26- Dư LuậnCảm Phục Của Thế Giới, Minh Không Vũ Văn Mẫu

23/12/201212:00 SA(Xem: 3362)
26- Dư Luận Và Cảm Phục Của Thế Giới, Minh Không Vũ Văn Mẫu

1963 – 2013
NĂM MƯƠI NĂM NHÌN LẠI
TẬP BA (3/3)
Tuyển tập của 99 tác giả
và những lời Phê phán của 100 Chứng nhân
về chế độ Ngô Đình Diệm
Nhà xuất bản Thiện Tri Thức Publications 2013
TẬP MỘTTẬP HAI ● TẬP BA

Chương Bảy –  LỬA TỪ BI
Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ

26
DƯ LUẬN VÀ SỰ CẢM PHỤC
CỦA THẾ GIỚI ĐỐI VỚI CUỘC TRANH ĐẤU BẢO VỆ PHẬT GIÁO 
Minh Không Vũ Văn Mẫu

Trong một cuộc phỏng vấn, Ngô Đình Nhu đã từng tuyên bố trước phóng viên báo chí ngoại quốc rằng sở dĩ Phật giáo được sự ủng hộ nhiệt liệt của dân chúng trong việc đấu tranh là chỉ nhờ khéo biết tuyên truyền. Nhu đã nói đùa với họ: “Các nhà sư có một kỹ thuật tuyên truyền khéo hơn hệ thống tuyên truyền của các Nha Sở chúng tôi. Chúng tôi có lẽ thấy phải thay thế các Nha Sở tuyên truyền của Chính phủ bằng hệ thống tuyên truyền của các nhà sư…!” Và Nhu đã kết luận với một giọng khinh mạn: “Sự tuyên truyền của Phật giáo chỉ phù hợp với dân chúng của một nước chậm tiến, còn tin dị đoan…” (The buddhist propaganda is suited to people in an underdeveloped country, people who believe in superstitions) (1) Ngô Đình Nhu đã hoàn toàn sai lầm trong nhận xét trên, và do đó đã đưa chế độ họ Ngô đến con đường tan rã.

Phong trào tranh đấu của Phật giáo được toàn dân ủng hộ vì những quyền căn bản của con người đã bị chính quyền chà đạp. Trong số những người ủng hộ Phật giáo, có cả nhiều người Công giáo, và hơn nữa, chính Đức Giáo hoàng Phao Lồ Đệ Lục (Paul VI) cũng đã lên án chính sách kỳ thị Phật giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm.

Ngoài ra, trên trường quốc tế, từ bốn phương, dư luận báo chí và các chính phủ trên thế giới đều ủng hộ mạnh mẽ cuộc tranh đấu bất bạo động của Phật giáo Việt Nam cho nguyên tắc tự do tín ngưỡng.

Không một ai có thể coi Anh, Mỹ, Pháp, Úc…và bao nhiêu nước văn minh trên thế giơi là chậm tiến hoặc mê tín dị đoan.

Ai cũng biết báo chí xuất bản tại Thủ đô Sài Gòn dưới chế độ Ngô Đình Diệm đều bị chi phối chặt chẽ, không được đăng các tin bất lợi cho Chính phủ, song dư luận quốc tế về vấn đề Phật giáo không những được Ủy ban Liên Phái phổ biến rộng trong nước bằng những bản tin hằng ngày in ronéo, phát cho các Phật tử đến lễ tại chùa Xá Lợi, mà còn được loan truyền trên làn sóng điện của các đài phát thanh ngoại quốc, nhất là của Mỹ (đài VOA) và của Anh (đài BBC)

Dư luận thế giới đã tham luận rất nhiều về cuộc tranh đấu bất bạo động của Phật giáo Việt Nam và chính sách kỳ thị đàn áp tàn bạo của Chính phủ Ngô Đình Diệm mà không một quyển sách nào có thể thu thập được hết tất cả các tài liệu này. Tuy nhiên, để có một cái nhìn tổng quát không đến nỗi thiếu sót, thiết tưởng có thể phân tích vấn đề này dưới ba sắc thái chính yếu:

- Dư luậnủng hộ của Tòa thánh Vatican

- Dư luậnủng hộ của các nước theo Phật Giáo

- Dư luậnủng hộ của các Chính phủ Âu Mỹ

 

DƯ LUẬN VÀ SỰ ỦNG HỘ

CỦA TÒA THÁNH VATICAN

Nếu như Tổng Giám mục Ngô Đình Thục đã đóng một vai trò tích cực trong chính sách kỳ thị và đàn áp Phật giáo tại Việt Nam, thì trái lại, Tòa thánh Vatican lại luôn luôn có thái độ phản đối chính sách này.

Trong khi kẻ cầm bút này còn giữ trách nhiệm điều khiển Bộ Ngoại Giao (cho đến ngày 23/8/1963), đại diện của Tòa thánh Vatican tại Việt Nam là Đức Khâm sứ Asta đã tỏ bầy nhiều lần ý kiến rằng: “Chính sách của Chính phủ Việt Nam đối với Phật giáo không phải là chính sách của Tòa thánh Vatican”.

Trong thời kỳ Pháp nạn, Giáo hoàng Phao Lồ Đệ lục (Paul VI) đã ba lần lên tiếng về vấn đề Phật giáo. Lần đầu tiên vào ngày 3/8/1963, Giáo hoàng đã đề cập đến vấn đề này trong một bài diễn văn đọc trước sinh viên Công giáo Việt Nam (2). Lần thứ hai, Giáo hoàng đọc một thông điệp gửi đến nhân dân Việt Nam ngày 30/8/1963. (3)

Như đã chép trong chương I, bản thông điệp này đã bị Chính phủ Ngô Đình Diệm ngăn chận không cho phổ biến và Tổng Giám mục Ngô Đình Thục đã chê trách thái độ của Giáo hoàng. Và lần thứ ba, Giáo hoàng đã gửi một bức thư cho Tổng Giám mục Nguyễn văn Bình tại Sài Gòn, đề ngày 26/8/1963 (4)

Tại sao bức thông điệp của Giáo hoàng gửi đến nhân dân Việt Nam lại bị Chính phủ Diệm cấm phổ biến? Trong bức thông điệp này, “Giáo hoàng đã biểu lộ sự chú tâmđau đớn theo dõi các biến cố bi thảm đương dầy vò nhân dân Việt Nam và sự lo âu của Giáo hoàng ngày càng thêm sâu sắc…Giáo hoàng cầu nguyện để cho tất cả mọi người, trong mối hợp tác khoan dung và trong sự tương kính các quyền tự do chân chính, đoàn kết với nhau để tái lập tương thân và tình huynh đệ” (le Pape exprime sa douloureuse préoccupation au sujet des tristes évènements qui affigent le cher peuple Viêtnamien, tandis que l’angoisse devient de jour en jour plus profonde et lancinante…Et il fait des voeux que tous, dans une généreuse collaboration et dans un mutuel respect des libertés légitimes, unissent pour rétablir la concorde réciproque et la fraternité) (5)

Thiết tưởng cũng cần nhắc lại rằng ngay từ những ngày đầu tiên của Pháp nạn, nhiều đồng bào theo Thiên Chúa giáo đã chỉ trích chính sách kỳ thị Phật giáo của Chính quyền Diệm. Thật vậy, sau vụ triệt hạ cờ Phật giáo, Linh mục Lê Quang Oánh và một số đồng chí đã gửi đến Hòa thượng Thích Tịnh Khiết một bức thư cực lực lên án chính sách này.

Sau đây là nguyên văn bức thư lịch sử ấy, phản ảnh sự đoàn kết của toàn dân để bảo vệ quyền linh thiêng nhất của con ngườitự do tín ngưỡng:

Kính gửi:

- Hòa thuợng Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam.

- Thượng tọa Trị Sự trưởng Giáo hội Tăng Già Nam Việt.

 

Kính thưa quý vị,

Chúng tôi, Linh mục Lê Quang Oánh, nhân danh khối Giải Sĩ Đồng Tâm cùng đại diện các đoàn thể khác của chúng tôi, kính gửi đôi lời huyết lệ như sau:

Rất đau buồn cho thế đạo nhân tâm. Xin kính cẩn phân ưu cùng quý vị và các quý Phật tử trong cuộc tang thương vào dịp lễ Phật Đản năm nay ở Cố đô Huế, tán đồng quan điểm đấu tranh cho “tín ngưỡng tự do”.

Không đào ngũ, chẳng yếu hèn, kìa dưới quốc kỳ Việt Nam, bao chiến sĩ anh hùng ta hy sinh trên khắp ngã đường đất nước. Tinh thần ái quốc ấy từ lâu đã được hun đúc bởi tinh hoa của các tôn giáo tự nhiênsiêu nhiên.

Xin nghiêng mình mặc niệm các linh hồn tử sĩ, chia buồn với gia đình họ, và an ủi các nạn nhân trong cuộc đổ máu này.

Chúng tôi lên án “Tội bất công” đã giết hại đồng bào vô tội. Thật là tàn bạo, dã man, phản dân chủ, phản tự do, phản đạo đức, làm nhục cho quốc thể Việt nam, một nước văn hiến trên bốn nghìn năm lịch sử.

Dám quả quyết rằng: “Nhân nghĩa” sẽ thắng. Những mầu cờ tương trưng cho công bằng, bác ái, nhân đạo và hòa bình như quốc kỳ Vatican, Hội kỳ Hồng Thập Tự, đạo kỳ Phật giáo, Thánh kỳ Maria vẫn còn mãi mãi tung bay trên đất Việt thân yêu và khắp toàn cầu, mặc dù có xàm ngôn xuẩn động xúc phạm tinh thần phúc âm mà Đức Giáo hoàng đã diễn đạt trong thông điệp Hòa Bình thế giới, một văn kiện rất thời danh.

Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, khi tiếp phái đoàn Phật giáo Nhật Bản, Ngài đã nói với 19 vị Thượng tọa rằng Công giáo và Phật giáo chúng ta đều phụng sự cho “Hòa Bình”

Trên Hồ Than Thở Đà Lạt

12/5/1963

Đại diện ký tên:

Linh mục G.M. Lê Quang Oánh, Linh mục T. Võ Quang Thiêng, Nữ sinh M. Ngọc Lan Hương, Lao công A. Hùng Trí Siêu, Thân Hòa N. Thanh Lục, Tu sĩ P. Viên Tô Tư, Giáo hữu B. Huỳnh Phú Sỹ, Thanh niên V. Leo Kim Chi, Nhân sĩ Đèo Văn Hộ.

Nơi nhận:

- Hòa thượng Hội chủ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam.

- Thượng tọa Trị Sự trưởng Giáo hội Tăng Già Việt Nam.

Sao kính gửi: Đức Khâm Sứ và các Linh mục Công Giáo

Vào đầu tháng 8 năm 1963, Giáo hoàng Phao Lồ Đệ lục đã dùng đường lối ngoại giao can thiệp khuyên nhủ Chính phủ Ngô Đình Diệm phải có một chính sách khoan hòa. Giáo hoàng đã can thiệp trực tiếp với ông Ngô Đình Diệm sau khi nhận được lời kêu gọi của ba quốc gia Phật giáo là Cam Bốt, Tích Lan và Népal, do Tổng Thơ Ký U Thant chuyển đạt.

