Vài Nét Tiểu Sử của Thrangu Rinpoche & Thuật ngữ

23/07/20149:15 SA(Xem: 1903)
Vài Nét Tiểu Sử của Thrangu Rinpoche & Thuật ngữ
Khenchen Thrangu Rinpoche
Đỗ Đình Đồng dịch
TÁNH KHÔNG
TRONG TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
hay
SHENTONG & RANGTONG
Hai Cái Thấy về Tánh Không

Vài Nét Tiểu Sử của Thrangu Rinpoche
& Thuật Ngữ

blankThrangu Rinpoche sinh năm 1933 ở Kham, Tây tạng. Lúc năm tuổi sư đã được đức Karmapa thứ Mười Sáu và Situ Rinpoche tiền nhiệm chính thức thừa nhận là nhục thân của đại Thrangu tulku. Khi nhập vào tự viện Thrangu, từ năm bảy tuổi đến năm mười sáu tuổi, sư đã học đọc, viết, ngữ pháp, thi ca, và chiêm tinh học, đã nhớ thuộc lòng những bản văn nghi thức, và hoàn thành hai khóa ẩn tu dự bị. Vào năm mười sáu tuổi, dưới sự hướng dẫn của Khenpo Lodro Rabsel, sư bắt đầu nghiên cứu ba thừa của Phật giáo trong khi ở lại nơi ẩn tu. Vào năm hai mươi ba tuổi, sư thọ cụ túc giới từ đức Karmapa thứ Mười Sáu.

Vào lúc quân đội Trung quốc nắm lấy chính quyền của Tây tạng, khi sư hai mươi bảy tuổi, Rinpoche đã rời bỏ Tây tạng sang Ấn độ. Sư được gọi đến Rumtek, Sikkim, nơi đức Karmapa có chỗ trú trong cuộc lưu vong. Vào năm ba mươi lăm tuổi, sư dự thi lấy bằng geshe trước 1.500 tăng chúng và nhận được bằng Geshe Lharampa [học vị cao nhất của mật giáo]. Trên đường trở về Rumtek, sư được bổ nhiệm làm Viện trưởng của tu viện Rumtek và Học viện Nalandā cho những Nghiên cứu Cao đẳng Phật học. Sư là thầy riêng của bốn tulku (hóa thân) chính của phái Karma Kagyu: Shamar Rinpoche, Situ Rinpoche, Jamgon Kongtrul Rinpoche, và Gyaltsab Rinpoche và gần đây hơn, Karmapa thứ 17.

Thrangu Rinpoche đã du hành rộng rãi khắp châu Âu, Bắc Mỹ, và Viễn Đông. Vào năm 1994, sư đã sống nhiều tháng ở Tây tạng, tại tự viện của sư nơi sư đã làm lễ thọ giới cho hơn 100 tăng ni và cũng đã viếng nhiều tự viện. Ở Nepal, Rinpoche đã sáng lập Thrangu Tashi Choling ở Bhodanath cho trẻ em và những tăng nhân trẻ. Sư cũng đã xây dựng Tara Abbey cống hiến sự giáo dục đầy đủ về pháp cho ni giớihoàn thành một tự viện đẹp ở Sarnath, Ấn độ. Ở Bắc Mỹ, Rinpoche có những trung tâm ở Vancouver, Toronto, Colorado, Maine, và California.

Muốn có thêm tin tức về những hoạt động và các trung tâm của Thrangu Rinpoche, mời viếng website của sư: www.rinpoche.com.

Thuật Ngữ

A-tì-đạt-ma (Phạn: Abhidharma): Giáo lý Phật giáo thường được chia làm ba tạng: Kinh (Sutra: những lời dạy của đức Phật), Luật (Vinaya: những lời dạy về cách hành xử), và A-tì-đạt-ma, hay thường gọi là Luận, là những giáo lý phân loại các pháp (hiện tượng) thành thể loại và phạm trù.

Ba phương diện (Anh: three spheres): Đây là sự tương tác giữa các đối tượng ở bình diện qui ước với một phương diện là người cho, một phương diện là người nhận, và một phương diện là vật thọ nhận.

Ba tự tánh: Các tánh này là các tánh tưởng tượng chấp giữ (Phạn: parikalpita: biến kế sở chấp tánh), tánh tùy thuộc phát khởi (Phạn: paratantra: y tha khởi tánh), và tánh hoàn hảo tròn đầy (Phạn: parinishpana: viên thành thật tánh).

Ba Thân (Phạn: Trikāya): Có ba thân Phật: hóa thân (nirmānakāya), báo thân (sambhogakāya), và pháp thân (dharmakāya). Pháp thân cũng gọi là “chân thân,” là sự giác ngộ viên mãn hay trí tuệ viên mãn của đức Phật là trí bất sinh ở bên kia sắc tướng biểu hiện nơi báo thânhóa thân. Báo thân, hay “thọ dụng thân,” chỉ biểu hiện nơi các vị bồ-tát. Hóa thân, hay “sinh thân,” biểu hiện nơi thế gian với người bình thường và trong văn mạch này được hiểu như là đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni.

