Chương 1

28/02/20192:00 CH(Xem: 1015)
Chương 1

TRÊN MÀN HÌNH CHÂN NHƯ
DIỄN CUỘC LUÂN HỒI
Nhụy Nguyên

 

CHƯƠNG I

 

Con đường giải thoátgiải thoát ngay những phiền não trong cuộc sống. Không có chân lý cho một hành giả dùng “tha lực” bao biện cho sự chấp trước về tự ngã. Tha lực không đặt trên sự ảo tưởng. Tha lực là điều mà người đệ tử Phật hoàn toàn cảm được, nhận được và hơn thế là sờ chạm được nằm ngoài sự huyễn hoặc.

Mỗi pháp đều đang viên dung với nhân-duyên-quả chính nó đang “sở hữu” từ tiền kiếp và từ khắc khắc ý niệm khởi sinh. Chúng ta sống chỉ mục đích duy nhấtgiải thoát Phiền Não và ly Ngã Sở nên một khi hướng theo cái nhìn của Phật sẽ dần biết cảm ân muôn pháp, chính bởi pháp pháp đều nhận được sự bao dung đến tận đáy không của Chân Tánh.

 

 

Chúng ta thường vẫn nghĩ về Phật pháp như một bầu trời tâm linh bí ẩn, đường về Niết bàn xa thẳm. Rồi rong ruỗi tìm những điều thâm sâu để gom thành sở tri. Đức Phật vẫn thường dạy ở mỗi chúng sanh đều đồng Phật tánh. Mọi pháp Ngài giảng đều nhằm đưa chúng sanh nhận lấy cái vốn sẵn chứa đức năng và trí tuệ. Phật là tánh chân như rỗng lặng trùm khắp; cái thấy biết sáng suốt của Phật ở nơi mọi chúng sanh, âu là tùy duyên mà cùng thấy biết theo cái vọng để chữa lành chấp ngã chấp pháp của chúng sanh, chứ thật ra Phật không thể gọi là chân cũng không thể gọi là giác để còn có đối đãi với vọng và mê cho được. Từ vô thỉ tôi đã quá quen nhận tiền trần hư vọng làm tâm tánh, lấy tâm tánh hư dối làm mình, rồi tâm tánh ấy khuôn trong cái nghiệp riêng chụp lên vạn sự vạn vật mà thỏa thuê chấp trước phân biệt, thành ra đảo điên trôi lộn trong lục đạo. Tôi “đơn giản” là tánh viên minh đồng thể ở các căn; chẳng biết tự bao giờ cái nghiệp biến ra đôi mắt nghiệp báo chụp lên tánh thấy khiến từ lúc biết nhìn tôi đã ngỡ đó là mình, rồi nhìn thế giới qua đôi kính lồi nghiệp báo ấy. Bởi vô minh, tánh giác “ẩn hiện” qua sáu căn trong từng giây phút. Cũng bởi chúng ta luôn thấy sự thật trần ai nhưng chúng ta không thấy như thật vạn pháp. Tôi và bạn nhọc công tìm Phật tánh trong cõi ảo, bởi chúng ta không đứng nổi trên cái Không không có căn nền của giới định. Và không khai được tuệ giải thoát, Phật tánh bị trình hiện qua ao tù của ý thức.

Mối tương giao giữa căn và trần thường đọng lại ở ý thức. Thức thứ 6 luôn buộc phải qua thức thứ 7 mạt na trước lúc gieo vào alaya để làm chủng tử huân thành nghiệp trôi lăn luân hồi. Mạt na là thức chấp trước. Sau mấy năm, ta gặp một người, bỗng tâm hiện một dữ liệu [vọng] là ông này trước từng đánh ta, lập tức tâm khởi giận dẫu người này giờ đây nhờ học Phật đã tốt lên và không còn hiềm khích với ta nữa. Nhưng ấn tượng quá khứ phủ trùm nên ta chỉ đang sống ở quá khứ và để thực tại hiện tiền chết đứng. Chấp trước khởi lên thành sân giận; và ngay lập tức sập bẫy thức mạt na. Đến đây ta không còn cơ hội thò tay vào alaya chụp lại sự chấp đó để chỉnh sửa, nó đã thành chủng tử xấu. Nếu ta ở lại được với thực tại, không bị chi phối bởi tâm quá khứ, vị lai và cả hiện tại; chỉ thuần là thực tại con người đó, và ta không có cái ngã đang đứng đây, thì sự xuất hiện của oan gia trước mặt chỉ là sự xuất hiện như ai đó đang soi gương. Họ mượn gương của mình để soi, cứ để họ “thiền” trong nghiệp của họ. Nghĩa là ta không mê chấp, do vậy lúc dữ liệu đi qua mạt na sẽ thành hạt giống điếc, lọt vào Tàng thứchạt giống lép, cơ duyên nẩy mầm hiếm hoi. Bạn tu thí dụ. Ngày xưa được một người dạy dỗ, ta kính phục nhận làm thầy. Sau này học lên với học hàm học vị, ta thấy những thứ xưa thầy dạy thật non kém so với biển tri thức ta học được từ đông qua tây, liền khởi ý xem thường thầy. Rồi bạn tu tự hỏi, nếu người này không học thêm nhiều tri thức, liệu có khinh khi thầy mình hồi xưa. (Cũng như một người nếu chưa được học giới liệu có lên án người phá giới?) Bởi cái sự học đang vun bồi bản ngã mà tôi chẳng hay, trong lúc muốn có cái nhìn thật tướng tức trở về phía chân tánh đích thực phải phá dần ngọn núi ngã chấp sừng sững. Cái sự học của chúng ta không có lỗi, nhưng bởi không tu từ cội nên ta đã dụng sai, bị con ma tự ngã âm thầm chui vào tâm tung hoành. Tôi dạo vừa học và hành phương pháp thực dưỡng, nhìn đâu cũng thấy người ta ăn uống tự hại. Về lý đúng như vậy, song mỗi người mỗi nghiệp, mỗi phước đức khác nhau; cùng trúng độc song có người chỉ mệt sơ sơ, có người mất mạng và còn phụ thuộc nhiều yếu tố nữa.

