Thường vô thường (phần 3)

16/04/20193:18 SA(Xem: 2157)
Thường vô thường (phần 3)

THƯỜNG VÔ THƯỜNG (Phần 3)
Mãn Tự

lotus-hoa senTất cả ngôn thuyết của các vị giáo chủ Bà La Môn nói ra đều phát sinh từ bốn thứ vọng tưởng chứ chẳng phải từ miệng Phạm Thiên nào hết, tại sao? Vì các vị Bà La Môn ngôn thuyết đặt trên nền tảng chính là: Thân và Tâm này. Tuy nhiên các vị đó không biết được Thân này hiện hữu là do ô nhiễm, nó bị chi phối về sinh lão bệnh tử. Còn Tâm này do huân tập chấp thủ mà có nên nó bị chi phối Pháp Vô Thường. Vì vậy các vị Bà La Môn ngôn thuyết có nói ra Pháp gì thì cũng không chạy ra ngoài bốn thứ vọng tưởng ở trên, cũng vậy giống như ném cục đá xuống nước thì không có nghi ngờ vì cục đá nhất định phải chìm.

Do vọng tưởng phát sinh Pháp tu hành nên cảnh giới chứng đắc tận cùng giáo lý Bà La Môn là đến sáu xứ, thế nào là sáu xứ:

  1. Sắc xứ.
  2. Thọ xứ.
  3. Tưởngxứ.
  4. Hành xứ.
  5. Thức xứ.
  6. Không xứ.

Nói về từ “Sở Nhập”Kinh Lăng Già thì tương đương với “Nhập Phật Tri Kiến Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”. Trong Kinh NIKAYA chúng ta thấy sau mỗi bài Pháp Thế Tôn thuyết xong thì có câu “Tín Thọ Phụng Hành” thật ra không phải chỉ Kinh Phật mới có mà đạo Hindu cũng có câu đó. Bây giờ hãy phân tích từ “Sở Nhập” và “Tín Thọ Phụng Hành” sai biệt như thế nào? “Tín Thọ Phụng Hành” có nghĩa là “tin chắc, ghi nhớ, thực hành”. Ghi nhớ cái gì? Ghi nhớ ngôn thuyết văn tự, giống như học sinh tiểu học phải học thuộc lòng bài học và ghi nhớ lời thầy giáo giảng dạy. Không phải vào thời Thế Tôn mới có mà hiện thời chúng ta vẫn thấy các môn đồ Vệ Đà Bà La Môn còn tụng đọc những câu kinh, câu thần chú mà họ cho là “Thần Khải”. Không chỉ đạo Vệ Đà Bà La Môn, mà đạo Phật Nguyên Thủy chúng ta cũng vậy. Đó là “Tín Thọ Phụng Hành” tức ghi nhớ những ngôn thuyết được nói ra.

