Chương 1

01/10/201312:00 SA(Xem: 1435)
Chương 1

NGÕ THOÁT
tức PHƯƠNG TRỜI CAO RỘNG 3
truyện dài của Vĩnh Hảo
Chiêu Hà xuất bản tại California, Hoa Kỳ năm 1996

Bến xa ngun ngút mây trời
Cung đàn đứt nhịp trận cười ngang cơn
Bờ kia bến nọ hai đường
Dòng sông chảy mộng htrường nửa canh.
Phù Du

 

 CHƯƠNG MỘT

 

Mặt trời chưa mọc nhưng bên ngoài đã sáng ửng. Buổi sáng chủ nhật ở khu xóm này dường như không có dấu hiệu của sinh hoạt con người. Chỉ nghe tiếng chim ríu ra ríu rít trên những hàng cây cao. Lá cây ướt đẫm, tưởng chừng vừa được tắm dưới một cơn mưa. Thực ra chẳng có cơn mưa nào đêm qua cả; chỉ có sương mai kéo xuống thấp, mù tỏa cả một vùng gia cư lụp xụp đang còn an giấc. Chú nhện trên nhánh muồng trâu có lẽ đã hì hục giăng cho xong cái lưới khổng lồ suốt đêm qua nên bây giờ hãy còn mỏi mệt thu nhỏ người lại, ngủ vùi ở vòng tâm của màng lưới. Nếu chú thức dậy sớm như tôi sáng nay, hẳn chú sẽ có dịp thưởng thức sự kết tụ kỳ diệu của những hạt sương sớm, tạo thành những chuỗi ngọc trai nhỏ, long lanh, óng ánh, ngang dọc theo những đường tơ mịn màng do chính chú dệt nên. 

Con đường đất đỏ chạy ngang trước cổng là con đường duy nhất của xóm nhỏ này dẫn ra lộ chính, vắng hoe. Tôi thanh thản nhấp từng ngụm trà nóng. Chờ đợi.

Tất cả đều đổ vỡ, tan nát, hỏng. Tôi sẽ làm lại từ đầu kể từ hôm nay. Một người đàn ông, xấp xỉ sáu mươi, sẽ đến đây, chở tôi đi.

Bao nhiêu chuyện cũ, bao nhiêu thăng trầm bảy năm qua, dường như đã tiêu tăm, mất dạng theo nước qua cầu. Chỉ có bóng hình mới nhất, biến cố đau thương mới nhất, là còn chồi dậy, nhập nhòa ẩn hiện theo cái mạng nhện ướt sương, hay theo những nhánh dâm bụt thưa thớt nơi bờ rào.

Không phải tôi không tận tình khơi dậy những chuyện cũ. Chỉ vì từ nhiều năm nay, tôi bắt đầu lao mình vào những toan tính và sinh hoạt mới hơn trên đất lạ miền nam, nên không còn chút thời giờ thơ mộng nào để những kỉ niệm xưa được sống lại một cách trọn vẹn. Ký ức tôi như cái thùng hồ sơ của một chàng thư ký bận bịu thiếu ngăn nắp, được sắp theo thứ tự từ dưới lên trên: cái nào càng cũ thì càng được nằm ở gần phía đáy, cái nào mới thì nằm chồng lên trên. Mới chồng lên cũ. Hiện tại chồng lên quá khứ. Hôm nay chồng lên hôm qua. Nhìn vào thùng hồ sơ, chỉ thấy được cái gì nằm phơi mặt lên trên. Cuộc sống cứ thế mà chảy tới, chảy tới. Và vụt cái, đã bảy năm trôi qua, kể từ khi tôi rời bỏ đồi Trại Thủy trong một đêm hè Nha Trang..

Cho nên, đáng lý vào lúc ngồi uống trà chờ đợi như sáng nay, tôi có thể nhớ về bao kỷ niệm buồn vui với những người thân và bạn bè, hoặc nhớ đến Như Như, thiếu nữ đứng lại trên đồi Trại Thủy đêm ấy, thì tôi lại nghĩ đến nàng, Mộng Huyền, một cô gái đến và vuột khỏi con tim buâng khuâng ngỡ ngàng của tôi như một giấc mộng thoảng qua.

Đừng cho rằng tôi có mới nới cũ, hoặc xỉ vả rằng tôi là kẻ không chung tình, hay tệ hơn: bạc tình! Tu sĩ làm gì được phép có thứ tình cảm trai gái ủy mị vướng víu nhau mà bảo rằng chung hay bạc. Con đường của tu sĩ Phật giáocon đường giải thoát, mà muốn giải thoát, trước tiên phải vượt qua ái tìnhdục vọng. Con đường tu tập của đạo nhân dẫn đến cõi vô thủy vô chung trong khi con đường tình yêu thế tục đòi hỏi một quá trình, một giai đoạn có thủy có chung. Tình yêu của tu sĩ là tình yêu đối phó, tình yêu xả ly, chẳng phải là tình yêu chiếm hữu. Chiếm hữu thì lăn xả vào nhau, quấn quít nhau, cột trói nhau, giao ước với nhau bằng tâm lý, thể xác hay giấy tờ. Đối phó hay xả ly thì tìm cách kềm chế, chuyển hướng, rũ bỏ, vượt xa hay giải thoát—cùng lắm là chạy trốn trước khi sa đọa. Đối với tu sĩ, người ta phải cầu mong sao họ bạc tình, lạnh nhạt chừng nào tốt chừng đó vì càng chung tình đắm đuối thì càng khó giải thoát. Cho nên, nếu tôi quên được Như Như, hay quên được Mộng Huyền, thì người ta phải mừng cho tôi mới phải. Vậy đó, nói lòng vòng một hồi, chẳng qua tôi chỉ muốn thú thực rằng, tim tôi hãy còn đau ê ẩm vì chuyện của Mộng Huyền, thiếu nữ mới quen cách đây hai tháng và chia tay cách đây một tháng. Tôi nghĩ đến nàng nhiều hơn Như Như chẳng qua là vì xấp hồ sơ của nàng nằm ở trên, vậy thôi.