Có một sự thật gần như nỗi đau, là ở chúng ta dẫu sao Phật tánh vẫn quá xa vời. Rải rác trong kinh nghiệm của nhiều đại đệ tử, khi đã nhận trong mình hiện hữu một thường hằng Quang Minh từ vô thủy, họ còn phải buông mình trở về với sự trần trụi để nhận lãnh sự giáo thọ tiếp tục từ vị Ân Sư Tâm Linh cũng như sức gia trì của chư Phật để không làm mồi cho tự ngã. Chưa thể khai ngộ, nhưng để đi đúng lộ trình chánh pháp chúng ta phải thấu nhận cho được mật nhân bồ đề. Quá trình suy ngẫm qua việc tiếp cận kinh luận và minh chứng về sự có tu có chứng của tiền bối, xin phép gọi Nó là Cái Tự Biết. Lần vừa bước qua nhà hàng xóm thấy đứa trẻ đang bệnh lại pha sữa đá uống; chuẩn bị nổi sân chấp bỗng mắt tôi căng lên kiểu như trợn; nghĩa là cái sự chấp vừa khởi đã bị cái tự biết chặn lại hóa giải. Tôi thầm thốt lên “Siêu!” Siêu ở đây mang nghĩa là cái sự chấp như đá lạnh gặp lửa của sự chiếu soi sáng suốt. Chính cái như ýđám mây vô hình luôn trên đầu chờ cơ hội sập xuống che lấp mặt mày trí tuệ của ta. Những khuôn thước dựng từ tiền kiếp và trong kiếp này luôn dơ ra toan tính chụp vào những khuôn thước của bất cứ ai. Tôi thích màu đỏ, nhưng bạn tôi thích màu xanh. Tôi phải tôn trọng cái nghiệp dĩ của bạn. Nếu tôi không tôn trọng được khuôn nghiệp của bạn, cũng nên hiểu các loại màu vốn bình đẳng. Mọi màu đều bình đẳng, tại sao tôi thích màu này lại ghét màu kia. Cái ghét chính là nghiệp si không chịu tin thật tướng bình đẳng. Nghiệp cũng là một pháp nên nó cũng bình đẳng.

Cái tự biết vốn hoàn thiệnviên mãn ở mỗi chúng sanh. Có đầu lại chồng thêm đầu, là căn bệnh trầm kha; đã có cái tự biết còn đặt thêm một cái biết [để biết về cái tự biết], trong kinh Lăng Nghiêm gọi đó là gốc của sanh tử: “Tri kiến lập tri, thị vô minh bổn”. Một khi hành giả bước đi tầm cầu cái tự biết, chính là đang bỏ lại chính nó. Chẳng chúng sanh nào bỏ được cái tự biết, bởi nó thường hằng soi chiếu; cũng như chúng ta bị quá khứ vị lai và cả hiện tại chi phối, muốn thoát ra, muốn bài trừ, song chẳng sát na nào ai có thể ra khỏi thực tại. Không ra khỏi nhưng luôn muốn ra khỏi, thế nên Đức Phật mới tìm pháp tu cho mỗi người, và rốt cùng cũng đồng về một hướng. Cái tự biết nhiều lúc vẫn được quy cho khái niệm về nhân Phật tánh, (sự chứng ngộ cũng là từ nhân này, tức trong nhân đã có quả). Tôi vẫn nghĩ phá chấp là pháp bí truyền, hơn thế còn là thầy truyền cho trò vào đúng thời điểm chín muồi. Rồi trò ấy về sau nếu có duyên làm thầy lại tiếp tục kéo trò vào một hoàn cảnh đặc biệt để bí truyền, đấy có thể là một hành động, dụng đông phá tây; và cứ thế, pháp này không thể đại chúng. Xét về lý, rõ ràng tôi và bạn đang mê/mơ. Đã cảnh mơ đương nhiên không nên chấp. Nhưng cần biết tôi và bạn đang chìm sâu trong mộng lại đòi phá phách cũng bằng đốt phước soi mạng trong đêm đen! Lý do này khiến hệ Bát Nhã luôn là điều cấm kỵ tiếp cận quá sớm. Mạo muội tùy tiện nghĩ rằng, ở góc độ căn cơ mà xét, biết đâu chừng việc nhận thẳng nhân Phật tánh luôn là con dao sắc và nó có thêm một lưỡi phụ có thể cắt nát cuộc đời của một hành giả còn xanh non về giới, về phát tâm bồ đề nối dài huệ mạng chư Phật. Không chừng bậc toàn giác không muốn trực chỉ, dẫu các Ngài thường dạy “chúng sanh vốn dĩ là Phật”. “Ông Phật” ở đâu trong mỗi phàm nhân luôn là một câu hỏi lớn; trong lúc Đức Bổn Sư phải dẫn qua những nẻo “đường vòng” để chúng sanh có đủ thời gian thành tựu phần cơ bản của chân đế lẫn tục đế, rồi mới từ từ phá chấp về nó cũng như phá chấp sự thành tựu từng tầng công phu. Pháp chínhthuốc giải độc. Uống thuốc tức là hành, dám chấp nhận gỡ bỏ tham sân siđặc biệt ngã mạn. Phát hiện tâm nhiễm độc ngã mạn, kiên quyết không bao che mà kết hợp cùng với các vị Thầy đưa nó ra ánh sáng; điều này cũng như người mẹ từ xưa tuyệt đối cưng chiều đứa con độc nhất, nay nó hư hỏng và bị người ta đánh ngay trước mặt. Bạn tu khuyên tôi nên mở tung mọi cánh cửa tâm thức, không giấu giếm bất cứ ý niệm nào, không lưu giữ mất cứ bí mật nhỏ nhoi nào. Bởi đây là si ám, tại sao, vì chẳng ý niệm nào của ta quỷ thần không biết, nói chi đến các vị Bồ tát luôn theo dõi từng khắc tiến hóa của ta. Điều này sẽ khiến chúng ta trở về bản tánh chân thật khiến trí tuệ phần nào được khai mở. Còn bao biện cho si mạn, có trường hợp vì quyết liệt gỡ bỏ song quay đầu hơi muộn nên việc này chẳng khác một cuộc phẫu thuật không thuốc gây mê!

