Chương Ba: Tông Chỉ, Giáo NghĩaThánh Điển

27/10/201012:00 SA(Xem: 19272)
Chương Ba: Tông Chỉ, Giáo Nghĩa Và Thánh Điển

THIỀN TÀO ĐỘNG NHẬT BẢN
Nguyên tác: Azuma Ryushin (Đông Long Chơn)
Việt dịch: Thích Như Điển
Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc và quý Phật Tử tại Mỹ Châu – Úc Châu ấn tống 2008

Chương ba: Tông Chỉ, Giáo NghĩaThánh Điển

 

IV. Tông Chỉ, Giáo NghĩaThánh Điển
IV.1 Yếu Điểm Của Tọa Thiền
Yếu điểm của việc Tọa Thiền căn cứ theo “Tọa Thiền Dụng Tâm Ký”.
IV.1.1 Tào Động Tông Là Tông Tọa Thiền
Tào Động Tông là Tông Tọa Thiền cho nên Tăng lữ, Đàn Tín Đồ và những ai mang tâm nguyện vào cửa Tào Động phải cung kính Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đấng Giáo ChủLịch Đại Tổ Sư, và tin rằng từ Phật cho đến chư vị Tổ Sư có một sự truyền thừa liên tục, thuần nhất với Phật tâm (chơn tâm) và truyền thống, tiêu biểuCao Tổ Thiền Sư Đạo NguyênThái Tổ Thiền Sư Oánh Sơn, cho nên phải vững tin và tuân thủ những lời giáo huấn và sống với Tông Chỉ, như Chỉ Quán Đả Tọa (chỉ chuyên tâm ngồi thiền), Tức Tâm Thị Phật (cung cách ngồi thiền và tâm sống động như Đức Phật đang sống). Trong “Tào Động Tông Tông Chế” phần “Tào Động Tông Tông Hiến” ghi thật rõ ràng: “Bổn Tông luôn tôn trọng Chánh pháp, do Phật Tổ truyền nhau; Pháp chỉ quán đả tọa, tức tâm thị Phật đương nhiên là sự truyền thừa và là Tông Chỉ”.
Bởi tọa thiềnTông Chỉ của Tông Tào Động, cho nên căn bản sinh hoạt của Tông là hành thiền, thực tập tự giác như Phật, sống và sinh hoạt thực tiển như Đức Phật. Mỗi ngày ít nhất phải ngồi thiền 3 thời.
IV.1.2 Thiền Và Lịch Sử
Thiền, tiếng Sanskrit là Dhyana, tiếng Pàli là Jana, có từ thời Ấn Độ cổ đại, người Trung Hoa dịch là Thiền Na, gọi tắt là Thiền, nghĩa là tập trung tư tưởng vào một chỗ, tư duy thâm sâu và yên tĩnh quán tưởng. Tiếng Sanskrit còn gọi là Samadhi, dịch âm là Tam Muội, còn dịch là Định, chỉ cho trạng thái tâm an tĩnh, tâm đang an định. Trước đây chữ Định giống như chữ Thiền, về sau hợp chung lại gọi là Thiền Định.
Theo nghĩa đơn thuần chữ Hán, Thiền nghĩa là các vị Thần trên trời hay các vị Thần ở cửa sông hay Thần đất đai, khi cử hành tế lễ gọi là “Phong Thiền. Khi Thiên Tử truyền ban địa vị cho ai, gọi là “Thiền Nhượng”. Chữ “Thị Thiên” nghĩa là chỉ ra đơn lẽ, công bình. Theo Phật Giáo Thiền là tập trung tâm, suy nghĩ thâm sâu, an tịnh quán tưởng, ngoài ra không còn nghĩa khác, song ngày nay khi dùng chữ Thiền, cảm nhận như đã mất đi ý nghĩa nguyên thỉ rồi.
Tại Ấn, Thiền có trước thời Phật, là pháp môn tu của ông Uất Đầu Lam Phất (Udraka Ramaputra). Khi Đức Thích Tôn từ bỏ Pháp Minh Tưởng, pháp tu thời Ấn Độ cổ đại, vì nhận thấy có nhiều khuyết điểm ngay từ ban đầu của pháp môn ấy và khám phá ra một pháp môn mới chính là Thiền Phật Giáo.
Tổ Đạt Ma Đại Sư mang pháp môn Tọa Thiền truyền thống từ thời Phật truyền sang Trung Hoa trở thành Thiền của Ngài Đạt Ma Đại Sư, phát huy mạnh mẽ, đặc sắc. Về sau phát triển về phương Nam, được Lục Tổ Huệ Năng xiển dương đặc tính siêu việt của Thiền phù hợp với căn cơ trình độ mọi nguời và hình thành một phái riêng biệt gọi là Thiền Tông.
Trong lịch sử Trung Hoa, Thiền Tông phát triển càng ngày càng rộng lớn, tùy theo đời sống tu tập của từng vị Tổ quảng bá và lưu lại ảnh hình, về sau Thiền truyền sang Triều Tiên và các nước thuộc bán đảo Đông Dương (gồm Việt Nam và các nước khác). Thiền Tông Trung Hoa gọi là “Ngũ Gia Thất Tông”, bắt đầu hệ thống từ Thiền Sư Huệ Năng, đến Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất tại Giang Tây, Thiền Sư Thạch Đầu Hy ThiênHồ Nam, tượng của Tổ Sư nầy được thờ tại Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự. Môn sinh của Thiền Sư Mã TổQuy Sơn Linh Hựu Thiền Sư , đệ tử của Linh HựuNgưỡng Sơn Huệ Hạc Thiền Sư thuộc Quy Ngưỡng Tông. Rồi Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền lập ra Lâm Tế Tông. Từ hệ mạch Thiền Sư Thạch Đầu, Thiền Sư Động Sơn Lương Giới cùng với Đệ Tử, Thiền Sư Tào Sơn Bổn Tịch lập ra Tào Động Tông. Thiền Sư Vân Môn Văn Yển thành Vân Môn Tông. Thiền Sư Pháp Nhãn Văn Ích hình thành Pháp Nhãn Tông, tất cả gọi là 5 nhà của Thiền Tông.
Về sau, Tông Lâm Tế chia hai: Thiền Sư Hoàng Long Huệ NamThiền Sư Dương Kỳ Phương Hội trở thành Hoàng Long PháiDương Kỳ Phái, tất cả hợp lại thành Ngũ Gia Thất Tông.
Như trên đã trình bày, Thiền Sư Đạo Nguyên ở Nhật thuộc phái Hoàng Long, Thiền Lâm Tế của Thiền Sư Vinh Tây , đệ tử học đạo với Hòa Thượng Minh Toàn. Khi sang Trung Hoa chủ yếu tu học theo Thiền Lâm Tế. Nhưng về sau học theo Thiền Sư Như Tịnh , thuần túy chánh thống của pháp hệ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới, cho nên từ đó Thiền Tào Động truyền sang Nhật Bản.
IV.1.3 Truyền Thống Của Tào Động Tông
Thiền Sư Đạo Nguyên chính là Thỉ Tổ của Tông Tào Động truyền thốngNhật Bản. Căn cứ theo biểu đồ của lịch sử Đại Tổ Sư , thứ tự như sau:
Bảy vị Phật trong quá khứ. Phật trong hiện tạiThích Ca Mâu Ni Phật và các vị Tổ truyền thừa:
1. Ma Ha Ca Diếp
2. A Nan Đà
3. Thương Na Hòa Tu
4. Ưu Ba Cúc Đa
5. Đề Đa Ca
6. Di Già Ca
7. Ba Tu Mật
8. Phật Đà Nan Đề
9. Phục Đà Mật Đa
10. Bà Phiếu Thấp Phược (Hiếp Tôn Giả)
11. Phú Na Dạ Xà
12. A Na Bồ Đề (Mã Minh)
13. Ca Tì Ma La
14. Na Già Phạt Lặc Thụ Na (Long Thọ)
15. Ca Na Đề Bà
16. La Hầu La Đa
17. Tăng Già Nan Đề
18. Già Da Xá Đa
19. Cưu Ma La Đa
20. Xà Dạ Đa
21. Bà Tu Bàn Đầu
22. Ma Noa La
23. Hạc Lặc Na
24. Sư Tử Bồ Đề
25. Bà Xá Tư Đa
26. Bất Như Mật Đa
27. Bát Nhã Đa La
28. Bồ Đề Đạt Ma, Sơ Tổ Trung Quốc (cho đến đây là những vị Tổ Sư người Ấn Độ)
29. Thái Tổ Huệ Khả
30. Giám Trí Tăng Xán
31. Đại Y Đạo Tín
32. Đại Mãn Hoằng Nhẫn
33. Đại Giám Huệ Năng
34. Thanh Nguyên Hành Tư
35. Thạch Đầu Hy Giá
36. Dược Sơn Duy Nghiêm
37. Vân Nham Đàm Thịnh
38. Động Sơn Lương Giới
39. Vân Cư Đạo Ưng
40. Đồng An Đạo Phủ
41. Đồng An Quán Chí
42. Lương Sơn Duyên Quán
43. Đại Dương Cảnh Huyền
44. Đầu Tử Nghĩa Thanh
45. Phù Dung Đạo Giai
46. Đan Hà Tử Thuần
47. Trường Lô Thanh Liễu
48. Thiên Đồng Tông Giác
49. Tuyết Đậu Trí Giám
50. Thiên Đồng Như Tịnh (cho đến đây là những Thiền Sư Trung Quốc)
51. Vĩnh Bình Đạo Nguyên
52. Cô Vân Hoài Tráng
53. Triệt Thông Nghĩa Giới
54. Oánh Sơn Thiệu Cẩn.
Tại đây chia hai:
Minh Phong Tố Triết (từ đây xuống dưới lượt bớt)
Nga Sơn Thiều Thạc (từ đây xuống dưới lượt bớt).
IV.1.4 Thiền Có Nghĩa Là Tọa Thiền
Khi Thiền Sư Đạo Nguyên từ Trung Hoa về lại Nhật, tiếng nói đầu tiên, được ghi trong sách “Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi”, là tuyên bố: “Tọa Thiền là việc tốt đẹp“. Ngài cũng giảng về pháp môn tọa Thiền thích hợp từng cá nhân để “thân tâm tự nhiên thoát lạc và bổn lai diện mục hiện tiền”. Ngài còn dạy “Chỉ quán tham thiền biện đạo” là những đề tài khi Tọa Thiền chú tâm để thân tâm rốt ráo an định, thống nhất, điều hòa, nhất là dung hòa với trong thực tế chính mình. Cho nên tham thiền mới có thể tiến tu theo con đường Phật Đạo được.
Vả lại, Thiền Sư Đạo Nguyên nói rằng: “Tham thiền cũng chính là tọa thiền” vì Ngài chú trọng pháp môn hành trì Thiền Tọa hơn là nói về Thiền. Ngồi thể hiện bằng động tác như ngồi là rõ biết một cách đích xác về chính mình . Hơn nữa Thiền Sư Đạo Nguyên quan tâm ngồi của tọa Thiền, tham Thiền tức là Tọa Thiền còn Tham Thiền của Tông Lâm Tế, nhận lãnh công án từ Sư Gia, tham cứu một cách công phunhập thất độc tham.
IV.1.5 Chỉ Quán Đả TọaTức Tâm Thị Phật
Trong “Chánh Pháp Nhãn Tạng”, phần “Tam Muội Vương Tam Muội” tham thiền được giải thích rằng: “Thân ngồi kiết già phu tọa, tâm cũng phải kiết già phu tọa, để cuối cùng thân tâm thoát lạc kiết già phu tọa”. Ngồi bằng thân thể, ngồi bằng tâm nghĩa là toàn thân và linh thức đều ngồi. “Ngày đêm chỉ quán phu tọa, lúc vào cũng Tam Muội Vương Tam Muội” nghĩa là ngày đêm lúc nào cũng Tọa Thiền, mà Tọa Thiềnchỉ quán đả tọa như thế thôi.
Phật dạy: “Ngồi thiền để thân tâm giải thoátan lạc. Khi chỉ quán đả tọa thì không cần đốt hương, lễ bái, niệm Phật, tu sám, xem Kinh v.v...
Đôi khi, Thiền Sư Đạo Nguyên dùng ngôn ngữ của Thiền Sư Như Tịnh, bổn sư Ngài dẫn chứng khi thuyết giảng về Tọa Thiền như là tham thiền để thân tâm được giải thoátan lạc, mà Chỉ Quán Đả Tọa có khả năng làm cho thân tâm giải thoát an lạc trước nhất, khi đó những pháp môn tu hành khác như thiêu hương, lễ bái, niệm Phật, tu sám, xem kinh v.v... không còn cần thiết nữa. Một khi thành tựu Thiền Chỉ Quán Đả Tọa, sẽ biết một cách rõ ràng “Tức Tâm Thị Phật” “tâm nầy là tâm Phật”.
Thế nhưng dù “Tức Tâm Thị Phật” nhưng không được gọi là Phật, cũng chẳng phải là linh hồn trường cửu bất diệt ngoài nhục thân nầy, bởi vì tâm còn bị phiền não nhiễm ôtâm không ngoài tinh thầnvật chất của xác thịt nầy. Trong “Chánh Pháp Nhãn Tạng”, phần “Tức Tâm Thị Phật” Thiền Sư Đạo Nguyên lý giải về sự hiểu lầm “Tức Tâm Thị Phật” như sau:
Trước tiên “tâm chẳng nhiễm ô là tâm Phật” nghĩa là tâm không bị phiền não nhiễm ô khuấy động chính là tâm Phật. Tiếp đến “tâm nầy chánh truyền, nhứt tâm nhứt thiết pháp; nhứt thiết pháp nhứt tâm”. Tâm nầy tồn tại ở tất cả mọi nơi và trong tất cả mọi nơi đều có tâm nầy có thể gọi Pháp, sự vật, sự tồn tại. Nhứt tâm và nhứt thiết pháp. Nhứt thiết pháp và nhứt tâm nghĩa là tất cả là một, nếu gọi bình thườngtinh thần, tâm, linh hồn, tâm linh, v.v... và các tác dụng tinh thần, tâm lý v.v.. ., không phải Tùng (từ) Tâm Thị Phật, mà là Tức Tâm Thị Phật, Ta và Đại Vũ Trụ, tâm và vật là một (nhất như), thân tâm nhứt thể như thế, đó là Tức Tâm Thị Phật.
Kế đến “Tức Tâm Thị Phật“ là phát tâm tu hành chứng đắc quả vị Bồ Đề giác ngộ, viên mãn con đường Niết Bàn của chư Phật”. Đạo lý Tức Tâm Thị Phật như thế, là sự thật tuyệt đối. Nói cách khác, không có tính cách nhất định về quan niệm, tất nhiên phát tâm rồi tu hành, khai, thị, ngộ, nhập rất cụ thể và thực tiển, biểu hiện hoàn toàn rất cụ thể trên thân tâm. Nếu chẳng phát tâm, chẳng tu hành, không khai ngộ, chắc chắn rằng sẽ không thể nghiệm “Tức Tâm Thị Phật”, không thể gọi là chư Phật được.
Như thế, “Đức Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật, chính Ngài trở thành Tức Tâm Thị Phật. Chư Phật trong quá khứ, trong hiện tại và trong vị lai phải thành Phật như Đức Thích Ca Mâu Ni vậy, mới gọi là Tức Tâm Thị Phật”. Nói Chư Phật là bao gồm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và nhiều vị Phật khác, gọi chung là Thích Tôn, mà Thích Tôn là “Tức Tâm Thị Phật“, vượt qua khỏi giới hạn của thời gian quá khứ, hiện tạivị lai, vượt qua ý niệm không gian, không còn lãnh vực Đông, Tây, Nam, Bắc. Tất cả chư Phật khi thành Phật trở thành Đức Thích Tôn, vị Phật “Tức Tâm Thị Phật”.
Như trước đã trình bày, phải thực hành Chỉ Quán Đả Tọa mới lãnh hội Thích Tôn, mới có thể nói rằng nối thẳng trực ngộ.
IV.1.6 Tọa Thiền Dụng Tâm
Những điểm quan trọng của tác phẩm “Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi”, do Thiền Sư Đạo Nguyên biên soạn như Tọa Thiền phải dụng tâm và tường thật tỉ mĩ v.v... đều ghi lại đầy đủ và trân trọng trong tác phẩm “Tọa Thiền Dụng Tâm Ký” của Thiền Sư Oánh Sơn, có thể nói rằng một tác phẩm giải thích, hướng dẫn phương pháp Tọa Thiền thông dụng, thực tế và hiếm thấy. Bởi mọi nguời biết tác phẩm “Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi” hơn “Tọa Thiền Dụng Tâm Ký”, cho nên “Tọa Thiền Dụng Tâm Ký” được giới thiệugiải thích những điểm quan trọng việc Tọa Thiền, chánh truyền từ Phật đến Tổ đến hôm nay.
IV.1.7 Tọa Thiền Nghĩa Là Gì?
Tựa đề “Tọa Thiền Dụng Tâm Ký” giải thích từ văn chữ Hán như sau: “Tọa Thiền khai sáng tâm địa, làm cho con người trở nên chánh trực và an trụ vào tự thân, còn gọi là bổn lai diện mục, bổn địa phong quang và làm cho thân tâm được giải thoát an lạc”. Tọa Thiền làm cho tâm được sáng sủa và an trụ. Tâm sáng suốt rõ biết và tự chiếu linh nhiên, chỉ cho chơn tâm thanh tịnh sáng tỏ, vượt khỏi thị phi, thiện ác. Như người đi tìm quê hương khác, qua lại đó đây không cần thiết nữa, bây giờ chúng ta hãy về nhà ngồi yên và lưu trú lại lâu dài.
IV.1.8 Cách Dụng Tâm Thứ Nhất
Phát tâm chân thành, quyết tâm đoạn trừ vô minh (những sự mê vọng của mình), xem việc Tọa Thiền là quan trọng và cần thiết, bỏ hết mọi ngoại duyên, tinh tấn tọa Thiền, không còn gì khác hơn dụng tâm, quyết định và không còn do dự.
IV.1.8.1 Điều Tâm
Điều lưu ý là khi Tọa Thiền đầu tiên điều tâm, tiếp đến điều thân và cuối cùng điều hơi thở.
Trước tiên là Điều Tâm, nghĩa là bắt đầu điều chỉnh tâm mình khi Tọa Thiền. Quan trọng và cần thiếtbuông xả không vướng mắc vào những vấn đề như: kỹ thuật, học nghệ, y học, ca múa, kỹ nhạc, tranh luận, luận nghị, danh dự, lợi hại v.v... ngay cả chẳng dính mắc vào văn chương, học thuật v.v...
IV.1.8.2 Điều Thân
Tiếp theo Điều Thân, không được dùng y phục áo quần sặc sỡ hay bẩn thiểu, phải mặc áo quần sạch sẽ. Ngay cả việc ăn uống, ngủ nghỉ phải đầy đủ, nhưng không được ăn quá no, phải ăn vừa bụng (khoảng 8 phần 10) để dễ tiêu hóa, không ăn những món ăn không thích hợp với cơ thể, không ăn thức ăn ngon, không ăn thức cay nồng, mè, khoai v.v...
IV.1.8.3 Điều Tức (Điều Hòa Hơi Thở)
Cuối cùng điều hơi thở.
Tọa Thiền không được ngồi dựa lưng vào tường, hoặc ngồi trên ghế dựa, nơi gió nhiều, chỗ cao v.v... Điều hòa hơi thở cần thiết làm cho thân thể không nóng quá mà cũng không lạnh quá, không khí chung quanh không khô quá, không tốt cho thân thể, cảm thấy khó chịu, bực dọc, hôn trầm, rơi vào chỗ hoang tưởng, khiến thần kinh quá nhạy. Nếu khó thể điều hòa hơi thở, phải làm cho trung hòa lại. Để điều hòa hơi thở trở lại, thỉnh thoảng mở miệng ra, hơi thở dài cứ thở dài, hơi thở ngắn cứ thở ngắn, từ từ hơi thở sẽ quân bình.
Khi bịnh khó điều hơi thở được, có thể có cảm giác hôn trầm, không yên tỉnh, động đậy, khó chịu, có thể nhìn ra bên ngoài, hoặc nhìn vào bên trong thân thể của mình, hay ngắm Phật, Bồ Tát, hay thả hồn tư duy về sự tốt đẹp; hay tư duy ý nghĩa câu Kinh v.v... đại loại như thế, song không thể gọi là điều hòa hơi thở được.
