Chương 5

28/02/20192:02 CH(Xem: 290)
Chương 5

TRÊN MÀN HÌNH CHÂN NHƯ
DIỄN CUỘC LUÂN HỒI
Nhụy Nguyên

 

CHƯƠNG V

 

Giới Định Tuệ là “pháp môn độc diệu” để phân định giữa pháp giải thoáttà pháp. Tâm ý thứcphân biệt, chấp trước, là nơi sở hữu mọi ấn tượng để chiếu lên màn ảnh luân hồi. Lìa tâm ý thức không phải còn tìm một tâm khác đặt vào, mà ngay lúc đang lìa đó đã là chỗ của sự sáng suốt, của ánh quang minh đang le lói. Tâm càng thanh tịnh nhờ tập buông vọng tưởng chấp trước thế sự, buông tâm ý thức, sẽ thấu cái biết của ta chỉ là sự khởi vọng niệm trên cái biết vốn sẵn mỗi ngày nhờ thanh tịnh mà hiện rõ hơn những niệm vi tế tương tục nghiệp nhân quả báo. Vạn pháp đều Như, tức đều không ra ngoài nhân quả trong từng khắc biến chuyển của tâm ý thức. Vạn pháp vốn bất định, tùy căn cơ đều có thể nhận được lý cao nhất. Lý luôn ẩn trong sự, cái tối thượng sẵn trong những điều bình phàm. Điều trọng yếu là nó vẫn hợp và chưa hợp với từng căn cơ xét ở trong đời này.

Trên thực tế không một chúng sanh nào trong sát na có thể ra khỏi thực tại, cũng như không thể ra khỏi chân tâm, nhưng bởi tôi và bạn đều sống với vọng chấp nên càng tìm cầu càng xa rời chính nó. Tôi chấp chặt nghĩa kinh, trong lúc kinh vô lượng nghĩa, và nó đúng với từng tầng tin sâu nhân quả. Trí tuệ là một hành trình ly huyễn, ly tâm ý thức; là một quá trình nghiêm trì giới luật để có định lực rồi quán chiếu vạn pháp thật tướng vốn bình đẳng diệu dụng.

Cõi nhân gian âu là sự phóng chiếu của tâm thức nghiệp báo, song cũng là sự hiện tướng trong màn hình chân như. Khi ta buông xuống cái không phải chân lý, ngay đó là chân lý, không cần thêm vào bất cứ gì. Nhưng vẫn còn một cái ta biết/“sở hữu” chân lý đó cũng cần buông để trở về cái như nhiên thuần thiện, thuần tịnh và thuần lợi người cùng vạn vật - cái này khi dùng ngôn ngữ diễn tả, phải chăng người ta gọi nó là chân lý tối thượng?

 

 

 

Cõi nhân gian âu là sự phóng chiếu của tâm thức nghiệp báo, song cũng là sự hiện tướng trong màn hình chân như. Khoa học hiện đại thật sự ngạc nhiên khi nhìn thấy lỗ hổng thời gian và đang dần hoài nghi về không gian, như chính thời-không từng xuất hiện và biến mất trong giấc mơ qua sự thể nghiệm của chính chúng ta. Trần ai huyễn mộng - chân lý này phải bậc triệt ngộ mới thể nhập thông qua thiền-tuệ, ngoài ra không cách gì chứng dẫu khoa học có phát triển đến ngưỡng như những nền văn minh trước trái đất từng hoại diệt chăng nữa. Học, rồi hành theo lời Đức Phật nhằm thấu tỏ vạn pháp huyễn giả để buông xuống. Khi ta buông xuống cái không phải chân lý, ngay đó là chân lý, không cần thêm vào bất cứ gì. Nhưng vẫn còn một cái ta biết/“sở hữu” chân lý đó cũng cần buông để trở về cái như nhiên thuần thiện, thuần tịnh và thuần lợi người cùng vạn vật - cái này khi dùng ngôn ngữ diễn tả, phải chăng người ta gọi nó là chân lý tối thượng? Nói vậy cũng đã lộng ngôn, bởi giả như cái mà tôi có thể hiểu đến trong lúc chưa chút thật chứng, âu cũng chỉ là cái thấy trong mộng mà thôi.