Rất nhiều chia sẻ của các bậc chân tu khiến chúng ta khẳng định rằng, nhận cái tự biết, họ thấy cái tự biết ở họ đồng với bất cứ chúng sanh nào nhưng người ta đều không thấy và đương nhiên không sống được với nó. Tôi và bạn và rất nhiều người tu vẫn sống với cái ảo, ảo ngay ở thân tâm mình lại không chịu tỉnh. Trong kinh đưa ví dụ đánh tiếng chuông rồi Phật hỏi ngài A Nan nghe chăng, ngài A Nan bảo nghe. Lúc tiếng chuông không đánh Phật lại hỏi có nghe chăng, ngài A Nan bảo không. Phật bảo, nhầm! Bạn tôi chợt hiểu, tánh nghe dẫu không có tiếng chuông thì nó vẫn nghe, nó biết nghe cả cái ảo; cũng như ta biết “à, mình đang theo vọng”. Chính lúc biết, ấy là giác. Tánh giác đó mới thực chân tâm, còn mọi thứ vọng hiện là khách trần. Mà, nếu lúc tai ta không nghe tiếng chuông “thật” hay không nghe tiếng chuông ảo chăng nữa thì nó vẫn nghe những thứ khác trong từng sát na, kể cả không hề có âm thanh thì nó vẫn “đang nghe”. Con mắt lúc ta không nhìn thì nó vẫn thấy, chỉ là ta không để ý mà thôi. Như lời Phật dạy, dẫu không có ánh sáng, tức cái sáng, thì mắt vẫn thấy cái tối, nghĩa là cái thấy biết vẫn ở đó. Song xét rốt ráo, điều Phật muốn chỉ là tánh giác ở mọi chúng sanh. Tánh giác nó tự biết. Ban đêm đang ngủ, chợt thức giấc, tôi ngỡ tai mình nghe tiếng động, hóa ra tánh giác nó đánh thức cái thân này. Lại có lần tôi đưa tay sửa điện, giật lùi hốt hoảng bởi mình quên rút phích cắm. Đó là tánh giác nó nhắc chứ phải thân tâm vọng huyễn này đâu. Nhưng xét ở chân tâm thì tánh giác đó cũng nằm trong một cái chiếu soi, và đó mới chính cái ta cần thể nhập. Tôi nhầm mình là thân này nên kẹt. Bạn tu của tôi bày cho cách tập nhận tánh giác, là hễ ngứa liền biết, “à cái biết ngứa là mình chứ thân này không phải mình”; hễ đau liền biết “cái nhận đau là mình chứ thân này không phải mình mà ngồi nhăn nhó”. Sư bà Hải Triều Âm giảng ngoài tánh giác thường trụ ra, mọi thứ do sáu căn tiếp sáu trần để sinh ra thức đều huyễn hóa; chỉ là do nghiệp biến hiện tùy theo từng loài và từng nghiệp mạng sai khác. Điều tối yếu phải nhận tánh giác để tỉnh ra. Một khi biết thân tâm này không phải ta, tôi và bạn cần đảo chiều tư duy, tập ly huyễn ảo sống với cái tự biết.

Nhận cái tự biết là khởi đầu cho một nhịp sống đầy cảm xúc trong sự tĩnh lặng sâu xa. Dĩ nhiên bậc chân tu luôn nhắc chúng ta chớ đồng nhất cái tự biết với nhận Tánh (hiểu ở cấp độ giải ngộ), sẽ khiến hành giả phá bỏ nền tảng, lún vào thoái đọa. Cái tự biết hiển hiện ở mọi chúng sanh nhưng để thấy báu vật này luôn đòi hỏi phải có chút tuệ. Chúng ta rất dễ nhận ra ở những vị có chứng một phong thái mà từ bitrí tuệ hòa lẫn đến khó phân biệt. Ở họ có một nội lực sống tràn cả ra ngoài. Như một ngọn núi trầm mặc, lừng lững quyền uy song “không có gì cả”. Tuệ ấy phát xuất từ đâu? Hẳn là từ định. (Định ở đây gồm hai cấp: định tĩnh định động. Định và tuệ có thể phát xuất “đồng thời”. Từ giới dễ sinh ngay ra tuệ, nhưng không có giới thì cái có được chỉ là tri thức (từ đọc và học kinh luận) và phước hữu lậu (từ công phu chấp tướng hành pháp). Tuyệt nhiên cung kính Tam bảo ở những cử chỉ hành động nhỏ nhặt nhất, sẽ tạo nên siêu năng lượng chiêu cảm lực tịnh khiết từ pháp giới; năng lượng ấy bao quanh hành giả và đó chính là lâu đài vi diệu của họ.

Con đường giải thoátgiải thoát ngay những phiền não trong cuộc sống. Không có chân lý cho một hành giả dùng “tha lực” bao biện cho sự chấp trước về tự ngã. Tôi nhớ mãi lời dạy: Con có thể chưa giữ trọn giới, nhưng nỗ lực tháo gỡ nghiệp tập sẽ nhận được từ lực của chư Phật và Bồ tát, của hộ pháp chư thiên kể cả ma quỷoan gia. Bạn đồng tu thì khẳng định với tôi: Tha lực không đặt trên sự ảo tưởng; Tha lực là điều mà người đệ tử Phật hoàn toàn cảm được, nhận được và hơn thế là sờ chạm được nằm ngoài sự huyễn hoặc.

