hơn là dùng hết tâm lực để giúp cho tất cả chúng sanh phá mê khai ngộ, tâm này chính là tâm Bồ Đề.

         Phương pháp nào để chúng ta làm được việc này?. Chính là áp dụng Lục độ vạn hạnh và mười nguyện của Phổ Hiền Bồ tát để làm lợi ích chúng sanh. Điều quan trọng là biết vận dụng thực tế Lục độ vạn hạnh và mười nguyện Phổ Hiền Bồ tát vào trong đời sống sinh hoạt của chúng ta, đây chính là hành Bồ tát đạo. Trong “ Kinh Vô Lượng Thọ ” hành hạnh Phổ Hiền chính là tu mười đại nguyện vương.

        Bố thí ” nói theo danh từ thời bây giờ chính là sự hy sinh bản thân cống hiến cho xã hội. Hy sinh bản thân  để cống hiến cho mọi người mục đích chính là trợ giúp cho họ phá bỏ mê lầm đi đến giác ngộ. Đây là sự cống hiến cao thượng nhất.

        “ Trì giới ” chính là tôn trọng phép tắc, giữ gìn quy cũ.

        “ Nhẫn nhục ” chính là tâm kiên nhẫn. Tâm kiên nhẫn, nhẫn nại trong mọi công việc, đặc biệt là những việc ở cõi đời này, vì tất cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay tích chứa phiền não, ân oán, bất bình, hằng ngày chúng ta hay gặp những sự việc không như ý thì càng nên nhẫn, bất cứ hoàn cảnh nào cũng nên nhẫn.

       “ Tinh tấn ” là cầu sự thăng tiến, cầu sự đi lên, cho dù hoàn cảnh nào cũng quyết lòng không thay đổi, phải giữ quy cũ vững lập trường, đó là điều rất tốt. Có nhiều chư Tăng đại đức tu trì rất tốt, nhưng chẳng thể hoằng pháp lợi sinh, tại sao như vậy? Vì họ quá giữ chặt quy cũ nên chẳng thích nghi với thời đại, nhất là sinh hoạt của chúng sanh vào thời này. Cuộc sống muôn hình vạn trạng, nhưng bất cứ thời đại nào chúng ta phải biết vận dụng phương tiện khéo léo để hoằng pháp lợi sanh thích hợp với thời đại đó, phương tiện vận dụng không ngoài Lục độ vạn hạnh và mười nguyện của Phổ Hiền, làm được thì lợi lạc vô cùng. Nếu chúng ta giữ chặt quy cũ mà không uyển chuyển thì không hoằng pháp được. Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc cũng như các nước khác, đã có sự biến đổi rất lớn trên hình thức sinh hoạt.

         Thời Phật còn tại thế chư Tăng ôm bát đi khất thực, ăn ngày một bữa, tối ngủ dưới gốc cây, sau khi du nhập vào các quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, … thì tất cả các sinh hoạt đã thay đổi hoàn toàn, để cho phù hợp với thời đại văn hoá phong tục tập quán mỗi nơi, đây mới đúng thật với nghĩa tinh tấn. Cho dù bất cứ hình thức sinh hoạt như thế nào, nhưng đến với đạo Phật là cầu sự giác ngộ, tức là khai mở trí huệ, chuyển hoá vô minh phiền não, tu Lục độ vạn hạnh cùng mười nguyện của Bồ tát Phổ Hiền. Quý vị nên nghiên cứu thêm tinh thần này trong Kinh Hoa Nghiêm thì sẽ thấu rõ đạo lý này.

        “ Thiền định ” tức là chính mình làm chủ, có sự thấy biết như thật nơi tự tâm, chẳng bị ngoại cảnh làm động tâm.

         “ Bát nhã ” tức là người nhận rõ sự việc sự vật và những hư ngụy, tà chánh, thị phi thiện ác một cách rõ ràng, không mê hoặc điên đảo, đó chính là trí huệ Bát nhã.

           Bạn áp dụng Lục độ vạn hạnh và mười nguyện Phổ Hiền Bồ tát vào trong đời sống sinh hoạt của chính mình thì bạn sẽ an lạc hạnh phúc. Dù bạn làm việc gì cũng đều là tu hạnh Bồ tát, hành đạo Bồ tát. Một người thực hành đạo Bồ tát chính là làm cho pháp hỷ sung mãn, tức làm tâm hoan hỷ thì ngay đó phiền não chuyển thành Bồ đề, ngu si mê muội chuyển thành giác ngộ.

          Người thế gian phần nhiều do công việc trói buộc phải nghĩ suy tính toán, nhiều khi phải chịu những chuyện khen chê xung quanh làm cho bức bách đau khổ, đó là pháp thế gian, là cảnh giới phàm phu, làm cho họ lẩn quẩn trong sáu đường lục đạo luân hồi. Bồ tát trong Phật giáo Đại Thừa rất vĩ đại sáng suốt, chỉ cần khởi một niệm sai quấy thì ngay đó họ tỉnh giác và chuyển niệm đó ngay, đây chính là Bồ tát. Họ thường kết duyên lành với chúng sanh, thực hành hạnh bố thí Ba la mật làm niềm vui giải thoát. Họ cũng từ tâm phàm phu tu tập thực hành chuyển đổi thành tâm Bồ tát nên họ được niềm hạnh phúc an lạc, lìa khổ được vui ngay trong hiện tại.

           Người dụng công tu tập, nên nhìn cuộc đời của Lục Tổ Huệ Năng. Ngài chỉ ở dưới nhà bếp bửa củi, giã gạo, làm những công việc khổ nhọc, Ngài tu hành được khai ngộ trong lúc làm việc nấu cơm, bửa củi, hành pháp lục độ và mười nguyện Phổ Hiền Bồ tát. Có người không biết dụng công tu hành, ngày nào cũng lên thiền đường ngồi tham thiền mà chẳng thể khai ngộ, tập khí phiền não ngày càng nhiều. Chúng ta muốn dụng công tu tập phải phát tâm làm công quả bằng sự thành tâm thành ý như rửa bát, lau bàn,… theo Lục độ vạn hạnh và mười nguyện của Phổ Hiền Bồ tát đến khi nhân duyên đầy đủ thì sẽ có thành tựu. Người chẳng biết tu hành khi có cơ hội làm công quả để tạo phước thì than khổ hoặc kể lể công lao,… cho nên khi nói tu tập chính là chuyển những tâm niệm phiền não thành tâm an vui hỷ xả. Muốn chuyển tập khí phiền não phải có sự tư duy đúng đắn, cái khác biệt của người biết tu hay người không biết tu là ở chỗ này.

        Pháp sư Đàm Hư kể rằng: Tại chùa Hám Sơn ở huyện Thanh Đảo hằng ngàypháp hội niệm Phật. Trong pháp hội đó có một bà cụ tên là Trương Thị trên bảy mươi tuổi ngày ngày đến chùa xuống bếp rửa chén, lau chùi quét dọn phục vụ công việc ở dưới bếp, đó là bà tu Lục độ vạn hạnh và mười nguyện Phổ Hiền Bồ tát. Một hôm bà báo cho đạo tràng biết ngày giờ bà vãng sanh, đúng ngày giờ bà ngồi như vậy mà tự tại văng sanh. Mọi người trong pháp hội ai cũng biết bà là người không biết chữ, đọc sách không được, học kinh chẳng nhớ, chỉ cùng mọi người làm công quả ở dưới bếp trong chùa. Điều này, xưa nay chúng ta nghe nói người tu hành chân thật là nghe Kinh, tham thiền mới thành tựu, nhưng tại sao bà thành tựu như thế? Cái vi diệu của Phật pháp là không nghĩ bàn. Có người nghe Kinh, tham thiền nhưng lại không thành tựu như bà. Điều này, người chân chính tu hành cần phải tư duy, áp dụng công phu tu tập của mình vào trong đời sống sinh hoạt thì sẽ có được lợi lạc trong hiện tại và tương lai.

         Theo đường hướng tu tập của Phật giáo Đại Thừa, muốn liễu thoát sanh tử ngay trong đời này, chúng ta cần nắm chắc một điều là niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ. Muốn làm điều này một cách chân thành thì phải theo lời dạy của Bồ tát Phổ Hiền là: “ Hiểu về con đường Bồ tát đạo, tu và thực hành Bồ tát hạnh ”. Trong Kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy Thiện Tài đồng tử phải tham vấn qua năm mươi ba vị thiện tri thức, mỗi lần Thiện Tài gặp một vị thiện tri thức đều thỉnh giáo học hỏi. Vì vậy, khi nói đến Bồ tát đạo chính là ngay trong tâm này phải có “ tâm, nguyện, giải, hành ” đồng với Phật. Tâm và Nguyện chính là Bồ tát đạo, Giải và Hành chính là Bồ tát hạnh.

       Học Phật chính là học theo công hạnh mẫu mực của đức Phật, nếu chẳng học theo như Phật, cho dù hiện tại chẳng giống như Phật nhưng phải có tâm hướng thượng để tỉnh thức tu sửa những khiếm khuyết, rèn luyện trở thành con người có đầy đủ tư cách mô phạm cho thế gian. Có những người đề cao việc Phật học mà không chú trọng chỗ học Phật. Thế nào là Phật học? Chính là chỉ chú trọng về kiến thức mà không thực hành, xem Phật pháp như môn triết lý, nghiên cứu như môn học thế gian nên không thực hành tu tập để chuyển phiền não tham sân si nơi bản thân để có được hạnh phúc chân thật nơi nội tâm. họ học mà không chuyển hóa tập khí, càng học lại càng cống cao ngã mạn. Người chân chính học Phật pháp là để áp dụng thực hành chuyển hóa tập khí ngay nơi bản thân họ, đây mới chính là người học Phật. Cho nên học Phật mới giúp cho chúng sinh thoát khỏi những phiền não đau khổ, thoát khỏi sanh tử luân hồi, còn Phật học chỉ thoả trên vấn đề kiến thức mà chẳng giúp chúng sanh có được sự lợi ích lớn này. Điều này chúng ta cần phải hiểu một cách rõ ràng.

       Sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần mà không khởi tâm phân biệt vọng tưởng chấp trước, mà hằng thanh tịnh sáng suốt, đây gọi là “ quán chiếu ”.

