Đường Vào Kalachakra

01/11/201012:00 SA(Xem: 38133)
Đường Vào Kalachakra



ĐƯỜNG VÀO KALACHAKRA
Đại Sư Jhado Rinpoche
Nguyên bản Anh ngữ: Introduction to Kalachakra
Jhado Rinpoche thuyết giảng tại Bồ Đề Đạo Tràng , Ấn Độ, 01/2002
http://kalachakranet.org/teachings/comJR02d.zip
http://kalachakranet.org/teachings/qaJRo2d.zip
English Version © Jhado Tulku Rinpoche
Vietnamese Version © Hồng Như Thubten Munsel 2008

kalachakra-mantraBài giảng dành cho đại chúng,
không cần nhận pháp quán đảnh
Kalachakra vẫn có thể đọc.
Nhưng không thể hành trì nếu
chưa nhận pháp quán đảnh
Kalachakra từ bậc đạo sư truyền
thừa chân chính.

Mục Lục
Lời Dịch Giả
Phần 1. Bài giảng
Tóm lược đại ý
1. Đặc điểm của Phật Giáo
2. Đặc điểm của Đại thừa
3. Đặc điểm của Kim cang thừa
4. Đặc điểm của Mật tông tối thượng du già
5. Đặc điểm của mật pháp Kalachakra
6. Pháp Quán Đảnh Kalachakra
Phần 2 : Hỏi Đáp

Lời Dịch Giả

 

Mặc dù Phật tử trong nước khó lòng có cơ hội gặp đấng đạo sư kim cang truyền mật pháp Kalachakra, tuy vậy sách này vẫn đầy lợi ích, vì mặc dù nói riêng cho mật pháp Kalachakra, nhưng mang lại cho người đọc cái nhìn tổng quan và chính xác về mật pháp Tây Tạng. Người đọc nếu đã từng nhận pháp quán đảnh khác, có thể nhờ bài pháp này trau dồi thêm về pháp tu của mình; nếu chưa từng nhận mật pháp, có thể dựa vào bài pháp này để xác định đâu là tinh túy của mật tông chánh pháp, phân biệt với các pháp tu mật tông mạo danh Phật Pháp.

Đại sư Jhado Rinpoche1 là bậc tái sinh cao trọng dòng Gelug. Sư sinh năm 1954 tại Namtso Lake, Tây Tạng. Năm lên ba, sư được xác nhận là đấng hóa thân của viện trưởng Học Viện Jhado đời thứ sáu. Thọ giới xuất gia năm lên mười, sư tu học tại Đại Học Viện Sere Je tại Nam Ấn, đạt bằng Geshe Lha Rampa, là bằng tiến sĩ Phật học cao nhất dòng Gelug, rồi tiếp tục tu học Mật tông tại Guyto Tantric College. Sư từng được bổ nhiệm làm viện trưởng Tu Viện Namgyal, là tu viện riêng của đức Đalai Lama, trong thời gian 1997-2004.

Phật tử Tây phương đặc biệt cảm mến sư nhờ phương pháp giảng dạy độc đáo, sắc bén. Bài giảng của sư bao giờ cũng sâu sắc, cô đọng, dễ hiểu, luôn đáp ứng được thắc mắc cá nhân của người nghe. Không những vậy, Phật tử còn mến thương sư vô vàn vì thái độ sư luôn từ hòa, tấm lòng sư luôn bao la rộng mở.

Đây là một bài giảng trân quí, do một bậc thầy trân quí, giải thích về một pháp tu trân quí, lại mở rộng cho mọi người, dù chưa từng biết đến Mật tông, chưa từng nhận pháp quán đảnh, ai ai cũng đều có thể đọc tìm hiểu. Vì những lý do trân quí như vậy nên tôi nghĩ sách này nên phổ biến rộng rãi, cho dù ở những nơi ít hy vọng gặp được bậc đạo sư truyền pháp Kalachakra. Phật tử nào quan tâm đến Phật Giáo Tây Tạng đều có thể dựa vào đây để tìm hiểu thêm về mật tông chánh pháp. Tuy vậy, sách này chỉ là lời giới thiệu tổng quan, không phải cẩm nang hành trì. Chưa trực tiếp nhận pháp quán đảnh từ bậc đạo sư kim cang chân chính mà tự ý hành trì theo pháp này thì sẽ tạo chướng ngại lớn lao cho đường tu giác ngộ của chính mình. Xin quí vị quan tâm lưu ý điểm này.

Nguyện bài dịch này gieo chút duyên lành, đưa mọi người về với căn nhà ngọc báu kim cang, mau chóng thoát khỏi bến mê vượt sang bờ giác. Thành tâm cúng dường Đại Sư Jhado Rinpoche. Hồng Như Thubten Munsel 04/2008

 

Phần 1: Bài giảng

Hôm nay thầy sẽ nói về Kalachakra. Nhiều người trong số các anh chị đến Bồ Đề Đạo Tràng là để nhận pháp quán đảnh Kalachakra do đức Đạt-lai Lạt-ma truyền. Thầy rất cám ơn sự hiện diện của các anh chị. Chính thầy cũng đến đây để nhận pháp quán đảnh, vậy xét trên mặt này, chúng ta giống nhau, cùng đến đây vì Kalachakra.

Buổi giảng ngày hôm nay là để giúp các anh chị khỏi phí phạm cơ hội quí báu này. Chúng ta đến đây là để giúp đỡ lẫn nhau, vì vậy thầy mong bài giảng tối nay sẽ mang nhiều lợi ích cho tất cả. Thầy xin chia sẻ với các anh chị những gì thầy biết về Kalachakra. 

Xin đừng nghĩ thầy đến đây để kiếm đệ tử. Thầy không giảng pháp dưới danh nghĩa một đấng đạo sư. Nghe xong bài giảng này, các anh chị không trở thành đệ tử của thầy và thầy cũng không phải là đạo sư của các anh chị. Đây chỉ là một buổi nói chuyện thân mật, thầy đến để chia sẻ hiểu biết với các anh chị.

Bài giảng sẽ kéo dài ít nhất là hai ngày, mỗi ngày dài hai tiếng, từ 6 đến 8 giờ tối. Vì thời gian có hạn, thầy sẽ nói ngắn gọn trong vòng 1 tiếng rưỡi, còn lại nửa tiếng để dành cho các anh chị nêu thắc mắc. Thầy không biết hết về Kalachakra, nhưng sẽ cố gắng trả lời mọi câu hỏi. Biết đâu sẽ chẳng có những câu hỏi cực kỳ thông minh, mang lại tầm nhìn mới mẻ về Kalachakra, nhờ đó thầy cũng được lợi ích. Vậy nửa tiếng còn lại, xin các anh chị cứ nêu thắc mắc.

Tóm lược đại ý


Qui y Tam bảo là cánh cửa dẫn vào Phật Pháp, chung cho mọi pháp môn trong Phật đạo. Tâm Bồ đề là cánh cửa dẫn vào Đại thừa. Vậy theo lệ thường, trước khi nghe giảng về Phật pháp, xin các anh chị hãy dọn tâm cho trong sáng để phát khởi tâm qui y Tam bảo và tâm Bồ đề, lấy đó làm động cơ nghe giảng pháp. Chúng ta hãy đọc chung với nhau ba lần lời nguyện qui y tam và lời nguyện phát tâm Bồ đề. Trung tâm ở đây cũng chuẩn bị sẵn mọi vật dụng cần thiết để cúng dường mạn đà lacúng dường Phật, vậy sau khi đọc xong lời nguyện qui yphát tâm Bồ đề, chúng ta đọc thêm lời tụng cúng dường mạn đà la.

đệ tử sắp nhận pháp quán đảnh Kalachakra, chúng ta cần biết rõ muốn nhận pháp quán đảnh này cần hội đủ những điều điều kiện nào. Vì căn cơ của đệ tử có nhiều mức độ, thấp, trung bình và cao, cho nên điều kiện cần có để nhận pháp quán đảnh cũng có nhiều mức, tương ứng với từng trình độ căn cơ của đệ tử trước khi nhận pháp.

Nói chung, khi nhận pháp quán đảnh, các anh chị phải hiểu rõ sự khác biệt giữa Phật giáongoại đạo [là tôn giáo khác, ngoài Phật giáo], đâu là nét đặc thù của Phật giáo so với tất cả mọi tôn giáo khác.

Đồng thời cũng cần hiểu sự khác biệt giữa các tông phái trong Phật giáo, phải hiểu rõ Phật giáo Nguyên thủy khác Phật giáo Đại thừa như thế nào.

Chọn tu theo khế kinh Đại thừa là đương nhiên trở thành Phật tử Đại thừa. Lúc ấy lại cần phải hiểu vì sao Phật giáo Đại thừa được gọi là cỗ xe vĩ đại, phải hiểu đâu là đặc điểm của Phật giáo Đại thừa. Hiểu được tầm vóc quí giá của Đại thừa rồi, lại phải hiểu về sự khác biệt giữa hai tông phái trong Đại thừa là Ba-la-mật thừa và Kim cang thừa . Ba-la-mật thừa còn gọi Đại thừa Hiển tông. Kim cang thừa còn gọi là Đại thừa Mật tông

Chúng ta cần tìm hiểu xem vì sao lại nói phương pháp tu Mật tông quí giá thâm diệu hơn phương pháp tu Hiển tông. Mật tông có gì đặc biệt mà gọi là thâm diệu hơn? Chắc chắc không phải vì có nhiều nghi lễ với dụng cụ đẹp đẽ như bình bát, chuông, chày kim cang, tượng ảnh hay nhạc khí. Tất tả những thứ này chỉ là hình thức bên ngoài, tự chúng không thể là nguyên do khiến Mật tông thâm diệu hơn Hiển tông, huống chi kể cả ngoại đạo cũng có khi dùng những dụng cụ tương tự. Vậy cần hiểu rõ nội dung của giáo pháp Kim cang thừa, để thấy rõ Kim cang thừađặc điểm gì mà lại gọi là thâm diệu. Đây là điều cần hiểu cho thật rõ.

Mật pháp [phương pháp tu Mật] trong Mật tông được phân thành bốn bộ, bộ cao nhất gọi là Mật tông tối thượng du già . Ở đây cũng vậy, chúng ta cần hiểu rõ vì sao Mật tông tối thượng du già lại được xem là thâm diệu hơn ba bộ còn lại. Đây lại là điều cần phải nắm cho thật vững.

Ngoài ra, các mật pháp thuộc về Mật tông tối thượng du già cũng được phân thành nhiều loại. Có nhiều cách phân loại, tùy theo hệ cựu dịch là dòng Nyingma, hay tùy theo hệ tân dịch là ba dòng Gelug, Kagyu và Sakya. Hệ cựu dịch có những phương pháp quán tưởng Pháp chủ du già đặc biệt, và hệ tân dịch cũng có một vài phương pháp quán tưởng Pháp chủ du già đặc biệt thuộc Mật tông tối thượng du già, ví dụ như Hevajra, Vajrabhairava và Chakrasamvara. Trong số những mật pháp thuộc về Mật tông tối thượng du già, Kalachakra ngày nay được toàn cầu biết đến. Trước đây, mật pháp này chỉ được phổ biến quanh vùng Tây tạng, Mông cổẤn độ, nhưng ngày nay được nhiều người trên toàn thế giới biết đến. Điều này chúng ta sẽ có dịp nhắc đến trong lần nói chuyện sau.