Ba thừa: Ba thừa này là ba mức độ tu tập như được miêu tả trong Phật giáo Tây tạng. Tiểu thừa nhấn mạnh Bốn Diệu đếsự giải thoát cá nhân khỏi đau khổ. Đại thừa nhấn mạnh cái thấy tánh không của thế giới hiện tượng. Mức thứ ba là Kim Cương thừa nhấn mạnh sự đạt giác ngộ dùng các phương pháp tu tập như quán tưởng bổn tôn (yidam).

Báo thân (Phạn: Sambhogakāya): Thân thứ nhì trong ba thân của Phật, “thọ dụng thân” hay báo thân, một cảnh giới chỉ hiển hiện với bồ-tát. Xem Ba thân.

Bích-chi-phật hay Độc-giác-phật (Phạn: pratyekabuddha): Nghĩa đen “tự thành phật.” Một hành giả của thừa Nền tảng giác ngộ không dựa vào một giáo lý nào trong lần hiện hữu cuối cùng của mình.

Bồ-đề (tâm) (Phạn: bodhichitta): nghĩa đen là “tâm giác ngộ.” Có hai loại bồ-đề tâm: bồ-đề tâm tuyệt đốitâm giác ngộ viên mãn thấy tánh không của các pháp, và bồ-đề tâm tương đối, là nguyện vọng tu tập sáu ba-la-mật (lục độ) va giải thoát tất cả chúng sinh khỏi sự đau khổ của luân hồi.

Bồ-tát (Phạn: bodhisattva): Nghĩa đen là “một người hiển hiện tâm giác ngộ.” Một cá nhân cam kết với con đường Đại thừa tu tập bi tâm và sáu ba-la-mật để đạt Phật quảgiải thoát tất cả chúng sinh khỏi luân hồi. Cụ thể hơn, những người với động cơ muốn đạt được sự giải thoát khỏi luân hồi, đang ở một trong mười địa của bồ-tát kết thúctuyệt đỉnh Phật quả.

Bồ-tát địa (Phạn: bhūmi, nghĩa đen, “nền đất”): Các địa hay giai đoạn mà một bồ-tát đi qua để đạt giác ngộ. Đây gồm có mười địa theo truyền thống kinh và mười ba địa theo truyền thống mật điển.

Bon (Từ Tây tạng, phát âm là “pon”): Đây là tôn giáo của Tây tạng trước khi Phật giáo du nhập Tây tạng. Tôn giáo này vẫn còn được tu tậpTây tạng. Tín đồ của tôn giáo này gọi là Bonpo.

Chakrasamvara: Một trong năm phép tu chính của dòng Kagyu. Thần Yi-đam (Bổn tôn) này là một heruka của gia đình hoa sen (hay Phật A-di-đà) và đóng vai trò quan trọng trong sáu Yoga của Naropa. Bốn vị Yi-đam khác là Maha-yama, Vajabhairava, Guhyasamaja, và Hevajra.

Changkya Rolpai Dorje: Karmapa thứ Tư và là thầy của Hoàng đế Trung hoa vào năm 1786.

Chân lý qui ước hay tục đế (Tạng.: kunsop): Có hai chân lý hay bình diện thực tại: chân lý tương đối hay qui ước (tục đế) và chân lý tuyệt đối hay tối hậu (chân đế). Chân lý tương đối là sự nhận thức của một người thường (không giác ngộ) thấy thế giới với tất cả những phóng tưởng dựa trên niềm tin sai nơi ngã của y.

Chân tánh của các pháp (Phạn: dharmadhātu, Hán dịch: pháp giới): Không gian bao hàm tất cả, vô thủy vô chung, từ đó phát sinh tất cả các pháp. Từ tiếng Phạn có nghĩa là “tự tánh của các pháp” nhưng thường ám chỉ tánh không, là tự tánh của các pháp.

Di Lặc (Phạn: Maitreya): Trong sách này, Bồ-tát Di Lặc sống vào thời đức Phật. Di Lặc hiện đang ở cõi trời Đâu-suất thanh tịnh cho đến khi ngài trở thành vị Phật kế tiếp trong đại kiếp này.

Đại ấn hay Đại thủ ấn (Phạn: Mahāmudrā): Nghĩa đen là “cái ấn lớn” tức là tất cả mọi hiện tượng (pháp) đều có dấu ấn của chân tánh toàn hảo bản nguyên. Phương thức thiền định này truy dấu trở về đến Sahara (thế kỷ thứ 10) và đã được truyền xuống trong trường phái Kagyu qua Marpa. Sự truyền thừa thiền định này nhấn mạnh nhận thức tâm một cách trực tiếp hơn là qua phân tích.

Đại thừa (Phạn: Mahāyāna): Nghĩa đen là “cái xe lớn.” Đây là những giáo lý của cuộc chuyển pháp luân thứ nhì, nhấn mạnh tánh không, bi tâm, và Phật tánh.

Đạo ca (Phạn: dohā): Một bài ca tôn giáo hình thành một cách tự phát của một hành giả Kim Cương thừa diễn tả kinh nghiệm chứng ngộ (Chứng đạo ca).