Còn thế nào là “Sở Nhập”. “Sở Nhập” có nghĩa là theo cảnh duyên vạn Pháp mà Nhập. Nhập cái gì? Nhập vào Tự Tánh. Tự Tánh ở đâu? Tự Tánh nơi sáu căn, có nghĩa là: ở Mắt là Tánh Thấy, ở Tai là Tánh Nghe, ở Mũi là Tánh Ngửi…“Sở Nhập” tùy theo Pháp và Hạnh của vị tu hành theo sáu Tự Tánh mà Nhập. Có vị Nhập vào Tánh Thấy, rồi có vị Nhập vào Tánh Nghe, hay Tánh khác không nhất định. “Sở Nhập” là Nhập vào Phật Tri Kiến, hay gọi vị Giác Ngộ hay gọi là Chân Nhân, hay cũng có thể gọi là vị thấy Đệ Nhất Nghĩa. Sao gọi là Chân Nhân, là Đệ Nhất Nghĩa? Chân Nhân có nghĩa là vị đó thấy các Pháp như thật, như chân. Pháp gì là như thật, như chân? Pháp như thật, như chân là Pháp không đối đãi, không đến không đi, không sanh không diệt... Là Pháp không còn hai biên, là Pháp bất nhị, là Đệ Nhất Nghĩa Đế. Trên đây là nói lên một phần ít sự sai biệt giữa các bộ Kinh. Nên nhớ những bộ Kinh nào khi Đức Thế Tôn thuyết Pháp xong mà có câu “Tín Thọ Phụng Hành” thì đó là Kinh “Thuyết Thông”. Kinh Thuyết ThôngĐức Thế Tôn chuyển giáoBà La Môn từ niềm tin “hư huyền” đến cái “Thật”. Với Đức Như Lai một vị Giác Ngộ Viên Mãn, thì đừng nói giáo lý đạo Bà La Môncho đến tất cả các tôn giáo trong tam thiên đại thiên thế giới hay cả Pháp giới này, dù chỉ là niềm tin sơ đẳng cho đến phong tục, luân lý, tập Quán... Ngài cũng không bắt buộc họ từ bỏ mà Ngài tùy thuận theo đó thuyết pháp, so sánh đối chiếu từ những gì họ đang có đang sống, giúp họ chuyển biến tâm thức để bước lên một bước nữa xa hơn cao hơn. Vì là Pháp Vương nên ngài thấy rõ ràng rằng, dù là bùn dơ nhưng nếu biết cách thì hoa sen đẹp đẽ thơm tho sẽ từ đó xuất hiện.

Bây giờ phân tích điểm sai biệt Pháp Vô Thường của giáo lý Bà La MônTrí tuệchướng ngại thấy biết như thật của Đức Như Lai. Thế nào là giáo lý Vô Thường đạo Hindu. Vì không có Thánh Trí Tự Giác nên giáo lý Bà La Môn dựng lập thuyết Vô Thường năng nhíp, sở nhíp bằng sáu căn quan sát sự biến chuyển sinh diệt của sáu trần, rồi theo đó họ lập lên một “Định Thuyết Vô Thường”. Sau đây trích một đoạn nói về Vô Thường của giáo lý Bà La Môn từ Kinh Lăng Già. Khi ấy Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Thế Tôn rằng: Thế Tôn! Tất cả ngoại đạo nếu khởi vọng tưởng Vô Thường, Thế Tôn cũng thuyết: Chư hành Vô Thường, là Pháp sinh diệt. Thế Tôn nghĩa này thế nào? Là chánh hay tà? Có mấy thứ Vô Thường. Đức Thế Tôn bảo Đại Huệ: giáo lý Vệ Đà Bà La Môn có bảy thứ Vô Thường, chẳng phải Pháp ta thuyết vậy. Thế Tôn Thế nào là bảy?

Thứ nhất: “Tạo rồi lại bỏ”,
Thứ hai “Hình xứ hoại”,
Thứ ba: “Ngay sắc thể”,
Thứ tư: “Quá trình chuyển biến”,
Thứ năm: “Các vật thể biến hoại chẳng gián đoạn”,
Thứ sáu: “ Tánh vô Tánh Vô Thường”,
Thứ bảy: “Bất sanh Vô Thường”

Đó là tiêu biểu bảy lý thuyết Vô Thường của đạo Bà La Môn, những kiến chấp Vô Thường này tất cả Kinh Vệ Đà Bà La Môn đều có.

Thật ra khi Đức Như Lai vị Thánh Trí Tự Giác chưa xuất hiện thì bảy triết thuyết Vô Thường ở trên tuyệt đối không có một nhân vật nào trong thời đó có thể phá vỡ được. Vậy Trí tuệ của Đức Thế Tôn Như Lai như thế nào và làm sao hàng phục chuyển hóa các vị giáo chủ thông thái Bà La Môn quay sang đầu Thế Tôn chịu làm đệ tử. Xét về Kinh Phật cũng chia thành ba tầng Pháp Vô Thường, tùy theo trình độ tu hànhchứng nhập:

Thứ nhất: là Quán “Thân” Quán“cảnh” mà chứng nhập như bài thơ Vô Thường của vị Thiền Sư Việt Nam “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô...”.