Để hướng dẫn các anh chị tìm hiểu thêm về Kalachakra, thầy sẽ giải thích về chức năng huân tập của pháp quán đảnh trong giai đoạn phát khởi và trong giai đoạn viên thành . Các anh chị cần tìm hiểu trong khi nhận pháp quán đảnh mình phải quán tưởng những gì, sau đó sẽ nhận về loại ấn tượng nào, sẽ phải tu theo phương pháp nào, và tu như vậy là để thành tựu những gì. Nếu các anh chị chịu khó học hỏi ghi nhớ ý nghĩa và quá trình diễn tiến của pháp quán đảnh, vậy đến khi ngồi nhận pháp, các anh chị sẽ không ngỡ ngàng, vì hiểu được đại khái những gì xảy ra trong buổi truyền pháp.

1. Đặc điểm của Phật Giáo


Như đã nói trong phần đại ý, điều đầu tiên nên biết, là Phật giáo khác ngoại đạo như thế nào. Trên thế giới có nhiều tôn giáo, vậy Phật giáo có gì đặc biệt? Chắc chắn không phải đặc biệtnghi lễ cúng dường, cúng hoa, cúng hương, quì đảnh lễ, vân vân. Việc như vậy chưa chắc đã là Phật Pháp. Làm như vậy chưa chắc đã là Phật tử

khế kinh có nói, qui y là vì tìm đường giải thoát mà về nương dựa nơi Phật Pháp Tăng. Phật Pháp TăngTam bảo, là đối tượng của tâm qui y, có khả năng chở che khỏi mọi khổ não. Chở che không chỉ trong một đời, mà cho mọi kiếp về sau và mãi mãi. Tam bảo sẽ luôn giúp chúng ta thành tựu mục tiêu cao nhất. Trong cảnh sống luân hồi, bất cứ vấn đề nào, khổ đau nào, cũng đều phát xuất từ nghiệp chướng phiền não tích lũy trong dòng tâm thức của chúng ta. Vì tích tụ nghiệp chướng phiền não trong tâm thức mà tạo quả là những kinh nghiệm khổ đau phải trải qua trong cuộc sống.

Qui y Tam bảoquay về nương dựa nơi Tam bảo, nhờ đó có thể thoát được nghiệp chướng phiền não, thành tựu kết quả tối hậu là cởi thoát toàn diện mọi khổ đau và nguyên nhân của khổ đau. Về nương dựa Tam bảo để giải thoát khổ đau là động cơ tu hành chính của Phật tử căn cơ thấp

Trong khế kinh, Phật dạy nên qui y tại tâm của mình, không qui y nơi nào khác. Ví dụ có người trong tâm thức tích lũy ác nghiệp nhiều đời, đời này lại để tâm mình tha hồ tham sân si, vậy chắc chắn sẽ phải chịu quả khổ. Còn ngược lại mỗi khi tâm bất thiện nổi lên, nếu biết cố gắng áp dụng biện pháp hoá giải, ác nghiệp sẽ từ từ thanh tịnh, trí giác mỗi lúc mỗi thêm khai mở, tâm từ từ thuần hóa, càng lúc càng có khuynh hướng tạo nghiệp lành, càng có khả năng hóa giải ác nghiệp, cứ như vậy sẽ có lúc thành tựu cái gọi là tận diệt khổ đau, giải thoát luân hồi.

Khế kinh có nói muốn giải thoát không cần phải rời bỏ nơi này để đến một cõi đặc biệt nào khác. Khổ đau có thể tận diệt ngay trong thân tâm này. Thân tâm chúng ta đây vốn có đủ mọi tiềm năng để thành tựu nguồn an lạc tối thượng, chỉ cần tìm ra đường tu chính xác, phương pháp tu chính xác, rồi nỗ lực tu hành. Phật nói như vầy: “Phật đạo, là con đường giải thoát”.

Con đường giải thoát không có trong các tôn giáo khác. Tôn giáo khác có thể nói nếu các anh chị tu như thế này, thiền như thế kia, sẽ được phép thần thông ví dụ như bay trên không hay chui trong đất [khinh công, độn thổ], sẽ được thành tựu tâm linh thế này hay thế khác. Tôn giáo khác có thể dạy nhiều phương pháp nhập định rất hữu hiệu, nhưng không dạy tu để giải thoát khổ đau.

Phật giáo ngược lại dạy nhiều cách tu để giải thoát khổ đau, thành tựu an lạc tối thượng. Đây không chỉ là lời nói suông, thực sự các anh chịthể đạt đến kết quả ấy. Vọng tưởngphiền não trong tâm các anh chị chỉ là những hiện tượng sinh diệt, khi có, khi không. Nếu chịu khó tu, nếu gặp vị đạođủ khả năng hướng dẫn, và nếu chính mình có chí tu học, có căn cơ cao, khi ấy thoát khổ đau đạt an lạc tối thượng ngay trong kiếp sống hiện tại này, trong thân tâm này, là điều có thể xảy ra.

Giá trị của Phật giáo không phải nằm ở chỗ khi nghèo thì cầu Phật độ cho giàu, khi bịnh thì cầu Phật độ cho khỏi bịnh, hay khi làm ăn buôn bán thua lỗ thì cầu Phật độ cho phát tài. Thật sự mà nói, dù những phép lạ như vậy có thật sự xảy ra đi nữa, cũng chẳng có gì đáng nói, Phật giáo cũng không phải vì vậy mà có thể gọi là quí giá. Các anh chị cần hiểu rõ phần cốt tủy để thấy được mức độ quí giá cực kỳ của Phật đạo


2. Đặc điểm của Đại thừa


Điểm quan trọng thứ hai là sự khác biệt giữa hai cỗ xe Phật giáo, là cỗ xe Bồ tát và cỗ xe Thanh văn. Hai cỗ xe này còn được gọi là cỗ xe lớn, Đại thừa, và cỗ xe nhỏ, Tiểu thừa. Vì sao lại nói rằng Đại thừa thâm diệu hơn? Thật ra Thanh văn thừagiáo pháp dành để đáp ứng một số nhu cầu của Phật tử, chưa phải là thành tựu cao nhất. Muốn hoàn thành trọn vẹn con đường Phật dạy, là triệt bỏ toàn diện phiền não ô nhiễm, thành tựu chức năng bồ đề, người tu cần theo con đường Đại thừa, cần hành trì theo phương pháp tu dành cho Bồ tát.

Nói Tiểu thừaĐại thừa, hoàn toàn không có nghĩa là trong Phật Pháp có sự phân chia giáo pháp này xấu kém hơn, giáo pháp kia toàn hảo hơn. Giáo pháp toàn hảo là giáo pháp thích hợp với căn cơ của người tu, nên trong Phật pháp không bao giờ có thể khinh rẻ xem thường bất cứ giáo pháp nào. Thái độ như vậy sai lầmtai hại.

Đức Phật Thích ca mâu ni xuất hiện cõi thế, tu hạnh bồ đề, có nhiều đệ tử thanh văn theo tu học, điển hình là hai ngài Mục kiền liênXá lợi phất. Hai vị này tu hạnh thanh văn, đạt quả A-la-hán. Vì sao các vị đại đệ tử gần đức Thế tôn như vậy mà lại không thành tựu vô thượng bồ đề? Lý do Phật thành tựu vô thượng bồ đề, là vì khi còn trong giai đoạn mới tu học, Phật cầu giác ngộ cũng là vì lợi ích chúng sinh mà cầu. Rồi trong giai đoạn còn đang tu học, Phật tích lũy hai bồ công đức phước tuệ để thành Phật, cũng là vì lợi ích của chúng sinhtích lũy. Rồi cuối cùng khi Phật thành tựu quả vị Phật, cũng là vì lợi ích của chúng sinhthành tựu. Tất cả đều dựa trên căn bản của tâm Bồ đề, vì lợi ích của chúng sinh. Đến khi thành tựu vô thượng bồ đề, Phật có khả năng buông xả mọi phiền não cùng tập khí của phiền não. Như vậy nhờ buông xả toàn bộ mọi mê lầm phiền não mà Phật thành tựu trí toàn giác, có được khả năng thấy biết tất cả mọi hiện tượngmọi nơi, trong mọi lúc.

Còn các vị A-la-hán như ngài Xá lợi phất hay Mục kiền liên, không thể nói là thành tựu của các ngài ngang với thành tựu của Phật. Các ngài chỉ mới xả bỏ được một phần, nhưng chưa thể xả bỏ toàn bộ chướng ngại áng ngữ trí toàn giác. Có thể nói là các ngài chỉ mới thành tựu được một phần của tâm buông xả, chưa phải là tâm buông xả trọn vẹn. Nói về mức độ giác ngộ, A-la-hán không đầy đủ tánh đức của Phật đà, vì vậy mà gọi là A-la-hán, không gọi là Phật. Các ngài như Xá lợi phấtMục kiền liên chưa thành tựu được quả vị Phật, mà thành tựu quả A-la-hán.

Xét theo đó, mục đích cao nhất phải là đạt mọi tánh đức của tâm buông xả rốt ráotâm giác ngộ rốt ráo. Điều này ai cũng có thể đạt đến nếu noi theo gót chân Phật. Trước tiên phát tâm Bồ đề [là tâm nguyện đạt giác ngộ vì lợi ích chúng sinh], tiếp theo tích lũy hai bồ phước tuệ trong thời gian dài ba thời kỳ vô số, và cuối cùng đạt đến tâm buông xả viên mãn, thành tựu giác ngộ viên mãn. Chỉ có con đường Đại thừa mới dẫn đến quả vị Phật như vậy. Vì vậy mà nói Đại thừa vĩ đại hơn.

Khi mới bắt đầu thuyết Pháp, Phật dạy về Thanh văn thừa cùng nhiều phương pháp tu Giới Định Tuệ. Phần giáo pháp này là căn bản của con đường giác ngộ giải thoát.

Rồi Phật lại dạy phương pháp phát khởi lòng từ bi và tâm Bồ đề, là con đường dành cho những vị bồ tát dũng mãnh, lãnh nhận trách nhiệm mang lợi ích về cho toàn thể chúng sinh. Tuần tự đường tu Phật dạy là như vậy, trước tiên tu theo căn bản Giới Định Tuệ, rồi phát tâm từ bi cùng với tâm Bồ đề.

Mục tiêu cuối cùng Phật muốn đưa chúng ta đến, là vô trú niết bàn. Ở đó, tâm buông xả mọi mê lầm, thành tựu mọi tánh đức. Con đường vị tha này dành cho bồ tát tâm rộng lớn vô ngại, lãnh nhận trách nhiệm giải thoát cho chúng sinh, mang hạnh phúc về cho tất cả. Vì vậy mà gọi Đại thừa là cỗ xe lớn.

Có người nói rằng đã theo Đại thừa không cần phải học phương pháp tu Tiểu thừa, cho rằng Phật tử Đại thừa chỉ cần phát tâm từ bi là đủ, không cần quan tâm đến Giới Định Tuệ. Điều này hoàn toàn sai. Đại thừa không phải là con đường song song riêng biệt với Tiểu thừa. Căn bản của Đại thừa chính là Tiểu thừa. Giáo pháp Tiểu thừa không ra ngoài Đại thừa. Chỉ khác là thêm vào đó, Đại thừa đòi hỏi phải phát tâm đại bi và tâm Bồ đề.