Đâu-suất (Phạn: Tushita): Một tịnh địa nơi đức Phật lịch sử cư ngụ trước khi xuống trần để dạy và là nơi Phật Di Lặc đang cư ngụ. Nó cũng là một cõi trời trong các cõi dục.

Đoạn diệt (chủ thuyết): Một quan điểm cực đoan (chủ trương rằng mọi sự vật đều chẳng có nghĩa gì cả) và chết chấm dứt mọi sự việc. Do đó, không có lý do gì để dấn thân vào những hành động tích cực trong đời này hay cố gắng để giác ngộ.

Giai đoạn phát sinh: Cũng gọi là giai đoạn phát triển. Trong Kim Cương thừa có hai giai đoạn thiền định: giai đoạn phát sinh và giai đoạn thành tựu. Giai đoạn phát sinh liên hệ với quán tưởngchiêm nghiệm các vị thần vì mục đích chứng ngộ tính thanh tịnh của tất cả các pháp. Ở giai đoạn này sự quán tưởng hình tượng thần được thiết lậpduy trì.

Giáo lý quyết định: những lời dạy của đức Phật ban cho nghĩa trực tiếp của pháp và không bị thay đổi hay đơn giản hóa vì khả năng của người nghe. Nghĩa này trái ngược với nghĩa tạm thời.

Giáo lý tạm thời (quyền giáo): Những lời dạy của đức Phật được đơn giản hóa hay biến đổi cho hợp với khả năng của người nghe, trái với những giáo lý có nghĩa quyết định.

Hóa thân (Phạn: nirmānakāya, Tạng: tulku): Có ba thân Phật: hóa thân biểu hiện trong thế giới vật lý và trong văn mạch này nó biểu hiện như là Phật Thích-ca Mâu-ni.

Jamgon Kongtrul (1813-1899): Còn có tên là Lodro Thaye. Sư được bết đến nhiều nhất vì tạo nên phong trào rimay hay không bộ phái, một phong trào chiết trung bảo trì ngay cả những dòng truyền tu tập khác nhau đang ở bờ mép diệt vong. Sư cũng là một tác giả phong phú và đã viết chín mươi tập sách.

Kadampa (Tạng): Một trong những trường phái xuất hiện sớm ở Tây tạng, do Atisha (993-1054) sáng lập.

Kagyu (Tạng): Một trong bốn trường phái chính của Phật giáo Tây tạng, do Marpa sáng lập. Ba trường phái kia là Nyingma, Sakya, và Gelupa.

Kangyur (Tạng): Kết tập Tạng ngữ khoảng 104 tập chứa những lời dạy của đức Phật (Kinh tạng). Đại kết tập kia là Tengyur, một kết tập các luận về những lời dạy của đức Phật (Luận tạng).

Kim cương (Phạn: vajra): “Vajra” thường được dịch là “như kim cương” hay “bất hoại.” Đây có thể là một khí cụ cầm tay (chày kim cương) trong các nghi lễ Kim Cương thừa, hay nó có thể ám chỉ phẩm chất rất thanh tịnh và rất bền chắc như kim cương.

Kim Cương Thủ (Phạn: Vajrapani): Một vị bồ-tát lớn được cho là chủ tể của của chơn ngôn và là một hộ pháp chính của Phật giáo Tây tạng.

Kim Cương thừa (Phạn: Vajrayāna): Có ba truyền thống lớn của Phật giáo (Tiểu thừa, Đại thừa, và Kim Cương thừa). Kim Cương thừa đặt nền tảng trên mật điểnnhấn mạnh hình thái trong sáng của các pháp.

Kinh (Phạn: sūtra): Đây là những bản văn Tiểu thừaĐại thừa, là những lời của đức Phật. Thường đối lại với mật điển (tantra).

Liên Hoa Sanh (Phạn: Padmasambhava, Tạng: Guru Rinpoche): Một bậc đại thành tựu Ấn độ được vua Trisong Detsen mời đến Tây tạng vào thế kỷ thứ tám. Sư được biết đến vì đã đưa Phật giáo vào Tây tạng và bình định những thế lực phi Phật giáo ở đó. Sư cũng là người sáng lập dòng truyền Nyingma (Cổ mật).

Long Thọ (Phạn: Nāgārjuna): Một học giả Ấn độ vào thế kỷ thứ hai đã sáng lập trường phái triết học Trung quán.

Luân hồi hay sanh tử (Phạn: saṃsāra): sự hiện hữu của đời sống bình thường theo nhân duyên trong đó đau khổ xảy ra bởi vì người ta vẫn có những cảm xúc phiền não. Đối lại với niết-bàn (nirvāna).

Luận (Phạn: shāstra): Giáo lý Phật giáo được chia thành kinh (sutra) gồm những lời dạy của đức Phật và những luận giải của các bậc sư về những lời Phật dạy.

Luật tạng (Phạn: Vinaya): Có ba phân bộ chính của các giáo lý Phật giáo ở mức Nền tảng: Kinh (sūtra: những lời dạy của đức Phật), Luật (Vinaya: các giới luậtthệ nguyện), và Luận (Abhidharma: sự xếp loại các yếu tố vật lýtâm lý).