Hòa thượng Thích Tịnh Khiết đã gửi đến Giáo hoàng Paul VI một điện văn để cám ơn về sự can thiệp nầy. Sau cuộc Cách Mạng 1/11/1963, Ủy ban Liên Phái cũng gửi đến Giáo hoàng Paul VI một điện tín tri ân về việc can thiệp của Tòa thánh trong thời kỳ Phật giáo tranh đấu.

 

DƯ LUẬN VÀ SỰ ỦNG HỘ

CỦA CÁC NƯỚC PHẬT GIÁO Á CHÂU

Các nước theo Phật giáo, lẽ dĩ nhiên, đã ủng hộ nhiệt liệt cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam ngay từ khi vụ triệt hạ cờ Phật giáo mới bùng nổ tại Huế vào ngày Khánh lễ Phật Đản. Không những báo chí các nước này đã tường thuật cặn kẽ và lên án chính sách kỳ thị và đàn áp Phật giáo, mà Chính phủ các nước ấy cũng còn chính thức lên tiếng chỉ trích Chính phủ Ngô Đình Diệm và còn vận động để đưa vấn đề nầy ra trước Liên Hiệp Quốc.

Không thể phân tích và trình bầy hết tất cả chi tiết của dư luận báo chí trong khuôn khổ chật hẹp của tập sách này, chúng tôi chỉ ghi chép thái độ chính thức của các nước theo Phật Giáo như Cao Miên, Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Trung Hoa, Nhật Bản và Cao Ly.

Bộ Ngoại Giao Việt Nam và các đại diện Việt Nam tại các nước Phật giáo đã trải qua một thời kỳ ê chề khó khăn khi gặp sự phản đối của các quốc gia Phật giáo về chính sách kỳ thị Phật giáoViệt Nam.

Ông Phạm Trọng Nhân, Đại diện của Chính phủ Việt Nam tại Cao Miên đã bầy tỏ những phút “ăn làm sao, nói làm sao bây giơ” trong giai đoạn Pháp nạn, một cách chân thành:

Người ta thường nói: “Nghề Đại sứ là nghề bưng bít những lỗi lầm của chính phủ (Le métier d’Ambassadeur est celui de couvrir les gaffes d’en haut). Thoạt nghe có vẻ khôi hài, nhưng ý niệm đó cũng có một phần nào thực. Không ai có thể hình dung nỗi bối rối, thẹn thùng…của các nhân viên ngoại giao Việt Nam tùng sự tại quốc nội hay quốc ngoại, kể từ ngày tấm bi kịch Phật giáo bùng nổ bất ngờ và được loan tin bằng những dòng chữ lớn trên báo chí quốc gia và quốc tế.

Hằng tuần, các tòa Đại sứ Việt Nam nhận được rất nhiều tài liệu để dẫn chứng và “giải độc”: Phật giáo không hề bị đàn áp và có nhiều Phật tử Việt cộng đã trà trộn trong hàng ngũ Phật Giáo đồ để gây chia rẽ. (6) Nhưng làm sao thuyết phục được người ngoài khi chính các nhân viên có nhiệm vụ thuyết phục cũng không tin như thế.”(7)

Tuy nhiên, trong khối các quốc gia Á châu theo Phật giáo cũng cần phân biệt ba nhóm:

1/ Nhóm thứ nhất chỉ gồm Cao Miên vốn vẫn có nhiều mối thâm thù với Việt Nam Cộng Hòa nói chung và đặc biệt với cá nhân Tổng thống Ngô Đình Diệm. Cao Miên đã nhân cơ hội này để chỉ trích cay đắng Chính phủ Ngô Đình Diệm và nhắc nhở lại các mối thù xưa.

2/ Nhóm thứ hai gồm các quốc gia trung lập như Tích Lan, Ấn Độ, Miến Điện. Sự chỉ trích của họ không kém phần kịch liệt, nhưng rất nghiêm chỉnh.

3/ Nhóm thứ ba gồm các quốc gia có một lập trường chính trị giống Việt Nam, như Trung Hoa Quốc Gia, Cao Ly, Nhật Bản. Thái độ của các chính phủ này tuy chỉ trích Chính phủ Ngô Đình Diệm nhưng tỏ vẻ dè dặt hơn và chỉ quyết định rõ rệt chính sách này sau vụ tấn công chùa chiền trong đêm 20/8/1963.

 

Thái độ và sự ủng hộ của Cao Miên

Giới Phật giáo Cao Miên, ngay từ đầu tháng 6/ 1963, đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình:

Ngày 8/6/1963, sư sãi thuộc Thammayat đã họp tại chùa Bottom Vaddey, một ngôi chùa quan trọng tại Thủ đô Nam Vang, để phản đối các biện pháp kỳ thị tôn giáo tại Việt Nam.

Một cuộc mít tinh được tổ chức ngay ngày hôm sau (9/6/1963) tại một ngôi chùa lớn khác tại Nam Vang là chùa Onnalum để phản đối chính sách đàn áp Phật tử tại Việt Nam. Bốn ngày sau (13/6/1963), cũng tại chùa Onnalum, lại có một cuộc mít tinh khác lên án Chính phủ Ngô Đình Diệm và yêu cầu Quốc trưởng Cao Miên chính thức can thiệp để ủng hộ các Phật tử Việt Nam đang bị khủng bố.

Cùng ngày 13/6/1963, Hội trưởng Hội Việt kiều Phật giáo tại Cao Miên là ông Trần Văn Được đã gửi thư lên Quốc trưởng Cao Miên “lên án sự đàn áp đẫm máu và ngược đãi tàn tệ các Phật tử của Chính phủ Việt Nam” và thỉnh cầu Quốc trưởng Cao Miên yêu cầu tổ chức Liên Hiệp Quốc can thiệp. Ngày 16/6/1963, gần 5.000 Việt kiều và 200 nhà sư Việt kiều biểu tình trước Tòa Đại diện Việt Nam tại Nam Vang.

Chính phủ Cao Miên cũng minh định thái độ ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam ngay từ đầu tháng 6/1963.

Ngày 1/6/1963, nhân lễ khánh thành chùa Onnalum mới được trùng tu, Quốc trưởng Sihanouk đã tuyên bố ũng hộ nhiệt liệt Phật tử Việt Nam đương bị chính quyền đàn áp: “Chúng ta hãy tưởng niệm và cầu siêu cho các Phật tử Việt Nam, nạn nhân của Chính phủ Ngô Dình Diệm… Cao Miên sẽ đóng góp với Tích Lan và các nước theo Phật giáo khác để đưa vấn đề ra trước tổ chức Liên Hiệp Quốc”.

Ngày 13 tháng 6 , Tổng trưởng Bộ Ngoại Giao Cao Miên mời Đại diện Việt Nam Cộng Hòa tại Cao Miên là ông Phạm Trọng Nhân (8) đến và trao một bức thư để chuyển về Bộ Ngoại Giao Việt Nam. Trong thư này, Bộ Ngoại Giao Cao Miên đã tỏ lòng công phẫn của Chính phủ và nhân đân Cao Miên trước các vụ ngược đãi tôn giáo đối với nhân dân miền Nam Việt Nam, và bầy tỏ nỗi lo ngại trước tính phổ biến của các biện pháp đàn áp Phật tử và kỳ thị Phật giáo, kêu gọi sự hiểu biếtđức độ của Chính phủ Việt Nam để vấn đề đau thương này sớm được giải quyết hợp với các nguyên tắc của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền.

Sau khi các chùa bị tấn công trong đêm 20/8/1863, Chính phủ Cao Miên, ngày 23/8/1963, đã cực lục lên án Chính phủ Việt Nam trong một bản Thông Cáo chính thức.

Chính phủ Hoàng gia Cam Bốt kinh hãi khi nhận được tin Chính phủ Sài Gòn đã đàn áp dã man Phật Giáo đồ, tấn công chùa chiền, phá hủy tượng Phật, chiếm đoạt Giáo đường, ngược sát và câu lưu Tăng Ni Phật tử. Các hành động này thật khinh thường và thách thức thế giới văn minh…chỉ có Hitler trước đây mới dám phạm những tội đại ác như vậy…

Những vụ lưu huyết như vậy khiến chúng ta lo ngại một cuộc chiến tranh tôn giáo sẽ xẩy ra tại Đông Nam Á…Chính phủ Hoàng gia Cam Bốt hoàn toàn ủng hộ các Tăng Ni Phật tử Việt Nam.”

 

Sáng ngày 24/8, Chính phủ Cam Bốt gửi điện văn cho ông U Thant, Tổng Thư ký tổ chức Liên Hiệp Quốc, yêu cầu can thiệp khẩn cấp tại Việt Nam, và nếu cần, triệu tập phiên họp bất thường phục hồi các nhân quyền thiêng liêng nói chung và quyền tự do tôn giáo nói riêng tại Việt Nam.

Ngày 25/8, Quốc trưởng Cam Bốt yêu cầu Quốc Hội nghiên cứu vấn đề đoạn giao với Việt Nam. Sáng ngày 26/8, Quốc Hội Miên đồng thanh biểu quyết đoạn giao kể từ ngày 27/8/1963. Trong bản Điệp văn gửi Chính phủ Việt Nam ngày 27 tháng 8 để tống đạt chính thức quyết định đoạn giao nầy màbáo chí Cao Miên đều đăng tải nguyên văn, Quốc trưởng Sihanouk đã lên án chính sách kỳ thị tôn giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm với những lời lẽ rất nặng nề:

Từ nhiều năm nay, Chính phủ Việt Nam đã áp dung chính sách kỳ thị tôn giáo, có hại cho tôn giáo. Chính Phật Giáo đồ Cambodge cũng đã bị đàn áp giam giữ, các chùa chiền bị cướp phá và tiêu hủy.

…Toàn thể dân tộc Cam Bốt cũng như tất cả các dân tộc khác trên thế giới đều công phẩn và ghê tởm trước những hành động dã man đàn áp Phật giáo Việt Nam.

Nước Cam Bốt Phật giáo chủ trương khoan hồng triệt để về tín ngưỡng, vì vậy lên án óc bè phái và cuồng tín vốn là những quan niệm đe dọa đời sống chung hòa hợp giữa các tôn giáo tại Á đông và nền hòa bình nội bộ tại các nước đó.