3. Đặc điểm của Kim cang thừa

Trong Đại thừa còn có hai cỗ xe chính, một là cỗ xe “tu-nhân”, gọi là Ba-la-mật thừa, hay là Hiển tông, hai là cỗ xe “tu-quả”, gọi là Kim cang thừa, hay là Mật tông. Mật tông được xem là thâm diệu hơn Hiển tông.

Từ mấy thế kỷ qua, người tu theo Mật tông có rất nhiều, nhất là ở Tây tạng. Tuy vậy, Mật tông không phải do các Lama Tây tạng tự ý sáng chế ra, mà là một hệ thống tu Phật giáo được nhiều thế hệ cao tăng đắc đạo giữ gìn và truyền lại trọn vẹn không gián đoạn từ nhiều thế kỷ qua.

Ngược dòng truyền thừa sẽ gặp những bậc thầy tuyệt cao như các ngài Long Thọ8 , Nguyệt Xứng9 , Thánh Thiên10... cùng nhiều vị hiền thánh cựu học viện Na-lan-đà danh tiếng. Các bậc hiền thánh cựu học viện Na-lan-đà phần lớn song tu Hiển Mật. Mật pháp được truyền xuống là truyền từ các bậc thầy cao trọng xứ Ấn, hoàn toàn không phải do các lama Tây tạng nghĩ ra.

Vì sao lại nói Mật tông thâm diệu hơn Hiển tông? Chắc chắn không phải vì những phép lạ thần kỳ thường được nhắc đến khi nói về Mật tông. Ví dụ một vài bộ kinh có nói rằng cứ tụng chú Om Mani Padme Hum bao nhiêu lần thì sẽ độ thoát một số chúng sinh nào đó ra khỏi ác đạo, vãng sinh tịnh độ. Tuy nói vậy không sai, nhưng nếu chỉ bấy nhiêu, thật không đủ để kết luận Mật tông thâm diệu hơn Hiển tông. Điều quan trọng cần hiểu rõ, đó là Mật tônggiáo pháp do chính Phật dạy, bao gồm những phương pháp khác thường nhưng cũng chỉ để hành trì hai sắc thái chính của Phật đạophương tiệntrí tuệ.

Hiển và Mật giống nhau ở nội dung hành trì – là phương tiệntrí tuệ. Tuy nội dung giống nhau, nhưng phương pháp hành trì lại khác.

Hiển tông khi nói “song tu phương tiện và trí tuệ”, hay “song tu công đức, trí tuệ”, chữ song tu ở đây có nghĩa là tu hành song song, xen kẽ, dùng trí tuệ để tu phương tiện, hay dùng phương tiện để tu trí tuệ, lần lượt tích tụ hai bồ tư lương công đức trí tuệ chứ không phải trong cùng một lúc mà đồng thời tích tụ được cả hai. Mật tông cũng nói “song tu phương tiện và trí tuệ”, nhưng song tu ở đây không phải là thực hiện xen kẽ mà là đồng loạt, trong cùng một pháp tu tích lũy được cả hai bồ tư lương công đức trí tuệ. Khi quán về sắc tướng của Phật, hay khi quán tưởng thân Phật trước mắt, hành giả đồng thời quán về tánh không của thân Phật. Quán tưởng sắc thân nhiệm màu của Phật là phương tiện, nhờ vậy tích tụ được công đức. Quán tánh không của thân Phật là trí tuệ, nhờ vậy tích tụ được trí tuệ. Phương pháp này giúp hành giả cùng một lúc tích lũy được cả hai bồ tư lương công đức trí tuệ, nhờ vậy đủ khả năng mong chóng thành tựu thân Phật và trí Phật. Đây là lý do chính vì sao lại nói Mật tông thâm diệu hơn Hiển tông.

Làm thế nào trong cùng một công phu lại có thể song hành công đức trí tuệ? Trước hết cần hiểu về cốt lõi của pháp quán tưởng Bổn tôn du già11 của bốn bộ mật pháp. Quán tưởng Bổn tôn du già phải phát khởi từ nền tảng tánh không. Đầu tiên quán về trí tuệ tánh không, tiếp theo quán thân sanh diệt của mình, từ tánh không khởi hiện thành tướng Phật, nhờ vậy biết thân Phật không hiện hữutự tánh mà chỉ do trí tuệ tánh không hoạt hiện mà thành. Khởi hiện thân Phật, nuôi dưỡng tâm kiêu hãnh nhiệm màu12, hành giả niệm niệm không rời tánh không của thân Phật đang hiện ra.

Trí tuệ tánh không hoạt hiện thành tướng Phật cũng là quả của đường tu. Vì vậy mà nói Mật tông vận dụng quả để tu hành. Lấy kết quả để huân tập tâm thức, nhờ vậy mau chóng đạt thành tựu.

Dù vậy, tự mình hiện thành đủ loại thân Phật trong quán tưởng, như vậy không có nghĩa là mình đã thành Phật. Chỉ quán tưởng thôi, chưa phải là thành Phật thật sự. Đồng thời cũng đừng nói là mình không thể thành Phật, vì mọi chúng sinh đều có khả năng này, mọi chúng sinh đều thuộc dòng giống Phật. Vì vậy quán tưởng thân Phật để mau chóng tích lũy bồ tư lương công đức, hiểu và quán về tánh không để mau chóng tích lũy bồ tư lương trí tuệ. Mật tôngphương pháp tu chóng vánh như vậy, nên đặc biệt quí giá.

Cũng nên tìm hiểu vì sao lại gọi Mật tông là cỗ xe “tu-quả”, là Kim cang thừa. Chữ Kim cang có nghĩa là cứng chắc đến độ không gì có thể phá vỡ hay phân đoạn. Tính chất không thể đoạn vỡ biểu hiện cho sự hợp nhất không thể phân chia giữa trí tuệphương tiện. Khi tu theo pháp tu Bổn tôn du già, hành giả tu trí tuệphương tiện không phải xen kẽ mà cùng một lúc. Quán về cảnh Phật, như tịnh độ, mạn đà la, là quán về sắc thân của Phật, về tâm hỉ lạc của Phật, về cảnh giới của Phật. Nhờ mang quả về ngay trong giây phút hiện tại, hành giả huân tập mọi tính năng của tâm mình để mau chóng đạt đến thành quả ấy. Kim cang thừa là đường tu phương tiện trí tuệ bất nhị, mang kết quả về ứng dụng trên đường tu. Vì vậy mà gọi là Kim cang thừa, là cỗ xe “tu-quả”.

Ngày nay Mật tông được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Rất nhiều người muốn bước vào Mật tông. Vì vậy chúng ta cần hiểu rõ vì sao lại gọi Mật tôngKim cang thừa, là cỗ xe “tu-quả”, phải hiểu lý do vì sao Mật tông lại đặc biệt quí giá thâm diệu.

4. Đặc điểm của Mật tông tối thượng du già

Phương pháp tu trong Kim cang thừa có thể phân thành bốn bộ. Mỗi khi nghe nhắc đến Mật tông tối thượng du già, hay anuttarayagatantra, lập tức đôi mắt người nghe sáng rực lên. Đó là vì nhiều người tưởng lầm rằng hễ tu theo Mật tông tối thượng du già thì mình không cần giữ giới, có thể tha hồ uống rượu, liên hệ nam nữ v.v... cho rằng phải như vậy mới thật là phương pháp tu thiền tối cao. Điều này hoàn toàn sai lầm. Mật tông tối thượng du già không phải như vậy.

Đâu là tinh túy của Mật tông tối thượng du già?

Phật pháp đặc biệt chú trọng đến tính bất nhị của phương tiệntrí tuệ. Hai sắc thái này được hành trì hợp nhất trong Mật tông. Pháp tu hợp nhất này không thấy có trong Hiển tông. Hiển tông tuy kết hợp phương tiệntrí tuệ, nhưng hành trì song song, xen kẽ. Còn trong Mật tông thì hoàn toàn chỉ là một.

Mật tông thường nói đến nền tảng, đạo và quả. Đạo là công phu tu hành, quả là thành tựu sẽ đạt tới. Còn nền tảng trong Mật tông, chính là thân người. Thân người có cả một hệ thống khí mạch, khí, và nhiều loại tinh chất được gọi là tinh khí bồ đề13. Những điều này không phải là tưởng tượng mà thật có trong thân và tâm của chúng ta. Con người sinh ra đã có sẵn một hệ thống khí mạch, bên trong có khí và nhiều tinh chất khác luân chuyển, ví dụ như cái gọi là máu đến từ mẹ và tinh khí đến từ cha.

Mật tông nói rằng mỗi loại khí trong cơ thể (Tạng ngữ gọi là lung) tương ứng với một tầng tâm thức. Tâm và khí có nhiều tầng thô lậu và vi tế khác nhau. Mỗi loại khí kết hợp với một tầng tâm thức, phát sinh thành hình ảnhý tưởng trong tâm. Như khi đi ngủ, chúng ta từ từ chìm sâu vào giấc ngủ, tâm thức càng lúc càng trở nên vi tế, phần tâm và khí thô lậu lúc tỉnh dần dần thu về hội tụ ở vùng tim, làm hiển lộ các tầng tâm và khí càng lúc càng vi tế. Vì vậy dần dần chúng ta mất tri giác, bắt đầu nằm mơ v.v... Khi thức dậy, các luồng khí tán ra khỏi vùng tim, tâm thức càng lúc càng trở nên thô lậu, cho đến khi thức giấc. Chúng ta đã từng nhiều lần trải qua những kinh nghiệm như vậy với các tầng tâm khí thô-tế khác nhau.

Hiển tông và ba bộ mật pháp dưới của Mật tông vận dụng lớp khí và tâm thô lậu để thiền quán tu tập. Chỉ riêng các mật pháp trong Mật tông tối thượng du già là không làm như vậy mà chủ động thâu nhiếp các tầng tâm và khí thô lậu để làm hiển lộ tầng tâm và khí vi tế nhất, rồi vận dụng tầng tâm thức vi tế nhất để thiền quán về tánh không và về thân Phật, nhờ vậy có thể triệt bỏ mọi phiền não thô-tế, cùng với tất cả mọi tập khí phiền não, đồng loạt thành tựu tam thân Phật.

Phương pháp này chỉ có trong Mật tông tối thượng du già, vì vậy mà nói Mật tông tối thượng du già thâm diệu nhất. Đó là vì ở đây có cả một hệ thống trình bày về khí, khí mạch, cùng những thành phần luân chuyển trong đó. Khi chạm tới điểm tinh túy nhất của thân kim cang, hành giả thu nhiếp hết những tầng tâm khí thô lậu để hiển lộ phần tâm khí vi tế nhất, lấy đó làm nền tảng thiền quán tánh khôngthiền quán thân Phật.