Có lần chợt nhận, mình chỉ là một khán giả đang xem bộ phim cuộc đời trên màn ảnh rộng dương gian. Bởi sống bằng tình thức nên biết phim là cảnh ảo vẫn buồn vui hờn giận, vẫn tham sân si mạn với các trường đoạn, các nhân vật ở nhiều vai tương phản khác nhau. Đã tưởng đến cảnh nơi trường quay, vài ba phút, diễn viên đang khóc than hay vui sướng tột cùng, đạo diễn hô “Cắt”, cứ thế lướt nối 24h/s để thành [nội dung] phim; vậy mà tôi xem một đoạn lại muốn chỉnh sửa kịch bản, muốn nhân vật này tốt thêm chút ít, trách nhân vật kia không đòi lại công bằng; nhân vật chính sao lui sau cánh gà còn nhân vật phụ thì nhảy lên những bậc thang danh vọng… Tôi muốn chỉnh sửa một bộ phim đã đóng xong, trình chiếu và tệ hơn, tôi chỉ là một kẻ xem lại cái kết đã được lập trình theo từng ý niệm của chính tôi. Tôi luôn khởi cái ý nghĩ thay trời hành đạo, đòi lại công bằng trong lúc tất thảy nhân vật đều đang vận hành theo nghiệp thức tơ hào không sai của tiến trình nhân - duyên - quả trong mỗi khoảnh khắc. Tôi giơ những khuôn nghiệp tồn lưu từ nhiều kiếp và cả kiếp này, kiên cố, chấp chặt chụp mọi thứ sao cho vừa tự ngắm nghía thành quả. Sự phân biệtchấp trước tạo nên vọng tâm. Sự phân biệt chấp trước của riêng tôi bóp méo mọi cảnh trần, bóp hiền nhân ra phàm tình, bóp kinh điển thành sở học hẹp hòi rồi xem đó là chuẩn mực tri kiến. Thầy tôi luôn bảo những điều con nói chỉ tạm đúng với con lúc này; và nếu tin mình còn tiến thì những điều này sẽ không còn đúng với con trong tương lai nữa. Việc của con là buông mọi phân biệt chấp trước lúc đối cảnh duyên trần, không chừa khoảng thời không và sự việc tủn mủn bé mọn nào. Buông hết, tất cả con hiểu không. Buông chúng ra, tất cả, những phân biệtchấp trước đối với lục trần nhân thế.

Tôi vẫn muốn lập ra một tòa án mới để làm chủ trong sự phán xét dựa trên những nguyên lý học được. Tôi chưa tin nghiệp tơ hào không sai theo nhân khởi sinh trong từng ý niệm. Chưa tin vạn pháp vô thường khắc khắc biến hoại. Cũng nhờ nó vô thường biến hoại, bạn và tôi mới có thể chuyển được nghiệp bằng ý niệmhành vi thiện lành trong khuôn khổ những lời Phật dạy. Lại nhớ một đồng nghiệp bảo số bạn cô rất xấu, nên đi cúng sao đổi số. Nào đổi được. Sự đổi phải chuyển/đổi từ ý niệm. Họ cúng đổi sao hết bao tiền, thay vì đó dùng tiền ấy cúng dường Tam bảo, hành thiện Pháp - mới là cách đúng đổi/chuyển mạng. Nhưng cũng may tôi không lấy cái Pháp mình học được để chụp lên đối tượng lúc chưa đủ duyên. Dẫu rằng cái sự chấp trướcphân biệt của tôi vẫn đang là tâm bệnh quá nặng chưa ngày một ngày hai giải giảm độc tố. Nghĩ đến nơi mình làm việc. Đang yên lành, chợt một ngày có nhân viên mới. Cảm nghiệm từ chút tài mọn của mình và đồng nghiệp cũ, tôi thấy người nhân viên mới này khờ khờ dôn dốt sao vào làm ở một cơ quan “trí tuệ” này. Tôi phân biệt, chấp trước, và dĩ nhiên, vọng động với khuôn nghiệp của mình chiếu/chụp lên người nhân viên mới. Nó là độc, như loài vi rút ăn trong tạng thức. Rồi bỗng một ngày, trong giấc mơ tôi nhận được thông tin, rằng người nhân viên mới là “mật vụ” nương vào cơ quan, họ rất siêu. Tin này khiến tôi bàng hoàng, không tin mình vừa mơ. Rồi tôi tập quán chiếu. Nếu họ không là mật vụ chăng nữa thì họ là thân quyến của vị sếp thanh liêm đức độ ngoài trung ương. Cũng có thể họ là Bồ tát hóa hiện âm thầm khờ khạo để độ người có duyên. (Này tôi ơi, Bồ tát tát lai, kinh dạy họ cực kỳ giống người phàm, chẳng ai nhận ra dẫu là mảy lông tơ của họ đâu nhé. Họ phần lớn theo lớp “thấp học”, thị hiện sự thua thiệt, sự thấp bé và thậm chí là tận đáy xã hội, để dạy chúng ta chân lý tối thượng của Tuệ Vô Ngã). Mà dẫu họ không là Bồ tát chăng nữa thì đúng nhất, bất cứ ai cũng là con của Phật, kể cả ma quỷ! Tôi chưa quán sâu nổi điều này, nhưng tôi mang ơn nhiều nhất với ân sư, nên tôi nghĩ ai cũng là con của ân sư. Con của ân sư “năm ngón có ngón ngắn ngón dài”, đứa học lớp một, cũng có đứa học đại học, đứa mang học hàm học vị, song đều là con của ân sư, đều trong từng giây phút không nằm ngoài sự thấy biết “của ân sư của ân sư - là Phật”, và hơn hết đều đang được chư Phật-Bồ tát tìm mọi phương tiện giáo hóa như ta đang nhận hồng ân mà chẳng hiểu nổi. Bạn tu nhắc tôi về vị Bồ tát Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa. Ngài thường bất khinh mọi chúng sanh, với câu nói: “Tôi không dám khinh thường quý vị, quý vị đều sẽ làm Phật”, với nghĩa gần nhất là “quý vị đều có Phật tánh”. Từ đó bạn tu gặp ai và gặp bất cứ con vật gì đều thầm cung kính khởi niệm: “Tôi không dám mảy may xem thường quý vị, bởi quý vị đều là con của ân sư”.