Huống chi, tại sao phải nhắc đến một Như Như đã hóa thân vào hư không vô cùng vô tận để trở thành một cái gì không còn nói được nên lời, một cái gì bất sinh bất diệt!

Vâng, tôi có thể khẳng định rằng Như Như trong tôi là một Như Như bất diệt, dù rằng có một Như Như thực tế bước lên xe hoa một ngày mùa đông hai năm trước. Một khi cái đẹp hiện hữu một cách tròn đầy trong chính bạn, dù chỉ trong một thoáng chốc nào đó, tất cả những bóng sắc bên ngoài đều trở thành những phóng ảnh huyền hoặc của nó. Những phóng ảnh đó, đến và đi, sinh và diệt, trẻ hay già, lên xe hoa hay không lên xe hoa, đều chẳng làm hao tổn gì vẻ mênh mông tráng lệ của cái đẹp nội tại cả.

Như Như không làm bận lòng tôi nữa. Cảm ơn một dĩ vãng đã lặng lẽ nằm yên dưới lớp bụi thời gian. Tôi lao về phía trước. Tôi thấy bóng sắc lãng mạn, mới mẻ, sâu đậm khác, ẩn hiện chập chùng trước mắt. Tôi nghĩ đến Mộng Huyền, rồi tôi lại tiếp tục phấn đấu, giũ bỏ, xa rời, vượt thoát nàng. Ôi, tại sao tôi lại cứ gặp gỡ và rung động bởi những phóng ảnh mộng mị bên ngoài để rồi quằn quại đau đớn! Người ơi, hãy đi đi, đừng đến bên tôi nữa. Cứ cho tôi nỗi cô quạnh nhưng đừng cho tôi cơn đau xé lòng như thế!

 

Đ

 

Người đàn ông đưa tôi đến bến xe bằng xe đạp rồi vội vàng từ giã. Chiếc xe lam nhả khói mù mịt. Thỉnh thoảng nó lại hục hặc lên mấy tiếng như một cụ già đang ho khi trời trở lạnh, rồi lại hú ga như một chàng thanh niên hứng chí lấy hơi trong một cuộc thi đấu thể lực nào đó, vùng lên chạy bon bon. Qua những khoảng đường xấu có nhiều ổ gà, nó bị xốc lên từng hồi, và thực chẳng khác một con cóc mệt mỏi đang cố gắng nhảy những bước miễn cưỡng của nó.

Tôi đi gọn gàng, không mang hành lý. Đó cũng là cái cớ để bà cụ ngồi đối diện gởi tôi giữ hộ một đứa bé trai, vì bà ấy phải lo trông coi ba, bốn giỏ đồ linh tinh trên xe mà nếu sơ sẩy, có thể bị kẻ gian đánh cắp. Thằng bé ngồi trong lòng tôi trông kháu khỉnh và khôi ngô lắm. Nó tự nhiên ngồi với tôi, không thắc mắc hay ngại ngùng gì. Nó cũng chẳng e dè vỗ lên đùi tôi hay vân vê cánh tay áo sơ mi của tôi bằng hai bàn tay mũm mĩm của nó. Dầu mang tâm trạng của một kẻ đi trốn, với tiếng xe ồn ào và khói xăng làm cay cả mắt, với niềm đau được chôn lấp vội vàng trong lòng, tôi vẫn thấy một chút thư thới, vui vui thế nào ấy. Có lẽ là nhờ sự hiện diện của một đứa bé hồn nhiên, đẹp như thiên thần đang ngồi trong lòng mình.

Càng rời xa phố thị, những ưu phiền trong tôi càng vơi đi dần. Tôi tận hưởng những giây phút an lành đó bên một đứa trẻ. Nó không an ủi tôi bằng những lơi lẽ mà người lớn đã làm và gần như nó cũng không màng để ý đến tôi dù vòng tay tôi luôn trong tư thế bao bọc cho nó khỏi ngã. Hai thiếu nữ ngồi bên cạnh tôi cứ trầm trồ khen ngợi và nựng nịu đứa bé, và luôn tiện cứ nhìn tôi, cười duyên như ngầm thán phục tôi đã cho ra đời một tác phẩm kháu khỉnh là đứa bé. Họ lên xe sau nên không rõ là tôi chỉ giữ dùm con cháu người ta chứ không phải tôi là cha đứa bé. Còn chuyện nựng nịu đứa bé, tôi không quen làm việc đó trước đám đông, và tôi cũng không muốn đánh mất tự nhiên của thằng bé, vì nếu tôi bẹo má hay xoa đầu nó, vô tình tôi nhắc rằng nó đang ở trong vòng tay của một kẻ lạ mặt, ít nói.

Tôi ngồi im lặng quan sátgiữ gìn nó như giữ cho loài hoa mắc cỡ đừng thẹn thùng khép lại những phiến lá nhạy cảm của chúng.