Marpa (1012-1097): Một người Tây tạng đã ba lần sang Ấn độ và mang về nhiều bản văn mật điển, gồm có Sáu Yoga của Naropa, Guhyasamaya, và các phép tu Chakrasamvara. Vị thầy chính của ông là Naropa và ông đã sáng lập dòng truyền Kagyu ở Tây tạng.

Mật điển (Phạn: tantra): Phật giáo Tây tạng chia thành truyền thống kinh và truyền thống mật điển. Truyền thống kinh chủ yếu tham dự vào sự nghiên cứu các bản văn Tiểu thừaĐại thừa. Con đường mật điển chủ yếu tham dự vào vào những phép tu Kim Cương thừa. Các mật điển chủ yếu là những bản văn của những phép tu này.

Mikyo Dorje (1507-1554): Karmapa thứ Tám.

Milarepa (1040-1123): Milarepa là đệ tử của Marpa, đã đạt giác ngộ trong chỉ một đời. Đệ tử của ngài là Gampopa sáng lập dòng truyền Kagyu.

Na-lan-đà (Phạn: Nalandā): Đại học Phật giáo lớn nhất ở Ấn độ từ thế kỷ thứ năm đến thế kỷ thứ mười, nằm gần Rajgir hiện nay, là trung tâm giáo lý Đại thừa; nhiều học giả vĩ đại của Phật giáo đã học ở đó.

Naropa (956-1040): Một bậc sư Ấn độ được biết đến nhiều nhất vì đã truyền nhiều giáo lý Kim Cương thừa cho Marpa.

Năm gia đình Phật (Ngũ Trí Như Lai): Năm vị Phật hóa thân tiêu biểu của năm trí giác ngộ. Năm gia đình đó là gia đình Phật Đại Nhật (Vairochana) tiêu biểu cho trí pháp giới (dharmadhātu) (pháp giới thể tính trí), Phật Bất Động (Akshobhya) của gia đình kim cương tiêu biểu cho trí như gương (đại viên cảnh trí), Phật Bảo Sanh (Ratnasambhava) của gia đình trân châu tiêu biểu cho trí bình đẳng (bình đẳng tánh trí), Phật A-di-đà (Amitābha) của gia đình hoa sen tượng trưng cho trí phân biệt (diệu quán sát trí), và Phật Bất Không Thành Tựu (Amoghasiddhi) của gia đình hành động (karma) tiêu biểu cho trí thành tựu tất cả (thành sở tác trí).

Niết-bàn (Phạn: nirvāna): Nghĩa đen là “tịch diệt.” Với sự tu tập tâm linh, cá nhânthể đạt cảnh giới giác ngộ trong đó tất cả những ý niệm sai lầmcảm xúc mâu thuẫn đều bị diệt. Đây gọi là niết-bàn.

Ngã (Phạn: ātman): Từ chỉ cái “ngã” thường hằng tiếp tục hiện hữu ngay cả sau khi chết. Điều này được đa số các trường phái Ấn độ giáo chủ trương, nhưng bị các trường phái Phật giáo bác bỏ.

Nguyệt Xứng (Phạn: Chandrakīrti): Một học giả Phật giáo Ấn độ thuộc kỷ thứ 7 của trường phái Trung đạo, người được biết đến nhiều nhất vì sự ủng hộ của sư đối với truyền thống Prāsangika minh xác tánh không bằng cách dùng phương pháp luận lý học reductio ad absurdum (qui kết phi lý). Sư viết hai luận chính – Prasannapadā (Căn bản Trung Quán Chú Minh Ngữ) và Mādhyamaka-vatara (Nhập Trung Đạo hay Nhập Trung Luận).

Nhất thiết hữu bộ (Phạn: Sarvāstivāda): Một trường phái Tiểu thừa tách khỏi Thượng tọa bộ (Phạn: Theravāda) vào thế kỷ thứ ba trước K.N.. Cái tên có nghĩa đen là trường phái “tin mọi sự vật đều hiện hữu” và tin rằng mọi sự vật có thể giảm thiểu thành vi trần (atoms), (thực tế là 75 pháp hay dharmas) và những vi trần này tạo thành những vật thể thực sự hiện hữu. Những pháp (dharmas) này về sau được trường phái Tì-bà-sa (Vaibhāsika) thâu hóa.

Như Lai tạng (Phạn: tathāgata-garbha): Nghĩa đen, “bản tánh của như lai,” dịch sang tiếng Anh là “Buddha-nature” hay “Buddha-essence” tức Phật tánh hay Tự tánh Phật.

Những chỉ dạy bằng miệng (Tạng: man ngak): Đôi khi được gọi là những chỉ dạy tinh yếu hay cốt lõi [khẩu quyết]. Những chỉ dạy này được truyền từ đạo sư sang đệ tử liên quan đến sự thiền định về bản tánh của tâm. Trong khi một số các chỉ dạy này cũng được viết xuống, thì đa số được truyền miệng.