Ân sư “của tôi” dạy, đừng nói sở chấp, mà ngay đến cái năng chấp của con cũng không nốt. Từ cái tự biết chiếu soi, tôi lờ mờ hiểu cái sở chấp người nhân viên mới trên là vô lý/vô tự thể, ngay đến cái khởi chấp trong tôi cũng hư giả, như chính cơn tham sân vậy. Duyên vừa ló mặt, nó liền bật lên như một phản ứng tự nhiên mà “cái tôi” hoàn toàn không kịp trở tay; tức tôi cũng không có, mà đơn thuần chỉ là cái giác biết. Và từ định lực của cái giác biết nhờ chuyên trì niệm một câu kinh, bạn tu bảo rằng mọi vọng niệm phân biệt chấp trước, mọi tướng của tham sân si sẽ dần bị rút năng lượngTướng, dĩ nhiên không mất, song một khi năng lượng bị rút đồng nghĩa với việc  tự thấy mình hư giả, vô nghĩa, vô y cứ nên dần tan đi như sương khói. Từ đây mới linh cảm, “tưởng uẩn về không”, không là các “tướng của tưởng” hiện lên như một tập khí của bộ máy tâm thức khi căn tiếp trần (hoặc “tự hiện”) song nó có năng lượng để tiếp sức cho thực tại [một khi bị định và tuệ soi chiếu], nên có tướng mà không tướng. Nói dễ vậy, bởi bạn và tôi luôn dính tướng, luôn lưu lại ấn tượng trần cảnh, chưa chịu nhận vạn pháp đều Như, tức đều không ra ngoài nhân quả trong từng khắc biến chuyển của tâm ý thức. Sao tôi không tin nổi vạn pháp đều như. Bạn tu bảo do tôi không tin nhân quả, đúng hơn, tôi tin nhân quả cạn. Tu là một quá trình tin sâu thêm nhân quả. Tin, quan sát nhân quả trong đời sống chung quanh mình và nó xảy ra ngay nơi bản thân mình, đó cũng có thể hiểu là phần “chứng”/thấy nhân quả; đây mới thực tin. Tin nhân quả chính ngay đó sự ám muội vô minh đang tản dần. Một hành giả dẫu ở giữa chợ trời, một khi thâm tín nhân quả họ sẽ dong tay lên trời mà đi, không hề khởi ý niệm phân biệt chấp trước ngoại duyên, ấy là lúc hiểu chút ít về nghĩa như của vạn pháp. Hiểu ở bề vỏ của ngôn ngữ thôi, bởi căn tánh hạ liệt như tôi so với thời các đệ tử của Đức Phật còn tại thế đã nghiệp tội và tập khí quá dày quá nặng. Càng nghiệm, càng hiểu sao ân sư lâu lâu lại nhắc tôi, giới luật rất quan trọng. Không có giới thì mọi cái tôi tu đều nằm trong sự hiểu thường thức thế gian. Bạn và tôi vẫn hay có suy nghĩ nông cạn và ngây thơ, rằng học Bát nhã hay Thượng thừa thì không cần những tầng dưới; trong lúc muốn đủ phước làm người phải hành ngũ giới; muốn đủ phước làm thiên nhân phải ngũ giới cộng thêm thập thiện; muốn đủ phước trí tu thanh văn phải trọn ngũ giới cùng thập thiệnsa di luật - cụ túc giới; còn tu theo Bồ tát thừa thì ngoài các tầng giới luật ấy còn tu lục độ vạn hạnh, hành giả chuyên vào giới tâm ý tham sân si mạn, trọng yếu tu hạnh Phổ Hiền với điều đầu tiên quyếtLễ kính chư Phật, tức lễ kính bất cứ ai, bất cứ chúng sanh thuộc loài nào bởi đều là “Phật vị lai”. Đức Phật cho chia giới dành riêng cho người tại gia, không phải vì thế mà “thiệt thòi” hơn, bởi pháp vốn bất định, tùy căn cơ đều có thể nhận được lý cao nhất. Kinh có thể thọ trì một bộ, còn giới cần học sâu và rộng để làm nền tảng cho định tuệ. Lý luôn ẩn trong sự, cái tối thượng sẵn trong những điều bình phàm. Điều trọng yếu là nó vẫn hợp và chưa hợp với từng căn cơ xét ở trong đời này. Bậc minh sư cũng như thần y, quán rõ bệnh và bốc đúng thuốc. Trên đời chẳng có gì dễ dàng, huống hồ ai muốn giành lại huệ mạng từ hố thẳm vô minhma vương; nên rốt cùng vẫn tự hỏi ta đã chịu uống đúng liều thuốc được kê (riêng) cho mình hay chưa?  Kinh viết: “Không trước học Tiểu thừa sau học Đại thừa, không phải đệ tử Phật”, hẳn nhiên muốn trọng yếu khuyến hành giới luật, hành Tứ niệm xứ để dần thấy nghĩa thâm diệu của Vô thường, Vô ngã, và… vô nghĩa. Từ đó phát định và tuệ lực quán chiếu, để hiểu thêm những tầng nghĩa mới của lời Phật. Tôi chấp chặt nghĩa kinh, trong lúc kinh vô lượng nghĩa, và nó đúng với từng tầng tin sâu nhân quả, tin vạn pháp như nghĩa. Những nhà khoa học, triết học được cả thế giới trọng vọng, nếu chẳng tin nhân quả, thực chất cái họ đang có vẫn nằm trong tri thức, chưa duyên tới trí tuệ. Bởi trí tuệ là một hành trình ly huyễn, ly tâm ý thức; là một quá trình nghiêm trì giới luật để có định lực rồi quán chiếu vạn pháp thật tướng vốn bình đẳng diệu dụng. Sở tri dẫu cao đến đâu lại không tin nhân quả, cũng như một hoàng tử từ nhỏ chỉ sống trong Hoàng cung, sướng như tiên và được các vị thầy giỏi nhất thế gian giảng dạy. Nhưng rồi một ngày có người nông dân nói với hoàng tử rằng, ngoài kia có nắng, mưa, bão tố. Vị hoàng tử không tin điều này, liệu có được chăng? Từ mặt đất thô thiển mà ngước lên, có ai không tin sự thật (như mưa nắng) lại có thể gọi là người trí? Không tin nhân quả báo ứng, không tin luân hồi sinh tử xoay vần theo nghiệp báo, không tin cõi Phật thuần khiết tinh khôi, nghĩa là tôi đã không tin cái sự thật vẫn từng khoảnh khắc ảnh hưởng đến vận mạng của mình thông qua từng ý niệm khởi sinh. Thế giới ước tính ít nhất 90% “năng lượng tối” trong vũ trụ chưa hề được khám phá, thì mỗi chúng ta dẫu là thiên tài vẫn đang sử dụng phần thô lậu của kiếp người vô ngần quý giá, vô cùng hiếm cơ duyên tin nhận rồi thực hành giáo lý tối thượng từ Đức Phật.

