Nhập Hạnh Bồ Tát Sàntideva (Tôn Giả Tịch Thiên)

15/11/201012:00 SA(Xem: 28217)
Nhập Hạnh Bồ Tát Sàntideva (Tôn Giả Tịch Thiên)

Bodhicaryàvatàra

NHẬP HẠNH BỒ TÁT
 Sàntideva (Tôn giả Tịch Thiên) - Việt dịch: Nguyên Hiển - Hiệu đính: Lê Triều Phương
 TUỆ QUANG FOUNDATION Ấn bàn điện tử, Xuân 2009

 MỤC LỤC

 Lời nói đầu
 Lời thưa về việc hiệu đính (1,2)
 Tiểu sử Tôn giả Sàntideva
 Chương 1: Lợi ích của Tâm Bồ Đề
 Chương 2: Sám hối tội nghiệp
 Chương 3: Phát Tâm Bồ Đề
 Chương 4: Thực hành Tâm Bồ Đề
 Chương 5: Chánh niệm, Tỉnh giác
 Chương 6: Nhẫn nhục
 Chương 7: Tinh tấn
 Chương 8: Thiền quán
 Chương 9: Trí tuệ
 Chương 10: Hồi hướng
 
 
 

 LỜI NÓI ĐẦU

 Ngài Sàntideva (Tịch Thiên, 691-743) viết luận này tại Học Viện Nalanda, Ấn Độ vào thế kỷ 8. Ngài diễn giảng đường tu hạnh Bồ Tát, hạnh Lục độ và tu mười đại hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát. Đọc tụng luận này, hành giả có thêm hùng tâm dũng chí để giúp Đạo, cứu đời.

 Dịch giả đã tham cứu các bản dịch dưới đây:

 - Bản Hán dịch của Trần Ngọc Giao
 - Bản Pháp dịch của Georges Driessens
 - Bản Anh dịch của Kate Crosby và Andrew Skilton
 - Bản Việt dịch của Thích Nữ Trí Hải

 Luận này là sách gối đầu giường của Tăng, Ni, Phật tử theo lối tu Đại thừaẤn Độ, Tây Tạng, Mông Cổ và Trung Hoa. Vì dịch theo lối thi kệ để dễ tụng đọc và dễ nhớ cho nên quá súc tích và quá ngắn gọn, vì vậy không thể tránh khỏi có chỗ vụng về và tối nghĩa. Xin chư tôn đức cùng qúy Phật tử cao minh từ bi chỉ giáo để khi tái bản dịch phẩm này được hoàn chỉnh hơn.

 Xin chân thành cảm tạ hai Pháp hữu Tâm Zen và Như Pháp Trí đã giúp phần hiệu đínhhoàn thành dịch phẩm này. Xin hồi hướng công đức đến pháp giới chúng sanh thoát ly luân hồi khổ não, viên thành Phật đạo.

 California, Mùa Phật Đản 2459-2005
 Nguyên Hiển

  Lời thưa về việc hiệu đính (1)

 Tập Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát,“ của Tôn giả Santideva, do cư sĩ Nguyên Hiển dịch sang Việt ngữ năm 2005, theo thể kệ, đã đến tay tôi trong một hoàn cảnh đầy kỷ niệm. Năm 2005, chúng tôi bị một bệnh nặng hành hạ suốt nửa năm dài. Hàng ngày đau nhức vô cùng. Chúng tôi chưa đồng ý để bác sĩ mổ và kham nhẫn chịu đựng. Hàng ngày niệm Phậtthỉnh thoảng đọc phẩm Phổ Môn.

 Một ngày nọ, năm người bạn từ phương xa đến thăm vì muốn „tiếp sức“ cho chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đang nằm ở bệnh viện trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Các bạn phải trò chuyện cùng nhau nơi hành lang của bệnh viện. Cuối cùng chúng tôi gặp mặt nhau khoảng 15 phút rồi chia tay. Riêng đạo hữu Nguyên Định đã đem theo để tặng và khuyên chúng tôi nên đọc tập Luận nói trên. Chúng tôi đọc lướt qua và thấy nội dung vô cùng ý nghĩa.

 Một buổi tối, sau bữa ăn chiều, chúng tôi đọc lại tập Luận kỹ hơn. Bỗng dưng trong đầu chúng tôi vang lên âm thanh như dòng nhạc của những câu kệ trong phẩm Phổ Môn, ví dụ như

 Bi thế giới lôi chấn,
 Từ ý diệu đại vân,
 Chú cam lồ pháp vũ
 Diệt trừ phiền não diệm“
 (Lòng từ bi như sấm,
 Ý tứ diệu dường mây,
 Xối mưa pháp cam lồ,
 Dứt trừ lửa phiền não)
 (Bản dịch của HT Trí Tịnh)

 hoặc
 Diệu âm, Quán thế âm,
 Phạm âm, hải triều âm,
 Thắng bỉ thế gian âm,
 Thị cố tu thường niệm“.
 (Diệu âm, Quán thế âm,
 Phạm âm, hải triều âm,
 Tiếng hơn thế gian kia,
 Cho nên thường phải niệm)
 (Bản dịch của HT Trí Tịnh)

 Lòng chúng tôi bỗng nổi lên cảm hứng chỉnh sửa ngay lại một số câu trong bản dịch của cư sĩ Nguyên Hiển, với ước muốn mình có riêng một bản Luận đọc nghe êm nhẹ hơn, dù không bằng những câu ví dụ trong phẩm Phổ Môn.

 Chúng tôi vừa đọc vừa ghi chép cho đến khi cảm thấy buồn ngủ. Kim đồng hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc: Tại sao mình đã mất cảm giác đau nhức và mệt mỏi suốt 6 tiếng đồng hồ? Có gì linh thiêng và huyền nhiệm tỏa ra từ những dòng kệ „Nhập Hạnh Bồ Tát“chăng? Chúng tôi đi ra hành lang bệnh viện để kiểm lại thì giờ. Đồng hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya.