 

Đ

 

Cuộc sống dạy cho chúng ta những suy tư và cảm nghĩ khuôn khổ. Quen thuộcquanh quẩn mãi trong giới hạn đó, chúng ta không còn khả năng để vươn tới một chân trời nào cao rộng hơn, hoặc mất đi ngay cả khuynh hướng muốn đập vỡ những tường vách ngục tù đã giam hãm chúng ta trong cố chấp, hẹp hòi và suy tư cục bộ. Sự tương giao giữa chúng ta với cuộc đời cũng không ra khỏi giới hạn đó. Tương giao ấy chỉ có ý nghĩa như sự hấp thụđào thải kiến thức hay kinh nghiệm của kẻ khác, hoặc là sự giao hợp giữa những cảm quan, hiểu biết để nặn đẻ ra một thai bào mới chẳng khác chi mấy về tính chất. Chúng ta tiến đến chỗ văn minh tột đỉnh của đời sống xã hội bằng con đường cải thiện, chế biến những kiến thức của đời. Cho nên, sự tôn thờ một đối tượng thần linh, con người, hay con đẻ của những thứ ấy—một nền văn minh vật chất hay tinh thần giả hiệu—cũng đều là một căn bệnh. Căn bệnh ấy khiến chúng ta chỉ tạo nên những ước lệ và tập quán trong đầu óc, trong nếp suy nghĩ, cảm tính, để rồi khó chấp nhận những cái gì mới lạ bên ngoài, từ kẻ khác, nhóm khác. Chúng ta thường u mê xác tín rằng cái gì của ta, thuộc về ta đều là hay, là đúng, là cao đẹp; còn của kẻ khác, nhóm khác thì chẳng có nghĩa gì. Kẻ nào có ý nghĩniềm tin trái ngược với chúng ta, ta cho là kẻ ấy lầm đường lạc lối, nếu không quay về với chúng ta thì đáng bỏ đi! Rồi chúng ta trở thành thù nghịch, chống báng, giết hại, bó buộc nhau chỉ để chứng tỏ chân lý của chúng ta. Chúng ta tạo biết bao đau khổ cho kẻ khác chỉ vì muốn họ được hạnh phúc bằng những suy tưởngniềm tin y hệt chúng ta. Chúng ta muốn kéo kẻ khác vào gian phòng bưng bít của chúng ta chỉ để biết những gì ta có trong gian phòng đó. Cuối cùng, chúng ta đã tạo ra những kẻ đối lập, tạo nên nhiều kẻ thù trên cuộc đời. Chúng ta luôn đối diện nhau nhưng thường bị ngăn cách bởi những lý lẽ và quan niệm riêng của chúng ta. Chúng ta đối thoại với nhau bằng cách sắp xếp hay níu kéo, viện dẫn những kiến thức xưa cũ lượm lặt được từ những kẻ có đầu óc y hệt hệ thống tiêu hóa của loài nhai cỏ. Hoặc chúng ta nói với nhau bằng các phương thức: sử dụng những ngôn từ êm ả, ngoa nguỵ để tự vệ hay để áp đảo kẻ khác, chinh phục kẻ khác—mà những thứ này vẫn chỉ là cách nói, kỹ thuật nói chứ không phải là tiếng nói của thương yêu, của sự thật. Càng lớn lên, càng già đi, chúng ta càng bị chôn sâu trong lòng đời man trá và gò ép đó mà không tự hay biết.

Đến với trẻ thơ, chúng ta không cần thiết phải trang bị sẵn những kiến thứcngôn ngữ khuôn sáo. Chúng ta có thể vất bỏ tất cả những thứ vô nghĩa đó và ngồi bên cạnh đứa bé để lắng nghe, để quan sát, để hòa nhập với nó trong những ngạc nhiên và nét ngây thơ thú vị của nó. Nói chuyện với một đứa bé, chúng ta không bị bó buộc bởi những ngôn từ nữa. Nói sao cũng được, hoặc không nói gì cũng được. Cuộc đối thoại sẽ không còn là một cuộc đối thoại nữa, mà là sự hòa nhập trong nhau với tình thương, với sự cao khiết, trong sạch.

 

Đ

 

Chiếc xe lại gào lên với những tiếng rên của một con vật bị thương. Hành khách xầm xì lo lắng xe bị hư giữa đường. Chỉ có đứa bé là thản nhiên, đùa một mình với con mèo nhựa trên tay. Ấy thế mà xe không hư, nó tiếp tục chạy êm ru trên con lộ vừa ngập nắng mai.

Sương tan rồi không khí vẫn còn lành lạnh. Hình như có một cơn mưa bất thường đêm qua ở vùng ngoại ô này nên trên mặt đất đôi chỗ hãy còn đọng nước. Hai bên đường là đồng ruộng xanh ngát. Đâu đó vẫn còn hương thơm ngai ngái của mùa gặt vừa qua. Màu lúa mới kéo tôi về một lúc với những kỷ niệm thôn dã mà tôi đã bỏ lại sau lưng để trở thành một kẻ lang thang lẩn trốn như hôm nay.

Đến một khúc quanh, xe bỗng giảm tốc độ rồi ngừng hẳn. Hành khách chưa hiểu chuyện gì. Tưởng là tài xế ham hố muốn rước thêm một khách chịu khó nào đó để lấp vào cái bậc bước lên bước xuống ở sau xe. Nhưng không phải vậy: xe bị chận lại bởi một tốp người vận thường phục đang chờ sẵn dưới gốc cây phượng bên đường. Một trong những người chận xe nói với tài xế và hành khách:

“Bà con bình tĩnh. Chẳng có gì quan trọng đâu. Chúng tôi là công an tỉnh Đồng Nai muốn làm việc với xe này một chút.”