Chỗ an tâm – Khi hơi thở không thể điều hòa được, hãy mang tâm mình lên để nơi hai chân thử xem. Khi tâm lắng xuống, mang lên để nơi giữa hai chân mày, như khi tâm tán loạn, tư duy mũi có thẳng với đan điền (lỗ rốn) không? Bình thường Tọa Thiền, phải để tâm mình phía bên trái. Tọa Thiền lâu không điều hòa hơi thở được, đừng lo lắng. Ngữ lục chư Tổ Sư dạy vì nhìn quá nhiều hay đọc sách quá nhiều tâm không an, thân tâm mệt mõi, nguyên nhân phát sinh ra bệnh.
IV.1.8.4 Ngoại Cảnh Chung Quanh Khi Ngồi Thiền
Lúc ngồi thiền, không nên ngồi những khi có nạn lửa cháy, nước lụt, gió bão, trộm cướp v.v...không nên ở những nơi gần biển, tửu quán, phòng dâm, đàn bà góa chồng, nơi đàn bà tụ họp, phường hát múa, những người quyền lực như Vua tôi, Đại Thần; những người tham danh lợi; những kẻ ham hý luận v.v... Không nên ngồi chỗ quá sáng, quá tối, quá lạnh, quá nóng v.v... Không nên gần gũi kẻ lãng du, kỹ nữ v.v... phải ở trong Tăng Đường, nơi có những Thiện Tri Thức, nơi thâm sơn u cốc, nơi trong sạch, thích hợp, thanh tịnh, không có gió, lửa, mưa, sương, vào mùa Đông phải ấm, mùa Hè phải mát.
Đạo tràng ngồi thiền phải lau chùi sạch sẽ, thường dâng cúng hoa hương lên Phật, Bồ Tát hay La Hán, khởi tâm từ bi, tưởng nhớ công đức của tất cả chúng sanh. Khi Tọa Thiền đã thành thục rồi, bất cứ hoàn cảnh nào cũng không chi phối người ngồi Thiền, khi đó việc nơi chốn trở nên không cần thiết chọn lựa nữa.
IV.1.8.5 Nội Dung Của Việc Tọa Thiền
Thật sự, Tọa Thiền để khai mở tâm địa, an trụ vào bổn phận (chính mình) và đi vào cửa chánh của Phật Đạo, mà những điều đó liên hệ với tư tưởng của Phật Giáo.
Tọa Thiền và Giáo – Hạnh – Chứng:
Giáo là lý luận Phật Giáo. Hạnh là những điều thực tiển. Chứng là kết quả của Giáo và Hạnh. Tông Phái nào cũng phải nói về Giáo, Hạnh và Chứng nầy. Giáo là dạy phải bỏ những điều ác và tu những việc lành. Hạnh có nghĩa là phải nổ lực thực hiện. Còn Chứng là giác ngộ. Từ Giáo đến Hạnh rồi từ Hạnh đến Chứng luôn tiến hành như thế.
Thật là sai nếu suy nghĩ một cách nông cạn về Tọa Thiền chánh truyền. Thật ra, Giáo là những lời dạy chơn chánh của Phật Tổ. Hành là thực hành những điều thâm diệu của Phật Tổ và Chứng là chứng được “Tam Muội Vương Tam Muội”, “bản hữu đại giác”. Từ đây Giáo, Hạnh và Chứng được thành lập. Bên trong tư duy như thế, bên ngoài tinh tấn hành Thiền gọi là Tọa Thiền.
Tọa Thiền và Giới, Định, Huệ:
Giới là sinh hoạtgiới hạn. Định là tâm yên tỉnh và Huệ là thâm nhậptư duy sâu xa về Giới và Định. Thực hành Giới sẽ được Định và thực hành Định sẽ có Huệ. Thế nhưng, việc chánh truyền của Tọa Thiền là nơi chốn ngồi thiềnthực hành Giới, Định và Huệ.
Giới còn có nghĩa là tâm địa vô tướng. Định có nghĩa là có tướng định khi nhập vào Đại Định. Huệ có nghĩa là tướng huệ - Đại Huệ. Theo ý nghĩa nầy, Tọa Thiền phải tu Giới, Định và Huệ vậy.
Như thế, ngoài Giáo, Hạnh và Chứng ra còn có Giới, Định và Huệ nữa. Đây chính là những điểm căn bản của tư tưởng Phật Giáo.
IV.1.9 Phương Pháp Ngồi ThiềnTính Cách Cụ Thể
Khi ngồi Thiền, theo nguyên tắc phải đắp y (Cà Sa), ngồi trên bồ đoàn (đường kính 38,19 cm, chu vi 119,97 cm) và 2 chân phải ngồi tréo với nhau và xương sống phải thẳng xuống chỗ ngồi.
Phương pháp ngồi gồm có Kiết-già phu tọa và Bán-già phu tọa. Bây giờ sẽ nói về Kiết-già phu tọa.
Đầu tiên lấy chân phải để lên bên trái, lấy chân trái để lên trên chân phải. Còn y phục thì nên mặc cho rộng một chút.
Tay phải để lên chân trái và tay trái để lên trên chân phải. Hai ngón tay cái của hai bàn tay đâu lại với nhau. Hai tay đặt ngang nơi vị trí của rốn mình.
Ngồi ngay thẳng, không được nghiêng bên trái, không được nghiêng bên phải, không được ngã phía trước và cũng không được ngã về phía sau. Tai, vai, mũi, lỗ rốn phải tương đối thẳng tắp.
Lưỡi đưa lên hàm trên, miệng ngậm lại, lấy hơi thở từ lỗ mũi. Môi và răng khít nhau. Mắt không được mở hoàn toàn, cũng không được nhắm hoàn toàn.
Hãy điều chỉnh dáng ngồi như thế, miệng có thể mở một đôi lần để cho không khí ra. Đoạn phía nửa thân hình bên trên dao động 7 hay 8 lần từ trái qua phải, từ ít đến nhiều. Rồi từ từ động tác ấy dừng lại và ngay ở điểm trung tâm là được.
Phương pháp chánh của Hành Thiền (Tọa Thiền) là “phi tư lượng”, nghĩa là phải lìa xa tất cả những phân biệt suy nghĩ, mà Theo Chỉ Quán Đả Tọa, tham thiền là một pháp môn đại an lạc, tu hành bất nhiễm ô vậy.
Nếu khi muốn xả Thiền, trước tiên phải đưa hai tay lên cao, rồi lại để lên đầu gối và dao động nửa thân trên bảy hay tám lần từ nhẹ đến mạnh, từ trái sang phải, mở miệng, thở ra và mở chân ra. Hai tay chống xuống mặt đất, từ từ đứng dậy, rồi bắt đầu đi chầm chậm.
IV.1.10 Khi Buồn Ngủ Thì Phải Làm Sao?
Tọa Thiềncảm thấy buồn ngủ, nên dao động thân thể, mở mắt ra và dán tâm vào giữa hai lông mày, lau mắt và xoa bóp thân thể, đi kinh hành một hơi thở nửa bước, rửa mặt làm cho đầu lạnh, đọc lời tựa của Bồ Tát Giới Kinh, tự thệ với mình v.v... cũng có nhiều phương pháp khác nữa có thể tự mình suy nghĩ lấy.
IV.1.11 Khi Tán Loạn Thì Phái Làm Sao?
Lúc tâm tán loạn, không kèm chế được, hãy dùng tâm ấy đặt thẳng nơi sống mũi và đan điền. Hoặc thở hơi ra và thử đếm số lần. Nếu không trị được, hãy dùng công phu để nghiên tầm công án. Thực hành như thế vẫn không được, dừng hít thở, dụi hai mắt và luyện tập công phu khác để xem sao?
IV.1.12 Cảnh Địa Của Việc Tọa Thiền
Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư , hành giả tu Thiền ở Trung Hoa, đời Đường chỉ rõ phải hướng về cảnh địa “Thất Khứ”. Thất Khứ được giải thích như sau:
Hưu Khứ: nghĩa là hãy dừng những suy nghĩ phân biệttính cách bình thường lại.
Hiết Khứ: phải buông hết, từ từ làm cho thân thể an lạc.
Lãnh Tưu Tưu Địa Khứ: tức là buông xả mọi việc, đừng giữ lại nữa, như nước ao lạnh xua tan nhiệt khí phiền não, không còn bị phiền não thiêu đốt nữa.
Nhứt Niệm Vạn Niên Khứ: thu về một hơi thở. Khi Tọa Thiền triệt để vượt ra khỏi thời gian.
Hàn Than Khô Mộc Khứ: không còn bị những sự vật cảnh tượng ảnh hưởng. Tâm sáng suốt khi ngồi thiền.
Cổ Miếu Hương Lô Khứ: nghĩa là đạt được cảnh giới Định (cổ miếu) và Huệ (hương lô).
Nhứt Điều Bạch Luyện Khứ: Trắng và đẹp như thớ gân và mềm như lụa trắng. Dù ở bất cứ nơi đâu, ánh sáng của việc Tọa Thiền vẫn làm cho tâm thuần khiết an lạcthanh tịnh.
IV.2 Lời Dạy Của “Tu Chứng Nghĩa”
Đây là một quyển sách cần thiết của tín ngưỡng
IV.2.1 Tu Chứng Nghĩa
Với Tín Đồ của Tông Tào Động, “Tu Chứng Nghĩa“ là Tông Điển rất gần gũi thân thiết. Phần “Tào Động Tông Nghi Lễ Quy Trình” trong “Tào Động Tông Tông Chế” cho rằng: “Tu Chứng Nghĩa” là Tông Điển sử dụng hằng ngày trong cuộc sống. Vả lại, “Tào Động Tông Tông Hiến” quy định “Bổn Tông lấy bốn đại cương của Tu Chứng Nghĩa làm nguyên tắc, mà đại cương ấy thực hành giáo nghĩa thực tiển của Thiền Giới Nhứt Như và Diệu Đế tu chứng bất nhị”. Vả lại, “Tu Chứng Nghĩa” chỉ rõ giáo nghĩa của Tông Tào Động.
IV.2.2 Sự Hình Thành Của “Tu Chứng Nghĩa”
Năm Minh Trị (Meiji) thứ 20, để đơn giản hóa lời dạy của Thiền Sư Đạo Nguyên dành cho Tín Đồ tại gia, người ta trích trong tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tạng” gồm 95 quyển ra những câu văn dễ hiểu rồi biên tập thành sách hướng dẫn, mà hầu hết những người Tín Đồ tại gia đó chính là những Tăng lữ của Tông Tào Động đã hoàn tục, có người hợp tác thành lập trường “Nhật Bản Manh Á Học Hiệu” (dạy cho những người mù và câm), có người là hiệu trưởng của Đại Học Đông Dương, có người xây dựng Tú Anh Xá (dùng làm chỗ in ấn, trong đó có Đại Nhật Bản Ấn Loát), Hồng Minh Xã (làm công việc xuất bản sách báo của Phật Giáo), có người đi làm công tác từ thiện, xã hội, giáo dục, hoặc những Phật sự do Đại Nội Thanh Loan Cư Sĩ chủ xướng và phát hành “Đổng Thượng Tại Gia Tu Chứng Nghĩa” do cư sĩ Thanh Loan, người bị sa thải ra khỏi giáo đoàn, soạn.
“Đổng Thượng Tại Gia Tu Chứng Nghĩa” được xem là tác phẩm tiêu chuẩn hoằng hóa của cư sĩ tại gia, song bị Thiền Sư Thác Cốc Triện Tông – Takiya Takushyu , Quản Thủ đại bổn sơn Vĩnh Bình Tự, và Thiền Sư Bạn Thượng Mai Tiên – Azegami Baisen , Quản Thủ đại bổn sơn Tổng Trì Tự kịch liệt phê bình nội dung đến nổi bị những cơ quan liên hệ phải thẩm bàn lại.
Thế nhưng, vào ngày mồng một, tháng 2 năm Minh Trị thứ 23, tác phẩm nầy được công bố không chỉ dành cho cư sĩ mà cho chư Tăng thuộc Tông nữa, thế nên được đổi là “Tào Động Giáo Hội Tu Chứng Nghĩa”. Hơn nữa, trong hiện tại chỉ gọi đơn thuần là “Tu Chứng Nghĩa”, đồng thời, còn chế ra các nghi lễ: Tang lễ, Chẩn tế Thí thực v.v... dành cho Tín Đồ, cho nên họ rất thích đọc tụng.
IV.2.3 Đại Ý
“Tu Chứng Nghĩa” được rút từ tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tạng” 95 quyển, gồm có 24 quyển, có 3.704 chữ, chia thành 5 chương, 31 tiết. Chương một là phần tựa. Chương hai nói về sám hối diệt tội. Chương ba nói về thọ giới nhập vị. Chương tư nói về phát nguyện lợi sanh. Chương năm nói về hành trì báo ân.
Giải thích đơn giản theo tựa đề, “Tu Chứng Nghĩa” có nghĩa là; Tu là phương pháp tu hành; Chứng là sự chứng ngộ nói khác là mục tiêu hướng đến; Nghĩa là ý nghĩa, có thể hiểu là phương pháp, mục tiêuý nghĩa của Thánh Điển.
Phương pháp ấy là gì? Là phương pháp thành Phật. Mục tiêu gì? Là Phật, giác ngộ. Phật sanh từ chơn tâm, hướng dẫn cho người sống trong xã hội, chính là con người, phải làm thế nào để thành Phật. Hoặc có thể nghĩ rằng con người như thế nào là Phật. Nội dung của tác phẩm nầy trả lời nghi vấn đó. Theo cá nhân tôi, chương thứ năm là chương quan trọng nhất của “Tu Chứng Nghĩa” nói về “hành trì báo ân”. Song chương thứ ba lại là chương trọng yếu nhất của “Tu Chứng Nghĩa” nói về thọ giới. Tuy nhiên, nhìn sự sắp xếp trên, có thể suy nghĩ rằng chương thứ ba nói về vấn đề thọ giớitính cách cụ thể (về phương diện sinh hoạt xã hội Phật Giáo). Hai chương nầy có thể xem là trung tâm điểm được chăng? Bởi vì chương thứ nhất về lời tựa, chương thứ hai về sám hối diệt tội, chương thứ ba và chương thứ tư là thuộc về phần nhập đạo, chương thứ năm là chương tối quan trọng về hành trì báo ân. Sau đây sẽ giải thích về đại ý của mỗi chương.
IV.2.3.1 Chương 1 – Lời Tựa
Mục tiêu chính của tín đồ Phật Giáo là phải thấy bản chất sinh tử của chính mỗi người. Được làm người và gặp Phật Pháp là điều vô cùng hy hữu ngay bây giờ, cho nên đừng đánh mất ý nghĩa cuộc sống của con người, phải gióng lên tiếng nói thức tĩnh cho những ai chưa hoàn hảo, đừng nên chấp vào biên kiến, đối đãi như thiện và ác; nhơn và quả; nghiệp và báo; quá khứ, hiện tạivị lai, trong ba đời, nếu chỉ dùng biên kiến đối đãi nhau, không thể lãnh hội tư tưởng Phật Giáo.
IV.2.3.2 Chương 2 – Sám Hối Diệt Tội
Với chúng ta, lòng từ bi của chư Phật, chư Tổ quảng đại vô biên, mở cho chúng ta cánh cửa giải thoát. Để được vào cửa nầy, phải phản tỉnh về ngã kiến, tha thiết sám hối ác nghiệp đã phạm trong quá khứ. Tất nhiên sẽ được chư Phật, chư Tổ gia hộ, sống trong năng lượng an lạc vô biên như chư Phật, chư Tổ.
IV.2.3.3 Chương 3 – Thọ Giới Nhập Vị
Sám hối xong, trước tiên phải quy y Tam Bảo, tin sâu lời Phật, không mê tín ngoại đạo tà giáo, phát nguyện thọ trì ba giới trong mười giới cẩn trọngthanh tịnh. Nhờ thọ giới, niềm tin càng thêm tăng trưởngtuyệt đối. Nhờ tin Phật, mỗi tự thể chúng sanh có thể mở cho mình một lối sống chân thật. Trong xã hội, nếu có nhiều người tin Phật như thế, thế giới nầy sẽ được bình an.
IV.2.3.4 Chương 4 – Phát Nguyện Lợi Sanh
Hãy buông xả tất cả những công việc riêng tư, phát nguyện lợi sanhkhởi tâm vị tha. Bất cứ ai có tâm như thế, dù chỉ là cô bé tuổi lên bảy, cũng có thể gọi là người gương mẫu trong cuộc sống nầy. Hãy phát nguyện như thế, bởi vì đây là việc vô cùng cần thiếtphát nguyện bao gồm bốn chân lý đó là:
 Sống không tham đắm,
 Có lòng từ và hòa ái,
Thực hành thiện hạnh,
Buông bỏ lối sống riêng tư, sống thân thiện nhau.
IV.2.3.5 Chương 5 – Hành Trì Báo Ân
Thật sự, không đơn thuần sống một cách trọn vẹn với bốn chơn lý trên, cho nên trong đời nầy, cần phải nương tựa giáo Pháp Thế Tôn và chư vị Tổ Sư, phải niệm ân chư Phật, chư Tổ. Song nếu không biết rõ ân đức cao vời ấy, làm sao báo ân? Thật ra, không gì hơn phương pháp tưởng niệm cuộc đời đức Phật trong sinh hoạt hằng ngày, dù phải làm gì đi nữa, bởi vì thời gian trôi qua như tên bắn, cuộc đời mong manh như sương mai, tự mình mỗi ngày kính ngưỡng đức Phật và sự tu hành giải thoát giác ngộ của Phật. Nếu mỗi ngày sống trong niệm tưởng như thế và luôn luôn tôn trọng mạng sống của những kẻ khác, sẽ được cộng thông cùng chư Phật, lãnh hội cốt tủy Phật Pháp của Đức Thích Tôn, được gọi là Tức Tâm Thị Phật, bởi vì chỉ còn trong đầu hoặc nơi tiếng nói, trong suy nghĩTức Tâm Thị Phật. Đừng nói gì cả, hãy tự hỏi và tự nghiệm với chính mình Tức Tâm Thị Phật là việc của ai vậy? Trả lời được chính là báo ân Phật vậy.
IV.2.4 Thiền Giới Nhứt Như
Theo Tông chỉ của Tông Tào Động, Chỉ Quán Đả TọaTức Tâm Thị Phậtngôn ngữ biểu trưng đặc tính của Thiền trong Phật Giáo. Thế nhưng trong sinh hoạt hằng ngày, Tông Chỉ nầy phải được thực hiện như thế nào? Vả lại, nguyên tắc sinh hoạt tín ngưỡng của Tông Tào Động căn cứ tác phẩm “Tu Chứng Nghĩa“ có thể tương ưng với Giáo Lý chăng?
Theo “Tu Chứng Nghĩa” nguyên tắc sinh hoạt tín ngưỡngbốn Đại Cương Lãnh, được biết với những thuật ngữ như:
Sám Hối Diệt Tội,
Thọ Giới Nhập Vị,
Phát Nguyện Lợi Sanh
Hành Trì Báo Ân.
Bốn đại cương lãnh, theo giải thích ở trên, là bốn cương yếu quan trọng, còn có thể gọi là Thiền Giới Nhứt Như hay Tu Chứng Bất Nhị, sẽ được lý giải ở sau.
Thiền Giới Nhứt Như nghĩa là Thiền và Giới là một, mà nếu nói tổng quát, Giới là giới luật, không làm điều ác, hãy làm việc lành, nghiêm cấm những việc làm ảnh hưởng đến đạo đứcluân lý, phải sống hướng thượng, có nhân cách, hòa bình, dù sống cá nhân hay sống tập thể, không thể thiếu luân lý đạo đức, vì đó là điều kiện tiên quyết, không cần nói cũng phải hiểu. Thế nhưng, căn cứ vào cái gì để xác định đạo đức và luân lý? Có lẽ có nhiều suy nghĩ và nhiều lập trường khác nhau, song tất cả cùng chung một điều vốn có sẵn đó là lấy con người làm trọng tâm, không chấp thủ, phải có tâm yêu thương. Tâm ấy, theo Phật Giáo, là Phật-tâm, Phật-tánh.
Tư duy về chơn tâm không phải để nói, để hành động, mà trở về với đạo đức chơn thật, luân lý đứng đắn. Lịch sửxã hội có thể biến đổi, song thông thường đạo đức và luân lý nhằm hóa giải tánh xấu của mỗi cá thể không bao giờ khác biệt bởi dù ở đâu, bất cứ lúc nào, cho bất cứ ai. Thực tế, tất cả mọi đời sống của mọi loài không thể tồn tại mãi mãi.