 Hôm sau, đạo hữu Nguyên Châu, trong nhóm những người đã đến thăm chúng tôi, gọi điện thoại hỏi về bệnh tình. Chúng tôi thuật lại chuyện kỳ diệu đã trải qua trong đêm. Đạo hữu liền kể ngay cho tôi biết lược sử của Tôn giả Santideva và cho biết Phật tử Tây Tạng rất sùng kính Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát“ như Phật tử châu Á sùng kính phẩm Phô Môn. Nhiều Phật tử đã cảm nhận được sức mạnh thiêng liêng toát ra từ tập Luận. Cuối cùng đạo hữu đã khuyên chúng tôi nên cố gắng „đánh bóng“ công trình việt dịch của cư sĩ Nguyên Hiển vì điều này vừa giúp cho bản thân chúng tôi giảm được sự đau khổ của thân xác trong lúc đau bệnh và biết đâu bạn bè nhờ đó mà có được một bản dịch dễ tụng hơn. Chúng tôi đã hứa sẽ theo đuổi việc „đánh bóng“ ấy. Động cơ quan trọng nhất đã thúc đẩy việc làm của chúng tôiđạo hữu Nguyên Hiển đã cho phép chúng tôi hiệu đính lại bản dịch của anh.

 Những ngày hôm sau chúng tôi lần lượt nhận được 5 bản dịch khác do bạn bè gởi đến với lời khuyến khích làm công việc hiệu đính. Đó là bản Đức ngữ „Eintritt in das Leben zur Erleuchtung“ do G.S. Ernst Steinkellner chuyển ngữ năm 1981, ba bản Việt ngữ gồm có: „Bồ Tát Hạnh“, do Thượng Tọa Thích Trí Siêu (Pháp) dịch năm 1990, „Nhập Bồ Tát Hạnh“ do Ni Sư Thích Nữ Trí Hải dịch năm 1998 và „Một tia chớp sáng trong đêm tối“ do đức Dalai Lama giảng giải và do Đoàn Phụng Mệnh dịch năm 1999 và bản Anh ngữ „Engaging in Bodhisattva Behavior“ do ông Alexander Berzin dịch năm 2005. Sáu bản dịch rất công phu với những chú giải rõ ràngchúng tôi đọc được, đã soi sáng cho chúng tôi thấy được nội dung và ý nghĩa của con đường đi của các bậc Bồ Tát. Nơi đây, chúng tôi chân thành bày tỏ sự tri ân sâu sắc của chúng tôi đến tất các vị dịch giả và giảng giải.

 Hôm nay, sau gần một năm rưởi, chúng tôi hoàn thành bản hiệu đính với tâm trạng khinh an, mặc dù vẫn còn nhiều khuyết điểm. Chúng tôi xin hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh và cầu mong cho tất cả đều đạt được mục đích giác ngộgiải thoát.

 Chúng tôi cũng xin bày tỏ sự cám ơn sâu sắc đến hiền nội và bằng hữu đã khuyến khích và hỗ trợ việc hiệu đính, hỗ trợ tìm tài liệu, đánh vi tính và sửa lỗi chính tả.

 Göttingen, Germany, ngày 14.01.2007
 Lê Triều Phương
 
 

 Lời thưa (2)

 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

 Năm 2005 nhờ đọc Luận và hiệu đính Nhập Hạnh Bồ Tát của Tôn Giả Tịch Thiên (Santideva) mà chúng tôi thoát qua cơn đau khổ của bệnh ung thư vào thời kì chót. Sau một năm rưỡi hiệu đính bản dịch của Nguyên Hiển, tập Nhập Hạnh Bồ Tát được ấn hành vào đầu năm 2007.

 Cuối năm 2007 tôi lại lâm vào tình trạng nguy kịch. Nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, chúng tôi được nghe quí Thầy, người thân và bạn bè đã tụng kinh cầu an. Cơn đau đã được lời kinh làm êm dịu và tâm hồn chúng tôi được thanh thản an lành. Nhưng vì lý do nào đã khiến chúng tôi tóm lược Luận Nhập Hạnh Bồ Tát?

 Lý do thứ nhất, bên cạnh sự cầu an, có lẽ Kinh Nhập Hạnh Bồ Tát đã tác động vào tôi như dòng nước Cam lồ tắm mát thân tôi. Sau mỗi lần cầu an như vậy, thân quyến và bạn bè chúng tôi đều nhận địnhnhất trí rằng kinh Nhập Hạnh Bồ Tát đã vực tôi dậy sau hai lần đứng trên bờ sinh tử. Nhân đây chúng tôi xin trân trọng cám ơn chư Tăng tại ba Chùa sau đây:

 Một là Thượng Tọa trụ trì Thích Đồng Đạo và Tăng sĩ Chùa An Linh, Q. 12, TP Hồ Chí Minh. Qúi vị đã cầu an nhiều đợt, mỗi đợt nhiều ngày và có khi 9 đêm liền. Ngoài các kinh khác, cả Luận Nhập Hạnh Bồ Tát cũng được đọc tụng.

 Hai là Sư Ông Thích Viên Mãnđệ tử Đại Đức Thích Chúc Minh tại Chùa Hòn Đỏ, Nha Trang và Thượng Tọa Thích Phước An, Nha Trang.

 Ba là Đại Đức Thích Như Hoằng trụ trì Chùa Sắc Tứ Thiên Tứ tại Hòn Đất, Ninh Hòa, Nha Trang. Ngoài việc cầu chư Phật và Bồ Tát, Đại Đức còn cầu Bồ Tát Thích Quảng Đức cứu độ chúng tôi. Hòn Đất là nơi ẩn tu của ba vị Thiền Sư đắc đạo.

 Lý do thứ hai, 3 khối u lớn dưới da bụng chúng tôi lần lượt tự hủy, dịch theo vết mổ gan cũ thoát ra ngoài. Chúng tôi không còn uống thuốc chống đau với liều lượng ngày càng lớn nữa. Chúng tôi vẫn an nhiên chấp nhận không chóng thì chày, 1 trong 5 khối u còn lại có thể kết liễu đời chúng tôi, mặc dù chúng đã teo nhỏ lại hơn xưa.

 Mười chương trong Nhập Hạnh Bồ Tát đã toả rộng niềm bình an trong những đêm cầu an của bằng hữu. Chúng tôi thầm mong ước rằng nếu tập Nhập Hạnh Bồ Tát gói trọn được trong 3 giờ tụng niệm, mỗi lần trong vòng 1 giờ, thì lòng chúng tôi sẽ vô cùng hoan hỷ, an lạc khi nghe được lời kinh vang vọng và tâm tư thấm nhuần thêm một số lời dạy trong kinh. Và chúng tôi đã dốc tâm làm việc đó. Đây không phải là việc chỉnh sửa mà chỉ là tóm gọn để tiện dụng.