Xét thái độ của Chính phủ Việt Nam đối với dân tộc, dòng dõitín ngưỡng của Quốc gia Cam Bốt, Chính phủ Hoàng gia hoàn toàn đồng ý với Quốc Hội bắt nguồn từ toàn thể dân tộc, đã quyết định ngưng mọi liên lạc chính trị với Chính phủ Việt Nam hiện thời…”(9)

Qua bản điệp văn này của Cam bốt, ta nhận thấy Sihanouk đã nhân vụ Phật giáo mà nêu lên vấn đề chính trị giữa Cam Bốt và Việt Nam, liên hệ đến các người Việt gốc Miên mà Sihanouk vẫn coi là người Cao Miên, thuộc dân Cam Bốt (xem thêm: Trên đường Nam tiến – quyển hai)

 

Thái độ và sự ủng hộ của các nước Trung lập

Các nước Trung lập theo Phật giáo tại Á Châu là Tích Lan, Miến Điện và Ấn Độ đã ủng hộ nhiệt liệt cuộc tranh đấu bất bạo động của Phật Giáo đồ tại Việt Nam, và đã quyết định đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc để tố giác chính sách kỳ thị Phật giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm tại Việt Nam.

 

A- Thái độ và sự ủng hộ của Tích Lan

Không kể các báo chí đã tố cáo chi tiết các vụ đàn áp Phật giáo tại Việt Nam ngay từ giai đoạn đầu tiên và nêu rõ trách nhiệm của Chính phủ Ngô Đình Diệm, các Hội Phật hoc Tích Lan (10) đã kêu gọi Chính phủ Tích Lan phải có biện pháp thích ứng để bênh vực Phật tử Việt Nam và đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc.

Giáo sư các Viện Đại học và sinh viên họp mít tinh phản đối Chính phủ Việt Nam và kêu gọi Liên Hiệp Quốc có biện pháp thích ứng trong vụ đàn áp Phật giáo tại Việt Nam.

Tổng Liên Đoàn Lao Động, các đảng thiên Tả và Cộng sản cũng quyết liệt chỉ trích chính sách đàn áp Phật giáo tại Việt Nam.

Chính quyền Tích Lan, ngay từ 20/5/1963, trong một bản Thông Cáo, đã cho biết chính phủ rất xúc động trước các tin tức báo chí về chính sách của Chính phủ Việt Nam và hứa sẽ hành động khi có đủ tin tức do các nước bạn có đại diện Ngoại Giao tại Sài Gòn cung cấp.

Ngày 30/5/1963, tại Tích Lan, chính phủ ra một bản thông cáo nữa bày tỏ mối xúc động sâu sắc trước các hành động đàn áp tàn bạo Phật giáoViệt Nam và hứa sẽ nhờ ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc can thiệp, cùng vận động với các nước Phật giáo khác để đem vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc.

Ngày 16/6/1963, Bộ Ngoại Giao Tích Lan, trong một bản thông cáo, loan báo Thủ tướng Tích Lan là bà Sirimavo Bandaranaike rất xúc động trước các ngược đãi tôn giáo tại Việt Nam, và bà kêu gọi các nước theo Phật giáo tại Á Châu hảy ủng hộ Tích Lan trong việc yêu cầu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc can thiệp vào vấn đề đàn áp Phật giáo tại Việt Nam.

Bà Bandaranaike cũng dự liệu gửi một công hàm ngoại giao đến Tổng thống Mỹ Kennedy về vấn đề này.

Sau vụ tấn công các chùa chiền trong đêm 20/8/1963, dư luận và chính giới tại Tích Lan càng chỉ trích mạnh mẻ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 22/8/1963, bà Thủ tướng Tích Lan đã trao đổi ý kiến với Đại diện các nước Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Nhật Bản…và đề nghị triệu tập một phiên họp bất thường của Hội đồng Liên Hiệp Quốc để xét vấn đề đàn áp Phật giáo. Ngoài ra, bà Thủ tướng cũng đề nghị triệu tập Hội nghị các Quốc gia Châu Á và Hội nghị Phật giáo Thế giới.

Ngày 26/8, Hội nghị Phật giáo Tích Lan yêu cầu các đoàn thể Phật giáo trong toàn quốc treo cờ rũ để tang các Phật tử Việt Nam đã hy sinhtín ngưỡng.

 

B- Thái độ và sự ủng hộ của các nước Trung lập khác

Tuy không có thái độ cực kỳ sôi nổi như Tích Lan, các nước Trung lập khác theo Phật giáo tại Á Châu cũng nhiệt liệt ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật tử tại Việt Nam đế chống lại chính sách kỳ thị tôn giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm.

 

1- Thái độ của Miến Điện: Trong giai đoạn đầu, ông U Chan Htoon, Chủ tịch Hội Phật giáo Thế giớitiếp xúc với quyền Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Rangoon (Miến Điện) và cho biết rằng các Hội Phật giáo Miến Điện, nhất là Hội Tăng Già Toàn Quốc có uy tín nhất trong giới Phật giáo tại Miến, rất phẫn nộ và định tổ chức nhiều cuộc mít tinh để lên án Chính phủ Việt Nam, nhưng ông Uchan Htoon đã khuyến cáo chờ đợi thêm tin tức trước khi có phản ứng công khai.

Sau cuộc đàn áp chùa chiền tại Việt Nam (20/8), thái độ của Miến Điện đã bộc lộ nỗi công phẩn một cách mãnh liệt hơn.

Ngay từ sáng 23/8, báo Guandiantai tại Rangoon, thủ đô Miến Điện, đã cực lực lên án chính sách tàn bạo của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Vụ tấn công vừa qua chứng tỏ tinh thần của nhà cầm quyền Việt Nam đã lâm vào tình trạng thác loạn.

Chính phủ Việt Nam còn hy vọng gì khi ngự trị trên những thân xác của Phật tử đã bỏ mình vì tôn giáo và trên những ngôi chùa ngày nay chỉ còn là những đống gạch vụn, trong khi đa số những người sống sót thì bị tập trung trong các trại giam? Chính phủ Hoa Kỳ sẽ lầm nếu tưởng rằng tiếp tục ủng hộ chính phủ hiện thời tại Việt Nam thì nước Mỹ có thể giữ nguyên vẹn tình bạn của các quốc gia Phật giáo Đông Nam Á. (11)

Ngày 26/8, hai Hội Phật giáo tại Rangoon và Mandalay họp nhau cùng lên tiếng kêu gọi các dân tộc Phật giáo Á Đông – Tích Lan, Cao MiênViệt Nam - đoàn kết để chống lại Chính phủ Ngô Đình Diệm đang theo đuổi chính sách đàn áp Phật giáo.

Chính phủ Miến Điện đã ủng hộ triệt để Chính phủ Tích Lan trong cuộc vận động đưa vấn đề Phật giáo Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc.

 

2- Thái độ của Ấn Độ: Ấn Độ cũng có thái độ giống như Miến Điện. Nhiều Hội Phật học Ấn Độ đã lên tiếng yêu cầu Thủ tướng Néhru can thiệp. Ngày 25/8/1963, Tổng Thư ký Đảng Quốc gia Ấn Độ tuyên bố: “Những tin tức loan đi từ Sài Gòn đã làm chấn động dư luận tại Ấn Độ, quê hương của Phật Giáo. Những sự tàn bạo mà các đạo hữu Việt Nam là nạn nhân càng làm chúng ta phẫn nộ khi nhớ rằng Phật giáo chủ trương bất bạo động.”

Hội Phật hoc Ấn Độ đã thiết tha yêu cầu Thủ tướng Néhru can thiệp. Trong cuộc hành hương tại Ấn Độ, một Nghị sĩ Ấn đã trao cho tôi một quyết nghị của tất cả các chính đảng Ấn Độ cương quyết chống lại chính sách đàn áp Phật giáo tại Việt Nam. (12)

Việc cho gia đình tôi những thuận tiện đáng ghi nhớ trong cuộc hành hương tại các nơi Phật Tích, mặc dầu tôi đã công khai chống đối Chính phủ Ngô Đình Diệm, đã phản ảnh sự ủng hộ mãnh liệt của Chính phủ Ấn Độ đối với vụ Phật giáo Việt Nam.

Các vấn đề đã được nêu lên trong khi tôi tiếp xúc với Thủ tướng Néhru và bà Bộ trưởng Ngoại Giao Ménon như đã được thuật lại trước đây biểu lộ hiển nhiên sự ủng hộ của Chính phủ Ấn Độ cho cuộc tranh đấu của Phật tử Việt Nam để bảo vệ Phật Pháp.

Nhờ có sự ủng hộ triệt để của các nước Tích Lan, Ấn Độ, Miến Điện, vấn đề đàn áp Phật giáo đã gây sóng gió tại Liên Hiệp Quốc. Hầu hết các nước thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc đều đồng ý đem vấn đề kỳ thị tôn giáo tại Việt Nam ra trước Đại Hội đồng để cử một phái đoàn điều tra sang Việt Nam.

Trước nguy cơ chính trị này, Ngô Đình Diệm đã thấy không còn lối thoát nào khác hơn là cử Giáo sư Bửu Hội, đại diện cho Việt Nam, đứng ra mời một phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến điều tra tại Việt Nam để chứng minh không hề có một sự đàn áp nào đối với Phật giáo.

Đúng thật là “gái đĩ già mồm”! Ngô Đình Nhu hy vọng rằng khi phái đoàn điều tra sang Việt Nam theo chính lời mời của Chính phủ Việt Nam, Ngô Đình Nhu sẽ áp dụng ba loại biện pháp để chôn lấp hẳn vấn đề:

- Một mặt, Ngô Đình Nhu sẽ dùng công an mật vụ ngăn cản các nhân chứng trung thực đến gặp phái đoàn.

- Mặt khác, sẽ mua chuộc những nhân chứng giả đến cung cấp cho phái đoàn những tin tức ngụy tạo có lợi cho Chính phủ

- Và sau hết, Ngô Đình Nhu sẽ dùng những đòn giảo quyệt lôi cuốn các nhân viên phái đoàn vào con đường trác táng ở kinh thành hoa lệ đã nức tiếng là Hòn ngọc Viễn Đông với nhiều bông hoa kiều diễm, để làm “săng ta” (chantage) phái đoàn, không còn dám công kích Chính phủ Ngô Đình Diệm nữa.

Có dịp, chúng tôi sẽ trình bày những tài liệu nầy cho lịch sử phán xét.

 

Thái độ của các nước Á Châu theo Phật giáo và đồng lập trường chính trị với Việt Nam.

Các nước Thái Lan, Nam Hàn, Trung Hoa Quốc Gia và kể cả Nhât Bản vẫn có những liên hệ chính trị tốt đẹp với Việt Nam và đã trao đổi ngoại giao với Việt Nam ở cấp Đại sứ. Vì vậy, tuy dư luận trong dân chúng rất xức động trước các biến cố xẩy ra tại Việt Nam kể từ khi vụ cờ Phật Giáo bị triệt hạ tại Huế, các chính phủ nầy vẫn lấy một thái độ rất thận trọng, không công khai chống đối Chính phủ Ngô Đình Diệm.

Tuy nhiên, kể từ cuộc tấn công chùa chiền tại Việt Nam đêm 20/8/1963, các quốc gia này cũng đã phải minh định thái độ ủng hộ Phật tử Việt Nam đương bị đàn áp tàn bạo.