       Hiểu chính xác về hai chữ “ quán chiếu ” chính là từ nơi tự tánh thanh tịnh lưu xuất ra. Khi đó mắt thấy tai nghe và sự nhận biết là từ nơi tự tánh thanh tịnh. Phàm phu mê muội quên mất tự tánh, dùng vọng thức để ứng xử với nhau, vọng thức chính là tám thức tâm vương, năm mươi mốt tâm sở, còn gọi là “ vọng kiến ”, cũng gọi là “ Đới trước cảm tình ”. Thế nào gọi là cảm tình? Chính là tâm phân biệt, vọng tưởng chấp trước. Thế nào là đới trước? Chính là những cái thấy, nghe hiểu biết theo kiến giải của phàm phu bị dính mắc nơi âm thanh sắc tướng, ngũ dục lục trần. Do vậy, chúng ta biết lìa tất cả phân biệt chấp trước, vọng tưởng chính là kiến giải của Phật và Bồ tát, kiến giải của Phật và Bồ tát còn gọi là quán chiếu hoặc là chiếu kiến. Khi dùng kiến giải của phàm phutu hành thì nhất định không thể vượt thoát ra khỏi sáu nẻo luân hồi.

        Phàm phu rất khó đoạn lìa tình kiến, nếu dùng tình kiến để tu học cho dù bạn tu học bất cứ pháp môn nào cũng chẳng thành tựu. Người tu Tịnh độ hạ thủ công phu niệm Phật hàng phục được tình kiến thì mới dược vãng sanh, còn bị tình kiến chi phối rất khó vãng sanh. Cần nói rõ thêm rằng, khi công phu niệm Phậtphiền não chưa đoạn hết đến phút lâm chung khởi tâm niệm Phật được vãng sanh thì đó là sự thành tựu rất lớn. Còn nếu như khi đó, phiền não sinh khởi lên thì chẳng vãng sanh được.

         Nhiệm vụ chính yếu của mỗi chúng ta trong việc tu hànhtu tập cho chính mình để làm lợi lạc cho chúng sanh. Muốn được điều này, đầu tiên tâm phải chân thành tha thiết, khi mình có tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm cung kính, tâm từ bi thì nhất định sẽ thành tựu.

          Khi tu hành, cần phải nắm chắc cương lĩnh trong việc hành trì tu tập, đó là giữ vững nguyên tắc, tôn trọng quy cũ thì nhất định sẽ dễ thành tựu. Cương lĩnh nguyên tắc chính là “ Phát Bồ đề tâm, nhất hướng chuyên niệmđạo lý ở hai câu nói này, chúng ta phải hiểu ý nghĩa cũng như lý giải một cách thấu triệt. Tịnh Tông thường hành theo quy cũ đó là “ Tịnh Tông đồng học, tu hành thủ tắc ”, mục đích là giúp cho mọi người thực hành tam phước, lục hòa, tam học, Lục độ vạn hạnh, thập nguyện Phổ Hiền. Điều thiết yếu là áp dụng vào trong đời sống sinh hoạt, đây chính là tự mình thực hành và giáo hòa chúng sanh.

         Trong Phật giáo Đại thừa tu hành đến chỗ rốt ráo viên mãn chính là y theo “ Hạnh Phổ Hiền Bồ tát”. Hạnh Phổ Hiền Bồ tát là “ kính lễ chư Phật, xưng tán Như Lai, cúng dường rộng khắp, sám hối nghiệp chướng, tùy hỷ công đức, thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế, thường tùy Phật học, hằng thuận chúng sanh, phổ giai hồi hướng ”. Những điều này chúng ta cần phải áp dụng vào trong đời sống sinh hoạt của chúng ta. Lễ kínhtâm chân thành cung kính, xưng tánca ngợi pháp hỷ sung mãn, rộng tu cúng dường chính là phục vụ cho tất cả chúng sanh. Qua đây chúng ta biết hạnh Phổ Hiền Bồ tát ý nghĩa rất rộng lớn và thâm sâu vô cùng.

        Nói về chỗ “ hành môn ” tóm lại một câu chính là pháp sám hối, đó cũng là một trong mười nguyện của Bồ t át Phổ Hiền l à sám hối nghiệp chướng. Điều quan trọng khi sám hốisửa đổi tâm, sửa đổi hành vi, không nên chỉ sám hối trên hình thức mà phải chân thành sám hối. Nếu làm trên hình thức, dựa vào văn tự chữ nghĩatâm không sửa đổi, vậy chẳng phải là chân thành sám hối nên không có tác dụng gì cả.

            Người tu hành có ba giai đoạn, giai đoạn thứ nhất là học thuộc lòng kinh điển, sau đó đem ra đọc tụng đến nhuần nhuyễn và ghi nhớ những lời dạy trong kinh. Giai đoạn thứ hai là hiểu ý nghĩa trong kinh tức là những lời Phật dạy trong kinh phải hiểu rõ ràng, lý sự viên dung, mỗi câu mỗi chữ áp dụng vào trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, như vậy mới làm cho kinh điển sống động, mới có thể khai mở trí huệ. Giai đoạn thứ ba là thực hành, tức là dựa vào lời Phật dạy và những phương pháp tu hành, tu chính sửa đổi những tư tưởng, kiến giải hành vi sai lầm, đó gọi là chân chánh tu hành, được như thế mới có thể vãng sanh về Cực Lạc. Chứ không phải mỗi ngày chỉ tụng kinh niệm Phật đến trăm ngàn vạn biến mới gọi là tu hành. Chúng ta biết Phật pháp chân chánh rất chú trọng việc thực hành, đây là điểm mà chúng ta cần phải đặc biệt chú ý.

         Người làm công việc nấu ăn ở bếp từ việc rửa chén, lau bàn, thường người thế gian không hiểu cho đây là khổ nhưng người giác ngộ biết đây là việc đem lại niềm an lạc, vì sao vậy? Vì họ áp dụng Lục độ vạn hạnh ngay vào trong công việc, chính là thành tựu giới định và tuệ, công việc từ nhỏ cho đến lớn tất cả đều tương ứng nhau, đó đều xuất phát từ nơi tâm biết quán chiếu và cải đổi, được thế chính là đời sống của Bồ tát. “ Kinh Hoa Nghiêm ” dạy chúng ta những điều này, dạy chúng ta khi làm bất cứ việc gì mà đem lại an vui cho mình và mọi người đó mới thật là chân hạnh phúc. Đây mới sự thật đúng nghĩa tu hành của Đại thừa Bồ tát hạnh, đạt được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chính là tu ở chỗ này. Người chẳng hiểu ra chỗ này cho rằng mỗi ngày cứ ở dưới bếp rồi làm hết chuyện này đến chuyện khác thật là khổ, trong gia đình những người phụ nữ thấy như vậy là muốn tránh né rồi. Đây chính là mê, mê nên bị khổ, khi ngộ rồi thì an vui, người giác ngộ thì biết ngay những công việc mình làm đó là thực hành hạnh bố thí, tu hạnh ca ngợi xưng tán, tu hạnh cúng dường, hạnh nhẫn nhục, hạnh thiền định, hạnh trí huệ, cho nên người mê và người giác ngộ hoàn toàn chẳng giống nhau.

           Phật dạy chúng sanh phước huệ song tu, phước huệ viên mãn rồi thì gọi “ lưỡng túc tôn ” cho nên tu phước, tu huệ là điều vô cùng trọng yếu.

            Tu phước là tu như thế nào? Tức là suy nghĩ thay cho chúng sanh, làm tất cả mọi việc vì tất cả chúng sanh, quên mình để phục vụ, như thế mới gọi là tu phước đây còn gọi đại phước báo. Thế nào là làm ác? Mỗi niệm mỗi niệm chỉ nghĩ đến cho riêng mình, làm bất cứ việc gì cũng nghĩ cho riêng mình, đây là ác và cũng từ đây mà sinh ra những việc đại ác.

           Buông xả tài vật là Phước, nhưng cần phải không dính mắc ở hình tướng, tu phước mà còn dính mắc nơi hình tướng thì chính là phước báo nhân thiên, lìa tướng làm phước thì minh tâm kiến tánh, mới vãng sanh bất thối thành Phật.

            Không những buông xả tài sản bên ngoài mà còn phải buông xả tài sản bên trong. Sao gọi là tài sản bên trong? Đó là chỉ cho phần tinh thần của chúng ta, chúng ta đem hết khả năng sức lực của chúng ta để phục vụ chúng sanhđiều kiện, đó gọi là tài sản bên trong, cũng gọi là nội tài. Chẳng cầu báo đáp, chỉ hết lòng phục vụ cho xã hội, cho mọi người, đây chính là bố thí.

            Mục đích đặt ra công phu sáng tối là giúp cho chúng ta tu tập gạn lọc tập khí, nếu như chúng ta tu mà không gạn lọc sửa đổi tập khí thì công phu sáng tối cũng uổng công vô ích.

          Thời khóa công phu buổi sáng tụng phẩm thứ sáu trong Kinh “ Vô Lượng Thọ ”, mục đích là làm cho tâm phát khởi bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà nơi mỗi người, đây chính là niệm Phật, nhớ Phật ngay tâm này là Phật, ngay tâm này là A Di Đà Phật. Bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà bao hàm y báo trang nghiêm cõi Tây phương Cực Lạc. Công phu buổi chiều chính là mỗi niệm chẳng quên lời dạy của Phật A Di Đà, chúng ta cứ y theo đó mà phụng hành, như pháptu trì, đây chính là chân chánh niệm Phật, chẳng phải ở nơi đầu môi chót lưỡi.

            Trong “ Kinh Vô Lượng Thọ ” từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy là lời dạy của Phật A Di Đà, ý nghĩa chính là năm giới và mười thiện, đây cũng là nền tảng căn bản tu tập cả Đại thừaTiểu thừa. Chúng ta nên nhận biết rõ ràngdựa vào đây tu học thì công phu niệm Phật mới được thành tựu.

            Xã hội giảng về học làm người chính là học luân lýđạo đức. Nếu như học thập thiện, tứ vô lượng tâm ( từ, bi, hỷ, xả ), đây chính là học làm thiên nhâncõi Dục giới này, thế là họ hơn chúng ta một cấp rồi, còn học tứ thiền bát định là làm hạng nhân thiêncõi trời Sắc giới, cảnh giới này là cao hơn. Học bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà, học Lục độ vạn hạnh, mười đại nguyện Phổ Hiền, đó chính là học làm nhân thiênthế giới Tây phương Cực Lạc, đây mới thật là việc học chân chánh đối với chsung ta.