 Lý do thứ ba, trong thế giới hiện đại, thời gian sẽ vô cùng quí báu cho nên chúng tôi xin hồi hướng tập Nhập Hạnh Bồ Tát này đến các bạn tuổi trẻ để các bạn tiết kiệm thời gian đi sâu vào thế giới tâm linh an lành của chúng ta.

 Thạnh Lộc, 30-02-2008
 Lê Triều Phương
 (TS Lê văn Tâm)

 qua đời ngày 12/06/2008.
 
 

 TIỂU SỬ TÔN GIẢ TỊCH THIÊN (SÀNTIDEVA)
 Thích Trí Siêu (Pháp)

 Theo truyền thuyết tôn giả Sàntideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua Surastra. Từ những kiếp quá khứ, ngài đã cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đã nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát.

 Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ tát: Văn Thù và Tara. Bồ tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: ”Ở đây không có chỗ cho hai người”. Bồ tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài và nói rằng: ”Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi về nước nầy đây.”

 Tỉnh dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ tát, nên đêm hôm trước khi ngài lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống thì có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống vì đó là nước độc, sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm ngọt như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ: ” Cô ở đâu đến?” . Thiếu nữ trả lời: ”Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành tựu phép tam muội củaVăn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây”.

 Vừa nghe như thế, tôn giả Sàntideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Đến nơi ngài thấy đó là một vị hành giả (Yogi) sống trong một chòi lá, ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dườngcầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát. Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thùthiếu nữ kia chính là Tara. Kể từ đó ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát.
 Sau đó ngài đi về phương Đông, xin vào làm việc trong triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Để tỏ lòng thành kính nhớ ơn vị thần linh chủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh kiếm gỗ. Ngài giúp vua trị vì đúng theo Phật pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức, tìm cách gièm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng: ”Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình một thanh kiếm mà không bao giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin Bệ hạ hãy khám nghiệm lại”. Vua tin lời cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: ” Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nhìn được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận”. Nghe vậy, vua càng nghi ngờ nhất quyết đòi xem.

 Cuối cùng, Thừa tướng nói với vua: ”Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn bằng mắt trái thôi”. Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Đại thành tựu giả nên cầu xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tròng lại khiến vua khỏi mù.
 Sau đó tôn giả bỏ chức Thừa tướng, tìm đến tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Sàntideva. Sau khi nghe hết ba tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận: Siksàsamuccaya, Sùtrasamuccaya và Bodhicaryàvatàra.

 Ngài tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ tát trong thiền định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang. Tuy vậy, chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ, không chịu văn, tư, tu gì cả. Thấy thế một số Thượng toạ học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến: Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận ; ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: ”Nếu vậy, phải làm cho tôi một toà sư tử tôi mới trùng tuyên”. Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận gì được.

 Sau khi lên ngồi toà sư tử, ngài hỏi: ”Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau này?”. Vì muốn chế giễu ngài nên đại chúng nói: ”Những sáng tác mới sau này”. Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh (Bodhisattava-caryavatara). Khi tụng đến câu: Khi Có và Không không còn khởi lên trong tâm…... thì ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy ngài nữa, Tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm kiếm, thấy trên bàn để lại ba quyển: Sutràsamuccaya (Tập kinh luận), Siksàsamuccaya (Tập Bồ Tát học luận) và Bodhicaryàvatàra (Nhập Bồ đề hành luận).

 CHƯƠNG MỘT
 LỢI ÍCH CỦA TÂM BỒ ĐỀ


 Đối tượng và mục đích

 1. Con trân trọng cúi đầu
 Đảnh lễ các đức Phật (1)
 Cùng các vị Thừa Kế (2)
 Và những bậc đáng kính;
 Con nương lời Phật dạy
 Xin nêu lên ngắn gọn
 Lối vào hạnh Bồ Tát

 2. Luận này nghĩa chẳng mới
 Vần điệu cũng không hay
 Chẳng dám vì lợi tha
 Viết ra chỉ nhắc nhở
 Và thấm nhuần tâm mình.

 3. Nhờ sự nhắc nhở này
 Mà tín tâm tăng trưởng
 Ai cùng một tin tưởng
 Cũng được lợi ích nhiều.
 

 Lợi ích của tâm bồ đề

 4. Hạnh phúc thay gặp duyên
 Sinh ra thân con người
 Nay không nhân cơ hội
 Để tu hành giải thoát
 Sau này tìm đâu ra.

 5. Như đêm mây dày dặc
 Được lằn chớp chiếu soi
 Nhờ thần lực chư Phật
 Tâm lành thoảng khởi lên.

 6. Đức hạnh rất yếu mềm
 Trước sức mạnh điều ác
 Chỉ có tâm Bồ đề
 Mới cưỡng lại, đứng vững.

 7. Trải bao kiếp tư duy
 Phật thấy tâm Bồ đề
 Có công đức vô lượng
 Cứu vô số chúng sinh
 Thoát ra ngoài biển khổ.

 8. Muốn thoát khổ của đời
 Trừ tai ương muôn loài
 Muốn hưởng chân hạnh phúc
 Chớ rời tâm Bồ đề

 9. Người người trong sanh tử
 Phát khởi tâm Bồ đề
 Được gọi là con Phật
 Xứng đáng được tôn kính

 10. Nước phép tâm Bồ đề
 Gội sạch thân ô trược
 Thành thân Phật vô giá
 Hãy giữ Bồ đề tâm
 

 11. Đấng Đạo sư thấy rõ
 Tâm Bồ đề qúi báu
 Muốn vượt thoát ba cõi
 Phải giữ vững tâm này.

 12. Làm lành như cây chuối
 Quả hết rồi héo khô
 Tâm Bồ đề to lớn
 Như đại thụ xum xuê
 Luôn sinh quả tươi tốt.

 13. Người đời phạm tội nặng
 Nhờ thế lực che chở
 Biết sự nghiệp đã tạo
 Sao chẳng tìm chỗ nương?

 14. Đức Di Lặc đã giảng
 cho Thiện tài biết rằng
 Tâm Bồ đề kỳ diệu
 Như lửa thời hoại kiếp
 Đốt tan bao tội nặng
 Chỉ trong một sát na.
 