Đọc lại cuộc đời của đức Phật, thấy nói Phật đi qua nhiều vùng đất Ấn độ, làm nhiều thiện hạnh để giáo hóa đệ tử đủ loại căn cơ. Ở thành Sarnath có một nơi trên đá còn khắc lại nhiều thiện hạnh mà Phật đã làm. Trong đó có chỗ ghi lại sự kiện Phật thi triển thần thông để hóa độ người ngoại đạo đến thách thức. Trên đá khắc lại hình hai đóa sen phóng ra từ tim Phật, trên mỗi đóa sen lại có thêm một đức Phật.

Khế kinh diễn tả về loại thần thông này, thật không thể nghĩ bàn. Từ tim Phật hiện ra hàng ngàn, hàng triệu, hàng tỉ hóa thân. Hóa thân của thân, ngữ, ý, tất cả đồng loại hiện ra đầy khắp không gian vô tận. Điều này khế kinh có ghi rõ. Ngoài ra, trong hạnh nguyện vương của Phổ Hiền, có một câu tụng rằng: “trên đầu mỗi sợi tóc có vô lượng quốc độ Phật, trong mỗi quốc độ có hàng triệu Phật đà và quanh mỗi Phật đà là hàng triệu bồ tát”. Lấy thân và tâm thô lậu như của chúng ta đây mà nói, điều này chỉ có thể là chuyện hoang đường. Nếu thật sự thân và tâm của Phật cũng thô lậu như thân và tâm chúng ta đang có đây, đừng nói chi ngần ấy Phật và bồ tát, chỉ một vị thôi cũng không thể đặt lên đầu ngọn tóc.

Thân và tâm của Phật đang nói đây là phần thân và tâm cực kỳ vi tế, hoàn toàn không bị vật thể áng ngữ, vì vậy hàng triệu đức Phật có thể tụ họp trên đầu một sợi tóc. Nói ví dụ trên đầu một sợi tóc có cái gì mà mọi người đều muốn xem, vậy tâm của tất cả mọi người đều đổ về tụ hội về đầu ngọn tóc ấy. Chỉ có thân và tâm của chúng ta mới có giới hạn. Còn Phật thì tâm là thân và thân là tâm, sắc thân của Phật là khí và tâm vi tế, vì vậy thân tâm của Phật có thể tự tại về ngự trên một chấm nhỏ bằng đầu sợi tóc.

Phật giáo làm sao giải thích được hiện tượng như vậy? Xét theo Mật tông, đây là điều có thể giải thích được và cũng có thể thành tựu được nếu tu theo phương pháp tu mật. Vì vậy mà nói thần thông của Phật không phải là điều huyền bí đòi hỏi lòng tin mù quáng. Chúng ta có thể tìm hiểu xem bằng cách nào Phật làm được như vậy, và nếu hành trì đúng cách, chúng ta cũng có thể làm được điều Phật làm. Phật pháp không đòi hỏi Phật tử nhắm mắt tin theo, mà luôn đưa ra phương pháp tu cụ thể cho Phật tử tìm hiểuthực hành.

Làm hiển lộ và vận dụng thân tâm vi tế, đó là đặc điểm của Mật tông tối thượng du già. Còn về những lãnh vực khác trên đường tu, như tâm bồ đềtánh không, Mật tông không nói gì khác hơn Hiển tông. Tâm bồ đềtánh không chỉ có một nghĩa, hoàn toàn không có cái gọi là tâm bồ đề hay tánh không dành riêng cho Mật tông.

Khi tu theo mật pháp, có người tưởng rằng mình phải thay đổi hình dáng bên ngoài, chẳng hạn phải ăn bận khác đi, hay phải lập gia đình vì tưởng rằng thiếu kinh nghiệm tình dục sẽ không thể tu theo Mật tông. Nghĩ như vậy là sai lầm rất lớn. Cứ thử nhìn vào một trong những mật pháp cao thâm nhất là Guhyasamaja, các vị truyền thừa mật pháp này toàn là những bậc tỷ kheo giữ giới nghiêm mật. Lại có rất những bậc cao tăng như Long Thọ, Thánh Thiên hay Nguyệt Xứng, đã từng viết bao nhiêu bộ luận lừng danh về tánh không trong cả Hiển lẫn Mật, là tổ sư truyền thừa rất nhiều mật pháp, các vị đều là tỷ kheo, luôn giữ phạn hạnh sống kiếp độc thân trong suốt cuộc đời hành đạo, không từng một phút giây thị hiện sắc tướng cư sĩ.

Vậy quí vị đừng nghĩ mình phải thay đổi hình dáng bên ngoài để tu theo Mật tông, vì đây là lầm lẫn tai hại nhất. Một ví dụ điển hình khác là Lama Tông Khách Ba, pháp tu chính của ngài là Guhyasamaja, vua của mật pháp. Để vận dụng năng lực của tâm và khí, hiển lộ phần tâm và khí vi tế nhất, quí vị không cần thay đổi hình tướng bên ngoài, cũng không cần rời bỏ đời sống xuất gialập gia đình. Đây là điểm cực kỳ quan trọng cần phải hiểu.


5. Đặc điểm của mật pháp Kalachakra

Chương ba đề cập đến sự khác biệt giữa Hiển tôngMật tông. Chương bốn đề cập đến khác biệt giữa Mật tông tối thượng du già và ba bộ Mật tông còn lại. Còn chương năm này sẽ dành để nói về đặc điểm của mật pháp Kalachakra.

Mật pháp Kalachakra là phương pháp tu cực kỳ thâm diệu, được rất nhiều người trên thế giới biết tiếng. Vì cầu giác ngộ nên chúng ta bước theo con đường dẫn đến Phật quả. Quan trọng nhất là đừng quá nuông chìu thân xác cha mẹ sinh ra, mà phải trú nơi tâm của mình, vì tâm vốn trong sáng, tách lìa ô nhiễm. Ô nhiễm không phải là đặc tính của tâm, nhờ đó có thể sám hối thanh tịnh tâm thức, dẹp sạch ô nhiễm, thành đạt trí toàn giác. Trí toàn giác này chính là tâm của Phật. Chúng ta ai cũng có thể làm được như vậy, và muốn được như vậy thì phải sám hối thanh tịnh tâm thức của mình. Vậy phương pháp thành tựu tâm Phật đã biết rồi. Còn Thân Phật thì sao? Làm cách nào chúng ta có thể thành tựu được thân Phật?

Xét theo giáo pháp của Mật tông nói chung, chúng ta gọi thân cha mẹ sinh ra là thân của mình, nhưng không thể lấy thân thể thô lậu này để chuyển thành thân Phật nhiệm màu. Phải vận dụng phần tâm và khí vi tế nhất để thiền quán tánh không, rồi sám hối thanh tịnh mọi chướng ngại của thân và tâm vi tế để chuyển thành sắc thân trong sáng của Phật Kim cang tát đỏa 14 hay của Phật Kim cang trì15, hay nói cách khác, để chuyển thành thân Phật. Đây là phần thân và tâm vi tế nhất, khác với hợp uẩn thân tâm do cha mẹ sinh ra. Phần tâm và khí vi tế nhất quán tưởng tánh không là trí Phật, trí Phật hoạt hiện thân Phật, thân và trí của Phật trở thành một hiện tượng duy nhất không thể phân chia, đó là cái gọi là thân tâm của Phật.

Kalachakra không những vận dụng thân và tâm vi tế nhất để thiền quán tánh không mà còn phải trải qua quá trình thu nhiếp toàn bộ mọi thành phần vật lý. Bao giờ mọi phân tử vật lý đều đã thu nhiếp tiêu trừ, hành giả sẽ thành tựu được thân vô sắc của Phật. Mật pháp Kalachakra không nói đến thân vi tế và khí vi tế khác với thân ngũ uẩn, mà lại dạy phương pháp tiêu trừ thân ngũ uẩn hiện có, để chuyển thân này thành cái gọi là thân vô sắc của Phật.

Bài giảng Đường vào Kalachakra này bao gồm năm vấn đề, sự khác biệt giữa Phật giáo và không phải Phật giáo, giữa Hiển tôngMật tông, v.v... Vậy năm vấn đề này đều đã được trình bày xong.

Bây giờ xin nói thêm về nội dung của mật pháp Kalachakra.

Chữ Kalachakra có nghĩa là bánh xe thời gian. Kala là thời gian, còn chakra là bánh xe. Khi giải thích về Kalachakra, cần phải hiểu Kalachakra qua ba điểm chính yếu của pháp tu này, đó là nền tảng, đạo và quả.

Theo mật pháp này, nền tảng là thân vật lý, khởi sinh từ ba nghiệp phiền nãotham sân si, cùng nhiều loại phiền não khác. Thân chúng sinhnguyên nhân của khổ đau luân hồi, cho chính mình và cho chúng sinh. Những thành phần vật lý có trong đó, hệ thống khí mạch và các tinh chất luân chuyển trong đó, là nền tảng của pháp Kalachakra. Đó là nền tảng hành trì.

Đạo là phương pháp tu. Để triệt bỏ khổ não cho mình và cho chúng sinh, hành giả cần thành tựu tâm đại lạc bất động. Bất động có nghĩa là không lay chuyển trong cả ba thời quá khứ hiện tạivị lai. Đại lạc bất động trong mật pháp Kalachakra chính là cái nơi khác thường gọi là tâm chân như16. Tâm đại lạc bất động chính là tâm chân như cực kỳ vi tế đang quán chiếu tánh không. Muốn vận dụng tâm chân như vi tế này để chứng tánh không, hành giả phải lần lượt thu nhiếp tiêu trừ thân vật lý của chính mình. Điều này không đột ngột xảy ra mà thành tựu từng phần nhờ vào công phu kiên trì tu tập.

Lúc đầu, thân vô sắc chỉ là một hiện tượng mơ hồ. Nếu kiên trì, các hợp thể vật lý của xác thân sẽ từ từ thu nhiếp lại. Thân vật lý thu nhiếp đến đâu, thân vô sắc hiển hiện đến đó. Hành giả nhờ trú ở tâm chân như, hoạt hiện thành sắc tướng của năm vị Thiền Phật trong năm bộ Phật, cùng chư tôn thánh từ hòa hay oai nộ trú trong mạn đà la Kalachakra. Đó là phương cách thành tựu thân vô sắc, thành tựu sắc thân nhiệm màu của Phật.

Thân vô sắctừ tâm chân như hoạt hiện mà thành. Còn chính tâm chân như lại là nhân tố thành tựu trí Phật. Nhờ vậy mà có sự hợp nhất giữa thân và tâm của Phật. Hành giả đạt quả vị Phật với thân vô sắctâm đại lạc bất động, đồng thời hoạt hiện thành chư Phật và chư tôn mạn đà la, tất cả đều nằm trong chân tánh của đại lạcchân như.

Mật pháp Kalachakra qua ba yếu tố nền tảng, đạo, và quả, giải thích đại khái là như vậy. Đặc điểm của Kalachakra là thu nhiếp tất cả mọi thành phần vật lý thô lậu để chuyển thành thân vô sắc của Phật đà.

Trong mật pháp Kalachakra, tâm đại lạc bất động được xem là tâm của Phật, thành tựu được là nhờ thu nhiếp mọi thành phần vật lý để chuyển thành thân vô sắc. Thân vô sắc này chính là thân Phật, hoàn toàn bất nhị với tâm Phật. Trong các mật pháp khác của Mật tông tối thượng du già, hành giả không làm như vậy mà lại vận dụng phần khí và tâm vi tế nhất để trong cùng một lúc, hoạt hiện thành sắc thân vi tế nhất, là thân của Phật, đồng thời chứng ngộ về tánh không, là tâm của Phật. Vậy giữa Kalachakra và các mật pháp khác trong Mật tông tối thượng du già có sự khác biệt căn bản.