Vừa dứt lời, anh công an mập mạp tuổi trung niên đó đảo mắt thật nhanh một lượt trong xe rồi nhìn ngay vào tôi, xong đi vòng ra phía sau xe. Tài xế vẫn ngồi trên xe, quay lui nói lớn với hành khách, giọng nhừa nhựa, kéo dài một nỗi chán chường, chịu đựng:

“Bà con xuống xe cho công an kiểm tra đi. Nhanh nhanh chút rồi đi bà con ạ.”

“Khỏi. Chúng tôi chỉ muốn xem giấy tờ tùy thân của các anh thanh niên thôi,” anh công an khi nãy tiếp lời ngay.

Trên xe chỉ có hai người trong lứa thanh niên: một người ngồi ở cuối xe, gần chỗ lên xuống; người còn lại là tôi. Người kia nhanh nhẩu xuống xe. Tôi trao đứa bé lại cho bà cụ ngồi đối diện, rồi lom khom bước xuống theo. Xe chật ních, tôi phải lách mình khó khăn mới lần được xuống đất. Không có chuyện xảy ra thì thôi, nay có chuyện, tôi bỗng thấy, bỗng hiểu tất cả. Sống quen trong một xã hội mà việc bắt bớ tù đày xảy ra hàng ngày, xảy ra khắp nơi, người thường dân trong đó có tôi, tự dưng có được kinh nghiệm và sự bén nhạy để đoán biết việc chận xét chiếc xe này là nhắm vào ai. Chắc chắn phải là tôi, vì nhìn bộ vó chàng thanh niên xuống trước người ta biết ngay anh ta rõ ràng là một công an, bám theo xe, ngồi phía sau để canh chừng tôi. Tại sao tốp người này tự xưng là công an Đồng Nai trên quãng đường còn thuộc địa phận Sài Gòn? Trong chế độ công an trị, những người mặc áo sơ mi trắng, tóc hớt cao, có quyền chặn xe lại và mặc nhiên khám xét, đâu cần phải tự xưng là công an Đồng Nai hay Sài Gòn? Việc tự xưng này rõ ràng là có một sự cố ý nào đó. Và tại sao các xe khác qua lại trên đuờng đều được chạy tự do, chỉ chận duy nhất xe này? Tại sao chỉ muốn xét giấy tờ tùy thân của các anh thanh niên chứ không xét hàng hóa hay các hạng hành khách khác? Đó là các chi tiết cho thấy đã có sự dàn cảnh hay sắp xếp để chặn bắt tôi ngoài đường.

Khi tôi xuống tới đất thì chàng thanh niên kia đã làm xong phận sự trình giấy tờ. Thấy tôi ra khỏi xe, anh công an lúc nãy trờ tới đón ngay. Bảy anh công an khác cũng mặc sơ mi trắng, cùng hướng về phía tôi, vây quanh tôi. Anh công an mập mạp mà tôi nghĩ là có cấp bậc cao nhất trong bọn, nói với tôi mà hai mắt cứ nhìn hai tay tôi, có vẻ như là anh sợ tôi móc dao hay là súng ra—thói quen đề phòng nghề nghiệp của ngành công an tình báo:

“Anh cho xem giấy tờ tùy thân.”

“Tôi không mang giấy tờ gì theo hết.”

“Đi đường mà không mang theo giấy tờ à?”

“Hôm nay chủ nhật, đi chơi chút đâu cần phải mang gíấy!”

“Thế anh tên gì? làm nghề gì? ở đâu?”

“Tôi tên Võ Khánh. Tôi ở quận Bình Thạnh.” Tôi chọn tên Võ Khánh với hai chữ đầu là V, K trùng hợp với tên thật của tôi cho dễ nhớ.

“Võ Khánh hả?” vừa hỏi anh công an vừa cười. Nụ cười của anh làm tăng thêm phần xác quyết trong tôi rằng việc chận xét xe này chính là để bắt tôi chứ không ai khác. Tôi đã bị lộ, bị chỉ điểm, bị theo dõi, ngay từ sáng sớm khi đang trên đường ra bến xe. Tôi biết tôi không thể nào thoát được nữa. Vừa rồi tôi chỉ thử đưa ra một tên giả xem các anh công an phản ứng thế nào. Nếu họ bắt tôi vì tội không có giấy tờ, rồi lại tiếp tục chận bắt những người khác trên đường thì việc bắt bớ này không có gì trầm trọng: không phải là chủ ý bắt tôi, chỉ tại có tật giật mình mà tôi nghĩ lung tung thôi. Nhưng anh công an đã đáp lại cái tên giả của tôi bằng tràng cười hềnh hệch trong khi quay nhìn các đồng chí khác của mình, ý muốn nói với tôi rằng: thôi, chúng tôi biết anh quá rồi mà!

“Chứ không phải anh có cái tên gì nghe hay lắm sao! Cái tên đó cũng từng làm chúng tôi ăn ngủ không yên đó mà!”

Anh ta nói vậy thì tôi có biện hộ, giấu giếm hay chối quanh cũng vô ích. Tôi cười theo:

“Tên tôi quan trọng như vậy sao?”

Anh công an chìa cái lệnh truy nã trước mặt tôi:

“Tên anh nè, phải không? Anh hiểu chúng tôi muốn gì rồi chứ hả?” nói rồi, anh rút tờ giấy lại thật nhanh, xếp tư, bỏ vào túi áo.