 Hai loại tâm Bồ đề

 15. Tâm Bồ đề bao gồm
 Hai nguyện để tu tập:
 Trước là nguyện phát tâm
 Sau thực hiện tâm ấy.

 16. Ai cũng đều biết rằng
 “Muốn đi“ khác với “đi“
 Người trí nên biết rõ
 Sự khác biệt như vậy.

 17. Nguyện phát tâm Bồ đề
 Tuy sinh kết quả lớn
 Song không thể sánh bằng
 Nguyện thực hiện tâm này.
 

 Ca ngợi tâm Bồ đề

 18-19. Những ai đã quyết tâm
 Cứu độ mọi chúng sinh
 Phải luôn luôn tinh tấn
 Thực hiện tâm Bồ đề;
 Từ lúc ấy trở đi
 Ngay cả khi ngủ nghỉ
 Phước đức vẫn liên tục
 Tăng lớn như hư không

 20. Để người tin Tiểu thừa
 Không ngừng bước tiến lên
 Trong Kinh Vấn Diệu Lý
 Đấng Như Lai đã dạy
 Công đức tâm Bồ đề
 Thật rộng lớn vô biên.

 21-22. Chỉ nghĩ cách chữa lành
 Đầu mọi người khỏi nhức
 Là phát tâm chân thành
 Đem lại bao phước đức.

 Phước đức càng thâm sâu
 Khi cứu giúp chúng sinh
 Thoát ưu phiền thống khổ
 Đạt được cõi an lành.

 23. Có cha nào, mẹ nào
 Đã phát tâm như vậy?
 Tiên, chư Thiên, Phạm Thiên
 Đã có chưa tâm ấy?

 24. Xưa nay dù trong mơ
 Chưa ai nguyện như thế
 Dù vì lợi cho mình
 Nói chi đến phát nguyện
 Cứu độ cho người khác.

 25. Làm sao có thể tìm
 Được một vị Bồ Tát
 Như viên ngọc hi hữu
 Giữa chúng sinh ích kỷ
 Chẳng biết làm điều lành
 Vì lợi ích chúng sinh!

 26. Tâm Bồ đề trân quý
 Là mầm mống an vui
 Là linh dược diệt khổ
 Tạo phước đức vô lường.

 27. Ý nghĩ làm lợi người
 Đã hơn phước cúng Phật
 Huống chi luôn nỗ lực
 Làm lợi lạc muôn loài.

 28. Có biết bao chúng sinh
 Tuy cầu mong an vui
 Song hủy diệt nguồn cội
 Sản sinh ra hạnh phúc
 Như tận diệt kẻ thù.

 29. Chúng sinh thiếu niềm vui
 Lại chịu nhiều đau khổ
 Tâm nguyện Bồ đề này
 Đem vui và diệt khổ.

 30. Tâm Bồ đề có thể
 Trừ diệt sự ngu si
 Có bạn lành nào sánh
 Còn phước nào lớn hơn?

 31. Bồ tát luôn bố thí
 Dầu không ai cậy nhờ
 Với tâm hạnh như vậy
 Đáng ca ngợi xiết bao!

 32. Kẻ bố thí thức ăn

 Giúp chúng sinh đỡ đói
 Dù họ no nửa ngày
 Đã là người đáng trọng

 33. Bồ tát thường ban cho
 Niềm vui của chánh giác
 Làm thỏa mãn tất cả
 Nguyện vọng mọi hữu tình .

 34. Đức Phật đã dạy rằng
 Bồ tát cứu muôn loài
 Nên đáng được tôn quý
 Ai phỉ báng Bồ tát
 Sẽ sa đại địa ngục

 35. Ngược lại, ai tín thành
 Cung kính chư Bồ tát
 Sẽ hưởng phước đức lớn
 Bồ Tátgian nan
 Việc ác vẫn không làm
 Càng hăng làm việc thiện.

 36. Tôi kính xin đảnh lễ
 Người phát tâm Bồ đề
 Đem vui cho chúng sinh
 Cho cả kẻ hại mình;
 Tôi cúi đầu kính lạy
 Và xin được quy y
 Nơi chư vị Bồ tát
 Cội nguồn chân hạnh phúc.
 
 

 CHƯƠNG HAI
 SÁM HỐI TỘI NGHIỆP


 Nghi lễ Bồ Tát

 Ca ngợi

 1. Để con nắm giữ được
 Tâm nguyện quí giá này
 Con cúng dường chư Phật
 Và Pháp Bảo thiêng liêng
 Con cúng dường Bồ tát
 Đầy phẩm tính tốt lành.
 

 Cúng dường

 2. Cúng dường hoa quả tươi
 Thức ăn ngon quý nhất
 Nước uống thật tinh khiết
 Vật quý báu trên đời.

 3. Cúng dường núi châu báu
 Rừng thanh tịnh ngát hương
 Hoa cõi trời diễm tuyệt
 Trái quý buông trĩu cành.

 4. Cúng dường những hương thơm
 Ngào ngạt cõi trời đất
 Cúng dường trang sức quý
 Cúng dường cây như ý
 Thành tựu mọi ước mơ
 Cúng dường mọi ngũ cốc
 Tự sinh không người trồng.

 5. Cúng dường ao sen đẹp
 Thiên nga hót êm dịu
 Và mọi vật vô chủ
 Đầy dẫy khắp bầu trời.

 6. Con giữ chúng trong tâm
 Dâng lên đấng Thế Tôn
 Và chư vị Bồ tát
 Thỉnh cầu đức Thế Tôn
 Từ bi nghĩ đến con
 Mà nhận vật cúng dường.

 7. Con vô phước bần cùng
 Không một chút tài sản
 Kính xin đức Phật thương
 Nhận lễ vật tâm con.

 8. Con nguyện đem thân tâm
 Để làm kẻ nô bộc
 Phụng sự Phật, Bồ tát
 Mong quí ngài xót thương
 Thâu nhận lễ vật này.

 9. Được các ngài thâu nhận
 Thân tâm con siêu thoát
 Con nguyện sống lợi tha
 Diệt trừ các ác nghiệp.

 10-11. Đây nhà tắm tráng lệ
 Nền thủy tinh long lanh
 Cột trụ khảm trân châu
 Lọng dù bằng ngà ngọc

 Trần thiết lộc bình quý
 Đầy nước thơm thích ý
 Ngân vang muôn diệu âm
 Thỉnh Phật, Bồ tát tắm

 12. Đây khăn tắm sạch thơm
 Lau khô thân các ngài
 Đây y phục cõi trời
 Với màu sắc mỹ lệ
 Lan tỏa hương dịu thơm.