Như thế, trên bình diện vũ trụ quan, tất cả đời sống chỉ là sự tự giác chơn tâm của con người, là Thiền, không có gì khác (Chỉ Quán Đả Tọa; Tức Tâm Thị Phật) và trên bình diện tự giác, cuộc sống ấy là giới. Nói khác, Thiền là cuộc sống thuộc phương diện tịnh của chơn tâm, Giới là cuộc sống thuộc phương diện động. Thiền triển khai từ Giới; Giới và Thiền quy về một. Với ý nghĩa đó, tuy Thiền và Giới là hai; nhưng thực tế là một. Ở đây, Giới chính là Phật giới (giới của Phật). Sinh hoạt Phật giới phải vượt lên khỏi luân lý, đạo đức, thiện, ác bình thường, không có đối lập giữa thiện và ác, cũng không bị thiện, ác trói buộc. Việc ác cho mấy cũng chuyển hoán thành thiện để tô bồi cuộc sống. Vả lại, không thể làm việc ác được, bởi vì đã đứng lên trên cao, mà trong phần ý nghĩa của chương thứ ba nói về Thọ Giới Nhập Vị đã giải rõ.
IV.2.5 Tu Chứng Bất Nhị
Tu Chứng Bất Nhị nghĩa là tu hànhchứng ngộ là một. Với quan niệm bình thường, tu hành đạt đến chứng ngộ không cần phải trải qua một quá trình, mà một khi tu hànhchứng ngộ rồi. Thật ra, bản chất của giai đoạn tu hành và giai đoạn chứng ngộ không giống nhau. Tu hànhtu hành, chứng ngộchứng ngộ. Nếu đạt đến cảnh giới chứng ngộ thì không cần tu hành nữa. Đại để, từ hiện thực sinh hoạt khổ não đến lý tưởng đời sống chân thật, dù có liên hệ đi nữa, cũng không phải là bản chất hiện thực của lý tưởng, mà chỉ gọi là thể nghiệm tâm linh từ tu hành đến chứng ngộ, cho nên trước tiên phải xác nhận sự hiện thực của lý tưởng ấy. Thật ra, nên biết rằng trong quá trình tu hành đã có chứng ngộ, trong chứng ngộ đã hiện hữu sự tu hành rồi. Nếu không tu hành, không chứng ngộ. Dẫu gọi là tu hành hay gọi là chứng ngộ đi nữa, nói theo tổng quan, một khi đời sống chúng ta nối kết trực tiếp với đại vũ trụ ngay bây giờ và ở đây, bản chất hiện thực của lý tưởng tuyệt đối tự nó hiển hiện rõ ràng, không thể phủ nhận, không phải thêm vào. Ngay trong cuộc sống tự nó đã hiện hữu liên tục và ngay trong phương pháp sống, tự nó rõ biết thế nào, đó chính là tu hành và cũng gọi là chứng ngộ. Tu hànhchứng ngộ ấy gọi là “Tu Chứng Bất Nhị”. Theo “Tu Chứng Nghĩa”, vấn đề nầy dùng để nói lên tính cụ thể mà trong chương hai nói về sám hối diệt tội, chương ba nói về thọ giới nhập vị đã chứng minh. Còn chương tư nói về phát nguyện lợi sanh và chương năm nói về hành trì báo ân được gọi là Tu, cũng còn gọi là Chứng nữa.
Như trước đã trình bày, từ quan điểm tự giác, tính chất tuyệt đối của cuộc sống đặc biệt chính là Bổn Chứng hay gọi là Tu, đặc biệt tự thể những hoạt động ấy là Diệu Tu, cho nên cũng gọi là “Bổn Chứng Diệu Tu”. Bởi thế “Tu Chứng Nghĩa” dù được viết lên bằng chữ nghĩa văn chương nhưng không sai với chơn ý. Hãy chí thành đọc tụng dùng bằng đôi mắt thật là sáng suốt.
IV.2.6 Tu Chứng Nghĩa
Sau đây là phần được dịch từ ngôn ngữ Nhật hiện đại, xin xem ghi chú của dịch giả. Chương một bắt đầu phần tổng quát.
IV.2.6.1 Chương 1: Phần Tổng Tự
Sanh là gì? Tử là gì? Với đạo Phật, làm sao sáng tỏ sanh và tử là một việc làm vô cùng quan trọng. Thật ra, vẫn sống trong thế giới sanh tử hiện thực nầy, song với Đức Phật, Ngài không bị khổ não do sanh tử chi phối, bởi vì Ngài đã rõ biết chân thật nguyên thỉ của nó, Ngài không chối bỏ sự thật sanh tử khi đạt được Niết Bàn. Còn chúng ta, vấn đề trước tiên là để giải quyết sự mê mờ khi đối đầu với vấn đề sanh tử, phải nghiên cứu thật rõ lời Phật dạy.
Thật ra, được làm thân người là khó, gặp Phật pháp cũng khó, song chúng ta nhờ trợ duyên từ những việc lành từ thuở xa xưa, lãnh thọ thân người là điều hy hữu, lại gặp Phật Pháp nữa thật là quý hiếm, cho nên trong cuộc sống nầy, phải sống một đời thật có ý nghĩa, đừng uổng phí thân thểtrí tuệ nầy, cũng chẳng phải làm gì, hãy như làn gió thổi tan những giọt sương trên đầu ngọn cỏ, cũng đừng chấm dứt.
Sống trong cuộc sống vô thường đổi thay nầy, chẳng có gì có thể nương tựa vào được. Đời sống chẳng khác nào giọt sương trên đầu ngọn cỏ, không ai có thể biết cho đến lúc nào và kết quả ra sao, rồi đi về đâu. Thân nầy chẳng thể giữ mãi như mình mong muốn. Sinh mạng trôi theo ngày tháng, không thể dừng lại bất cứ nơi đâu, dù cho nhỏ như một hạt bụi trần. Dù thời trai trẻ, nhan sắc đẹp tuyệt vời, song vô thường chợt đến, nó tan đâu mất, dù có tìm lại được việc trước, cũng chẳng còn nguyên hình dáng cũ. Nếu quan sát cho kỹ, không ai có thể nắm bắt quá khứ. Sự chết chợt đến dù cho Quốc Vương, Đại Thần, bằng hữu, bộ hạ, thê tử, tài sản đi nữa, chẳng thể cứu được. Chỉ cô độc một mình trên chuyến lữ hành đi về cõi chết, mà hành lý mang theo chính là nghiệp thiện và nghiệp ác, mà mình đã tạo trong cuộc sống cũ mà thôi.
Những kẻ tà tâm, sống trong cuộc đời, không màng đạo lý, không màng nhân quả, không màng quả báo của những hành vi thiện, ác, không màng quá khứ, hiện tại, tương lai, không phân biệt thiện, ác, chẳng màng tất cả mọi việc, vẫn phải lãnh thọ quả báo nhân quả theo đạo lý, mà không một chút ánh sáng nào có thể soi rọi cho. Khi mọi việc trôi qua rồi, kẻ ác sẽ bị đọa lạc, người làm lành được thác sanh theo nhân cách hướng thượng.
Hơn nưa, nếu không có nhơn và không có quả, thì đạo lý nhân quả sai lệch rồi chăng? Ngài Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư từ Ấn Độ đến Trung Quốc cũng chẳng phải để truyền con đường của Phật.
Thời gianhành vi thiện và ác biểu hiện thành kết quả phải trải qua 3 giai đoạn. Trước tiên, thọ nhận kết quả ngay trong đời sống hiện tại, gọi là thuận hiện báo. Tiếp theo, thọ nhận ở đời khác, gọi là thuận sanh báo và thứ ba, thọ nhận ở đời sau nữa, gọi là thuận hậu báo.
Lãnh hội giáo huấn của chư Phật và chư Tổ, trước tiên chúng ta phải rõ những tạo tác trong ba thời qua đạo lý nhân quả. Nếu không, tư duy của chúng ta trở thành sai lệch, đưa đến đọa lạc vào ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh để thọ nhận khổ não đời đời. Rõ được như vậy thật là quý hóa. Trong đời nầy, đã quan niệm Ta, không thể có hai cũng không thể có ba, mà tư duy đó hoàn toàn không hợp lý, dẫn đến tạo tác những hành vi độc ác, để rồi phải thọ nhận hậu quả, không hối tiếc sao? Nếu cho rằng làm ác, không gặp ác, thế thì định luật nhân quả không hợp lý sao? Không bao giờ tạo ác mà không thọ nhận hậu quả cả.
IV.2.6.2 Chương 2: Sám Hối Diệt Tội
Ăn năn sửa đổi những ác nghiệp trong quá khứ, nguyện với Phật sẽ không tạo nữa.
Thương tưởng chúng ta, Chư Phật và chư Tổ đã mở con đường đi vào Phật đạo thênh thang. Nếu sống đúng và sống trọn vẹn, chắc chắn sẽ đạt được cảnh giới giác ngộ, không sai chút nào. Thọ thân dù là Người, hay Trời đi nữa cũng từ ác nghiệp trong ba thời mà sanh. Nếu chân thành sám hối, quả báo to lớn có thể trở thành nhỏ và nhẹ, hẳn nhiên đến lúc nào đó tội sẽ tiêu diệt và thân nầy trở thành thanh tịnh. Chỉ cần đem tâm tha thiết sám hối trước Phật, chúng ta sẽ được cứu độtrở nên thanh tịnh. Nhờ năng lực hành trì tạo thành công đức sám hối, mà công đức nầy không có gì ngoài lòng tin. Đó chính là việc trưởng dưỡng tâm linh bằng sự nỗ lực. Nhờ tín tâm mà tâm được thanh tịnh. Hơn nữa, cả mình lẫn người trở nên thanh tịnh giống nhau, vượt qua cảnh giới Trời, Người và vượt qua tất cả.
Phương pháp sám hối phát nguyện trước Đức Phật là:
 “Xin cho con được ăn năn sám hối những hành vi bất thiện chất chồng, mà con lỡ tạo trong quá khứ.
 Xin cho con được lãnh thọ lời Phật dạy để đề phòng những hành động ấy tái sanh.
 Xin cho con được đi trên con đường giác ngộ, mà chư Phật chư Tổ đã đi qua.
 Xin cho con thấy rõ và ra khỏi vòng vây của nghiệp bất thiện
 Xin cho con vượt qua mọi chướng ngại trên con đường theo Phật.
 Xin cho con nguyện vâng lời chư Phật, chư Tổ truyền trao, nguyện tích phước, tạo công đức không chỉ giới hạn trong vũ trụ nầy. Trong vũ trụ nầy bao gồm tất cả,
 Xin cho con được Phật gia hộ được làm người tinh tấn trên con đường giác ngộ, để trở thành Phật Tổ.
 Xin cho con được sám hối tất cả lỗi lầm, sanh ra từ thân, miệng, ý, tạo các ác nghiệp, bởi tham, sân, si nhiều đời nhiều kiếp”.
Sám hối như vậy, chắc chắn chư Phật, chư Tổ không thể không gia hộ. Một khi niệm thành kính chư Phật hiện hữu ở trong tâm, chí thành chí kính đảnh lễ chư Phật và thiết tha tỏ bày trước Phật, chắc chắn tất cả tội lỗi được hòa tan vào trong biển năng lực thành tâm sám hốichí thành cầu nguyện nầy.
IV.2.6.3 Chương 3: Thọ Giới Nhập Vị
(Thọ giớibước lên địa vị Phật).
Phật là bậc Giác Ngộ, còn gọi là rõ biết, Pháp là những lời dạy của Phật và Tăng là người thực hành và truyền trao những lời dạy ấy đến mọi người. Đó là ba ngôi Tam Bảo tôn kính. Dù cho ở đời nầy hay tái sanh trong đời khác, dù được thân nào đi nữa, chúng ta vẫn cúng dườngtôn kính Tam Bảo. Dù đuợc truyền thừa chánh truyền từ Phật ở Ấn Độ hay từ Chư Tổ ở Trung Hoa, chúng ta có bổn phận tôn kính Phật, Pháp và Tăng. Do nghiệp chướng đã tạo, có nhiều người không nghe được Tam Bảo, vì thế nên quy y khi được gặp Tam Bảo. Đừng vì sự bất hạnh, không an mà nương tựa vào Thần Núi, Thần Miễu, Thần Từ Đường, hay các loại Quỷ Thần v.v... cho dù nương tựa vào những nơi đó, khổ não vẫn còn, không sao có thể giải thoát được. Hãy mau quy y Tam Bảo, chẳng những vượt qua biển khổ mà còn viên mãn giác ngộ nữa.
Quy y Tam Bảo, tâm được thanh tịnh. Dù Phật còn tại thế hay đã nhập diệt, chúng ta vẫn chấp tay, chí thành chí kính bày tỏ niềm tin Đức Thích Tôn, xuất phát từ chơn tâm thanh tịnh rằng:
“Con nguyện quy y Phật,
Con nguyện quy y Pháp,
Con nguyện quy y Tăng”.
Phật là một bậc đạo sư cao quý, cho nên chúng ta xin quay về nương tựa Phật. Pháp là phương thuốc hay cho nên chúng ta xin quay về nương tựa giáo Pháp. Tăng là bậc thiện hữu tri thức, nên chúng ta xin trở về nương tựa chư Tăng. Điều bắt buộc khi trở thành đệ tử Phật là phải quy y Tam Bảo. Muốn lãnh thọ giới Pháp nào đi nữa, điều trước tiên vẫn là quy y Tam Bảo, bởi vì quy y Tam Bảo là việc chính, cho dù trên hết giới vẫn là hộ thân cho từng người. Thành tựu công đức quy y Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng, chắc chắn sẽ thành tựu đạo nghiệp nếu qua tâm Phật. Như tất cả chúng sanh trong cõi người, cõi Trời, cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, dù bị khổ não bức bách đến mấy đi nữa, nếu có quy y sẽ lãnh hội Tâm Phật.
Điều tối tôn, tối thượng cần rõ biết đó là một khi đã quy y rồi, dù sanh vào đâu đi nữa, gặp cảnh khổ đau nào đi nữa, công đức quy y Tam Bảo, được Đức Thích Tôn chứng minh, vẫn tích chứa và tăng dần cho đến khi đạt được giác ngộ vô thượng Bồ Đề, cho nên đời đời kiếp kiếp phải tin tưởng và thọ nhận.
Có ba Pháp vững chắc, cần lãnh thọ để tịnh hóa thân tâm trong cuộc sống hằng ngày:
Thứ nhất, không làm các điều ác,
Thứ hai, nguyện làm các việc lành
Thứ ba, chẳng chỉ vì lợi riêng, phải khởi tâm từ đến tất cả chúng sanh.
Tiếp theo phải giữ 10 giới:
Thứ nhất, không giết hại sinh mạng chúng sanh,
Thứ hai, không trộm cướp,
Thứ ba, không tà dâm,
Thứ tư, không nói dối,
Thứ năm, không mua bán rượu,
Thứ sáu không tìm khuyết điểm của người,
Thứ bảy, không tự khen mình chê người,
Thứ tám, không tham tiếc tiền của, phải bố thí,
Thứ chín, không giận hờn không nguôi,
Thứ mười, không hủy báng Tam Bảo.
(Ghi chú của dịch giả: 10 Giới nầy là 10 Giới Trọng của Bồ Tát Giới tại gia cũng như xuất gia theo tinh thần giới luật của Việt Nam, Đại HànTrung Quốc).
Như thế, quy y Tam Bảo để tịnh hóa cuộc sống theo ba Pháp trên và phát nguyện giữ 10 cấm giới, bởi vì chư Phật cũng thọ trì như vậy. Thọ giới được chư Phật trong quá khứ, trong hiện tại và trong tương lai chứng minh cho sự giác ngộ vô thượng sáng suốt của mình, chứ không có gì khác. Bất cứ ai, dù hiền hay không cũng chẳng có gì ngoài ý muốn cầu nguyện. Đức Thế Tônchúng sanh mà chỉ rõ cho điều đó rằng: “Chúng sanh nào thọ nhận Phật giới, tức vào địa vị chư Phật. Đồng nghĩa với chỗ giác ngộ của chư Phật, chính là đệ tử của chư Phật”.
Chư Phật vẫn thường hiện hữu để quán sátgia hộ chúng sanh trong mọi phương diện sống ở thế giới nầy, song không lưu bất cứ hành tung nào cả, bởi vì đối với chư Phật, mọi hoạt động trong cuộc sống đang tiếp diễn nầy, đều tự tại, đến đi không lưu dấu, mọi hiện hữu trong vũ trụ như đất đai, cây, cỏ cho đến hoa, đá, gạch ngói v.v... đều là Phật sự, cho nên cần phải phát triển thêm lên, ngay cả gió thổi, mây bay, nước chảy cũng đều mang lợi ích cho con người, nói không cùng tận. Sâu rộng hơn, con người không thể liễu tri tường tận năng lực từ bi cứu độ của chư Phật, mà chỉ nghe việc giác ngộ mà thôi. Đây vừa là kết quả tự nhiên của chính mình đã tạo, vừa là sự sống như Phật đang được tiếp diễn qua phát tâm quảng đại cứu độ chúng sanh.
IV.2.6.4 Chương 4: Phát Nguyện Lợi Sanh
(Phát thệ nguyện và làm lợi lạc chúng sanh)
Đã phát tâm Bồ Đề cầu Phật đạo, dù cho mình chưa chứng ngộ, nhưng phải nỗ lực phát nguyện độ tất cả chúng sanh, dù họ là người tại gia hay xuất gia, dù họ là chư Thiên hay loài người, dù họ đang ở trong hoàn cảnh khổ đau hay trạng thái hỷ lạc, vẫn phải cứu độ họ trước rồi mình mới giải thoát. Đó là vì tha nhân, phát tâm Bồ Đề cứu độ chúng sanh.
Một khi đã phát tâm Bồ Đề, liền trở thành bậc đạo sư cho tất cả chúng sanh. Như đứa bé gái tuổi vừa lên 7 đã làm Thầy những người có lòng tin học đạo ngay cả chư Tăng, Ni, trở thành bậc phụ mẫu của tất cả chúng sanh, bất luận nam hay nữ. Đây chính là pháp nhiệm mầu của đạo Phật.
Đã phát tâm Bồ Đề tìm cầu Phật đạo, song vẫn rơi vào trong các cảnh giới lục đạo như: Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, A Tu La, Người, Trời v.v... hoặc thai sanh, noãn sanh, thấp sanh hay hóa sanh, dù Sanh có khác, Tử có khác, trải qua nhiều cảnh ngộ có khác, song Tâm chơn thật tu hànhthệ nguyện cứu độ vẫn như vậy. Bởi thế không biết cuộc sống phải trải qua thời gian bao lâu, nếu chưa ra khỏi, hãy mau mau phát nguyện. Chính mình tích tụ công đức để thành Phật, song nếu đem tâm cầu nguyện hồi hướng cho tất cả chúng sanh khác, họ cũng được thành Phật. Phải nỗ lực phát tâm như thế. Dù trải qua vô lượng kiếp cứu độ nhưng chưa thành tựu Phật đạo thì cũng đã mang lại lợi lạc cho chúng sanh, bởi mục đích cuối cùng thành Phật là để cứu độ chúng sanh.
Vì sự lợi lạc cho chúng sanhthực hành bốn điều chơn thật của trí tuệ đó là:
Bố thí,
Ái ngữ,
• Lợi hành,
Đồng sự.
Bố thí nghĩa là không tham lam, hãy cho những gì không những của chính mình, mà còn vật bố thí ấy phải giúp cho người kia được lợi ích nữa mới là đúng ý nghĩa bố thí. Không luận vật bố thí nhiều, ít, tốt, xấu mà quan trọng khởi lên từ chơn tâm. Ban cho người một lời khuyên cũng là việc bố thí trong hiện tại, sẽ mang lại kết quả trong vị lai. Bố thí dù chỉ một đồng tiền hay một ngọn cỏ mà thôi vẫn tạo thành thiện căn trong đời nầy và đời khác. Pháp Phật là vàng ngọc, nếu thật tâm bố thí, dù tài vật nhiều mấy đi nữa cũng không hơn lời Phật. Tuyệt đối, đừng mong cầu báo đáp tạ ân từ người nhận sau khi mình bố thí, mà là tự nguyện của chính mình giống như sông để thuyền bơi, cầu để người qua sông rất tự nhiên, không vì bất cứ lý do nào mà bố thí.
