04 Kinh Giảng

06/10/201012:00 SA(Xem: 11952)
04 Kinh Giảng


KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ GIẢNG THÍCH

Tỳ Kheo Thích Hằng Quang

Kinh Văn:

Nay Như LaiVi Đề Hyvị lai tất cả chúng sanh quán nơi Tây Phương Cực Lạc quốc độ, do nguyện lực Phật nên sẽ được quốc độ thanh tịnh ấy, như cầm gương sáng tự thấy hình tượng mặt mình. Thấy những sự vui cùng cực vi diệu của quốc độ ấy, nên tâm vui mừng liền được Vô Sanh Pháp Nhẫn.".

Lược giảng:

Trải qua thời gian lâu, bỏ công lau chùi cho tấm gương giác ngộ được sáng lại (dụng công quán tưởng), nhìn vào thấy được bộ mặt thật của mình, tuy chưa được thấy từng mỗi một chơn lông ở trong gương, nhưng đã thấy hình bóng xinh đẹp của mình trong gương,nên sanh tâm vui mừng. không còn lo sợ là mình có bộ mặt xấu xí nữa.

Cũng vậy, Chư Phật đối với chúng sanh như mẹ đi tìm con, nhưng mẹ cố đi tìm thì con lại cố tâm rời xa mẹ, thời làm sao gặp được, mẹ (phật) tìm con không bao giờ ngừng nghĩ, nay con biết nhớ tưởng về với mẹ, đi khắp nơi để hỏi thăm tông tích của mẹ mình đang ở đâu (theo pháp quán tưởng của phật dạy). Người con thơ này không biết mẹ mình ở cạnh bên, nên lại càng thành tâm thành ý đi tìm mẹ cho bằng được, đi tìm khắp nơi nhưng lại không thấy nên tự nghĩ, xưa nay ta không nghe lời mẹ dạy, theo những bọn tà tri tà kiến (tham sân si)làm những việc đảo điên, thôi! ta nay dừng nghĩ ở đây, để sửa lỗi lầm của mình, để khi gặp mẹ có thể chứng minh cho mẹ biết rằng, mình đã sữa lỗi lầm năm xưa, nói cách khác là đã chiến thắng được tham, sân si, những thứ giặc phiền não. Liền gặp được mẹ.

Đến lúc mà gặp lại người mẹ, dù cho quí vị, chưa thắng được tham sân si đi nữa, nhưng với tấm lòng thành, và sự khao khát nguồn nước giải thoát như vậy, thì cũng sẽ được mẹ thương yêu, mà nương vào tha lực của đức Như Lai mà được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Cho nên, những ai muốn rời ngưồn nước sanh tử này, thì phải sửa lỗi lầm của mình, ngày đêm nhớ tưởng đến Đức từ phụ A Di Đà, niệm trì danh hiệu của Ngài với lòng thành, thì chắc chắn sau khi trả báo thân này, quí vị nhứt định sẽ được định cư nơi thế giới Cực Lạc mà không gì nghi ngờ. Chúng ta ngày đêm nhớ tưởng đến Đức Như Lai, mà còn tham sân si, thì việc này không bảo đảm được. 

Đi đứng nằm ngồi đều có thể niệm, càng niệm càng tỏ rõ, chớ đừng càng niệm mà càng lu mờ, hoa mắt, nếu càng niệm mà càng lu thì phải sửa liền, vậy thì thành tựu được.

Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ này, Đức Bổn Sư Thích Ca đã dạy chúng ta cách quán tưởng về y báochánh báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc. Nếu như quí vị chẳng có thể quán tưởng như vậy, thì chỉ cần tham quán sáu chữ đại hồng danh của Ngài, ngày đêm sáu thời bỏ vào tâm. Niệm danh hiệu này với tấm chân thànhmùi vị giải thoát mà quí vị trông đợi, ai làm được vậy, thì đã vãng sanh về thế giới của Ngài rồi đấy, chỉ vì báo thân của quí vị còn hiện hữu ở nơi đây, chớ thiệt không còn là chúng sanh trong đường sanh tử nữa, một khi trả báo thân quí vị liền sanh vào hoa sen quí báu của thế giới Cực Lạc.

Có người nói với tôi rằng, việc niệm Phật mà có được oai thần như vậy, chúng sanh làm việc ác, sao chỉ cần thành tâm niệm Phật thì đặng vãng sanh chứ? Vã lại thế giới Cực Lạchữu vi, nhưng muốn sự giải thoát thì cần phải tham quán không

Không?

Còn quí vị thì sao, có lòng tin vững và hiểu được pháp môn này vi diệu như thế nào không? Hay tâm quí vị cũng như vị thiền sinh này?

Như tôi đã nói, tôi là người không có trí tuệ, học thiền, niệm Phật, tụng kinh, tụng kinh trì chú, cái gì tôi cũng phát tâm học và đều hoan hỷ những gì mà Phật Tử đang dụng công, do tôi không trí tuệ nên tôi không hiểu những gì bí ẩn ở bên trong, Phật pháp thật là vi diệu thì làm sao có thể lấy cái trí tuệ hạn hẹp của tôi để thông suốt được? Hàng Bố Tát còn phải tham quán huống hồ là tôi? Nói đến đây chắc có người sẽ bảo, không hiểu tại sao phải làm? 

Đúng vậy, làm phải hiểu, hiểu phải làm, nhưng tôi thì không hiểu, tôi chỉ biết được là khi mình làm như vậy, thì mình bớt đi một vọng tưởng, phiền não cũng bớt dần và tự cảm biết mình được an vui, cho nên phải làm.

Quí vị, đừng cho pháp tịnh độđơn giản nhé. Tôi thành thật cho quí vị biết, pháp môn này không đơn giản như nhiều người đã nghĩ, ở ngoài trông thấy đơn giản nhưng khi đi vào rồi thì thật là không đơn giản chút nào. Như vậy mới là diệu Pháp môn.

Thật cám ơn đức Như Lai, đã vì chúng ta mà nói ra những phương tiện tu hành này, và các bậc tiền bối đã gìn giữ truyền trao, cho nên chúng ta hôm nay mới có được.

Tôi không thông hiểu như mọi người, nhưng tôi sẽ trả lời với sự hiểu biết hạn hẹp của tôi. 

Nay tôi kể câu chuyện cho quí vị nghe nhé, sau khi nghe xong thì tự quí vị hãy tự trả lời cho chỗ nghi ngờ của mình. Trước khi kể câu chuyện này tôi xin nói rõ, là câu chuyện của tôi rất là đơn giản, vì tôi không phải là người học thức, cho nên hy vọng rằng khi quí vị nghe qua câu chuyện của tôi, hãy dùng trí tuệ hạn hẹp của quí vị mà nhận, chớ đừng dùng trí tuệ học thức, bằng cấp đại học mà hiểu, hãy cho nó vào nằm yên trong tâm quí vị trong lúc này, khi nào ra về tiếp xúc với người đời thì hãy mang ra, nhưng nếu như có người cất dấu luôn thì càng tốt, giống như sáu chữ đại hồng danh của Đức Phật, người thấy thật đơn giả. Thời bây giờ xã hội thật quá thông minh, cho nên người tu hành cần phải chịu thua họ, bằng không quí vị sẽ bị họ cuốn vào cuộc đấy.

Có một Phật tử bảo với tôi rằng, "con có một cháu trai và một cháu gái hiện ở Việt nam. Cháu trai thời ở An Giang và cháu gái hiện ở Sa Đéc. Hai cháu đều bịnh nặng nhưng nhà rất nghèo nên không có tiền chạy thuốc, anh chị của con gọi điện nhờ con giúp đỡ phần nào để chạy thuốc cho hai cháu. Khi nghe như vậy con rất thương tâm nên vội gửi cho anh chị một số tiền để lo bịnh cho hai cháu. Qua một gian sau, con được tin là bịnh tình của cháu trai được phần khôi phục, và chắc không bao lâu cháu sẽ được xuất viện. Nhưng còn cháu gái thời bịnh càng nặng thêm, nên con gởi thêm tiền về cho anh để lo cho cháu. Nhưng sự xiệc này cứ kéo dài như vậy, cho đến một ngày kia, thì con mới biết rằng, thật ra cháu gái này bịnh được chữa lành rồi, nhưng người anh lại lợi dụng cach này để làm tiền, chớ thiệt không phải là lo cho đứa cháu gái này. Khi biết việc này thì con rất buồn, con thì thành tâm giúp họ, nhưng họ lại gạt con như thế, nên con tự nói với mình là sẽ không bao giờ quan tâm gì đến họ. Không biết con làm như vậy có đúng hay không?"

Qua câu chuyện này, quí vị có hiểu những gì tôi muốn nói không? nếu ai hiểu được tôi đang muốn nói cái gì thì tôi thành thật xin chúc mừng người đó. Tất cả pháp đều nằm trọn trong sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật. Nay tôi lại mượn câu chuyện của nữ Phật Tử này để nói lên sự mầu nhiệm không thể nghĩ bàn của sáu chữ này và cũng là trả lời câu hỏi của một vị thiền sinh đã hỏi tôi. Nếu ai qua câu chuyện này mà không hiểu, thì tuyệt đối hãy dùng trí tuệ hạn hẹp của quí vị mà hiểu, đừng đem sự học vấn bằng cấp đại học mà hiểu nó nhé. Quí vị sẽ không hiểu tôi đang nói những gì. có hiểu chăng đi nữa thì sẽ hiểu một cách không chơn thật.

Hôm qua tôi nhận một cú điện thoại, quí vị có muốn biết ai đã gọi cho tôi không? Chính là đức Từ Phụ A Di Đà đấy. Đức Từ Phụ bảo với tôi rằng:" Tịnh Quang con ơi! Phật là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Người muốn thoát khỏi tam giới thì cần phải bước qua cửa ngõ của Tam giới mà ra, chớ đừng dùng thần thông (lục căn ô trược) mà phóng ra thì không những là không ra được mà còn dính chặt thêm thôi". 