 13. Đây y phục mềm mại
 Và trăm trang sức quý
 Dâng lên Đức Phổ Hiền,
 Văn Thù, Quán Thế Âm.

 14. Hương liệu thơm vũ trụ
 Xin thoa ngọc thể Ngài
 Tỏa hào quang thanh tịnh
 Óng ánh sắc vàng ròng.

 15. Xin cúng dường chư Phật
 Các tràng hoa đẹp đẽ
 Kết từ hoa tươi thơm
 Như hoa sen, hoa lài
 Hay hoa mạn đà la.

 16. Con xin dâng chư Phật
 Vầng mây hương ngây ngất
 Dâng thực phẩm cõi trời
 Thức ăn uống đẹp ngon.

 17. Con dâng đèn hoa ngọc
 Chân chạm đá sen vàng
 Nền nhà dịu mát hương
 Rải đầy hoa đẹp ý.

 18. Xin cúng dường chư Phật
 Những lâu đài tráng lệ
 Rèm buông ngọc lung linh
 Du dương ngân tiếng hát.

 19. Xin dâng hiến chư Phật
 Lọng che bằng châu ngọc
 Cán đúc toàn vàng ròng
 Viền thêu hoa mỹ lệ.

 20. Cúng phẩm nhiều như mây
 Nhạc du dương hoà tấu
 Khổ đau được dịu xoa
 Mong sao chúng mãi còn.

 21. Mưa hoa, mưa ngọc ngà
 Mong luôn luôn buông rơi
 Trên thân Phật, tháp Phật
 Trên giáo pháp diệu kỳ.

 22. Như Ngài Diệu Cát Tường (10)
 Xưa kia cúng dường Phật
 Nay con xin cúng dường
 Phật, Bồ tát như vậy.

 23. Dùng âm vang hải triều
 Tán dương công đức Phật
 Nguyện tiếng tán dương này
 Luôn vang đến các Ngài.

 24. Nguyện hoá thân như bụi
 Lễ lạy Phật ba đời
 Lễ lạy Pháp và Tăng
 Cùng khắp cả pháp giới.

 25. Con lễ lạy tháp Phật
 Các nơi Bồ tát ở (3)
 Lễ bậc trì giới nhất
 Kính lễ hàng thánh tăng.
 

 Quy y

 26. Từ nay cho đến khi
 Đạt Vô thượng Bồ đề
 Con nguyện quy y Phật,
 Pháp và chư Bồ Tát.
 

 Sám hối

 27. Trước chư Phật, Bồ Tát
 Ở cùng khắp mười phương
 Con xin chấp hai tay
 Thành khẩn nguyện như vầy:

 28-29. Từ vô thỉ đến nay
 Trôi lăn trong sinh tử
 Với tội ác không lường
 Do tự mình gây ra
 Hay xúi giục người làm
 Vì vô minh che lấp
 Nay con biết lỗi lầm
 Thành tâm xin sám hối.

 30-31. Lỗi lầm con đã phạm
 Qua nghiệp thân, khẩu, ý
 Đã gây bao tổn hại
 Cho Tam bảo (4), mẹ cha
 Cũng như cho Thầy Tổ
 Và cho bao kẻ khác
 Nay trước đức Thế Tôn
 Con thành tâm sám hối
 Mọi tội lỗi gây ra.

 32. Nếu sám hối chưa trọn
 Con lỡ chết thì sao?
 Vậy xin Ngài mau cứu
 Trước khi thần chết đến.

 33. Thần chết thật lừa lọc
 Nó không biết đợi chờ
 Tội rửa sạch hay chưa
 Dù đang bệnh hay khỏe
 Con không thể nào tin
 Vào mạng sống mong manh
 Lập loè như lửa đóm.

 34. Con đã không ý thức
 Chết là bỏ tất cả
 Nên con đã quanh quẩn
 Với bè bạn, kẻ thù
 Vì vậy tự gây ra
 Biết bao điều xấu ác.

 35. Đời người như mộng ảo
 Điều gì đã trải nghiệm
 Cũng chỉ là ký ức
 Tất cả đều trôi qua
 Không bao giờ trở lại.

 36. Kẻ thù thành hư vô
 Người thân như mây khói
 Thân tôi rồi phải chết
 Tất cả trở về không.

 37. Trong đời ngắn ngủi này
 Kẻ thân, thù đã chết
 Duy nghiệp ác đã gây
 Còn ở lại với tôi.

 38. Tôi đã không ý thức
 Rồi cũng chết như họ
 Nên cứ tham sân si
 Tạo ra bao lầm lỗi.

 39. Mạng sống giảm từng ngày
 Chẳng bao giờ ngừng nghỉ
 Không thể nào kéo dài
 Làm sao thoát khỏi chết?

 40. Đến lúc sắp lâm chung
 Dù thân thuộc vây quanh
 Thống khổ lúc hấp hối
 Tôi gánh chịu riêng mình.

 41. Khi Diêm Vương đến bắt
 Thân thuộc có ích gì?
 Chỉ phước đức mới cứu
 Tôi lại chưa tu tập!

 42. Do buông lung không biết
 Hậu quả xấu mai sau
 Bám víu đời phù phiếm
 Tôi tạo bao nghiệp xấu.

 43. Như kẻ ra pháp trường
 Kinh hãi, miệng khô đắng
 Mắt trợn trắng, thất thần
 Hình sắc cũng đổi khác.

 44. Huống chi khi thấy bóng
 Ma vương đến bắt ta
 Kinh hoàng sao kể xiết
 Khổ đau dâng tột cùng.

 45. Ai cứu tôi ra khỏi
 Cơn sợ hãi lớn này
 Tôi tròn xoay đôi mắt
 Nhìn bốn phương van cầu.

 46. Bốn phương không thấy ai
 Sợ hãi lại càng tăng
 Không nơi nào che chở
 Tôi phải làm sao đây?

 47. Con xin quy y Phật
 Ngài là đấng Từ Bi
 Bảo vệ, đem lợi ích
 Cho tất cả muôn loài
 Có năng lực giải cứu
 Tiêu trừ bao sợ hãi.