Tôi mỉm cười chấp nhận. Tôi không đọc hết được cái lệnh truy nã ấy nhưng cũng thấy loáng thoáng tên tuổi và nghề nghiệp của mình. Cách đây mấy tháng, mấy người bạn từ kinh tế mới về Sài Gòn đã cho tôi biết là công an tỉnh Đồng Nai có lệnh truy nã tôi, ra thông báo cho đồng bào các huyện là ai bắt được hay chỉ chỗ ẩn nấu của tôi cho chính quyền sẽ được thưởng một con bò (phần thưởng hấp dẫn cho người dân quê); sau đó ít lâu, phần thưởng đổi thành năm chục ngàn đồng (tức ngang với ba con bò). Họ đã nắm chắc mọi vấn đề và biết đích xác tôi là ai mới chận chiếc xe lam này. Dù tôi có miệng lưỡi cách mấy cũng không chối cãi được rằng cái tên trong lệnh truy nã chính là tôi. Huống chi, tôi vốn không phải là kẻ có khiếu ăn nói, biện luận đôi co bằng miệng. Tôi im lặng chấp nhận cho họ bắt, và trong một phản ứng vô tình khó hiểu nào đó của một kẻ lâm nạn sắp sửa vào tù, tự dưng tôi quay lại nhìn về hướng chiếc xe lam như muốn vẫy chào giã biệt mọi người. Đám hành khách trên xe trố mắt nhìn tôi. Chàng thanh niên khi nãy là hành khách xuống trình giấy thì bây giờ cũng đứng nhập bọn với tốp công an, có lẽ vì vở kịch đã chấm dứt, không cần thiết phải đóng vai hành khách nữa. Thấy tôi quay lại nhìn về hướng xe, một anh công an nghi ngờ tôi có đồ đạc hay đồng bọn gì trên xe, bèn đến lục soát. Họ cẩn thận cho người đi cùng xe với tôi như vậy mà vẫn chưa thấy yên tâm. Phải xét lại trên xe. Trong khi một anh công an khám xét lại trên xe thì phía này, anh công an chỉ huy cũng bảo tôi đưa hai tay lên khỏi đầu và một người khác bắt đầu lục soát khắp người tôi. Thấy không có gì, họ ra lệnh tài xế xe lam lái đi.

Tốp công an này đều chạy xe hai bánh gắn máy. Anh công an chỉ huy lái chiếc Vespa màu xám tro, dẫn đầu. Một anh chở tôi trên chiếc Honda màu đen loại 90 phân phối, có một người ngồi phía sau tôi ở giữa. Hai bên là hai chiếc Honda khác, mỗi chiếc hai người. Rồi hai người nữa đi chung một chiếc, chạy bọc hậu. Có lẽ họ sợ có người đến giải cứu tôi chứ để đối phó một mình tôi, họ đâu cần phải lo xa quá như vậy. Giả như đi bắt tôi họ chỉ có hai người thôi, tôi cũng bằng lòng đi theo chứ không kháng cự gì. Cái trò cút bắt này đã kéo dài bốn tháng nay rồi. Tôi đã ước mong chấm dứt nó sớm sủa bằng cách đào thoát ra nước ngoài, còn không thì trốn vào một chiến khu nào đó để tiếp tục đấu tranh, hoặc chấp nhận vào tù. Không tìm thấy chiến khu, rồi mấy lần trốn đi vượt biên đều thất bại, tôi đã mệt mỏi, chỉ muốn vào tù cho xong. Giờ thì kết quả đã rõ. Tôi không có ý trốn chạy hay phản kháng gì hết. Tôi chấp nhận bị bắtđi theo họ vào tù.

Thay vì chở thẳng tôi về trại giam T20, họ đưa tôi đến một đồn công an trước mặt ga xe lửa Bình Triệu (thuộc quận Thủ Đức) rồi từ đó mới thuê một chiếc tắc-xi đưa tôi về T20. Họ không còng hay trói tay tôi gì cả, có lẽ vì biết tôi không có vũ khí, không có ý chống cự hay tẩu thoát. Dù vậy, các cửa kính của chiếc tắc-xi được quay lên kín mít. Hai anh công an ngồi kèm tôi ở băng sau; một anh ngồi băng trước với tài xế để hướng dẫn lộ trình xe chạy. Qua cửa kính, tôi thấy loáng thoáng những anh công an còn lại phóng xe gắn máy bám theo. Anh công an chỉ huy vẫn cỡi chiếc Vespa màu xám tro, đi trước.

Sau mười lăm phút chạy vòng vo, xe ngừng lại trước cổng trại giam T20 nằm ở số 4 đường Phan Đăng Lưu, trại giam khét tiếng của Sở công an thành phố Hồ Chí Minh (tức Sài Gòn cũ). Lúc còn ở kinh tế mới, tôi đã từng nghe tiếng trại giam này. Trước đây, đã có nhiều vị tu sĩ nổi tiếng bị bắt giam hoặc bị bức tử trong trại giam đó. Trại nằm bên kia đường, hơi chếch mặt tiền của chợ Bà Chiểu một chút. Nghe nói trại này chỉ giam giữ những tội phạm chính trị, thỉnh thoảng cũng có giam một số tội phạm kinh tế và vượt biên nhưng chỉ tạm giam một thời gian để lấy cung rồi các tội phạm loại này cũng theo các tù nhân hình sự để vào trại giam Chí Hòa hay các trại giam khác của thành phố.

Anh công an chỉ huy đưa tay ra lệnh cho người gác cổng mở rộng hai cánh cửa sắt lớn có tôn che kín, rồi ra dấu cho xe tắc xi chạy luôn vào sân trại. Họ mở cửa cho tôi bước xuống, đưa tôi vào đứng chờ ở một góc tường, gần lối ra vào của các dãy buồng giam. Anh công an chỉ huy vào trong lo thủ tục gì đó. Tôi được tự do đứng lại chờ đợi nơi góc sân. Bấy giờ ở giữa sân có một toán công an bận quần đùi áo thun đang chơi bóng chuyền. Lúc xe mới vào đã thấy họ trố mắt nhìn, có vẻ ngạc nhiên khi có tù nhân mới vào trong ngày chủ nhật như sáng nay. Họ hỏi chuyện với những anh công an đi bắt tôi, rồi xầm xì to nhỏ với nhau, đi qua đi lại gần chỗ tôi đứng để ngắm nghía tôi như muốn xem tận mắt một vật lạ.