Ái ngữ nghĩa là đối với chúng sanh, trước tiên phải khởi tâm từ ái, nói lời ngọt ngào thân thiệnthương mến quý trọng như con ruột của mình. Suy nghĩ và nói lời như thế gọi là ái ngữ. Nên tán thưởng những ai làm được việc lành đã đành song cũng nên dùng lời hòa nhã để nói chuyện khi người ta không làm được việc tốt. Hãy hàng phục oán hờn giận dỗi, dùng uy đức cao quý của con người. Nói lời ái ngữ là điều căn bản vậy. Nghe lời ái ngữ dù không gặp mặt, tâm cũng thấy vui. Không gặp mặt mà nghe lời ái ngữ, lời nói ái ngữ ấy sẽ in sâu vào tâm thức. Ái ngữ chính là tâm của Thiên Tử, an định loạn động trong thiên hạ. Nghe lời ái ngữ như thế không ai không tự an.
Lợi hành tùy theo lập trường khác nhau, song tất cả vì mang lại lợi ích cho chúng sanh.
Ngày xưa, thời nhà Tấn tại Trung Hoa có câu chuyện của Khổng Du ở Dư Bất Dinh, một ông già đi câu câu được một con rùa, đã thả lại trong nước, thay vì đem đi bán. Đến thời nhà Hậu Hán có câu chuyện của Dương Bảo thả những con kiến và chim se sẽ bị đánh nhốt trong bao tải. Hai câu chuyện thả rùa và thả chim là những truyền thuyết ngày xưa. Rùa bị vướng câu, chim bị nhốt hẳn nhiên rất lo sợ, không thể tự tìm đến ta để được cứu. Nếu đặt trường hợp ta là những con vật như thế, hẳn nhiên người ngu sẽ lo cứu mình trước, quên người khác ngay, nhưng cả ta và người đều cùng sống với nhau, khi người nầy được, chắc chắn người kia tổn giảm, cho nên làm sao cho mình và người, cả hai bên cùng được lợi lạc, không có khác biệt giữa mình và người. Chính mình chẳng khác biệt, người khác cũng chẳng khác biệt, tự, tha chẳng khác biệt. Đến thế giới loài người, Đức Thích Tôn cũng mang hình dáng con người, giống chúng ta, cho nên mình giống với người khác thì mình và và người không khác. Nếu có khác, chẳng qua vì không gianthời gian khác nhau mà thôi, giống như biển cả đón nhận nước từ sông, rạch, suối chảy vào. Bởi thế mình và người đều là nước chảy vào biển cả. Thế cho nên thực hành hạnh nguyện tìm cầu Phật đạođạo lý tỉnh thức để nhận chân mình và cứu độ chúng sanh khi có thể còn cứu được. Công đức nầy đáng kính và đáng lễ bái.
IV.2.6.5 Chương 5: Hành TrìBáo Ân
(Cuộc đời của Đức Phật, với ân Phật ấy ta phải báo đáp).
Có nhiều người sống trong quốc độ nầy và cũng có thân thể như chúng ta phát tâm cầu Phật đạo, chúng ta trong hiện tại có cơ hội phát tâm tìm cầu Phật đạo như thế, hãy tự mình phát nguyện khi đã được sinh vào thế giới hiện thật nầy, có thắng duyên được gặp giáo Pháp của Đức Thích Tôn. Thật ra, nếu chánh Pháp không được truyền thừa, dù có phát nguyện xả bỏ thân để tìm cầu Chánh Pháp đi nữa, cũng khó mà gặp được. Phật dạy nếu gặp trường hợp như thế, chúng ta hãy phát nguyện mong được gặp Phật và
“Gặp ai nói lời cao siêu phải xem đó là Thầy mình. Đừng nhìn cách sống cao thấp của người ấy, đừng để ý tới khuyết điểm của người ấy, đừng chỉ nghe nói lời ấy, hãy tôn trọng trí tuệ chơn thật kia, mỗi ngày ba lần: sáng, trưa và tối nên lễ bái, cung kínhtâm không khởi sanh phiền não”.
Bây giờ, được nghe thấy Pháp Phật, được chư Tổ trực tiếp truyền trao, chúng ta hãy thực hànhtruyền bá rộng ra. Nếu chư Phật chư Tổ không truyền lại thì lấy gì chúng ta truyền đạt lại cho hậu lai bây giờ. Dù chi một câu thôi cũng nên cảm tạ báo ân, dù một lời dạy thôi cũng phải tạ ân, phải nguyện báo đền. Huống là Chánh Pháp Nhãn Tạng, giác ngộ tối thượng, là đại ân đức, sao không nguyện báo đền? Ân ấy không thể không báo đáp.
Con chim se sẽ không quên ơn được cứu, mang bốn viên ngọc tròn trắng tặng cho Dương Bảo, mà trải qua bốn đời họ Dương Gia sống cuộc sống vinh hoađịa vị Tam Công. Con rùa khốn khổ mang hầu ấn tạ lễ cho Khổng Du ở Dư Bất Dinh, được phong Chư Hầu. Loài vật còn có nghĩa như thế, còn chúng tacon người tại sao dễ quên ơn? Đối với chư Phật và chư Tổ, không có cách nào khác hơn là báo ân. Mỗi ngày tu hành để báo ân Phật vừa là việc làm chơn chánh vừa là phương pháp báo ân vậy. Nói khác, trong cuộc sống đừng lãng phí thời gian, ngồi không nhàn rỗi, phải tu tập hành trì, đừng xao lãng việc tu hành để báo ân Phật.
Ngày tháng trôi nhanh như tên bắn, mạng người như sương mai, dù đẹp bao nhiêu đi nữa, một ngày qua rồi, không còn trở lại. Dù sống đến 100 tuổi cũng phải tiếc nuối ngày tháng và lo cho thân thể nầy càng ngày càng giảm dần, nếu không khéo tu, chúng ta chỉ làm nô lệ cho nó mà thôi. Một ngày thực hành lời Phật dạy và sống cuộc sống như Đức Phật, ngày ấy không những trở nên giá trị nhất trong đời người 100 năm, mà còn lợi lại cho những cuộc sống khác. Do vậy, dù chỉ một ngày ngắn ngủi so với dòng sinh mệnh dài nầy, nhưng cũng nên tôn trọng và quý thân thể một cách cẩn trọng. Thực hành được như thế, tự thấy thân nầy rất quý giá cần phải bảo vệ và nhờ nó chúng ta được thực hành tu niệm trong cuộc sống hằng ngày. Thể hiện việc tu hành cụ thể ấy nghĩa là chúng ta đang đi trên con đường giải thoát, mà chư Phật đã khai mở. Nhờ tu hành ấy theo chư Phật, những hạt giống lành xuất hiện. Đó chính là cuộc sống tu hành của chư Phật vậy.
Ở đây, nói chư Phật nghĩa là nói Đức Thích Tôn, bởi vì khi Đức Thích Tôn hành Thiền, tâm dung thông tất cả chư Phật, cho nên nói là chư Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai đều đã thành Phật, thành Đức Thích Tôn. Một khi ngồi xuống Thiền Định được gọi là Phật, như vậy khi thực hành Thiền, tâm chúng ta cũng gọi là tâm Phật, bởi vì bất cứ ai muốn thực hành Thiền Định phải phát tâm nghiên cứu tường tận và nguyện báo ân chư Phật vậy.
IV.3 Trước Tác Chủ Yếu Của Hai Đại Tổ Sư
IV.3.1 Với Tấm Lòng Cung Kính Để Xem
Tăng sĩ và Tín Đồ Tông Tào Động đều biết rõ và không thắc mắc khi nói đến Tông Tổ là nói đến Lưỡng Tổ: Cao Tổ Thiền Sư Đạo NguyênThái Tổ Thiền Sư Oánh Sơn. Tôn kính Lưỡng Tổ Đại Sưtôn kính những tác phẩm được gọi là Thánh Giáo, mà quý Ngài đã soạn ra. Thật ra, một Thiền Tăng như Thiền Sư Đạo Nguyên có số tác phẩm như thế là nhiều lắm, vả lại nội dung các tác phẩm rất cao siêu bao hàm tính cách siêu việt của con người, rất thật tế cho nên phải nói rằng Ngài là bậc Thánh Tăng trác tuyệt, không riêng được Tăng Tín Đồ Tông Tào Động tôn kính mà những Tông khác nữa. Đối với ngoại quốc, Ngài là Thiền Sư Nhật được nhiều người lưu tâm nhất, bởi vì thế giới của Ngài Đạo Nguyêntác phẩm Ngài đã viết và chính nhờ những tác phẩm đó mà Ngài trở thành Thiền Sư Đạo Nguyên của nhân loại.
Như Thiền Sư Đạo Nguyên, Thiền Sư Oánh Sơn cũng có nhiều tác phẩm, song những tác phẩm của Ngài hiện còn sót lại không nhiều bằng. Thật ra, tác phẩm của Thiền Sư Đạo Nguyên được nhiều người thích thú nghiên cứu, nhưng trước tác của Thiền Sư Oánh Sơn, dù nói cách nào đi nữa cũng phải thành thật mà nói, không được giới thiệu nhiều. Gần đây, có nhiều điều khá hơn, bởi vì trên thực tế nếu không đọc những trước tác của Thiền Sư Oánh Sơn, khó mà hiểu rõ Thiền Sư Đạo Nguyên. Nói khác, phải nói rằng nếu tôn kính Lưỡng Tổ của Tông Tào Động, không thể không quan tâm về những tác phẩm của Thiền Sư Oánh Sơn được, cho nên, sẽ giới thiệu đơn giản về những trước tác ấy, đặc biệt chỉ trích đoạn mà thôi.
Hơn nữa, những trước tác của Lưỡng Tổ Đại Sư không phải là những tác phẩm văn học, chẳng phải là những văn hiến lịch sửtính cách lịch sử học, mà là những Thánh Giáo truyền trao cốt tủy Phật Pháp. Thật không sai khi nói rằng quý Ngài viết suốt cả đời người bằng kinh nghiệm tâm linh, hợp chân lý, tâm thanh tịnh, cho nên chúng ta phải đọc một cách cung kính, với tất cả thiện ý, không thể hiểu sai và xem như kim chỉ nam của nội tâm trong cuộc sống hằng ngày.
IV.3.2 Trước Tác Của Thiền Sư Đạo Nguyên
Giải thích những trước tác của Thiền Sư Đạo Nguyên.
IV.3.2.1 Bảo Khánh Ký (Bokyoki)
Thiền Sư Đạo Nguyên viết trong vòng bốn năm khi tu ở các chùa Trung Hoa, từ năm Trinh Ứng thứ 2 , lúc 24 tuổi, đến năm An Trinh nguyên niên lúc 28 tuổi. Khoảng thời gian ấy và suốt cả đời Ngài cung kính Thiền Sư Như Tịnh như bổn sư tại chùa Cảnh Đức, huyện Thiên Đồng, tỉnh Chiết Giang. Tác phẩm gọi là Bảo Khánh Ký hoàn thành từ ký ức Ngài về cuộc đời tu học của Ngài ở Trung Hoa, đa phần thuộc thể vấn đáp, viết bằng Hán Văn diễn tả khi Ngài còn là một Thiền Sư trẻ, có tư duy bao quát và bình luận những điểm chánh yếu trong Phật Pháp trở thành giáo thuyết nhưng cũng có một ít phê phán. Tác phẩm cho biết Thiền Sư Đạo Nguyên đã thọ giáo và có nhiều ảnh hưởng tư tưởng Thiền Sư Như Tịnh, tư tưởng thời nhà Tống năm Bảo Khánh nguyên niên đến năm thứ ba . Có lẽ tác phẩm nầy được viết vào khoảng thời gian đó, dù hôm nay không còn bản chính nữa. Năm Kiến Trường thứ năm Thiền Sư Đạo Nguyên viên tịch, Cao Đệ - Thiền Sư Hoài Tráng tìm thấy di thư nầy bèn yên lặng cho đến năm Khoan Diên thứ ba mới công bố phát hành quyển “Phật Tổ Chánh Truyền Bồ Tát Giới Tác Pháp – Butsuso Shoden Bosatsukai Saho”. Trong khi lưu học tại Trung Hoa, Thiền Sư Đạo Nguyên còn ghi lại tất cả nghi lễ tác pháp thọ giới từ Giới Sư Như Tịnh Thiền Sư vào ngày mồng 8 tháng 9 năm Bảo Khánh nguyên niên đời nhà Tống lúc Ngài 26 tuổi, thuộc Gia Lục nguyên niên 1225 của Nhật Bản. Đối với Giới Bồ Tát, theo “Tu Chứng Nghĩa” cho biết, ở chương thứ ba việc Thọ Giới Nhập Vị, có nói rõ: Tam Quy, Tam Tụ Tịnh Giới, Mười Giới Trọng của 16 Giới Điều và còn gọi là Phật Giới. Khi Tông Tào Động dạy về Giới thường căn cứ vào tác phẩm nầy và truyền lại cho đến ngày nay. Tác phẩm nầy phát hành năm Bảo Lịch năm thứ tám .
IV.3.2.2 Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi - Fukan Zazengi
Với Tông Tào Động, đây là Tông Điển được dùng hằng ngày. Năm An Trinh nguyên niên Thiền Sư Đạo Nguyên được 28 tuổi từ Trung Hoa trở về bắt đầu dạy Phật PhápTọa Thiền theo Phật Tổ Chánh Truyền cho những người sơ cơ và soạn tác phẩm nầy với nội dung trình bày ý nghĩa Tọa Thiền, Truyền Thống, Tâm Đắc, Phương pháp, Công Đức v.v... Tác phẩm nầy được xem là sách hướng dẫn về Tọa Thiền rất căn bản đầu tiên ở Nhật, được viết bằng Hán Văn theo thể 4 và 6 chữ gọi là Biền Lệ (Benrei). Năm 34 tuổi, nhằm năm Thiên Phước nguyên niên Ngài hoàn thành tác phẩm tại am tranh chùa Hưng Thánh, Kyoto. Hiện nay bản gốc được lưu giữ tại Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự (tài liệu quý hiếm của quốc gia).
IV.3.2.3 Chánh Pháp Nhãn Tạng – Shoho Genzo
Có tất cả 95 quyển vừa là tác phẩm đại biểu trong những trước tác của Thiền Sư Đạo Nguyên, vừa là Tông Điển của Tông Tào Động. Gần 20 năm dài từ năm Khoan Hỉ thứ ba đến năm Kiến Tường thứ năm Ngài lưu trú tại chùa chùa Hưng Thánh và chùa Vĩnh Bình để biên soạn tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tạng” nầy. Nội dung của tác phẩm đúng với chân tủy của Phật Pháp. Tên sách liên quan đến phương pháp Tọa Thiền và nội dung hàm chứa những đề tài giảng dạy của Thiền Sư Đạo Nguyên. Dường như, Ngài muốn dừng lại phần cuối ở quyển thứ 100. Tông Chỉ của Tông Tào Động, đặc biệt Giáo Nghĩa vẫn căn cứ theo tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tạng” nầy. Trong 95 quyển, hoàn toànchữ viết tay của Thiền Sư Đạo Nguyên, được mang đi khắp các nơi trên toàn quốc. Năm Nguyên Lục thứ ba người ta viết lại còn 60 quyển, rồi 75 quyển rút gọn từ 95 quyển bằng hai ngôn ngữ Hán và Bình Giả Danh (viết theo lối tiếng Nhật), để truyền thừa cho mọi người khắp nơi.
Hơn nữa, viết thêm bằng thể văn chữ Hán “Chánh Pháp Nhãn Tạng” có ba quyển, sưu tập 301 câu chuyện cuộc đời các Thiền Tăng, được gọi là “Chánh Pháp Nhãn Tạng Tam Bách Trắc”. Nguyên bản nầy không còn nữa. Năm Minh Hòa thứ tư lần đầu tiên đã được công bố. Thật ra, Ngài vừa viết “Chánh Pháp Nhãn Tạng” 95 quyển và vừa tham khảo việc trình bày kiến giải hành trì của Tín Đồ, khi họ nghe giảng.
IV.3.2.4 Vĩnh Bình Quảng Lục – Eihei Koroku, 10 quyển
Đây là ngữ lục của Thiền Sư Đạo Nguyên. Ngữ lục là ghi chép của đệ tử về những điều thông thường, những lời giáo huấn đạo tình ý nghĩa thâm sâu của Bổn Sư, sau khi Bổn Sư viên tịch. Tác phẩm nầy ghi lại những lời giáo huấn của Thiền Sư Đạo Nguyên, không phải do Thiền Sư ghi chép, mà do các Đệ Tử lớn như: Thiền Sư Hoài Tráng, Thiền Sư Thuyên Huệ, Thiền Sư Nghĩa Diễn v.v... biên tập, bao gồm những bài thuyết pháp dành cho Tăng NiTín Đồ tại chùa Hưng Thánh vào ngày 15 tháng 10 năm Gia Trinh thứ hai lúc Ngài 37 tuổi, những pháp ngữ, thơ văn, đề tán ở những năm về già tại chùa Vĩnh Bình.
Năm Văn Vĩnh nguyên niên Cao Đệ, Thiền Sư Nghĩa Y Thiền Sư sang Trung Hoa nhờ Thiền Sư Nghĩa Viễn, vị có uy tín đọc lại, nhuận văn và đặt tên “Vĩnh Bình Đạo Nguyên Thiền Sư Ngữ Lục”, có thể gọi là Lược Lục so với Quảng Lục. Quảng Lục viết vào năm Khoan Văn thứ 12 và Lược Lục vào năm Diên Văn thứ ba cả hai đã được công bố và xuất bản, còn gọi là Tông Điển của Tông Tào Động, viết bằng văn Hán, bản chánh không còn nữa. So với “Chánh Pháp Nhãn Tạng”, đây là quyển sách bắt buộc phải đọc để hiểu rõ tư tưởng căn bản của Thiền Sư Đạo Nguyên.
IV.3.2.5 Học Đạo Dụng Tâm Tập – Gakudo Yojinshu


Năm 35 tuổi, Ngài bắt đầu viết tác phẩm nầy vào ngày 9 tháng 3 năm Văn Lịch nguyên niên tại chùa Hưng Thánh ghi chép lại thật cụ thể những tâm đắc trong học đạo, song Ngài đã chấp bút hai ba lần, sau đó các đệ tử gần gũi gom lại thành một quyển. Trước tiên, Ngài viết về Bồ Đề Tâm, sau đó dạy việc thấy nghe chân chánh, bắt buộc thực hành con đường Phật Đạo một cách thực tiễn, tiếp theo cho biết tác phẩm nầy không phải là đối tượng tu hành để giác ngộ, mà là bậc Thầy Chơn Chánh, với ngôn hạnh nhất như, hướng dẫn những điều cần biết để thực hành Thiền. Không thực hành Tọa Thiền, không thể thực hiện việc học đạo. Cuối cùng viết về cuộc đời của những bậc cổ Thánh Tiên Đức, để thấy rằng con đường hướng tới Phật là con đường phải tu hành. Phần giác ngộ được viết trong chương 10. Tác phẩm nầy viết bằng Hán Văn, được xem nhưTông Điển của Tông Tào Động, được phát hành lần đầu tiên vào năm Diên Văn thứ hai hiện nay không còn nguyên bản nữa. Đặc biệt các Tăng lữ của Tông Tào Động bắt buộc phải đọc tác phẩm nầy trong thời gian tu hành.
IV.3.2.6 Vĩnh Bình Thanh Quy – Eihei Shingi - 6 tập
Cũng gọi là “Vĩnh Bình Đại Thanh Quy” và “Vĩnh Bình Đạo Nguyên Thiền Sư Thanh Quy”. Vĩnh Bình chỉ cho chùa Vĩnh Bình của Ngài Đạo NguyênThanh Quy tức là những quy tắc quy định sự sinh hoạt căn bản cho chư Tăng đang tu hành tại Đạo Tràng Tọa Thiền. Tác phẩm nầy có thể xem như Thanh Quy căn bản đầu tiên ở Nhật, ghi lại tất cả nghi lễ của các Tự Viện thuộc Tông Tào Động, những quy phạm sinh hoạt của Tăng lữ, viết theo thể Hán Văn, được xem là Tông Điển của Tông Tào Động, phát hành đầu tiên vào năm Khoán Văn thứ 7, hiện nay không còn bản chính nữa.