 48. Con xin quy y Pháp
 Mà chư Phật chứng ngộ
 Có thể đưa muôn loài
 Sang đến bờ giải thoát
 Và con xin quy y
 Nơi chư vị Bồ Tát.

 49. Trong cơn sợ bấn loạn
 Con xin dâng thân mạng
 Lên Bồ tát Phổ Hiền
 Và Bồ tát Văn Thù.

 50. Với tiếng kêu khẩn thiết
 Con cầu Đức Quan Âm
 Mở đại từ bi tâm
 Cứu con, kẻ mê lầm.

 51. Con cầu cứu các Ngài
 Hư Không Tạng Bồ Tát
 Địa Tạng Vương Bồ Tát
 Chư Bồ Tát đại bi.

 52. Con cũng xin nương tựa
 Kim Cương Trí Bồ Tát
 Ngài mà các sứ giả
 Của Diêm vương khiếp vía .

 53. Xưa trái lời Phật dạy
 Nay gặp nạn hãi hùng
 Con xin quy y Phật
 Mau cứu độ cho con.

 54-56. Với bệnh nhẹ tầm thường
 Đã tuân lời thầy thuốc
 Huống chi trăm thứ bệnh
 Sinh từ tham sân si!

 Một trong trăm bệnh này
 Đã đủ làm tiêu hủy
 Mọi loài Nam Diêm phù
 Nay chạy khắp mọi nơi
 Tìm không ra thuốc chữa.

 Phật là đại y vương
 Dạy giáo lý thoát bệnh
 Những ai không làm theo
 Thực ngu si đáng trách.

 57. Bên hố sâu vài trượng
 Tôi đi phải đề phòng
 Cạnh địa ngục sâu thẳm
 Sao đời đời nhởn nhơ?

 58. Bởi nghĩ rằng chưa chết
 Sống nhởn nhơ phóng dật
 Quả thật là dại khờ
 Nhưng rồi sớm hay muộn
 Cái chết phải đến thôi.

 59. Tôi không thể có được
 Cái cảm giác dễ chịu
 Rằng trong ngày hôm nay
 Thần chết sẽ không đến
 Chắc chắnxuất hiện
 Làm sao yên hưởng nhàn?

 59. Ai giúp bớt lo sợ
 Ai chỉ tôi lối thoát
 Làm sao thoát hãi kinh
 Của sự chết phải đến
 Sao có thể nhởn nhơ?

 60. Khoái lạc đã trải qua
 Chỉ còn là hoài niệm
 Bám víu mà làm chi
 Để trái lời Phật dạy?

 61. Chết là lìa bỏ hết
 Người thân và bạn bè
 Đi vào cõi vô định
 Bạn hay thù ích chi?

 62. Tôi nên hằng ngày đêm
 Tỉnh thức với tư duy
 Rằng gieo ác, gặt ác
 Làm sao tránh khỏi đây
 Sự gieo xấu ác này

 63-64. Vì ngu đần, vô minh
 Phạm giới do Phật chế
 Gây biết bao tội lỗi
 Lòng run sợ ác báo.

 Nay trước đấng Giác ngộ
 Con chấp tay đãnh lễ
 Chư Phật và Bồ tát
 Xin thành tâm sám hối.

 65. Mong quí Ngài tha thứ
 Hành động ác từ xưa
 Và con xin thệ nguyện
 Vĩnh viễn không tái phạm.
 
 

 CHƯƠNG BA
 PHÁT TÂM BỒ ĐỀ


 Vui theo hạnh lành

 1. Tôi xin vui sướng theo
 Công đứchạnh lành
 Mà chúng sinh thực hiện
 Tôi cầu họ an vui.

 2. Tôi vui mừng ca ngợi
 Chúng sinh thoát khổ ải
 Và thoát vòng luân hồi
 Thành Bồ tát, thành Phật.

 3. Tôi xin vui sướng theo
 Tâm nguyện như biển cả
 Của chư Phật, Bồ tát
 Giúp mọi loài đang sống
 Được hạnh phúc an vui.
 

 Thỉnh cầu chánh Pháp

 4. Tôi chấp tay thỉnh cầu
 Chư Phật khắp mười phương
 Đốt lên đuốc chánh pháp
 Soi sáng kẻ lầm đường
 Đang rơi vào thống khổ.
 

 Thỉnh cầu bậc Chiến Thắng
 ở lại thế gian

 5. Tôi chắp tay thỉnh cầu
 Xin các bậc Chiến Thắng
 Đang muốn nhập Niết Bàn
 Hãy ở lại thế gian
 Suốt hằng hà sa kiếp
 Để cứu độ chúng sinh
 Thoát khỏi vòng tăm tối.
 

 Hồi hướng công đức

 6. Với công đức làm lành
 Tôi tích tụ từ lâu
 Nay xin nguyện hồi hướng
 Cứu khổ mọi sinh linh.

 7. Với chúng sinh đau bệnh
 Nguyện hoá làm thuốc hay
 Vừa làm thầy thuốc giỏi
 Vừa làm kẻ điều dưỡng.

 8. Thời tai ương đói khát
 Nguyện làm thức uống ăn
 Nguyện như mưa cam lồ
 Dập tắt lửa đói khát.

 9. Đối với kẻ bần hàn
 Nguyện thành kho vô tận
 Nguyện thành nhu yếu phẩm
 Đáp ứng mọi nhu cầu.
 

 Tự hiến thân mình

 10. Vì an vui chúng sinh
 Nguyện hiến dâng tất cả
 Tài sản cùng thân mạng
 Làm thiện suốt ba đời.

 11. Buông hết tất thoát khổ
 Tâm tất được thanh tịnh
 Trước sau phải bỏ hết
 Sao bằng bố thí ngay.

 12-13. Tôi nguyện đem thân này
 Bố thí cho chúng sinh
 Họ tha hồ mắng chửi
 Đánh đập hay giết hại.

 Hoặc đem ra mua vui
 Tâm tôi vẫn lặng yên
 Vì thân này đã xả
 Nên không hề nuối tiếc.

 14. Khi họ hành hạ tôi
 Dù lòng họ sướng vui
 Tôi cũng xin khấn nguyện
 Họ không bị ác báo .

 15-16. Việc gì lợi chúng sinh
 Tôi khiến thân này làm
 Nguyện ai gặp gỡ tôi
 Đều có nhiều lợi lộc.

 Nguyện ai giận, ghét tôi
 Hay vu khống, não hại
 Đều nhân đấy phát tâm
 Hướng về đường Giác Ngộ.