            “ Học ” không những hiểu mà phải thông suốt đó mới đúng là học. Ý thâm sâu của chữ “ học ” là “ bắt chước, làm theo ”. Học tập là động từ, không phải là danh từ, chính là chúng ta phải chân thành làm và đạt đến kết quả. Chúng ta tu hànhthiện tâm chẳng thể hiển lộ ra được, nội tâm thì không được an lạc, thanh tịnhlăng xăng đầy vọng tưởng, nguyên nhân là vì chúng ta không nhận biết rõ ràng chân tướng sự thật của việc học.

            Học là bắt đầu học từ chỗ nào? Bắt đầu đọc tụng thuộc lòng kinh điển. Trong kinh dạy điều gì, làm như thế nào thì chúng ta dựa vào kinh điển để phản tỉnh soi sáng lại chính mình. Mỗi ngày nhận ra tâm mình bị bệnh gì thì đó là giác ngộ, mỗi ngày chữa lành một bệnh thì đó mới đúng thật là chân tu. Lão Cư sĩ Hạ Liên Cư nói trong quyển “ Tịnh ngữ ” rằng, chúng talỗi lầm nên chân thành sửa lỗi. Chân thành tu hành, chân thành làm việc, chỉ trong vòng ba năm từ địa vị phàm phu sẽ bước vào ḍng Thánh, chẳng muốn thoát khỏi phàm phu thì chẳng chịu học, chẳng chịu làm thì không còn gì phải nói cả.

            Tụng Kinh cần phảitâm chân thành, thanh tịnh, tâm cung kính để trì tụng, khi đủ duyên sẽ ngộ được ý nghĩa thâm sâu trong Kinh. Có người đọc tụng Kinh mà thấy khổ, bởi vì khi đọc tụng tâm họ bị các  vọng tưởng, phiền não phân biệt chấp trước, những lời dạy và thâm ý trong kinh hoàn toàn không thể hội được, cho nên càng đọc càng khổ, càng tu càng phiền não. Chỉ có dùng tâm chân thành, thanh tịnh để đọc tụng, khi đó mới tương ưng với tâm Phật, mới sáng tỏ được diệu lý trong Kinh. Cho nên chân thành, thanh tịnh, cung kính thì không có chướng ngại, khi đó ý nghĩa trong Kinh sẽ sáng tỏ vô cùng vô tận.

          Trong “ Kinh Hoa Nghiêm Phẩm biệt hạnh ” giảng đến chỗ cúng dường rộng khắp, cúng dường tài vật chẳng bằng cúng dường Pháp. “ Kinh Duy Ma Cật” khai thị rằng “ bố thí pháp là dùng thân để làm Phật sự, như pháp tu hành, làm mô phạm cho tất cả chúng sanh. Đây mới đúng là bố thí pháp chân chánh ”.

           Chúng ta thành tâm tu hành thực hành việc bố thí gồm tài thí, pháp thívô úy thí, gieo trồng ba nhân này, tương lai sẽ được ba kết quả  là tài vật sung mãn, thông minh trí huệ, thân tâm an lạc sức khỏe sống lâu. Bạn phải thực hành để chúng sanh cảm nhận được, để họ thấy kết quả từ nơi bạn mà đến thỉnh giáo, lúc đó bạn mới dạy bảo họ tu tập gieo trồng ba nhân đó, cho nên điều cần yếu là mình làm để người khác học theo. Việc trì giới, mình phải hiểu tác dụng của giới luật là dứt trừ các điều ác, giúp cho tâm mình đạt đến chỗ thanh tịnh an vui. Nếu như bạn không làm được điều này mà đi giảng cho người khác nghe, khuyên người khác làm, việc làm này là không phù hợp, mọi người sẽ không tin bạn.

         Trong Kinh Phật dạy “ Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả ”. Chúng sanh cứ bị vọng nghiệp lôi kéo không sợ nhân quả nên tạo đủ thứ nghiệp xấu ác, đến khi quả báo tới rồi họ mới thức tỉnh, mới lo sợ. Chính điều này chúng ta cần phải suy nghĩ rõ ràng trước khi làm việc gì, đem những điều này giảng dạy cho mọi người thông hiểu, để tự họ quán sát, phản tỉnh, sau đó phát tâm học tập, đây mới đúng thật là bố thí pháp thù thắng nhất.

   Chúng ta học “ Kinh Kim Cangmục đích chính là khuyên bảo dạy dỗ mọi người hiểu rõ thấu suốt bản chất chân tướng của vạn sự vạn vật, buông xả tất cả, chân thành niệm Phật cầu sanh Tịnh độ. Ngoài ra, đức Phật thuyết “ Kinh Bát Nhã ” hai mươi hai năm mục đích là dạy chúng ta “ Nhìn thấu, Buông xuống ”. Tại sao hai mươi hai năm giảng kinh Bát Nhã, cuối cùng chung quy lại bốn chữ “ Nhìn thấu, Buông xuống ”? Quý vị suy nghĩ, sau khi nghe xong rồi, học xong rồi, chúng ta có thể nhìn thấu chưa? Có thể buông xuống chưa? Nghe là nghe như vậy, nhưng tập khí cũ vẫn còn y vậy, nghe hiểu nhưng chẳng thông suốt, buông nhưng không xả, từ sáng đến tối tâm đầy những suy nghĩ loạn tưởng điên đảo, rồi phát ra lời nói hành vi phê bình chỉ trích người khác, chẳng có quán chiếu soi xét kiểm điểm lại bản thân mình. Đây chính là hiểu mà không thông, buông xả mà không xả là vậy.

    Con đường tu học của Phật pháp tóm lại không rời “ Giới, Định, Huệ ”. “ Giới ” chính là nắm giữ Phật pháp, quy cũ mà đức Thế Tôn đã dạy trong tất cả kinh điển, chúng ta y theo đó mà làm. Điểm then chốt vô cùng quan trọng của việc tu hành chính là “ Định ”, “ Định ” chính là tâm thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh thì đối với nghịch cảnh hay thuận cảnh cũng đều tu tập được cả, chẳng bị người khác hay hoàn cảnh quấy nhiễu, hoặc làm ô nhiễm, thế là đạo nghiệp của bạn tự nhiên thành tựu. Khi có định thì phát sinh trí huệ, huệ chính là nhận địnhviệc thiện ác, đúng sai, đây là trí huệ chân thật, tuyệt đối không khởi tâm động niệm, bởi vì khởi tâm động niệm thì rơi vào ý thức tình chấp, ngay đây thì Giới Định Huệ liền không còn. Chính vì vậy, Phật và Bồ tát hoàn toàn không có tâm oán hận bất cứ chúng sanh nào, dù gặp người ác việc ác làm chướng ngại, nhưng các Ngài vẫn an nhiên tự tại không khởi tâm oán hận. Vì sao vậy? Vì các Ngài mong người ác sớm giác ngộ, hồi đầu, bởi vì họ cũng như tất cả chúng sanh đều có tánh Phật, cho nên Phật và Bồ tát đối với họ luôn tôn kính và trải tình thương đến cho họ.

  Trong nhà Phật dùng từ “ khai ngộ ”,  “ tu hành”. Khi đọc tụng kinh có lúc chúng ta ngộ, niệm Phật cũng có lúc chúng ta khai ngộ, nhưng làm thế nào ngay trong đời sống sinh hoạt khi tiếp người đối vật mà chúng ta có thể giác ngộ. “ Ngộ ” chính là tỉnh giác nhận biết được những sai lầm, đó gọi là ngộ, từ chỗ nhận biết được những sai lầm chúng ta chỉnh sửa lại, đó gọi là tu hành. Tu hành chẳng phải mỗi ngày tụng bao nhiêu quyển kinh, niệm bao nhiêu câu Phật hiệu, lạy Phật thật nhiều, nếu không nhận biếtsự thật này thì những việc đó chỉ là “ tu hành ” trên hình thức mà thôi, nói tóm lại con đường tu hành chính là “ biết lỗi ” và “ sửa lỗi ”. chúng ta đem bốn chữ này thực hành thì những lỗi lầm dần dần sẽ được chuyển hóa, đến lúc không còn một lỗi lầm nào, một sự ô nhiễm nào trong tâm chúng ta cả thì chúng ta thành tựu.

   Chúng ta sống ở thế gian, chúng ta có thể làm trọn bổn phận và trách nhiệm, thì đó là tu phước. Điều quan trọng trong khi làm việc, bạn đừng sợ mình bị thiệt thòi, bạn phục vụ càng nhiều với tâm lượng mở rộng thì phước càng lớn, vì sao khi làm việc mà hay gặp phiền não? Là khi làm việc bạn để tâm dính mắc, chấp trước vào công việc. Khi tâm dính mắc mà không buông xuống được thì dù làm nhiều hay làm ít cũng không lợi lạc gì cho mình và cho người. Kinh “ Kim Cang ” nói “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm ”. Đây mới đúng thật là phước báo chân thật, đem phước đức chuyển thành công đức. Nếu như trong tâm bạn lúc nào cũng nghĩ “ ta đã làm vô số việc lợi ích cho chúng sanh ”, đây là pháp thế gian, là phước báo hữu lậu nên kết quả nhận được thì lại nhỏ.

   CỐ GẮNG LÀM NGƯỜI TỐT.

             Người tu học là tu ngay trong đời sống sinh hoạt, nên chẳng vượt ra khỏi tam giới thì chẳng thành tựu được, nhưng vượt ra khỏi tam giới thật không phải chuyện dễ. Pháp môn Tịnh độ là dễ hành, dễ thành tựu, đó là so với các pháp môn khác, nói nghe dễ dàng như vậy nhưng trên thực tế không phải là dễ, tại sao vậy? Vì tuy có nhiều người niệm Phật nhưng mà người vãng sanh thì lại ít.

         Chúng ta gặp được Pháp môn niệm Phật, đây là một nhân duyên hiếm có, nếu mình đánh mất nhân duyên này, thật là một điều vô cùng đáng tiếc.

         Người chân chánh tu hành khi khởi tâm động niệm đều nhận biết rõ mình đang khởi những niệm gì, đó là tâm tỉnh giácnhận biết, chẳng phải học vấn sách vở mà nhận biết, chẳng phải do nhớ nhiều hiểu nhiều mà biết, cái biết tỉnh giác này do dụng công tu hành mà biết. Nếu không dụng công tu hành cho dù học nhiều nhớ nhiều cũng là vô ích mà thôi. Điều quan trọng là phải thực hành, thực hành được phần nào thì giải thoát phần đó, một phần lợi lạc một phần, hai phần thì được lợi lạc hai phần, nếu chẳng chân thật dụng công tu hành, thì một điều lợi ích chắc chắn cũng không có.