Thế giới siêu hình chứa 96% năng lượng còn lại nhưng nó nằm ngay trong mọi người, trong Tâm, do đó việc khám phá chỉ có thể hướng vào nội giới theo kinh điển từ hơn ba ngàn năm trước và ngày càng lấp lánh dưới ánh nhìn của ngành khoa học tiên phong mở hướng nhìn về “miền tối” vô biên đang từng đêm được thắp lên những ngọn nến. Chư Phật và Bồ tát không phải là nhữn vị Thần ban phước giáng họa theo nghĩa tôn giáo [điều]. Đức Phật, “đơn giản” là bậc chứng ngộ toàn triệt về vũ trụ nhân sinh. Ở cấp độ vũ trụ, đó là cái nhìn toàn chân về hàng tỉ tỉ, vô lượng vô biên dải Ngân hà, mà một dải ngân hà đã có hàng trăm tỉ hành tinh lớn hơn trái đất, và dĩ nhiên ở tầng tâm thức này dung chứa nhiều không gian sống của các loại chúng sanh bên cạnh con người. Về nhân sinh, lời đức Phật là cái nhìn thấu suốt tận nguồn điều gì luôn tước đi phước báu - thọ mạng - trí tuệ của con người. Ai học Phật và đặc biệthành trì giáo giới, qua sự quan sát ở chính bản thân mình cũng như cuộc sống chung quanh đều dễ dàng nhận ra: “bóng ma” lạnh lùng tước đi phước báu, thọ mạngtrí tuệ của con người chính là ta sống ngược những điều mà đức Phật đã nhìn thấy như Ngũ giới, Thập thiện v.v. Người dẫu sắc nước hương trời, người dẫu tài năng phát tiết từ trẻ, song càng đi càng vô hồn biến dạng, càng cùn mòn rồi về già rơi vào lẩm cẩm, còn với người hành đúng pháp luôn ngược lại, càng già càng tinh anh, càng cuốn hút. Xét ở khoa học, vật lý, triết học, y học, tâm lý học hiện đại để soi chiếu, con đường thoát khổ đau không ngoài việc thực hành Giáo-Giới nhà Phật, chỉ con đường này ta mới thực cắn được vào trái táo thiên đường khiến vị ngọt thanh tứa ra nơi đầu lưỡi. Ngay cả khi, chẳng hạn, bạn đang tinh tấn hành một pháp môn từ Kinh điển mà không “trì Giới một cách thông minh” dưới sự hướng dẫn của bậc ân sư, sớm hay muộn cũng nhận quả đắng từ núi nghiệp lực cõng từ tiền kiếp và trong từng giây phút đang tạo tác mà chẳng hay.

