Đời Sống Trong Núi Non

24/09/201012:00 SA(Xem: 16440)
Đời Sống Trong Núi Non

Đời sống trong núi non

Năm 1959, khi đã hoàn tất học trình Geshe và sắp dự kỳ thi tốt nghiệp thì ngài phải đào thoát khỏi Tây Tạng. Ngài rời bỏ Tây Tạng với độc nhất bộ y mặc trên người, một miếng da cừu và một vài bản văn của bốn trường phái. Trên đường đi ngài gặp người nào đó nói rằng Nepal có thời tiết ấm áp và ngài sẽ không cần tới da cừu, vì thế ngài bán nó đi để lấy một món tiền nhỏ. Nhưng ngài vẫn còn một miếng da cừu nhỏ.

Lama Zopa Rinpoche kể rằng khi Lama Konchog trốn khỏi Tây Tạng – từ Lhasa tới Nepal – có lúc ngài ở trong một thung lũng bị quân đội Trung quốc vây kín. Không có cách nào thoát ra ngoài. Ngài ngồi giữa thung lũng và cử hành một lễ puja để thuyết phục tâm linh thánh của vị Bảo Hộ. Thời tiết trong trẻo nhưng sau lễ puja thì những đám mây và sương mù bất ngờ xuất hiện và trời bắt đầu đổ tuyết. Khi đó ngài có thể trốn đi – thậm chí ngài đi thẳng vào giữa những chiếc xe của quân đội. Tuyết đã làm cho những người lính không nhìn thấy ngài.

Theo Lạt ma Lhundrup, tu viện trưởng Tu viện Kopan, con đường mà Geshe Lama Konchog theo đuổi để thoát khỏi Tây Tạng vào năm 1959 được khám phá trong một giấc mơ. Trước tiên ngài đi tới Tsum ở Nepal và để lại những bản văn của ngài cho một người nào ở đó, sau đó đi Kathmandu với ý định tới Buxa. Ngài gặp Guru (Đạo sư) Trijang Rinpoche của ngài ở Kathmandu. Vị Thầy này bảo ngài đừng đi Buxa mà trở lại vùng núi non để thiền định. Nhưng ngài thực sự muốn đi Buxa, vì thế ngài không nghe theo lời khuyên của Trijang Rinpoche mà đi Ấn Độ. Trong khi đi trên xe lửa cùng một người bạn muốn viếng thăm Varanasi (Ba La Nại), ngài gặp Trijang Rinpoche trên cùng chuyến xe lửa. Trijang Rinpoche hỏi ngài đang làm gì ở Ấn Độ, và bảo ngài trở về núi ở Nepal để thiền định. Lần này ngài nghe theo lời dạy của vị Thầy, ngài đi thẳng về Tsum, ở bên kia biên giới nằm trên phần đất Nepal, thâu thập các bản văn ngài đã để lại và đi lên núi mà không nói cho ai biết mình đi đâu.

Ngài tìm thấy một hang động ở phía trên ngôi làng, và tình cờ đó chính là Hang Bồ câu mà Milarepa, vị thánh và yogi được yêu quý của Tây Tạng, đã thiền định. Chính ở nơi đó em gái của Milarepa đã cúng dường anh mình vải để may áo. Người ta nói rằng các daka và dakini đã biến thành những con chim bồ câu ở đó để nghe giáo lý của Milarepa. 

Hang Bồ câu ở sâu trong vùng rừng núi, ở đó chỉ có hổ và những dã thú khác cũng như hươu nai sinh sống. Lama Konchog đã ở đó mười năm, không rời nơi đó và không gặp bất kỳ ai. Ngài chỉ có những bản văn, một bộ y, những mẩu nhỏ da cừu, và một chiếc bình lủng. 

Theo lời ngài kể lại cho Tenzin Zopa, thị giả của ngài, trong những tháng đầu, Geshe Lama Konchog đã tập “để có cái dạ dày trống rỗng, tôi đã sống nhờ rau tầm ma và dần dần có thể thực hành ‘chulen gió’” – một phương pháp nhờ đó thiền giả có thể “trích xuất các tinh chất” (chulen) từ thiên nhiên. Phương pháp thông thường mà các yogi thực hành là trích xuất các tinh chất từ đá và hoa, sau đó hòa trộn chúng thành những viên thuốc. Nhưng Lạt ma Konchog đã quyết định không tạo ra mọi chất bổ dưỡng. Thật vậy, ngài đã rút tinh chất từ không khí, và đã có thể tồn tại