 

A- Thái độ của Thái Lan

Ngày 22/8, Thủ tướng Thái Lan, Thống chế Sarit Thanarat, đã đưa ra đề nghị triệu tập một Hội nghị sơ bộ tại Bangkok, gồm tất cả các quốc gia Phật giáo, trước khi đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc. Thủ Tướng Thái cũng tiếp xúc với ông Cao Thái Bảo, Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, để biểu lộ sự lo âu của Thái Lan trước chính sách kỳ thị Phật giáo của Việt Nam.

Ngay trong đêm đó, các vị chức sắc Phật giáo họp tại Bangkok dưới sự chủ tọa của Bộ trưởng Công Nghiệp P. Rajanaburanond (13) và quyết nghị cực lực ủng hộ các đạo hữu tại Việt Nam, trên phương diện tinh thần cũng như vật chất, đồng thời tỏ lời phân ưu và gởi giúp thuốc men, lương thực, áo quần, tiền bạc…

Đặc biệt vào ngày 26/8, Phó Giám đốc Nha Tôn giáo của Bộ Quốc gia Giáo dục là Đại tá Pin Mutukan đã tuyên bố trên đài vô tuyến truyền thanh Bangkok để khuyến cáo Chính phủ Việt Nam bằng những lời kết án rất gay gắt làm cho người ta liên tưởng đến những lời tuyên bố của Sihanouk trước đây:

Vì đã đàn áp tàn bạo Phật tử Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm sẽ hứng chịu hết những tai họa dưới đủ mọi hình thức hiểu theo giáo lý nhà Phật, kể cả diệt vong và địa ngục…Mặc dù tình giao hảo giữa Thái Lan và Việt Nam khắng khít, giới Phật tử Thái Lan vẫn thấy có trách nhiệm phải lên tiếng…

Không ai ngờ những lời lẽ khuyến cáo trên đây đã trở thành sự thật hơn hai tháng sau với cái chết bi thảm của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu trong cuộc cách mạng 1/11/1963.

 

B- Thái độ của Trung Hoa

Tuy Chính phủ Đài Loan giao hảo rất chặt chẽ với Việt Nam, nhưng sau khi vụ đánh chùa đêm 20/8/1963, Chính phủ Đài Loan cũng không còn giữ được thái độ thờ ơ như trước.

Ngày 29/8, Bộ Ngoại Giao Đài Loan đã tuyên bố rất lo ngại về khủng hoảng tôn giáo tại Việt Nam và thiết tha mong Chính phủ Việt Nam sớm tìm được giải pháp thích nghi để sớm chấm dứt sự khủng hoảng này.

 

C- Thái độ của Nam Hàn

Tại Hán thành, thủ đô của Nam Hàn, ngày 25/8, sau một buổi lễ cầu siêu cho các đạo hữu Việt Nam đã hy sinh để bảo vệ Đạo Pháp, Đại đức Kapchong, Hội chủ Phật giáo đã gửi điện văn cho Chính phủ Việt Nam yêu cầu chấm dứt tàn sát Phật tử.

Ngoài ra, Hội Thanh niên Phật tử do Tướng Chang Chung Sơn, một nhân viên trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng, đã kiến nghị lên án nhà cầm quyền Việt Nam vì đã đàn áp một cách vô nhân đạo Tăng NiPhật tử.

 

D – Thái độ của Nhật Bản

Tại Nhật Bản, một buổi lễ cầu siêu được tổ chức cho cố Hòa thượng Quảng Đức và các Tăng Ni cùng Phật Tử đã hy sinh để bảo vệ Đạo Pháp. Buổi lễ này do Hội Nhật Bản Phật giáo Tín ngưỡng tổ chức tại Đại Tổ Đình Bổn Nguyệt Tự ở vùng Akasuke (Tokyo) với rất đông Tăng NiTín đồ tham dự.

Dù giữ một thái độ rất dè dặt, Thứ trưởng Ngoại Giao Shigenobu Shima cũng đã tiếp xúc với Đại sứ Việt Nam để biểu lộ mối lo ngại của Chính phủ Nhật Bảnyêu cầu được biết sư thật về vụ chùa Xá Lợi. Đây là một phương pháp ngoại giao tế nhị để lưu ý Chính phủ Ngô Đình Diệm về vụ khủng hoảng Phật Giáo và nghĩ đến những hậu quả nghiêm trọng của vụ này. Thực ra, Chính phủ Nhật Bản đã trao đổi ngoại giao với Việt Nam trên hàng Đại sứ, tất nhiên Đại sứ Nhật Bản tại Sài Gòn đã phải phúc trình đầy đủ về biến cố này rồi.

 

Ngoài các nước theo Phật giáo tại Á Châu, các nước Tây Phương, và đặc biệt là Mỹ, rất chú trọng đến chính sách đàn áp tôn giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm.

 

DƯ LUẬN VÀ SỰ ỦNG HỘ

CỦA CÁC NƯỚC TÂY PHƯƠNG

Báo chí Âu Mỹ loan báo các hoạt động đàn áp Phật giáo tại Việt Nam ngay từ giai đoạn đầu tiên. Kể từ năm 1959, Chính phủ Ngô Đình Diệm đã mang tiếngđộc tài, gia đình trị trước dư luận Tây phương. Với chính sách kỳ thị Phật giáo, Chính phủ Ngô Đình Diệm càng bị chỉ trích nặng nề. Tuy nhiên, chính quyền các quốc gia Tây phương đã lấy một thái độ thận trọng không trực tiếp can thiệp, trừ Pháp và Mỹ là những nước có nhiều liên hệ với Việt Nam.

 

Báo Chídư luận chung của các nước Tây Phương trước vấn đề Phật Giáo

Báo chídư luận của tất cả các nước Tây phương như Mỹ, Pháp, Anh, Thụy Sĩ, Bỉ đã quan tâm theo dõi Phong trào Tranh đấu Bảo vệ Phật giáo tại Việt Nam và đều chỉ trích công khai hoặc mỉa mai đường lối kỳ thị Phật giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm.

Tại Pháp, tờ Le Monde (Thế Giới) thường được coi là phản ảnh ý kiến hay xu hướng của Bộ Ngoại Giao Pháp, trong số ra ngày 10/6/1963, đẵ công kích Chính phủ Ngô Đinh Diệm kịch liệt:

“…Biến cố ở Huế đã xảy ra do sự đàn áp tàn bạo của nhà cầm quyền, và đã là một cơ hội tốt để sự bất mãn của nhân dân bộc phát. Sự tranh chấp này đã lột trần sự cô lập và thất nhân tâm của một nhóm thiểu số Thiên Chúa giáo được ưu đãi…”

Ngọn lửa tự thiêu của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức đã được báo Le Monde bình luận trong số ra ngày 13/6/1963 như sau: “Trước hành động tự sát để đấu tranh, kẻ tàn bạo nhất cũng phải chùn bước…”

Tạp chí La Croix (Cây Thập Tự), cơ quan ngôn luận Thiên Chúa giáo trong số ra ngày 13/6/1963 cũng lên tiếng kêu gọi các tín đồ Thiên Chúa giáo cầu nguyện cho linh hồn của các người tử vì đạo.

Sau vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, trên mặt báo chí Pháp càng có nhiều bài bình luậnhình ảnh về thảm cảnh này, riêng tờ Aurore thì dành cả trang nhất để in bức hình của Hòa thượng ngồi kiết già trong đống lửa như một pho tượng đồng đen.

Tại Anh Quốc, Thụy Sĩ và nhất là ở Mỹ, báo chí tường thuật chi tiết hành động đàn áp Phật giáo tại Việt Nam. Tạp chí Sunday Times trong số ra ngày 2/6/1963 đã nêu rõ hiểm họa mà Chính phủ Ngô Đình Diệm phải đương đầu trong chính sách khủng bố Phật tử. “Không có mưu mô phá hoại nào của Cộng sản có thể gây được một mối đe dọa trầm trọng như vậy cho chính phủ. Lối đối xử vụng về của Tổng thống Diệm đã gây một mâu thuẫn nội bộ: Quân đội đáng lẽ được mang đi đánh dẹp Cộng sản, thì nay lại phải dùng vào việc giữ trật tự trong nước chỉ vì chính sách sai lầm này.”

Đặc biệt tại Bruxelles, kinh đô Bỉ, Linh mục Pire, người được giải thưởng Nobel về Hòa Bình, và cũng là người đã từng cổ võ cho Phong trào Quốc tế giúp các người Di cư (Mouvement international d’aide aux refugiés), đã gởi một bức thư đến ông U Thant, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, yêu cầu cho mở cuộc điều tra ngay tại chỗ để soi sáng “một số yếu tố đàn áp tôn giáo của Chính phủ Nam Việt Nam đối với các Phật tử.” Linh mục Pire đã viết: “…Ngày nay, nhân loại chỉ còn một cơ may để tìm thấy hòa bình: Phải tương thuận và chấp nhận hỗ tương các mâu thuẫn của nhau.” (Aujourd’hui, les hommes n’ont qu’une chance de trouver la paix: s’entendre en admettant mutuellement leurs contradictions.)

 

Báo chí và đài phát thanh của Mỹ, suốt trong sáu tháng Pháp nạn, hàng ngày vẫn loan truyền rất nhiều tin tứcbình luận nghiêm khắc về chính sách kỳ thị Phật giáo của Ngô Đình Diệm mà khuôn khổ khiêm tốn của quyển sách này không thể nào phân tích được hết các tài liệu ấy. Tuy nhiên, để có một ý niệm về sự công phẩn của dư luận và của Chính quyền Hoa Kỳ, thiết tưởng bài báo sau đây trích từ tờ Nữu Ước Thời Báo (New York Times) số ngày 8/81963, đã ghi khá đầy đủ các khía cạnh của vấn đề, trong từng giai đoạn kể từ khi vụ triệt hạ cờ Phật giáo bùng nổ tại Huế:

“…Phong trào Phật giáo phản đối chính phủ đã trở thành một nguy cơ trầm trọng cho chế độ Ngô Đình Diệm kể từ ngày 8/81963, khi mà 9 người bị quân đội của chính phủ giết chết trong cuộc biểu tình tại cố đô Huế. Mục đích của cuộc biểu tình nói trên là phản đối hành động kỳ thị tôn giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm vì Tổng thống Diệm và gia đình là những người theo Công giáo La Mã.

Từ đó, các cuộc biểu tình đã kế tiếp xẩy ra và chính phủ đã phải dùng quân lực để đàn áp và bắt bớ. Nhưng trầm trọng hơn hết là các vụ tự thiêu để phản đối chính sách của chính phủ.

…Những sự kiện kể trên đã bắt đầu làm cho chính giới Hoa Kỳ bắt đầu lo âu, vì nếu Tổng thống Diệm bất lực trong việc tìm một giải pháp cho vấn đề Phật giáo thì chế độ của ông ta sẽ trở thành một gánh nặng cho Hoa Kỳ.

Quan niệm ở đây cho rằng nếu cuộc khủng hoảng Phật giáo không được giải quyết thì ông Diệm có thể bị ngay chính những nhân viên cao cấp trong Quân đội cũng như trong chính phủ lật đổ. Các nhân viên cao cấp trong Quân đội tiên đoán rằng sự trung thành của họ có thể suy giảm…Người ta nhận thấy đã có vài biến chuyển trong chính sách căn bản của Hoa Kỳ.