 Qua những lời message này, tôi không hiểu được là Đức Từ Phụ muốn chỉ thị cho tôi những gì? Nhưng theo lối hiểu biết nông cạn của tôi thì chính là dùng lời nói chân thật, hành vi cử chỉ phải đoan trang và chơn thật với mọi người.

Trong quí vị đừng nghĩ:" Không biết Đức Từ Phụ có gọi điện cho vị Tỳ Kheo ốm yếu kia không?" 

Đừng quan tâm là có hay không, tất cả đều như mộng huyễn, có gì mà để quan tâm chứ? Điều mà chúng ta cần làm hiện nay, chính là làm sao buộc niệm về một chỗ để tham quán sáu chữ này. Và nghĩ xem có nên nói lời chân thật với mọi người hay không? Làm cách nào để thâu phục được tham sân si của mình, đây mới là điều quan trọng mà quí vị cần phải làm, đây cũng chính là căn bản trước khi bước vào một ngôi nhà trang nghiêm và nếm được mùi vị giải thoát ở trong đó. 

Có người chỉ nghe nói mùi vị giải thoát nhưng không hề nếm được nó, vậy thì làm sao mà nhận được mùi vị giải thoát này, cũng không biết mùi vị đó ra sao? Cách duy nhứt là hãy tự mình thử nếm nó đi, rồi sẽ biết được mùi vị của chúng ra sao. Một khi quí vị nếm được nó, thời cái gì cũng buông bỏ, lúc này không có gì là vui sướng nữa. Người đời cho sự kết hôn là vui sướng nhứt. Nhưng sự vui sướng này không thể nào sánh kịp được một phần trong muôn ức phần của nó. Cũng không nên đêm sự vui sướng ích kỷ, tham lam mà sánh với mùi vị giải thoát thanh tịnh trí huệ này. Cho nên hãy phát lòng chánh tín và hãy cố gắng lên thì quí vị sẽ biết được mùi vị của nó. Nói đến đây tô rất hoan hỷ:

Niệm niệm chớ sanh nghi
Di Đà đại thánh Chúa
Mười phương cõi reo ca
Thành tâm niệm Phật ra
Tham sân si niệm Phật
Thời Phật ẩn lòng ta
Cho nên phải chí thành
Di Đà sẽ tỏ rõ
Thập niệm vạn pháp qua
Vãng sanh vào một niệm
Liên Trìdự Phần
Pháp tu thật vi diệu
Y nhị báo trang nghiêm
Mười Phương đồng ca tụng
Cõi nước thật trang nghiêm
Mười Phương Phật Phương Tiện
Do lòng đại bi sanh
Muốn độ hết chúng sanh
Tán dương đại Pháp Vương
Chính hiệu Vô Lượng Giác
Con nay với lòng thành 
Một lòng nương theo Phật
Ca tụng đại Pháp Vương
Nguyện cùng đại chúng đây
Phát tâm tinh tấn này
Nguyện Ngài không buông bỏ
Thấu suốt tỏ lòng con.

Qua một thời gian lau chùi cái tâm được trong sạch, hiểu biết chơn chánh, biết được pháp xưa nay không sanh cũng không diệt, nên không còn buồn vui, lo sợ, giận hờn,thương ghét, phiền não v.v.... nên gọi là Vô sanh pháp nhẫn.

Kinh Văn:

Đức Phật bảo Vi Đề Hy:" Người là phàm phu, tâm tưởng yếu kém, chưa được thiên nhãn chẳng thể thấy được xa. Chư Phật Như Laiphương tiện lạ khiến bà được thấy cõi nước Cực Lạc".

Lược giảng:

Tuy chúng ta là người phàm phu đầy tội lỗi, tuy nhiên chớ cho mình là yếu kém, vì tất cả chúng sanh đều như nhau, do mỗi vọng tưởng điên đảo của mỗi chúng sanh khác nhau mà sanh ra vô lượng trùng trùng sai biệt. Sống trong màn vô minh thì cũng đừng cho mình là đen tối, phải cố gắng lên để vén lên bức màn vô minh đó, phiền não tuy nhiều nhưng bồ đề vốn không ích. Cho nên chỉ cần quí vị thành tâm muốn rời khỏi bến mê, thời chư Phật đều có đủ phương tiện để đưa chúng ta ra khỏi bến mê này.

Kinh Văn:

Vi Đề Hy bạch Phật rằng:" Bạch đức Thế Tôn! Như hôm nay con nhờ oai lực của đức Phật Thế Tôn mà được thấy quốc độ Cực Lạc ấy. Nếu sau khi đức Phật Thế Tôn diệt độ, các chúng sanh trược ác, bất thiện, bị ngũ khổ bức ngặt, họ làm thế nào có thể được thấy A Di Đà Phật Cực Lạc Thế Giới?". 

Lược giảng:

Đoạn này là lời hỏi của bà Vi Đề Hy, bà đương thời sanh vào thời của Phật, nên nhờ vào oai thần của Phật mà thấy được Đức Phật A Di Đàthế giới Cực Lạc. Bà lại dùng lòng từ bi của mình thay thế cho chúng sanh trong đời sau đầy dẫy tội khổ thì làm sao thấy được đức Từ Phụ A Di Đà? 

"trược ác" trựợc là vết nhơ, ý nói chúng sanh hay làm những việc không trong sạch.

"bất thiện" là những việc tổn hại đến chúng sanh khác. Có rất nhiều cách để làm việc ác, nhưng chúng ta biết rằng, có mười việc bất thiện không nên phạm, mười việc đó là: sát sanh, trộm cướp, dâm dục (tại gia tà dâm), vọng ngữ, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, tham, sân, và tà kiến.
 

"ngũ khổ" tức là năm thứ khổ, sanh khổ, già khổ, bịnh khổ, tử khổ, và ái biệt ly khổ
 
Kinh Văn:

Đức Phật bảo Vi Đề Hy:" người và chúng sanh phải chuyên tâm buộc niệm một chỗ, tưởng nơi phương Tây. Tưởng niệm thế nào?

Tất cả chúng sanh, những người sanh ra nếu mình chẳng phải là kẻ sanh ra bị mù quán, thời đều thấy mặt trời lặn cả. Phàm người tu tập quán tưởng nên phát khởi tưởng niệm, ngồi quay thẳng hướng về phía Tây, quán kỹ chỗ mặt trời sắp lặn, khiến tâm niệm trụ vững chuyên tưởng nhớ chẳng dời. Thấy mặt trời sắp lặn, dạng như mặt trống đồng treo. Đã thấy mặt trời rồi, làm sao lúc nhắm mắt mở mắt đều được thấy rõ ràng. Môn nhựt quán này là phương pháp quán tưởng thứ nhứt.

Lược giảng

Phương Đông là mặt trời mọc, tượng trưng cho sự thọ khổ của chúng sanh, phương Tây là mặt trời lặn, tượng trưng cho chỗ dừng nghĩ của chúng sanh. Dừng nghĩ cái gì? Chính là dừng nghĩ tham, sân, và si.
 

Cách quán tưởng này là bức thềm để chúng ta bước lên để vào Đại Định đấy, cũng là bức thềm đầu tiên để chúng ta vào thế giới Cực Lạc. Nói đơn giản hơn, chính là chìa khóa để mở ổ khóa cửa cổng của ngôi biệt thự của chúng ta. Quí vị nghĩ cách quán tưởng này có khó không? Thật ra, cách này không phải là khó, chỉ cần quí vị đem tâm thànhý chí mạnh mẽ thời đều thành tựu, không có gì là khó, khó là khó tại lòng chúng ta mà thôi. Một khi đã được thì mở mắt hay nhắm đều thấy rõ. Muốn chứng được cảnh giới này thì trước tiên phải dứt tâm tán loạnnhiếp tâm mình về một chỗ thì sẽ được.
 

Khi mà tâm của quí vị đã được thanh tịnh, khi nhắm hay mở thời đều thấy rõ, tuy nhiên quí vị không nên sanh tâm chấp trước. vì nếu có lòng mong mõi (tham chấp) thời trạng thái này sẽ bị động chuyển. 
 

Không mong cầu mà được, mong cầu mà không được chính là đạo lý này. Tất cả đều ở trong bản tánh chân như của quí vị, vậy thì mong cầu để làm gì? Việc trước tiên chính là lau chùi cho sạch tấm gương kia trước.

Kinh Văn:

Kế đó quán tưởng nước. Thấy nước đứng trong, cũng khiến phải sáng tỏ, ý tưởng không phân tán. Đã thấy nước rồi, nên quán tưởng băng, thấy băng chói suốt, tưởng làm lưu ly
 

Tưởng nầy thành rồi, thấy đất lưu ly trong ngoài suốt chói, phía dưới có tràng vàng, kim cương, thất bửu bưng chống đất lưu ly. Kim tràng ấy tám phương đầy đủ tám cạnh. Mỗi mỗi phương tiện do trăm châu báu làm thành. Mỗi mỗi bửu châu có ngàn ánh sáng. Mỗi mỗi ánh sáng có tám vạn bốn ngàn màu chói đất lưu ly, sáng như ức ngàn mặt nhựt chẳng thể thấy đủ hết được.

Lược giảng:

Đây là thủy tưởng, cũng là phép quán thứ hai. 