Đọc mật kinh Kalachakra sẽ thấy phương pháp thành tựu thân tâm bất nhị của Phật được giải thích mạch lạc rõ ràng, trong khi đó các mật kinh khác như Guhyasamaja không nói rõ về phương pháp tu mà trình bày toàn bằng ẩn nghĩa. Vì vậy Kalachakra được gọi là mật kinh hiển nghĩa 17, còn các mật kinh khác đều gọi là mật kinh ẩn nghĩa 18.

Chúng ta vừa xem lướt qua năm đề tài chính: 1. đặc điểm của Phật giáo so với các tôn giáo khác; 2. đặc điểm của Phật giáo Đại thừa; 3. đặc điểm của Đại thừa Mật tông; 4. đặc điểm của Mật tông tối thượng du già; 5. đặc điểm của mật pháp Kalachakra. Qua lời giải thích ngắn gọn về năm đề tài này, thầy hy vọng quí vị có được cái nhìn tổng quát về Phật đạo.

Ngày mai chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết của đại lễ quán đảnh Kalachakra, nói về mười một pháp quán đảnh, của Kalachakra nói riêng, của Mật tông nói chung, dựa trên ba yếu tố nền tảng, đạo, và quả.

6. Pháp Quán Đảnh Kalachakra


Thông thường mật pháp được truyền dưới hai dạng, Tây tạng gọi là wang và jenang. Chữ wang dịch là mật pháp quán đảnh19 và jenang là mật pháp gia trì20. Cả hai cùng gọi là truyền mật pháp21, nhưng ý nghĩa lại khác nhau. Vậy nên biết rõ wang và jenang khác nhau ra sao, hai dạng truyền mật pháp này là như thế nào.

Nguyên văn chữ wang có nghĩa là “ban cho quyền năng”, thường gọi là truyền pháp quán đảnh, trong ý nghĩa hành giả được trao cho quyền năng quán tưởng chính mình là Phật Bổn Tôn Pháp Chủ mạn đà la. Nhận được pháp quán đảnh rồi mới có thể tu tập về pháp thiền Bổn Tôn mạn đà la, về hai giai đoạn chính của Mật tông tối thượng du già là giai đoạn phát khởi và giai đoạn viên thành, cùng những phương pháp tu thiền thuộc các bộ Mật tông thấp hơn. Nói tóm lại, pháp quán đảnh cho hành giả đầy đủ quyền năng hành trì một số pháp quán tưởng liên quan đến vị Phật Bổn Tôn Pháp Chủ mạn đà la.

Wang và jenang có gì khác nhau? mật pháp quán đảnhmật pháp gia trì khác nhau ra sao? Mặc dù vẫn thường được gọi chung là truyền pháp, hai dạng truyền mật pháp này hoàn toàn khác nhau. Mật pháp quán đảnh ban cho quyền năng hành trì, còn mật pháp gia trì là truyền năng lực gia trì của đấng Bổn Tôn Pháp Chủ vào thân ngữ ý của hành giả. Nói chung, phải nhận pháp quán đảnh trước khi có thể nhận pháp gia trì, vì chỉ như vậy năng lực gia trì của vị Bổn Tôn Pháp Chủ mới có thể truyền thông suốt vào ba cửa thân ngữ ý của đệ tử.

Việc gì sẽ xảy ra nếu đệ tử chưa nhận pháp quán đảnh mà lại nhận pháp gia trì? Trường hợp này xảy ra rất thường. Ví dụ quí vị đến nghe giảng Pháp, sau buổi giảng, vị thầy có khi cử hành lễ truyền pháp trường thọ Bạch Y Quan Âm. Nếu chưa từng nhận pháp quán đảnh trước đó, dù có ngồi dự buổi truyền pháp này, quí vị vẫn chưa phải là đã thọ nhận pháp gia trì Bạch Y Quan Âm. Lý do là vì muốn thật sự nhận được pháp gia trì này, quí vị cần quán tưởng mình mang thân tâm thanh tịnh của vị Phật Bổn Tôn Pháp Chủ, ở đây là đức Bạch Y Quan Âm, rồi vận dụng thân tâm thanh tịnh ấy để nhận pháp gia trì. Nếu chưa từng nhận pháp quán đảnh, quí vị không thể tự quán tưởng mình mang thân tâm của đấng Bổn Tôn Pháp Chủ, vì vậy không thể nhận pháp gia trì. Vì lý do này, các thầy trước buổi truyền pháp gia trì thường nhắc nhở ai chưa nhận pháp quán đảnh thì đừng quán tưởng mình là Phật Bổn Tôn Pháp chủ. Quí vị chỉ có thể quán tưởng Phật ngự trên đỉnh đầu, rót dòng suối cam lồ thân ngữ ý thanh tịnh xuống.

Như vậy quí vị cũng sẽ nhận được năng lực gia trì, nhưng không phải là đã nhận mật pháp gia trì.

Đại lễ quán đảnh thường được truyền cho đệ tử qua mạn đà la. Có nhiều loại mạn đà la, bằng cát màu, bằng gấm vẽ, đến từ năng lực thiền định của vị đạo sư, hay lấy thân người làm mạn đà la. Bốn loại mạn đà la nói trên này đều có thể dùng để truyền pháp quán đảnh.

Kalachakra có hai phương pháp truyền pháp. Một là truyền pháp Kalachakra theo dạng thông thường. Gọi “thông thường”, là vì tuy mật pháp Kalachakra đặc biệt, nhưng nghi thức truyền pháp lại giống như nghi thức truyền pháp của những mật pháp khác trong Mật tông tối thượng du già. Vì không khác với những mật pháp khác, nên gọi là phương pháp truyền pháp thông thường.

Hai là truyền pháp Kalachakra theo dạng phi thường. Gọi phi thường, vì trong số tất cả những mật pháp thuộc về Mật tông tối thượng du già, duy nhất chỉ có Kalachakra là có thể truyền theo phương pháp này. Đây là phương pháp độc nhất bao gồm mười một pháp quán đảnh. Nghi lễ và nội dung truyền pháp đều rất khác so với các loại mật pháp khác trong Mật tông tối thượng du già.

Nói về dạng truyền pháp thông thường, phương pháp này được nói đến trong kinh Vajramalatantras hay trong bộ mật kinh có thể tìm thấy nơi dòng Sakya. Phương pháp này sử dụng mạn đà la bằng gấm thêu, truyền bốn pháp quán đảnh. Bốn pháp này là pháp quán đảnh bình bát22, kín mật 23, tuệ giác24, và danh tự25. Đây là bốn pháp quán đảnh chung cho tất cả mọi mật pháp thuộc về Mật tông tối thượng du già.

Nói về dạng truyền pháp phi thường, phương pháp này đến từ lời dạy của hiền thánh Naropa. Phương pháp phi thường này đòi hỏi mạn đà la bằng cát màu. Thiếu mạn đà la bằng cát màu, pháp này không thể truyền.

Vài ngày nữa đại lễ quán đảnh sẽ được cử hành, phương pháp truyền pháp sẽ là phương pháp phi thường, thuận theo lời dạy của đại hiền thánh Naropa.

Vì sao mạn đà la bằng cát màu lại được đề cao đến như vậy? Lý do là vì mạn đà la càng lớn, càng cần nhiều cát nhiều màu bao nhiêu, công đức tích lũy cho thí chủ và cho các thành phần đệ tử tham dự lại càng tăng bấy nhiêu. Mạn đà la được dựng lên với nhiều loại vàng bạc, đá quí, lại đòi hỏi rất nhiều thì giờ, công sức, nhờ vậy công đức tích lũy lớn lao vượt bực.

Ngoài ra, mạn đà la bằng gấm vẽ chỉ là tấm hình do họa sĩ vẽ, dùng màu sắc tương ứng với năm Phật bộ. Kalachakra khác hơn, có tới sáu Phật bộ. Vì vậy mạn đà la dùng sáu màu cát khác nhau, tượng trưng cho trí giác26 của sáu Phật bộ. Cát sáu màu được tịnh hóa, rồi theo đúng nghi thức xây mạn đà la. Toàn bộ quá trình thực hiện mạn đà la được cử hành theo nghi thức nhất định, không phải chỉ là một tác phẩm nghệ thuật như hình vẽ trên mạn đà la bằng gấm. Đến cả vật liệu dùng để xây mạn đà la cũng đã được gia trì, tịnh hóa.

Bây giờ nói về thời gian thích hợp để truyền pháp quán đảnh. Dựa theo những bộ luận giải Kalachakra, ngày đại cát để truyền pháp quán đảnh là ngày rằm tháng ba Tạng lịch. Đó là thời gian thích hợp nhất. Nếu không được thì chọn ngày rằm của bất cứ tháng nào trong Tạng lịch cũng là ngày lành. Nếu cũng không được mà gặp đệ tử thượng căn, đủ khả năng nhận pháp thì có thể chọn bất cứ ngày vía Phật nào khác.

Vì sao ngày rằm tháng ba Tạng lịch được xem là ngày tốt nhất để truyền pháp Kalachakra? Khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết kinh Bát Nhã ở đỉnh Linh thứu thành Vương xá, đồng thời đức Phật cũng có mặt tại tòa bảo tháp ở miền Nam xứ Ấn. Tại bảo tháp ấy, đức Phật hiện thân đấng Bổn Tôn Pháp Chủ Kalachakra cùng toàn bộ mạn đà la, truyền mật pháp quán đảnh Kalachakra cho quốc vương Dawa Zangpo, vua của vương quốc Shambala. Cùng nhận pháp Kalachakra với quốc vương Dawa Zangpo, còn nhiều vị tiểu vương và nhiều đệ tử khác. Họ nhận pháp Kalachakra vào ngày rằm tháng ba Tạng lịch. Vì duyên lành này mà ngày rằm tháng ba được xem là ngày đại cát tường để truyền pháp quán đảnh Kalachakra.

Sau khi nhận pháp quán đảnhmật kinh Kalachakra do chính đức Thế tôn truyền, quốc vương Dawa Zangpo cùng tùy tùng quay trở về vương quốc Shambala. Sáu trăm năm sau, vị quốc vương kế thừa, là tổ sư dòng Kulika tên Manjushrikirti, truyền pháp Kalachakra lại cho 35 triệu hiền giả, đứng đầuhiền giả Meyshinda. Lần ấy cũng nhằm ngày rằm tháng ba Tạng lịch. Đây là lý do thứ hai vì sao ngày này lại được xem là ngày đại cát tường để truyền pháp quán đảnh Kalachakra.