…Chính phủ Hoa Kỳ đã tìm đủ mọi cách để buộc ông Diệm phải giải quyết vấn đề Phật giáo. Nhưng người ta hết sức kinh ngạc khi nghe bà Ngô Đình Nhu, em dâu của Tổng thống Diệm, tố cáo các Lãnh tụ Phật giáo là phiến loạn, sát nhân, và áp dụng chiến thuật Cộng sản. Có tin tức cho biết chồng bà Nhu, em trai Tổng thống Diệm, có thể cầm đầu một cuộc đảo chinh đã làm cho Hoa Kỳ lo ngại. Có nhiều người cho rằng những tin đồn về cuộc đảo chính như vậy là một phần trong cuộc chiến tranh tâm lý chống Phật giáo, và cũng là một sự hăm dọa đối với Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ cảm thấy bị đặt vào một tình thế khó xử tại Việt Nam. Một mặt, Hoa Kỳ thấy chế độ của ông Diệm đang tiến tới một cuộc vận động chống Hoa Kỳ nếu không được Hoa Kỳ ủng hộ trong cuộc khủng hoảng Phật giáo. Mặt khác, các nhà Lãnh đạo Phong trào Phật giáo đã phản đối Chính phủ Hoa Kỳ về những lời tuyên bố của ông Nolting, Đại sứ Hoa Kỳ sắp mãn nhiệm kỳ, vì ông này đã tuyên bố trong hơn hai năm qua (từ ngày ông đến nhận chức Đại sứ), ông chưa từng chứng kiến dấu hiệu nào tỏ rằng có sự kỳ thị tôn giáo tại Việt Nam…”

Để thấy rõ chính sách đàn áp Phật giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm đã gây xúc độngphẩn nộ đến mức nào trong dư luận của nhân dân Hoa Kỳ, thiết tưởng chỉ cần nhắc lại đây bài giảng của Mục sư Giáo hội Nữu Ước Donald Harrington, đọc tại nhà thờ lớn Nữu Ước ngày chủ nhật 30/6/1963, về chánh sách kỳ thị tôn giáo tại Việt Nam dưới tất cả các sắc thái. Sau đây là nội dung bài giảng của Mục sư Donald Harrington:

Cách đây hơn hai tuần, vào ngày 11/6/1963, một đoàn Tăng Ni mặc áo vàng đang diễn hành qua các đường phố Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, thì bỗng nhiên đoàn Tăng Ni đứng giàn ra thành một vòng tròn và một vị sư 75 tuổi tên Thích Quảng Đức đã ngồi xếp chéo chân theo kiểu tọa thiền trên đường nhựa nóng. Trong tay người cầm một xâu chuỗi 54 hạt và bắt đầu niệm Phật còn trên chiếc áo cà sa của Ngài thì đã tẩm ướt đầy xăng. Tất cả Tăng Ni lui lại. kính cẩn, kinh sợ. Khách bộ hành nhận thấy rằng một biến cố phi thường gì sắp xảy ra nên tất cả đều dừng lại chờ đợi.

Với vẻ yên lặng, bình thản trên khuôn mặt, Ngài Quảng Đức niệm lớn: “Nam Mô A Di Đà Phật.” Thế rồi Người bật một que diêm và ngọn lửa phừng phừng bốc lên phủ kín thân thể cử nhưng Người không hề kêu la hay lay động. Người ngồi thẳng trong mười phút, thân hình chìm trong lửa đỏ, và khi lửa tàn, Người nằm xuống bất động.

Thường thường chỉ có người tuyệt vọng hoàn toàn mới tự tử và họ thường tìm cái chết giản dị và ít đau đớn nhất vì đối với họ, hành động tự tử là kết quả của lòng sợ hãi.

Người ta có thể tự hỏi sự khủng khiếp và niềm phẫn hận nào đã có thể khiến cho một người của “Tình Thương” của “Hòa Bình”, quyết chí tự thiêu?

Chúng ta không thể trả lời câu hỏi đó theo danh từ sợ hãi. Chúng ta chỉ hiểu được sự kiện đó nếu chúng ta biết rằng còn một loại tự tử khác thường được mệnh danh là “Tử Đạo”

Nếu sự tuyệt vọng hoàn toànchán đời cực độ đã đưa con người trên đời này đến chỗ tự tử, thì một lý tưởng cao cả nhất và lòng yêu đời nồng nàn nhất một đôi khi cũng đã sản xuất những người tử đạo quả cảm nhất trong lịch sử. Chúa Jésus là một người như thế.

Chúa đã chết tại Jerusalem, nhưng Ngài đến Jerusalem trong thời gian nguy cấp là sự lựa chọn của chính Ngài, và như vậy , dĩ nhiên là Ngài đã không lợi dụng cơ hội trốn tránh khi Ngài thấy rằng con người đã có ác ý chống lại Ngài.

Người La Mã đã đóng đinh, nhưng Chúa Jésus muốn tự mình thử thách, và theo nghĩa đó, thì sự đóng đinh trên cây thập tự là sự tự nguyện của Ngài.

Michel Servetus, người tử đạo đã bị John Calvin đốt sống vì bị nghi là kẽ dị giáo, đã bị bắt trong khi đang dự lễ ngày chủ nhật tại nhà thờ của John Calvin vào lúc mà ông đang bị truy nã rất gắt. Như vậy, ta thấy Servetus cũng tự đặt mình vào trường hợp thử thách.

Ngay cả đến Jeanne d’Arc cũng có thể thoát chết nếu nàng bằng lòng thừa nhận rằng nàng nghe lầm về những tiếng vọng của Chúa gọi từ trên không.

Ngày nay, Hòa thượng Thích Quảng Đức, một tu sĩ Phật giáo khổ hạnh, cũng đã tự nguyện gia nhập vào đoàn người ấy và hy sinh đời mình cho tình thương và cho sự cải thiện con người.

Trong bản di ngôn “trước khi nhắm mắt về với Đức Phật” mà Ngài gửi cho Tổng thống Ngô Đình Diệm của miền Nam Việt Nam, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã nói: “Tôi trân trọng gởi lời (người cũng có thể nói, là gởi cả cuộc đời) cho Tổng thống Diệm để yêu cầu ông ấy lấy lòng nhân từ, khoan dung đối với nhân dân và thực thi một chính sách bình đẳng tôn giáo.”

Phản ứng của Tổng thống Diệm đối với những lời kêu gọi trên đã nêu rõ tính chất thống trị của ông ta tại miền Nam Việt Nam và cũng là điển hình cho những vấn đề của chúng ta hôm nay.

Ông đã ra lệnh siết chặt vòng vây khắp Sài Gòn, phong tỏa các chùa bằng hàng rào dây kẽm gai, quy cái chết của Hòa thượng Thích Quảng Đức cho điều mà ông gọi là “những khối óc đã bị đầu độc bởi sự tuyên truyền của Cộng sản”, và thản nhiên tuyên bố rằng: “Sau Phật giáo còn có Hiến Pháp, nghĩa là còn có tôi.”

Những sự kiện nào đã đưa đến tấm thảm kịch đó trong ngày 16/6 vừa rồi?

Theo một ý nghĩa nào đó, ta có thể gọi đó là tấm thảm kịch. Nhưng theo một nghĩa khác, thì đó là một thắng lợi. Các bạn sẽ nhớ rằng vào năm 1954, sự quyết định tối hậu đã phân chia Việt Nam thành hai quốc gia khác nhau: Một nước Cộng sản ở Miền Bắc, và một nước Quốc Gia mệnh danh là Dân Chủ tại Miền Nam Việt Nam. Năm 1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm truất phế vua Bảo Đại và thiết lập chế độ của ông ta.

Các lực lượng quốc tế, kể cả Hoa Kỳ và Pháp, đều đồng ý cho ông Diệm thành lập một chế độ mới với điều kiện phải mở một cuộc Trưng Cầu Dân Ý.

Nhưng trong những năm qua, sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng cho chế độ Tổng thống cứ tiếp tục giảm dần. Đã có lần người ta dự định tính sự ủng hộ đó trên 50%. Ngày nay có lẽ chỉ còn hơn 10%.

Dần dần, Tổng thống Diệm tiêu diệt hết tất cả các Đảng phái Đối lập, đàn áp mọi Phong trào Tôn giáo khác tư tưởng, và tất cả những ai, bằng cách này hay cách khác, muốn thấy miền Nam Việt Nam phải có một chế độ dân chủ thật sự để cho mọi chính kiến khác nhau đều có cơ hội biểu lộ tư tưởng của mình, và tổ chức thành một khối duy nhất theo đường lối dân chủ.

Cũng dần dần, Tổng thống Diệm đã thành lập một hệ thống công an rất rộng, tiêu diệt quyền tự do báo chítheo đuổi một chế độ độc tài mà nhiều khía cạnh có thể còn nguy hiểm và thối nát hơn các quốc gia độc tài Cộng sản.

Từ năm 1955 trở đi, Chính phủ Diệm đã nhận viện trợ khổng lồ của Chính phủ Hoa Kỳ cả về quân sự và tài chánh. Dĩ nhiên, sự viện trợ đó có mục đích duy trì miền Nam Việt Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản miền Bắc.

Những vũ khí đó được dùng để chống lại Cộng sản, vâng! Nhưng hơn thế nữa, Tổng thống Diệm cùng gia đình ông ta đã dùng chính vũ khí đó để uy hiếp dân chúng, ông muốn họ phải khuất phục dưới một chế độ mà càng ngày họ càng chán ghét sợ hãi. Đối với bất cứ người quan sát khách quan nào cũng thấy rằng Hoa Kỳ hình như càng ngày càng tăng thêm sự ủng hộ quân sự lẫn dân sự cho một chính phủ đã mất hẳn lòng tin tưởng và kính mến của toàn dân. Và vì thế, ta có thể thấy trước trong một tương lai gần đây rằng viện trợ có thể lọt vào tay Cộng sản là những người tự nhận là giải phóng quân.

Không một lực lượng vũ khí nào có thể duy trì được một quốc gia nếu nhân dân tại quốc gia đó càng ngày càng sợ chính phủ họ hơn là sợ những kẻ thù của chính phủ. Như vậy, không sớm thì muộn họ sẽ một là cho, hai là bán vũ khí của họ cho kẻ thù.

Dĩ nhiên, miền Nam Việt Nam có một vị trí chiến lược quan trọng trong cuộc chiến tranh chống Cộng trên thế giới. Người ta thường gọi Việt Nam là Tiền Đồn của Đông Nam Á hay là ở Miền Nam Á. Vì Việt Nam nằm sát Lào, Cam Bốt và gần Thái Lan. Thái Lan lại gần Miến Điện và Miến Điện lại sát Ấn Độ. Như thế nếu Việt Nam rơi vào tay Cộng sản thì rất có thể Cộng sản sẽ mở đường tiến thẳng xuống Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân.