        Khi tu học Phật pháp, chúng ta cần phải xác định mục tiêu cho chính mình, năm nay phải tiến bộ hơn năm trước, những lỗi lầm càng ít đi, vọng tưởng bớt dần, như vậy là có tiến bộ. Người học Phật có tiến bộ hay không thì cần chú ý đến hai điều quan trọng như sau: Thứ nhất luôn tự kiểm điểm lại chính mình, quán chiếu như vậy thì sẽ khai mở trí huệ giác ngộ, tâm thanh tịnh càng ngày càng tiến triển tốt đẹp. Thứ hai là đoạn trừ phiền não, làm cho vọng tưởng, phiền não tập khí cũ giảm bớt đi, ngược lại nếu như tu hành mỗi năm lại không thể khai mở trí huệphiền não lại tăng trưởng, thì lỗi lầm tập khí ngày một gia tăng, đây là chưa thật tu hành, chứng tỏ công phu chưa được đắc lực.

         “ Chân thành, thanh tịnh , bình đẳng, chánh giác, từ bi, khám phá, phóng hạ, tự tại, tùy duyên, lão thật niệm Phật ”, đây là mục tiêu, là phương hướng đầu tiên để chúng ta hoằng pháp lợi sanh, cũng là mục tiêu cho việc tu học cho chính mỗi người chúng ta. Trong tất cả kinh luận, thực hành mới giúp chúng ta đạt đến mục tiêu này, chúng ta thực hành tu tập có kết quả thì mới có phương pháp giáo hóa người khác chính xác được. Chúng ta làm được như vậy thì đời sống của chúng ta mới có ý nghĩa, mới có giá trị và đem lại cho chúng ta nhiều an lạc hạnh phúc. Hy vọng mọi người lãnh hội được ý này, mỗi người tự đặt ra câu hỏi cho việc tu học của chính mình, làm thế nào khi giao tiếp với người, ứng xử với mọi vật chung quanh đều tương ưng với lời Phật dạy, đúng với chánh pháp.

           “ Thế duyên ” chính là làm lợi ích cho chúng sanh. Cho dù phước báo chúng ta rất ít, nhưng ít phước cũng không sao cả, miễn là ta có tâm buông xả, đó mới đúng là lợi ích chân thật, đây mới đúng thật là công đức viên mãn.

            Thời đại này, tu học Phật pháp để đi đến thành tựu viên mãn, chỉ có pháp niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, ngoài pháp môn này ra, đích thật khôngpháp môn thứ hai để dễ dàng thành tựu được.

            Tự mình không nhận biết rõ ràng việc tu hành, thân thể của chúng ta là do nghiệp báo mà có như vậy, nếu như tự mình chịu hiến thân hy sinhPhật pháp, vì tất cả chúng sanhphục vụ, thì thân thể này chẳng phải là của mình, mà là theo tâm nguyện đến thế gian này để làm lợi lạc cho chúng sanh. Do đó, chẳng cần phải đợi đến thế giới Tây phương Cực Lạc rồi sau mới trở lại đây cứu độ chúng sanh mà ngay bây giờ chúng ta có thể chuyển tất cả thân thể nghiệp chướng của mình thành nguyện lực, đây đúng thật là theo nguyện mà đến thế gian này, hay còn gọi là “ thừa nguyện tái lai ”, trong khoảng một niệm là làm được, không một mảy may xen tạp, đây mới đúng thật là thuần chân mà không có vọng, bạn chỉ cần nắm vững và làm được ý này thì xem như đời này bạn không còn thọ nhận nghiệp báo luân hồi nữa.

         Nếu như một đời này mà vượt thoát luân hồi vãng sanh Tịnh độ, đây đúng thật là tự mình cứu được mình. Nếu chẳng thể vãng sanh Tịnh độ thì đời người trôi qua thật uổng phí, cho dù đời này có tu nhưng chẳng lợi lạc gì, bởi vì cuối cùng vẫn bị các ác nghiệp làm cho bạn khởi niệm tham sân si, mạn nghi đố kỵ, đây chính là chướng ngại nghiêm trọng. Nếu như huân tập những chủng tử xấu ác này nhiều thì đời sau bạn phải đi vào ba đường ác, còn hai đường trời người lại càng khó có cơ hội được tái sanh vào. Đây là sự thật.

    SINH TỬ SỰ ĐẠI.

    Cảnh tỉnh mạng người vô thường.

         Bồ tát Phổ Hiền dạy chúng ta: “ một ngày trôi qua, mạng người theo đó mà suy giảm ”. Như chúng ta thấy, buổi sáng khi mặt trời lên thì ánh sáng càng tỏ, khi về chiều ánh sáng càng giảm dần cho đến tối thì không còn, điều đó nhắc cho chúng ta mỗi ngày qua đi thì ta tiến gần đến cái chết.

    Khai thị về lo sợ khổ luân hồi.

          Con đường tiến tu đạo nghiệp của chúng ta chính là làm thế nào không để tâm dính mắc vào bất kỳ cảnh sinh hoạt nào trên thế gian này. Mục đích tu hành là để thoát khỏi tam giới, nếu như chẳng liễu thoát ra khỏi tam giới, thì đời này mọi việc làm rốt cuộcuổng công vô ích. Cho dù niệm Phật, tu phước, theo như lời Phật dạy thì cũng không tránh khỏi oan gia ba đời, oan gia ba đời là việc không tốt, một đời niệm Phật tu phước, đời sau hưởng phước, người như vậy thật vô minh, vì phải tái sanh vào đời sau hưởng phước, ngay trong đó tạo nghiệp thọ nhận quả báo, chúng ta xem những người phú quý, giàu sang từng là những người đời trước cũng niệm Phật tu phước nhưng không liễu thoát sanh tử, nên sanh ra đời này, hưởng được phước báo do đời trước gieo trồng những nhân lành nên được giàu sang, khi có quyền có thế rồi lại làm những việc xấu xa sai trái, tạo các ác nghiệp còn hơn người thường, nhìn xa hơn một chút, người chân chánh là người cầu giác ngộ, mục tiêu của họ là giải thoát sanh tử.

                  Nhiều việc chẳng bằng ít việc

                       Ít việc chẳng bằng vô sự

                            Lão thật niệm Phật

    CUNG KÍNH MỌI NGƯỜI.

         Khi học đạo, điều quan trọng là có tâm cung kính, người có tâm cung kính mới cảm ứng được đạo giao. Ý thâm sâu hai chữ “ trọng đạo ” nghĩa là tôn sư trọng đạo, duy chỉ có tâm tôn kính thì người học mới khế nhập với ý đạo. Tổ Ấn Quang nói: “ Một phần thành kính thì được một phần lợi ích, hai phần cung kính thì được hai phần lợi ích, mười phần cung kính thì được mười phần lợi ích ”, người được khai ngộ được lợi lạc lớn là ở chỗ này.

           Người xưa nói “ tâm không thành thì không ngộ ” nghĩa là người không có tâm thành kính thì không bao giờ được giác ngộ, cho dù họ có nghe nhưng đó chẳng qua chỉ thu lượm kiến kiến thức mà thôi, họ không được lợi lạc chân thật, được lợi lạc chân thật theo nhà Nho nói là khí chất biến hóa, còn trong Phật pháp nói là chuyển thức thành trí, thật ra nói khí chất biến hóa chính là chuyển Phàm thành Thánh. Nếu chẳng lãnh hội thực sự mà chỉ ở nơi ngôn ngữ, lời nói, chữ nghĩa thì chẳng có khế hợp với Tâm tánh. Không có chút thành tâm thì những hiểu biết chỉ là bên ngoài mà thôi.

Có lẽ chính bạn nghĩ rằng “ với sư phụ mình rất cung kính, với Phật pháp mình cũng cung kínhbản thân mình cũng hiểu sâu Phật pháp, vậy tại sao mình chẳng được lợi ích an lạc gì cả? ”. Bạn nên suy nghĩ lại có phải đối với người xấu thì mình muốn tránh xa, lại còn oán ghét họ, lại còn tính toán hơn thua với họ. Bạn tự hỏi lại mình khi gặp những người như vậy có khi nào bạn khởi tâm giúp đỡ và cung kính họ chưa? Nếu bạn có tâm thành thì đâu có khởi niệm phân biệt, còn có phân biệt thì chẳng phải thành tâm, với người này mình cung kính, tâm như vậy là không thật, là tâm còn phân biệt đối đãi. Chính vì chỗ này mà phiền não phát sanh, là do không thậttâm chân thành, tâm cung kính.

         Khi bạn có được tâm chân thành, tâm cung kính thì ngay đây bạn sẽ được nhất tâm, nhất tâm th́ tương ưng với tâm bình đẳng , tâm thanh tịnh. Nếu bạn không có tâm chân thành, tâm cung kính thì dù bạn có biểu hiện sự nhiệt thành đến thế nào đi nữa thì tâm bạn cũng còn đầy sự phân biệt, chấp trước thì đó chẳng phải nhất tâm. Khi bạn khởi niệm phân biệt, đó chẳng phải là tâm bình đẳng mà là tâm ô nhiễm thì làm sao thanh tịnh được, cho dù bạn có nghe pháp, đọc tụng kinh điển nhưng rốt cuộc chẳng đưa bạn đến lợi ích chân thật.

    KHUYẾN TIN SÂU NHÂN QUẢ.

      nhân quả:

           Trí huệTịnh độ là nói từ nhân đến duyên đến kết quả. Cho nên khi bạn khởi tâm động niệm muốn được kết quả tốt đẹp ở tương lai thì bạn đã gieo một nhân tốt đẹp vào trong tâm, khi đó tự nhiên làm cho tâm bạn được tĩnh lặng. Nếu như bạn tạo những nhân duyên làm chướng ngại người khác, tương lai bạn sẽ tiếp nhận kết quả là có nhiều chướng ngại đến với bạn, đúng như câu “ nhất ẩm nhất trác, mạc phi tiền định ” vậy là do ai định? Chính là do nhân từ nơi chính bạn quyết định.