Tôi đứng im, nhìn đám mây qua bầu trời quang đãng. Trong bốn tháng vừa qua, đây là lần đầu tiên tôi thấy tâm hồn mình lắng đọng, bình thản, vô sự. Niềm an lạc này, hay cái tâm bình thản này hình như đã được kéo dài từ vài ngày trước, và bừng tỏa lên một cách tràn đầy lúc tôi ngồi với đứa bé trên xe lam. Bây giờ, trong vài phút cuối cùng đứng nơi sân trại giam, tôi có cảm giác là mình bắt đầu khép lại cuộc dong ruỗi lâu nay để tĩnh tu trong một tịnh thất; hoặc gần như là tôi đã tự nguyện bước vào những ngày khổ tu để trau luyện tâm đức.

Viên tài xế tắc-xi già nãy giờ run lập cập, mặt mày xanh mét, bây giờ đang mừng rỡ lui xe ra ngoài, hình như ông không dám lấy tiền thù lao của mấy ông công an. Chiếc xe vừa ra khỏi là anh công an gác cho khép cổng lại ngay. Qua khoảng hở nhỏ dần giữa hai cánh cổng sắt, tôi nhìn thấy xe cộ bên ngoài vẫn rộn rịp. Những khách bộ hành qua lại cúi gằm đầu xuống, hoặc bước thật nhanh, chẳng dám nhìn vào bên trong trại giam như thể sợ bị liên lụy. 

 

Đ

 

Thời thế bây giờ nghĩ cũng tức cười. Những người thành thị thì về thôn quê hay đi vùng kinh tế mới để thử nghiệm sức lao động tay chân của mình, trong khi đó những người ở thôn quê hay trong rừng mới ra thì lại về thành phố để đảm đương công việc hành chánh từ cấp thượng tầng đến cơ sở địa phương. Sự hoán chuyển vai tròchức năng xã hội này kể ra cũng đem lại khá nhiều kết quả ở phía thôn quê: những người trí thức thành thị, những người bị chế độ mới đặt cho cái tên gọi chung chung là ngụy quânngụy quyền, đã đem sở học của mình áp dụng vào đời sống thôn dã, khiến cho việc làm vốn nặng nề cực nhọc của thôn quê được nhẹ đi phần nào. Dù có kẻ mà kiến thức của họ không dính nhập gì được với đời sống nông thôn thì cũng học được cách làm việc lao động chân tay một cách nhanh chóng. Lao động có khó khăn gì, chỉ là tập cho tay chân được quen thuộc và có kinh nghiệm trong những động tác sử dụng và điều khiển vật dụng thôi! Coi mùa màng, thời tiết, chọn giống, trồng tỉa v.v… cũng chẳng phải chuyện to lớn. Chịu khó để ý là được. Kiến thức phổ thông còn cho những tay nhà nông bất đắc dĩ này biết nhiều điều thú vị khác mà anh nông dân thuần túy không sao hiểu nổi (chẳng hạn chuyện đơn giản là tại sao và khi nào có mây, có mưa, có sấm chớp v.v…). Những người có máu buôn bán đã nghĩ ra cách mở tiệm, mở sạp, lập chợ, tạo cơ hội cho dân địa phương trao đổi thức ănvật dụng cần thiết mà thôn quê không sao có được hoặc không hề nghĩ đến. Còn các sinh viên và chuyên viên nông lâm súc thì thôi, mặc sức! Lâu nay cái biết cũng chỉ trong sách vở, nay có dịp đi vào thực tiễn ngành nghề chuyên môn của mình. Các kỹ sư cơ khí cũng đóng góp các công trình mà đối với quần chúng nông thôn, hay ngay cả tầng lớp lãnh đạo thành phố cũng phải công nhậnsiêu đẳng (chẳng hạn như ông anh rể của tôi, một ngụy quân, sĩ quan không quân, kỹ sư cơ khí, chuyên sửa máy bay, lên kinh tế mới bỗng nảy sáng kiến tự chế ra cái máy lột (vỏ), xắc và bào khoai mì. Sau này, ở thành phố biết được, bèn triệu anh về thuyết trình cho các chuyên viên cơ khí xã hội chủ nghĩa về cái máy tân kỳ mà anh sáng chế. Anh còn được mời làm cố vấn cho một nhóm kỹ sư xã hội chủ nghĩa lắp ráp thí nghiệm một cái máy cải tiến với sự cung cấp các nhu dụng cơ khí một cách tận lực của một xí nghiệp quốc doanh cơ khí thành phố. Sau đó, công trình đóng góp của anh được người ta trầm trồ khen ngợi vài ngày. Rồi sau đó nữa, dù có khả năng, dù có đóng góp một công trinh thiết thực cho xã hội, anh vẫn cứ là ngụy quân. Anh được về thành phố, khỏi trở lên kinh tế mới. Nhưng nếu biết khôn thì im lặng khi thấy báo đăng “nhờ tài lãnh đạo sáng suốt của đảng, một nhóm chuyên viên cơ khí ở Hà-nội có sáng kiến chế tạo một chiếc máy xay xát khoai mì củ rất tiện lợi”! Chẳng có bằng phát minh hay giấy tờ chứng nhận rằng cái máy đó là do anh chế tạo ra cả).