Con người là sự kết hợp giữa vật chấttinh thần, nương vào năng lượng “cái không” thuần túy như không khí, ánh nắng, gió và hơn hết là một thế giới tâm linh lồng lộng nhiều cảnh giới. Nương vào hơn chín mươi phần trăm cái tưởng chừng vô tri, chúng ta lại chỉ tri ân phần nhỏ nhoi của chút phần trăm cái kiến tạo nên mình khiến ngã chấp được dựng lập rồi khu biệt với toàn thể. Những ý niệm khởi sinh theo duyên nghiệp là tướng trạng của Tâm, và mỗi mỗi ý niệm sẽ tác động đến hư không pháp giới nhiễm ô hay thanh tịnh. Hiếm ai trong thế gian lại không đi tìm quả hạnh phúc, song phần nhiều cái ta đang thực hành sống lạinhân của khổ đau. Chúng ta hầu như bị nghiệp dĩ thôi thúc. Chúng ta là con rối của nghiệp lực quá khứ (là sự khởi dụng của các chủng tử trong alaya khi gặp duyên bên ngoài thông qua sáu căn. Thầy tôi bảo, con vẫn chưa tin con chính là siêu rô-bốt hoạt dụng bằng bộ máy tâm ý thức! Hãy thực hành chuyên niệm một câu kinh để tuồn vào alaya vô số một loại hạt giống trắng để chuyển hóa những hạt giống đen. Ấy là chập chững hướng về tương lai, mà tương lai không nằm ngoài thực tại. Cái thực tại chúng ta cần nương vào để chiêm cảm về hơi ấm của giác, bởi thực tế không một chúng sanh nào trong sát na có thể ra khỏi thực tại, cũng như không thể ra khỏi chân tâm, nhưng bởi tôi và bạn đều sống với vọng chấp nên càng tìm cầu càng xa rời chính nó. Từ nhận định của những vị có định lực, tương lai gần khoa học sẽ dễ dàng trong việc sáng chế ra loại máy khuếch đại ý niệm của mỗi người thành ngôn ngữ. Điều này có vẻ thiếu nhân quyền nhưng là tất yếu của quyền năng tư tưởng, dẫu rằng ý niệm sáng tạo nếu không được trí tuệ chân thật soi rọi để dụng đúng mức nhiều khi sẽ thành thảm họa. Và có lẽ một cái máy soi ý niệm phát xuất ảnh hưởng như thế nào đến pháp giới sẽ khiến mỗi ai tự biết xếp chỗ đứng cho mình… Khoa học phát triển siêu việt, dẫu sao vẫn chủ yếu hướng lên ngọn cành chứ chưa thật lần về cội gốc tâm ý thức quán chiếu tính huyễn giả của ý niệm cùng vạn vật âu là sự phóng chiếu qua những khuôn nghiệp, những định kiếntập khí phiền não. Bắt đầu từ việc chuyển ý niệm bất thiện qua thuần thiện, từ ý niệm mê chấp cõi ảo thành ngộ dần lý chân như, ngay lúc ấy con người tự nhiên đã đóng góp lớn lao vào sự bình an của địa cầu, vào phần bí ẩn khôn cùng của vũ trụ.

Nhân quả là một quy luật tự nhiên thường hằng từ vô thủy đến vô chung. Một quy luật cộng trừ nhân chia liên tục từng giây phút phước nghiệp, thọ mạng của một người. Nó “quy định” số phận của từng chúng sanh trong từng giây theo tâm ý của họ. Nhưng ta lại không tin điều này! Ân sư tôi dạy thiết yếu, đã phàm nhân tu, ở bất cứ pháp môn nào cũng trên nền Giới - Định - Tuệ, như 3 tầng của ngôi nhà; không có tầng thứ nhất, hai tầng trên lẽ nào xây giữa hư không?! Giới luậtnền móng; từ đây ai xây (pháp môn) gì