             Trong mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiềnlời nguyện thứ năm là “ tùy hỷ công đức ” dạy cho chúng ta luôn có tâm tùy hỷ, tức là vui theo việc làm thiện của người khác, người nào có tâm này, chính là tâm Bồ tát, tâm Bồ tát thì không bao giờ làm chướng ngại người khác. Phàm phu thì có tâm ganh tỵ, đố kỵ nên tâm lúc nào cũng phiền não, bức bách, bất an. Phàm phu hay nhìn lỗi xấu của người nhiều hơn, ít để tâm nhìn điều tốt nơi họ. Nếu người tu đạo mà còn có tâm như vậy là không đúng rồi. Không những nhìn lỗi mà còn tìm cách phá họ, gây cản trởphá hoại họ, tội này rất nặng. Nếu như một người làm việc thiện giúp đỡ tất cả chúng sanh mà ta cản trở họ thì tội đó càng nặng, càng nghiêm trọng hơn, bởi vì chúng ta không chỉ làm chướng ngại một người mà làm chướng ngại nhiều người khác, cho nên quan hệ nhân quả như thế nhất định chúng ta cần phải thông hiểu.

    HIỂU RÕ VỀ SỰ GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT.

            Tu phướctu huệ ”: Phước và huệ là hai vấn đề rất quan trọng đối với người tìm cầu tu học Phật pháp. Khi chúng ta quỳ trước Phật tiếp nhận tam quy y và đọc lời phát nguyện rằng “ quy y Phật, lưỡng túc tôn “ lưỡng ” là hai, đó là phước và huệ, “túc” là đầy đủ, viên mãn. Do đây chúng ta biết, thành Phật chính là tu học viên mãn phước và huệ, như vậy mới làm vị đạođáng kính của thế gianxuất thế gian.

         Kinh điển Phật nói ra là dung thông, viên dung, thông đạt vô ngại, chỉ cần bạn thông một bộ kinh thì thông tất cả kinh. Chẳng những kinh giáo dung thông mà pháp thế gianxuất thế cũng dung thông, vì tất cả các pháp đều lưu xuất từ nơi chân tâm bản tánh mà ra, cho nên trong chúng sanh đều có tánh đức thanh tịnh, nhưng họ không thông hiểu đạo lý này, vì không thông hiểu nên bị chướng ngại, chướng ngại là do mê hoặc điên đảo, phân biệt chấp trước, chỉ cần trừ bỏ những chướng ngại này thì pháp thế gianxuất thế gian bạn đều dung thôngthông đạt tự tại vô ngại.

             Mục đích của Đức Phật là hướng cho chúng ta con đường đi đến chỗ rốt ráo viên mãn, đó là vượt thoát luân hồi, ra khỏi tam giới. Chúng ta cần phải hiểu rõ điều này, hiểu rõ tức là thông suốt về sự thật chân tướng của vạn pháp. Nguyên nhân đưa chúng sanh đi trong vòng luân hồi lục đạo là do vọng tưởng ngã chấp. Muốn vượt thoát luân hồi ra khỏi tam giới, chỉ cần phá trừ ngã chấp, ngã sở. “ Ngã sở ” chính là sở hữu, khi chúng ta khởi tâm động niệm sở hữu bất cứ vật gì thì tâm đã dính mắc, do vì dính mắc nên đưa chúng ta đi vào luân hồi lục đạo không thoát ra được. Phật giáo Đại thừa hay Tiểu thừa cũng điều dạy chúng ta phá “ ngã ”, người tu học Tiểu thừa khi ngã chấp đoạn trừ thì chứng được quả vị A la hán, họ mới vượt thoát luân hồi ra khỏi tam giới.

         Bồ tát đạo theo tinh thần của Phật giáo Đại thừacúng dường và độ chúng sanh. Kinh “ Kim Cang ” nói “ tất cả chúng sanh, ta đều khiến họ vào vô dư niết bàndiệt độ ”. Câu kinh này, nói theo bây giờ tức là tận tâm tận lực giúp đỡ cho tất cả chúng sanh phá mê khai ngộ, phá mê khai ngộ sẽ đưa đến kết quả là hết khổ được vui. “ Chúng sanh mê, ta giúp họ phá sạch mê, chúng sanh ngộ, ta giúp họ đi đến chỗ viên mãn ” đây chính là thành Phật, chính là “ nhập vào vô dư niết bàndiệt độ ”.

           Phật giáo giúp chúng ta những gì? Giúp chúng ta cải đổi tâm phàm phu. Thế nào là tâm phàm phu? Thế nào là tâm Phật tâm Bồ tát? Điều này cần phải hiểu rõ ràng chính xác. Làm sao cải đổi tâm phàm phu thành tâm Phật? Hành trì thế nào để cải đổi tâm phàm phu? Hành trì thế nào để thành Phật và Bồ tát? Tự thân mỗi chúng ta không thông đạo lý này thì sao thực hành được. Nếu không thông thì chỉ mượn danh Phật pháp, dối gạt chúng sanh, tội này sẽ vào địa ngục A Tỳ. Lúc đó, Phật, Bồ tát có giúp cũng chẳng được.

            Phật pháp và pháp thế gian là một chẳng phải hai. Cho nên, khi đem tâm PhậtBồ tát vào đời thì tất cả pháp thế gian đều là Phật pháp, khi đem tâm phàm phu đi vào Phật pháp thì tất cả Phật pháp biến thành thế gian pháp. Cho nên, khi nói về pháp thế gian là nói về mặt hiện tượng – là sự tướng, còn đối với Phật pháp chẳng phải nói về sự tướng mà phải ở nơi tâm con người mà nói. Chính vì vậy nói “ tâm tịnh thì quốc độ tịnh ”.

         Phật pháp luôn làm thăng hoa pháp thế gian, cho nên khi Thế Tôn còn tại thế, Ngài giáo hóa rất nhiều tín đồ tôn giáo khác nhau ở Ấn Độ, nhưng Phật không có bảo phải thay đổi cách thức sinh hoạt của họ mà chính là chuyển đổi tâm thức của họ, phương pháp này các bậc cao Tăng tiền bối chúng ta thường nói “ bậc đại trí huệ luôn sống đạo trung dung ”. Đây đúng thật là bậc đại trí huệ.

           Giác ngộ ngay trong đời sống sinh hoạt chính là thực hành hạnh Bồ tát, nói một cách rõ hơn, từ đời sống sinh hoạt của phàm phu thay đổi để trở thành đời sống sinh hoạt của Bồ tát. Thay đổi phẩm chất đời sống nhưng không cải biến trên hình thức, nghĩa là quá khứ làm nghiêp gì thì hiện tại cũng vậy, nhưng bản chất chẳng giống nhau, vì quá khứ do si mê mà làm, hiện tại do giác ngộ mà làm. Si mê thì khổ, giác ngộ thì được an vui, niềm an vui này được gọi là “ pháp hỷ sung mãn ”. Quá khứhiện tại chẳng giống nhau, vì đời sống hiện tại họ đã thay đổi rồi, họ đã chuyển đổi ý nghiệphành nghiệp.

        Trong “ Kinh Hoa Nghiêm ” nói năm mươi ba vị Bồ tát tham học, chúng ta thấy trong những vị Bồ tát đó gồm nam, nữ, già , trẻ mỗi vị mỗi biệt nghiệp khác nhau, chính mỗi vị có biệt nghiệp khác nhau nên họ đã giác ngộ ngay trong đời sống sinh hoạt, lìa khổ được an vui, đây chính là Phật pháp.

          Phật giáo đối với xã hội hiện đại cũng bị thay đổi, nếu chẳng giữ đúng tinh thần của Phật giáo thì hiện tại sẽ bị biến chất. Khi Phật giáo bị biến chất thì coi như đã bị diệt rồi. Cho nên cần phải giữ vững bản chất tinh thần của Phật giáo, bản chất đó theo trong Kinh Vô Lượng Thọ nói là “ thanh tịnh, bình đẳng, giác” đây là căn bản, chẳng những căn bản này ở Tịnh Tông mà tất cả Phật giáo Đại thừa, đều được kiến lập trên nền tảng căn bản này. Cho nên tất cả pháp môn đều đi đến mục tiêu này, lìa mục tiêu này ra thì chẳng phải Phật pháp.

           Trong Đại tạng kinh của Phật có vô lượng Kinh pháp, bạn muốn tham cứu nghĩa lý trong kinh thì bất kỳ bộ kinh nào nghĩa lý cũng vô tận, nhưng trong tất cả kinh luận, bộ kinh nào nghĩa lý cũng hỗ tươngdung thông cả, chính vì vậy, chỉ cần bạn thông đạt một bộ kinh thì tất cả các kinh đều thông đạt. Vì sao các kinh lại dung thông với nhau? Vì mục tiêu của mỗi bộ kinh đều đi đến thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác. Bạn chỉ cần đạt được thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác nơi chính bạn thì tất cả các kinh đều dung thông không có chướng ngại. Một bộ kinh không thông,  nguyên do là tâm bạn không thanh tịnh, không bình đẳng, không chánh giác, bị mê hoặc điên đảo làm cho bạn không thông. Rõ được sự thật chân tướng này rồi là thể hội được trọng yếu của Phật pháp mới là đúng thật tu hành, lúc đó bạn mới có khả năng thông đạt. Không chân thật tu hành mà chỉ nơi chữ nghĩacông phu thì tuyệt đối chẳng thể lãnh hội được.

          Xã hội bây giờ, có nhiều nơi chưa hiểu về tinh thần Phật pháp, nên chúng ta cần phải lưu thông ấn tống hai cuốn sách quan trọng là “ Nhận thức Phật giáo và truyền thọ tam quy ”.

          Giáo lý trong “ Kinh Kim Cangthâm sâu vô cùng, dạy chúng ta hiểu rõ hơn về Phật pháp Đại thừa. Hiểu được tinh thần Kinh Kim Cang sẽ giúp chúng ta áp dụng công phu tu học ngay trong đời sống sinh hoạt của chính mình, được rất nhiều ích lợi. Nói rõ hơn là chỉ dạy cho chúng ta làm thế nào giống như Phật và Bồ tát. Đời sống sinh hoạt của Phật và Bồ tátđại giác ngộ, đại trí huệ, đời sống như thế mới đưa đến niềm hạnh phúc mỹ mãn.

    ĐỌC TỤNG KINH SÁCH.