Thứ hai: là Quán Pháp mà nhập đó là bài kệ bốn câu “Vạn Pháp nhân duyên sinh…”.

Và thứ ba: là “Chư hành Vô Thường là Pháp sinh diệt…”.

Hai Vô Thường trước là nhờ Quán ngoại duyênchứng nhập, ngoại duyên là sáu căn đối với sáu trần, còn Vô Thường thứ ba là Quán nội duyênchứng nhập. Thế nào là nội duyên? Chư hành có nghĩa là Tâm hành hay Tâm thức, còn Pháp sinh diệt là thức năng duyên, sở duyên. Vì là nội duyên nên muốn chứng được Tâm hành thì nhất thiết phải lìa ngoại cảnh. Tâm hành giống như Tịnh chỉ lưu Thủyvi tế sâu xa nên người người tu hành phải có cái Định siêu việt mới thấy được. Tuy nhiên một vị tu hành dù có chứng được Vô Thường thứ nhất, hay Vô Thường thứ nhì cho đến Vô Thường thứ ba thì cũng không phải cốt tủy tinh hoa của Đạo Giác Ngộ. Những vị tu hành chứng đắc Pháp Vô Thường thì không còn tham luyến thế gian vì vị đó như thật thấy thân Vô Thường, Cảnh Vô Thường, vạn Pháp Vô Thường do nhân duyên sinh diệt, cho đến Chư hành Vô Thường nên tinh tấn tu hành để chứng Niết Bàn tịch tịnh.

Bây giờ hãy nghe Đức Thế Tôn giảng thuyết sự sai biệt bảy Pháp Vô Thường do Quán Nội – Ngoại duyên mà lập nên và Vô Thường do đắc Thánh Trí Tự Giác nói ra. Ở đây xin trích phẩm Vô Thường từ Kinh Lăng Già

Thứ nhất: Đại Huệ!: Ngoại đạo nói Tạo rồi liền bỏ là Vô Thường, Ta nói lìa kẻ bắt đầu tạo ra Vô Thường thì chẳng phải tứ đại, vì tứ đại bất sanh là thường.

Thứ hai: Ngoại đạo nói: Hình xứ hoại là vô thường. Ta nói tứ đạitứ đại tạo sắc chẳng hoại, cứu cánh chẳng hoại... Hình xứ hoại là đọa vào số luận.

Thứ ba: Ngoại đạo nói ngay sắc thể tức là vô thường, ấy cũng là hình xứ vô thường, chẳng phải tứ đại... Thấy tất cả tánh chỉ có ngôn thuyết, chẳng thấy tự tướng sanh, là đọa nơi thế luận.

Thứ 4: Chuyển biến vô thường, ngoại đạo nói. Ta nói: sắc thể hiện khác với sắc tánh, chẳng phải tứ đại có khác. Như Vàng làm ra nhiều đồ trang sức, hiện chuyển biến khác nhau, nhưng tánh Vàng thì chẳng khác.

Thứ năm: Ngoại đạo nói: Tánh vô thường. Ta nói: Vô Thường của tự tánh bất hoại. Đại Huệ! Đây là tất cả tánh vô tánh, là sự vô thường. Nếu tất cả tánh đọa tướng có năng tác, thì năng tác vô thường, sở tác cũng vô thường, năng vô thường, sở vô thường thì tất cả tánh chẳng vô thường, vì vô thường, thường sanh vô thường, tức là thường vậy.

Thứ sáu: Đại Huệ!: nói tánh tự tánh vô thường, là lìa tứ đạitứ đại sở tại, khi tự tướng hoại, tứ đại tự tánh bất khả đắc, tức là bất sanh.