Bởi thế, thật là rất dễ hiểu tại sao Hoa Kỳ muốn phòng thủ nền độc lập của Việt Nam.

Hoa Kỳ đã ủng hộ Tổng thống Diệm, nhưng Chính phủ của ông ta bất chấp sự ủng hộ đó để đàn áp các Đảng phái Đối lậphạn chế tự do dân chủ, điều đó làm mất sự ủng hộ căn bản của chúng ta, và đã trở thành một điều bất lợi cho công cuộc chiến đấu chống Cộng một cách hữu hiệu.

Khía cạnh tôn giáo của cuộc tranh chấp là ở quan điểm rằng dù Chính phủ Tổng Thống Diệm được xây dựng trên căn bản tín lý Thiên Chúa giáođa số công chức quan trọng trong Chính phủ là người Thiên Chúa, nhưng dân số trong nước thì từ 70 – 90 phần trăm là Phật Giáo đồ. Người ta sẽ nghĩ rằng trong một quốc giađại đa số dân chúng theo tôn giáo khác thì chính phủ quốc gia ấy nên phải đối xử hợp tình hợp lý với đa số ấy. Thiểu số 1/10 không thể có được tương lai trong một quốc gia trừ phi phần thiểu số đó cư xử tử tế và công bằng với đa số mà họ phải sống chung. Nhưng Tổng thống Diệm đã quá tin tưởng ở quyền lực của mình để thống trị miền Nam Việt Nam. Nhờ viện trợ hùng hậu của Hoa Kỳ trong 7 năm qua, ông ta không ngần ngại khinh rẻ, nhục mạ và khinh rẻ Phật Giáo đồ trong suốt mấy năm ấy và sự kỳ thị càng trở nên trắng trợn theo thời gian. Mỗi lần khiếu nại lại gặp phải sự áp bức dã mancay nghiệt, nên kết quả đã đưa đến một phong trào gần giống như một cuộc cách mạng, mặc dầu phong trào đó được bộc lộ qua phương pháp bất bạo động cổ truyền của Phật giáo.

Những người Phật tử có một tôn giáo lấy từ bi làm tôn chỉ và rất hiếu hòa, đang bị tình thế dồn đến bờ vực thẳm của bạo động thì chúng ta có thể tưởng tượng được sự khiêu khích đã có một sức mạnh vượt bực như thế nào.

Chính sách kỳ thị tôn giáo đó đã được biểu lộ bằng nhiều cách. Phần lớn công chức trong Chính phủ là người Thiên Chúa giáo. Mặc dù 80 hay 90 phần trăm binh sĩ là Phật tử nhưng các sĩ quan trong quân đội từ cấp úy trở lên phần nhiều là người Thiên Chúa, và nếu ai muốn được thăng chức thì đều phải gia nhập vào Thiên Chúa giáo. Mặc dù Phật giáotôn giáo chuộng hòa bình, nhưng các thanh niên Tăng sĩ Phật Giáo vẫn phải nhập ngũ và không có tuyên úy Phật giáo trong quân đội.

Các quan sát viên và ký giả Hoa Kỳ đã tố cáo, và đây tôi xin trích một đoạn trong tờ báo Newsweek số ra ngày 27/5/1963: “Các tư lệnh tiểu đoàn Thiên Chúa giáo trong quân đội miền Nam Việt Nam được trang bị với vũ khí hạng nặng và đầy đủ hơn là nhưng người không phải là Thiên Chúa giáo.”

Tại nhiều khu vực, các giáo sĩ Thiên Chúa giáo có quân đội riêng mệnh danh là “đoàn quân giám mục” (có phận sự bảo vệ nhà thờ và các giáo sĩ và chịu trách nhiệm trước Tổng Giám mục, anh ruột Tổng thống Diệm. Đoàn quân này được trang bị bằng vũ khí Hoa Kỳ mà chính các bạn và tôi đã phải trả tiền cho sự tốn kém đó. Và họ được các cố vấn quân sự Hoa Kỳ huấn luyện)

Hai trường Đại học mới tại miền Nam Việt Nam là của Thiên Chúa giáo. Phật Giáo đồ không bao giờ có đủ phương tiện để có được một nền giáo dục như vậy. Phần lớn các thực phẩm viện trợ của Hoa Kỳ được gởi qua cơ quan cứu trợ Thiên Chúa giáo rồi sau đó mới được các giáo sĩ Thiên Chúa giáo ở các vùng phân phát. Nhưng lạm dụng rất nhiều. Mỗi năm, Hoa Kỳ đổ vào xứ 15 triệu dân nầy một số tiền là 300 triệu đô la. Một nhà truyền giáo Tin Lành đã hoạt động tại Bình Định 15 năm qua nói trắng ra rằng: “Tất cả các nhà thờ Thiên Chúa ở tỉnh đều được xây cất bàng tiền xổ số và tiền bán thực phẩm cứu trợ.” Các thánh đường Thiên Chúa đã được xây cất trong các Thánh Tích Phật giáo với sự khuyến khích và cho phép của Chính phủ. Thí dụ: tháng 3 năm 1961, một trăm người ở làng Tư Chánh đã phàn nàn với Chính phủ về việc cho phép một linh mục xây một ngôi nhà thờ Đức Bà trên núi Thiên Bút là nơi đã có một cảnh chùa và nghĩa trang dành cho Tín đồ Phật giáo. Người ta khó có thể tưởng tượng được một việc làm nào thiếu khôn ngoan hơn thế được!

Em dâu Tổng thống Diệm, bà Ngô Đình Nhu, đã cấm thuốc ngừa thai, cấm chế độ đa thê, cấm ly dị trừ phi được Tổng thống phê chuẩn. Đó là một vài việc làm đã khiến dân chúng bất mãn.

Tất cả vấn đề đã đi đến cực độ vào tháng 5 vừa rồi. Ngày 5/5 là lễ Rước kiệu mà Tổng Giám mục Huế, anh của Tổng thống Diệm, chủ tọa. Trong dịp này, cờ của Vatican được treo ngang hàng với cờ quốc gia. Thế rồi chỉ ba ngày sau là ngày Phật Đản, thì cờ Phật giáo bị cấm không được treo. Tổng thống Diệm giải thích là khi ông thấy cờ Vatican được treo, ông cho đó là trái phép, nên ông cấm treo cờ Phật giáo nhưng không ngờ lại đúng vào ngày Phật Đản.

Thế là xẩy ra những cuộc biểu tình liên tiếp và quân đội Tổng thống Diệm đã nổ súng vào đám đông giết chết 9 người. Khi bị phản đối thì Tổng thống Diệm nói rằng đó là do Việt Cộng ném lựu đạn làm thiệt mạng 9 người ấy và Chính Phủ hoàn toàn không chịu trách nhiệm . Nhưng các nhà báo ngoại quốc có đầy đủ hình ảnh về vụ đó và đã cho thấy rõ một trăm phần trăm là quân đội Chính phủ đã bắn vào đám đông làm cho 8 người thiệt mạng. Có hàng ngàn người bị bắt trong vụ này. Đến ngày 4/6, lại một cuộc biểu tình nữa diễn ra gồm toàn sinh viên tại Huế, và cuộc biểu tình này lại bị quân sĩ và cảnh sát của ông Diệm đàn áp bằng lựu đạn cay và bom lửa chế tạo tại Hoa Kỳ. Khoảng 67 sinh viên bi phỏng khắp người. Rồi đến ngày 11/6, Hòa thượng Quảng Đức hy sinh đời mình bằng cách tự thiêu để thức tỉnh lương tâm của Tổng thống Diệm và lưu ý cho toàn thế giới.

Ngày 15/6 đã có một sự thỏa hiệp sơ bộ. Chính phủ hứa sẽ trả 37 đô la cho mỗi gia đình của những nạn nhân bị giết tại Huế. Họ cũng hứa sẽ không làm khó dễ Tăng Ni, và Phật Giáo đồ sẽ được treo cờ Phật giáo song song với cờ quốc gia trong những ngày lễ Phật giáo. Họ cũng hứa sẽ sửa lại một đạo dụ từ trước vẫn biệt đãi Thiên Chúa giáo hơn Phật Giáo. Nhưng chỉ hôm sau thôi thì Cảnh sát Chiến Đấu đã đàn áp một số Ni Cô tại một ngã tư gần chùa Xá Lợi khi các Ni Cô này muốn vào chùa để cầu nguyện cho Hòa thượng Quảng Đức. Các Ni Cô bị bóp cổ quăng lên xe cảnh sát, có nhiều cô chết ngất đi. Một em bé 15 tuổi bị giết, nhiều người bị thương và hàng trăm người bị bắt.

Ngày 15 tháng 6, báo Times of Vietnam (do bà Nhu thuê người viết) tố cáo rằng các cuộc biểu tình Phật giáo đều được tổ chức đúng với chiến thuật của Cộng sản một cách rất cẩn thận và có kế hoạch. Tôi tin rằng một số người ở đây, tại Mỹ quốc này, cũng sẽ nói rằng một số giáo sĩ đã đăng một bản thông cáo trên tờ New York Times tuần rồi cũng là dụng cụ của Cộng Sản.

Đó là những sự kiện diễn ra trong lúc này – Một sự rối loạn cực độ tại miền Nam Việt Nam. Khắp nơi trong nước, ngọn lửa căm phẫn đang bốc lên bừng bừng. Những điều đó có liên quan gì đến các bạn và tôi không? Sở dĩ vấn đềliên quan đến chúng ta là bởi vì chúng ta phải trả tiền mua những vũ khí đó, chúng ta phải trả tiền các thực phẩm cứu trợ. Chúng ta lại đưa người của chúng ta đến huấn luyện cho quân sĩ của Chính phủ Diệm. Nếu không có sự viện trợ đặc biệt hùng hậu của chúng ta thì những kẻ chuyên chế áp bức và kỳ thị đó sẽ bị lật nhào chỉ trong giờ phút mà thôi.

Bây giờ thì người ta đang tự hỏi không biết Chính phủ Sài Gòn còn tồn tại được bao lâu nữa, ngay cả với sự viện trợ của chúng ta. Bởi thế nên chúng taliên hệ và điều đó rất có ý nghĩa đối với chúng ta. Theo tôi nghĩ thì một trong những điều mà Hoa Kỳ phải học hỏi là: Hoa Kỳ không thể giúp đỡ những Chính phủ ngoại quốc để họ nắm quyền hành và áp bức nhân dân của họ mà không chia sẻ trách nhiệm về sự áp bức ấy. Điều sỉ nhục ấy sẽ khiến tâm hồn của mọi người Hoa Kỳ cằn cỗi.