Kinh Văn:

Trên đất lưu ly, có dây hoàng kim xen kết lẫn lộn với thất bửu, giăng phân ranh giới chừng ngằn ngang rộng phân minh. Trong mỗi mỗi thất bửu ấy có ánh sáng ngũ sắc. Ánh sáng ấy như đóa hoa, lại có như sao như trăng, lững lờ trên hư không tạo thành đài ánh sáng. Có ngàn vạn lầu các do trăm báu hiệp thành. Hai bên đài dều riêng có trăm ức hoa tràng, với vô lượng nhạc khí, dùng làm trang nghiêm. Tám thứ gió mát từ ánh sáng phát ra, xao động các nhạc khí ấy, vang ra tiếng diễn nói khổ, không, vô thường, vô ngã. Đây là thủy tưởng gọi là pháp quán thứ hai. Lúc quán tưởng này đã thành, phải mỗi mỗi sự quán thấy thật rõ ràng, lúc nhắm mắt, lúc mở mắt chớ để tan mất, chỉ trừ lúc ăn, thường nhớ sự ấy. Như tưởng quán ấy gọi là thô, thấy đất Cực Lạc quốc độ. Nếu được tam muội thì thấy đất cõi nước Cực Lạc tỏ rõ phân minh, chẳng thể nói đủ hết. Đây là địa tưởng, gọi là pháp quán thứ ba.

Đức Phật bảo Tôn giả A Nan:" Nầy A Nan! Em thọ trì lời Phật vì đời vị lai tất cả đại chúng, những người muốn thoát khổ, mà nói pháp quán địa ấy. Nếu thành tựu pháp tưởng đây thời diệt trừ được tội sanh tử trong tám mươi ức kiếp, bỏ thân hiện tại, đời khác quyết định thọ sanh quốc độ thanh tịnh, tâm được không nghi. Quán tưởng đây gọi là chánh quán. Nếu quán tưởng khác thì gọi là tà quán".

Lược giảng:

Pháp này dẫn nhập có ba lớp biến đổi;khi tu pháp quán này tưởng là nước,kế đó tưởng thành băng, rồi tưởng thành lưu ly. quốc độ ta bà này toàn là đất cát bụi bầm cũng là do tâm niệm của chúng sanh cõi này không trong sạch mà có, Còn thế giới Cực Lạc toàn làm bằng bảy báu, một trong bảy báu đó chính là lưu ly. Cho nên Phật dạy chúng ta trước là pháp tưởng nước rồi tưởng thành băng, vì băng chúng sanh cõi này có thể tưởng biết được.Cho nên, sau khi tượng nước đóng thành băng rồi tức là đã có chút định, lại quán băng thành lưu ly.

Quí vị nghĩ Đức Phật như thế nào? 

Ngài thật là bực vô khuyết, một chánh biến tri, toàn giác, trí tuệ không thể nghĩ bàn, có thể xoay chuyển cuộc đời, chớ cuộc đời không thể nào xoay chuyển được Ngài. 

Kinh Văn:

Đức Phật bảo Tôn giả A NanVi Đề Hi :" Địa quán thành rồi, kế tưởng Bửu Thọ.

Người quán cây báu phải quán mỗi mỗi cây. Tưởng bảy lớp hàng cây báu. Mỗi cây báu cao tám ngàn do tuần. Các cây báu ấy đều đầy đủ bông lá bảy báu. Mỗi mỗi bông lá tưởng màu khác lạ. Trong màu lưu ly phóng ánh sáng màu hoàng kim. Trong màu pha lê phóng ánh sáng màu hồng. Trong màu mã não phóng ánh sáng màu xa cừ. Trong màu xa cừ phóng ánh sáng màu lục chơn châu. San hô hổ phách tất cả các báu dùng làm chói đẹp. Màn lưới diệu chơn châu giăng che trên cây báu. Trên mỗi mỗi cây báu có bảy lớp màn lưới. Khoảng mỗi mỗi lưới có năm trăm ức cung điện xinh đẹp, vi diệu, như cung Trời Phạm Vương, có các thiên đồng tử tự nhiên ở trong ấy. Mỗi mỗi đồng tử có năm trăm ức châu ma ni Thích Ca Tỳ lăng già, dùng làm chuỗi đeo. Ánh sáng mỗi châu ma ni ấy chiếu trăm ức do tuần, dường như hòa hiệp ánh sáng của trăm ức nhựt nguyệt chẳng thể kể hết. Các báu xen lẫn màu sắc sáng đẹp nhất trong các màu sắc.

Lược giảng:

Cõi Cực Lạc trang nghiêm có bảy lớp hàng cây báu, ,mỗi cây cao lớn tám ngàn do tuần

Một do tuần là mười sáu dặm của Trung Hoa, nếu tính một dặm bằng 576 thước(tây) thì một do tuần là 9216 thước(576 x16 =9216). như vậy quí nghĩ xem những thứ cây báu ở thế giới kia là cao bao nhiêu? như vậy cây báu ở cõi Cực Lạc là cao khoảng chừng 73728000 thước tức 73,728 cây số( 9216 x 8000 =73728000). Các cây thất bảo, có cây thuần là một thứ báu, có cây có hai, ba, bốn, cho đến nhiều thứ báu mà tạo thành. Giống như như thân cây bằng tử kim, cành bằng bạch ngân, lá bằng san hô, hoa bằng bạch ngọc, trái bằng chân châu. Những thứ báu, hợp đủ thứ màu, cây có màu nào thì phát ra ánh sáng đó, có thứ lại phóng ra ánh sáng khác. Đây đều là do bổn nguyện lực và sức oai thần của Phật mà ra, thật không thể nghĩ bàn.
 

Tất cả những cây bảo thọ, mỗi cây có bảy tầng cao, trên mỗi tầng có lưới châu bao phủ, giữa mỗi tầng lưới có cung điện xinh đẹp, trong cung điện có các đồng tử, và mỗi đồng tử hình mạo trang đẹp, trang sức bằng chuỗi ngọc ma ni.
 

"cung trời Phạm Vương" Đại Phạm Thiên Vương là vị vua ở cõi trời sơ thiên thuộc về sắc giới .Sơ thiền có ba tầng trời. tầng trời Phạm Chúng, tầng Trời Phạm Phụ và tầng trời Đại Phạm. Chỗ ở của Ngài gọi là Phạm Vương Cung.
 

"Thích Ca Tỳ Lăng Gìà" dịch là Năng Thắng, "Ma Ni" dịch là Vô Cấu.

Kinh Văn:

Các cây báu ấy hàng hàng ngay nhau, lá lá kế nhau. Giữa khoảng các lá sanh những hoa vi diệu. Trên hoa tự nhiên có quả thất bửu. Mỗi mỗi lá cây ngang rộng đều hai mươi lăm do tuần. Lá ấy có ngàn màu, trăm thứ lằn vẽ như chuỗi ngọc Trời. Có những hoa vi diệu màu diêm phù đàn kim, như vòng lửa xoay chói sáng, uyển chuyển khoảng giửa lá, vọt sanh những quả như bình báu của Thiên Đế Thích, phóng đại quang minh hóa thành tràng phanvô lượng lọng báu. Trong lọng báu ấy chói hiện tất cả Phật sự trong toàn cõi thế giới, thập phương thế giới chư Phật cũng hiện bóng trong lọng báu ấy. 

Thấy Bửu Thọ ấy rồi, cũng phải mỗi mỗi quán sát thân cây, nhánh lá, bông trái đều phải phân minh. Đây là thọ tưởng gọi là pháp quán thứ tư.

Lược giảng:

Tất cả cây báu ở cõi Cực Lạc đều do công đức trang nghiêm vi diệu của Đức Phật A Di Đàhóa hiện. Những cây ấy đều cao lớn bằng nhau., cũng không có từ thấp nhỏ .. Đoạn trên là nói về y báo trang nghiêm củav cành, lá, hoa, quả của bảo thọthế giới Cực Lạc. Chánh báo chỉ cho người, y báo chỉ cho cảnh. Các bảo thọ, từ thân cây, cành, lá, hoa, quả, mỗi loại đều do từ một cho đến nhiều thứ báu hợp thành; cây cao tàng rộng. Mỗi cây ở thế giới này đều là như vậy, y báo ở cõi Cực Lạc thật là trang nghiêm không thể nghĩ bàn. Một cây đã vậy thì các cây khắp trong nước cũng thế, ngoài trừ cây bồ đề thọ của Phật. 

Kinh Văn:

Kế nên tưởng nước.

Người muốn tưởng nước nên biết Cực Lạc thế giới có ao nước bát công đức. Mỗi mỗi ao nước bảy báu làm thành. Báu ấy nhu nhuyến từ như ý châu vương sanh, chia làm mười bốn chi, mỗi mỗi chi làm sắc đẹp bảy báu. Hoàng kim làm lòng ao. Dưới lòng ao có kim cương nhiều màu làm cát tráng đáy.

Trong nước mỗi mỗi ao báu ấy đều có sáu mươi ức hoa sen thất bửu. Mỗi mỗi hoa sen tròn đều mười hai do tuần. Nước ma ni chảy rót trong khoảng lá, theo thân cây sen mà lên xuống, phát ra âm thanh vi diệu diễn nói khổ, không, vô thường, vô ngã, các Ba La Mật, còn có tiếng tán thán tướng hảo của chư Phật.

Như ý châu vương phóng ra ánh sáng vi diệu màu hoàng kim. Ánh sáng ấy hóa ra các giống chim màu trăm báu, hòa hót êm nhã, thường tán thán niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng.

Đây là tưởng nước bát công đức gọi là pháp quán thứ năm.