Thứ bảy: Nói bất sanh vô thường, là phi thường vô thường. Tất cả pháp hữuvô bất sanh, phân tích cho đến vi trần thì chẳng thể thấy, ấy là nghĩa bất sanh, phi sanh, gọi là tướng vô thường bất sanh. Nếu chẳng giác được nghĩa này thì đọa ngoại đạo sanh nghĩa vô thường.

Phần trên là bảy Định thuyết Vô thường của kinh Vệ Đà Bà La Môn, thật ra nếu đứng trên hiện tượng thì thật là chính xác vi tế không có gì bàn cãi. Từ xa xưa đến hiện tại giới tu hành lấy sáu căn thấy biết làm tôn chỉ thì học thuyết vô thường giúp họ giải thoát tham luyến thế gian. Do vậy với bảy học thuyết vô thường Đức Thế Tôn không chê bai hay bác bỏ. Tuy nhiên với Trí Tuệ Thánh Trí tự giác Ngài thấy rằng: Vì tin vào thấy nghe hay biết bằng sáu căn nên chỉ phân tích được hiện tượng thô phù bên ngoài, chỉ thấy sự sai biệt cái Quả mà không thấy được cái Nhân, chỉ nhận ra sự chuyển biến mà không thể nhận ra bất biến, chỉ thấy cái dụng mà không thấy cái thể, thấy sắc tướng mà không thể nào thấy được vô tướng... Vì vậy theo đạo Bà La Môn tu hànhvô lượng kiếp cũng không ra khỏi  ba cõi mà chỉ lòng vòng luân hồi lên xuống trong biển khổ mà thôi.

Ghi chú:

Nếu quý Đạo Hữu nào có những thắc mắc về bài pháp THƯỜNG VÔ THƯỜNG này và toàn bộ các Bài Pháp khác của Thầy Mãn-Tự để cần trao đổi hơn nữa nhằm được thực hành lý sự viên dung Giáo Pháp của Đức Như Lại đã trao truyền thì xin vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ Email như sau:

  1.  Cư Sĩ An Tuệ: "email: thuanvn2512@gmail.com"
  2. Cư Sĩ Tự Quảng: "email: Tuquang2019@gmail.com"

Thường và vô thường (phần 2)
Thường và vô thường 

Tạo bài viết
18/09/2012(Xem: 56626)
28/10/2010(Xem: 30412)
17/05/2019(Xem: 776)
06/05/2012(Xem: 105712)
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.
Theo ước tính của Trung tâm nghiên cứu Pew, Phật tử chiếm khoảng 1% dân số trưởng thành ở Hoa Kỳ và khoảng hai phần ba Phật tử Hoa Kỳ là người Mỹ gốc Á. Trong số những người Mỹ gốc Á, 43% là người Mỹ gốc Việt và một phần tư người Mỹ gốc Nhật xác định là Phật tử, phần còn lại là Kitô hữu hoặc không có tôn giáo nào.
Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán với âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung quốc là chuyện từ nghìn năm và đang tiếp diễn đến ngày nay. Hiện tại chúng đã bao vây trọn vẹn biển Đông và biên giới phía Bắc đang chuẩn bị đưa binh lực tràn qua biên giới để tấn công Việt Nam một lần nữa. Đó là nhận định của nhà phân tích chiến lược David Archibald trong bài viết nhan đề “Advice for Our Vietnamese Friends on China” (Lời Khuyên Gửi Các Bạn Việt Nam Của Tôi về TQ) đăng trên tạp chí American Thinker ngày 27/9/2019. Thực sự Tổ quốc Việt Nam đang lâm nguy, người Phật tử không được quyền rửng rưng, vô cảm, và thờ ơ. Ban biên tập Thư Viện Hoa Sen là những Phật tử đồng thời là con dân của nước Việt nên chúng tôi chưa biết làm gì hơn là truyền đạt thông tin này đến tất cả mọi người dân yêu nước.