tùy căn duyên. Giới Định Tuệ là “pháp môn độc diệu” để phân định giữa pháp giải thoáttà pháp. Bậc tiểu học trong Trường Học Phật không giới mà muốn xây Bát nhã tức xây “lầu chọc trời” điều này cũng nguy hiểm đôi khi tương đương uống thuốc độc. Giới Định Tuệ thực ra là một căn nhà liền khối, chia ra là với hàng tập sự như tôi, thực ra với những hành giả chuyên theo hướng Bồ đề hạnh, khởi bất cứ ý niệm hay hành vi nào thuộc về “tam vô lậu” này đều sẵn đủ cả ba. Không ngoại trừ pháp tối thượng truyền thừa tu ngay giới đã gồm định và tuệ. Song về cơ bản người có định tuệ, họ luôn khiến cho giới được tinh nhuyễn hơn. Giới là năng lượng cho định tuệ từ phàm phu cho đến quả vị rốt ráo. Cho nên hành giả một khi có chút định tuệ bèn khởi ý niệm buông giới là đang thoái lui. Giữ giới từ việc như là phương tiện giữ mạng, nó còn là phương pháp tối ưu đẩy hành giả dạt về phía hơi ấm của chân tánh. Chẳng hạn một người nhờ năm giới mười thiện trở nên cung kính với vạn pháp; cao thêm họ phá luôn cái ngã đang thực hành sự thuần thiện và cung kính ấy, trở thành một hoạt dụng tự nhiên, ấy là lúc đức tánh tự nhiên sẵn có chớm khởi tác dụng. Từ hiểu để hành âu là hành trình mà tôi và bạn khó xóa được dấu vết của tự ngã. Có lần đọc câu kinh Lăng Nghiêm “Tri kiến lập tri thị vô minh bổn”, bỗng nhớ hai câu thơ trong Chinh phụ ngâm: “Xanh kia thăm thẳm tầng trên/ Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?” Đã sẵn “Tri kiến” (Xanh kia thăm thẳm tầng trên), chúng ta lại “lập tri” (gây dựng); ấy là gốc của “vô minh” (nên nỗi này). Tu là Trở Về, trọng yếukiến giải. Như ý chỉ trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật xuất thế chỉ một đại sự là khiến cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Tri kiến chính là Tuệ. Đỉnh cao của Đạo Phậttrí tuệ. Chúng tacái tự biết, đồng nghĩa với cái không biết. Nhưng, theo dấu chân Tổ sư, tôi thấy có bậc đã kiến tánh, triệt ngộ, thì họ vẫn quay trở lại thâm nhập luật tạng để “viên mãn” hạnh lợi tha. Không nỗ lực học và hành giới, ngay đến đệ tử chân truyền của Đức Phật cũng “không có gì” để dạy bạn và tôi; mà họ có dạy cũng là phương tiện giúp ta thực hành giới chứ chưa mong muốn dạy gì thêm. Đức Phật biết hết hàng tỉ tỉ ý niệm nối nhau trong mỗi chúng sanh, nên sự chưa nhận được cảm ứng chính do ta chưa thật tu; chưa dụng công ở tin nhân quả nên chưa muốn trì giới. Thế nên các vị Bồ tát dẫu ẩn mật đâu đó giữa trần gian, họ không đến với tôi và bạn. Từ kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng Nghiêm, kinh Pháp Hoa, kinh Địa Tạng, chính sự chưa đến đó là từ bi chân thật một khi chúng ta chưa đủ tín tâm để thọ nhận thiện xảo của các Ngài ngược lại nhiều khi ta còn nghi ngờ ma đến nhiễu loạn. Đó cũng là lời khai thị sâu sắc của ân sư tôi, rằng: Phật đến cũng từ bi, không đến cũng là từ bi!