Chúng ta chưa tin ma quỷ luôn ở bên mình, chúng ta chưa thấy hổ thẹn cùng cực với những hành vi xấu xa trong bóng tối thì sao tin nổi ánh quang minh rọi khắp ta bà. Quá sợ ma, là tin ma ở bên mình chứ tôi và bạn chưa đủ phước trí tin Phật hòa trong mọi chúng sanh. Mới biết tâm chúng ta tràn ngập bất an sợ hãi. Để trốn tránh bất ansợ hãi, tôi và bạn tiêu phước bằng cách đắm trong thụ hưởng, ngập trong thế giới phẳng của mạng ảo mà không hay đó là cảnh giới đích thực của ma tâm. Chỉ thói lướt web thôi, tâm chúng ta dẫu gắng lấy giới bao trì cũng không thể định, ngoại trừ những bậc đã sống với chân tâm trong cảnh giới của thường tại định. Bạn tu từng bảo, chúng ta ngập trong cõi Dục, lẽ thường phải tu từ gốc dục! Quán bất tịnh để thấy mặt trái của sắc (như dao), để có cái nhìn sáng suốt ta đang lâm nạn vào những thứ hạ tiện nhất; từ lâu tôi và bạn mê vào tấm thân nghiệp báo từng khắc hiển lộ bóng dáng của thây ma giữa cơn lốc vô thường; để thấy từ lâu chúng ta luôn có thói phung phí những tinh túy của huệ mạng; để thấy “lưới ma vương cánh chim bằng còn ngại, hố ái tình bậc hiền thánh còn e”.

Con ngườitự nhiên có mối liên hệ mật thiết, khi triết họcvăn minh phương Tây du nhập nó khiến chúng ta dần cắt đứt mối giao kết này nên thế giới trở nên hỗn loạn, tai ương. Không thể chiết xuất hàng trăm củ sâm cho ra một viên thuốc để rồi xem đó là biệt dược được, vì củ sâm có mối tương duyên với cơ thể người (vốn cũng là nhân duyên đất nước gió lửa tự nhiên trong trời đất tạo hợp); ấy là chưa nói đến ý niệm con người phát ra sẽ khiến cái được sử dụng biến đổi theo tâm ý ác hay thiện của họ. Hơn thế mỗi người vốn mỗi nghiệp khác nhau, phước duyên khác nhau, cơ địa khác nhau, thế nên một bệnh mới phải dùng đến nhiều loại thuốc. (Thế nên Kinh mới vô lượng nghĩa). Chỉ từ đây mà xét đã thấy thuốc không phải “cái nhất”, mà chân lý nằm ở phước nghiệp trong huệ mạng, chân lý nằm ở thái độ sống mỗi người đối với quy luật thường hằng tự nhiên trong trời đất. Vạn Pháp do Đức Phật thuyết giảng cũng là để chữa tâm bệnh của vạn vạn chúng sanh có nghiệp/bệnh sai khác. Học Phật mà học cho hết kinh điển cũng như uống mọi đơn thuốc; trong lúc tâm muốn thanh tịnh để hiển lộ bổn tánh phải chuyên nhất trên nền tảng giới định tuệ. Khoa học và kinh điển Phật giáo gặp nhau ở nguyên lý, con người là sự kết hợp giữa ba yếu tố: vật chất - năng lượng - tín tức. Sách Thiếu niên bảo thân lý giải, một giọt tinh hàm chứa vô số thông tin, chứa phước đứcthọ mạng của một cá nhân và trong nó chứa thông tin của vũ trụ nữa; lúc phí phạm không thể chỉ dùng vật chất tương ưng với chất bổ dưỡng thiếu hụt đưa vào cơ thể là xong. Một bác sĩ nổi danh người Pháp nói, y học hiện đại trong việc giải phẫu người để tìm phương hướng chữa trị, cũng mới phân tích được cái xác người. Mỗi người mỗi nghiệp mỗi bệnh. Cũng như pháp là thuốc trị tâm. Đối với người thường dấy khởi niệm dục hay đặc biệt là tự ngã quá nặng thì quán bất tịnh - vô thường đáng đổi cả mạng sống, bởi chẳng có pháp ấy chẳng những mất đời này mà bị ngã-dục lôi vào ác trược muôn nghìn kiếp. Nhưng người vô nhiễm chấp vào cái sự sạch sẽ ấy, ắt sanh bệnh ngã mạn còn khó chữa hơn lúc thân còn nhiễm dục. Từ đây mà suy, lúc các triết gia đưa tâm lý ra mổ xẻ, phân tích để tìm cho ra những quy luật tâm-sinh lý, âu cũng là khám phá xác chết của tinh thần. Bởi chúng ta không thể ngừng được quy luật tự nhiên luôn biến đổi; chúng ta không ngưng được thời gian, không đột phá được không gian như các bậc chứng thánh thấy mình cùng với thiên nhiên nhất thể. Trong một bộ phim khoa học có thí dụ lúc thế giới sáng tạo ra đồng hồ, con người từ ngàn năm nghe nhìn thiên nhiên khiến được hòa vào thiên nhiên, nay họ nhìn đồng hồ, mối quan hệ này diệt mất. Giải Nobel Y Sinh học 2017 cũng được trao cho công trình khám phá về mối quan hệ tương tác mật thiết giữa con ngườitự nhiên. Theo đó con người (trong chỉnh thể tâm lýsinh lý) luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường xung quanh. Một khi Mẹ Thiên Nhiên không được nuôi dưỡngyêu thương như con người yêu thương nuôi dưỡng chính bản thân mình - đó là khởi sự cho những bất ổn về “bệnh lý hoàn cầu” tạo nên chướng ngại về phát triển trí tuệ. Con người dẫu đạt đến đời sống vật chất như vua song không nhờ đến hơn 90% cái vô hình như không khí, ánh nắng, gió và một thế giới tâm linh lồng lộng  với nhiều sinh mệnh thuộc các chiều không gian khác nhau mà khoa học đã chạm đến, con người đó sẽ mau bệnh và chết. Con người đang sống là nương nhờ vào hơn 90% cái chúng ta cho là không, là vô tri, thực tế khoa học thì ngay đến nước cũng có tri giác. Hơn 90% cái chúng ta nương vào sinh tồn đó song chúng ta không một chút tri ân, chúng ta chỉ tri ân một phần tỉ của 10% cái tưởng làm nên con người, cũng có nghĩa chúng ta chỉ tri ân một phần tỉ lũy thừa tỉ trong toàn thể nuôi sống mình. Vẫn nghĩ những lúc đêm xuống, tôi chìm vào giấc ngủ và đó là sự kết thúc của “tiểu đời người”; nếu tôi “sống lại” (tức sáng ra mở mắt và còn thở được), ấy là nhờ sự bao bọc của 90% năng lực siêu nhiên, cụ thể hơn là sức gia trì của chư Phật-Bồ tát để tôi không bị nghiệp lực và bị bàn tay trái của ma quỷ lôi đi thọ báo sớm. Xét trên lý nhân duyên luân hồi, trong đời không ai không từng là cha mẹ thân quyến với ta trong vô thỉ kiếp quá khứ; do vậy trên đời không ai lại không từng là người thân của một vị Phật và Bồ tát nào đó trong quá khứ. Phật và Bồ tát đối với chúng sanh vốn bình đẳng tuyệt đối, thương xót tuyệt đối, chúng ta luôn nhận được lực gia trì từ họ song vô ơn, bởi ta nghĩ sự nghiệp trong đời này là do cái Ngã dựng lập. Ta Nghi lời dạy thánh hiền, ta nghĩ sự thông minh của mình vượt xa thánh trí (biết đến từng mẩu lông tơ ý niệm trong tâm ta). Ta hoài nghi bởi nghĩ bậc Thánh có năng lực vô biên sao không cứu vớt con người qua bao oan trái tràn ngập giữa xã hội, mà ta không cần hiểu ấy là họ đang phải trả cái nhân ác gieo trong đời trước; trong lúc không Phật-Bồ tát nào can dự vào quy luật vận hành tự nhiên này, mà các Ngài chỉ dạy cho chúng ta cách thoát ra, gieo duyên chỉ đường cho chúng ta giảm nợ nần ân oán, các Ngài chỉ nương vào nghiệp báo để lòn vào chất liệu giác ngộ, giúp bứt phá lầm mê. Chúng ta Nghi lời thánh, nghi kinh điển được gạn lọc qua nhiều ngàn năm và càng gạn càng sáng, càng thực tiễn, cho nên chúng ta mới sanh tâm kiêu mạn. Từ Nghi trụt lui Mạn. Chúng ta không hiểu ngay đến sự tham tài, danh, tham chấp cả cái danh hành thiện hành pháp tối thượng nên vẫn luẩn quẩn luân hồi. Tôi lần học đến đây chợt thấy toát mồ hôi, bởi mình vẫn mê cái Tôi ảo, tôi làm chủ, tôi dựng lập lên sự nghiệp nên phớt lờ lực sống của hơn 90% cái vô hình cấu tạo nên vận mạng đời mình. Với một người chưa học Đạo, gặp lý này hẳn quá xa lạ như tôi từng cảm. Giờ buộc ta tri ân những thứ không hiện hữu, tri ân không khí, tri ân ánh sáng, nắng gió, tri ân những chướng ngại “vô tình” từ trên trời rơi xuống; sự tri ân này cảm giác như buộc chúng ta phải tri ân đống rác vậy. Chúng ta không linh giác về hơn 90% phần còn lại, chúng ta không tri ân, nên chúng ta không cách gì kết nối với lượng thông tin hơn 90% trong hư không vi diệu. Là khi con người xa dần thiên nhiên, bị hút vào thứ học thuyết tôn vinh những quy luật; trong lúc không thể rút được quy luật nào từ đời sống vốn biến dịch vô thường từng giây phút (như con người từng khắc già đi rồi “chợt một ngày tóc trắng như vôi”).