 17-18. Tôi xin nguyện bảo hộ
 Cho những người cô đơn;
 Khách bộ hành cần giúp
 Tôi làm kẻ chỉ đường;
 Nguyện làm cầu, làm thuyền
 Cho kẻ muốn sang sông .

 Tôi nguyện làm hòn đảo
 Cho người mong cập bến;
 Cho ai cần ánh sáng
 Tôi nguyện hóa đuốc đèn;
 Tôi nguyện thành nhà cửa
 Cho người cần nghỉ ngơi;
 Tôi nguyện làm tôi tớ
 Cho kẻ cần người sai.

 19. Nguyện hoá làm bò quý
 Thành bình ngọc như ý
 Thành thuốc tiên, bùa linh
 Nguyện thành cây như ý
 Thỏa nguyện ước chúng sinh.

 20. Nguyện hóa thành nhu yếu
 Căn bản cho sự sống
 Của vô số hữu tình
 Như đất, nước, lửa, khí.

 21. Nguyện làm nhân duy trì
 Sinh mạng của mọi loài
 Đến lúc không còn ai
 Chưa chứng quả Niết Bàn.
 

 Phát tâm Bồ đề

 22-23. Như chư Phật quá khứ
 Khi phát tâm Bồ đề
 Đều lần lượt tu học
 Giới hạnh của Bồ tát.

 Nay vì lợi chúng sinh
 Tôi phát tâm Bồ đề
 Siêng tu học giới hạnh
 Mà Bồ tát hành trì.
 

 Phần thưởng của sự phát tâm

 24. Sau khi các bậc trí
 Đã phát tâm Bồ đề
 Rồi cố sức tăng trưởng
 Nên ca ngợi như sau:

 25. Thật phúc thay cho tôi
 Nay được mang thân người
 Sinh vào gia đình Phật
 Được làm con của Phật .

 26. Vậy từ nay trở đi
 Phải cư xử, hành động
 Đúng truyền thống nhà Phật
 Quyết không làm ô danh
 Giòng giống thanh tịnh này.

 27. Như người mù may mắn
 Nhặt được viên trân châu
 Tôi phát tâm Bồ đề
 Cũng may mắn như vậy.

 28-32. Tâm Bồ đề cam lộ
 Mang lại sự bất tử
 Là kho tàng vô tận
 Trừ khử cảnh nghèo cùng.

 Là linh dược tuyệt vời
 Chữa mọi bệnh chúng sinh
 Là bóng mát nghỉ ngơi
 Cho lữ khách mệt mỏi.

 Là cầu đưa chúng sinh
 Vượt khỏi đường nguy hiểm
 Là vầng trăng dịu soi
 Xoa tan bao nóng bức.

 Là mặt trời chói lọi
 Xua đuổi bóng vô minh
 Tâm Bồ đề này đây
 Ví như chất đề hồ
 Rút từ sữa Diệu Pháp.

 Với người khách phiêu bạt
 Là lữ quán nghỉ ngơi
 Với người tìm an vui
 Là cội nguồn hạnh phúc.

 33. Nguyện chư Phật chứng giám
 Tôi mời khách thập phương
 Đến đây để tận hưởng
 Niềm vui được thành Phật
 Mong chư Thiên, mọi người
 Tất cả đều hân hoan .
 
 

 CHƯƠNG BỐN
 THỰC HÀNH TÂM BỒ ĐỀ


 Trách nhiệm của Bồ tát

 1. Đã phát tâm Bồ đề
 Con Phật phải tinh tấn
 Tu tập không biếng nhác
 Không lìa hạnh Bồ tát.

 2. Với công việc ngẫu hứng
 Ta có thể nghĩ lại
 Rằng nên làm hay không
 Mặc dù ta đã hứa

 3. Nhưng không thể buông bỏ
 Điều Phật và Bồ tát
 Đã quán chiếu chiêm nghiệm
 Mà tôi đã thọ hành.

 4. Tôi đã thề làm lợi
 Cho tất cả chúng sinh
 Mà không làm như hứa
 Như vậy tôi lừa dối
 Phận tôi sẽ ra sao?

 5. Kinh đã dạy rõ rằng
 Ai định cho kẻ khác
 Một vật dù nhỏ nhoi
 Song rồi lại không cho
 Sẽ đọa làm quỷ đói.

 6. Tôi đã mời chúng sinh
 Dự tiệc đại an lạc
 Rồi tôi lại dối gạt
 Đời tôi sẽ điêu linh!

 7. Người bỏ tâm Bồ đề
 Mà được quả giải thoát
 Là điều khó nghĩ bàn
 Chỉ chư Phật biết rõ.

 8. Trong giới hạnh Bồ tát
 Ai bỏ tâm Bồ đề
 Làm chúng sinh bất lợi
 Sẽ gặt quả báo ác.

 9. Ai trong một sát-na
 Cản trở người làm thiện
 Khiến hữu tình bị hại
 Sẽ gặp quả báo ác
 Thật vô cùng khủng khiếp.

 10. Phá an lạc một người
 Ta phải bị khốn khổ
 Huống chi phá an lạc
 Của vô số hữu tình
 Ác báo không cùng tận.

 11. Người phát tâm Bồ đề
 Nhưng hành động ngược lại
 Sẽ trôi trong luân hồi
 Khó trở thành Bồ tát.

 12. Phải cung kính thực hành
 Những gì đã thệ nguyện
 Nếu tôi không tinh tấn
 Sẽ đọa chốn thấp hèn.
 

 Giá trị của cuộc sống

 13. Vô số Phật ra đời
 Mang lợi đến chúng sinh
 Nhưng tôi vì tội xưa
 Nên không được ân phước.

 14. Nếu tái phạm nghiệp cũ
 Chắc chắn không thoát khỏi
 Số phận thật hẩm hiu
 Bệnh đau và tật nguyền
 Lăn lóc trong nẻo ác.

 15. Làm sao có cơ hội
 Được gặp Phật xuất thế
 Được duyên tu hành tốt
 Thấm nhuần được Phật pháp
 Và thuận duyên tu hành?