IV.3.2.6.1 Điển Tọa Giáo Huấn – Tenzo Kyokun
Tác phẩm nầy được Thiền Sư Đạo Nguyên viết vào mùa Xuân năm Gia Trinh thứ 3 tại chùa Hưng Thánh chỉ lại cho những vị Điển Tọa hay chư Tăng đồng tu những vấn đề ý nghĩa ẩm thực, Phật sự cần thiết v.v..bằng văn phong kể chuyện tâm đắc của Ngài.
IV.3.2.6.2 Đối Đại Kỷ Ngũ Hạ Xà Lê Pháp – Taitaiko Goge Jariho
Tác phẩm nầy còn gọi là “Đối Đại Kỷ Pháp”, viết vào ngày 21 tháng 3 ba năm Khoan Nguyên thứ 2 tại chùa Kiết Phong, Việt Tiền. “Đại Kỷ Ngũ Hạ Xà Lê“ nghĩa là chư Tôn Đức tiền bối sống thọ. Tác phẩm nầy diễn tả tất cả những vấn đề nghi lễ, tác pháp và 62 điều khác nhau giữa một vị Tân Tăng đối với Chư vị Tôn Đức. Về sau tác phẩm nầy được rút gọn lại, tuy nhiên, vẫn còn tác phẩm nguyên thủy với nét bút của Thiền Sư Đạo Nguyên.
IV.3.2.6.3 Pháp Biện Đạo– Bendoho
Tác phẩm được viết vào khoảng tháng 3 năm Khoán Nguyên thứ 3 tại chùa Đại Phật, Việt Tiền, nói về những quy định sinh hoạt chủ yếu và cụ thể của một đạo tràng tu hành như tọa thiền, ngủ nghỉ, rửa mặt, Cách mặc (đắp) Cà Sa (Y), quy định về vải và màu vải y v.v...
IV.3.2.6.4 Thanh Quy Tri Sự – Chiji Shingi
Tác phẩm nầy viết vào ngày 15 tháng 6 năm Khoán Nguyên thứ 4 tại chùa Vĩnh Bình, Việt Tiền. Tri Sự có nghĩa là sáu người có chức vụ quan trọng của tự viện, còn gọi là Lục Tri Sự đó là Đô Tự, Giám Tự, Phó Tự, Duy Na, Điển TọaTrực Tuế.
Ngài cũng ghi rõ bằng những câu chuyện tâm đắc đã xảy ra, những nhiệm vụ của Tri Sựgiải thích cặn kẻ những việc hành xử v.v... Đặc biệt, giải thích rõ ràng về Giám Tự, Duy Na, Điển TọaTrực Tuế.
IV.3.2.6.5 Pháp Phó Chúc Phạn– Fushuku Hanho
Đây là phương pháp nhiếp phục được tác pháp tại Tăng Đường mỗi khi dọn cháo (buổi sáng) và cơm (buổi trưa) có thứ lớp, vừa ý v.v.. ghi lại rất rõ ràng.
IV.3.2.6.6 Quy Tắc Chúng Liêu Tạng– Shuryo Shingi
Tác phẩm nầy viết vào năm Bảo Trị thứ 3 tại chùa Vĩnh Bình để chư Tăng đọc biết những vấn đề liên quan ở trong phòng chúng như tu bổ phòng ốc, những mẫu chuyện xảy ra hằng ngày như viết thư tại liêu xá. Ngoài ra, còn hướng dẫn 28 điều khoản về tác pháp nghi lễ, quan tâm kẻ khác, việc đáng làm v.v...
IV.3.2.6.7 Chánh Pháp Nhãn Tạng Tùy Văn Ký – Shobo Genzo Yuimonki
Tác phẩm gồm có 6 quyển do Thiền Sư Hoài Tráng ghi lại những lời dạy của Thiền Sư Đạo Nguyên ở chùa Hưng Thánh vào những năm Gia Trinh về sau tóm lược lại. Nói đúng hơn, tác phẩm nầy không do Thiền Sư Đạo Nguyên trực tiếp viết nhưng cũng có thể gọi là Ngữ Lục của Thiền Sư Đạo Nguyên bởi vì tường thuật lại tất cả những kinh nghiệm tu hành của Thiền Sư Đạo Nguyên, những câu chuyện tiểu sử chư cổ đức, những bậc tiền bối, những vấn đáp của Thiền Sư Hoài Tráng, những bài thuyết pháp rất khúc chiết, thể văn viết gọn gàng dễ đọc. Tác phẩm nầy còn được xem là tinh tủy của Phật Pháp, có thể so sánh với Thánh Giáo “Chánh Pháp Nhãn Tạng” song rộng rãi hơn và gần gũi hơn. Tác phẩm viết bằng Hán Văn và Hiragana (Chữ Nhật), nguyên bản không còn nữa, song được công bố vào năm Minh Hòa thứ 6 .
IV.3.2.6.8 Tán Tùng Đạo Vịnh Tập – Sansho Doeishu
Toàn là những bài Đạo Ca và Hòa Ca của Thiền Sư Đạo Nguyên gồm có 64 khúc. Người đời sau sưu tập lại thành một ca tập, tuy nhiên có phải thuộc của Thiền Sư Đạo Nguyên hay không đã sanh ra nhiều tranh luận khác nhau. Tác phẩm nầy được công bố lần đầu tiên vào năm Diên Hưởng thứ 4.
IV.3.3 Trước Tác Của Oánh Sơn Thiền Sư
Giải thích về những trước tác của Oánh Sơn Thiền Sư.
IV.3.3.1 Truyền Quang Lục – Denkoroku.
Thiền Sau Oánh Sơn thay cho Bổn Sư - Thiền Sư Nghĩa Giới, thuyết pháp từ ngày mồng một tháng giêng năm Chánh An thứ 2 đến tháng giêng năm sau cho chư Tăng đang tu tại chùa Đại Thừa, Gia Hạ. Sau đó chư Tăng tập trung lại thành tác phẩm ghi lại những giáo huấn của Thiền Sư Oánh Sơn, không phải là sách do chính Thiền Sư chấp bút. Tác phẩm nầy ghi lại những phương pháp Tọa Thiền căn bản từ Đức Thích Tôn ở Ấn Độ rồi chư Tổ ở Trung Quốc cho đến Thiền Sư Hoài Tráng ở Nhật Bản và 53 vị Tổ Sư, cách truyền thừa như thế nào, đặc biệt đầu mỗi chương đều nêu lên những nhân duyên ngộ đạo, truyện ký, mà chủ đề là sự tỏ ngộ của các Thiền Sư cũng như trích dẫn những câu chuyện tiểu sử các Ngài, mà trong những chuyện ấy, Thiền Sư Oánh Sơn giải thích tường tận cho chư Tăng, thỉnh thoảng đan xem vài bài thơ. Tác phẩm được xem là vừa nối tiếp tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tạng”, giáo huấn của Thiền Sư Đạo Nguyên, vừa ghi lại lịch sử của 53 vị Tổ truyền thừa, cho nên không đơn thuần là những câu chuyện của các vị Tăng, mà ở Nhật từ trước ít có những loại tác phẩm có nội dung như thế. Tác phẩm nầy được viết bằng hai loại chữ Hán và chữ Nhật, được tôn trọng như “Chánh Pháp Nhãn Tạng”, Tông Điển của Tông Tào Động, phát hành lần đầu tiên vào năm An Chánh thứ 4, hiện nay không còn nguyên bản nữa.
IV.3.3.2 Tín Tâm Minh Niệm Đề - Shinjinmei Nentei
Trong tác phẩm nầy, Thiền Sư Oánh Sơn giải thích về “Tín Tâm Minh” tại chùa Đại Thừa có lẽ vào khoảng giữa thời Gia Nguyên nguyên niên đến Chánh Hòa năm thứ 5.
“Tín Tâm Minh” là tác phẩm của Thiền Sư Giám Trí Tăng Xán , Tổ thứ ba Thiền Tông Trung Hoa, được xem là cốt tủy với nội dung trình bày niềm tin mạnh mẽ vào Phật Tâm sẵn có trong mọi người. Tác phẩm có 146 câu, mỗi câu 4 chữ, tổng cộng 584 chữ Hán, là Ngữ Lục quan trọng và quyết nghị mang tính lịch sử của Thiền Tông. Thiền Sư Oánh Sơn trích dẫn và giải thích áo nghĩa của Thiền, bằng kiến thức uyên thâm của mình, thật linh hoạt mà từ truớc đó và cho đến bây giờ, chưa có ai sánh kịp. Có thể nói rằng với người Nhật, “Tín Tâm Minh Niệm Đề” là tác phẩm bình luận nổi tiếng và hay nhất từ xưa đến nay, được viết bằng chữ Hán và công bố lần đầu tiên vào năm Hưởng Bảo thứ 19.
IV.3.3.3 Thanh Quy Oánh Sơn Hòa Thượng – Keizan Osho Shinki
Tác phẩm nầy rất đặc sắc gồm có 2 quyển, còn gọi là “Đổng Cốc Thanh Quy – Tokoku Shinki”, có thể cho rằng tác phẩm được biên soạn vào năm Chánh Hòa nguyên niên , khi chùa Vĩnh Bình mới bắt đầu, bởi vì nội dung tác phẩm nói về những quy định sinh hoạt trong lãnh vực tu hành của chùa Đại Thừa và chùa Vĩnh Bình, dựa trên căn bản “Vĩnh Bình Thanh Quy” của Thiền Sư Đạo Nguyên, pháp hành của Thiền Sư Hoài Tráng, Thiền Sư Nghĩa Giới, tham khảo những điểm đặc biệt của chùa Đại Thừa và chùa Vĩnh Bình, những quy tắc sinh hoạt của Thiền Tông Trung Hoa, phối trí phân chia thành ba phần hành sự: mỗi năm, mỗi tháng và mỗi ngày.
Tác phẩm nầy nhấn mạnh phải ưu tiên cho chư Tăng đang tu và Đàn Tín thuần tín Tam Bảo, phải tôn trọng họ, chỉnh đốn lại lễ nghi, tán dương công đức họ, khuyến tấn họ tu hành tinh tấn. Điểm đặc sắc là tuy gọi là “Vĩnh Bình Thanh Quy” nhưng ảnh hưởng nghi lễ của Tông Tào Động rất nhiều. Thật ra, nội dung tác phẩm nầy có thể người đời sau có thêm vào đôi phần, bởi vì nguyên bản không còn nữa và được công bố lần đầu tiên vào năm Diên Bảo thứ 8. Tác phẩm nầy đươc viết bằng Hán văn.
IV.3.3.4 Tọa Thiền Dụng Tâm Ký – Zazen Yojingi
Tác phẩm nầy chỉ có một quyển mà thôi do Thiền Sư Oánh Sơn viết tại chùa Vĩnh Quang, chủ yếu căn cứ theo “Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi” của Thiền Sư Đạo Nguyên. Tác phẩm nầy là sách hướng dẫn rất tinh tế về ý nghĩa tọa thiền, điều tâm, điều hơi thở, điều thân, ẩm thực, y phục, ngoại cảnh v.v... và những điều cần lưu ý như: khi ngồi, lúc bệnh và những sự việc liên quan về sinh lý v.v...
Hơn nữa, tác phẩm còn gọi là “Thuyết Tam Căn Tọa Thiền” gồm có ba phương diện tâm linh căn bản đó là thượng, trung và hạ mà hành giả phải nỗ lực hợp với đó. Tác phẩm cho rằng: “Nếu hành thiền nghiêm mật, có thể đạt đến những cảnh giới cao của Thiền“ ý nghĩa nầy cũng ám chỉ cho chùa Vĩnh Bình. Tác phẩm “Tọa Thiền Dụng Tâm Ký” viết bằng Hán văn, hiện nay không còn bản chính nữa và lần đầu tiên công bố vào năm Diên Bảo Phước thứ 8.
IV.3.3.5 Động Cốc Ký – Tokokugi
Tác phẩm được viết khoảng từ năm Chánh Hòa nguyên niên đến năm Chánh Trung thứ hai tại chùa Vĩnh Quang ghi lại những mẫu chuyện trước và sau khi lập chùa Vĩnh Quang như: nghi lễ, tác pháp, những sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày, các loại văn thư, điệp v.v... ngay cả cảm hứng, hòa ca, kệ tụng, giáo huấn, tự truyện v.v... Tuy nhiên cũng có một số văn thơ liên hệ được người đời sau thêm vào thành tác phẩm vào những năm Ứng Vĩnh . Thật ra, sinh hoạt về Tôn Giáo của Thiền Sư Oánh Sơn là những hình thái của Tăng Đoàn Tông Tào Động thời kỳ đầu ở Nhật. Tác phẩm nầy cũng được xem như tập hồi ký ghi lại sinh hoạt văn hóa tại các địa phương Bắc Lục vào thời kỳ Trung Thế, rất đáng trân trọng. Tác phẩm được viết bằng Hán Văn, hiện nay không còn bản chính nữa và lần đầu tiên xuất bản vào năm Chiêu Hòa thứ 4.
IV.3.3.6 Duyên Khởi Thời Trung Hưng Chùa Tổng Trì – Sojiji Chuyuko Eingi
Tác phẩm nầy chỉ có một quyển, được viết vào năm Ngài 54 tuổi, ngày 17 tháng 6 năm Nguyên Hưởng nguyên niên ghi lại sự phát nguyệnlý do kiến lập sơn môn, khai sáng Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, lãnh nhận trách vụ Quyền Luật Sư Định Giám, khai sơn sáng lập các nơi thờ Đức Quan Thế Âm và chư vị Bồ Tát, tại Năng Chứng Tiết Tỷ Áp, huyện Ishigawa Monmaemachi, cho nên đổi danh hiệu Viện là Chư Nhạc Sơn, tự hiệuTổng Trì Tự, một thiền viện phù hợp với giấc mộng của Thiền Sư Oánh Sơn.
Lúc bấy giờ, Ngài nhất tâm cầu nguyện cho việc thành lập được sơn môn chùa Tổng Trì thành tựu viên mãn để an trí tôn tượng Bồ Tát Phóng Quang, đặc biệt nhờ Bồ Tát Quan Thế Âm gia hộ tất cả mọi việc đều linh ứng. Về sau tại đây rất thiêng liêng, ai cầu nguyện đều được, ngay cả người sản mẫu có thai đến ngày sinh, cầu nguyện trước tôn tượng, việc sanh nở dễ dàng. Tác phẩm do chính tay Thiền Sư Oánh Sơn chấp bút bằng Hán Văn. Bản viết tay do Oánh Sơn Thiền Sư viết được lưu giữ tại Tạng Khố của Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự (được chính phủ công nhậndi sản thuộc về văn hóa quốc gia), lần đầu tiên công bố vào năm Chiêu Hòa thứ 4.
IV.3.3.7 Mười Loại Sắc Vấn – Jisshu Chokumon
Tác phẩm cũng chỉ có một quyển, còn gọi là “Thập Chủng Nghi Vấn” cũng còn gọi là “Mười loại nghi ngờ”. Theo lịch sử truyền thừa của chùa Tổng Trì, vào tháng 9 năm Nguyên Hưởng thứ 2, Chùa Tổng Trì được ban thụy hiệu “Nhật Bản Tào Động Tông Sắc Tứ Xuất Thế Chi Đạo Tràng” nhờ Thiền Sư Oánh Sơn nhận sự thỉnh cầu trả lời giải trừ nghi vấn và cho Thiên Hoàng Hậu Đề Hồ biết phong cách, địa vị , lập trường của Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự.
Chùa Vĩnh Quang cũng tương tự như vậy, Thiên Hoàng Hậu Đề Hồ đặt ra câu hỏi và được giải đáp với “Thập Chủng Nghi Trệ”, cho dù cũng có nghi vấn về lịch sử. Nhờ kết hợp với Thiên Hoàng Đề Hòachư Tôn Đức Tăng kiệt xuất của Phái Pháp Đăng, Tông Lâm Tế, mà Thiền Sư Oánh Sơn cùng với Thiền Sư Cô Phong kiên định hết lòng duy trì phát triển từ chùa Vĩnh Quang đến chùa Tổng Trì. Việc nầy gián tiếp thừa nhận cho những ai quan tâm về Thiền là “Mười loại Sắc Vấn” có thật trong lịch sử, mà những nghi vấn ấy dù giải đáp thế nào đi nữa vẫn không thể trả lời một cách thỏa đáng. Tác phẩm nầy có thể xem là định hướng trọng yếu thật tiễn cho người học Thiền, được viết bằng Hán văn, hiện nay nguyên bản không còn nữa và phát hành lần đầu tiên vào năm Nguyên Lục thứ 4.
IV.3.3.8 Ngữ Lục Của Oánh Sơn Thiền Sư– Keizan Zenji Goroku
Tác phẩm nầy cũng chỉ có một quyển, nếu nói rõ, phải gọi là “Ngữ Lục Năng Châu Động Cốc Sơn Vĩnh Bình Tự Oánh Sơn Hòa Thượng”, bỏ phần dài phía sau, gọi là “Động Cố Ký”, do các đệ tử Thiền Sư Oánh Sơn ghi lại những thời thuyết pháp của Ngài tại chùa Vĩnh Quang sau mùa hạ năm Chánh Trung nguyên niên . Tuy Thiền Sư Oánh Sơn không trực tiếp biên soạn, nhưng văn mạch rất rõ ràng và ý văn sắc sảo mạnh bạo, thật tế đối với Môn Hạ, Ngài rất khiêm cung, có thể nói tác phẩm nầy tượng trưng cho gia phong. Tác phẩm viết bằng Hán Văn, hiện nay không còn nguyên bản.
IV.3.3.9 Phật Tổ Chánh Truyền Bồ Tát Giới Giáo Thọ Văn – Butsuso Shoden Bostsukai Kyojumon
Tác phẩm nầy cũng chỉ có một quyển, được viết năm Ngài 56 tuổi, vào ngày 28 tháng 8 năm Nguyên Hưởng thứ 3, tại chùa Vĩnh Quang, nhằm đọc lên trong giới đàn truyền giới cho Đại Tỷ Huệ Cầu thọ giới, bởi vì trước đó, tất cả nghi quỹ đều là khẩu truyền, cho nên tác phẩm là tập sách mở đầu nghi quỹtính cách văn chương ghi lại rõ ràng. Tác phẩm nầy căn cứ vào tác phẩm “Phật Tổ Chánh Truyền Bồ Tát Giới Tác Pháp” của Thiền Sư Đạo Nguyên, được viết bằng tiếng Nhật, do Thiền Sư Oánh Sơn viết tay, được lưu giữ tại chùa Hải Ngoại, Huyện Phú Sơn (thuộc về tài liệu văn hóa trọng yếu quốc gia).
Tổng cộng những sách vở của Lưỡng Tổ Đại Sư viết có 33 quyển, được gọi là “Tào Động Tông Toàn Thơ”, do Tào Động Tông Toàn Thơ San Hành Hội phát hành vào năm Chiêu Hòa thứ 53, tại Tào Động Tông Tông Vụ Sảnh, mà có thể tham chiếu thêm để biết rõ những tài liệu nầy.
IV.4 Giải Thích Về Thánh Điển
Những Thánh Điển được dùng đến được giải thích như sau.
IV.4.1 Những Thánh Điển Được Dùng Đến
Căn cứ “Tào Động Tông Tông Chế” và “Tào Động Tông Nghi Lễ Quy Trình” những Kinh Điển, Tông ĐiểnNgữ Lục thường dùng hằng ngày được gọi là Thánh Điển của Tông Tào Động.
IV.4.1.1 Kinh Điển
Kinh Điển thường tụng là Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Bát Nhã, Kinh Duy Ma, Kinh Niết Bàn, Kinh Phạm Võng, Kinh Địa Tạng, Kinh Cam Lồ Môn và các loại Thần Chú - Đà La Ni.
IV.4.1.2 Tông Điển
Tông Điển gồm các loại như: Chánh Pháp Nhãn Tạng, Vĩnh Bình Quảng Lục, Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi, Học Đạo Dụng Tâm Tập, Vĩnh Bình Thanh Quy, Truyền Quang Lục, Tọa Thiền Dụng Tâm Ký, Oánh Sơn Thanh Quy, Tu Chứng Nghĩa.
IV.4.1.3 Ngữ Lục
Ngữ Lục gồm các quyển như: Tham Đồng Khế, Bảo Cảnh Tam Muội, Tín Tâm MinhChứng Đạo Ca.