Giải thoát luân hồi chính là giữ vạn pháp do tâm hiện mà không bị thức biến đi. Đành rằng tâm định thân mới định song chấp vào cái thân định sẽ tác dụng ngược là tâm loạn theo một loại nghiệp mới đầy hấp dẫn. Có lần bạn tu của tôi chấp định, liền bị thầy hỏi định ấy có lâu bằng người ngủ suốt đêm không, họ cũng định thân cả chục tiếng đồng hồ đó; ngay đến con nhện trên tường có khi nó “định” mấy ngày liền. Phát tuệ là cứu cánh. Từ định “chuyển tiếp” ngay qua tuệ, tuệ lại quay ngược soi vào giới, giới sanh năng lượng cho định; định phát tuệ để quán thấy mỗi pháp thanh tịnhbình đẳng hơn với chính nó, để thấy nó cũng như chính ta đang nằm trong guồng quay của nhân quả luân hồi trong từng sát na tơ hào không sai. Điều này đúng với lộ trình giải thoát là đưa chúng ta trở về. Trở về chính là lộ trình buông xả những gì gom về và sở đắc. Buông để sống với những khoảnh khắc hiện tiền trong không gian vô tận của chân tâm. Một hành giả đã tin mình theo Phật (Thể tánh) cần giao trọn sự nghiệp cho Phật (Tướng dụng), còn sự việc ta làm hàng ngày rốt cùng cũng là phương tiện để đối cảnh mà giữ lấy chân tâm. Luôn giữ mọi ý niệm như cái thuở ban đầu trong sáng ngây thơ, tuyệt không dấy phiền não dẫu trước mắt là sự sụp đổ của pháp chăng nữa, bởi nếu được vậy chính là từ Tướng mà trở về nguồn Thể; đứng ở Thể, tâm ấy mới bắt đầu khởi Dụng, là điều thiết yếu. Chúng ta sống chỉ mục đích duy nhấtgiải thoát Phiền Não và ly Ngã Sở nên một khi hướng theo cái nhìn của Phật sẽ dần biết cảm ân muôn pháp, chính bởi pháp pháp đều nhận được sự bao dung đến tận đáy không của Chân Tánh.