          Người xưa học một bộ kinh, chẳng những thuộc lòng về kinh, mà ngay phần chú giải cũng thuộc lòng. Hầu như những vị tu bên tông Thiên Thai là phải học thuộc ba bộ gồm “ Kinh Pháp Hoa ”, “Pháp Hoa Kinh huyền nghĩa trích triêm ”, “ Pháp Hoa văn cú ”, ngoài những bộ này ra, còn có một bộ liên quan đến việc tu hành đó là bộ “ Ma ha chỉ quán ”.Đây là những điều kiện cơ bản của tông Thiên Thai, không thuộc lòng ba bộ nói ở trên thì không đủ tư cách để học tông Thiên Thai. Người bây giờ chẳng chịu đọc sách, chính vì vậy mà không thâm nhập được ý của chư Tổ sư, điều này giống như họcKinh Vô Lượng Thọ ”, chẳng những học thuộc lòng toàn bộ kinh văn của Kinh Vô Lượng Thọ mà phần chú giải cũng cần phải thuộc lòng, chỉ cần thẳng một đường nghiên cứu đọc tụng thuộc lòng một bộ kinh để hành trì tu tập. Nếu chẳng chịu quyết tâm công phu tu hành thì đối với lời Phật dạy như giỡn chơi mà thôi, vậy chẳng có thể tự độ mình và  giúp người khác được.

           Người muốn học “ Kinh Vô Lượng Thọ ” thì nên theo bộ chú giải của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ vì bản chú giải này rất hay, cuối cùng đều phải đọc thuộc lòng qua.

           Muốn học thuộc “ Kinh Quán Vô Lượng Thọ ” thì chọn bộ “ Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ ”, chính là phần sớ giải của Tổ sư Thiện Đạo, ngay phần kinh và chú giải cần phải học thuộc lòng.

          Người nào muốn chọn “ Kinh A Di Đà ”, bộ kinh này có chú giải ra hai bộ, bộ thứ nhất là “ Di Đà sớ sao ”, bộ thứ hai là “ Di Đà yếu giải ”. “ Sớ sao ” là thêm vào trước phần diễn nghĩa, diễn nghĩagiải thích phần sớ sao, sớ sao là do Đại sư Liên Trì trước tác. Phần diễn nghĩa do Pháp sư Thành Thật. Phần yếu giải là do Pháp sư Viên Anh, đây là phần vô cùng quan trọng chúng ta nên đọc qua.

            Học “ chương Đại Thế Chí niệm Phật viên thông ” thì áp dụng theo quyển “ sớ sao ” của Pháp sư Quán Đảnh.

          “ Ngũ kinh nhất luận ” học thuộc càng nhiều càng tốt. Nếu không thuộc hết thì thuộc một bộ. Quý vị nào học thuộc thì tương lai sẽ là người tu tậphoằng pháp rất giỏi. Khi hạ thủ công phu tu tập thì sẽ thành tựu Giới, Định, Huệ, lúc này những vọng tưởng sẽ bị hàng phục, thị phi cũng hết. Nếu còn vọng tưởng thì còn thị phi, như vậy tu học không đúng phương pháp rồi. Ngày xưa các bậc cổ đức khi tu chỉ chuyên nhất, thâm nhập một pháp môn nên rất nhanh thành tựu.

  TRẢ LỜI NGHI VẤN PHẬT HỌC.

   Nhất chân

       Nhất chân pháp giới ở chỗ nào? Không chỗ nào mà chẳng có, không khi nào không có, tức là trùm khắp hư không pháp giới.

   Ma chướng

        Quyển “ Thái Thượng Cảm Ứng Thiên ” nói rất hay “ họa phước không cửa, do người tự mời đến ”. Đúng thật, trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, cố ý hay vô ý chúng ta cũng đều có tội. Cho nên khi chiêu cảm quả báo thì có những sai biệt khác nhau, có những quả báo đến bất như ý, vì vậy khi tu tập hành Bồ tát đạo chừng nào thì bị ma chướng càng nhiều. “Ma chướng” phần nhiều là những người cùng sống chung và làm việc sinh hoạt với nhau rồi tạo tội, những ân oán theo vòng luân hồi xoay chuyển, đời này qua đời khác gặp nhau để đền trả lẫn nhau. Người ít gặp ma chướng là do quá khứ tạo tội ít, người gặp ma chướng nhiều thì qua khứ tạo nhân bất thiện nhiều.

  Chánh tri kiến

       Tri kiến ” là vô cùng quan trọng, chính là chánh tri chánh kiến, cương lãnh hành trì pháp môn niệm Phật là phát “ Bồ đề tâm, nhất hướng chuyên niệm ”. Phát Bồ đề tâm chính là chánh tri chánh kiến, nếu không có chánh tri chánh kiến, cho dù nhất hướng chuyên niệm cũng khó mà được vãng sanh, điều này vô cùng quan trọng. Nói một cách rõ ràng, nếu không có chánh tri chánh kiến, dù nhất hướng chuyên niệm cũng không thành tựu, bởi vì nhất tâm mà tâm có tạp niệm thì chẳng phải nhất tâm, muốn được chuyên niệm thì phải buông xuống tất cả thì mới gọi nhất hướng chuyên niệm. Nếu chuyên niệm mà còn xen tạp vọng tưởng, phiền não thì chẳng thành tựu. Vì vậy, việc tu hành với chánh tri chánh kiếnvô cùng quan trọng.

          “ Tri kiến ” nói theo ngôn ngữ bây giờ là “ nhận thức ”, là có được nhận thức chính xác về Phật giáo, nhận thức về pháp thế gian, nhận thức chính xác chính là chánh tri kiến. Phật pháp hiện diệnthế gian mục đích là để giáo hóa chúng sanh, ngoài ra không có gì khác, chỉ có việc giúp đỡ chúng sanh kiến lập chánh tri kiến thì việc tu hành mới tốt được. Người tu hành mà không chuyển hóa được phiền não, chuyển hóa được tập khí thì vấn đề này do ở chánh tri chánh kiến chưa được thiết lập.

       Tông chỉ trong “ Kinh Pháp Hoa ” mà đức Thế Tôn nói là “ Khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”, Phật khai thị cho chúng ta, chính tự thân mỗi chúng ta có khả năng ngộ nhập, “ ngộ ” là sáng suốt, “ nhập ” chính là khế nhập thực hành tương ưng, cũng chính là đem chánh tri chánh kiến ứng dụng ngay trong đời sống sinh hoạt của chính mình hợp thành một thể.

       “ Nói hay mà làm chẳng hay ” đây là người phá giới, vì họ chỉ nói mà không làm, nhưng họ nói những lời chân thật, không có nói sai, tri kiến đúng đắn, cho nên người này có thể cứu được. Có người trì giới rất tinh nghiêm, làm việc rất tốt, nhưng tri kiến sai lầm, thế thì rất khó cứu được. Chư Phật mười phương và các chư đại tổ sư đại đức, khuyên chúng ta niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ. Nhưng cũng có người tu hạnh khác mà quy hướng Tịnh độ, kiến giải của người này đúng là chánh tri chánh kiến, tự mình nhất tâm cầu vãng sanh Tịnh độ.

   Hoằng pháp hộ pháp

        Tu học Phật pháphoằng dương Phật pháp, nhất định chẳng lợi dụng Phật pháp để dối gạt chúng sanh, để cầu danh văn lợi dưỡng, mong cầu hưởng thụ ngũ dục lục trần, dù có tham được một chút tiện nghi nhưng tương lai sẽ bị đọa vào địa ngục A Tỳ. Vì vậy, nên phải nhận biết rõ ràng việc tu học của chính mình, tinh tấn dũng mãnh là điều cần thiết.

        Muốn hoằng dương Phật pháp thì bản thân mình phải làm một người sống gương mẫu và phải biết rõ đặc điểm sinh hoạt trong xã hội. Muốn được vậy thì phải có trí huệ, thiện xảo, phương tiện khéo léo để giúp cho tất cả chúng sanh dễ dàng tiếp nhận giá trị Phật pháp, nếu bỏ lỡ qua một đời thì thật vô cùng đáng tiếc.

    Đạo dưỡng sinh

         Chúng ta sống sinh hoạt hằng ngày, đồ ăn thức uống cần phải rất cẩn trọng để tránh những thức ăn có nhiễm độc. Biết được phương pháp giải độc hữu hiệu chính là tâm thanh tịnh, tâm đại bi. Khi chúng ta khởi tâm động niệm nghĩ đến việc tự tư tự lợi thì rất dễ bị các thứ độc hại thâm nhập vào cơ thể, làm cho chúng ta bị bệnh.

       Xây dựng đạo trànghộ trì đạo tràng điều quan trọng là hành giải phải tương ưng. Giảng kinh thuyết pháp là giải môn, lãnh chúng tu hành là hành môn, hai điều này vô cùng quan trọng, hai điều này có mặt thì mới giữ vững đạo tràng. Những người đầy đủ hai hạnh này từ xưa đến nay chẳng nhiều, nếu phải chọn một trong hai hạnh này thì nên chọn hành môn, chẳng nên cầu giải môn.

        Hộ trì đạo tràng điều quan trọng là sáu pháp lục hòa, nếu bỏ sáu pháp lục hòa kính thì chẳng phải là Phật pháp, chẳng phải đạo tràng của Phật, mà là đạo tràng của ma. Mục đích chính của đạo tràng là giúp người tu học, giúp cho chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, làm đúng mục tiêu như vậy mới đúng thật là đạo tràng Phật pháp. Nếu như muốn tranh giành chiếm đoạt đạo tràng, không theo lời dạy của Phật, bỏ gốc theo ngọn, đó đều là Ma sự. Lấy việc Phật làm việc ma, cũng từ nơi tâm tham cầu mà ra, làm việc Phật chính là vãng sanh, làm ma nhất định đời sau đọa vào ba đường ác là điều không tránh khỏi, ngay đời này lại còn mắc tội phá hoại chánh pháp.

        Xã hội bây giờ, chùa viện không có của cải, vườn ruộng, hoàn toàn dựa vào sự cúng dường của Phật tử. Ngoài việc nhận y phục thức ăn ra, có khi nhận tín đồ làm Cha Mẹ. Có nơi còn bày ra nhiều cách để thu hút tín đồ. Người xuất gia như vậy, tâm phan duyên rất nặng, đạo tâm sa sút thì làm sao thanh tịnh được, không thanh tịnh thì bị ô nhiễm. Chính vì vậy mà người tu học thời nay tuy nhiều mà thành tựu rất ít, nguyên nhân là ở chỗ này.

          Một đạo tràng chẳng cần phải lớn, càng nhỏ càng tốt, càng sinh hoạt dễ dàng, nếu có được nhiều sự trợ duyên thì nên hỗ trợ vào việc hoằng pháp lợi sanh.