Lama Zopa Rinpoche kể rằng có lần khi đang tu tập trong ẩn thất thì món tsampa (bột lúa mạch nướng – món ăn chính trong thực đơn hàng ngày của người Tây Tạng) của ngài sắp cạn kiệt. Ngài quyết định không ra ngoài để tìm thêm tsampa, mà cứ tiếp tục nhập thất, bất kể điều gì xảy ra. Ngài thực hiện quyết định này bằng cách nghĩ tới bổn sư Trijang Rinpoche. Và tới ngày không còn tsampa, một người đàn ông đã tới với một bao lớn tsampa. Từ lúc đó, ngài không bao giờ thiếu tsampa. Bất kỳ khi nào lương thực của ngài sắp hết thì có người xuất hiện mang thêm tới cho ngài. Ngài tin rằng đó là nhờ sự ban phước và dẫn dắt của Guru của ngài bởi ngài đã từ bỏ sự bám luyến vào cuộc đời này bằng cách nương tựa Guru.

Geshe Lama Konchog đã sống như thế với quyết tâm thành tựu những chứng ngộ, được thúc đẩy bởi lòng đại bivui thích sự cô tịch, với cọp và hươu nai làm bạn hữu. Sau này khi được hỏi cảm nghĩ ra sao về hoàn cảnh ở phương Tây, ngài nói: “Nó hoàn toàn bị ô nhiễm! Thực phẩm tốt lành nhất tôi từng được dùng thì có ở trong hang. Nơi chốn tuyệt hảo tôi từng sống là ở trong hang. Những bằng hữu tốt lòng nhất tôi từng có thì ở trong hang.” Phải leo lên mới vào được hang, và hươu nai “giúp đỡ nhau để len vào. Đôi khi chúng ngồi suốt ngày và đêm. Chúng tôi cùng sống với nhau thật an bình, không chút sợ hãi. Với tôi, đó là một cõi tịnh độ.” 

Năng lực của ngài hết sức mạnh mẽ, ngài không ngủ mà lễ lạy suốt đêm. Sau khi ngài ở đó 10 năm, một vài người làng đi lên núi cùng đàn cừu đã tình cờ nhìn thấy ngài. Họ nói với ngài rằng họ sẽ dâng tặng ngài thực phẩm của loài người nếu ngài xuống làng và tụng các bản văn cho họ, nhưng ngài từ chối, nói rằng ngài đã có thực phẩm tốt lành nhất. Nhưng dân làng tiếp tục quấy rầy nên ngài quyết định rời khỏi hang và tìm môt nơi khác. Ngài tìm thấy hang động khác, nhưng nó không tốt như hang đầu tiên – hang này chỉ có một nửa, vì thế ngài phải xây lên bằng đá.

Dân làng phía dưới hang động này (đây là làng của Tenzin Zopa) gặp rất nhiều vấn đề với các tinh linh và trời mưa không đúng thời và v.v.., và ngài đã cứu giúp họ. Các thần chú của ngài hết sức hữu hiệu trong việc giải trừ những vấn đề này, vì thế dân làng tới nhờ cậy ngài, và lúc nào ngài cũng thật từ bi, luôn luôn giúp đỡ mọi người. Khi sống ở Tsum tại Nepal, ngài đã chữa khỏi bệnh cho một ít người điên nhờ cúng dường lửa và bằng cách đánh họ.

Ngài tiếp tục nhập thất và giúp đỡ dân làng trong khoảng thời gian giữa các cuộc nhập thất. Dân làng gọi ngài là “Lạt ma Ông nội” và hết sức tôn kính ngài. Vào lúc này, các tu sĩni cô trong vùng (hầu hết thuộc truyền thống Kagyu) thỉnh cầu ngài làm tu viện trưởng của họ và xin ngài ban các giáo lý. Geshe Lama Konchog ban cho họ Kinh điểngiáo lý Mật thừa. Ngài có sự hiểu biết uyên bác về cả bốn truyền thống.

 

Tạo bài viết
Hơn 150 năm sau khi chế độ nô lệ chấm dứt, nghiệp phân biệt chủng tộc bi thảm của nước Mỹ vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Giáo viên Phật giáo Larry Ward nói rằng nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp thực sự hoạt động như thế nào, chúng ta có thể ngăn chặn được nó.
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Với lượng thông tin khổng lồ trong thời đại Internet hiện nay, nguồn gốc và mức độ tin cậy của chúng đang là một vấn đề đáng lo ngại. Lợi dụng khả năng lan truyền nhanh chóng của các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, những người đứng sau các tin tức sai lệch, giả mạo đang đưa chúng tiếp cận đông đảo người dùng hơn chỉ trong tích tắc nhằm trục lợi. Nếu không được trang bị kiến thức đầy đủ, người dùng Internet sẽ rất dễ sa vào những cái bẫy thông tin đó.