Sự thực thì Phật tánh có ở khắp vạn sự vạn vật, phần thô sơ là tánh giác. Tôi phàm phu, song vẫn biết nếu không có tánh giác thì những tri thức học được sẽ không thể tự sắp xếp thành một bài viết như thế này. Tôi khâm phục tánh giác tuôn ra những thứ ngoài tri thức, nhào trộn tri thức để kiến tạo nên cái gọi tác phẩm. Nhiều lúc ký tên mình lên một bài viết thấy hổ thẹn làm sao. Đâu phải tôi. Với chút tri thức nếu không có sự vận hành của tánh giác, hoàn toàntri thức chết. Lại nghĩ bất cứ ai cũng từng nhận sự gia trì từ bổn giác trong mình, chỉ là không để ý đó thôi. Lờ mờ hiểu điều này, tôi chợt nhận mình chẳng hơn ai. Thậm chí có lần tôi chỉ muốn sụp xuống khi thấy một con chó nằm ở hiên; tôi người lạ đi ngang, nó chỉ đảo tròng mắt ơ hờ, tôi lượn lại nó cũng vậy. Tôi làm rối, nó cũng không nhúc nhích, tuồng như tôi là con rối thật, tuồng như nó linh cảm mọi cái trước mắt thảy đều hư vọng. Tôi hơn ai chứ? Ai chẳng có tánh giác như tôi và như con chó kia? Lại nghĩ một người hành nghề hốt phân, họ có tự hào chăng? Trong lúc tôi lại cho cái sự ngồi tĩnh tâm của mình là cao sang và hơn cả một niềm tự mãn. Một bài báo do tôi viết, hoàn thành và được đăng trang trọng, dĩ nhiên ký tên tôi; song có thực nó là của tôi? Cũng như: Một người thầu nhận từ “ông chủ” đang muốn xây nhà số tiền lớn. Anh ta mua đầy đủ các loại vật liệu cát sạn, xi măng, sắt thép, gỗ, sơn, v.v và thuê tốp thợ xây. Ngôi nhà hoàn thiện, anh ta với tư cách chủ thầu liệu có khác tôi viết bài báo. Bạn sẽ bảo nhưng tiền là của ông chủ. Lại hỏi tiền có thực của chủ nhà. Giả như ông mua vé số và trúng, tiền ấy có phải nhờ ngàn nhà góp lại? Còn nếu xét ở duyên may do ông có làm phước từ đời trước hoặc trong kiếp này nên gặt quả lành, thì ông xét đến cùng chỉ là “trạm/bến” trung chuyển (Duyên) của Nhân - Quả. Nhân quả đồng thời. Chắc chắc kiếp trước hay kiếp này ông đã tích nhân lành nên giờ nhận quả (trúng số). Tấm vé là quả ấy, nhưng ông khởi ý dùng vào việc gì, ngay lập tức thành nhân (xấu hay tốt). Tôi từng biết một người trúng số, liền đốt ngôi nhà cũ để xây lên ngôi nhà ngạo nghễ, và lúc ngôi nhà bốc lửa mới hay tấm vé số trong túi áo móc trong nhà. Trắng tay. Nhân là tấm vé số độc đắc, lập tức thành quả đắng! Nhân với Quả là một. Trở lại với người chủ thầu mải mê làm xong ngôi nhà, họ “hiểu” lý này nên mới phủi tay; thâm tín hơn về nhân quả anh ta sẽ trích phần lãi tiếp tục quay vòng phước đức. (Cái sự biết buông xả này cũng chính là Trí tuệ). Còn với chủ nhân của những bài báo. Nếu tôi nhờ bạn viết một bài về mẹ hay vợ tôi, bạn viết được chăng? Bạn đã biết gì về họ đâu mà viết! (Việc này dạng như đưa một công án khiến hành giả bặt đường biện giải). Bạn bắt đầu lần đến những mối quan hệ kết nối với hàng xóm hay bè bạn của tôi để tìm hiểu về mẹ/vợ tôi), và bắt đầu có những thông tin đầu tiên. Đến lúc bạn tạm đủ tư liệu viết (tổng hợp) lại thành bài âu cũng là cái biết của tảng băng nổi về họ. Song chừng ấy để thấy nếu không có những tư liệu từ ai đó đâu đó, bạn hoàn toàn mù tịt. Cũng như ta không thể tưởng tượng ra cõi Phật và cung cách sinh hoạt của “chúng sanh” tại đó. Còn nếu ta tính công do mình cạy cục viết nên, cũng nên nghĩ tới những người công nhân vệ sinh họ cũng như chúng ta vậy, trong lúc họ không đứng tên mình cho những con đường sạch hàng đêm. Còn nếu bảo tôi viết hay hơn người khác, càng hiểu không gì nằm ngoài sức gia trì tùy vào duyên nghiệp từng người tạo dựng trong cuộc sống có gần với chân tánh vũ trụ hay không; không ngoại trừ chúng ta là kẻ “ăn may” kiếp trước.