Lược giảng:

Nước báu phát ra diệu âm, diễn thuyết đại thừa Pháp môn,còn lên những chỗ mà chúng còn thuyết minh niệm mê vọng của chúng sanh, tâm bi trí của Bồ tát hoặc nói pháp nhơn thiên, pháp nhị thừa, pháp đại thừa về hàng địa tiền, địa thượng, hoặc nói tam thân của Phật; trong chánh văn duy dẫn phần đại lược. "Các sắc chim bá bảo", ý nói chẳng phải một loài chim mà có nhiều thứ, như trong tiểu bản nói các hóa cầm: bạch hạc, khổng tước, anh võ, xá lợi, ca lăng tần già, và những giống: phù, nhạn, oan ương theo kinh văn sau đây.
 

"Phật" là bực đại đại sư phá sự mê chấp của chúng sanh, giúp chúng sanh làm căn duyên để họ về với thật tế.. "Pháp" là thuốc mầu trừ bịnh độc phiền não, hồi phục pháp thân thanh tịnh cho loài hữu tình. "Tăng" là ruộng phước của quần sanh, nếu ai dùng lòng tín hướng cúng dường sẽ được quả phước nhơn thiên và gieo nhân giải thoát.
Ma ni châu đã sanh nước bát đức, lại phóng sắc kim quang, hiển rõ chẳng những có công năng phá trừ tối tăm, mà còn hay xướng ca Phật sự.

Kinh Văn:

Trong quốc độ Cực Lạc diệu bửu ấy, mỗi mỗi khu vực có năm trăm ức lầu báu. Trong lầu các ấy có vô lượng chư Thiên trỗi thiên kỷ nhạc. Còn có nhạc khí treo ở hư không, như bửu tràng cõi Trời, chẳng đánh tự kêu. Trong các âm thanh ấy đều diễn nói niệm Phật, niệm pháp, niệm Tỳ Kheo Tăng.

Pháp tưởng này thành rồi, gọi là thô thấy Cực Lạc thế giới bửu thọ, bửu địa, và bửu trì, đây là tổng quán tưởng gọi là pháp quán thứ sáu.

Nếu thấy như vậy thì trừ vô lượng ức kiếp cực trọng ác nghiệp, sau khi mạng chung, quyết định sanh nước Cực Lạc.

Quán đây gọi là chánh quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán".

Đức Phật bảo A NanVi Đề Hy:" Lắng nghe, lắng nghe, khéo suy nghĩ nhớ kỷ đó. Ta sẽ vì các ngươi phân biệt giải thuyết pháp trừ khổ não. Các ngươi ghi nhớ, thọ trì, rộng vì đại chúng phân biệt giải thuyết".

Lược giảng:

Lúc đó đức Phật bảo vời Tôn Giả A Nan và bà Vi Đề Hy, phải khéo suy nghĩ , những gì Như lai sẽ vì càc người mà nói ra các pháp để tiêu trừ các khổ não. và hãy đem các pháp này nói lại cho người khác cùng biết.

Kinh Văn:

Lúc đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn nói lời ấy, Phật Vô Lượng Thọ hiện đứng trên hư không, Quán Thế Âm Bồ tát đứng hầu bên tả, Đại Thế Chí Bồ tát đứng hầu bên hữu, ánh sáng chói rực chẳng thể thấy rõ hết, trăm ngàn lần màu vàng diêm phù đàn kim chẳng thể sánh được.

Lược giảng:

Lúc đó, là lúc mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tôn Giả A Nan và bà Vi Đề Hy xong, thời Phật A Di Đà hiện ra trong hư không, và có Quán Thế Âm Bồ Tát đứng hầu bên trái và Bồ Tát Đại Thế Chí hầu bên phải, ánh sáng của Phật và Bồ Tát chiếu sáng chói rực rỡ.

Kinh Văn:

Vi Đề Hy thấy Phật Vô Lượng Thọ rồi tiếp tục lễ lạy. Lễ lạy xong, Vi Đề Hy bạch Phật rằng:" Bạch Đức Thế Tôn! Nay tôi nhơn oai lực Phật mà được thấy Vô Lượng Thọ Như Lai cùng hai Đại Sĩ Quán Thế Âm Bồ tátĐại Thế Chí Bồ tát. Đời vị lai, các chúng sanh sẽ phải thế nào quán thấy Phật Vô Lượng Thọ và hai Bồ tát ấy?"

Lược giảng:

Đoạn này nói, bà Vi Đề Hy hỏi dùm chúng ta, là những chúng sanh đa tình nghiệp áctrong đời sau, muốn thấy được Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát thì những chúng sanh này phải làm sao đây. Nay bà nương vào oai thần của đức Phật Thích Ca mà thấy được sắc thân vàng của Phật Vô Lượng Thọ và hai vị Bồ Tát

Kinh Văn:

Đức Phật bảo Vi Đề Hy:" muốn quán Phật Vô Lượng Thọ thì nên khởi tưởng niệm: Ở trên mặt đất thất bửu tưởng có hoa sen, trên mỗi mỗi cánh hoa tưởng màu bá bửu, có tám vạn bốn ngàn đường gân dường như bức họa cõi Trời, mỗi đường gân có tám vạn bốn ngàn ánh sáng tỏ rõ rành rẽ đều được thấy cả. Cánh hoa nhỏ nhất ngang rộng hai trăm năm mươi do tuần, toàn hoa sen ấy có đủ tám vạn bốn ngàn cánh. Khoảng mỗi cánh hoa có trăm ức ma ni châu vương để làm sáng đẹp. Mỗi mỗi châu ma ni vương ấy phóng ra ngàn ánh sáng, ánh sáng ấy như lọng bảy báu hiệp thành che khắp mặt đất. Đài hoa sen ấy bằng báu thích ca tỳ lăng già, có tám vạn kim cương chân thúc ca bửu, phạm ma ni bửu và lưới diệu chơn châu, dùng để nghiêm sức. Ở trên đài ấy, tự nhiên có bốn trụ bửu tràng, mỗi mỗi bửu tràng cao lớn như trăm ngàn muôn ức núi Tu Di. Trên bửu tràng có màn báu như Dạ Ma Thiên cung, còn có năm trăm ức bửu châu có tám vạn bốn ngàn ánh sáng. Mỗi mỗi ánh sáng làm tám vạn bốn ngàn kim sắc nhiều loại lạ khác nhau. Mỗi mỗi kim sắc khắp cả cõi nước Cực Lạc, nơi nơi biến hóa, đều riêng làm những tướng hình khác lạ: hoặc làm đài kim cương, làm lưới chơn châu, hoặc làm mây nhiều loại hoa, nơi mười phương diện, tùy ý biến hiện ra làm Phật sự.
Đây là tưởng tòa ngồi hoa sen, gọi là pháp quán thứ bảy.

Lược giảng:

 xích sắc bảo, là một loại báu màu đỏ. Phạm ma ni là thứ ngọc như ý trong ngần sáng sạch vô cùng. Dạ Ma thiên thuộc về cõi trời Không cư, ở tầng thứ ba của Dục giới. Cõi trời này hoa quang cực trang nghiêm sáng suốt, nên trong kinh đem ra để thí dụ.

Kinh Văn:

Này A Nan! Hoa sen vi diệu như vậy là do bổn nguyện lực của pháp Tạng Tỳ Kheo, tiền thân Phật Vô Lượng Thọ cảm thành. Nếu người muốn niệm đức Phật ấy thì phải trước tưởng hoa tòa ấy. Lúc quán tưởng chẳng được tạp quán. Đều phải quán mỗi mỗi chi tiết, mỗi mỗi cánh hoa, mỗi mỗi bửu châu, mỗi mỗi ánh sáng, mỗi mỗi đài, mỗi mỗi tràng đều phải phân minh, như thấy tượng mặt mình hiện trong gương. Pháp tưởng này thành, diệt trừ trăm muôn ức kiếp tội sanh tử, tất định sẽ sanh Cực Lạc thế giới. Quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán.

Lược giảng:

Đức Phật bảo Ngài A Nan, Hoa sen vi diệu như vậy, đều là do bổn nguyện lực Pháp Tạng Tỳ Kheo trong khi tu nhân địa mà có. Nhiều kiếp lâu xa về trước, tiền thân của Phật A Di Đà là một vị quốc vương, được gặp Thế Tự Tại Vương Như Lai, bỏ nước xuất gia, hiệu là Pháp Tạng. Vị Tỳ kheo này đối trước Phật Thế Tự Tại Vương mà phát ra bốn mươi tám đại nguyện để trang nghiêm quốc độ của mình và một trong bốn mươi tám đại nguyên đó là Ngài sẽ tiếp dẫn những ai có lòng muốn sanh về cõi nước của Ngài thì nên trì danh hiệu, thì tất cả đều được toại nguyện.

Quốc độ Cực Lạc có như ngày nay đều là do nguyện lực đại từ bi của Ngài Pháp Tạng, vì muốn cho chúng sanh được giải thoát, ra khỏi căn nhà u minh tà kiến này mà phát nguyện trang nghiêm tịnh độ, để tiếp dẫn chúng sanh khắp mười phương, thật là công ơn của chư Phật không có cách nào có thể đền đáp được. Chỉ có cách là phát tâm bồ đề, tu hành cầu quả vị Phật, để cho Chư Phật không còn nhọc nhằn tìm phương cứu độ chúng ta, mới có thể đền đáp công ơn nầy thôi. 

Kinh Văn:

Đức Phật bảo A NanVi Đề Hy:" Thấy hoa tòa rồi kế nên tưởng Phật. Tại sao vậy? Vì chư Phật Như Lai là thân pháp giới vào khắp trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh, nên lúc các ngươi tâm tưởng Phật, tâm ấy tức là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình hảo, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Chư Phật Chánh Biến Tri hải từ tâm tưởng sanh, vì vậy nên nhứt tâm buộc niệm, quán kỹ đức Phật ấy, đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.