        Họa hay phước điều này liên quan đến chỗ tâm niệm của mọi người, một niệm thiện chính là phước, một niệm ác chính là tai họa.

        Trong phước báo, đặc biệt có loại phước báo thanh tịnh, người có trí huệ cao thì có phước báo thanh tịnh vì họ chẳng tạo tội nghiệp. Đối với phước báo thế gian, phước báo càng lớn thì càng dễ dàng tạo nghiệp, giống như lực phản lại càng lớn, điều này chúng ta cần ghi nhớ kỹ.

        Nếu như chúng ta hiểu đầy đủ về ý nghĩa phước báo thanh tịnh, hưởng thọ phước báo thanh tịnh, đây là một loại phước báo chân thậtvô lượng vô biên, từ đó trí huệ cũng được tăng trưởng.

         Chúng ta mỗi người nên nhận thức rõ ràng là phải tinh tấn siêng năng tu phước, khuyến khích dẫn dắt mọi người tu phước, con người khi có phước báo rồi thì ở bất cứ chỗ nào cũng không bị tai nạn. Nếu như trong chúng ta chỉ có một người có phước báo, mà mọi người khác không có phước báo thì bản thân chúng ta không tránh khỏi tai họa của cộng nghiệp, chính vì vậy khuyến hóa chúng sanh tu tạo phước báo thật vô cùng quan trọng.

        “ Có tiền của đó là phước báo, biết sử dụng tiền là trí huệ ”. Người có nhiều phước báo, nếu như khôngtrí huệ mà hưởng phước, phước sẽ đưa đến tai họa. Người có trí huệ mà hưởng phước ít, nhưng họ biết vận dụng thì phước nhỏ liền trở thành đại phước báo. Người xưa có câu “ xả tài tu phước ”. Do đây có thể biết, người không có trí huệ, muốn tu phước cũng khó thành tựu được.

          Đứng về nhân địa mà giảng, người có trí huệ rất quan trọng so với người có phước báo, bởi vì người có trí huệ chẳng bao giờ tạo nghiệp, khi có lỗi họ biết mình có lỗi và chuyển hóa đến sạch không, người không có trí huệ thì làm việc gì cũng dễ tạo tội nghiệp, đôi khi tạo tội ngay trên phước báo sẵn có của họ. Tình trạng này, bây giờ chúng ta thấy rất nhiều, rất nhiều, họ thật sự là người có tiền, có nhiều của cải vật chất, họ cũng phát tâm làm thiện, làm phước, nhưng khi họ làm thì chỉ tạo nghiệp, kết quả chẳng được phước gì cả, họ nghĩ đó là tu phước, đây thật là điều sai lầm, thật đáng tiếc.

         Hiểu được pháp thế gianxuất thế gian đều là nhân quả phước huệ. Phước tất nhiên rất quan trọng, trí huệ lại càng quan trọng hơn, có phước mà không có trí huệ, khi hưởng hết phước thì nhất định tạo tội nghiệp, điều này Phật nói trong kinh là “ ba đời oan gia ”. Phước hưởng hết rồi thì đọa vào tam ác đạo, muốn ra khỏi chẳng phải dễ dàng, chẳng biết phải trải qua bao nhiêu kiếp mới ra được. Có trí huệ mà không có phước thì khổ, đôi khi những người nghèo lại không tạo nghiệp nhưng người nghèo dễ tu tập, dễ thành tựu việc vãng sanh thành Phật, vì đời sống sinh hoạt của họ rất khổ, họ nhìn việc đời trên thế gian là khổ nên muốn lìa bỏphát khởi đạo tâm. Phật dạy đệ tử xuất gia siêng tu phước nhưng nhất định không hưởng phước, cuộc sống có khổ nhưng tâm trong sạch vì khổ cũng là thầy, đạo lý chính ở chỗ này. Người hưởng phước rất dễ tạo tội nghiệp.

        Khi còn thanh niên tuổi trẻ nên chú trọng vào việc tu phước, khi làm phước được nhiều người thương yêu quý mến, khi về già thì hưởng được sự an nhàn đó là hưởng phước. Nếu tuổi còn trẻ mà chẳng chịu tu phước, đến khi già bệnh hoạn không người quan tâm, lúc đó bản thân mình chịu sự cô độc đau khổ, nhân quả rất chính xác không một mảy may sai lệch.

  Xuất gia

       Có tâm xuất gia, là phải có sự giác ngộ. Giác ngộ cái gì? Giác ngộ việc đáng sợ đó là luân hồi sanh tử trong vòng lục đạo. Lập chí nguyện ngay trong đời này, nguyện thoát ra khỏi vòng luân hồi sanh tử, chư đại đức cao Tăng ngày xưa nói “ Xuất gia mục đích chính là giải quyết sanh tử ”. Người nào mà giác ngộ được điều này, thì trong tâm họ khi tiếp xúc với người, hoặc khi làm việc thì không giống như người khác. Vì sao vậy? Vì họ chẳng tranh danh đoạt lợi, tâm họ chẳng có mâu thuẫn hay tranh chấp với bất kỳ ai. Vì họ biết nghiệp luân hồi đáng sợ, một lòng chỉ mong giải quyết chuyện sanh tử ngay trong đời này, nguyện ra khỏi tam giới ngay trong đời này, cho nên nếu người niệm Phật mà chưa làm được “ Lão thật niệm Phật ” thì phải cố gắng làm cho được.

        Nếu chúng ta, trong tâm có niệm hơn thua với người khác trong việc hoằng pháp lợi sanh, có tâm ganh tỵ, đố kỵ họ, chúng ta nghĩ cách làm chướng ngại họ thì chính mình là con cháu của ma vương đi vào Phật pháp để làm chuyện phá hoại Phật pháp. Chúng ta thấy người chân chánh phát tâm làm việc hoằng pháp lợi sanh, chúng ta phải sanh tâm hoan hỷ, hộ trì giúp đỡ họ, quan tâm đến họ, đây mới đúng thật là đệ tử Phật. Khi ta xuất gia thì ta muốn làm con cháu của Ma hay làm con cháu của Phật? Điều này tự mình phải thường phản tỉnh và hỏi lại chính mình thì sẽ biết rõ. Con cháu Ma vương xuất gia thì tương lai kết quả sẽ đi vào địa ngục, bởi vì họ làm chướng ngại đạo pháp, chẳng phải tu đạo làm lợi ích cho chúng sanh.

          Người chân chánh hoằng pháp lợi sanh, cần có những phương tiện khéo léo, đó là chính mình dụng công tu tập, nhưng điều tốt nhất là luôn giữ khiêm cung hạ mình, bên trong tu tập nhưng không nên biểu hiện ra cho mọi người thấy. Ta dụng công hướng dẫn mọi người tu tập để đạt đến an lạc, lấy ánh sáng trí huệ để soi sáng cuộc đời. Người hoằng pháp đừng để tâm dính mắc nơi danh văn lợi dưỡng, tham sân si mạn nghi đố kỵ. Vì dính mắc nhất định sẽ bị chướng ngại. Khi bị chướng ngại thì làm sao thoát khỏi luân hồi lục đạo?

         Vì sao phát tâm xuất gia? Người tại gia học Phật cũng thành tựu như người xuất gia. Nhưng trọng trách của người xuất gia chính là nắm giữ Phật pháp, học kinh luật luận để khai mở, duy trì huệ mạng Phật pháphoằng pháp lợi sanh, đem ánh sáng Phật pháp làm tỏa sáng khắp nơi, vì lợi ích chúng sanh, đây chính là công tác của người xuất gia. Vào thời đại này, nếu chẳng hết lòng làm sự nghiệplợi lạc chúng sanh, thì nhất định sẽ rơi vào sự nghiệp tranh đấu, tranh danh đoạt lợi, chẳng có dừng nghỉ, thường phê bình bài báng chỉ trích lẫn nhau rồi tạo các ác nghiệp. Nên việc hoằng pháp lợi sanh, hộ trì Tam Bảo cả người xuất và tại gia phát tâm cùng làm, mọi người ai cũng làm được cả, mọi người ai ai cũng làm đến viên mãn rốt ráo cả, nếu không làm thì không phải là con Phật rồi.

        Chúng ta xuất gia mà chẳng hiểu biết lời dạy của Phật để thực hành thì đó là con của Ma vương, nhất là vào thời mạt pháp này, ẩn núp trà trộn trong tăng đoàn để phá hoại Phật pháp. Trước mắt thọ hưởng chút ít lợi lạc về danh văn lợi dưỡng, thọ hưởng ngũ dục lục trần, nhưng tương lai nhất định sẽ đọa A Tỳ địa ngục.

        Vào thời mạt pháp, đời sống sinh hoạt của người xuất gia chẳng giống như ngày xưa, đời sống sinh hoạt của người xuất gia ngày xưa rất ổn định, vì sao vậy, vì như ngày xưa trong chùa viện thường có tài sản, ruộng đất, cây cối, có thể cho nông dân trồng trọt, chùa viện chỉ lấy số lượng do người dân chi trả, các thực phẩm, lương thực rất ổn định, kinh tế vững vàng, cho nên tâm thanh tịnh, yên ổn tu hành, chẳng có thân cận phan duyên với tín đồ Phật tử, vì vậy tu hành rất dễ thành tựu.

        Khi chúng ta phát tâm xuất gia, cần phải biết hai con đường, đường thứ nhất đưa chúng ta đến giải thoát giác ngộ và đường thứ hai đưa ta đến sự đọa lạc đôi khi còn nặng hơn người thế gian, rất thê thảm. Người thế gian do mê hoặc điên đảo nên bị đọa lạc là điều hiển nhiên, nhưng chúng ta là người xuất gia mọi sự mọi việc về đạo lý nhân quả rõ ràng, mà cố phạm tội thì tội đó nặng hơn người thế gian rất nhiều, đây là điều chúng ta vô cùng thận trọng, không thể không hiểu vấn đề này.