Patrul Rinpoche (1808-1887): Một bậc sư danh tiếng của phái Nyingma, người đã viết The Worlds of My Perfect Teacher [Việt dịch: Thanh LiênLời Vàng của Thầy Tôi”- ND].

Pháp (Phạn: dharma): Từ này có hai nghĩa. Nó có thể có nghĩa là bất cứ một hiện tượng nào hay có thể có nghĩa là những lời dạy của đức Phật cũng được gọi là Phật pháp.

Pháp giới (Phạn: dharmadhātu): Không gian bao hàm tất cả, bất sinh và không có sự khởi đầu và tất cả sự vật sinh ra từ đó. Từ tiếng Phạn có nghĩa là “tự tánh của các pháp” và trong Tạng ngữ có nghĩa là “thế giới của hiện tượng.”

Pháp luân (Phạn: dharma-chakra: bánh xe pháp): những giáo lý của đức Phật tương ứng với ba mức độ: Tiểu thừa (hay thừa Nền tảng), Đại thừa, và Kim Cương thừa, với mỗi thừa là một cuộc chuyển bánh xe pháp. Theo cái thấy của Shentong, có ba lần chuyển pháp luân, thứ nhất nhấn mạnh sự giải thoát cá nhân, thứ nhì là các giáo lý Đại thừa nhấn mạnh tánh không, và thứ ba nhấn mạnh Phật tánh.

Pháp thân hay Chân thân (Phạn: dharmakāya): Một trong ba thân của Phật. Nó chính là sự giác ngộ, nghĩa là, trí tuệ ở bên kia điểm qui chiếu. Xem “ba thân.”

Phật tánh (Anh: Buddha-nature, Phạn: tathāgata-garbha: nghĩa đen, “bản tánh của như lai.” Hán dịch: “Như lai tạng”): Tánh bản lai hiện diện nơi tất cả mọi chúng sinh, khi nhận ra sẽ đưa đến giác ngộ. Cũng gọi là Tự tánh Phật hay Thể tánh Phật.

Phiền não (Phạn: klesha): Những ám chướng do cảm xúc (trái với những ám chướng do kiến thức hay sở tri), cũng được dịch là “khổ não” hay “độc.” Ba cảm xúc phiền nãođam mê hay chấp trước, kích xúc hay tức giận, và vô minh hay mê hoặc. Năm phiền não là ba cái vừa nêu cộng với kiêu căng và ganh tị.

Pramāna (Phạn): Sự nghiên cứu về tính giá trị hay hiệu lực, tức là, làm cách nào chúng ta biết điều chúng ta nghĩ là đúng. [Hán dịch: lượng – ND].

Prāsangika (Phạn): Một trong những trường phái chính của Phật giáo Trung đạo, có những đại biểu chính là Phật HộNguyệt Xứng. Xem Trường phái Prāsangika.

Rechungpa: Một đệ tử lớn của Milarepa.

Sahara: Một trong tám mươi bốn bậc thành tựu của Ấn độ, người ta nói là sư đã sống vào thế kỷ thứ chín, được biết đến vì đã sáng tác những đạo ca đầu tiên về Đại Thủ ấn.

Sáu Yoga của Naropa: Đây là sáu phép tu yoga đặc biệt được truyền từ Naropa sang Marpa là những phép tu thượng thừa gồm có yoga nội nhiệt, yoga thân huyễn, yoga mộng, yoga tịnh quang, yoga chuyển thức, và yoga bardo (trung ấm). [Xem “Du già Tây tạng, Giáo lý và Tu tập” – ND].

Shamatha (Phạn, Tạng: shinay, Hán dịch: Chỉ): Sự tĩnh lặng hay thiền định ở lại trong bình tĩnh trong đó người ta thường theo dõi hơi thởquan sát những hành tác của tâm. Mục đích chính của thiền định Shamatha là an định hay thuần hóa tâm như vậy nó sẽ ở lại nơi người ta đặt để nó.

Shantarakshita (thế kỷ thứ 8): Viện trưởng của Đại học Na-lan-đà được vua Trisong Detsen mời đến Tây tạng để giúp giới thiệu Phật giáo. Ông đã giám thị việc xây cất tự viện đầu tiên của Phật giáoTây tạng.

Sojong (những lời nguyện): Một phép tu trong đó người ta hành trì tám lời nguyện trong một thời kỳ 24 giờ.

Taranatha (1575-1634): Bậc thầy dẫn đầu của phái Jonangpa và được biết đến nhiều nhất là vì tác phẩm của ông History of Buddhism in India (Lịch sử Phật giáoẤn độ).

Tám thức: Đây là năm giác thức: thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm. Thức thứ sáu là ý thức làm công việc suy nghĩ hằng ngày. Thức thứ bảy là thức khổ não (Phạn: klesha) là cảm giác về “ta” (ngã thức) lúc nào cũng hiện diện. Cuối cùng, thức thứ tám là thức nền tảng hay thức a-lại-da hay hàm tàng thức.