Kiến giải sai lầm là đầu mối của khổ đau. Tri kiến Phật phải bắt đầu từ việc lìa tâm ý thức, không còn tin “cái biết” là/của mình, mà nhận lấy “cái không biết” giác chiếu. Không thể tin kiến giải của mình, bởi ngay đến bậc chứng sơ quả cũng chưa có kiến giải thuần chân, huống hồ phàm phu tôi. Tin suy nghĩ sẽ bị cuốn theo nó. Nhận cái không biết để biết mọi tướng trôi qua tâm tưởngtrí não chỉ là tri thức. Nhận cái không biết để dần dà thấy ta chỉ là một siêu rô-bốt tâm thức. Quán sát càng sâu sẽ thấy thân này chỉ là một cỗ máy bị ý niệm sai khiến; do không có định tuệ, tôi chưa hề kiểm soát được ý niệm và chỉ lờ mờ thấy được những ý niệm thô phù lội qua cái tự thấy biết. Thật đáng ngại, tương lai không xa thế giới sẽ dễ dàng tạo ra một con rô-bốt y hệt tôi về ngoại hình. Và nếu các nhà sáng chế quan sát tôi trong khoảng 1 năm, họ hiểu hết suy tư, sở thích, công việc, họ lập trình hết thảy vào trong con chíp cài vào rô-bốt-tôi rồi thả “tôi” ra giữa xã hội, ắt hẳn chẳng mấy ai tin nó không phải tôi. Thân kiếncửa ải đầu tiên mà tôi còn mờ mịt về nó, thật đáng xót! Thân ví như máy xúc đất, còn bộ máy điều khiển bên trong ta hoàn toàn chưa biết tới. Ngay đến khoa học chứng thực trong sâu thẳm tâm thức đã quyết định trước bộ não chúng ta đến 6 giây; một thời gian khiến những Phật tử nhạy cảm có thể bị choáng! Tôi tưởng đến trên mặt biển vô tận, có con thuyền không biết từ đâu hiện ra; ngay lúc thuyền hiện ra, tôi cho là tôi thấy/nghĩ; thực tếxuất phát từ ngoài khơi xa tít, song đến lúc “lớn lên” trong mắt, vừa với khuôn nghiệp tôi mới “hiểu”, và ngay lúc tôi thấy nó như chấm đen trên biển hẳn trong mắt của bậc chứng họ đã thấy con thuyền kia cập bến ở đâu. Bạn tu của tôi nhờ công phu chuyên trì niệm một câu kinh, lấy đó làm thực tại duy nhất trong mọi hoạt dụng, khiến cho tấm gương giác biết ngày một trong, nhìn thấy những ý niệm vi tế hơn; như 24h/s đã lừa ta sự động, càng ngày mỗi giây càng thấy nhiều ý niệm lướt nối hơn. Cũng như bậc Đẳng giác Bồ tát thấy vạn huyễn tướng chỉ là sự tương tục của hàng tỉ ý niệm trong một khảy móng tay. Tôi và bạn thì chỉ thấy được niệm thô lậu, chẳng hạn qua bộ não thấy được niệm C, lại không biết C chỉ là tương tục của niệm B; thấy được B lại không thấy tương tợ niệm là A; rồi có thấy A cũng không thấy tương tợ niệm là Z, v.v. Tâm càng thanh tịnh nhờ tập buông vọng tưởng chấp trước thế sự, buông tâm ý thức, sẽ thấu cái biết của ta chỉ là sự khởi vọng niệm trên cái biết vốn sẵn mỗi ngày nhờ thanh tịnh mà hiện rõ hơn những niệm vi tế tương tục nghiệp nhân quả báo. Nhớ lần tôi ngồi chụp ảnh một mệ và một cô gái dân tộc ngồi dệt zèng, chốc chốc họ có hướng về nhau nói chuyện. Tôi cứ chụp, khoảng mấy giây một pô. Lâu sau, tôi dừng chụp và bấm hình lên xem; chẳng hiểu sao cứ giữ tay ở nút bấm, và chợt nhiên thấy đoạn phim quay chậm hai người đang dệt zèng thật sống động, thật ngạc nhiên. Sau này nghe ân sư giảng mới dần thấm ngộ. Nếu ta bị các hình động trong phim lừa “thật tướng” như thế nào, thì Phật và Bồ tát nhìn thấy huyễn tướng của ta giữa trần gian đơn thuần chỉ là sự tương tục của ý niệm. Thế nên kinh điển trước hết khiến chúng sanh nhận ra thật tướng huyễn ảo theo đúng chuẩn của nhân quả lập trình như một siêu máy tính chẳng sai trật mảy may, để buông phân biệt, chấp trước. Từ đây mới phát sanh sự sáng suốt trong từng hành động để hướng dẫn cho những người còn lầm mê bước thật đúng theo dấu chân đức Phậtthánh chúng đã đi. Xét ở tu Bát nhã, tức hành Lục độ, điều đầu tiên là Bố thí; tôi và bạn đã không hiểu nổi trong bố thí sẵn đủ nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Cũng như lúc ta nhẫn nhục, ngay đó hẳn nhiên đang/có lực của trí tuệ, đang/có định lực, đang/có sự tinh tấn trên đường đạo, và đương nhiên ngay đó ta đang bố thí sự vui vẻbình an cho đối phương (đang khiến ta đang nương vào nhẫn nhục). Ở nghĩa thông thường nhất, tôi từng không hiểu lợi người tức lợi mình, giúp người tức giúp mình. Càng bố thí càng giàu; càng giàu càng bố thí. Bố thí đến mức bạn chỉ là một nơi trung chuyển của phước đức, như bạn đang ngồi trên mâm cỗ trăm món biết xoay, xoay món nào đến thì bạn lấy một mẩu nhỏ, rồi để nhường cho nó xoay qua mọi người cùng hưởng, bạn không giữ lại gì. Tiến hóa tâm linh, trước nhất ta cần phước. Giả như trên trái đất này không hề có một ai cần giúp đỡ, ta biết nương vào đâu tu phước? Vậy, một người ăn xin đang tới, ấy là cơ hội cho ta, nên cần cảm ơn sự xuất hiện của họ. Thứ nữa ta cung kính họ chính bởi họ cũng là con của ân sư, là con của Phật. Nhưng tâm phàm như tôi được cái gì sẽ chấp vào đó. Nó sẽ chấp vào cái mác thiện lương, chấp vào phước hữu lậu; rồi nó sẽ khiến những người không bố thí được như nó buồn phiền; và rồi nó sẽ bực tức với cái ngã của chính nó dựng lên. Rồi…, nó phải nhận thấy cái nó đang cho và vật cho đều huyễn, đều không, đều là phương tiện vô thường. Thảy mộng. Sự tiếc nuối hay tự hào về ý nghĩ và hành động của ta đều vô thường và chung một bản chất mộng. Ta chỉ là nương vào mộng để tỉnh mộng mà thôi.