Thật xót, tôi lâu nay vẫn là một vọng trong đại viên kính trí của Tánh Giác. Trong ta bà thế giới, sự hưởng thụ tôi và bạn tự phong, ấy là sự quay về với loài vật. Đau không?! Bạn và tôi phải hạ mình xuống với “tầm vóc” của loài vật để xưng danh hai từ hưởng thụ! Đau nhỉ. Thầy tôi nhắc lời một vị Tổ, rằng vạn người tu chỉ vài ba người thành tựu. Nguyên do ở đâu? Bởi hỗng nền tảng Nguyên Thủy, sa hố tình chấp. Dục chính là sợi dây thừng trói cột chúng sanh vào quả địa cầu. Nên nguyện dẫu lớn song bị tưởng ấm chi phối chứ thực ra chúng ta chưa chặt được sợi dây thừng mê-tình-chấp. Nhưng có một nỗi đau cho chính tôi, là thời nay chẳng mấy ai [và tôi] còn hứng thú với phương pháp quán Tứ niệm xứ, đặc biệt quán thân vô thường - bất tịnh; và do không lấy đây làm căn nền nên tu theo pháp môn nào cũng khó. Bởi, chúng ta không phá nổi thân kiến nên luôn được bọc êm ái trong nhung lụa của thần Chết bằng nỗi sợ thường trực do vậy vận mạng bị nghiệp tam đồ nắm giữ. Đọc sách về thánh tăng mới hay họ buông được thứ dục lạc chúng ta đang nắm giữ, đó mới là sự hưởng thụ tối cao đích thực. Ân sư của tôi suốt đời chỉ dạy mỗi chữ Buông. Buông xuống là trí tuệ chân thật. Buông xuống phân biệt chấp trước với mọi trần cảnh, bởi mỗi pháp đều đang viên dung với nhân-duyên-quả chính nó đang “sở hữu” từ tiền kiếp và từ khắc khắc ý niệm khởi sinh. Buông là thấy pháp. Trong chân tâm không có tham sân si mạn, chúng ta mang nó từ luân kiếp và tưởng con cái của mình. Chấp những thứ giả hợp làm mình và dựng lập thành kiến quy chụp vạn pháp để thỏa mãn cuộc chơi bất tận của tâm thức. Buông cái Giả - ngay đó Thấy cái Thật. Đây là vòng trôn ốc lên mãi, như mũi khoan xoáy vào Lâu đài Luân hồi Ảo ảnh, đột phá nghiệp dĩ.

Thế gian huyễn mộng. Kinh điển dạy giấc mơ và đời thực trong ta bà đều do tâm biến hiện. Nhiều khi tôi vẫn cảm nghiệm sự tương đồng tuyệt đối giữa cảnh mộng và thực, bởi sự đau buồn hay hạnh phúc giữa hai cảnh hoàn toàn như nhau. Có lần tôi bị người thân đánh không thương tiếc trong mộng. Những ngày sau gặp họ, tôi lại không thấy giận. Giả như họ đánh tôi ngoài đời, ít nhất tôi cũng tránh mặt dài dài… Bên trong ảo, bên ngoài cũng ảo, mà tôi lại chấp một đằng, buồn quá! Buồn bởi tôi còn lù lù cái “tôi” to tướng, bởi tôi luôn nhốt mình trong chiếc lồng son của ngũ ấm rồi tự huyễn thêm ảo danh vượt thoát. Bậc chánh giác thấy mọi tướng đều hư vọng. Cái tôi đây hư vọng, dĩ nhiên bạn cũng hư vọng. Tôi đã hư vọng lấy gì để “thấy” các tướng như thật nữa. Còn khi tôi muốn thấy theo nghiệp, dĩ nhiên phải quán/thấy cho ra các tướng vốn thanh tịnh. Mỗi mỗi đều thanh tịnh với chính nó, cho nên nó thanh tịnh với toàn thể. Bởi cái gương tôi bám vọng trần nên mới phản chiếu tướng của các pháp ô nhiễm. Một lần có người tự dưng nhắn tin gây rối, rất lâu tôi mới hạ hỏa thấy ra, ừ, người này đâu gây rối với bạn và bao người khác, họ chỉ gây rối với tôi mà. Âu là nghiệp chiêu cảm. Nếu nghiệp tôi thanh tịnh trở về chân tâm sáng trong, thì sự gây rối đó đơn giản là đang soi vào trong chiếc-tâm-gương, nào có tội tình chi. Bởi tôi không thấy được ngoài tánh giác ra, cái tôi này là hư vọng, nghĩa là không nhận tánh giác nên mê. Khi mê liền bị nhốt trong ngục tù của ảo. Tôi và bạn đều thấm, ảo ảnh là cái không, như sân, như ngã; khốn nỗi chúng ta có thể tàn rụi và chết bởi cái không hề có ấy, cái tự ảo hóa ấy. Nếu cái sân là thật, không ảo; lúc tôi nổi giận, là tôi đang giận, vậy lúc hết giận rồi tôi ở đâu? Cơn giận nếu là tôi thì cơn giận mất tôi cũng mất chứ. Thế mới biết giận là ảo ảnh có cội nguồn từ si. Cũng như ngã vốn tập tánh chứ không phải tự tánh, vậy màhiển hiện như một lâu đài với năm bức tường ngũ ấmchúng ta cứ thế mang theo cho đến trước hố tử thần vẫn chưa nghĩ đến chuyện bước ra.