Cho tới các văn nhân, thi sĩ, các nhà tu, các nhà xã hội làm việc từ thiện, các nhà chính trị v.v… không hẹn mà cùng kéo về thôn dã để vui vầy với thiên nhiên, để hành đạo, để ẩn tích mai danh, để phục vụ đồng bào nghèo khổ, hoặc âm thầm hoạt động chờ cơ hội nổi dậy chống lại chế độ mới. Đây là giai đoạn trí óc họ được nghỉ ngơi. Họ xăn tay làm việc nặng nhọc của nông gia, của thợ rừng… Họ học việc nhanh chóng và hoa lợi họ thu hoạch được e còn vượt trội hơn các nông gia thực thụ. Họ góp phần làm cho cuộc sống nông thôn trở nên màu mỡ, phong phú hơn về mặt đất đai cũng như về đời sống tinh thần. Tóm lại, những tinh hoa của đất nước vì bị bỏ rơi, bị xua đuổi, đã không còn cơ hội để đóng góp đúng mức tài năng của mình. Nhưng sự có mặt của họ ở nông thôn cũng đã cải thiện phần nào cuộc sống vốn dĩ cơ cực và buồn tẻ nơi đây.

Nhìn sang phía các nhà nông về thành phố cầm quyền, người ta thấy rằng quả thực đất nước đã đi vào một ngõ cụt tối tăm, không chút ánh sáng hy vọng nào ngay từ khởi thủy. Giá trị và nhân cách của con người trong xã hội dĩ nhiên không thể chỉ đánh giá từ nơi bằng cấp và sở học của người ấy, vì đời sống còn có nhiều mặt khác cũng quan trọng không kém. Nhưng khi lực lượng trí thức tinh hoa của dân tộc bị đẩy lùi xuống hàng thứ yếu, hoặc tệ hơn, bị xóa tên trong sinh hoạt xã hội, thì nguy cơ lụn bại của một quốc gia đã có thể thấy rõ rồi vậy. Việc chấp chính không đơn giản như chuyện làm rẫy hay đốn cây rừng, làm lò than. Người ta có thể học làm nông từ lúc gieo mạ đến lúc gặt trong vòng ba hay bốn tháng. Vừa học việc vừa áp dụng luôn một lúc. Mùa đầu tiên, hoa lợi có thể kém vì cấy trễ hoặc vì chọn nhầm giống xấu, hoặc không biết cách trừ sâu rầy, hoặc chưa có kinh nghiệm bón phân, giữ nước và tháo nước trong ruộng. Nhưng cũng thu hoạch được lúa để ăn, không đến nỗi đói. Qua mùa thứ hai đã được coi là có kinh nghiệm, hoặc tệ lắm thì cứ làm theo bác nông phu thực thụ trong thôn làng thì thế nào cũng thành công. Còn việc chấp chính (dù là ở hạ tầng cơ sở, thôn quê hay thị thành) thì không dễ như vậy. Một chính sách sai lầm, một quyết định thiếu hiểu biết và thiếu kinh nghiệm, có thể giết chết một làng xã, một dân tộc hoặc lưu hại đến nhiều thế hệ sau.

Vậy mà đất nước này, từ mười năm nay, sau khi những cộng quân miền Bắc chiếm trọn miền Nam, đã hoàn toàn được phó thác cho những người thiếu học và không có kinh nghiệm lãnh đạo quốc gia. Dĩ nhiên người ta không thể phủ nhận sự hiện diện của lực lượng trí thức ở nửa phần đất phía Bắc, nhưng có thể nói rằng, lớp trí thức đúng nghĩa của miền Bắc là thiểu số già nua còn sót lại của thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ kháng chiến (mà thành phần này chỉ có mặt, chỉ tồn tại trong xã hội là để phục tùng chính quyền chứ không thực sự đóng góp được gì theo đúng khả năng và quan điểm của họ trong việc xây dựng đất nước; hiện diện theo cách đó thì có cần phải đếm kể không?). Còn lớp trẻ hiện nay của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đựơc đào tạo một chiều trong khuôn mẫu duy vật Mác-xít nhằm phục vụcủng cố thế lực của bè đảng cầm quyền thì liệu rằng họ có thể được gọi là trí thức hay chăng? Xua quân vào chiếm miền Nam, người cộng sản lại tiếp tục đào tạo, nhào nắn thêm một đám con em của những người cộng sản nằm vùng, rập theo cái khuôn của họ từ mấy chục năm trước ở miền Bắc. Đám con em mới lớn đó hăm hở, hãnh diện với nguồn gốc xuất thân của mình, nhảy ra nắm quyền với trình độ lớp ba, lớp bốn của các lớp bổ túc văn hóa cấp tốc–ba tháng nhảy một lớp. Cầm quyền dưới chế độ cộng sản có khó khăn gì, ngoài bằng cấp hay giấy chứng nhận học xong tiểu hay trung học, chỉ cần gia đình có một người có chút công trạng gì đó với chính quyền cách mạng (đại loại như giao liên, tố giác chỉ điểm địch quân, gài mìn phá cầu, đốt xe jeep quân đội Mỹ hay quốc gia…) rồi khai thêm là nhiều đời họ hàng xuất thân con nhà nghèo, bần cố nông (vô sản càng tốt), có ông nội làm dân gánh nước thuê, có cha làm thợ hớt tóc hay đánh giày vân vân… thì chắc chắnquyền lựcquyền lợi sẽ tới tay. Từ hạ tầng, trung tầng cho đến thượng tầng cũng được thành lập và tuyển chọn cấp lãnh đạo đại khái cũng một cách như thế, tức là chỉ dựa vào lý lịch, vào công trạng của đương sự và gia tộc đối với Đảng Cộng Sản.