Lược giảng:

"Như Lai" nghĩa là không từ đâu đến và cũng chẳng đi về đâu, tượng trưng cho Pháp Thân thường Chuyển. Tự thể pháp thân chẳng động chẳng dời là "Như" Trí quang chiếu khắp độ sanh "Lai". Như như bất động, tuỳ duyên đến độ muôn loài, đến khắp mọi nơi vào các pháp giới mà vẫn như như bất động nên gọi là Như Lai. Không có một nơi nào để đến, nhưng hiện cùng khắp mọi nơi cho nên gọi là Như Lai.

"Ứng Cúng" đây cũng là một trong một danh hiệu của chư Phật. Phật đã viên thành tất cả công đức, phước huệ vẹn toàn, xa lìa tất cả mê lầm khổ lụy, làm phước điền cho tất cả trời nguời,gieo trồng thiện căn công đức, nên có thể ứng thọ sự cúng dường của tất cả chúng sanh.

"Chánh Biến Tri" Trí Phật thấu biết tất cả hoàn toàn như thật không thiếu mảy may. Ngài biết tất cả pháp thế gianxuất thế gian một cách chơn thật và có thể diễn nói ra hết ý nghĩa của nó. 
 
Kinh Văn: 
 
Người muốn tưởng đức Phật ấy trước nên tưởng hình tượng. Thấy một bửu tượng màu như vàng diêm phù đàn ngồi trên hoa tòa kia. Thấy tượng Phật ngồi rồi, tâm nhãn được khai thông, tỏ rõ phân minh thấy quốc độ Cực Lạc thất bửu trang nghiêm, đất báu, ao báu, cây báu bày hàng. Màn lưới báu cõi Trời giăng che phía trên, các màn lưới báu đầy khắp hư không, thấy sự như vậy khiến rất rõ ràng, như thấy trong lòng bàn tay. Thấy sự ấy rồi, lại nên tưởng một hoa sen lớn ở bên tả tượng Phật như trước không khác. Rồi lại tưởng một hoa sen lớn như trước ở bên hữu tượng Phật. Rồi tưởng một tượng Quán Thế Âm Bồ tát ngồi tòa sen bên tả, cũng kim sắc như trước. Rồi tưởng tượng Đại Thế Chí Bồ tát ngồi hoa sen bên hữu. Lúc pháp tưởng này thành rồi, tượng Phật và tượng Bồ tát đều phóng ánh sáng. Ánh sáng ấy kim sắc chiếu những bửu thọ. Dưới mỗi mỗi bửu thọ đều có ba tòa hoa sen, tượng Phật và hai tượng Bồ tát ngồi trên ấy như vậy khắp cả quốc độ Cực Lạc.

Lúc pháp tưởng này đã thành, hành giả nên nghe nước chảy, ánh sáng, các bửu thọ, những chim cưu, nhạn, uyên ương, đều diễn nói diệu pháp, lúc xuất định, lúc nhập định luôn nghe diệu pháp. Pháp được nghe trong định, lúc xuất định nhớ giữ chẳng bỏ, phải khế hiệp với lời trong Kinh. Nếu chẳng hiệp thì gọi là vọng tưởng. Nếu hiệp thì gọi là thô tưởng thấy Cực Lạc thế giới.

Đây là tưởng tượng, gọi là pháp quán thứ tám. Quán pháp này trừ được vô lượng ức kiếp tội sanh tử. Nơi thân hiện tại được niệm Phật tam muội”.

Lược giảng:

Ba mươi hai tướng hảo của Tây Phương Tam thánh rất nhiệm mầu khó mà tưởng được, hàng phàm phu tâm không trong sạch nên không thể thấy hết được, nên phải mượn hình tượng tiêu biểu cho chơn thân, dùng phương tiện từ đi bên ngoài mà vào. 

Kinh Văn: 
 
Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy" Kế lại, nên quán Phật Vô Lượng Thọ thân tướng quang minh. A Nan phải biết Phật Vô Lượng Thọ thân như trăm ngàn muôn ức sắc vàng diêm phù đàn Trời Dạ Ma, thân Phật cao sáu mươi muôn ức na do tha hằng hà sa do tuần, bạch hào giữa hai mày xoay bên hữu, uyển chuyển như năm tòa núi Tu Di, mắt Phật như bốn đại hải xanh biếc và trắng phân minh. Các lỗ lông nơi thân Phật phóng ánh sáng ra như núi Tu Di. Viên quang của Phật ấy như trăm ức Đại Thiên thế giới. Trong viên quang ấy có trăm vạn ức na do tha hằng hà sa Hóa Phật. Mỗi mỗi Hóa Phật cũng có đông nhiều vô số Hóa Bồ Tát làm thị giả. Thân Phật Vô Lượng Thọ có tám vạn bốn ngàn tướng. Trong mỗi mỗi tướng đều riêng có tám vạn bốn ngàn tùy hình hảo. Trong mỗi mỗi hình hảo còn có tám vạn bốn ngàn quang minh, mỗi mỗi quang minh chiếu khắp thập phương thế giới, nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật chẳng bỏ sót. Quang minh tướng hảoHóa Phật ấy chẳng thể nói đủ hết, chỉ nên nhớ tưởng khiến tâm nhãn được thấy. Thấy sự ấy, liền thấy thập phương chiếu khắp tất cả chư Phật. Vì thấy chư Phật nên gọi là niệm Phật tam muội.

Quán tưởng đây gọi là quán thân tất cả Phật, vì quán thân Phật nên cũng thấy tâm Phật. Phật tâmđại từ bi tâm, dùng từ vô duyên nhiếp thọ các chúng sanh.

Người tu quán này, bỏ thân, đời khác sanh trước chư Phật được Vô Sanh Nhẫn. Vì vậy nên người trí phải buộc niệm, quán kỹ Vô Lượng Thọ Phật, từ một tướng hảo mà vào, chỉ quán lông trắng giữa hai mày khiến rất tỏ rõ. Được thấy lông trắng ấy rồi thì tám vạn bốn ngàn tướng hảo tự nhiên sẽ hiện. Thấy Phật Vô Lượng Thọ, liền thấy vô lượng chư Phật mười phương. Vì thấy vô lượng chư Phật nên được chư Phật hiện tiền thọ ký.

Đây là khắp quán tưởng tất cả sắc thân Phật gọi là pháp quán thứ chín. Quán như đây gọi là chánh quán, nếu quán khác gọi là tà quán".

Lược giảng:

Từ Pháp Quán thứ nhứt đến pháp quán thứ tám là nói về Y Báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, từ pháp quán thứ chín đến pháp quán thứ mười một là nói về thực tướng Chánh Báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc

Đức Phật A Di ĐàGiáo Chủ của thế giới Cực Lạc. Ngài có oai lực chẳng thể nghĩ bàng, mà được như vậy không phải là chuyện dễ. Ngài phải trải qua không biết bao số kiếp tu hành để đạt được nguyện vọng của Ngài, đó là độ cứu chúng sanh ra khỏi đường sanh tử. Mở cửa tiếp đón những chúng sanh đến tỵ nạn từ mười phương. Giúp họ sống được tự do tự tại, an vui trong cảnh Thường Lạc Ngã Tịnh của Niết Bàn.

Ngài là một vị Phật có lịch sử chớ không phải từ hư khônghiện ra, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đã nói về vị Phật này rất nhiều. Ngài vì muốn cứu độ chúng sanh ra khỏi đường sanh tử mà phát ra đại nguyện không thể nghĩ bàn, và đã thành tựu, hiện đang ở thế giới Cực Lạc, thuyết pháp độ sanh.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở phẩm Thí dụ, hóa thành ghi rằng: 

"Đức Phật A Di Đà, kiếp trước là con của đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Ngài nhờ công đức thường giảng kinh Pháp Hoa cho chúng sanh nghe, nên thành Phật hiệu là A Di Đà,ở cõi Tây phương Cực lạc". 

Kinh Quán Phật Tam Muội Hải, nói: 

"Đời quá khứ Ngài làm Tỳ kheo, chăm lòng kính lễ quán tưởng tướng lông mày trắng của đức Phật Không Vương, nên được thọ kýPhật hiệuA Di Đà". 

Đức Phật Thích ca dạy: "Đời quá khứ lâu xa, cách đây hơn 10 kiếp, có một nước tên là Diệu Hỷ, vua cha là Nguyệt Thượng Luân Vương, mẹ là Thù Thắng Diệu Nhan. Vương hậu sanh ra ba người con: người con trưởng là Nhựt Nguyệt Minh, người con thứ hai là Kiều Thi Ca, người con thứ ba là Nhật Đế Chúng. Khi ấy có đức Phật ra đời hiệu là Thế Tự Tại Vương Như Lai. Kiều Thi Ca bỏ ngôi vinh quí theo Phật Thế Tự Tại xuất gia, thọ Tỳ kheo giới, Phật cho hiệu là Pháp Tạng Tỳ kheo. Ngài Pháp Tạng đối trước Phật, pháp 48 lời nguyện rộng lớn, độ khắp tất cả mười phương chúng sanh; nếu có một nguyện nào chưa chưa thành tựu, thời Ngài thề chẳng thành Phật. Khi ấy chư thiên rải hoa, tán thán, địa cầu rúng động, giữa không trung có tiếng khen rằng: 

"Pháp Tạng quyết định sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà". 

Như vậy, chúng ta biết rằng, đức Phật A Di Đà trong đời quá khứ tiền thânThái Tử Kiều Thi Ca, bỏ ngôi sang, xuất gia tu chứng thành Phật hiệu là A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, thiện Thệ, thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tônthế giới Cực Lạc ở Phương Tây. Theo Kinh Điển chúng ta biết thì Ngài đã thành Phật được mười kiếp rồi.

Kinh Văn: 

Đức Phật bảo A NanVi Đề Hy:" Đã thấy Vô Lượng Thọ Phật tỏ rõ phân minh rồi, kế cũng nên quán Quán Thế Âm Bồ Tát.