Tăng-già (Phạn: sangha): Những người cùng đi trên đường đạo. Họ có thể là tất cả những người trên đường đạo hay “Thánh chúng,” chỉ những người đã chứng ngộ.

Tì-bà-sa (Phạn: Vaibhāsika, Anh: Great Exposition: Quảng diễn): Một trường phái Tiểu thừa quan hệ mật thiết với trường phái Nhất thiết hữu bộ. Trường phái này hưng thịnh ở Gandhara và Kashmir, và tên của nó đến từ bản văn chính Đại Tì-bà-sa (Phạn: Mahā-vibhāshā).

Tịch Thiên (Phạn: Shāntideva, 675-725): Một nhà Đại thừa sống vào thế kỷ thứ 7 và thứ 8 ở Ấn độ nổi danhtác phẩm vĩ đại của sư Bodhicaryāvatāra. Anh dịch: The Bodhisatva’s Way of Life. Việt dịch: Bồ-tát Hạnh.

Tilopa (928-1009): Một trong tám mươi bốn bậc thành tựu. Sư là đạo sư của Naropa, người truyền các giáo lý của Tilopa cho Marpa, và đương nhiên là đến dòng truyền Kagyu ở Tây tạng.

Tính trong sáng (quang minh) (Tạng: salwa): Cũng dịch là tính quang minh. Bản tánh của tâm là không thực hữu, nhưng nó không phải là trống rỗng, bởi vì nó có tính trong sáng tỉnh giác hay phẩm tính biết của tâm.

Tính vô ngã cá nhân (nhân vô ngã): Giáo pháp này khẳng định rằng khi người ta tìm con người, người ta không tìm thấy cái gì là con người. Người ấy không sở hữu một cái ngã (Phạn: ātman, Tạng: dag nyid) như là một thực thể độc lập hay có bản thể. Các trường phái Phật giáo giữ vị trí này (vô ngã).

Tính vô ngã của các pháp (pháp vô ngã): Giáo pháp này khẳng định không chỉ con người không có ngã mà khi khảo sát các hiện tượng ngoại giới (các pháp), người ta cũng thấy rằng các hiện tượng bên ngoài đều là không; tức là, chúng không có một bản tánh độc lập hay có bản thể nào cả. Các trường phái Tiểu thừa (Phạn: Hīnayāna, Anh: Foundation vehicle) không giữ vị trí này, nhưng các trường phái Đại thừa đề xướng nó, nhất là trường phái Duy thức (Anh: Mind-only).

Tirthika (Phạn): Một tín đồ tin vào cái ngã cá nhân. [Cũng gọi là ngoại đạo]. ND.

Thanh Biện (Phạn: Bhāvaviveka, 490-570 sau K.N.): Một học giả Trung đạo của Ấn độ đã phê bình sự giải thích về tánh không của Phật Hộ (Phạn: Buddhapālita), dẫn đến sự phân chia trong Phật giáo Đại thừa. Thanh Biện đã sáng lập trường phái Svātantrika dùng svātantra (Anh: syllogisms: tam đoạn luận) để xác minh tánh không thay vì dùng hệ thống phủ định luận của trường phái Prāsangika. Tác phẩm của ông gồm có Prajñā pradipa, Mādhyamaka-hridaya, và Tarka-jvala.

Thanh văn (Phạn: shravāka): Nghĩa đen là “những người nghe” nghĩa là những đệ tử tu tập Tiểu thừa để trở thành A-la-hán.

Thánh (bậc) (Phạn: āryas): một người đã đạt được sự chứng ngộ trực tiếp về bản tánh của thực tại như thế là chứng ngộ tánh không của ngã và pháp.

Thánh Thiên (Phạn: Āryadeva): Đệ tử thân cận nhất và là người thừa kế của Long Thọ. Sư sinh ở Sri Lanka (Tích lan) và viết Catuhshakate (Luận Bốn Trăm Tụng).

Thần thông (Phạn: siddhi): Những năng lực tâm linh của những hành giả thành tựu.

Thừa Nền tảng hay Tiểu thừa (Anh: Foundation vehicle, Phạn: Hīnayāna): Những giáo lý đầu tiên của đức Phật nhấn mạnh sự khảo sát kỹ lưỡng về tâm và sự vô minh của nó.

Thường hằng (chủ thuyết) (Tạng.: tak): Niềm tin cho rằng ngã của một người có sự hiện hữu cụ thểthường hằng. Chủ thuyết này trái ngược với chủ thuyết đoạn diệt.

Trung đạo (Phạn: mādhyamaka, Anh: Middle-way): Trường phái có ảnh hưởng nhiều nhất trong bốn trường phái Phật giáo Ấn độ, do Long Thọ sáng lập vào thế kỷ thứ nhì của K.N. đặt căn bản trên các giáo lý Bát-nhã Ba-la-mật-đa. “Trung đạo” có nghĩa là con đường giữa chủ thuyết thường hằng và chủ thuyết đoạn diệt. Định đề chính của trường phái này là tất cả các pháp (hiện tượng) – cả những sự kiện tinh thần bên trong và những vật thể vật chất bên ngoài – đều không có bất cứ một bản tánh chân thật nào. Trường phái này dùng lý luận rộng rãi để minh xác tánh không của ngã và pháp (hiện tượng).