Nói như vậy không có nghĩa rằng tôi đã lạc quan tin tưởng vào giới trí thức gọi chung là trí thức miền Nam Việt Nam. Tôi không tin rằng hễ cứ lấy được một cái bằng cử nhân, cao học hay tiến sĩ của một ngành nào đó thì sẽ trở thành trí thức. Tôi cũng không tin rằng hễ cứ thông được vài thứ ngoại ngữ để đọc sách báo hoặc làm thông ngôn cho Pháp, cho Mỹ, cho Nhật… thì sẽ là trí thức. Tôi cũng không tin rằng lối giáo dục đào tạo chuyên viên theo kiểu Mỹ—tức là chỉ nhào nặn ra được những cái máy người biết mỗi một việc chuyên môn trong ngành nghề của mình—có thể sản sinh ra được những nhà trí thức đúng nghĩa... Tôi chỉ tin rằng trong hoàn cảnh tương đối tự do hơn ở miền Nam Việt Nam, người dân có nhiều cơ hội để mở rộng tầm nhãn quan của mình ra với thế giới bên ngoài mà tiếp thu và chắt lọc được tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chỉ ở cái cơ hội tốt đẹp đó người ta mới có thể tin tưởng rằng ít nhất cũng đã có một số lượng trí thức nào đó phát sinh tại phần đất phía Nam để đảm nhận vai trò xây dựng đất nước. Họ đã có cơ hội để được có mặt. Có điều là họ chưa có cơ hội để đóng góp thực sự cho đất nước mà thôi.

Ở hai chế độ cộng hòa của miền Nam Việt Nam, giới trí thức đúng nghĩa không được sử dụng đúng chỗ (nếu không nói là chỉ hiện diện như những cây kiểng để tô điểm cho bộ mặt văn hóa của quốc gia). Người ta vẫn thấy sự tương đồng buồn cười nào đó giữa hai chế độ cộng hòa này với chế độ xã hội chủ nghĩa của miền Bắc: hễ là con cháu, thân tộc hoặc biết xu phụ nhà cầm quyền thì thế nào cũng có được chức quyền để lèo lái đất nước. Như vậy, giới trí thức thực sự của Việt Nam ở đâu? Rõ ràng là họ có đó, ở miền Nam lẫn miền Bắc, mà cũng như không. Các nhà cầm quyền không cần họ nếu không nói là sợ, hoặc thù ghét họ.

Khi đất nước thống nhất trên mặt địa lý và pháp lý (cưỡng bức), giới trí thức miền Nam cũng lâm vào một hoàn cảnh y hệt như giới trí thức miền Bắc trước đây. Họ giống như những trái chín trong một vườn cây có rào, không ai ăn được. Trái cây chỉ được hái xuống bởi chủ nhân khoảnh vườn, và hái xuống để làm gì thì cũng tùy theo ý thích của chủ nhân ấy mà thôi.

Một khi quốc gia trong thời hiện tại, được điều hành theo lề lối thô sơ và dựa vào cảm tính của chế độ làng xã địa phương cổ truyền thì đất nước vẫn có khả năng tồn tại đấy (dù là tồn tại một cách què quặt, dật dờ, bệnh hoạn), nhưng sự chậm tiến (nếu không nói là lạc hậu) chắc chắn sẽ xảy ra. Mà ở bất cứ thời đại nào, nhất là thời đại văn minh ngày nay, đi lùi hoặc dậm chân một chỗ, có nghĩa là tự hủy diệt.

Như nhiều công dân khác của đất nước, tôi không muốn nhìn thấy sự hủy diệt đó. Tôi kịch liệt chống lại chính quyền, đòi hỏi một tương lai sáng sủa hơn cho đất nước. Tôi thất bại. Tôi lẩn trốn. Tôi mệt mỏi. Và hôm nay, tôi vào tù.

 

 

Tạo bài viết
30/09/2012(Xem: 6265)
30/08/2014(Xem: 2822)
01/10/2013(Xem: 4033)
01/10/2013(Xem: 2645)
27/09/2015(Xem: 1991)
23/09/2018(Xem: 944)
25/09/2014(Xem: 4111)
01/10/2013(Xem: 4403)
30/06/2015(Xem: 2424)
20/10/2018(Xem: 1280)
21/11/2015(Xem: 2849)
24/01/2015(Xem: 2525)
06/03/2015(Xem: 5248)
31/12/2016(Xem: 2632)
28/05/2014(Xem: 5898)
Tác phẩm 'Phật tử cầu nguyện' của nhiếp ảnh gia Trần Tuấn Việt vào top 70 hình ảnh xuất sắc nhất 2018 của tạp chí danh tiếng National Geographic (Mỹ). "Bức ảnh Phật tử nguyện cầu cho thấy các Phật tử bắt đầu cầu nguyện khi mặt trời lặn trên đường chân trời, kéo dài trong ba giờ. Ánh sáng nến lung linh, huyền ảo làm cho buổi cầu nguyện thật thiêng liêng và ấm áp"
Biến đổi khí hậu không phải là mối quan tâm của chỉ một hoặc hai quốc gia. Đó là một vấn đề ảnh hưởng đến tất cả nhân loại và mọi sinh vật trên trái đất này. Nơi tuyệt đẹp này là ngôi nhà duy nhất của chúng ta. Chúng ta phải hành động nghiêm túc ngay bây giờ để bảo vệ môi trường của chúng ta và tìm ra các giải pháp xây dựng đối với việc nóng lên toàn cầu".