Bồ Tát này thân cao tám mươi vạn ức na do tha do tuần, thân màu tử kim, đỉnh có nhục kế, cổ có viên quang mỗi phương diện đều trăm ngàn do tuần. Trong viên quang có năm trăm Hóa Phật như Thích Ca Mâu Ni. Mỗi mỗi Hóa Phật có năm trăm Hóa Bồ Tátvô lượng chư Thiên làm thị giả. Trong ánh sáng toàn thân hiện tất cả sắc tướng của chúng sanh trong ngũ đạo. Trên đỉnh có thiên quang bằng tỳ lăng già ma ni bửu. Trong thiên quang có một Hóa Phật, đứng cao hai mươi lăm do tuần. Mặt của Quán Thế Âm Bồ Tát như màu vàng diêm phù đàn. Lông trắng giữa hai mày đủ màu thất bửu, chiếu ra tám vạn bốn ngàn thứ ánh sáng. Mỗi mỗi ánh sáng có vô lượng vô số trăm ngàn Hóa Phật. Mỗi mỗi Hóa Phậtvô số Hóa Bồ Tát làm thị giả, biến hiện tự tại khắp thập phương thế giới. Cánh tay màu như hoa sen hồng có tám mươi ức ánh sáng vi diệu làm chuỗi đeo. Trong chuỗi đeo, ánh sáng ấy khắp hiện tất cả sự trang nghiêm. Bàn tay màu năm trăm ức hoa sen đẹp. Bàn tay mười đầu ngón, mỗi mỗi đầu ngón có tám vạn bốn ngàn lằn dường như ấn văn. Mỗi mỗi lằn có tám vạn bốn ngàn ánh sáng, ánh sáng ấy mềm dịu chiếu khắp tất cả. Bồ Tát dùng tay báu này tiếp dẫn chúng sanh. Lúc Bồ Tát cất chân lên, dưới lòng bàn chân có tướng thiên bức luân tự nhiên hóa thành năm trăm ức đài quang minh. Lúc để chân xuống, có hoa kim cương ma ni rải rắc tất cả, không chỗ nào là chẳng đầy khắp. Các tướng khác nơi thân Bồ Tát đầy đủ những hình hảo như thân Phật không khác, chỉ có nhục kế trên đỉnh và vô kiến đảnh tướng chẳng bằng Thế Tôn. Đây là tướng sắc thân chơn thiệt của Quán Thế AÂm Bồ Tát, gọi là pháp quán thứ mười. Nếu người muốn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát nên tu quán ấy. Tu quán ấy thì chẳng gặp các tai họa, trừ sạch nghiệp chướng, trừ tội sanh tử trong vô số kiếp.

Quán Thế Âm Bồ Tát ấy chỉ nghe danh hiệu còn được phước vô lượng huống là quán kỹ. Nếu người muốn Quán Thế AÂm Bồ Tát thì trước quán nhục kế, sau quán thiên quang. Các tướng khác cũng theo thứ tự mà quán kỹ, đều phải tỏ rõ như nhìn trong bàn tay. Quán như đây gọi là chán quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán.

Lược giảng:

Đoạn văn trên đây đã diễn tả chơn thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Những tướng lạ nơi tay của Bồ Tát, tiêu biểu cho năng dụng từ bi, sự hóa hiện nơi chân hiển thị về quả pháp công đức. Bồ Tát cũng có đầy đủ 32 tướng hảo 80 vẻ đẹp như Phật vậy, nhưng nhục kế và kiến đảnh tướng thì không bằng Phật.

Mỗi một pháp quán mà đức Phật dạy đều nêu, nếu quán như vậy thì gọi là chánh quán còn nếu không thì là tà quán, cho nên chúng ta khi tu pháp quán này không nên có sanh tâm phân biệt.

tám mươi vạn ức na do tha do tuần bằng cao được nhiêu, quí vị thử tính xem là cao bao nhiêu?

Một vạn là mười ngàn, một ức là mười triệu, na do tha tương đương với ngàn ức, một do tuần là 9,216 thước, vậy chúng ta đem chúng nhân lại thì ra được bao nhiêu? (80x10.000 x10.000.000 x1.000x10.000.000x9216 =7,372,800,000,000,000,000,000,000,000 thước. 

Theo Kinh Bi Hoa, thì vị Bồ Tát này là con trưởng của vua Vô Tránh Niệm (Tiền Thân của Đức Phật A Di Đà) thời của đức Phật Bảo Tạng, có tên là bất Huyến.

Thời đớ có rất nhiều nhơn dân nghe theo lời giáo hóa của Phật, một ngày một tăng, nên tự nghĩ rằng: "Nếu Đạo Phật không phải chơn chánh, thì đâu có lẻ người ta sùng bái khắp xứ như vậy!"

Nên vua mới phát tâm sắm đủ lễ vật đến cúng dường Phậtchúng Tăng trong ba tháng, và lại khuyên các vị vương tử và đại thần cũng làm như vậy.

Khi ấy Bất Huyến Thái Tử vâng lời Phụ Vương, hết lòng tin kính, sắm đủ các món ngon quý và đem những đồ trân trọng của mình mà dưng cúng cho Phật và đại chúng trong ba tháng, không trễ nãi bữa nào và cũng không món gì kém thiếu. Rồi ở trước đức Bảo tạng Như lai mà phát thệ rằng:

"Tôi nguyện trong khi tôi tu những điều công hạnh Bồ Tát, làm những việc lợi ích cho chúng sanh, nếu tôi xem có kẻ mắc sự khốn khổ hiểm nghèo ở trong hoàn cảnh ám muội, không biết cậy nhờ ai, không biết nương dựa đâu, mà có xưng niệm danh hiệu tôi, tức thời tôi dùng phép Thiên nhỉ mà lóng nghe và dùng phép Thiên nhãnquan sát coi kẻ mắc nạn ấy ở chỗ nào, cầu khẩn việc gì, đặng tôi hiện đến mà cứu độ cho khỏi khổ và đặng vui . Nếu chẳng đặng như lời thề đó thì tôi không thành Phật".

Do nhân duyên này nên Đức Bảo tạng Như Lai đặt cho Ngài tên là Quán Thế Âm. Cũng ở trước đức Bảo Tạng Như Lai, Thái Tử Bất Huyến được thọ ký sẽ được thành Phật, hiệu là "Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai" ở thế giới "Nhứt Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu" (sau khi A Di Đà nhập niết bàn, thế giới Cực Lạc đổi tên thành Nhứt Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu), y báo càng tốt đẹp trang nghiêm trước bội phần. 

Bất Huyến Thái Tử khi đặng Chư Phật thọ ký rồi, thì lòng rất vui mừng.

Và hiện nay Quán Thế Âm đã chứng được bực Đẳng Giác Bồ Tát, ở cõi Cực Lạc hầu bên trái của Đức Phật A Di Đà, tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương vãng sanh về cõi Cực Lạc.
 

Kinh Văn: 

Kế đó quán Đại Thế Chí Bồ Tát. Bồ Tát này thân lượng lớn nhỏ đều đồng như Quán Thế Âm Bồ Tát. Viên Quang mỗi mặt đều một trăm hai mươi lăm do tuần, chiếu hai trăm năm mươi do tuần. Ánh sáng toàn thân chiếu toàn thân quốc độ màu tử kim. Chúng sanh có duyên thảy đều được thấy. Chỉ thấy ánh sáng một lỗ lông của Bồ Tát này liền thấy quang minh tịnh diệu vô lượng chư Phật mười phương, vì vậy nên đặt hiệu Bồ Tát này là Vô Biên Quang. Dùng ánh sáng trí huệ chiếu khắp tất cả, khiến lìa tam đồ được vô thượng lực nên Bồ Tát nầy có tên là Đại Thế Chí.

Thiên Quang của Đại Thế Chí Bồ Tát có năm trăm hoa báu, mỗi mỗi hoa báu có năm trăm đài báu, trong mỗi mỗi đài, tướng dài ngắn của quốc độ thanh tịnh vi diệu chư Phật mười phương đều hiện rõ. Nhục kế trên dỉnh như hoa bát đầu ma, trên nhục kế có một bình báu đựng các ánh sáng khắp hiện Phật sự. Các thân tướng khác như Quán Thế Âm không khác.

Lúc Đại Thế Chí Bồ Tát đi, thập phương thế giới tất cả chấn động. Đương lúc bất động có năm trăm ức hoa báu, mỗi mỗi hoa báu trang nghiêm cao rõ như Cực Lạc thế giới. Lúc Bồ Tát này ngồi, quốc độ thất bửu đồng thời dao động. Từ Hạ phương Kim Quang Phật thế giới nhẫn đến Thượng phương Quang Minh Vương Phật thế giới, trong khoảng giữa ấy, vô lượng vô số phân thân Vô Lượng Thọ Phật, phân thân Quán Thế Âm Bồ Tát, phân thân Đại Thế Chí Bồ Tát, thảy đều vân tập Cực Lạc thế giới, chật đầy hư không, ngồi tòa liên hoa, diễn nói diệu pháp độ khổ chúng sanh. Tu pháp quán này gọi là quán thấy Đại Thế Chí Bồ Tát. Đây là quán thấy tướng sắc thân thiệt Đai Thế Chí, gọi là pháp quán thứ mười một. Quán Đại Thế Chí Bồ Tát trừ vô số kiếp vô số tội sanh tử. Người tu quán này chẳng còn ở bào thai, thường du hành quốc độ thanh tịnh vi diệu chư Phật.

Pháp quán này thành rồi, gọi là đầy đủ quán Quán Thế Âm Bồ TátĐại Thế Chí Bồ Tát.