Không chấp nhận nổi thời giankhông gian đều ảo giả, đều không. Không chấp nhận đời là cơn đại mộng. Có lần thầy đưa tôi xem phim khoa học về “Lỗ hổng thời gian”, khi thế giới vớt được vị thuyền trưởng và một nữ hành khách trên con tàu lịch sử sau 80 năm. Người ta phải lục lại hồ sơ kiểm định về hai con người này, thử ADN, thấy trùng khít mới tin nổi. Trong lúc lý thuyết khoa học trên thế giới giải thích về vấn đề này vẫn đang là giả định. Hai con người trên con tàu Titanic định mệnh sau 80 năm song với họ chỉ là vừa bị đánh rớt khỏi tàu, vẫy vùng kêu cứu và duyên may được cứu; thế mà đã 80 năm! Rõ ràng thời gian vốn ảo. Nói theo Kinh, đời này chỉ là giấc mộng! Ân sư tôi giảng pháp có nhắc đến một người lúc nằm mơ, thấy mình lớn lên, lập gia đình, rồi già khọm; choàng tỉnh, té ra cả cuộc đời đầu tắt mặt tối trải qua trong mấy mươi năm chỉ là cơn mộng phút chốc. Từ sự chứng nghiệm khoa học dẫu còn mơ hồ, đã phần nào khiến chúng ta tin hơn về việc đại sư Trí Giả tụng kinh Pháp Hoa đắc chánh định, “lạc” vào Pháp hội của Đức Phật đang còn thuyết pháp trên núi Linh Thứu! Tôi chợt nhớ câu trong kinh Kim Cang: “Nhất thiết pháp hữu vi/ Như mộng…”. Như vượt qua nghĩa so sánh, như thật, như thật mộng. Như như. Chân như. Như là nghĩa tột cùng ở muôn pháp. Tôi chấp lấy cuộc sống này, chấp mọi thứ được nhập vào tâm ý thức. Không biết rằng tâm ý thứcphân biệt, chấp trước, là nơi sở hữu mọi ấn tượng để chiếu lên màn ảnh luân hồi. Một khi không khởi phân biệt chấp trước, không lưu ấn tượng, không còn tin suy nghĩ phán đoán nào khởi sinh (ngoại trừ câu kinh duy nhất đang trì niệm) là đang tập lìa tâm ý thức. Lìa tâm ý thức không phải còn tìm một tâm khác đặt vào, mà ngay lúc đang lìa đó đã là chỗ của sự sáng suốt, của ánh quang minh đang le lói. Thầy tôi trong nỗ lực “phá hoại” tất cả mọi sở đắc sở tri của bạn tu, còn luôn thúc trò chuyên niệm một câu kinh như cái chết sắp đến nơi. Câu kinh đó là thần lực, là thánh lực, là Phật lực, là diệu lực. Một khi câu kinh được chuyên tâm chấp trì, nó sẽ cảm hóa tất thảy vọng niệm, cảm hóa đến những vọng niệm xấu ác nhất như loài hổ bị rụng hết răng nanh móng vuốt và quỳ phục trước sự ban ơn của thần rừng. Thầy nhắc tôi, ân sư cho phép ta chấp vào một câu kinh duy nhất. Hãy chấp trì, chấp trước kiên cố nó. Con chấp vào câu kinh quá mãnh lực, và nương nhờ vào Tánh lực gia trì từ nó, sẽ tự nhiên được hút về theo đúng chu trình vạn pháp duy tâm của nhân quả. Ấy là cách duy nhất giúp thầy trò mình buông nhả dần mọi phân biệt chấp trước, buông ý thức kéo lôi sanh tử. Hãy chấp trước kiên cố vào câu kinh duy nhất làm thực tại duy nhất, trụ chắc chắn vào nó. Hãy để nó mọc rễ ăn sâu vào tâm của con như cổ thụ. Bộ rễ sẽ ăn sâu vào thức vọng động. Con chỉ một việc duy nhất ấy. Rồi một ngày bộ rễ của “câu kinh cổ thụ” tự nó sẽ làm rạn nứt tâm ý thức của con, và tự nhiên ánh quang minh sẽ le lói chiếu ra cảnh trần để con nhìn thấy thật tướng bình đẳng của muôn pháp. Câu kinh duy nhất trong tâm ấy, nó tỏa hương tự nhiên, không mang bất cứ một trọng trách nào. Câu kinh được kết thành chuỗi, thành khối miên mật rõ rành từng âm từng chữ cứ thầm diệu vang vang dâng lên trong tâm của hành giả như sóng cuộn dưới lòng đại dương trong lúc nhìn trên mặt biển là hoàn toàn phẳng lặng. Bạn tu “của tôi”, tôi không biết đã niệm đến như lời thầy hay chưa song tôi cảm được định lực ẩn dưới khuôn mặt bình lặng an nhiên ấy. Tôi có hỏi song chưa bao giờ nhận được câu trả lời; bạn cứ chỉ tôi hướng về thầy, còn thầy hướng tôi về phía thầy của thầy. Trong hàng ngàn bài giảng của ân sư, tôi lại thấy ân sư hướng tôi về phía đức Phật. Bỗng có lần, tôi cảm được đức Phật qua lời kinh đang đẩy tôi về cõi tịnh bằng con thuyền tâm chuyên chở duy nhất một câu kinh làm thực tại.

Tạo bài viết
12/10/2016(Xem: 8514)
24/08/2018(Xem: 1734)
28/09/2016(Xem: 15891)
27/01/2015(Xem: 10345)
Chùa Hương Sen tổ chức 3 tours hành hương từ ngày 02/09/2019 đến ngày 07/10/2019
Kính dâng Giác Linh Hòa Thượng thượng Quảng hạ Thanh. Ngài đã về với Phật lúc 12:49 sáng, ngày 9 tháng 6 năm 2019 tại Bảo Quang tự viện, thành phố Santa Ana, miền Nam California Hoa Kỳ, trong tiếng niệm Phật liên tục của Chư Tôn Đức và Phật tử khắp nơi tựu về. TN Huệ Trân cẩn bái
Trong buổi giao lưu ngày 21 tháng 5 năm 2019 Ngài đã từ bi hướng dẫn cho Đại chúng thực hiện một nghi thức về “Phát khởi Bồ Đề Tâm”. Thời lượng của ngày 20 là 1 tiếng 20 phút và gày 21-5-2019 là 57 phút 48 giây. Ngôn ngữ: Tiếng Việt