Kinh sách còn nói khi truyền mật pháp Kalachakra cho quốc vương Dawa Zangpo, đức Phật cũng đồng thời truyền lại cho quốc vương mật kinh Kalachakra, dài đến hàng trăm ngàn câu tụng. Sáu trăm năm sau, vua Manjushrikirti kế thừa mật pháp, thâu ngắn mật kinh Kalachakra thành bộ Mật kinh Toát Yếu [Condensed Tantra of Kalachakra], vì vậy mà tên vị quốc vương này thường được nhắc đến. Manjushrikirti lại có vị đệ tử tên Kundarika, hay Pema Karpo, cũng là vị quốc vương truyền thừa dòng Kulika, dựa trên bộ Mật Kinh Toát Yếu mà viết ra bộ luận giải. Bộ luận giải này ngày nay được biết dưới tên Vô Cấu Quang27, có tất cả ba quyển. Vậy thời nay ai thật sự muốn tu theo mật pháp Kalachakra, trước tiên phải nhận pháp quán đảnh từ dòng truyền thừa này, sau đó phải thọ nhận giáo pháp nằm trong hai bộ mật điển, một là Kalachakra Mật Kinh Toát Yếu, hai là bộ luận Vô Cấu Quang.

Trước khi có luận giải Vô Cấu Quang, người ta thường cho rằng đại pháp quán đảnh Kalachakra chỉ có thể cử hành nhiều nhất là hai lần trong năm. Luận Vô Cấu Quang xóa tan nhiều sai lầm đại loại, nói rõ ngày rằm tháng ba là ngày tốt nhất, nếu không, ngày rằm của bất cứ tháng nào trong năm cũng tốt. Cứ hễ có đệ tử đủ căn cơ để nhận pháp, là pháp quán đảnh có thể được cử hành vào ngày rằm của bất cứ tháng nào trong năm.

Nói chung, chúng ta thường nghe nói Kalachakra có mười một hay mười sáu pháp quán đảnh. Nói như vậy đều chính xác, không mâu thuẫn. Đây chỉ là hai cách giải thích khác nhau về nội dung của pháp quán đảnh. Nếu giải thích chi tiết cặn kẽ thì đếm thành mười sáu pháp quán đảnh, còn nếu giải thích tóm lược thì đếm thành mười một pháp quán đảnh.

Bảy pháp quán đảnh đầu thường gọi là “bảy pháp quán đảnh sơ sanh”28. Mười một pháp quán đảnh là bảy pháp quán đảnh sơ sanh cộng thêm bốn pháp quán đảnhbình bát, kín mật, trí tuệ, danh tự – như trong các mật pháp khác. Bốn cộng bảy, đếm thành mười một pháp quán đảnh.

Còn nếu đếm mười sáu pháp quán đảnh thì phải chia thành bốn tiểu bộ: 1. bảy pháp quán đảnh sơ sanh; 2. bốn pháp quán đảnh cao đẳng29: bình bát, kín mật, trí tuệdanh tự; 3. bốn pháp quán đảnh thượng đẳng30, cũng tên là bình bát, kín mật, trí tuệdanh tự; 4. pháp quán đảnh đại đạo sư kim cang31. Tổng cộng là mười sáu pháp quán đảnh.

Làm sao có thể qui nạp mười sáu pháp quán đảnh thành mười một ? Giữ nguyên bảy pháp quán đảnh sơ sinh, còn bốn pháp quán đảnh cao đẳng và bốn pháp quán đảnh thượng đẳng được qui nạp như sau: hai pháp quán đảnh bình bát (cao đẳng và thượng đẳng) gộp chung thành một; hai pháp quán đảnh kín mật gộp chung thành một, và hai pháp quán đảnh trí tuệ cũng vậy, gộp chung thành một. Còn lại hai pháp quán đảnh danh tự thì pháp quán đảnh danh tự cao đẳng được gộp chung vào pháp quán đảnh thứ ba là trí tuệ, còn lại pháp quán đảnh danh tự thượng đẳng giữ lại làm pháp quán đảnh danh tự.

Vậy chúng ta có bốn pháp quán đảnh cùng bảy pháp quán đảnh sơ sanh. Một khi có đủ hai tiểu bộ bảy và bốn phép quán đảnh thì mười một pháp này tương đương với pháp quán đảnh đại đạo sư kim cang, vì vậy không cần đếm riêng pháp quán đảnh này. Do đó mà thành mười một pháp quán đảnh.

Vì sao truyền thọ pháp Kalachakra cần đến những mười một pháp quán đảnh khác nhau? Lý do là vì khi nhận bảy pháp quán đảnh sơ sanh, chúng ta tịnh hóa được chướng ngại ô nhiễm làm áng ngữ bảy địa bồ tát, đồng thời cấy vào tâm thức đầy đủ nhân duyên để thành tựu bảy địa bồ tát.

Nói đến con đường tu chứng bồ đề và quá trình tịnh hóa của từng địa bồ tát, điều này liên quan đến hai lãnh vực chính của giáo pháp Phật dạy, đó là giáo pháp thâm sâugiáo pháp quảng đại. Hai đề tài tu học chính yếu của ba tu viện lớn nhất Tây tạng là Sera, Ganden và Drepung là Bát nhã ba la mật 32 và Trung quán33. Trong Bát nhã ba la mật, từng giai đoạn tu chứng được giải thích rõ, có bao nhiêu địa bồ tát, mỗi địa có bao nhiêu chướng ngại cần triệt bỏ, khi triệt bỏ rồi thành tựu được những gì. Nếu đã từng tu học Bát nhã ba la mật, sẽ không lấy làm lạ khi nghe về những điều này, bằng không, dù thật sự tinh tấn qui yphát tâm bồ đề nhưng khi bước vào Mật tông, nghe nói về thành tựuchướng ngại của mỗi địa bồ tát, vẫn sẽ cảm thấy hoang mang, xa lạ. Phải cố gắng tu học để tìm hiểu về từng địa vị tu chứng trong Bồ tát đạo.

Vì sao cần phải nhận pháp quán đảnh? Như đã nói, mỗi pháp quán đảnh có khả năng thanh tịnh nghiệp chướng của từng địa bồ tát tương ứng. Vậy có thể nói pháp quán đảnh, cốt tủy của mật pháp, giúp chúng ta thành tựu từng giai đoạn trên con đường dẫn đến giác ngộ, bao gồm cả con đường Hiển giáo. Quí vị bắt buộc phải kết hợp phương pháp tu mật với tu hiển. Điều này thật rõ ràng.

Ngoài việc cần phải kết hợp phương pháp tu mật và hiển, tại sao cần phải nhận pháp quán đảnh? Nói chung, các giai đoạn tu chứng trong Kalachakra không khác những gì gặp trong Hiển tông. Hiển pháp nói về hai bồ tư lương, phương tiệntrí tuệ, nghĩa là hai mặt quảng và thâm, cần thực hành song song. Mật pháp cũng vậy. Nhưng ngoài việc tích lũy hai bồ tư lương ra, hiển pháp không đề cập đến khí mạch, khí, tinh khí bồ đề v.v..., cũng không nói về phương pháp đả thông các điểm trọng yếu của thân kim cang để vận động các luồng khí và tâm vi tế.

Tất cả những điều này được giáo pháp Kalachakra chỉ dẫn cặn kẽ. Chữ quan trọng nhất được tuyên thuyết trong Kalachakra là yugananda, nghĩa là bất nhị, hay kết hợp, chỉ về sự đồng nhất giữa thân và tâm nhiệm màu của Phật, trong ý nghĩa thân Phật là tâm Phật, và tâm Phật là thân Phật. Thành tựu này được tuyên thuyết trong Kalachakra. Để hiểu phần vi diệu này, quí vị cần nhận pháp quán đảnh Kalachakra, nếu không, không được phép hành trì.

Tuy vậy, dù có nhận pháp cao thâm vi diệu đến đâu đi nữa, trước khi nhận pháp, điều quan trọng nhất phải làm là qui y Tam bảo. Qui y Tam bảo thường do vị đạokim cang truyền thọ, tiếp theophát tâm bồ đề, thọ giới bồ tát. Nếu pháp quán đảnh thuộc về hai lớp Mật tông trên cùng là Mật tông du già hay Mật tông tối thượng du già, đệ tử phải nhận thêm giới kim cang. Sau đó là nghi thức phát tâm bồ đề, bao gồm hai tâm bồ đề, qui ướccứu cánh, quán tưởng thành đài mặt trăng trắng tròn nằm nơi tim, với chày kim cương màu trắng năm chấu, đứng thẳng trên đài mặt trăng. Tưởng tượng hai loại tâm bồ đề hoạt hiện thành mặt trăng và chày kim cang ở tim. Rồi nhờ sức mạnh gia trì của đạo sư, hãy an trú trong quán tưởng. Phát nguyện không rời xa tâm bồ đề cho đến khi giác ngộ. Có thể nói tâm-bồ-đề-qui-ước và tâm-bồ-đề-cứu-cánh (là chứng ngộ tánh không), cực kỳ quan trọng trong Mật tông. Đó là nền tảng của tất cả mọi mật pháp.

Như đã nói, mật pháp Kalachakra là một pháp tu khác thường, vì Kalachakra có phần đồng nhất với hiển pháp, nhưng lại có thêm phần hành trì kín mật. Hiển pháp nói về hai loại chướng ngạiphiền não chướngtrí chướng, dạy hành giả phải xả bỏ hai loại chướng ngại này. Mật pháp Kalachakra cũng vậy, chỉ khác nhau ở phương pháp dẹp chướng ngại.

Hôm qua chúng ta đã nói về sự kết hợp thuần nhất của thân Phật và tâm Phật trong Mật tông. Các mật pháp khác với Kalachakra thường nói về sự khởi hiện tâm vi tế và khí vi tế thành sắc thân Phật ngay giữa thân vật lý cha mẹ sinh, lấy đó quán chiếu tánh không. Nói cách khác, khí và tâm vi tế ngay giữa trái tim của hành giả hoạt hiện thành sắc thân của đấng Bổn Tôn Pháp Chủ, đây chính là cái gọi là sự bất nhị của thân Phật và tâm Phật, trong nghĩa tâm là thân, thân là tâm.

Trong Kalachakra, phương pháp thực hiện thân tâm bất nhị không giống như vừa tả. Hành giả không khởi hiện thân Phật khác với thân vật lý của chính mình, mà thành tựu thân vô sắc, nghĩa là thân không có hình sắc. “Không” ở đây không phải là tánh không. Thân vô sắc không thuộc cảnh giới Chân đế, mà thuộc Tục đế. Gọi là vô sắc vì thân này hoàn toàn thiếu vắng những thành phần vật lý, thành tựu được nhờ tu theo mật pháp. Các tập hợp vật lý dần dần bị thu nhiếp, tiêu trừ, chuyển thành thân vô sắc. Quá trình chuyển hiện này đòi hỏi phải dẹp bỏ toàn bộ trí chướngphiền não chướng, so với Hiển tông hoàn toàn giống nhau, chỉ có phương pháp thực hiện là khác. Mật tông dẹp hai chướng ngại này bằng cách tịnh hóa bốn giọt tinh chất 34 nằm ở bốn vị trí khác nhau trong cơ thể.

Giọt thứ nhất nằm ở luân xa trên trán, liên quan đến thời gian thức giấc. Giọt thứ hai nằm ở trung tâm của luân xa trên cổ, liên quan đến thời gian nằm mơ. Giọt thứ ba nằm ở luân xa nơi tim, liên quan đến thời gian chìm sâu trong giấc ngủ. Giọt thứ tư nằm ở luân xa vùng bụng dưới [4 ngón tay thấp dưới rốn], liên quan đến niềm hỉ lạc lúc giao tình.