Lược giảng:

Quang minh của Đại Thế Chí Bồ Tát thuộc ánh sáng trí huệ vô lậu, vì vô lậu vẫn đồng nhau, nên nói "chỉ thấy ánh sáng nơi một lỗ chân lông của vị Bồ Tát này, tức thấy quang minh trong sạch nhiệm mầu của mười phương vô lượng chư Phật"

Vị Bồ Tát này còn có tên là Vô Biên Quang, tức là vị Bồ tát có Ánh sáng không thể nghĩ bàn. 
 

cũng theo Kinh Bi Hoa, thì Ngài là con thứ hai của vua Vô Tránh Niệm, tên là Ma Ni, lúc đó có đức Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Ngài vâng lời phụ vương khuyên bảo, phát tâm cúng dường Phật Bảo Tạngđại chúng trọn trong ba tháng.

Ở trước Phật bảo tạng chấp tay thưa với Phật Bảo Tạng rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Nay con xin đem công đức cúng dường Phậtchúng Tăng trong ba tháng, và những hạnh tu tập của con đã từng làm, như là:

1. Không sát hại chúng sanh
2. Không trộm cắp của người và 
3. Không tà dâm 
1. Không nói láo xược 
2. Không nói thêu dệt 
3. Không nói hai lưỡi 
4. Không nói độc dữ thô tục 
1. Không tham nhiễm danh lợisắc dục 
2. Không hờn giận oán cừu 
3. Không si mê ám muội, cùng các món hạnh tu thanh tịnh của con, mà hồi hướng về Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và cầu đặng một thế giới rất trang nghiêm đẹp đẽ, như cõi Phật Biến Xuất Nhứt Thiết Công Đức Quan Minh Sơn Vương Như Lai, như Đức Phật đã thọ ký cho huynh trưởng con vậy.

Vị thái tử Ma Ni cũng được thọ ký sẽ được thành phật hiệu là: Thiện Trụ Trân Bảo Như Laithế giới Đại thế, sau khi Đức Biến Xuất Nhứt Thiết Công Đức Quan Minh Sơn Vương Như Lai nhập Niết Bàn, thời thái tử Ma Ni sẽ nối kế tiếpthành đạo.
 

Và hiện nay thái tử Ma Ni cũng đã chứng được bực Đẳng Giác Bồ Tát, ở cõi Cực Lạc hầu bên phải của Đức Phật A Di Đà, tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương vãng sanh về cõi Cực Lạc.

Kinh Văn: 

Trong khi tưởng thấy được những việc như thế rồi, thì phải phát ra ý tưởng nơi tự tâm mình được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.Sanh trong hoa sen ngồi kiết già, tưởng hoa sen búp lại, tưởng hoa sen nở ra. Lúc hoa sen nở có ánh sáng năm trăm màu chiếu đến thân. Tưởng mắt mở ra thấy Phật và Bồ Tát đầy cả hư không, nước, chim, cây, rừng, cùng chư Phật phát ra âm thanh đều diễn nói diệu pháp hiệp với mười hai bộ Kinh. Lúc xuất định nhớ giữ không mất. Thấy sự này rồi, gọi là thấy Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc thế giới. Đây là phổ quán tưởng gọi là pháp quán thứ mười hai. Vô Lượng Thọ Phật hóa thân vô số, cùng Quán Thế Âm Bồ TátĐại Thế Chí Bồ Tát thường đến chỗ hành nhơn ấy".
 

Lược giảng:

Những phần trên Phật đã dạy chúng ta quán tưởng về Y Báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc và Quán Tam Thánh, cũng chính là Chánh Báo trang nghiêm vi diệu, nay Phật lại chỉ dạy chúng ta cũng phải nên tự quán mình sinh tiền tu pháp môn tịnh độ này thì nên tự mình phát khởi quán chính mình được vãng sanh về thế giới kia.

Kinh Văn: 

Đức Phật bảo A NanVi Đề Hy:" Người muốn chí tâm sanh Cực Lạc thế giới, trước nên quán tượng Phật Vô Lượng Thọ cao một trượng sáu xích ở trên mặt nước ao báu.Như trước đã nói, Vô Lượng Thọ Phật thân lượng vô biên chẳng phải tâm lực của phàm phu kịp được. Nhưng do nguyện lực đời trước của đức Như Lai ấy, nên ai có tâm nhớ tưởng thì ắt được thành tựu. Chỉ tưởng tượng Phật, được phước vô lượng, huống là quán đủ thân tướng của Phật.

Lược giảng:

Câu này nói rất rõ là những ai muốn được vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì phải nên quán tưởng Phật cao một trượng sáu đứng trên mặt nước ao thất bảo. Phần quán tưởng Phật, Phật Thích Ca cho chúng ta biết là thân của đức Phật A Di Đà cao 62 muôn ức hằng hà sa na do tha do tuần, thật là không thể nào tính biết được, đây cũng chỉ cho những hàng đại trí tu hành, vì lòng từ bi của Phật vô hạng nguyện lực của ngài bao trải đến chúng sanh, muốn làm lợi ích cho họ, nên dùng đủ mọi phương tiện nên Phật thích ca cũng vào nguyện lực của Phật A Di Đà mở lòng đại bi để chỉ tận tình cho tất cả chúng sanh nào thật muốn đặng vãng sanh về thế giới đó, nên Phật lại chỉ cho chúng ta hãy quán tưởng đức Phật A Di Đà cao một trượng sáu đứng trên mặt nước của ao thất bảo. Một trượng sáu chúng ta có thể quán thấy rõ ràng và dễ chứng được nên Phật dạy cho chúng ta theo cách này mà quán thì sẽ được thành tựu. Chánh báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc đều do công hạnh nhiệm mầu nguyện lực sâu xa mà thành được, trang trải với lòng từ bi, trí huệ của Như Lai. Chúng sanh tà tri tà kiến, ích kỷ tham lam, thì làm sao có thể thâm nhập được đại nguyện rộng lớn của chư Phật. Nhưng vì lòng từ bi vô hạng và nương theo oai lực bổn nguyện của Phật nên Phật Thích Ca dạy chúng ta cách quán này, để bước vào được Thường Lạc Ngã Tịnh của chư Phật.

Kinh Văn: 

A Di Đà Phật thần thông như ý, nơi mười phương quốc độ biến hiện tự tại. Hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không, hoặc hiện thân nhỏ một trượng sáu thước, hoặc là tám thước. Thân hình Phật hiện ra đều màu chơn kim, viên quang Hóa Phậthoa sen báu như đã nói ở trên. Quán Thế Âm Bồ TátĐại Thế Chí Bồ tát ở tất cả xứ, thân đồng với chúng sanh. Chỉ quán tưởng trên đầu, biết là Quán Thế Âm hay Đại Thế Chí. Hai đại Bồ Tát ấy trợ Phật A Di Đà khắp hóa độ tất cả. Đây là tạp tưởng quán gọi là quán thứ mười ba."

Lược giảng:

Trước đức Phật đã diễn tả thân lượng của Tây Phương tam thánh rộng rãi vô biên, thân tướng nhiệm mầu không thể kể hết! Nhưng vì thương xót chúng sanhcõi Ta Bà chúng sanh tâm lượng phần nhiều kém nhỏ, khó mà có thể quán được chân thân của Tây Phương Tam Thánh thánh, nên đức Như Lai lại tùy cơ mà nói ra quán cảnh này. Bởi Phật A Di Đà có đầy thần thông tự tại, tùy nơi mà biến hiện lớn nhỏ, nên quán thân cao một trượng sáu cũng gọi là thấy sắc thân của Phật. Và khi quán thân Phật nhỏ, tất phải tưởng thân của hai vị Bồ Tát thị giả cũng nhỏ đồng như thân ba mươi hai tướng của các bậc thượng thiện nhân

Kinh Văn: 

Đức Phật bảo Ngài A NanVi Đề Hy rằng": Còn thượng phẩm thượng sanh là như thế nào: Nếu như có chúng sanh nào muốn sanh về cõi nước kia, thì phải phát ra ba thứ tâm thì sẽ được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc. Ba thứ tâm đó là gì? Một là tâm chí thành, hai là thâm tâm, ba là tâm hồi hướng phát nguyện. Đầy đủ ba thứ tâm đó, thì chắc chắn là được vãng sanh về nước Cực Lạc

Lại nữa, cũng có ba hạng chúng sanh được sanh về cõi nước Cực Lạc.

Một là từ tâm bất sát, đủ các giới hạnh. Hai là đọc tụng kinh điển Phương Đẳng Đại Thừa. Ba là tu hành Lục Niệm, hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh Cực Lạc.

Người đủ các công đức này từ một ngày đến bảy ngày liền được vãng sanh. Lúc sanh về nước ấy, vì người này tinh tiến dũng mãnh, nên A Di Đà Như Lai cùng Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số Hóa Phật, trăm ngàn Tỳ Kheo Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư Thiên, cung điện bảy báu. Quán Thế AÂm Bồ tát cầm đài kim cương cùng Đại Thế Chí Bồ tát đến trước hành nhơn. A Di Đà Phật phóng đại quang minh chiếu thân hành giả, cùng các Bồ Tát trao tay nghinh tiếp. Quán Thế AÂm, Đại Thế Chí, cùng vô số Bồ Tát, tán thán hành giả, khuyến khích, sách tiến tâm hành giả. Hành giả thấy rồi, hoan hỉ dũng dước, tự thấy thân mình ngồi đài kim cương, đi theo sau Phật. Như khoảng khảy ngón tay, vãng sanh nước Cực Lạc. Sanh nước Cực Lạc rồi, thấy sắc thân Phật A Di Đà đầy đủ các tướng. Thấy chư Bồ Tát sắc tướng đầy đủ. Quang minh cây rừng báu diễn nói diệu pháp. Nghe rồi liền ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn. Trong thời gian giây lát, đi khắp thập phương thế giới kính thờ chư Phật. Ở trước chư Phật thứ đệ thọ ký. Trở về bổn quốc được vô lượng trăm ngàn môn đà la ni. Đây gọi là người Thượng Phẩm Thượng Sanh.