Nhưng ta biết làm cách nào? Tôi mong muốn có được những lời giải đáp dễ dàng nhưng tôi phải hoài nghi rằng vấn đề này hết sức khó khăn, vì những người sẵn sàng đưa ra những lời giải đáp ấy thì đã bị bóp nghẹt bỡi chính sự viện trợ của chúng ta rồi! Hoa kỳ với ông Henry Cabot Lodge là tân Đại sứ của chúng ta, phải tìm mọi cách thuyết phục ông Diệm thực thi quyền bình đẳng cho tất cả các đoàn thể tôn giáo như đã ghi trong Hiến Pháp, và dù có phải rút hết viện của Hoa Kỳ cho Chính phủ ông ta đi nữa thì Hoa Kỳ cũng đừng ngần ngại. Tôi tưởng rằng đã đến lúc Hoa kỳ phải tự tay phân phối những thực phẩm cứu trợ mà đừng trao cho một cơ quan cứu trợ Thiên Chúa giáo hay Chính phủ phân phối. Nếu chúng ta cứ tiếp tục viện trợ hàng triệu đô la cho Việt Nam, nơi mà sự viện trợ bị lạm dụng quá nhiều thì tôi tin rằng đã đến lúc chúng ta phải khuyến khích Phật Giáo đồ khuếch trương nền cao đẳng giáo dục của họ để họ có thể tham gia vào sự lãnh đạo trong nước. Cũng như viện trợ của chúng ta đã vô tình giúp đỡ người Thiên Chúa giáo phát triển nền cao đẳng giáo dục của họ để làm lợi cho thiểu số 10 phần trăm, bây giờ chúng ta phải giúp đỡ cho số 70 đến 90 phần trăm. Đó là việc có thể làm ngay và đó cũng là tình trạng mà chính phủ Hoa Kỳ không thể làm ngơ được nữa.

Đứng về mặt chính trị thì vấn đề đó còn khó khăn hơn nhiều. Bản Thông cáo mà chúng ta đăng trên mặt báo tuần rồi là thông cáo phản đối. Người ta có thể nói Bản Thông cáo đó mới chỉ đề cập đến mặt tiêu cực mà thôi.

Tôi còn nhớ câu chuyện cách đây mấy năm tại San Juan, Puerto Rico, khi tôi gặp một nhạc sĩ đại hồ cầm tên tuổi, ông Pablo Casals, người đã bằng lòng chịu đi đày chớ không chịu trở về quê hương là nơi bị chế độ độc tài áp bức thống trị, và từ chối luôn không chịu trình diễn tại các quốc gia đã thừa nhận hay đặt quan hệ với chính phủ xứ ông. Casals, với thái độ dịu dàng và là một trong những người dễ cảm nhất mà tôi từng gặp, thuật lại cho chúng tôi câu chuyện ông nói với Schweitzer khi họ đề cặp đến vấn đề tại sao ông không chịu trình diễn tại nhiều quốc gia? Casals nói rằng Schweitzer đã trách ông bằng câu này: Nên sáng tạo hơn là phản đối. Casals nhìn tôi với vẻ nghiêm nghị và nói: Tôi đã trả lời là không! Casals nói lớn tiếng quá làm tôi giật mình. Rồi ông nói tiếp là có nhiều khi sự sáng tạo duy nhất mà ông có thể thực hiện được là phản đối. Chính chúng ta cũng đang đương đầu với tình trạng ấy tại miền Nam Việt Nam. Chúng ta phải phản đối. Những khả năng sáng tạo phải được khai triển.

Mặc dầu chúng ta đã phạm nhiều sai lầm nhưng vẫn còn đủ thời gian để sửa đổi. Vẫn còn thời gian để buộc Tổng thống Diệm phải thực thi tự do dân chủ, cho phép các đảng phái chính trị đối lập hoạt động, tổ chức tuyển cử tự do, cải tổ chính phủ theo một đường lối trong đó để cho dân chúng thấy rằng họ cũng được tự do vào việc định đoạt số phận của chính họ. Còn gì mỉa mai hơn cho chúng ta bằng cách đứng nhìn một chế độ độc tài tội ác với tất cả sự khủng bố gần như độc quyền được giúp đỡ bởi vũ khí của Hoa Kỳ và tiền tài danh dự của công chúng Hoa Kỳ!

Một vị sư già mới chết cách đây chưa đầy ba tuần lễ. Người ta có thể nói Người là một ông già tầm thường. Trong 10 phút, Người đã chịu đựng sự đau đớn của tia lửa hồng đang đốt da thịt không một lời kêu than. Người gởi mấy lời của Người cho Tổng thống Diệm, và cho đến nay ông Diệm vẫn chưa chịu nghe hay chú ý. Nhưng dù sao, tiếng nói ấy vẫn là tiếng nói của tình thương, tiếng nói mà trong thâm tâm của nó chứa đựng sự giải thoát của miền Nam Việt Nam. Người đã để lại một bóng đen sỉ nhục lên sự huy hoàng mà Giáo hoàng Gioan đã mang lại cho Giáo hội Thiên Chúa. Người đã làm và Người phải làm, cho mỗi người Hoa Kỳ đi tìm linh hồn của Người và cho Chính phủ Hoa Kỳ biết rằng, trừ phi Chính phủ Sài Gòn thực thi ngay quyền bình đẳng tôn giáo cho Phật Giáo đồ và tự do cho dân chúng Việt Nam, tất cả mọi sự viện trợ của Hoa Kỳ đều phải chấm dứt ngay.

Chậm rồi chăng? Sự hy sinh của Hòa thượng Quảng Đức vẫn còn được để ý tới, và nếu thế, tình hình Việt Nam còn có thể cứu vãn được. Ngọn lửa ấy có thể thành một tia hy vọng cho những người từ lâu bị áp bức bởi người ngoại quốc hay bởi ngay chính đồng bào của họ. Hoa Kỳ phải tìm cách biểu hiện lý tưởng của mình và đừng quay lưng lại với họ nữa. Một người Mỹ chết – có nghĩa gỉ? Chỉ có chúng ta mới có thể trả lời câu hỏi đó.

(Bản dịch của Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật giáo)

Ngày 14 tháng 8, hơn 15 ngàn Giáo sĩ của các Giáo hội tại Hoa Kỳ, mỗi người đã gửi một bức thơ phản đối đến Tổng thống J.F. Kennedy yêu cầu chấm dứt sự ủng hộ tài chính và quân sự cho Chính phủ Ngô Đình Diệm vì đã ngược đãi tôn giáo với các Phật Giáo đồ.

“Sự ủng hộ của Chính phủ Hoa Kỳ đối với chế độ ác nghiệt Ngô Đình Diệm tại Việt Nam sẽ trở thành một sự bêu xấu và làm yếu thế một cách nguy hại lập trường đạo đức và chính trị của Mỹ.” (tin của hãng Reuter ngày 14/8/1963)

Tờ Nữu Ước Thời Báo đã so sánh một cách rất xác đáng tình trạng Chính phủ Ngô Đình Diệm với tình trạng Chính phủ Lý Thừa Vãn tại Hán Thành, trong những ngày suy tàn. Bài báo này quả là một lời tiên đoán hết sức tinh vi:

Tình hình tại Sài Gòn giống hệt những ngày cuối cùng của Lý Thừa Vãn tại Hán Thành. Cùng một loại bùng nổ của dân chúng đã diễn ra tại hai đô thị, và bị đàn áp bởi cùng một loại tàn bạo của cảnh sát. Tại Hán Thành, những người biểu tình là sinh viên, tại Sài Gòn những người biểu tìnhPhật tử, và phong trào chống đối của Phật giáo đang mở màn cho một niềm căm phẫn toàn diện chống lại một chế độ độc tài áp bức.

Đại Hàn, phong trào chống đối do sinh viên lãnh đạo lúc đầucuối cùng đã trở thành một nhu cầu quốc gia bất khả kháng, có quân đội tham gia và kết quả là Lý Thừa Vãn đã phải ra đi. Có lẽ khác với Lý Thừa Vãn, ông Diệm có thể vượt qua cơn sóng gió, nhưng cách giải quyết vấn đề của ông bằng lối đàn áp hơn là làm dịu nỗi đau khổ của Phật Giáo đồ khiến gnười ta phải nghi ngờ không biết ông có vượt qua được không? “ (Nữu Ước Thời Báo số 19/7/1963)

Báo chí đã làm xúc động mãnh liệt dư luận trong chính giới Hoa Kỳ. Ngày 18/7/1963, Thượng Nghị sĩ Wayne L. Morse của tiểu bang Oregon nói rằng ông sẽ “không đồng ý cho một đô la nào nữa để viện trợ ủng hộ cho chế độ độc ác tàn bạo của Chính phủ Ngô Đình Diệm”.

Đứng trước một dư luận của toàn dân quyết liệt như vậy, Chính phủ Hoa Kỳ cũng đã minh định thái độ.

 

Chính sách của Hoa Kỳ và của Pháp đối với vấn đề Phật giáo.

Pháp và Hoa Kỳ đã có hai chính sách khác biệt đối với vấn đề Phật giáo tại Việt Nam. Sau thất bại Điện Biên Phủ, Pháp đã mất hết ảnh hưởng đối với Chính phủ miền Nam và Mỹ đã thay thế Pháp viện trợ trực tiếp cho chính phủ Ngô Đình Diệm về phương diện kinh tế và quân sự. Do đó, chính phủ Pháp, do Tổng thống De Gaulle lãnh đạo, vẫn có mặc cảm đối với chính phủ Hoa Kỳ và theo đuổi một đường lối chính trị biệt lập về vấn đề Việt Nam nói chung, và đặc biệt trong giai đoạn khó khăn 1963 khi phải giải quyết vấn đề đàn áp Phật giáo nói riêng.

 

A- Chánh sách của Hoa Kỳ

Lẽ dĩ nhiên, vì Hoa Kỳ đã thay thế Pháp để công khai viện trợ cho Chính phủ Ngô Đình Diệm từ Hiệp định Genève 20/7/1954, nên Hoa Kỳ không thể không quan tâm đến chính sách đàn áp Phật giáo đang xô đẩy Chính quyền miền Nam vào một giai đoạn vô cùng nguy hiểm.

Như đã chép trên đây, trong tháng 6 và tháng 7 năm 1963, chính phủ Hoa Kỳ đã chỉ thị cho ông Trueheart, Đại lý Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, trong khi Đại sứ Nolting về nghỉ phép, đến khuyến cáo Tổng thống Diệm phải có những biện pháp ôn hòa để thỏa mãn những nguyện vọng chính đáng của Phật giáo, nhưng tất cả các cố gắng của Chính phủ Hoa Kỳ đều vô hiệu.

Tại Sài Gòn, Trueheart ngày càng thất vọng với chính phủ Diệm. Nếu ông Diệm có hứa điều gì, thì ngay ngày hôm sau, trên mặt tờ Thời Báo Việt Nam (Times of Vietnam), một tờ báo viết bàng Anh văn tại Sài Gòn và do vợ chồng ông Ngô Đình Nhu chi phối, liền có bài phủ nhận ngay điều đó. Điều tệ hơn nữa là các lời tiên đoán đen tối của Thời Báo Việt Nam, sau một thời gian, phản ảnh đường lối chính trị của chính phủ đúng hơn là các lời hứa hẹn chính thức của ông Diệm. Trong khi ông Diệm hứa hẹn một điều gì với người Mỹ, thì sau khi bàn với gia đình, ông lại bị em ruột và em dâu xúi đẩy và đổi thái độ thành cứng rắn “(14)

Tại Hoa Thịnh Đốn, Tổng thống J.F. Kennedy bàn luận với các cố vấn xem có thể nào tách rời vợ chồng ông Ngô Đình Nhu ra khỏi chính quyền không, nhưng mọi người đều thấy không thể nào thực hiện được điều này.