Trường phái Du-già (Phạn: Yogāchāra): Danh hiệu của trường phái truyền xuống từ Di Lặc và Vô Trước.

Trường phái Duy thức (Phạn: chittamatra, Anh: Mind-only): Một trong những trường phái chính trong truyền thống Đại thừa do Vô Trước sáng lập vào thế kỷ thứ tư, nhấn mạnh rằng tất cả các pháp đều do tâm sinh.

Trường phái Kinh Lượng bộ (Phạn: sautrāntika): Một trong bốn trường phái lớn của Phật giáo Ấn độ. Đây là một trường phái thuộc Tiểu thừa, tin rằng các hiện tượng ngoại giới là có thật và ý thức nội giới của chúng ta cũng có thật, nhưng hiểu ngã là hư huyễn.

Trường phái Quảng diễn (Anh: Great Expositon, Phạn: Vaibhāsika): tức là trường phái Tì-ba-sa, một trong bốn trường phái chính thuộc thừa Nền tảng, ba trường phái kia là Kinh Lượng bộ, Duy thức, và Trung đạo. Trường phái này chủ trương rằng vật chất là có thật hay hiện hữu độc lập và được cấu tạo bằng những phân tử và thời gian là có thật và cấu tạo bằng những thoáng chốc [sát-na?] rồi tạo thành ý thức.

Trường phái Rangtong (Tạng): Trường phái Madhyamaka hay Trung đạo chia thành hai trường phái chính: Rangtong và Shentong. Sự khác biệt là Rangtong chủ yếu nhấn mạnh tánh không, và Shentong chủ yếu nhấn mạnh trí tuệ trong sáng (minh tuệ).

Trường phái Shentong (Tạng.): Trường phái Madhymaka hay Trung đạo chia thành hai trường phái chính: Rangtong và Shentong. Sự khác biệt là Rangtong chủ yếu nhấn mạnh tánh không, và Shentong chủ yếu nhấn mạnh minh tuệ.

Trường phái Svātrantika (Phạn): Một trong hai trường phái chính của Phật giáo Đại thừa với những đại biểu chính là Bhāvaviveka (Thanh Biện) và Santarakshita. Trường phái chính kia là Prāsangika.

Tsongkhapa (1357-1419): Người sáng lập trường phái Gelupa của Phật giáo tây tạng.

Uẩn (năm) (Phạn: skandha): Có năm biến thể của tâm mà các nhận thức phải đi qua: Thứ nhất, là sắc gồm có hình ảnh, âm thanh, các vị, v.v… mà các giác quan nhận thức. Thứ nhì, là thọ (cảm nhận), trong đó người ta đối xử sắc là tích cực, tiêu cực, hay trung tính. Thứ ba, là tưởng (ý niệm) nhận biết cảm xúc. Thứ tư, là hành hay khái niệm, trong đó người ta kết hợp nhận thức với kinh nghiệm quá khứ. Cuối cùng là thức, tức ý thức thông thường với tất cả những ý nghĩ phân biệt của nó.

Vajravarahi (Phạn): Một không hành nữ đa-ki-ni, là vị phối ngẫu của thần Chakrasamvara. Bà là một trong những Yi-đam chính của dòng Kagyu và là hiện thân của trí tuệ.

Vô ngã (Tạng: dag me): Không có ngã hay không có “linh hồn.” Hiểu rằng không có bản ngã (identity) hay bản thể tách rời hay thường hằng nào cả để tìm. Có hai loại vô ngãvô ngã của các pháp hay tánh không của các hiện tượng ngoại giới (pháp vô ngã), và tánh không của chính cá nhân (nhân vô ngã).

Vô Trước (Phạn: Asanga): Một luận sư Ấn độ ở thế kỷ thứ tư sáng lập trường phái Duy thứckhám phá năm bộ luận của Di Lặc là những tác phẩm quan trọng của Đại thừa. Em trai của sư là Thế Thân (Vasubandhu).

Xa luân (Phạn: chakra: nghĩa đen là “cái bánh xe”): Trong văn mạch này, các trung khu năng lực (prāṇa: khí) dọc theo kênh giữa ở trán, cổ họng, trái tim, thần kinh thái dương, và “chỗ bí mật” [khí hải?] nằm dưới rốn cách khoảng bằng bề ngang bốn ngón tay, nơi tỏa rộng của các kênh.

Thư Mục

Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa (Phạn:Mahāprajñāpāramitā Sūtra). Hán dịch: Pháp sư Cưu-ma-la-thập, Việt dịch: Thích Trí Tịnh. Anh dịch: Edward Conze “The Large Sutra on Perfect Wisdom” (University of California Press, 1984) và “The Perfection of Wisdom in Eight Thousand Lines & Its Verse Summary” (Four Seasons Foundation, 1995) – ND.

Bát-nhã Tâm kinh (Phạn: Mahāprajñāpāramitā-hridaya-sutra). Hán dịch: Pháp sư HuyềnTrang. Anh dịch: The Heart Sūtra.