Một khi quán chiếu thanh tịnh được giọt tinh chất nơi trán liên quan đến thời gian thức, hành giả thành tựu thân kim cang. Thanh tịnh được giọt tinh chất nơi cổ liên quan đến thời gian mơ, hành giả thành tựu ngữ kim cang. Thanh tịnh được giọt tinh chất nơi tim liên quan đến thời gian ngủ say, hành giả thành tựu ý kim cang.

Còn thành phần thứ tư trong Kalachakra là trí giác bản lai đại lạc bất động tối thượng35. Các mật pháp khác như Guhyasamaja cũng có nhắc đến đại lạc bất động, nhưng trí giác bản lai đại lạc bất động tối thượng trong Kalachakra là thành tựu của quá trình thanh tịnh giọt tinh chất nơi vùng bụng dưới. Thanh tịnh giọt tinh chất này là thành tựu trí giác bản lai kim cang36. Vậy ngoài thân ngữ và ý kim cang, hãy còn thành phần thứ tư là trí giác bản lai kim cang. Thành tựu bốn kim cang nói trên là thành tựu pháp tu Kalachakra.

Vì vậy khi nhìn vào mạn đà la Kalachakra hành giả sẽ thấy bốn cửa Đông Nam Tây Bắc. Mỗi cửa mang một màu: cửa Đông màu đen, cửa Nam màu đỏ, cửa Tây màu vàng, cửa Bắc màu trắng. Bốn màu này tương ứng với bốn kim cang. Cửa Bắc màu trắng tượng trưng cho thân kim cang của Kalachakra. Cửa Nam màu đỏ tượng trưng cho ngữ kim cang của Kalachakra. Cửa Đông màu đen tượng trưng cho ý kim cang của Kalachakra. Cửa Tây màu vàng tượng trưng cho trí giác bản lai kim cang của Kalachakra. Bốn kim cang này thành tựu nhờ tịnh hóa bốn luân xa trong cơ thể như đã nói.

Khi nhận pháp quán đảnh Kalachakra, trước hết quí vị nhận bảy pháp quán đảnh sơ sanh. Dù chỉ đang ngồi trên ghế trong hội trường, quí vị vẫn phải tưởng tượng mình đang đi quanh bốn cánh cửa mạn đà la. Phải quán tưởng toàn bộ mạn đà la hiện ra trước mắt, quán tưởng bốn cửa vào, đấng Bổn Tôn Pháp Chủ phía bên trong cùng toàn thể các vị Phật, Bồ tát, trời, thần đang vây quanh Phật và Phật mẫu trong mạn đà la. Rồi quí vị quán tưởng đấng đạo sư kim cang – là vị thầy truyền pháp – đang dắt mình đi qua từng cánh cửa một để nhận pháp quán đảnh.

Trước hết, quí vị sẽ được dẫn vào cửa Bắc màu trắng, liên quan đến thân kim cang. Ở đó quí vị sẽ nhận hai pháp quán đảnh đầu tiên trong số bảy pháp quán đảnh sơ sanh. Tiếp theo, quí vị sẽ được dẫn đến cửa Nam màu đỏ của ngữ kim cang, ở đó nhận pháp quán đảnh thứ ba và thứ tư. Tiếp theo là cửa Đông màu đen, nhận pháp quán đảnh thứ năm và thứ sáu. Cuối cùng đến cửa Tây màu vàng nhận phép quán đảnh thứ bảy. Vậy mỗi cánh cửa của mạn đà la tương ứng với một trong bốn giọt tinh chất, thanh tịnh đi thì chuyển thành bốn kim cang. Quí vị nhận được phép quán đảnh dựa trên căn bản này.

Vì có mối tương quan đặc biệt giữa màu sắc và phương hướng, nên các pháp quán đảnh được truyền thọ từ nhiều phương hướng khác nhau. Tất cả đều xảy ra trong quán tưởng, trên thực tế quí vị vẫn ngồi yên trên ghế. Các pháp quán đảnh không những giúp thanh tịnh nghiệp chướng liên quan đến bốn giọt tinh chất, mà còn gieo trồng thiện duyên vào tâm thức, giúp thành tựu bốn thân Phật trong tương lai.

Pháp quán đảnh đầu tiên là pháp quán đảnh nước 37, tương đương với việc tắm rửa trẻ sơ sanh. Đối tượng cần tịnh hóa ở đây là năm hợp thể [ngũ uẩn] và năm yếu tố [ngũ đại].

Nhìn chung mà nói, hệ thống Kalachakra có đến sáu hợp thể và sáu yếu tố, hợp thể thứ sáu là thức và yếu tố thứ sáu cũng là thức. Ở đây, vì phân riêng ra mà nói, nên có năm hợp thể là sắc, thọ, tưởng, hành và thức, còn hợp thể thứ sáu là trí giác bản lai.

Pháp quán đảnh nước sẽ khiến tịnh hóa năm hợp thể và năm yếu tố. Lý do vì sao lại truyền thọ pháp quán đảnh nước, đó là vì lúc rời thai mẹ là lúc năm hợp thể và năm yếu tố nhập vào cuộc sống. Khi trẻ chào đời, người mẹ trước tiên tắm rửa trẻ sơ sinh bằng nước. Pháp quán đảnh này ví như tắm đứa bé, gieo trồng chủng tử để về sau đạt thân Phật. Lời giải thích này là nói theo nền tảng, đạo và quả. Hai pháp quán đảnh đầu tiên liên quan đến thân Phật. Pháp quán đảnh đầu tiên là “nước”, pháp quán đảnh thứ hai là “mũ miện”38. Sau đó, quí vị đi qua cửa Nam và nhận hai phép quán đảnh tiếp theo, “trang sức”39, và “chày kim cang, chuông báu”40.

Hai pháp quán đảnh này tịnh hóa lời nói. Khi trẻ chào đời, khí tán vào cơ thể. Cơ thể con người có tất cả 72000 đường khí mạch. Lúc chào đời, các đường khí mạch mở vào tứ chi, khí tán vào đó, nhờ vậy trẻ mới có khả năng nói cười. Vậy khí liên quan đến khả năng phát âm thanh tiếng nói. Hai pháp quán đảnh “trang sức” và “chày kim cang chuông báu” tịnh hóa hệ thống khí và khí mạch. Đây là đối tượng cần tịnh hóa trên suốt con đường tu nếu muốn thành tựu ngữ kim cang của Kalachakra.

Pháp quán đảnh thứ năm và thứ sáu được truyền ở cửa Đông màu đen, liên quan đến ý kim cang. Đối tượng cần thanh tịnh ở đây là những kinh nghiệm thỏa mãn giác quan. Đứa bé dần lớn, bắt đầu dùng giác quan để chơi đùa, tiếp xúc với thế giới xung quanh. Giác quan được thỏa mãn với hình đẹp, tiếng hay, vị ngon, v.v... tất cả những cảm giác này đều thuộc phạm vi của ý. Ý là yếu tố chính kinh nghiệmsử dụng các loại thức, mở cửa giác quan, trải qua nhiều loại cảm giác. Vấn đề của chúng sinh là vì nghiệp và phiền não nên mọi kinh nghiệm giác quan đều toàn là ô nhiễm. Hai pháp quán đảnh này nhằm tịnh hóa các cửa ngõ giác quan [căn] và đối tượng của giác quan [trần].

Khi lớn lên, đứa trẻ biết dùng tay cầm đồ vật, dùng chân để đi đứng. Tất cả đều liên quan đến khí và tâm. Ở đây hành giả dựa vào hai pháp quán đảnh này để thanh tịnh mọi đối đãi phân biệt, nhờ đó bước vào lãnh vực hoạt dụng tối hảo của Phật đà, thành tựu ý kim cang của Phật Kalachakra.

Pháp quán đảnh thứ bảy được truyền ở cửa Tây màu vàng, liên quan đến trí giác bản lai kim cang41. Thỉnh thoảng xem phim ảnh khoa học chúng ta có thể thấy khi mới nhập thai mẹ, thai nhi không có khả năng cử động. Dần dần khí mạch thành hình, chân tay bắt đầu mọc. Trước hết là đường khí mạch chính giữa, sau đến hai đường khí mạch bên phải và bên trái, rồi toàn bộ hệ thống khí mạch tỏa ra, chân tay thành hình, thai nhi bắt đầu có khả năng chuyển động. Hơi thở đầu tiên khi nhập thai mẹ là hơi thở của trí giác bản lai, nói cho thật chính xác, là khí của trí giác bản lai. Pháp quán đảnh thứ bảy được truyền trên căn bản này.

Như đã nói, con người có sáu hợp thể [uẩn] và sáu yếu tố [đại]. Hợp thể thứ sáu là trí giác bản lai, và yếu tố thứ sáu là ý thức. Ở đây cả hai đều được thanh tịnh qua pháp quán đảnh thứ bảy, gieo chủng tử thành tựu trí giác bản lai đại lạc bất động trong tương lai. Nói bất động, có nghĩa là khí bản lai sẽ được mang về an trú vĩnh viễn trong đường khí mạch chính giữa, sẽ không di chuyển vào nơi khác trong hệ thống khí mạch, hay qua các vùng khác trong cơ thể. Trí giác bản lai đại lạc bất động là danh từ chỉ thấy nói đến trong Kalachakra.

Khi nhận pháp quán đảnh này, quí vị được gieo chủng tử thành tựu trí giác bản lai của Phật trong tương lai. Lời giải thích này cũng lại được trình bày qua nền tảng, đạo, và quả.

Khi ngồi dự đại lễ quán đảnh, quí vị sẽ được nhận nhiều vật cụ thể, như nước để nhắp môi; bình bát đặt trên đỉnh đầu; nhẫn, dây lụa, mũ miện để đeo v.v... Khi ấy, quí vị không nên chỉ chạm vào món vật rồi nghĩ rằng: “vậy là đủ, mình đã nhận được năng lực gia trì”. Chỉ như vậy thôi không thể gọi là đủ. Nhận năng lực gia trì theo kiểu nhắp nước đeo mũ như vậy, cả ngoại đạo cũng có. Nghi lễ này trong Phật giáoý nghĩa đặc biệt, ví dụ như nước hay mũ miện, nhắp nước, đội mũ, mỗi việc mang đủ chức năng tịnh hóa một loại nghiệp chướng, gieo vào tâm thức một loại chủng tử. Khi đưa môi nhắp nước, quí vị trước hết phải cảm thấy nước chan hòa rót vào thân, bao la cùng khắp, khiến quí vị cảm thấy vô cùng an lạc sáng suốt, tâm quí vị an trú trong trí giác đại lạc.

Lấy trí giác đại lạc quán chiếu tánh không, trực chứng tánh không. Đại lạctánh không kết hợp, hoạt hiện trong tâm thức. Đây mới chính là chất nước thật sự của pháp quán đảnh này.

Mỗi pháp quán đảnh tương ứng với một loại nghiệp chướng cần thanh tịnh và một loại chủng tử cần gieo vào dòng tâm thức. Vị đạokim cang [vị thầy truyền pháp quán đảnh] sau mỗi pháp quán đảnh thường chỉ dẫn chúng ta nên chú tâm vào điểm nào, quán niệm mình đang thanh tịnh loại nghiệp chướng nào, gieo loại chủng tử nào để đạt những thành tựu nào trong tương lai.