Trên đây cũng đã chép rằng Đại sứ Hoa Kỳ F.Nolting thì có một chính sách ủng hộ triệt để ông Diệm và tìm mọi cách để che đậy những sai lầm của ông Nhu và ông Diệm, không cho chính phủ và báo chí Hoa Kỳ biết.

Khi Tổng thống Hoa Kỳ J.F.Kennedy quyết định thay thế Đại sứ Nolting bằng ông Cabot Lodge, một chính khách nổi danh của Hoa Kỳ, chính phủ Ngô Đình Diệm đã tỏ ra rất lo âu về sự bổ nhiệm này vì nó chứng tỏ hiển nhiên sự thay đổi đường lối của Hoa Kỳ. Vì lo âu về sự bổ nhiệm tân Đại sứ Cabot Lodge, bà Nhu đã lên tiếng chỉ trích sự bổ nhiệm này, mặc dầu không gữi địa vịchính thức trong chính phủ. Nữ Ký giả Marguerite Higgins của tờ Nữu Ước Thời Báo đã phỏng vấn Tổng thống Diệm về vấn đề này.

“Hỏi: Bà Nhu đã công kích vị Đại sứ Hoa Kỳ sắp sang Việt Nam là ông Henry Cabot Lodge. Kính xin Tổng thống cho biết quan điểm của Chính phủ Việt Nam về ý kiến của bà Nhu thế nào?

Trả lời: Tôi không bao giờ nghe thấy ai chỉ trích việc Chính phủ Việt Nam chấp thuận việc bổ nhiệm ông Henry Cabot Lodge làm Đại sứ tại Việt Nam. Tất cả chúng tôi, và bà Ngô Đình Nhu trước tiên, coi việc bổ nhiệm đó làm cho Việt Nam rất hài lòng”.

Cuộc phỏng vấn này được tất cả các báo chí đăng tải, tuy nhiên người ta nhận thấy rõ ràng sự bối rối trong câu giải đáp khi Tổng thống.Diệm trả lời:”Tất cả chúng tôi, và bà Ngô Đình Nhu trước tiên, rất thỏa mãn về việc bổ nhiệm này”. Tại sao lại thêm: “và bà Ngô Đình Nhu trước tiên?” nếu không phải là để gỡ tội cho bà Nhu hay thú tội cho sự bất lực của một chế độ suy vong trước sự đàn áp của một người đàn bà?

Khi nhận sự bổ nhiệm này, Cabot Lodge đã nhận cả một sự thách thức trên đường chính trị. Cabot Lodge không thể nhận làm Đại sứ Việt Nam để chứng khiến chính sách đàn áp Phật giáo của Tổng thống Diệm.

Hơn thế nữa, cuộc tấn công chùa chiền tại Việt Nam vào đêm 20/8/1963, trước khi Cabot Lodge đến Sài Gòn, đã làm rõ ý đồ của anh em ông Diệm muốn đặt vị tân Đại sứ Hoa Kỳ trước sự đã rồi, đồng thời, đó cũng là một đòn phủ đầu của gia đình họ Ngô.

Nhưng ngay ngày 21/8/1963, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã phổ biến lời tuyên ngôn phản kháng chính sách đàn áp Phật giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm:

Căn cứ vào các tin loan đi từ Sài Gòn, rõ ràng Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã có những biện pháp đàn áp nghiêm khắc các lãnh tụ Phật giáo Việt Nam. Hành động này là một sự vi phạm trực tiếp của Chính phủ Việt Nam vào lời cam đoan theo đuổi một chính sách hòa giải với Phật Giáo đồ. Hoa Kỳ phiền trách các hành động đàn áp loại này.” (Text of Statement issued by Department of State, Washington, on August 21: “On the basis of information from Saigon, it appears that the Government of the Republic of Vietnam has instituted serious repressive measures against Vietnamese Buddhist leaders. The action represents a direct violation by the Vietnamese Government of assurances that it was pursuing a policy of reconciliation with the Buddhists. The United States deplores repressive action of this nature.)

 

B – Chính sách của Pháp đối với vấn đề Phật giáo

Sau khi thua trận Điện Biên Phủ, Pháp đã mất hết ảnh hưởng chính trị đối với Chính phủ Ngô Đình Diệm. Chính phủ này đã từ chối không gia nhập cả khối Liên Hiệp Pháp do Chính phủ Pháp thành lập với ước mong chi phối các thuộc địa cũ của Pháp tại hai châu Á Phi. Ai cũng biết rằng tướng Navarre đã từng tuyên bố rằng trận Điện Biên Phủ có mục đích bảo vệ Lào khỏi bị xâm lấn bởi quân đội Cộng Sản, vì Lào đã gia nhập khối Liên Hiệp Pháp.

Thua trận Điện Biên Phủ, Pháp đã bị Mỹ thay thế tại Việt Nam. Tổng thống Pháp De Gaulle rất bất mãn vì những biến cố chính trị nầy đã làm giảm uy tín của Pháp trên bán đảo Đông Dương, do đó trong khi vừa vẫn phải ve vãn Chính phủ Ngô Đình Diệm vì còn nhiều quyền lợi của Pháp tại Việt Nam trên phương điện kinh tế và văn hóa, De Gaulle vừa vẫn tìm một đường lối chính trị khác biệt với chính sách của Mỹ.

Đầu năm 1963, một phái đòan dân biểu do Chủ tịch Quốc Hội là ông Trương Vĩnh Lễ viếng thăm nước Pháp. Trong cuộc hội kiến với De Gaulle, Tổng thống Pháp tỏ ra rất niềm nở, và một chương trình hợp tác kinh tế và văn hóa đã được Tổng thống Pháp hứa hẹn.

Vào tháng 8 năm 1963, trước các biến cố nghiêm trọng xẩy ra tại Việt Nam với vụ tấn công chùa chiền, Tổng thống Pháp De Gaulle đã tuyên bố, sau buổi họp Hội đồng Nội Các ngày 28/8/1963, như sau: “Nước Pháp ước mong Việt Nam được độc lập trên phương diện đối ngoại, và thực hiện được hòa bình và thống nhất trên phương diện đối nội.” (Indépendance vis-à-vis de l’extérieur, paix et unité de l’intérieur)

“Tất cả các nỗ lực nào của Việt Namthực hiện để đạt cứu cánh kể trên thì sẽ được nước Pháp sẵn sàng tổ chức một sự hợp tác thân thiện.” (Tout effort national qui serait entrepris au Vietnam à cette fin, trouverait la France prête à organiser avec ce pays une cordiale coopération.)

Trong lời tuyên bố của tướng De Gaulle, không có một lời nào chỉ trích chính sách kỳ thị Phật giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm nói chung, và vụ tấn công chùa chiền xẩy ra một tuần lễ trước nói riêng.

Phải chăng De Gaulle, trong những lời bóng gió này, đã muốn đưa một cây sào cho gia đình họ Ngô trong khi bị chính phủ Mỹ bỏ rơi và ngụp lặn trước các khó khăn vô hạn do sự đàn áp Phật giáo gây ra.

Sự thật, những lời hứa hẹn viễn vông của tướng De Gaulle cũng không thể nào giúp ích được gì cho chính phủ Ngô Đình Diệm mà những ngày tàn đã trông thấy rõ.

Các tin đảo chính được tiếp nối loan đồn từ Sài Gòn, nhiều khi do chính Ngô Đình Nhu tạo ra, để đe dọa phe đối lập.

Và đến ngày 1/11/1963, sự mong đợi của quốc dân đã thành sự thật: Một cuộc cách mạng do các tướng lãnh cầm đầu đã lật đổ Ngô Đình Diệm, chấm dứt vĩnh viễn một chế độ độc tài trong lịch sử nước ta.

 

CƯỚC CHÚ:

 

(1) The new Face of Buddha – Jerrold Schecter

(2) Báo Observatore Romana ngày 4/8/63

(3) Báo Observatore Romana ngày 30/8/63

(4) Lá thư nầy đã được cơ quan ngôn luận của Tòa thánh Vatican trong số ra ngày 20/9 và nguyên văn được công bố trong tập La Documentation Catholique 1963, cột 1375

(5) Catholiques et Bouddhistes au Vietnam – Piero Gheldo, Alsatia Cohnar, France 1970, trang 242

(6) Các tài liệu nầy do Tổng Nha Thông tin soạn theo chỉ thị của Ngô Đình Nhu

(7) Cuốn sổ tay của một nhân viên Ngoại giao nhân vụ tấn công chùa Xá LợiPhạm Trọng Nhân, Bách Khoa số ra ngày 15/1/64, trang 31

(8) Giữa Cao MiênViệt Nam không có trao đổi liên hệ ngoại giao thời Đệ nhất Cọng hòa, vì vậy mỗi nước chỉ đặt tại nước kia một Đại diện Chính phủ (Représentant du Gouvernement) nhưng được hưởng quy chế ngoại giao

(9) Cuốn sổ tay ...Phạm Trọng Nhân, thượng dẫn

(10) Báo Ceylan Daily News ngày 17, 21 và 23/5/63. Báo The Obscryer ngày 16, 19 và 23/5/63. Báo The Time of Ceylan ngày 15 và 23/5/63. Các hội Phật học All Ceylan Buddhist Congress, Central Bank Buddhist Association, Ceylan Institute Siinhala Buddha Dula, Baha Daksha

(11) Cuốn sổ tay ...Phạm Trọng Nhân, thượng dẫn

(12) Bản Quyết nghị nầy đã được phân tích trong Chương IV, Tiết 4, Đoạn IV: Trên đường Hành hương

(13) Phật giáoquốc giáo tại Thái Lan

(14) The Best and the Brightest – David Halberstam, Random House, New York, 1972, trang 259

Tạo bài viết
18/09/2010(Xem: 42859)
16/10/2014(Xem: 19360)
Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc Moon Jae-in nói: “Phật giáo là nguồn lực Bi-Trí-Dũng, tạo thành sức mạnh đã giúp đất nước và con người Hàn Quốc vượt qua biết bao thử thách trong hơn 1.700 năm qua. Phật giáo luôn sát cánh bên những người đang phấn đấu vì sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, dân chủ và hòa bình của đất nước chúng ta. Tôi hy vọng cộng đồng Phật giáo sẽ liên tục hợp lực để mở ra con đường hướng tới giao lưu liên Triều và thúc đẩy hòa bình trên Bán đảo Triều Tiên”.
Là người quan tâm rất sớm, từ năm 2019, về việc lấy hình ảnh Đức Phật để biếm họa trên Tuổi Trẻ Cười, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn xót xa chia sẻ việc đó là rất nghiêm trọng xét trên phương diện ứng xử văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện nay có nhiều biểu hiện suy thoái đạo đức truyền thống.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.