Brunnholzl: Center of the Moonlit Sky.

Di Lặc & Vô Trước (Maitreya & Asanga):

- Luận Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh (Phạn: Mahā-yānasūtrā-lamkāra). Anh dịch: The Ornament of Mahā-yāna Discourse.

- Luận Hiện Chứng Trang Nghiêm (Phạn: Abhisamayā-laṃkāra). Anh dịch: “The Ornament of Clear Realization.”

- Luận Biện Trung Biên (Phạn: Madhyānta-vibhanga). Anh dịch: Distinguishing the Middle from the Extremes.

- Luận Pháp Tánh (Phạn: Dharma-dharmtā-vibhanga). Anh dịch: Disinguishing Dharma from Dharmata.

- Luận Phật Tánh (Tạng: Uttaratantra shastra) hay Luận Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh (Phạn: Ratnagotravibhanga Mahāyanottara tantra shāstra). Anh dịch: E. Obermiller: “The Uttara-tantra of Maitreya”; Ken and Katie Holmes: “The Uttara Tantra: A Treatise on Buddha-nature” (Sri Satguru Public-ations, 1989); Rosemarie Fuchs: “Buddha Nature”; Việt dịch: Đỗ Đình Đồng: Luận Phật TánhND.

Dolpopa: Anh dịch: Jeffrey Hopkins: “Mountain Doctrine.” (Snow Lion, 2004)

Hookham, S. K.: The Buddha Within (Sri Satguru Public-ations, 1991).

Jamgon Kongtrul Lodro Thaye: Shes-bya kun-khyab-mdzod. Anh dịch: “The Compendium of Knowledge” (Snow Lion): Tập Yếu Tri Kiến.

Long Thọ (Nāgāarjuna):

- Luận Bát-nhã Trung đạo (Ph.: Prajñā-mūlamadhyamaka-kārikā). Hán dịch: Pháp sư Cưu-ma-la-thập “Trung Luận.” Anh dịch: F. J. Strong “Emptiness.” Việt dịch: Đỗ Đình Đồng: “Trung Luận và Hồi Tranh Luận” – ND.

-Thư Gửi Bạn (Ph.:Suhriellekha). Anh dịch: Jamspal, Chophel, Santina “Nagarjuna’s Letter to King Gautami-putra” (Motial Banarsidass).

- Pháp Giới Tụng (Ph.: Dharmadhātustava). Anh dịch: Karl Brunnholzl “In Praise of the Dharmadhatu” (Snow Lion, 2008).

- Xâu Chuỗi Vàng (Ph.: Rājaparikathā-ratnamālā). Anh dịch: Jeffrey Hopkins “The Golden Rosary: The Precious Garland” (Snow Lion, 2009).

Nguyệt Xứng (Chandrakīrti):

- Nhập Trung Đạo (Ph.: Mādhyamakā-vatāra). Anh dịch Padmakara Translation Group: “Introduction to the Middle Way”

- Căn Bản Trung Quán Chú Minh Ngữ (Ph.: Mūla-madhya-maka-vritti-prasana-padā: Anh dịch Mervyn Sprung: “Lucid Exposition of the Middle Way” (chỉ dịch một phần).

Patrul Rinpoche: Anh dịch: Padmakara Group Translation “The Words of My Perfect Teacher” (Shambhala Public-ations). Việt dịch: Thanh LiênLời Vàng của Thầy Tôi” –

ND.

Sahara: Anh dịch: Michell Martin & Peter O’Hearn: “A Song for the King” (Snow Lion, 2006).

Stearns, Cytrus: The Buddha from Dolpo (Motilal Banarsidass, 1999).

Taranatha: Lịch sử Phật giáoẤn độ. Anh dịch: Lama Chimpa: “Taranatha’s History of Buddhism in India.”

Tịch Thiên (Shantideva): Bồ-tát Hạnh (Ph.: Bodhicaryā-vatāra). Anh dịch: Padmakara Translation Group: “The Way of Bodhisattva” (Shambhala Pubications, 1977). Việt dịch: Thích Trí Siêu: “Bồ-tát Hạnh” – ND.

Thanh Biện (Bhavaviveka):

- Hán dịch của Jñānagarbha:Căn Bản Trung Quán Thích Trí Tuệ Đăng” (Ph.: Prajñā-Pradipa-Mūla-madhyamaka-vritti.)

-Mādhyamaka-hridaya kārikā-vritti tarka-jvala. (Chưa dịch).

Thánh Thiên (Aryadeva): Bốn Trăm Tụng (Ph.: Catuh-shakā). Anh dịch từ Tạng ngữ: Ruth Sonam: “Yogic Deeds of Boddhisattvas.” Hán dịch: Pháp sư Cưu-ma-la-thập: “Bách Luận” (chỉ dịch một phần của Catuhshakā).

Thrangu Rinpoche: On Buddha Essence (Shambhala, 2006) và Transcending Ego: Distinguishing Consciouness (Namo Buddha Publications, October 2001).
Tạo bài viết
02/01/2015(Xem: 10995)
30/10/2010(Xem: 42713)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.