Khi bạn và tôi quen thói dựng lập những khuôn thước ảo từ sáu căn, nó sẽ chống trái tiêu diệt những thứ không vừa với khuôn nghiệp ấy, và đó chính là chúng ta tự mâu thuẫn, tự phiền não do bẫy rập của Ngã. Bạn và tôi không thâm nhập được vào hang ổ của ngã chấp thông qua hàng rào khuôn nghiệp, song nhận diện thấu rõ nó chúng như những tiểu ngục tù ảo, để tìm đường cho ánh sáng của trí tuệ Phật pháp soi vào. Tôi và bạn là phàm phu chính hiệu, lại không chịu nghe lời thánh trí, Phật trí. Không chịu tin kinh nào cũng đều là chìa khóa mở kho tàng phướng trí sẵn có. Nhập tông môn, có người chọn một câu trong kinh trì niệm đối kháng với vọng-tưởng-ma; nhờ cuộc tuyên chiến này Phật lực trong họ sẽ mạnh. Ít năm sau, thuần thục trì niệm rồi, tánh nghe nghe rõ âm ba vi diệu rồi, hành giả chuyển thêm tầng công phu mới đi đến hòa giải với vọng tưởng, lìa vọng tưởng như một người đi rừng luồn vào tay con yêu tinh cái ống nứa. Câu kinh trở thành ngọn đuốc chỉ ra Cái Tự Biết, và chính câu kinh đó hoàn về cảnh giới Thường Tịch Quang mà minh chứng không quá hiếm trên đời. Tôi nhớ về bạn tu, người mà tôi luôn khuyên học thiền; luôn bảo thiền sang lắm. Một lần đến nhà tôi thấy họ đang ngồi kiết già tĩnh tọa, mặt lặng phắc, đợi đến suốt ruột, đến phát hoảng nên tôi bỏ về. Sau gặp lại tôi trách tu thiền mà lâu nay cứ im ỉm. Họ bảo, “đâu, là trong tâm tui chuyên trì một câu kinh mà”. Giật mình, té ra họ lấy một câu kinh làm thực tại duy nhất kết thành định cầu tuệ. Họ bảo ai tu gì cũng tốt, miễn là có chút thanh tịnh mà “hưởng” kẻo dục lạc trần gian lôi tuột đi lúc nào không hay, đã làm quyến thuộc của ma vẫn tưởng mình con Phật; đó là lý do bạn tu chưa bao giờ khuyên tôi bỏ thiền qua trì một câu kinh. Câu kinh làm nền cho giới định và tuệ. Ấy cũng chính là pháp môn Giới Định Tuệ. Bạn chia sẻ câu kinh vang lên tự tâm, là cái nghe ở ngay đó và đó mới chính là mình; câu kinh cuốn vọng tâm đi, cảm giác như dàn nhạc sống tưng bừng trong sự tịch tĩnh sâu xa. Một câu kinh kết thành bè thành phiến ấy là họ, chứ không phải thân cũng không phải vọng tưởng mà lâu nay họ nhận nhầm. Ở trường hợp này, câu kinh được xem là cái-tự-biết-giác. Câu kinh ấy thay mọi vọng bên trong và mọi âm thanh ngoài trần ai lắm nỗi. 

Từng nghe đến quen câu “vọng tưởng là bồ đề”. Điều này vẫn có vẻ xa vời, tuy nhiên qua sự khai thị của các bậc đạo sư, chúng ta hiểu rằng với cái tự biết, nó thấu thị chân lý đó. Ngay chính sát na nhận biết sự khởi sanh của Vọng - là Chân. Khi Đức Phật chỉ lên cái bóng đèn và hỏi một vị Tỳ kheo ông có thấy bóng đèn đang đỏ kia chăng? Vị Tỳ kheo đang bệnh nhìn lên, gật đầu; Đức Phật liền bảo, thì Ta cũng thấy như ông. Là thời khắc khai ngộ đặc biệt; thật hiếm song qua đó chúng ta hiểu Phật tánh có ngay ở sát na vị Tỳ kheo hoát nhiên thấy biết. Cái đó thường hằng, và, nó bình thường. Trọng yếu là Cái Bình Thường ấy phải được đặt trên nền của giới định tuệ. Thảy mọi điều trong kinh luật luậnchúng ta “sở hữu”, nếu không phát xuất từ lực định hay lùi về là phát xuất từ lực giới, đều là chướng. Lại trộm nghĩ, chư Tổ sư với tâm đại bi thường đã “giấu” đi Phật bảo đối với ai đó chưa bắt đầu từ căn bổn giới; bởi sự tiếp nhận “độc chiêu” rất dễ trúng độc.

Những bộ kinh kỳ vĩ nhất trong hệ Đại Thừa luôn chỉ ra yếu quyết của nhân giải thoát là nhìn thấu ngũ uẩn vốn hư giả. Cái hư giả không phải ta cứ nhắc đi nhắc lại là thành, không phải ta gật đầu là xong, mà phải soi chiếu quán sát thông qua mọi hoạt dụng đời sống gồm cả thiên nhiên cho đến vật vô tri. Không gì khờ dại hơn việc chụp bắt những hình tướng hư giả. Ta phải như thật thấy bản chất của nó vốn không tự thể ngay sinh đã tự diệt; cho đến khi biết ngắm nghía tham sân si khởi sinh ở thân tâm như ngắm sự ảo diệu của một ngôi sao băng là ta đang dần tự ly khỏi bầu trời mộng.

Sự thật có nhiều con chó nhìn thấy ma và thường đêm vẫn sủa bóng, nhưng không vì thế ai cũng cần nuôi chó canh chừng ma để tiếp tục ngủ vùi trong đêm trường mê muội.

Tạo bài viết
12/10/2016(Xem: 8383)
24/08/2018(Xem: 1656)
28/09/2016(Xem: 15804)
27/01/2015(Xem: 10252)
Trong niềm hân hoan đón mừng ngày Đức Phật đản sanh, Đại lễ Phật Đản năm 2019 đã chính thức diễn ra tại Việt Nam Quốc Tự, TP. Hồ Chí Minh, Chùa Từ Đàm, Cố đô Huế và Chùa Bằng cũng như Trung Tâm Văn Hóa Thủ Đô Hà Nội ngày Rằm tháng 4 âm lịch tức ngày 19-5-2019
Hòa chung không khí chào mừng Vesak Liên hợp quốc đang tràn ngập khắp nơi trên toàn thế giới, với niềm tự hào của người con Phật chào mừng sự kiện trọng đại ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện trên cuộc đời này. Đặc biệt hơn, khi Việt Nam trở thành quốc gia đăng cai Đại lễ Vesak 2019, ngày 12/5/2019 (nhằm ngày 8/4 năm Kỷ Hợi), gần 150 bạn trẻ tại Hà Nội đã về Chùa Hòa Phúc (Hòa Thạch, Quốc Oai, Hà Nội) để tham dự Khóa tu thiền trà với chủ đề “Con hạnh phúc - Ngày Phật Đản sinh”.
Ngày 12/5/2019 (nhằm ngày mùng 8, tháng Tư, Phật lịch 2563), tăng sinh Việt Nam tại Học Viện Phật Giáo Singapore và đông đảo Phật tử Việt Nam hiện đang sinh sống và làm việc tại Singapore đã tổ chức lễ tắm Phật tại Quang Minh Sơn Phổ Giác Thiền Tự.