IV.4.1.4 Những Kinh Điển Thường Dùng
Kinh Điển mà Tông Tào Động dùng đến hầu như thuộc Đại Thừa Phật Giáo phân loại như sau:
Kinh Phạm Võng thuộc A Hàm Bộ
• Kinh Đại Bát Nhã, Bát Nhã Tâm Kinh, Kim Cang Bát Nhã Kinh, Kinh Nhơn Vương Bát Nhã thuộc Bát Nhã Bộ
Kinh Hoa Nghiêm thuộc Hoa Nghiêm Bộ
Kinh Pháp Hoa thuộc Pháp Hoa Bộ
Kinh Niết Bàn thuộc Niết Bàn Bộ
Kinh Địa Tạng thuộc Đại Tập Bộ
• Kinh Di Giáo, Kinh Duy Ma thuộc Kinh Tập Bộ
Khoảng thời gian từ thế kỷ thứ nhất, trước kỷ nguyên đến 100 năm sau, Kinh Điển Đại Thừa được hình thành như bộ Bát Nhã và bộ Pháp Hoa và được sử dụng rất nhiều. Ngược lại, các Kinh Điển thuộc Mật Giáo Bộ như Kinh Đại Nhật hay thuộc Bảo Tích Bộ như Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà, hoặc Bổn Duyên Bộ như Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhơn Quả, Phật Sở Hành Tán v.v...hầu như không được dùng hay đề cập đến.
Về Tông Điển, chủ yếu trước tác của Lưỡng Tổ Đại Sư (Thiền Sư Đạo NguyênThiền Sư Oánh Sơn).
Về Ngữ Lục, đa phần là những trước tác của những vị Tổ Sư uy tín thuộc Thiền Tông Trung Quốc.
Đương nhiên có nhiều vị muốn nghiên cứu, đọc tụng những loại khác ngoài Thánh Điển, nhưng đó là trường hợp quan tâm cá nhân, cũng có thể nói rằng đó là Phật sự đặc thù của chùa đó.
IV.4.2 Đối Với Thánh Điển Được Tâm Đắc
Thiền Tông cả Lâm Tế lẫn Tào Động không quy định chọn bản Kinh nào nhất định như Tông Tịnh ĐộTịnh Độ Chơn Tông nương theo ba bộ Kinh Tịnh Độ đó là Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng ThọKinh A Di Đà, như Tông Chơn Ngôn căn cứ vào ba bộ Kinh Đại Nhật, Kinh Kim Cang Đảnh và Kinh Tô Tất Địa, như Tông Nhật Liên căn cứ vào Kinh Pháp Hoa, mà các Tông Phái xem những Kinh Điển ấy là những Kinh Điển tối cao của những Tông Phái mình.
Thiền Tông không cho bản Kinh nào đặc biệt, mà căn cứ vào Tông Chỉ cũng như Giáo Nghĩa để thành lập, song không phải dùng Kinh Điển một cách không ý thức. Tông Tào ĐộngThánh Điển của Tông mình như Kinh Điển, Tông ĐiểnNgữ Lục, đã trình bày, như Tông Lâm Tế dùng Bát Nhã Tâm Kinh, Kim Cang Bát Nhã Kinh thuộc Bát Nhã Bộ, Kinh Pháp Hoa thuộc Pháp Hoa Bộ, và các loại ấn chú thuộc Đà La Ni Bộ, hoặc Ngữ Lục của các vị Tổ Sư thuộc Tông Lâm Tế Nhật BảnTrung Quốc. Thật ra, có nhiều khác biệt về vấn đề thọ nhận Thánh Điển, giữa Thiền Tông và những Tông Phái khác.
Chữ Kinh vốn có nghĩa là sợi chỉ xâu dọc ngang nối kết lại. Từ ý nghĩa đó, Kinh được dùng chỉ cho đạo lý chân thật, không thay đổi. Đọc Kinh để trừ những tà niệm, được nhất tâm bất loạn cho nên phải dùng toàn thân và toàn tâm đọc Kinh. Mặt khác, Thật không sai khi nói rằng Kinh là giáo huấn của Đức Thích Tôn song không phải do Đức Phật chấp bút viết, mà được những đệ tử Phật đời sau kết tậpbiên tập thành Kinh. Suốt cuộc đời giáo hóa của Đức Thích Tôn không phải lúc nào cũng thuyết giảng giống nhau cho mọi người, mọi hoàn cảnh bởi vì mỗi thính giả có mỗi hoàn cảnh, mỗi nguyện vọng và mỗi khả năng khác nhau. Hơn nữa để thích ứng với số đông, người đời sau chỉ lấy ý chính và những lời dạy thâm sâu của Đức Thích Tôn triển khai rộng thêm ra. Thế cho nên có nhiều loại Kinh, ước chừng 5.000 quyển Kinh, tạm gọi một cách căn bản là 8 vạn 4 ngàn pháp môn.
Thế nhưng, nói về nguyên thỉ tâm linhlịch sử, chính Kinh nẩy sinh chư vị Khai Tổ, ngay cả Đức Thích Tôn, bởi vì Kinh là Pháp mà Đức Thích Tôn thuyết qua ngôn từ như thế giới Thiền. Hơn nữa, Kinh giải thích hay trình bày những cảnh giới giác ngộ của Đức Thích Tôn, không ai được quên điểm nầy và phải xem như lương dược chữa lành muôn bệnh, thuốc ấy là pháp môn hành Thiền, bởi vì nếu hành thiền đúng, sẽ đạt được cảnh giới tối cao như Đức Thích Tôn đã đạt, hoặc nói cách khác nhờ Tọa Thiềnlãnh hội được những chơn ý của Kinh, cho nên nếu cho rằng có một bản kinh nào đó đặc biệt nghĩa là không liễu tri toàn thể lời dạy của Đức Thích Tôn. Trong đời sống tu hành, Tọa Thiền là chính, còn vấn đề tụng đọc Kinh Điển tùy duyên, không nhứt thiết chọn bất cứ Kinh nào là đặc biệt của Phật Giáo. Cốt tủy đạo Phật từ Kinh Điển, nhưng cảnh giới giác ngộ của Đức Thế Tônthế giới lãnh hội từ Tọa Thiền. Kinh được diễn đạt qua ngôn ngữ văn tự không phải là Chơn Kinh. Ngôn ngữ, văn tự trong Kinh cũng không phải là Kinh, bởi vì trong vũ trụ bao la nầy, tất cả những vấn đề như thuyết pháp, ăn uống, những công việc thường ngày vẫn luôn luôn diễn ra như là chơn lý, có những vấn đề ngôn ngữvăn tự có thể diễn đạt được, nhưng cũng có những việc mà ngôn ngữ văn tự không thể diễn đạt. Nhờ khả năng hiểu biết, nghe thuyết pháp lãnh hội được Kinh, song muốn hiểu rõ Chơn Kinh, phải nhờ năng lực Tọa Thiền. Dù cố gắng miệt mài đọc tụng, bình giải, phân tích Kinh Điển nhiều đến mấy đi nữa cũng không thể liễu tri được Chơn Kinh. Thế cho nên mục đích tụng Kinh là thấu đạt chân lý, nhưng nếu chỉ tụng mà không hành trì, thì việc tụng Kinh cũng chẳng có ý nghĩa gì cả.
Công đức tụng Kinh thật là vô lượng, không có gì sánh bằng, xưa nay vốn không sai bao giờ. Tụng Kinh hay Tông Điển, Ngữ Lục đều phải xuất phát từ thân tâm thanh tịnh, dù hiểu hay không hiểu nghĩa, có thể cho rằng chỉ đưa mắt theo chữ cũng tốt, nhưng không nên đọc suông, mà phải lãnh thọ lời dạy bảo. Nếu khôngtâm thành kính, có thể dẫn đến nguy hại như tự mình sáng tác ra Kinh khác.
IV.4.3 Giải Thích Về Kinh Điển
Những Kinh Điển mà thường ngày Tông Tào Động tụng đọc sẽ được giải thích như sau:
IV.4.3.1 Kinh Pháp Hoa – Hokekyo
Kinh Pháp Hoa, nói rõ là “Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”, bộ kinh tiêu biểu của Phật Giáo Đại Thừa, được viết bằng tiếng Sanskrit, đã dịch sang Tạng ngữ và nhiều ngôn ngữ khác. Có tất cả 6 bản dịch bằng chữ Hán, bản chúng ta đang sử dụng của Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang chữ Hán vào đầu thế kỷ thứ 5, gồm 7 quyển và 28 phẩm. Tại Nhật Bản và Trung Hoa, Kinh nầy được truyền bá sâu rộng, mà Đề Kinh có ý nghĩa biểu tượng Chánh Phápchân lý vô nhiễm, luôn luôn thanh tịnh như hoa sen không bị ô nhiễm dù mọc trong bùn dơ. Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Bát Nhã và một số Kinh Điển khác là những Kinh quan trọng của Đại Thừa, chiếm một địa vị quan trọng trong Phật Giáo. Không ai không biết Kinh Pháp Hoa không những có ảnh hưởng rất lớn đến lãnh vực tư tưởng, văn hóa và nghệ thuật, tư tưởng ở Nhật mà Kinh nầy còn bao hàm tính chất thực tiển về tín ngưỡng, trình bày tính cách thiêng liêng siêu việtquan tâm đến những hiện tượng thế giới. Theo tôi (tác giả), không Tông Phái nào của Nhật không học Kinh Pháp Hoa, đặc biệt Tông Thiên Thai và Tông Nhật Liên tôn sùng Kinh Pháp Hoa làm căn bản cho hệ thống Tông Phái mình.
Căn bản tư tưởng Kinh Pháp HoaNhất Thừa Diệu Pháp, Cửu Viễn Bổn Phật (nghĩa là chỉ một diệu pháp nhất thừa và đã thành Phật từ xa xưa rồi). Nhất Thừa Diệu Pháp nghĩa là những bài Kinh mà Đức Thích Tôn thuyết pháp trước đây chỉ đáp ứng nguyện vọng, năng lực và khả năng tâm linh của mọi người mà thôi, pháp chưa là chân lý chân thật, chỉ có Kinh Pháp Hoa, Đức Thích Tôn mới chỉ một sự thật duy nhất đó là Nhất Thừa. Cửu Viễn Bổn Phật nghĩa là dù Đức Thích Tôn nhập diệt vào năm Ngài 80 tuổi, nhưng sự thật không phải vậy, Đức Thích Tôn từ quá khứ đến hiện tạivị lai chẳng nhập diệt bao giờ mà luôn luôn hiện hữu, bởi vì Phật với chư Phật đều giống nhau ở điểm đã thành Phật rồi. Khi tín thành và quy y Bổn Phật, hành trì lời Phật dạy rất thật tiễn, chúng ta có thể cảm nhận được niềm an lạc vô biên của Phật. Đây quả là vấn đề trọng tâm thảo luận để được sáng tỏ hơn.
Thiền Sư Đạo Nguyên giảng về Kinh Pháp Hoa rằng: “Trong tất cả các Kinh, Đức Thích Tôn thuyết giảng, Kinh Pháp Hoa là Vua của các Kinh, vị Thầy lớn (theo Chánh Pháp Nhãn Tạng phần Quy Y Tam Bảo)”. Thật là một sự tán dương cao vời. Trong những trước tác của mình, Thiền Sư Đạo Nguyên cũng đã trích dẫn Kinh Pháp Hoa rất nhiều như:
- Phẩm Phương Tiện thứ hai, Vĩnh Bình Quảng Lục quyển 1.5.8 Chánh Pháp Nhãn Tạng, “Chư Pháp Thật Tướng”, “A La Hán”, “Pháp Tánh”, “Chư Ác Mạt Tác”, “Vô Tình Thuyết Pháp”, “Thập Phương”, “Nhẫn Ma”, “Ưu Đàm Hoa”, “Phát Vô Thượng Tâm”, “Cúng Dường Chư Phật”.
Phẩm Thí Dụ thứ ba, Vĩnh Bình Quảng Lục quyển 5, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Hải Ấn Tam Muội”, “Tam Giới Duy Tâm”.
Phẩm Tín Giải thứ tư, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “A La Hán”.
Phẩm thứ 8 Ngũ Bá Đệ Tử Thọ Ký, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Thọ Ký”.
Phẩm thứ 9, Thọ Học Vô Học Nhơn Ký, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “37 Phẩm Bồ Đề Phần Pháp”.
Phẩm Pháp Sư thứ 10, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Khê Thinh Sơn Sắc”, “Thọ Ký”, “Chư Pháp Thật Tướng”, “Kiến Phật”, “Như Lai Tạng Thân”.
Phẩm thứ 11, Kiến Bảo Tháp, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Hành Phật Uy Nghi”, “Kiến Phật”.
Phẩm thứ 12, Đề Bà Đat Đa, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Như Lai Tàng Thân”.
Phẩm thứ 14, An Lạc Hạnh, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Khê Thinh Sơn Sắc”, “Mộng Trung Thuyết Mộng”, “Kiến Phật”, “Tẩy Diện”.
Phẩm thứ 16, Như Lai Thọ Lượng, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Hành Phật Uy Nghi”, “Như Lai Tạng Thân”, “Tam Giới Duy Tâm”, “Kiến Phật”, “Phát Bồ Đề Tâm”, “Xuất Gia”, “Quy Y Tam Bảo”.
Phẩm thứ 17, Phân Biệt Công Đức, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Kiến Phật”.
Phẩm thứ 21, Như Lai Thần Lực, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Thần Thông”, “Kiến Phật”.
Phẩm thứ 23, Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “37 Phẩm Bồ Đề Phần Pháp”.
Phẩm thứ 27, Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Kiến Phật”.
Phẩm thứ 28, Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát, Chánh Pháp Nhãn Tạng: “Kiến Phật”.
Chánh Pháp Nhãn Tạng có tất cả 16 phẩm, tổng cộng 95 quyển trích dẫn Kinh Pháp Hoa không ít như: Thọ Ký, Chư Pháp Thật Tướng, Pháp Hoa Chuyển Pháp Hoa, Duy Phật Tả Phật v.v... song Thiền Sư Đạo Nguyên sử dụng để dẫn chứng chứ không căn cứ vào Kinh Pháp Hoa làm căn bản.
Với Tông Tào Động, trong số 28 phẩm của Kinh Pháp Hoa, phẩm 14 An Lạc Hạnh, phẩm thứ 16 Như Lai Vô Lượng Thọ, phẩm thứ 21 Như Lai Thần Lực, phẩm thứ 25 Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn, hoặc những bài kệ của bốn phẩm nầy thường được đọc tụng nhiều nhất.
Phẩm thứ 14 An Lạc Hạnh, Đức Phật giảng về hình ảnh phi thường của Bồ Tát bốn sự an lạc của chư vị Bồ Tát đó là: hành xử, ngôn luận, tư tưởngthệ nguyện.
Phẩm thứ 16 Như Lai Thọ Lượng, Đức Thích Tôn cho biết Ngài đã thành Phật từ lâu rồi.
Phẩm thứ 21 Như Lai Thần Lực, Đức Thích Tôn dùng đại thần lực thị hiệnphó chúc Đại Pháp Pháp Hoa cho chư vị Bồ Tát Tùng Địa Dõng Xuất như Bồ Tát Thường HànhBồ Tát Thủ Đạo.
Phẩm thứ 25 Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn, Phật giới thiệu vị Bồ Tát biến hiện ra 33 thân và hạnh nguyện cứu độ không phân biệt của Bồ Tát.
Trong bốn phẩm nầy, đặc biệt phẩm Như Lai Thọ Lượng (không có tự ngã kệ), phẩm Phổ Môn (không có Thế Tôn kệ) rất là gần gũi thân thiết được trì tụng trong những thời khóa tụng buổi sáng và tất cả các nghi lễ Phật sự quan trọng như kỳ nguyện bình an v.v....
IV.4.3.2 Kinh Hoa Nghiêm – Kegonkyo
Kinh Hoa Nghiêm, nói đủ là “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh“, là bản kinh tiêu biểu của Phật Giáo Đại Thừa, với đề kinh có ý nghĩa đem hoa đẹp nghiêm sức chư Phật (Đức Phật Tỳ Lô Giá Na) qua thời giankhông gian. Nội dung bản Kinhđức Phật trình bày bản chấtcảnh giới giác ngộ Ngài đạt được dưới cội Bồ Đề. Kinh Hoa NghiêmKinh Pháp Hoa là hai Kinh ảnh hưởng sâu đậm vào tư tưởng tín ngưỡng Phật Giáo, đặc biệtvăn hóa Nhật Bản. Tông Hoa Nghiêm căn cứ vào bản Kinh nầy (vị Đại Phật ở Chùa Đại Phật ở Nara cũng dựa từ Kinh Hoa Nghiêmkiến tạo). Ngay cả tư tưởng sử thế giới ngày nay cũng hòa mình trong biển cả hoa Nghiêm, cho nên không phải chỉ có Tông Hoa Nghiêm chiếm địa vị độc tôn.
Trọng tâm của Kinh Hoa Nghiêm, có thể nghĩ rằng, là triết lý Tánh Khởi, nghĩa là tất cả các Pháp đều được ánh sáng Phật tánh chiếu soi, mà Phật tánh tồn tại là một triết lý. Hơn nữa, còn có các tư tưởng căn bản khác như: Sự Sự Vô Ngại, nghĩa là tất cả các Pháp tạo thành chèn chịt và đan xen với nhau không có hạn định. Nhứt tức nhứt thiết, nghĩa là tất cả các Pháp như một hư lân, luôn luôn có một điểm, trong một điểm bao hàm toàn thể thế giới. Tâm Phật Chúng Sanh Thị Tam Vô Sai Biệt, nghĩa là tâm của ta, của Phật và chúng sanh không sai khác như ba loại riêng biệt. Tam Giới Hư Vọng Đản Thị Nhứt Tâm Tác, nghĩa là thế giới nầy do Tâm giả hợp tạo nên.
Hơn nữa, trong Kinh diễn tả chàng thanh niên Thiện Tài Đồng Tử đi tham vấn việc tu hành của 53 vị thiện tri thức rất là nổi tiếng. Thác Nước Hoa Nghiêm hay câu chuyện Tokaido 53 lần tham vấn rút ra từ Kinh Hoa Nghiêm rất gần gũi với người Nhật.
Kinh Hoa Nghiêm có tất cả 3 bản dịch đó là: “Kinh Hoa Nghiêm Bốn Mươi Quyển” do Ngài Bát Nhã Tam Tạng dịch; “Kinh Hoa Nghiêm Sáu Mươi Quyển” do Ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch vào thời Đông Tấn của Trung Hoa, được xem là bản dịch xưa nhất vào khoảng thế kỷ thứ 5. “Kinh Hoa Nghiêm Tám Mươi Quyển” do Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch vào đời nhà Đường. Đặc biệt trong Chánh Pháp Nhãn Tạng, Thiền Sư Đạo Nguyên, có một số tư tưởng tu chứng cao vời và vấn đề liên quan rút ra từ Kinh Hoa Nghiêm như: “Hiện Thành Công Án”, “Phật Tánh”, “Tam Giới Duy Tâm”, “Hữu Thời” v.v...
Ngay cả điển tích và tư tưởng trong quyển “Hải Ấn Tam Muội” của Chánh Pháp Nhãn Tạng căn cứ trực tiếp từ Kinh Duy Ma, không thể giải thích trên phương diện của Kinh Hoa Nghiêm, nhưng hầu hết những phần còn lại Thiền Sư Đạo Nguyên đều y cứ vào Kinh Hoa Nghiêm như: phẩm “Tịnh Hạnh“, của “Kinh Hoa Nghiêm Sáu Mươi Quyển” để giải thích những vấn đề “Tẩy Diện“, “Tẩy Tịnh”, “Vĩnh Bình Thanh Quy”, “Biện Đạo Pháp” v.v... trong “Chánh Pháp Nhãn Tạng; phẩm “Hiền Thủ Bồ Tát“ trong “Kinh Hoa Nghiêm Tám Mươi Quyển“ để lý giải phần “Phát Vô Thượng Tâm” trong “Chánh Pháp Nhãn Tạng“ và phẩm “Ly Thế Gian”, phẩm “Dạ Ma Thiên Cung Bồ Tát Thuyết Kệ”, ở “ Kinh Hoa Nghiêm Tám Mươi Quyển” để biên soạn phần “Tam Giới Duy Tâm” v.v...trong “Chánh Pháp Nhãn Tạng.”
IV.4.3.3 Kinh Bát Nhã – Hannyagyo
Thật ra, Kinh Bát Nhã gồm có hai bản văn:
- Đại Phẩm Bát Nhã Kinh, gồm có 28 quyển, 30 quyển, 40 quyển do Ngài Cưu Ma La Thập dịch.