Trong Kalachakra, thanh tịnh năm yếu tố vật lý [ngũ đại] là gieo chủng tử để sau này chuyển năm yếu tố thành năm vị phối thân của Kalachakra. Thanh tịnh năm hợp thể [ngũ uẩn] là gieo chủng tử để sau này chuyển năm hợp thể thành năm vị Phật trong năm Phật bộ Kalachakra. Thanh tịnh mười loại nghiệp khí trong cơ thể là gieo chủng tử để sau này thành tựu mười đấng Shaktis [mười năng lực ba la mật]. Thanh tịnh hai đường khí mạch bên trái và bên phải là gieo chủng tử để sau này thành tựu thân đấng Bổn Tôn Pháp Chủ mạn đà la, Kalachakra. Thanh tịnh sáu giác quan [sáu căn] và sáu đối tượng của giác quan [sáu trần] là gieo chủng tử để sau này thành tựu sáu đấng Như lai dưới dạng phụ mẫu quanh Kalachakra. Thanh tịnh sáu lực, ví dụ như khả năng cử động tay chân, là gieo chủng tử để sau này thành tựu sáu đấng Như lai hung nộ dưới dạng phụ mẫu quanh Kalachakra.

Khi nhận pháp quán đảnh, quí vị cần biết rõ mình đang tịnh hóa những gì và tịnh hóa như vậy là để làm gì. Những gì vừa nói trên về đối tượng và thành quả của quá trình tịnh hóa, quí vị nên nhớ rõ.

Nếu chịu khó quan sát quí vị sẽ thấy mạn đà la Kalachakra bao gồm ba vòng tròn từ ngoài vào trong, tượng trưng cho mạn đà la của thân, ngữ và ý. Những điều vừa nói trên liên quan đến các đối tượng cần tịnh hóa và kết quả thành tựu nằm trong mạn đà la của ý.

Bảy pháp quán đảnh sơ sanh được truyền cho người bước vào giai đoạn phát khởi [Mật tông tối thượng du già có hai giai đoạn, phát khởiviên thành]. Sau khi nhận bảy pháp quán đảnh sơ sinh, hành giả có thể tự quán tưởng mình là đấng Bổn Tôn Pháp Chủ Kalachakra và có thể bắt đầu hành trì cái gọi là “tâm kiêu hãnh nhiệm màu”42 với thân Phật trong quán đảnh.

Tiếp theo bảy pháp quán đảnh sơ sanh là tiểu bộ bốn pháp quán đảnh. Pháp quán đảnh đầu tương ứng với giai đoạn phát khởi, ba pháp sau tương ứng với ba chặng đường trong giai đoạn viên thành: 1. thành tựu báo thân của đức Phật Kalachakra ; 2. thành tựu pháp thân của đức Phật Kalachakra; 3. thành tựu sự hợp nhất của tam thân Phật.

Đó là lý do vì sao trong mạn đà la Kalachakra lại có mặt trăng ở cửa Đông Bắc và mặt trời ở cửa Tây Nam. Mặt trăngmặt trời tiêu biểu cho hệ thống tu giai đoạn viên thành khác thường này.

Báo thân của Kalachakra được thành tựu như thế nào? Trước hết, thu nhiếp khí vào đường khí mạch chính giữa. Một phần của cơ thể vật lý được tiêu trừ, một phần báo thân hiển lộ. Như đã nói, thân vô sắc được hình thành nhờ kiên trì thu nhiếp tiêu trừ từng nguyên tử của thân vật lý.

Pháp quán đảnh bình bát gia lực cho hành giả hành trì giai đoạn phát khởi. Pháp quán đảnh kín mật là bước đầu tiên vào giai đoạn viên thành, tương ứng với giai đoạn thành tựu báo thân. Sau đó là pháp quán đảnh trí tuệ, tương ứng với giai đoạn thành tựu pháp thân. Pháp thân được thành tựu nhờ thu nhiếp khí vào đường khí mạch chính giữa, khiến tâm đại lạc bất động hiển lộ, rồi dùng tâm này quán chiếu tánh không. Khi tâm đại lạc này chứng ngộ tánh không thì gọi là trí giác bản lai đại lạc bất động, và đây chính là nền tảng thành tựu pháp thân Kalachakra. Phương pháp hành trì này liên quan đến pháp quán đảnh thứ ba là pháp quán đảnh Trí tuệ.

Hai pháp quán đảnh quí giá này tương ứng với hai chặng đường, trước thành tựu báo thân, sau thành tựu pháp thân. Tiếp theo chúng ta bước vào pháp quán đảnh cuối cùngdanh tự. Pháp quán đảnh này tương ứng với giai đoạn kết hợp báo thân với pháp thân. Hành giả nhập định, rồi từ trong định tiêu trừ từng phần các yếu tố vật lý. Giai đoạn này phải kiên trì thực hiện từng phần, không thể trong một lúc mà xong ngay được.

Mật kinh Kalachakra nói có mười hai địa bồ tát là mười hai giai đoạn tu chứng quả Phật Kalachakra. Mười hai địa này tương ứng với mười hai đoạn trên đường khí mạch chính giữa, mỗi đoạn như vậy lại phân thành 1800 phần nhỏ.

Như đã nói, mỗi khi khí được thu nhiếp vào đường khí mạch chính giữa, sẽ có một phần hợp thể vật lý tương ứng được tiêu trừ và một phần của thân vô sắc được thành tựu. Vậy trong pháp môn đặc biệt này, hành giả qua mỗi địa bồ tát phải thu nhiếp 1800 giọt tinh chất, tiêu trừ 1800 thành phần vật lýthành tựu 1800 thành phần của thân vô sắc. Khi chuyển hết mười hai địa bồ tát, hành giả tiêu trừ được toàn bộ 21600 (12x1800) thành phần vật lý của thân thể, thành tựu thân vô sắc, hoàn thành sự kết hợp thuần nhất của ba thân Phật, đạt địa vị Kim Cang Tát Đỏa.

Như đã nói, các cụm 1800 thành phần vật lý này chỉ có thể được tiêu trừ từng phần. Nói tiêu trừ từng phần là chữ dùng cho tiện, thật chính xác thì phải nói là tuần tự xếp chồng hai loại tinh chất trắng đỏ. Hành giả phải thu nhiếp các luồng khí tứ tán trong cơ thể về lại đường khí mạch chính giữa, rồi ép các giọt tinh chất đỏ xếp chồng từ trên xuống. Giọt tinh chất đỏ đầu tiên đẩy ép lên trên cùng, các giọt khác lần lượt xếp chồng từ trên xuống. Rồi hành giả lại ép giọt tinh chất trắng đầu tiên xuống dưới cùng đường khí mạch chính giữa, các giọt khác lần lượt xếp chồng từ dưới lên. Cứ như vậy cho đến khi toàn bộ 21600 giọt tinh chất đều được thu nhiếp và xếp chồng trong đường khí mạch chính giữa. Quá trình xếp chồng tinh chất đỏ từ trên xuống và tinh chất trắng từ dưới lên này được thể hiện trong mạn đà la Kalachakra qua hình tượng mặt trăng ở cửa Đông Bắc và mặt trời ở cửa Tây Nam. Mặt trăngmặt trời tượng trưng cho phương pháp xếp chồng các giọt tinh chất trong giai đoạn viên thành.

Khi nhận pháp quán đảnh vào các mạn đà la khác, thông thường hành giả phải đeo mũ miện màu xanh hay đen, nhưng mũ miện trong Kalachakra luôn luôn đỏ, tượng trưng cho giọt tinh chất đỏ xếp chồng từ trên xuống. Cũng vì lý do này mà tóc Phật Kalachakra màu đỏ.

Sử viết, khi vị quốc vương dòng Kulika là Manjushrikirti truyền pháp quán đảnh Kalachakra, ngài đội mũ miện kết bằng bờm sư tử, đây cũng có thể là một biểu tượng của phương pháp tu đặc biệt này.

Đến đây chấm dứt phần giới thiệu sơ lược về pháp quán đảnh Kalachakra.

 

Thầy cũng xin nói thêm vì sao đức Đalai Lama lại đặc biệt quan tâm đến Kalachakra, vì sao nhiều người lại thích đến dự pháp quán đảnh Kalachakra do đức Đalai Lama truyền. Nguyên do việc này, thầy nghĩ quí vị cũng muốn biết. Nguyên do đầu tiên, như đã nói, quốc vương Pundarika (tên khác: Pema Karpo) dòng Kulika là người soạn bộ luận tên “Vô Cấu Quang”. Vị này được xem là hiện thân của Quan thế âm, và đức Đalai Lama cũng được xem là hiện thân của Quan thế âm. Đức Đalai Lama là hiện thân của Pundarika. Vì vậy nhận pháp quán đảnh Kalachakra do đức Đalai Lama truyền đặc biệtý nghĩa.

Nguyên do thứ hai, đức Đalai Lama là người chấp trì dòng truyền thừa của pháp quán đảnh này. Quốc vương Pundarika dòng Kulika là vị sơ tổ soạn bộ luận và nghi thức truyền pháp quán đảnh. Dòng truyền thừa này được truyền xuống không gián đoạn, qua đến Tây tạng. Nhìn lại từ xưa đến nay, một vài vị thầy hiếm hoi tích cực hoằng dương pháp Kalachakra đều là những đời Đalai Lama tiếp nối. Các đời Đalai Lama luôn tích cực giữ gìn dòng truyền thừa của Kalachakra.

[Hết phần giảng pháp]


Xem tiếp phần họi đáp: 

XEM CHI TIẾT NỘI DUNG PDP (716kb)
Tạo bài viết
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.
Theo ước tính của Trung tâm nghiên cứu Pew, Phật tử chiếm khoảng 1% dân số trưởng thành ở Hoa Kỳ và khoảng hai phần ba Phật tử Hoa Kỳ là người Mỹ gốc Á. Trong số những người Mỹ gốc Á, 43% là người Mỹ gốc Việt và một phần tư người Mỹ gốc Nhật xác định là Phật tử, phần còn lại là Kitô hữu hoặc không có tôn giáo nào.
Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán với âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung quốc là chuyện từ nghìn năm và đang tiếp diễn đến ngày nay. Hiện tại chúng đã bao vây trọn vẹn biển Đông và biên giới phía Bắc đang chuẩn bị đưa binh lực tràn qua biên giới để tấn công Việt Nam một lần nữa. Đó là nhận định của nhà phân tích chiến lược David Archibald trong bài viết nhan đề “Advice for Our Vietnamese Friends on China” (Lời Khuyên Gửi Các Bạn Việt Nam Của Tôi về TQ) đăng trên tạp chí American Thinker ngày 27/9/2019. Thực sự Tổ quốc Việt Nam đang lâm nguy, người Phật tử không được quyền rửng rưng, vô cảm, và thờ ơ. Ban biên tập Thư Viện Hoa Sen là những Phật tử đồng thời là con dân của nước Việt nên chúng tôi chưa biết làm gì hơn là truyền đạt thông tin này đến tất cả mọi người dân yêu nước.