         Chúng tanhân duyên phát tâm xuất gia, được sinh hoạt tu học trong tăng chúng, đây là nhân duyên rất lớn. Bản thân mình phải biết tự trọng chính mình, nhận biết tập khí của mình để nỗ lực sám hối tu tập, để chuyển đổi cho tốt. Đây cũng là con đườngmục đích tiến tu đạo nghiệp của chính mình, muốn được điều này cần phải nương nhờ vào lực tu của đại chúng để mài giũa những tập khí của chính mình, làm cho trí huệ khai sáng, phẩm hạnh ngày một cao đẹp hơn. Tự thân mình thành tựu những phẩm hạnh đạo đức thì cũng góp phần vào lợi ích cho xã hội, góp phần vào sự phát triển hưng thạnh của Phật pháp, đó chính là giúp cho chúng sanh lìa các khổ nạn, đạt được niềm hạnh phúc an lạc. Mỗi chúng ta tự mình nỗ lực tu tập làm một tấm gương tốt không những cho người Phật tử tại gia, đó chính là bổn phận trách nhiệm của người xuất gia, được vậy thì không cô phụ niềm tin của mọi người khi chúng ta xuất gia, đây mới thật là tu tập tích chứa công đức.

       Sau khi học hiểu Phật pháp rồi, phát tâm xuất gia, chúng ta phải nuôi dưỡng hoài bão và sứ mạnghoằng pháp lợi sanh, nếu không được như vậy thì đôi khi không bằng người tại gia. Hoằng pháp lợi sanh một đời chuyên tâm học một bộ kinh hoặc hai bộ đủ rồi, chẳng cần phải học nhiều. Bạn chỉ cần chọn một bộ kinh để tu học, đọc tụng giảng nói và lý giải bộ kinh đó, nếu chúng ta chẳng theo lời dạy cách thức của bậc cổ đức đại đức xưa thì sự thành tựu của chúng ta càng xa vời, không hợp ý kinh.

       Ngày xưa các bậc cổ đức dạy người tu xuất gia năm năm đầu phải học thông về giới luật, trong năm năm đó thường hết lòng phục vụ tu tạo phước, bố thí, tu hạnh nhẫn nhục, trong năm năm này bạn phải học cho thông  thuộc Kinh điển. Ngày xưa trong Tòng Lâm Tự Viện nếu không đủ năm năm tu học thông thuộc như vậy thì không đủ tư cách giảng kinh. Nhưng trong hoàn cảnh thời bây giờ, các phương tiện nghe kinh rất dễ dàng, nhưng phải thông thuộchiểu rõ ràng về bộ kinh đó.

 Cầu pháp

       Cầu học, cầu đạo đều ở nơi một chữ “ cầu ”, nếu mình chẳng chịu cầu học, cầu đạo thì không có ai nói cho mình hiểu. Do vì chúng sanh không biết cũng chẳng hiểu về ý nghĩa cầu, cho nên chư Phật và Bồ tát dùng lòng đại bi, hiện thân nói pháp để thay chúng sanh tìm cầu pháp. Chúng ta xem trong Kinh Phật, có những chúng sanh sơ cơ đến cầu pháp. Trong Kinh Vô Lượng Thọ, các ngài mấy lần thưa thỉnh với Đức Phật, chính là thay chúng sanh thỉnh pháp…

   Tự độ, tự tha

       Làm thế nào hoằng pháp lợi sanh, đạt được kết quả tự độ, tha, điều này cần phải xem lại những lời dạy trong kinh, biết vận dụng những lời dạy của Phật trong kinh vào trong đời sống sinh hoạt thì được hạnh phúc an lạc. Nếu chẳng được như vậy, cho dù có giảng nói pháp nhiều, nhưng chẳng có kết quả. Vì sao vậy? Vì mình chưa thể nghiệm, mà mình chỉ nghe và nói lại thôi, tức là xem trong kinh rồi nói ra, đây còn gọi là “ thính thuyết ” tức là nghe Phật nói và các hàng Bồ tát thuyết, tự thân mình chẳng lĩnh hội được, vậy bây giờ làm sao có thể lĩnh hội được đây? Nhất định chính mình phải dùng thân nỗ lực hành trì, đoạn ác tu thiện, tích công lũy đức, mỗi ngày phản tỉnh, kiểm điểm lại những lầm lỗi sai trái của mình, học theo gương của Viên Liễu Phàm tiên sinh trong cuốn “ Liễu Phàm Tứ Huấn ”, đây là tấm gương rất đáng để chúng ta học tập.

 Cúng dường pháp

        Không luận là người tại gia hay xuất gia, phàm là đệ tử Phật thọ nhận về tài vật cúng dường, nhất định phải dùng pháp Phật để báo đáp lại. Phật còn tại thế hằng ngày chỉ ôm bát đi khất thực, khi tiếp nhận sự cúng dường thì Phật giảng cho tín thí một bài pháp, đây là báo đáp ân của thí chủ. Khi chúng ta tiếp nhận sự cúng dường của tín thí cũng phải theo quy cũ là vì họ nói pháp. Nhưng đôi khi họ không thỉnh mời thì chẳng nói, nếu có người thỉnh mời thì nhất định phải nói.

 Vãng sanh

         Chúng ta hằng ngày hằng giờ tâm tâm niệm niệm lòng nhớ về cố hương, cố hương của mình là Tây phương Cực Lạc y chánh trang nghiêm, do vậy chúng ta cần buông xả hết những gì ở cõi thế gian này ngay ở trong tâm chúng ta. Tất cả những gì ở thế gian với ta không có mối quan hệ gì cả, chúng ta thời khắc luôn nhớ trông về cố hương, mong được về nhà, nên từng niệm chỉ nghĩ đến vãng sanh thì ngay niệm đó chính là chánh niệm.

         Vãng sanh là “ sanh ” tức sống mà ra đi chứ chẳng phải chết mà ra đi, chẳng phải sanh đây chết kia trong vòng luân hồi sinh tử nữa.

          Chúng ta thường nghe nói “ pháp thân huệ mạng ”, vãng sanh là trước hết chứng được pháp thân huệ mạng, là pháp thân thường trụ, chẳng phải vô thường sanh diệt, ở thế gian này tất cả đều bị chi phối bởi định luật vô thường.

         Chuyên tâm trì danh hiệu Phật A Di Đà hơn là trì chú vãng sanh, cũng hơn trì các chú khác, cũng hơn làm tất cả các công đức khác.

          Niệm danh hiệu Phật A Di Đà hơn trì ba mươi vạn chú vãng sanh. Trì danh hiệu Phật A Di Đà một ngày một đêm tức thời thấy Phật A Di Đà.

          Với trì chú: Ngày đêm sáu thời, mỗi lần tụng chú bảy biến, có thể diệt trừ năm tội ngũ nghịch, nhưng chí tâm niệm Phật mỗi tiếng, thì diệt tám vạn ức kiếp trọng tội sinh tử.

         Niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà hơn tất cả các chú khác;

          Người chuyên tâm trì niệm A Di Đà Phật hơn trì đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú, nhất tâm trì niệm mười niệm sẽ được vãng sanh, vãng sanh bất thối chuyển, Phật tánh chẳng mất là đại thần chú, nhất tâm bất loạn là đoạn trừ vô minh, ngộ được tự tánhđại minh chú.

          Vãng sanh Cực Lạc, rốt ráo thành Phậtvô thượng chú.

           Vãng sanh Cực Lạc, chứng vô sanh nhẫn, hội nhập Ta Bà, phổ độ chúng sanhvô đẳng chú.

           Thực hành chuyên tâm pháp thập niệm để vãng sanh chứng vào ngôi bất thối, ngộ được Phật tánh thấy được bổn tâm không còn mê mờ, đó gọi là đại thần chú.

            Nhất tâm bất loạn, đoạn sạch vô minh, thấy được tự tánhđại minh chú.

            Vãng sanh Tịnh Độ, rốt ráo thành Phậtvô thượng chú.

            Vãng sanh Tịnh Độ, chứng vô sanh nhẫn, quay lại Ta Bà phổ độ chúng sanhvô đẳng đẳng chú.

            Niệm Phật hơn tất cả các công đức khác:

            Lục độ vạn hạnh pháp môn vô lượng.

            Chuyên trì danh hiệu, năng lượng thâu nhiếp không nghĩ bàn, vì chẳng phan duyên ra ngoài khi nhất tâm bất loạn.

            Thành tâm nguyện là tịnh nghiệp, người Phật tử niệm Phật chuyên sâu nơi tín nguyện, chẳng rời hai tâm này.

             Các bậc cổ đức có tu các pháp môn khác, cũng còn phải niệm Phật để vãng sanh, huống hồ chúng ta là người niệm Phật, sao dám dãi đãi không chuyên tâm hành trì, còn nghĩ gì khác nữa chứ!

            

             Mười công đức niệm Phật               

    Trong kinh nói: Người nào chí tâm niệm Phật, được mười công đức như sau:

1. Thường được chư Phật ngày đêm hộ niệm, Đức Phật A Di Đà phóng quang nhiếp thọ.

2. Thường được các vị Đại Bồ tát như Đức Quán Thế Âm thủ hộ.

3. Ngày đêm thường được chư Thiên cùng Đại lực Thần tướng ẩn hình ủng hộ.

4. Tất cả Dạ xoa, ác quỷ, rắn độc, thuốc độc đều không thể làm hại.

5. Không bị những tai nạn: Nước, lửa, đao, tên, gông, xiềng, lao ngục, giặc cướp, oan gia, cùng các thứ chết dữ.

6. Những tội đã làm thảy đều tiêu diệt, những kẻ chết oan vì mình đều được giải thoát, không còn kết oán ràng buộc.

7. Ban đêm nằm ngủ thường thấy điềm lành, hoặc thấy sắc thân thắng diệu của Phật A Di Đà.

8. Tâm thường vui vẻ, sắc thường tươi nhuận, khí lực đầy đủ, việc làm có kết quả tốt đẹp lợi ích.

9. Mọi người trông thấy đều vui mừng, cung kính hoặc lễ bái cũng như kính Phật.

10. Khi mạng lâm chung tâm không sợ hãi, chánh niệm hiện ra, được Tây phương Tam Thánh tiếp dẫn sanh về Tịnh Độ hưởng sự an vui không cùng!

           NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.           

                                ( Hết tập 1)

                                      

         

      

 

           

      

Tạo bài viết
03/12/2010(Xem: 27811)
Thể cách nhà sư buộc phật tử chắp tay nghinh đón thế quyền như nghinh đón chư Tăng rất khó coi. Quan chức vui gì khi có những nhà sư xu nịnh trắng trợn
Chùa Bảo Quang, Santa Ana, vừa tổ chức Lễ Đại Tường, nhân ngày giỗ mãn tang cố Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, hôm Thứ Năm, 9 Tháng Sáu, với sự hiện diện của hàng trăm chư tôn đức tăng ni và Phật tử.