- Tiểu phẩm Bát Nhã Kinh gồm có 10 quyển do Ngài Cưu Ma La Thập dịch.
- Đại Bát Nhã Kinh gồm 600 quyển do Ngài Huyền Trang dịch.
- Ngoài ra còn nhiều bản nữa. Tông Tào Động thường dùng Kinh Bát Nhã, sẽ giới thiệu giản lược sau.
Như trên đã nói, Kinh Bát Nhã cũng là bản Kinh tiêu biểu của Đại Thừa Phật Giáo, trong đó tư tưởng “Không” được trình bày rõ ràngchính yếu, mà Thiền Tông rất tôn quý điểm nầy. “Không“ nghĩa là tất cả những tồn tại được nhận thức bằng mắt, tai như là hiện thật, hoàn toàn không tồn tại chơn thật, không phải là thật, mà tồn tại thật sự không tăng, không giảm, giống như hư không, thậm chí không có mê, cũng chẳng có giác. Đừng vướng mắc vào bất cứ vật nào mới có thể gọi là tự tại, sống thật với hiện hữu.
Đối với người Nhật, Kinh Đại Bát Nhãbản Kinh dùng để Trấn Quốc, Chiêu Phước và Trừ Tai. Đầu thế kỷ thứ 8, thời Nara, Vua sắc chỉ đem Kinh vào 4 chùa lớn ở cung điện tại Nara để luân phiên đọc tụng (có một vị Tăng đức độ mở bản Kinh ra đọc rồi gấp quyển kinh lại phiên dịch, sau đó mọi người luân phiên đọc theo). Tất cả vừa làm lễ vừa cầu nguyện. Vào ngày mồng ba tháng giêng, Tông Tào Động cũng có lễ chuyển đọc Đại Bát Nhã 600 quyển trong ngày Hội Đại Bát Nhã cầu an vào mùa Xuân v.v...để cầu nguyện cho Đàn Tín Đồ bình an mạnh khỏe, gia đình yên ổn, tật bệnh tiêu trừ, buôn may bán đắc, phát tài phát đạt, mùa màng tươi tốt, Quốc Gia hưng thịnh và tránh các độc hại v.v... mọi người cùng đội Kinh trên đầu rồi lễ bái.
Trong chánh điện an trí 16 tượng Thiện Thần. Mọi người cùng đọc tụng Bát Nhã Tâm Kinh, Chú Tiêu Tai, Lý Thú Phần của Đại Bát Nhã 600 quyển kỳ nguyện và niệm ân. Tại Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, mỗi ngày trong khóa Kinh buổi sáng có tụng phần Hoàng thần và tiếp theoBát Nhã Tâm Kinh của Đại Bát Nhã 600 quyển. Sự chuyển đọc nầy có mục đích cầu nguyện cho Đàn Tín Đồ và mọi người được an lạc hạnh phúc.
IV.4.3.4 Bát Nhã Tâm Kinh – Hannya Shingyo
Bản kinh nầy chỉ có một quyển, còn gọi rõ là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, giản lược từ Đại Kinh Bát Nhã 600 quyển trình bày tư tưởng Không. Bản kinh thật ngắn, chỉ có 260 chữ thôi. Nội dung của Kinh rất gần gũi với người Nhật, cho biết khi nhập sâu vào Thiền Định, hành giả đạt được trí tuệ để nhận thức thực tại. Tông Tào Động tụng đọc thường xuyên (vào những khi: cúng ngọ, tụng Kinh buổi sáng, chúc phước, tụng Vi Đà Thiên, đi khất thực, những pháp sự tại gia đình Phật Tử v..v.....có lúc theo nghi thức của vị Thủ Tọa, khi đọc chuyền nhau Kinh Đại Bát Nhã). Có đến bảy bản dịch chữ Hán của Bát Nhã Tâm Kinh, trong đó bản được Tông Tào Động thường dùng đọc tụng là bản văn do Ngài Huyền Trang dịch vào thế kỷ thứ 7, vì bản văn nầy được xem là sáng sủa nhất. Nhứt Thiết Giai Không (tất cả mọi vật trên thực tế là không), Sắc Tức Thị Không, Không Tức Thị Sắc (tất cả mọi vật đều không, trong không có sắc) v.v... đó là những lời rất là quen thuộc nổi tiếng.
Thiền Sư Đạo Nguyên, Thiền thường trích dẫn Kinh văn của Ma ha Bát Nhã Ba La Mật Đa và Đại Bát Nhã tập 172 và tập 291 trong Chánh Pháp Nhãn Tạng để giải thích Kinh Văn Bát Nhã một cách độc đáo đặc biệt, thỉnh thoảng dùng các phần Tứ Nhiếp Pháp, Xuất Gia, Xuất Gia Công Đức v.v... trong Kinh Đại Bát Nhã.
IV.4.3.5 Kinh Kim Cang Bát Nhã – Kongo Hannyagyo
Kinh nầy chỉ có một quyển còn gọi là Kinh Kim Cang, nói giản lược từ “Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh” và “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh”, rút ra từ quyển thứ 577, “Đệ Cửu Hội Năng Đoạn Kim Cang Phần” của “Đại Bát Nhã 600 Quyển”. Nội dung của Kinh cũng nói về “Không” song không hẳn là sử dụng tư tưởng Không của Bát Nhã (Trí Tuệ). Ngoài bản dịch nguyên mẫu từ chữ Sanskrit và tiếng Tây Tạng, có đến 6 bản dịch từ chữ Hán, song bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập vào đầu thế kỷ thứ 5 thường được dùng tại Trung Hoa và Nhật Bản. Đầu thế kỷ thứ 6, Ngài Bồ Đề Lưu Chi cũng dịch và thêm vào phần văn dịch chữ Hán.
Bởi Kinh nầy tường thuật vấn đề trí tuệ thực thể thường hằng, cố định, cho nên rất khó dùng ngôn ngữ để giải thích suông những gì được gọi là chân lý, bản chấtcần phảitrí tuệ để chứng đắc hoàn toàn.
“Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm”, nghĩa là đừng có tâm chấp trước vào bất cứ việc gì, hãy sống tùy duyên. “Tức Phi” là tánh chơn thật của vật, mà trên thực tế không có thể nắm bắt bằng nhận thứctư duy, song nếu lìa chỗ thấy cũng không thể rõ tánh chơn thật.
Theo Thiền Tông của Trung QuốcNhật Bản, Kinh nầy rất được tôn sùng, đọc tụnggiải thích, có thể nói rằng có cả hằng trăm bản chú giải khác nhau. Có một câu chuyện rất lý thú mà ai cũng biết đó là một trong những vị Tổ Sư Thiền Trung Hoa, Lục Tổ Huệ Năng xuất gia nhờ nghe một câu của Kinh nầy “Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm”, đừng để tâm vướng bận vào bất cứ đối tượng nào. Trong Chánh Pháp Nhãn Tạng, Thiền Sư Đạo Nguyên biên soạn những quyển như: “Tâm Bất Khả Đắc”, “Hậu Tâm Bất Khả Đắc” hay “Kiến Phật” đều lấy từ ý chính có tính cách độc đáo sáng tạo từ kinh nầy. Trong “Vĩnh Bình Quảng Lục”, một bản văn dùng để thuyết pháp, Ngài cũng trích dẫn từ Kinh nầy.
IV.4.3.6 Lý Thú Phần – Rishyukun
Tác phẩm chỉ có một quyển, do Ngài Huyền Trang dịch, với nội dung tóm lược từ phần “Bát Nhã Lý Thú”, phần 10 quyển 578, Kinh Đại Bát Nhã trình bày việc Đức Phật giảng Kinh nầy với Kinh Bát Nhã Thanh Tịnh cho chư vị Bồ Tát tại Thiên Cung cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên và tám trăm vạn Bồ Tát khác nghe. Ai thường thọ trì Kinh nầy, được Bồ Tát bảo hộ, luôn luôn được chư Thiên hộ trì, dù cho có bị ác ma quấy phá cũng không bị hại, có thể được vãng sanh quốc độ của chư Phật. Cuối bản văn có 3 Đà La Ni, những pháp môn vi diệu vô thượng, sẽ được ghi lại ở phía sau.
IV.4.3.7 Kinh Duy Ma – Yuimagyo
Kinh nầy gồm có ba quyển, còn gọi là “Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết”. Ngoài bản dịch tiếng Tây Tạng, còn có ba bản dịch bằng chữ Hán, song bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập vào cuối thế kỷ thứ 6 nổi tiếng hơn cả. Cư Sĩ Duy Ma, còn gọi là Duy Ma Cật, hay Tịnh Danh dù chỉ là một vị Trưởng Giả cư sĩ nhưng có thể chất vấn các vị đại đệ tử Phật như Bồ Tát Văn Thù, trưởng lão Xá Lợi Phất. Điều nầy xem ra như là ngược lại với tinh thần Kinh Điển thông thường nhưng lại nổi bật lên tinh thần thực tiển của Đại Thừa Bồ Tát.
Trong Kinh nầy, tư tưởng Không được thành lập như một phương pháp hành đạo rất thực tiển của Bồ Tát, không những nói lên chủ trương hành tung của chư Bồ Tát thật tự do tự tại, nhằm mục đích cứu đời không giới hạn, điển hình như Bồ Tát bệnh vì chúng sanh bệnh, mà còn hướng dẫn người cư sĩ tại gia một cách sống cụ thể. Sự im lặng của Duy Ma là một tiếng nổ long trời, lở đất, hoặc Bất Nhị Pháp Môn, ý muốn nói lên chân lý tất cả đều được bình đẳng nên có sai biệt và trong sự sai biệt, các pháp đều bình đẳng, ví dụ như trong sự sống đã có sự chết và trong khi chết đã hàm chứa sự sống. Cả hai đều có cội nguồn được tìm thấy trong Kinh nầy.
Những đề tài như thế từng là những vấn đề rất nổi tiếng. Với Thiền Tông, yên lặng là một tiếng nổ, được tôn trọng như một ngôn ngữ, từ xưa đã đọc được cho nên trong phần 37 phẩm Bồ Đề của Chánh Pháp Nhãn Tạng, Thiền Sư Đạo Nguyên bài bác về sự đau bệnh ấy và tôn trọng tư tưởng cư sĩ tại gia của Kinh nầy. Hơn nữa, trong phần Thọ Ký, Tứ Mã của Chánh Pháp Nhãn Tạng hay “Vĩnh Bình Thanh Quy” trong Vĩnh Bình Quảng Lục quyển 5 và “Phó Chúc Phạn Pháp” Thiền Sư dùng ngôn ngữ của Kinh nầy để thuyết pháp. Ngay cả, khi trả lời vấn đáp Tông Tào Động thường sử dụng những từ ngữ trong Kinh nầy.
IV.4.3.8 Kinh Niết Bàn – Nehangyo
Kinh Niết Bàn gồm có hai bản: Kinh Tiểu Thừa Niết BànĐại Thừa Niết Bàn, đều gọi chung là Kinh Đại Bát Niết Bàn.
Chữ Niết Bàn xuất phát từ ý nghĩa chính, sự nhập diệt của Đức Thích Tôn chuyển đổi thành sự dập tắt lửa phiền não, chứng được cảnh giới giác ngộ. Thời Bắc Lương, Trung Hoa, Ngài Đàm Vô Sấm dịch Kinh Niết Bàn ra chữ Hán tổng cộng 40 quyển, gọi là Bắc Bổn thường được dùng để so sánh các bản khác, bởi vì bản kinh nầy tiêu biểu của Phật Giáo Đại Thừa trình bày Đức Thích Tôn nhập diệttrở về với Pháp Thân Thường Trụ, được gọi là Phật, luôn luôn tồn tại một cách vĩnh viễn. Kinh nầy cũng nói: “Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh“ như lời minh định rằng mọi chúng sanh đều có Phật tánh. Chúng ta cũng tin rằng mình có Phật tánh, giữ gìn Phật tánh ấy, đồng một thể với Phật. Kinh cho biết có một tự tánh chân thật tồn tại trong đời sống nầy đó là thế giới Phật, Thường, Lạc, Ngã, Tịnh mà ta thường vui với sự thanh tịnh ấy.
Cả Phật Giáo Trung Hoa và Phật Giáo Nhật Bản đều tôn trọng việc hành trì kinh nầy. Thiền Sư Đạo Nguyên cũng trích dẫn nhiều thuật từ của Kinh vào Chánh Pháp Nhãn Tạng như: Phật-Tánh, hoặc Nhứt Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh v.v... và phân tích chú giải Kinh nầy theo kiến giải sáng tạo, độc đáo, tung hoành vô tận. Ngoài ra, còn sử dụng những ngôn từ như: Chư Ác Mạt Tác; Vương Tác Tiên Đà Bà, Tứ Mã, Phát Bồ Đề Tâm, Cúng Dường Chư Phật, Quy Y Tam Bảo v.v...
IV.4.3.9 Kinh Di Giáo – Yuihyogyo
Kinh nầy chỉ có một quyển còn gọi là Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Huấn Kinh, do Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra chữ Hán. Theo phân loại, Kinh thuộc về Kinh Điển Tiểu Thừa, thuộc Kinh Tập Bộ, cũng có khi xếp vào Niết Bàn Bộ. Kinh nầy ghi lại những lời dạy cuối cùng trước khi Đức Thích Tôn nhập diệt, Ngài khuyên rằng sống trong cõi vô thường, giả tạm nầy không được lười biếng, phải tinh tấn, giữ giớichế ngự dục vọng, như lời dạy có tính cách vĩnh viễn. Kinh còn chỉ cho thấy vấn đề tại sao cố gắng sớm được giải thoát. Trong Chánh Pháp Nhãn Tạng Thiền Sư Đạo Nguyên trích dẫn kinh nầy ở phần Bát Đại Nhơn Giác và Vĩnh Bình Quảng Lục quyển thứ 5, đặc biệt Thiền Sư Đạo Nguyên soạn Bát Đại Nhơn Giác ở cuối đời. Ngài trích dẫn từ Kinh Di Giáo dạy rằng:
1. Hãy thiểu dục,
2. Biết đủ,
3. Mong được yên lặng,
4. Hãy tinh tấn,
5. Hãy thủ hộ pháp đừng có vọng niệm,
6. Tâm an thiền định,
7. Tu trí tuệ,
8. Đừng rơi vào hí luận.
Tất cả được gọi là 8 đức giáo huấn cho chúng đệ tử. Thế cho nên, Tông Tào Động đọc tụng Kinh Di Giáo trong Lễ Hội Niết Bàn ngày 15 tháng 2 mỗi năm, còn những khi Tín Đồ quá vãng, đọc tụng Bát Đại Nhơn Giác một cách trầm lắng xúc cảm. Những ngày 29 tháng 9, giỗ kỵ Thiền Sư Đạo Nguyên hằng năm, bản văn nầy được ấn tống, biên chép, đọc tụng v.v...
IV.4.3.10 Kinh Phạm Võng - Bonmogyo
Kinh nầy gồm có hai quyển gọi là Kinh Phạm Võng, hay Lô Xá Na Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm, quyển 10 hoặc Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh, do Ngài Cưu Ma La Thập dịch vào thế kỷ thứ 5. Ở Trung Hoa, có thuyết cho là ngụy Kinh. Nguyên nghĩa Tâm Kinh Phạm Võng nghĩa ẩn dụ quan điểm ý kiến của chúng sanh như mắc võng, song từ những ý kiến đó, Đức Phật chỉ chỗ cao tột của Tâm. Quyển thứ nhất trình bày 40 loại tâm trong quá trình tu hành chuyển hóa theo tâm cảnh Bồ Tát. Quyển thứ hai trình bày 10 giới quan trọng và 48 giới thông thường, cho rằng Giới Bồ Tát là mẹ của Chư Phật và tường thuật về Chủng Tử Phật-tánh. Nội dung quyển thứ hai được xem là tư tưởng Bồ Tát Giới. Đối với Phật Giáo Nhật Bản, Kinh nầy có ảnh hưởng rất lớn, chính Thiền Sư Đạo Nguyên trình bày 10 giới quan trọng nầy trong phần Thọ Giới của tác phẩm Chánh Pháp Nhãn Tạng. Tuy nhiên cũng có đôi chút khác biệt song vẫn dựa vào căn bản Kinh nầy. Hơn nữa, những phần như “Khê Thinh Sơn Sắc”, “Lễ Bái Đắc Tủy” và “Tẩy Diện” cũng được trích dẫn từ Kinh nầy.
IV.4.3.11 Kinh Địa Tạng – Jizogyo
Kinh Địa Tạng gồm có hai quyển, gọi đầy đủ là “Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh“, do Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch, song Kinh nầy cũng được cho rằng xuất phát “Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luận” có 10 quyển ở Trung Hoa, do Ngài Huyền Trang dịch, mà có thể từ bản văn nầy hình thành Kinh Địa Tạng. Có thuyết khác cho rằng từ bản văn Kinh Diên Mạng Địa Tạng Bồ Tát, một quyển do Ngài Bất Không dịch, nhưng cũng có thuyết cho rằng Kinh nầy được soạn tại Nhật. Trong kinh Địa Tạng, Bồ Tát Địa Tạng phát nguyện cho đến khi nào trong địa ngục không còn chúng sanh cho đến khi đó Ngài mới thành Phật. Ai bất hiếu với cha mẹ, giết cha, giết mẹ, tạo các ác nghiệp, sẽ đọa vào địa ngục sau khi chết, nếu xưng danh Bồ Tát Địa Tạngthành tâm, thành kính tụng Kinh Địa Tạng, thậm chí chí thành nghe Kinh, tội cũng tiêu mất. Kinh còn cho biết ai ai cũng được lợi ích, cho nên người Nhật tin cả Bồ Tát Quan Thế ÂmBồ Tát Địa Tạngxem như hai vị là biểu tượng tín ngưỡng dân gian, gần gũi và mật thiết. Ngày Vía Bồ Tát Địa Tạng, các tự viện thuộc Tông Tào Động đều tổ chức lễ kỷ niệm trang nghiêmthanh tịnh.
IV.4.3.12 Cam Lồ Môn – Kanromon
Bản văn Cam Lồ Môn chỉ có một quyển. Chữ Cam Lồ ẩn dụ lời dạy của Đức Phật ngọt ngào như giọt sương mai và đồng thời chữ Môn có nghĩa là nhập môn, vào cửa Đạo học Phật. Bản văn còn gọi là Cải Chánh Thí Ngạ Quỷ Tác Pháp. Thiền Sư Diện Sơn Đoan Phương – Menzan Yuiho, một trong những học Tăng thời Giang Hộ biên soạn và ghi thêm những Đà La Ni vào nghi thức Thí Thực trong Thanh Quy của Thiền Sư Oánh Sơn, tên là Cam Lồ Môn. Ở các tự viện thuộc Tông Tào Động mỗi ngày đều có khóa lễ buổi tối vào dịp trước và sau Đại Lễ Vu Lan, tụng Kinh nầy và hành pháp Đại Thí Thực, với mục đích chính là bố thí cho chư hương linh và ngạ quỷ đồ ăn uống.
Các Loại Đà La Ni
Đà La Ni là dịch âm từ chữ dharani, tiếng Sanskrit, nghĩa là không làm việc ác, hãy làm việc lành, ngoài ra còn nhiều ý nghĩa thâm sâu khác nữa. Những câu chú ấy khi được trì tụng có công năng tiêu trừ ma chướng, đạt được lợi ích. Nếu lễ bái cũng được công đức tương tự. Có nhiều loại Đà La Ni khác nhau, ở đây sẽ chọn một vài bài Chú mà Tông Tào Động thường đọc tụng.
IV.4.3.13 Đại Bi Tâm Đà La Ni – Daihi Shindarani
Bản văn nầy chỉ có một quyển, còn gọi là “Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh”, nói tóm tắt là “Chú Đại Bi”, do Ngài Già Phạm Đạt Ma dịch ra chữ Hán, vào khoảng thế kỷ thứ 7. Nội dung chú nầy là quy y Tam Bảo, lễ bái Đức Quán Tự Tại Bồ Tát, xướng danh Đức Quán Tự Tại Bồ Tát, cầu nguyện được phước đức gia tăngvạn sự kiết tường. Tông Tào Động thường đọc tụng Chú nầy vào các khóa lễ như: Chúc Thánh, Quan Âm Sám Pháp, Khóa Lễ Buổi Sáng và những nghi thức thông thường khác, bắt đầu bằng câu: Namo Kalatanso Toraya Ya. Chú Đại Bi giống như Bát Nhã Tâm Kinh rất gần gũi và thông dụng. Trong các thời khóa tụng kinh sáng tại Bổn Sơn Tổng Trì Tự và Tổ Viện thường tụng chú nầy một cách trang nghiêm, chậm rãi và từ giọng cao xuống giọng trầm sau khi tụng cho Ngự Lưỡng Tôn.