Lược giảng:

 "chí" là chơn, "thành" là thật. Đây ý nói người muốn vãng sanh, điểm cần yếuba nghiệp thân, miệng, ý, trong khi tu, đều phải từ nơi tâm chân thật mà phát ra, không nên bề ngoài hiện tướng tinh tấn hiền lành, bên trong lại ẩn niệm lơ là giả dối. Nếu đem tâm hư ngụy cẩu thả mà tu, thì dù ngày đêm hành trì tinh tấn,không khác gì như lửa đốt đầu, chung qui cũng là hạnh tu theo ba thứ độc. 
 

Người tu pháp môn này phải tin hiểu sâu chắc mình là kẻ phàm phu tội chướng, từ kiếp vô thỉ đến nay trôi mãi trong vòng lục đạo, tạo không biết bao là nghiệp ác.
 

Phải tin sâu rằng Phật A Di Đànguyện lực rộng lớn, nếu chúng sanh nào thành tâm nhứt niệm về nương tựa, thì dù có bao nhiêu tội chướng, cũng quyết định sẽ được tiếp dẫn vãng sanh. Tâm hồi hướng phát nguyện là khi người tu bao nhiêu công đức lành, dù là một chút mảy may nhỏ như hạt bụi, cũng đều đem hồi hướng cầu sanh về Tây Phương, không một niệm cầu phước báu nhơn thiên chi khác.
 

"Lục niệm" là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Giới, niệm Thiên
 

Đà la ni, Trung Hoa dịch là Tổng trì, nghĩa là giữ lấy pháp lành, ngăn ngừa pháp ác.

Kinh Văn: 

Người Thượng Phẩm Trung Sanh ấy là: Tuy có người không thọ trì thọ trì đọc tụng Kinh điển Phương Đẳng Đại Thừa, chỉ khéo hiểu nghĩa thú, nơi Đệ Nhứt nghĩa tâm chẳng kinh động, thâm tín nhơn quả, chẳng hủy báng Đại Thừa. Đem công đức ấy hồi hướng, nguyện cầu sanh Cực Lạc thế giới. Người có công hạnh như vậy, lúc lâm chung, A Di Đà Phật cùng Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô lượng đại chúng vây quanh, cầm đài tử kim đến trước hành giả, khen rằng: Nầy Pháp tử! Ngươi hành Đại Thừa, hiểu Đệ Nhất Nghĩa, nên nay ta đến tiếp dẫn ngươi. Đức Phật A Di Đà cùng ngàn Hóa Phật đồng thời trao tay. Hành giả ấy tự thấy mình ngồi đài kim tử, chắp tay xếp cánh tán thán chư Phật. Như khoảng một niệm, liền sanh Cực Lạc trong ao thất bửu. Đài kim tử ấy như hoa sen lớn qua một đêm liền nở. Thân hành giả màu vàng tử ma, dưới chân cũng có hoa sen bảy báu.

Phật và Bồ Tát đồng thời phóng quang chiếu thân hành giả mắt liền mở sáng. Nhơn túc tập trước, nên khắp nghe các âm thanh thuần nói thậm thâm Đệ Nhất Nghĩa Đế. Hành giả ấy liền xuống kim đài lạy Phật, chắp tay tán thán Thế Tôn, qua bảy ngày liền được chẳng thối chuyển Vô Thượng Bồ Đề, liền có thể bay đi đến khắp mười phương kính thờ chư Phật, ở trước chư Phật tu các tam muội, qua một tiểu kiếp được Vô Sanh Nhẫn, hiện tiền thọ ký. Đây gọi là người Thượng Phẩm Trung Sanh vậy.

Quí Phật Tử! Hãy suy nghĩ cho kỹ câu:"người này bất tất thọ trì đọc tụng Kinh điển Phương Đẳng Đại Thừa, chỉ khéo hiểu nghĩa thú, nơi Đệ Nhứt nghĩa tâm chẳng kinh động, thâm tín nhơn quả, chẳng hủy báng Đại Thừa".

Chỉ cần hiểu một câu văn này thôi thời quí Phật tử sẽ mở được cái cánh cửa vô minh của Tam giới. Hiểu đệ nhất nghĩahiểu rõ thật tướng của các Pháp, xưa nay không sanh diệt, đều vắng lặng, sanh tử cũng không, niết bàn cũng vắng lặng,. Đối với những giáo dạy như thế mà không sanh tâm kinh sợ, nghi hoặc. Tin sâu nhân quả, và không huỷ báng đại thừa. Những ai làm đươợc như vậy, đem công đức đó, hồi hướng, phát nguyện được vãng sanh về thế giới của Đức Phật A Di Đà, lúc lâm chung, Phật và thánh chúng hiện thân mà tiếp độ người đó. 

Cho nên biết, Phật Tử chúng ta là người tu hạnh theo đại thưà, không nên bàn luận những việc vô ích, kinh này tốt, kinh kia là giả, đối với giáo lý đại thừa chúng ta phải thận trọng, để không dính mắc vào là hủy báng đại thừa vậy.

Người Thượng Phẩm Hạ sanh ấy. Có chúng sanh cũng tin nhơn quả, chẳng hủy báng Đại Thừa, chỉ phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. Đem công đức ấy hồi hướng, nguyện cầu sanh Cực Lạc thế giới.

Hành giả ấy lúc lâm chung, A Di Đà Phật cùng Quán Thế Âm , Đại Thế Chí và chư Bồ Tát cầm hoa sen vàng, hóa làm năm trăm Phật đến rước. Năm trăm hóa Phật đồng thời trao tay khen rằng: Này Pháp tử, nay ngươi thanh tịnh phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, ta đến rước ngươi. Hành giả lúc thấy sự ấy, liền tự thấy thân mình ngồi kim liên hoa. Ngồi rồi, hoa búp lại, theo sau Phật, liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới trong ao thất bửu. Qua một ngày một đêm kim liên hoa mới nở. Qua bảy ngày mới được thấy Phật. Dầu thấy thân Phật mà chẳng thấy tỏ rõ các tướng hảo. Sau hai mươi mốt ngày mới thấy rõ hết. Nghe các âm thanh đều diễn diệu pháp, đi khắp mười phương cúng dường chư Phật. Ở trước chư Phật nghe thậm thâm pháp. Qua ba tiểu kiếp, được bá pháp minh môn, trụ bực Hoan Hỉ Địa. Đây gọi là người Thượng Phẩm Hạ Sanh vậy.

Đây gọi là pháp tưởng hàng Thượng Phẩm vãng sanh, gọi là pháp quán thứ mười bốn"

Bộ kinh quán vô lượng thọ là một trong bột kinh thuộc về Bồ Taá thừa, diễn giải về hạnh nguyện sâu xa chư Phật, nên đều lày hai việc làm đầu , đó là tin sâu nhơn quả và không hủy báng đại thừa. Đoạn kinh văn trên Phật dạy:" chúng sanh cũng tin nhơn quả, chẳng hủy báng Đại Thừa, chỉ phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. Đem công đức ấy hồi hướng, nguyện cầu sanh Cực Lạc thế giới"

Ở đây nói là nếu có một chúng sanh nào đối với nhơn quả mà không sanh tâm nghi hoặc,"cũng tin nhơn quả nghĩa là cũng tin nhưng chưa tin vững chắc, tức là nói chúng ta đây. Quí vị có ai thực sự dám nói là mình đều tin trọn không? Đối với việc nhơn quả chắc thật như vậy, mà chúng ta còn nghi hoặc, nếu nói là tin vũng chắc, thời mọi việc có đến với chúng ta, thiện hay ác thời cũng là do nhân từ trước chúng ta đã tạo mà thôi, có gì phải vui mừng lo sợ. Cho nên, người Phật Tử chơn thật cần phải hiểu rõ cái đạo lý nhơn quả này. Đối vời giáo lý đại thừa không sanh tâm nghi ngờ, rồi hủy báng, vì sao? Vì Chư Phật mười Phương theo giáo ly này mà thành Phật, nếu như chúng ta làm người khác lợi ích, cũng tức là diệt chủng Phật tánh của người, cho nên tôi này rất lớn, khó mà thanh tịnh lại, cho nên Đức Thế Tôn dạy chúng ta không nên hủy báng đại thừa.

Đã không tin nhơn quả, nhưng tâm của hành giả không có huỷ báng, đối với cảnh trần sanh tâm xả bỏ, ưa thích cảnh giới của chư Phật, Phát tâm hoan hỷ, mong được tròn đầy hạnh nguyện đại bi, cứu độ chúng sanh gọi phát Bồ Đề Tâm với tâm chí thành nguyện đặng vãng sanh về thế giới của Phật A Di Đà thời đều được vãng sanh cả. Hoan Hy Địa là một trong Thập Địa của Bồ Tát vậy.(Sơ Địa)

Tạo bài viết
03/12/2010(Xem: 25499)
Hình 1: Một tượng phật tại Chùa Hương Tích ở Santa Ana bị xịt sơn đen gần đây. Đây là một trong hàng loạt vụ việc phá hoại đền chùa khắp cộng đồng Little Saigon ở Orange County.
Hơn 150 năm sau khi chế độ nô lệ chấm dứt, nghiệp phân biệt chủng tộc bi thảm của nước Mỹ vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Giáo viên Phật giáo Larry Ward nói rằng nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp thực sự hoạt động như thế nào, chúng ta có thể ngăn chặn được nó.
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.