 16. Mặc dù được khỏe mạnh
 Đủ ăn, không tổn thương
 Nhưng thân này tạm bợ
 Đó chỉ là ảo ảnh.

 17. Với cuộc sống hiện nay
 Khó tái sinh thành người
 Mà không được thân người
 Làm sao làm việc thiện?

 18. Có cơ hội làm thiện
 Mà bỏ qua không làm
 Liệu tôi làm được gì
 Khi thống khổ bức bách?

 19. Nếu không làm việc thiện
 Chỉ toàn làm việc ác
 Dù trải qua muôn kiếp
 Vẫn không biết cõi lành.

 20. Đức Thế tôn dạy rằng
 Thân người khó được thay
 Như rùa mù dưới biển
 Cổ ngoi lên trúng ngay
 Vào lỗ ván phiêu bồng.

 21. Phạm tội nặng chốc lát
 Đã phải bị đọa đày
 Vào địa ngục vô gián
 Vậy với tội muôn kiếp
 Làm sao sinh cõi lành?

 22. Chờ trả xong ác báo
 Cũng khó thoát địa ngục
 Bởi trong lúc trả nghiệp
 Lại gây thêm tội mới.

 23. Khi được thân con người
 Là được cơ hội tốt
 Cho công việc tu hành
 Nếu bỏ cơ hội ấy
 Thật không gì điên hơn.

 24. Nếu đã biết như vậy
 Mà vẫn ngu si, lười
 Khi thần chết gõ cửa
 Sẽ đau khổ dường bao.

 25. Lửa địa ngục hừng hực
 Đốt thân tôi nhiều kiếp
 Và ngọn lửa ăn năn
 Càng hành hạ tâm can.

 26. Thật khó hiểu vì sao
 Tôi có được thân người
 Khi nhận biết điều này
 Thì rơi vào địa ngục!
 

 Diệt trừ ái dục

 27. Phải chăng các bùa chú
 Khiến tôi bị si mê
 Ai làm tôi mù lòa?
 Ma nào ẩn thân tôi?

 28. Những kẻ thù tham sân
 Không tay chân mặt mũi
 Không dũng cảm thông minh
 Sao chúng sai sử tôi?

 29. Chúng ngự trị tâm tôi
 Thường làm tôi tổn hại
 Mà tôi không biết giận
 Đó là nhẫn nhục sai
 Quả thậtđáng trách.

 30-31. Trời, người dù hợp lại
 Nhất tề tấn công tôi
 Vẫn không thể đẩy tôi
 Vào địa ngục vô gián.

 Nhưng phiền não ái dục
 Lại ném tôi vào đó
 Nơi mà núi Tu Di
 Cũng cháy không còn tro.

 32. Bè lũ của ái dục
 Sống dai dẳng vô cùng
 Vô thỉ đến vô chung.
 Kẻ thù trong đời tôi
 Không sống lâu đến thế!

 33. Theo kẻ địch ngoài đời
 Chúng còn chia lợi lộc,
 Ngược lại địch tham dục
 Chỉ luôn tạo khổ đau
 Cho người phục dịch nó.

 34. Kẻ thù dai dẳng ấy
 Là cội nguồn bất hạnh
 Nó ở ngay tâm tôi
 Tôi an nhiên sao được?

 35. Nó là kẻ cai tù
 Kẻ hành quyết tội nhân
 Nó ngự trị tâm tôi
 An lạc làm sao được?

 36-38. Ái dục chưa tận diệt
 Tôi phải tinh tấn hơn!
 Kẻ kiêu ngạo bị mắng
 Liền nổi giận, trả thù
 Khi hạ đối thủ xong
 Mới an lòng yên ngủ.

 Những chiến sĩ ra trận
 Tàn nhẫn diệt quân thù
 Dù những kẻ địch ấy
 Tự nhiên cũng phải chết.

 Họ phóng giáo, bắn tên
 Không đào tẩu tháo lui
 Khi chiến thắng chưa đạt.

 39. Vậy thì chính tôi đây
 Quyết tâm diệt ái dục
 Tôi quyết chí không lùi
 Dù đau đớn, thất vọng.

 40. Con người vì mưu sinh
 Phải chài lưới, làm ruộng
 Phải cố chịu đói lạnh
 Nay tôi vì chúng sinh
 Sao lại tránh khổ cực
 Không gánh vác nhọc nhằn?

 41-42. Dù tôi chưa giải thoát
 Song đã nguyện cứu độ
 Chúng sinh khắp mười phương
 Vượt khỏi biển ái dục.

 Tôi chưa tự lượng sức
 Mà lòng đã nguyện thề
 Vậy tôi điên hay không?
 Dẫu vậy tôi vẫn quyết
 Không ngừng diệt ái dục
 Nơi chính bản thân mình.

 43. Như chiến sĩ hờn căm
 Quyết chiến thắng tất cả
 Tôi giữ một say mê
 Diệt ái dục đến cùng.

 44. Thà tôi bị thiêu đốt
 Bị moi ruột, chặt đầu
 Nhưng quyết không khuất phục
 Giặc ái dục bạo tàn.

 45-46. Kẻ địch khi bị thua
 Rút lui, tìm nơi ẩn
 Rồi khi phục hồi sức
 Quay lại để phục thù.

 Nhưng ái dục thì không
 Khi nó bị đánh bại
 Nó chui vào trong tâm
 Vốn yếu hèn của tôi
 Và lẩn trốn nơi đó.
 Ái dục thật hèn hạ
 Duy chỉ có Trí tuệ
 Mới tiêu diệt nó thôi.

 47. Nó không ở ngoại cảnh
 Không nằm trong các căn
 Không ở giữa các căn
 Hoặc bất cứ nơi khác.

 Vậy nó từ đâu đến?
 Khiến cho đời đảo điên?
 Nó chỉ là ảo ảnh!

 Hỡi tâm của tôi ơi!
 Không nên sợ ái dục
 Hãy giải phóng nó đi
 Hãy tu chứng Trí tuệ;
 Đừng để ái dục
 Đẩy tôi vào địa ngục.

 48. Thường tư duy như vậy
 Nên cố sức tu hành
 Giữ trọn giới Bồ tát;
 Không tuân lời lương y
 Làm sao dứt được bệnh?
 

 Các bản dịch khác:
 Nhập Bồ Tát Hạnh do Ni Sư Thích Nữ Trí Hải dịch năm 1998
 Bồ Tát Hạnh, do Thượng Tọa Thích Trí Siêu (Pháp) dịch năm 1990
Tạo bài viết
08/08/2010(Xem: 96387)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.