IV.4.3.14 Tiêu Tai Kiết Tường Đà La Ni – Shosai Myogichijo Dalani
Bản văn nầy chỉ có một quyển. Đà La Ni nầy rút ra từ “Phật Thuyết Xí Thạnh Quang Đại Uy Đức Tiêu Tai Kiết Tường Đà La Ni Kinh”, nói gọn là “Chú Tiêu Tai”, do Ngài Bất Không, đời Đường dịch ra chữ Hán vào thế kỷ thứ 8. Truyền rằng Đà La Ni được tụng cho Bắc Đẩu Thất Tinh (7 vì sao Bắc Đẩu) và những tinh tú khác chỉ cho Uy Đức của Đức Phật. Ai tụng đọc Đà La Ni nầy sẽ thoát được tai nạn và mọi điều luôn được tốt đẹp. Tông Tào Động thường tụng chú nầy trong thời khóa tụng Kinh buổi sáng tại Phật Điện hay những lễ cầu đảo phước lộc và các nghi thức khác.
IV.4.3.15 Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni – Butsucho Sonsho Dalani
Bản văn cũng chỉ có một quyển, còn gọi đơn giản là “Tôn Thắng Đà La Ni”, do Ngài Phật Đà Bà Lợi dịch ra chữ Hán, khoảng đầu thế kỷ thứ 7. “Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh“ chuyên chở Đà La Ni nầy diển tả Thiện Trụ Thiên Tử khi gặp Đế Thích Thiên, cầu xin thức ăn để nuôi sống nhưng không có kết quả, cho nên đến gặp Đức Phật, thấy Đức Thích Tôn phóng quang từ đỉnh đầu và chiếu khắp mười phương, rồi được thọ lãnh Đà La Ni nầy, tất cả những chướng ngại đều tiêu trừ qua thần lực ấy. Tông Tào Động tụng Chú nầy khi cúng ngọ, khi cầu phước và những nghi thức khác.
IV.4.3.16 Lăng Nghiêm Chú – Ryogonshu
Bản văn nầy cũng chỉ có một quyển, do Ngài Bàn Lạt Mật Đế dịch ra chữ Hán vào khoảng thế kỷ thứ 8, thuộc quyển thứ 7 trong 10 quyển Đà La Ni dài có tên là “Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhơn Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh” còn gọi là “Đại Phật Đảnh Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Đà La Ni”, thỉnh thoảng còn gọi là “Bạch Tán Cái” (dù che màu trắng), mà tiếng phạn là “Saddha Dhapatara” – nghĩa là “Phật Đảnh”. Chú Lăng Nghiêm nghĩa là xưng tán chư Phật và nhờ năng lực từ bi có được từ thần chú Đà La Ni khởi lên từ Thiền Định Tam Muội, hàng phục (đối trị) những tà ma khi tu hành. Từ ngày 13 tháng 5 cho đến 90 ngày (3 tháng sau), trước khi tụng khóa lễ buổi sáng, Tông Tào Động thường có Lăng Nghiêm Hội, vừa đi Kinh hành nhiễu Phật vừa tụng Đà La Ni nầy, để cầu nguyện cho chư Tăng đang tu hành được bình an vô sự. Vào ngày 15 tháng 2, Niết Bàn Hội và ngày lễ Vu Lan Đại Thí Ngạ Quỷ Hội v.v... đều đọc tụng Kinh nầy.
IV.4.3.17 Lý Thú Phần Của Đà La Ni
Trong Lý Thú Phần của Đà La Ni gồm có bốn loại.
IV.4.3.17.1 Thập Lục Thiện Thần Vương Chú – Juroku Zenjin Osjiu
Đà La Ni do Ngài A Địa Cù dịch ra chữ Hán, trong phần “Đà La Ni Tập Kinh”. Đà La Ni nầy là quy y Tam Bảo, chư Thiên, Thần, Vương, Nữ v.v...., ai kính lễ, cầu nguyện sẽ được thành tựu, bởi vì khi trì tụng Đà La Ni nầy, có 16 Thiện Thần hiện ra để cứu giúp.
IV.4.3.17.2 Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Đà La Ni – Daihannya Haramitsuta Dalani
Đà La Ni nầy có công năng xưng bái Đức Thích Tôn, tán dương Bát Nhã Ba La Mật Đa Phật Mẫuca ngợi Đại Bát Nhã, ai trì tụng chú nầy sẽ hàng phục ma chướng, không còn dục vọng và sớm chứng ngộ.
IV.4.3.17.3 Bát Nhã Thông Minh Đà La Ni – Hannya Somyo Dalani
Đà La Nicông năng xưng tán Phật Mẫu, ai trì tụng Đà La Ni nầy, sẽ tiêu trừ nghiệp chướng, thường được gặp Phật và sớm được chứng ngộ.
IV.4.3.17.4 Bát Nhã Văn Trì Bất Vọng Đà La Ni – Hannya Monji Fumo Dalani
Đà La Ni nầy có công dụng để xưng tán Phật Mẫu, ai trì tụng sẽ tiêu trừ chướng ngại, không quên những lời Phật dạy và sớm chứng ngộ.
IV.4.3.18 Xá Lợi Lễ Văn – Shari Raimon
Bản văn chỉ có một quyển, song không có trong “Tào Động Tông Tông Chế”. Hơn nữa không phải là Đà La Ni, nhưng Tông Tào Động thường đọc tụng ba biến hay nhiều biến lúc hỏa tán, chôn cốt, lấy cốt hoặc đốt hương bột, hoặc lễ Phật Niết Bàn vào ngày 15 tháng 2, đồng thời nhứt tâm đảnh lễ Đức Thích Ca Như Lai, mà ý nghĩa của lễ bái là ta với Phật đồng một thể. Nhờ năng lực gia trì của Phật, sở nguyện ta chơn thật sớm thành tựu, đắc đại trí tuệ.
Xá Lợi còn có nghĩa là cốt của Đức Phật, ở đây thay thế bằng xương cốt của Đệ Tử Phật hoặc Đàn Tín Đồ. Lúc Thiền Sư Đạo Nguyên nhập diệt, trà tỳ các Đệ Tử và các Tín Đồ truyền đọc và xướng lễ bài Xá Lợi lễ văn nầy, do Ngài Bất Không đời nhà Đường, Trung Hoa biên soạn, song cũng có nhiều thuyết cho là không phải.
IV.4.4 Giải Thích Về Ngữ Lục
Căn cứ vào Tông Điển của Tông Tào Động như chương trước đã thấy. Ở đây lược bớt và giải thích như sau.
IV.4.4.1 Tham Đồng Khế - Sandokai
Bản văn chỉ có một quyển, do Thiền Sư Thạch Đầu Hi Thiên – Sekito Kisen trước tác. Ngài là một Thiền Tăng Trung Hoa, thời nhà Đường, sống vào thế kỷ thứ 8, trước tiên là học trò Lục Tổ Huệ Năng, nhưng về sau học Thiền và đắc pháp với Thiền Sư Thanh Nguyên Hành Tư, Cao Đệ của Thiền Sư Huệ Năng trở thành Tổ thứ 8 của Thiền Tông Trung Hoa. Bây giờ, tượng của Thiền Sư Thạch Đầu được phụng thờ tại Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự.
Tham Đồng Khế có 220 chữ, là một bản văn ngắn hầu hết là kệ tụng bằng thơ. Với nghệ thuật dùng thơ Ngũ Ngôn (năm chữ một câu, hai câu một vần) diễn đạt Giáo Lý của Phật Giáo, bản văn toàn bộ có 44 câu như một cổ thi. Đầu đề là “Tham” chỉ thế giới hiện thực sai biệt. “Đồng biểu hiện tính bình đẳng chơn thật của thế giới. “Khế” nghĩa là khế hợp Tham và Đồng với thế giới lại, nghĩa là tự tánh chân thật thể hiện qua đời sống của Thiền, bắt đầu bằng câu:
“Tâm Đại Tiên Thiên Trúc,
Bí truyền Tây sang Đông”
Nghĩa là Đức Thích Tôn giác ngộhoằng dương Chánh Pháp tại Thiên Trúc, Ấn Độ. Giáo Pháp ấy được chư vị Tổ Sư truyền thừa nhau và truyền sang đất nước Trung Hoa ở phía Đông.
“Âm thanh luôn ngời sáng,
Trước sau bước chân đồng”
Nghĩa là những hiện thực sai biệt làm sáng lên tự tánh chân thật bình đẳng qua từng tiếng nói từng bước chân. Mọi vật tồn tại trên phương diện tương đối như khi bước đi, chân trước và chân sau khác nhau ở chỗ trước sau, nhưng dù sao đi nữa cũng là một bước, mà chân không bao giờ phân biệt chân trước và chân sau.
“Gắng tu trì Chánh Pháp,
Ngày tháng chẳng luống qua.”
Nghĩa là hãy cố gắng tu trìquý mến những ai cầu học tinh tủy Phật pháp, không để thời gian trôi qua lãng phí.
TôngTào Động bắt buộc tụng phần nầy tại Tổ Đường trong thời khóa buổi sáng, thời Lịch Đại Trụ Chúc và giỗ chư vị Tổ Sư, cũng giống như tụng “Bảo Kính Tam Muội”. Thật sự, không biết bắt đầu từ lúc nào việc trì tụng nầy trở thành thường xuyên vào mỗi sáng. Trong “Vĩnh Bình Quảng Lục” quyển 1, 3, 4, 5, 8 phần “Vĩnh Bình Thanh Quy”, “Chúng Liêu Châm Quy”, “Chánh Pháp Nhãn Tạng”, “Phật Tánh”, “Phật Đạo”, “Gia Thường”, “Phật Hướng Sự Thật”, Thiền Sư Đạo Nguyên có đề cập đến. Ngoài ra, trong “Tham Đồng Khế”, Thiền Sư Thạch Đầu bắt đầu phần “Thảo Am Ca” sau đó viết nhiều câu chuyện đời thường của Thiền Sư.
IV.4.4.2 Bảo Kính Tam Muội – Bokyo Zanmai
Bản văn nầy cũng chỉ có một quyển, do Thiền Sư Động Sơn Lương Giới – Tozan Ryokai biên soạn. Thiền Sư Động Sơn sống vào thế kỷ thứ 9, đời Đường, Trung Hoa, đắc pháp với Thiền Sư Dược Sơn Duy Nghiêm trở thành vị Tổ thứ 11 của Thiền Tông Trung Hoa, được tôn kính là vị Tổ của Tông Tào Động. Bảo Kính Tam Muội còn gọi là Bảo Kính Tam Muội Ca gồm có 94 câu mỗi câu 4 chữ, tổng cộng 376 chữ, thành một tập thơ nhỏ, với tựa đề Bảo Kính Tam Muội, ý nói Bảo KínhTam Muội để trang nghiêm việc tu hành. Kính ấy trong suốt, sạch sẽ và chiếu soi tất cả tâm của chúng ta khi có Tam Muội. Nội dung tập thơ diễn tả việc Tọa Thiền, như:
“Pháp chân thật ấy.
Phật Tổ mật giao,
Giữ gìn cẩn thận,
Bây giờ truyền trao”
Nghĩa là từ Ấn Độ, Đức Thích Tôn truyền trao Phật pháp chân thật cho các vị Tổ Sư, Chư Lịch Đại Tổ Sư mật truyền cho nhau cho đến bây giờ chúng ta được thọ nhận mang vào thân, phải giữ gìn cẩn thận. Đây là những câu thơ đầu, sau đó tiếp theo:
“Hiện trên Bảo Kính,
Hình ảnh của mình,
Đầy đủ năm tướng
Xinh hoặc chẳng xinh“
Nghĩa là khi đứng trước tấm kính quý ấy, hình của ta hiển hiện hoàn toàn dù chỉ là một bức ảnh, bởi vì mình chẳng phải là ảnh mà ảnh chỉ là ảnh mà thôi, nhưng bức ảnh ấy hiển hiện đầy đủ năm tướng một cách tự nhiên xinh hoặc chẳng xinh.
“Ai xa lìa dục,
Trang nghiêm đoan chánh,
Như cây cỏ dại,
Dù ba hay năm
Cùng gốc Kim Cang.”
Một khi lìa khỏi tham dục, tâm trở nên trang nghiêm đoan chánh. Như bụi cỏ dại dù có ba hoặc năm vẫn cùng chung một gốc cỏ. Con người cũng vậy dù biến đổi thành nhiều bộ mặt khác nhau nhưng tất cả chỉ là biến đổi trên hình thức mà thôi, song tâm vẫn cùng chung một gốc như nhau.
“Vượt qua tình thức,
Không thể nghĩ bàn.”
Nghĩa là tâm như tấm kiếng. Nhờ năng lực Thiền Định, tâm vượt qua khỏi tình, thức, không thể nghĩ bàn.
“Tương tục tương tục,
Thật ông chủ mình.”
Nghĩa là người tu được ánh sáng Phật Pháp chiếu soi, thấy được chủ nhân mình.
Thiền Sư Đạo Nguyên không trực tiếp trích dẫn “Bảo Kính Tam Muội” nhưng ngôn từ của Thiền Sư Động Sơn được trích dẫn vào các phần Khán Kinh, Thần Thông, Phật Hướng Thượng Sự, Hành Trì, Vô Tình Thuyết Pháp, Xuân Thu, Vĩnh Bình Quảng Lục v.v....của Chánh Pháp Nhãn Tạng, quyển 1, 3, 5, 6, 7, 9, tường thuật trong Tông Chỉ. Thật là một Ngữ Lục rất sâu sắc! Như Tham Đồng Khế, bản văn nầy được tụng trong khóa tụng Kinh sáng ở Tổ Đường hoặc những ngày giỗ kỵ Tổ Sư.
IV.4.4.3 Tín Tâm Minh – Shinjinmei
Bản văn chỉ có một quyển, do Thiền Sư Giám Trí Tăng Xán trước tác. Thiền Sư Giám Trí Tăng Xán là một Thiền Tăng rất nổi tiếng sống vào thế kỷ thứ 6, đời nhà Đường, Trung Hoa trở thành vị Tổ thứ ba của Thiền Tông. Tác phẩm “Tín Tâm Minh” gồm có 146 câu, mỗi câu 4 chữ, tổng cộng là 548 chữ, là một Ngữ Lục quý giá trong thời kỳ đầu Thiền Tông Trung Hoa. Tựa đề “Tín Tâm Minh” có tín tâm nghĩa là chơn tâm và minh nghĩa là khắc chữ vào, như là:
“Chí đạo không khó,
Chỉ ngại chọn thôi.”
Nghĩa là Phật pháp như con đường lớn, đến với con đường đó không phải là việc khó, chỉ cần buớc tới và buông bỏ tất cả những ham muốn thích hay không thích bằng như tự ngã.
Bắt đầu:
“Đây chẳng suy nghĩ,
Phân biệt không lường.”
Nghĩa là Thiền không phải là thế giới của thích hay không thích. Ai còn dùng phân biệt để suy lường không thể nào suy lường được.
Hay:
“Dứt bặt ngôn ngữ,
Đến đi chẳng còn”
Nghĩa là Thiền là thế giới của chơn tâm, không thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt được, cũng không thể dùng đơn vị đến đi để diễn đạt thời gian tồn tại của chơn tâm như: quá khứ, hiện tạivị lai nữa.
Thiền Sư Oánh Sơn là người Nhật đầu tiên chú giải bản văn “Tín Tâm Minh” nầy với tựa đề “Tín Tâm Minh Niêm Đề”.
IV.4.4.4 Chứng Đạo Ca – Shodoka
Bản văn cũng chỉ có một quyển; do Thiền Sư Vĩnh Gia Huyền Giác – Yoka Genkaku biên soạn. Thiền Sư Vĩnh Gia là một Thiền Tăng, sống vào thế kỷ thứ 7 và thứ 8, đời nhà Đường, Trung Hoa. Ngài tìm gặp được Lục Tổ Huệ Năng, xin thỉnh Pháp. Qua vài lần vấn đáp với Tổ, Ngài ngộ Thiền Cơ, được truyền Pháp. Ngài chỉ trú tại ngôi chùa Ngài Huệ Năng đang ở một đêm thôi và hoàn thành tác phẩm Chứng Đạo Ca. Chứng Đạo có nghĩa là ngộ lý đạo. Ca gồm 247 câu ca có tổng cộng 1714 chữ.
“Ngươi thấy chăng những người vui đạo,
Vui niềm vui tuyệt học vô vi.”
Nghĩa là nhà ngươi không biết chăng bất cứ học nào cũng chẳng còn cần thiết, hãy sống tự do tự tại mới thật là người nhàn rỗi.
Bắt đầu vào:
“Chơn chẳng tìm cầu, vọng chẳng trừ,
Hai pháp là không, tướng chẳng như. ”
Nghĩa là chẳng cần tìm cầu để ngộ lý chơn thật,cũng đừng khổ tâm để đoạn trừ mê vọng. Vì sao? Vì rõ biết tự thể của hai pháp là không, vốn là vô tướng.
Sau đó:
“Ống ngắm, người nhìn chưa thấy rõ,
Giúp người Ta chỉ rõ thật hư.”
Nghĩa là người dùng ống nhòm để nhìn Phật Pháp, làm sao thấy được Phật Pháp rộng lớn vô biên, mà thật tế không thể lấy gì sánh được. Bây giờ để giúp người, Ta sẽ giải thích thêm một lần nữa để thấy rõ ràng.
Chứng Đạo Ca hay nói rằng:
Đi cũng Thiền, ngồi cũng là Thiền.
Hay nói:
Ánh trăng vằng vặc trên sông ấy
Mấy cội tùng khua gió lao xao
Thăm thẳm đêm thu trôi lặng lẽ
Mênh mông không chỗ để nương vào.
Hay nói:
Cội nguồn tự tánhChơn Phật.
Nghĩa là cội nguồn tự tánh vốn là Phật rồi. Tuyên bố nầy trở thành một trong những câu nói nổi tiếng, mà từ xưa đến nay các Thiền Tăng thích đọc tụng và không chỉ sử dụng như Pháp Ngữ dẫn đường mà còn tham khảo khi làm thơ. Nhiều người rút ra từ đây nhiều bài học giá trị khác nhau như trong phần Hành Trì của Chánh Pháp Nhãn Tạng, Thiền Sư Đạo Nguyên giới thiệu Chứng Đạo Caca ngợi Thiền Sư Vĩnh Gia Huyền Giác rất nhiều. Tăng lữTín Đồ Tông Tào Động thường đọc tụng bản văn nầy trong những Phật sự cúng dường. Ngoài ra, trong những đạo tràng tu Thiền, các vị Pháp Sư vẫn thường giảng nghĩa tác phẩm để làm sáng tỏ Tông Chỉ của Thiền. Tác phẩm cũng là những bài học chính trong các Hội Tham Thiền.
Hơn nữa, nên tham cứu “Thiền Tông, Độc Kinh Nhập Môn“ của Đại Pháp Luân Các tuyển chọn và phát hành, tìm tác phẩm nguyên văn Thánh Điển đối chiếu với bản dịch ngôn ngữ hiện đại để rõ thêm.

 

 

Tạo bài viết
25/11/2010(Xem: 69214)
25/11/2010(Xem: 74596)
30/10/2010(Xem: 20412)
Hàng trăm ngàn học sinh, nhân viên văn phòng cùng nhiều người khác rầm rộ kéo nhau xuống đường hôm thứ Sáu 20/9 tại nhiều thành phố trên khắp thế giới, để đòi giới lãnh đạo phải hành động để đối phó với biến đổi khí hậu.
Trung tâm Thiền San Francisco (San Francisco Zen Center - SFZC) đưa ra thông tin cuối tháng 8 qua rằng, trung tâm này sẽ xây dựng một cộng đồng dân cư dành riêng cho người hưu trí - tin trên tờ Lion’s Roar cho biết.
Rừng Amazon - lá phổi xanh của Trái Đất đang bị đe dọa. Cách để cứu rừng Amazon, cứu lấy sự tồn vinh của nhân loại chính là hạn chế... ăn thịt.